Bàn về phương pháp hạch toán và tính khấu hao tài sản cố định

A - Lời Mở Đầu Tài sản cố định (TSTĐ) dùng cho việc sản xuất kinh doanh tất nhiên phải hao mòn, hư hỏng và một thời gian dài sẽ hết khả năng sử dụng. Khấu hao là chuyển dần giá trị hao mòn cuả TSCĐ trong quá trình sử dụng vào sản xuất kinh doanh, vào giá thành sản phẩm và vào giá thành các công trình cung cấp dịch vụ,vào chi phí xây dựng cơ bản tuỳ theo sự tham gia vào của TSCĐ vào các hoạt động này. Khấu hao là một loại chi phí đặc biệt và khác với chi phí thông thường, khấu hao không gắn liền

doc24 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 06/09/2013 | Lượt xem: 582 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Bàn về phương pháp hạch toán và tính khấu hao tài sản cố định, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
với các khoản thanh toán tại thời điểm phát sinh chi phí. Bởi vậy khấu hao còn được gọi là khoản chi phí tài chính phi tiền tệ và được thu hồi trong doanh thu về bán sản phẩm, hàng hoá, về cung cấp công trình lao vụ dịch vụ ....Đây là nguồn tài chính quan trọng dược tích luỹ vào việc xây dựng cơ bản, mua sắm tái tạo lại TSCĐ .Về phương diện kinh tế, khấu hao cho phép doanh nghiệp phản ánh giá trị thực của tài sản, đồng thời làm giảm lãi ròng của doanh nghiệp.Về phương diện tài chính, khấu hao là một phương tiện tài trợ giúp cho doanh nghiệp thu được bộ phận giá trị đã mất của TSCĐ. Về phương diện thuế khoá, khấu hao là một koản chi phí trừ vào lợi tức chịu thuế, tức là được tính vào chi phí kinh doanh hợp lệ.Về phương diện kế toán, khấu hao là sự ghi nhận giảm giá của TSCĐ. Vì có tác động trực tiếp đến giá thành sản phẩm, chi phí lưu thông, ảnh hưởng quan trọng đến thu nhập nên việc tính khấu hao phải được thực hiện theo một phương pháp khấu hao hợp lý và có hệ thống.Việc lựa chọn phương pháp khấu hao nào tuỳ thuộc vào quyết định của Nhà nước về chế độ quản lý tài chính đối với doanh nghiệp và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Phương pháp khấu hao được lựa chọn phải đảm bảo thu hồi vốn nhanh, đầy đủ và phù hợp với khả năng trang trải chí phí của doanh nghiệp. Trong điều kiện ngày nay, khi mà khoa học kĩ thuật và công nghệ trở thành một yếu tố trực tiếp, có tính chất quyết định đối với sự tồn tại và phát triển cuả doanh nghiệp thì việc hạch toán khấu hao TSCĐ và vận dụng các phương pháp tính khấu hao TSCĐ thích hợp không còn là vấn đề quan tâm của những người làm công tác kế toán mà cũng thuộc lĩnh vưc nghên cứu của những nhà quản trị, của phân tích hoạt động kinh doanh trong việc ra các chính sách đầu tư ,cải tiến đổi mới trang thiết bị ... Trong quá trình làm đề án, tuy còn nhiều vướng mắc và bất cập nhưng dưới sự giúp đỡ tận tình của Thạc sĩ: Phạm Thành Long em đã hoàn thành đề án “Bàn về phương pháp hạch toán và tính khấu hao TSCĐ”. Em xin chân thành cảm ơn thầy! B.Nội Dung I.Những vấn đề cơ bản về KHTSCĐ 1. Hao mòn, KHTSCĐ ý nghĩa kinh tế. 0Hao mòn TSCĐ: Là sự giảm dần giá trị sử dụng và giá trị của TSCĐ do tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, do bào mòn của tự nhiên, do tiến bộ kỹ thuật ...Trong quá trình hoạt động của TSCĐ. Có 2 loại hao mòn: Hao mòn hữu hình và Hao mòn vô hình. Hao mòn vật chất: làm cho TSCĐ giảm chất lượng sử dụng các thông số kỹ thuật có liên quan chặt chẽ đến mức độ sử dụng của TSCĐ hoặc có thể vì các nguyên nhân tự nhiên khác không lệ thuộc vào mức độ sử dụng như điều kiện thời tiết, chênh lệch nhiệt độ, điều kiện nơi làm việc... Hao mòn tinh thần: là các trường hợp giảm giá TSCĐ do kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chế tạo ra máy móc cùng loại nhưng tốt hơn và rẻ tiền hơn mức giá TSCĐ hiện có tại xí nghiệp. Giá trị hao mòn luỹ kế của TSCĐ: Là tổng cộng giá trị hao mòn của TSCĐ tính đến thời điểm báo cáo. 0Khấu hao TSCĐ: là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá của TSCĐ vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong thời gian sử dụng của TSCĐ. . Số khấu hao luỹ kế của TSCĐ: là tổng cộng số khấu hao đã trích vào chi phí sản xuất kinh doanh qua các kì kinh doanh của TSCĐ tính đến thời điểm báo cáo . Gía trị còn lại trên sổ kế toán của TSCĐ:là hiệu số giữa nguyên giá TSCĐ và số khấu hao luỹ kế (họăc giá trị hao mòn luỹ kế) của TSCĐ tính đến thời điểm báo cáo . Mối quan hệ giữa hao mòn TSCĐ và khấu hao TSCĐ: Hao mòn TSCĐ là một hiện tượng khách quan TSCĐ bị giảm giá trị hoặc giá trị sử dụng do quá trình sử dụng, do tác động tự nhiên và do tiến bộ khoa học kĩ thuật. . Khấu hao TSCĐ là biện pháp chủ quan trong quản lý nhằm thu hồi dần giá trị đã hao mòn TSCĐ tích luỹ lại hình thành một nguồn vốn dùng để tái đầu tư TSCĐ khi nó bị hư hang. . Khấu hao không bao giờ phản ánh được một cách tuyệt đối chích xác sự hao mòn của TSCĐ, giữa hao mòn thực tế và số tiền trích khấu hao có một quan hệ giống như giữa giá trị sử dụng và giá cả của sản phẩm. Mức độ chính xác của sự phản ánh hao mòn qua khấu hao sẽ bị ảnh hưởng bởi các phương pháp khấu hao mà chúng ta áp dụng. . Theo quan điểm cuả kế toán quản trị: "Kế toán khấu hao là một hệ thống kế toán nhằm phân bổ giá hoặc giá trị cơ bản khác của một tài sản đầu tư hữu hình, trừ đi giá trị phế liệu (nếu có) trong một thời hạn sử dụng của một thiết bị (mà có thể là một nhóm các tài sản) theo một phương thức hợp lý và hệ thống". Khấu hao về cốt lõi, là một quá trình phân bổ giá trị, chứ không phải là quá trình đánh giá /tái đánh giá TSCĐ theo "giá trị " hiện hành của chúng. Trong thực tiễn kế toán, khấu hao không tập trung vào việc liên tục đo mức giảm giá trị của một TSCĐ .Thay vì đó, khấu hao là một quá trình, theo đó giá trị của một TSCĐ được phân bổ một cách hợp lý trong thời hạn sử dụng của tài sản đó. Các phương pháp hợp lý cần được sử dụng để khấu trừ dần giá của TSCĐ trong quá trình thời hạn sử dụng của chúng giảm dần. Nếu thời gian của một tài khoá kế toán dài hơn hoặc ít nhất bằng thời hạn sử dụng của TSCĐ thì sẽ không nảy sinh sự cần thiết phải tính giá khấu hao. Nhưng do tài khoá kế toán thường là một thời hạn ngắn (1 năm) mỗi tài khoá kế toán phải được tính giá theo phần tỷ lệ giá trị của TSCĐ sao cho giá tài sản được phân bổ hợp lý và được coi như một khoản phí tổn trong mỗi tài khoá kế toán trong suốt thời hạn sử dụng tài sản. Về bản chất, giá trị của mỗi tài sản là một khoản phí tổn được trả trước cho mỗi thời hạn dài và sau đó cần dựa vào một phương pháp hợp lý để phân bổ lại phí tổn đó trong suốt thời hạn sử dụng tài sản, sao cho số phí tổn được cân đối với lợi nhuận thu được trong từng thời hạn. Đứng trên quan điểm của bộ môn phân tích chi phí thì chi phí khấu hao TSCĐ chịu ảnh hưởng của hai nhân tố: nguyên giá TSCĐ và tỷ lệ trích khấu hao, trong đó: Nguyên gía TSCĐ biến động là do sự tăng giảm TSCĐ trong kỳ. Sự giảm TSCĐ do chuyển nhượng, thanh lý, giao trả, mang đi góp vốn, hư hỏng, mất mát. Tăng do mua sắm, được cấp, nhận góp vốn, được tặng biếu... Quyết định đầu tư TSCĐ (nhà xưởng, trang thiết bị...) là quyết định khó khăn đối với nhà quản trị vì vốn đầu tư lớn và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí (phần trích khấu hao). 2. Các phương pháp tính khấu hao. Trên thế giới hiện nay có nhiều phương pháp trích khấu hao TSCĐ, tuy nhiên có 3 phương pháp thường được sử dụng nhiều nhất là: Phương pháp khấu hao theo đường thẳng. Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm. Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần. Theo chế độ kế toán hiện hành quy định các doanh nghiệp Việt nam được phép áp dụng một trong ba phương pháp khấu hao trên sao cho phù hợp với từng loại TSCĐ của doanh nghiệp và lợi ích kinh tế mà tài sản đem lại cho doanhnghiệp.Ngoài hai phương pháp khấu hao theo đường thẳng và khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm thì phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần khi áp dụng tại Việt Nam được điều chỉnh thành phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh. II.Các phương pháp tính khấu hao và lựa chọn phương pháp khấu hao thích hợp. 1.Phương pháp khấu hao theo đường thẳng Tính mức khấu hao Mức trích khấu hao Trung bình hàng năm của tài sản cố định = Nguyên giá của TSCĐ Thời gian sử dụng 0Mức trích khấu hao trung bình hàng tháng bằng số khấu hao phải trích cả năm chia cho 12 tháng Điều kiện áp dụng phương pháp khấu hao theo đường thẳng: Đối với tài sản có cường độ sử dụng đồng đều trong tất cả mọi năm tức là số thu nhập liên quan tới tài sản đó là số không đổi trong suốt thời hạn sử dụng tài sản, thì ta có thể sử dụng phương pháp đường thẳng để trích khấu hao TSCĐ. Nhận xét về phương pháp khấu hao đường thẳng. Giả định cơ bản của phương pháp khấu hao đường thẳng là quá trình khấu hao là một hàm số của thời gian. Như vậy phí tổn khấu hao được phân bổ đồng đều cho mỗi năm trong thời hạn sử dụng TSCĐ. Từ những lý luận trên có thể thấy ưu nhược của phương pháp này là: 0 Ưu điểm : Phương pháp khấu hao theo đường thẳng mang tính ổn định , tránh biến động chi phí và đơn giản trong tính toán, phân tích đối với doanh nghiệp cũng như đối với các cơ quan quản lý :thuế,cấp trên... Có tác dụng thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động, tăng số lượng sản phẩm làm ra để hạ giá thành, tăng lợi nhuận. 0Nhược điểm: Vì phương pháp này giả định là khấu hao liên quan đến thời gian, cho nên cách tính này chỉ hợp lý khi tài sản được sử dụng với cường độ đồng đều. Nhưng cường độ sử dụng của một tài sản có thể rất không đồng đều và như vậy, năng suất của nó cũng biến đổi. Trong những trường hợp mà cường độ sử dụng của một TSCĐ biến đổi mạnh theo thời gian thì phương pháp đường thẳng có thể không hiện thực và hợp lý. Hơn nữa phương pháp đường thẳng thường dẫn đến các chi phí vận hành quá cao liên quan sửa chữa bảo dưỡng và khấu hao ở những năm cuối của thời hạn sử dụng của một TSCĐ. Sở dĩ như vậy là vì ở những năm sau hiệu suất vận hành của tài sản giảm đi dẫn tới những chi phí lớn hơn về sửa chữa và bảo dưỡng và đối chiếu với lượng khấu hao không đổi, tổng chi phí vận hành sẽ tăng lên nhiều. Nói tóm lại, phương pháp đường thẳng không cân đối chi phí với hiệu quả vận hành của một tài sản. . 2. Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm Tính mức khấu hao. 0 Xác định mức trích khấu hao trong tháng của TSCĐ theo công thức dưới đây : Mức trích khấu hao trong tháng của Tài sản cố định = Số lượng sản phẩm sản xuất Trong tháng x Mức trích khấu hao Bình quân tính cho Một đơn vị sản phẩm Trong đó: Mức trích khấu hao bình quân tính cho một đơn vị sản phẩm = Nguyên giá của TSCĐ Sản lượng theo công suất thiết kế 0 Mức trích khấu hao năm của TSCĐ bằng tổng mức trích khấu hao của 12 tháng trong năm, hoặc tính theo công thức sau: Mức trích khấu hao năm của tài sản cố định = Số lượng sản phẩm sản xuất trong năm x Mức trích khấu hao bình quân tính cho 1 đơn vị sản phẩm Điều kiện áp dụng : Tài sản cố định tham gia vào hoạt động kinh doanh được trích khấu hao theo phương pháp này là các loại máy móc , thiết bị thoả mãn đồng thời các điều kiện sau : + Trực tiếp liên quan đến việc sản xuất sản phẩm . + Xác định được tổng khối lượng , số lượng sản phẩm sản xuất theo công suất thiết kế của TSCĐ. + Công suất sử dụng thực tế bình quân tháng trong năm tài chính không thấp hơn 50% công suất thiết kế. Nhận xét về phương pháp: Phương pháp này khắc phục được yếu điểm của phương pháp đường thẳng ở chỗ là nó cân đối được khấu hao năm với mức độ sử dụng tài sản trong mỗi giai đoạn.Theo phương pháp này, khấu hao được tính theo tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động của mỗi tài sản cụ thể.Tiêu chuẩn để xác định khấu hao ở đây không phải là số lượng thời gian mà là cường độ sử dụng trong một thời gian cụ thể. Mức độ sử dụng có thể được tính bằng một trong hai cách: Số lượng giờ vận hành ước tính Số lượng đơn vị sản phẩm tạo ra. Ưu điểm của phương pháp này là giá của tài sản được phân bố thành các khoản chi phí tỷ lệ thuận với mức độ sử dụng. Phương pháp này có thể áp dụng khi ta dễ dàng tính được sản lượng vật chất của tài sản trong mỗi tài khoá kế toán và khi ta ước tính một cách khá chính xác tổng sản lượng vật chất do tài sản đó tạo ra trong thời hạn sử dụng tài sản đó. Phương pháp khấu hao theo sản lượng còn có thể được áp dụng trong các trường hợp liên quan tới kinh doanh phát triển một số loại tài nguyên thiên nhiên. Ví dụ như ngành công nghiệp khai thác, phương pháp này áp dụng cho việc khấu hao các loại xe tải, máy bay...v...v... 3. Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh. Tính mức khấu hao. - Xác định mức trích khấu hao năm của TSCĐ trong các năm đầu theo công thức sau: Mức trích khấu hao hàng năm của TSCĐ = Giá trị còn lại của TSCĐ x Tỷ lệ khấu hao nhanh Trong đó : Tỷ lệ khấu hao nhanh xác định theo công thức sau : Tỷ lệ khấu hao nhanh % = Tỷ lệ khấu hao TSCĐ theo phương pháp đường thẳng x Hệ số điều chỉnh Tỷ lệ khấu hao TSCĐ theo phương pháp đường thẳng được xác định như sau : Tỷ lệ khấu hao tài sản = 1 số năm sử dụng x 100 Hệ số điều chỉnh xác định theo thời gian sử dụng của TSCĐ quy định tại bảng dưới đây: Thời gian sử dụng của tài sản cố định Hệ số điều chỉnh (lần) Đến 4 năm (1<4 năm) 1,5 Trên 4 đến 6 năm ( 4 năm< t< 6 năm) 2,0 Trên 6 năm (t> 6 năm ) 2,5 Những năm cuối, khi mức khấu hao năm xác định theo phương pháp số dư giảm dần nói trên bằng ( hoặc thấp hơn ) mức khấu hao tính bình quân giữa giá trị còn lại và số năm sử dụng còn lại của TSCĐ, thì kể từ năm đó mức khấu hao được tính bằng giá trị còn lại của TSCĐ chia cho số năm sử dụng còn lại của TSCĐ. - Mức trích khấu hao hàng tháng bằng số khấu hao phải trích cả năm chia cho 12 tháng. b)Điều kiện áp dụng TSCĐ tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh được trích khấu hao theo phương pháp số dư giảm dần có điều chỉnh phải thoả mãn đồng thời các điều kiện sau : Là TSCĐ đầu tư mới ( chưa qua sử dụng ) Là các loại máy móc , thiết bị , dụng cụ làm việc đo lường, thí nghiệm Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh được áp dụng đối với các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực có công nghệ đòi hỏi phải thay đổi , phát triển nhanh. c) Nhận xét về phương pháp: Trên thực tế, nhiều loại TSCĐ phát huy hiệu quả và năng lực sản xuất cao nhất trong giai đoạn đầu khi còn mới và giảm dần năng lực sản xuất trong giai đoạn sau. Phù hợp với thực trạng này mức tính khấu hao trong giai đoạn đầu khi TSCĐ còn mới sẽ cao hơn. Khi TSCĐ cũ đi thì mức trích khấu hao sẽ giảm dần . Phương pháp này làm tăng chi phí trong giai đoạn đầu nên được áp dụng để giảm bớt gánh nặng về thuế trong giai đoạn này. Phương pháp này nhằm tránh sự hao mòn vô hình của TSCĐ, khuyến khích đầu tư , tạo động cơ thúc đẩy cải tiến, đổi mới trang thiết bị để nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng quản lý. *Như vậy qua các phương pháp khấu hao dã trình bày có thể thấy sự khác nhau giữa: -Chế độ ké toán cũ và chế độ kế toán mới: Chế độ kế toán Việt Nam theo quyết định 166/1999/QĐ-BTC quy định có một phương pháp tính khấu hao TSCĐ theo phương pháp đường thẳng, chế độ kế toán mới cho phép các doanh nghiệp tính khấu hao TSCĐ theo ba phương pháp: khấu hao theo đường thẳng, khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh, khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm. -Chế độ kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán Việt Nam: Theo chế độ kế toán, mức trích khấu hao TSCĐ theo phương pháp đường thẳng không tính đến giá trị thu hồi hay giá trị thanh lý ước tính. Chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán ở các nước tiên tiến (ví dụ như kế toán Mĩ) vẫn đưa giá trị thu hồi vào công thức xác định mức khấu hao. 4. Lựa chọn phương pháp khấu hao phù hợp. 4.1. ý nghĩa của một phương pháp khấu hao phù hợp. -Một mục tiêu của việc lựa chọn phương pháp khấu hao là phải xác định chính xác lợi nhuận và thể hiện được giá trị tài sản một cách chính xác .TSCĐ là công cụ quan trọng trong việc tạo ra lợi nhuận khấu hao, là quá trình phân bổ giá của TSCĐ vào số lợi nhuận thu được ở các năm khác nhau trong thời hạn sử dụng của TSCĐ đó .Một phương pháp khấu hao thích hợp cần phân bổ được giá của một tài sản một cách hợp lý trong thời hạn sử dụng nó sao cho trong mỗi thời hạn ta có thể đạt được mức độ tương xứng cao nhất giúp chi phí khấu hao và lợi nhuận thu được. Điều quan trọng là nó phải giúp ta chỉ đưa sang những năm sau phần của tài sản mà thể hiện phần giá trị chưa sử dụng của thời hạn sử dụng còn lại. Nếu phương pháp được lựa chọn là không phù hợp, thì kết quả việc xác định lợi nhuận sẽ không đúng đắn và tài sản được thể hiện trong bảng kết toán sẽ vượt quá hoặc ở dưới mức thực tế. Nói tóm lại, việc xây dựng một tỷ lệ cân đối giữa phí tổn và doanh thu là một mục tiêu quan trọng của việc lựa chọn phương pháp khấu hao phù hợp. 4.2. Xung đột lợi ích khi khấu hao TSCĐ -Về phía doanh ngiệp: Một mục tiêu quản lý quan trọng là giảm thiểu số tiền thuế / tăng tối đa số tiết kiệm thuế. Là một khoản chi phí, khấu hao là một khoản chi tiêu có thể khấu trừ trong việc tính thuế thu nhập. Một mục tiêu của sách lược khấu hao phải là thiết lập sách lược đó theo phương thức sao cho nó tạo ra được một khoản tiết kiệm thuế lớn nhất có thể. Sách lược khấu hao, giống như một công cụ bảo hộ / tiết kiệm thuế, sẽ có hiệu quả khi một phần lớn giá được khấu trừ ở những năm đầu, lý do là giá trị hiện tại của tổng số thuế phải nộp sẽ thấp hơn với phương thức khác. Từ quan điểm nghĩa vụ thuế ta có thể rút ra kết luận là, phương pháp khấu hao thích hợp nhất là một phương pháp cho phép ban điều hành đánh chi phí khấu hao càng nhanh càng tốt, xét theo góc độ này thì phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh là phương pháp rất phù hợp. Một khía cạnh liên quan nữa là việc tạo ra các nguồn lực bổ xung.ý nghĩa của phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần và việc trả thuế chậm là ở chỗ, công ty có thể sử dụng các nguồn lực bổ xung trong một thời hạn dài hơn bởi vì việc đóng thuế được giãn ra. Hơn nữa, nếu số thu nhập ròng được sử dụng làm kim chỉ nam trong sách lược lãi cổ phần, thì lãi cổ phần có thể bị tính tạm thời. Đương nhiên, cuối cùng công ty cũng chỉ thu hồi lại được giá trị của tài sản. Trong những năm sau, chi phí khấu hao sẽ nhỏ hơn, số thu nhập ròng và do đó cả số thuế sẽ tăng lên. Nhưng thực tế thì ngoài lợi thuế về thuế, phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh tạo ra nguồn vốn bổ xung cho công ty. -Về phía ngân hàng: Nhằm tránh rủi ro trong kinh doanh, các ngân hàng muốn thu hồi vốn khấu hao càng nhanh càng tốt do đó sẽ mong muốn doanh nghiệp lựa chọn phương pháp khấu hao đảm bảo thu hồi vốn khấu hao nhanh ở mức có thể. -Về phía chính phủ và cơ quan thuế: Chính phủ và cơ quan thuế chỉ chấp nhận những khoản chi phí nào hợp lý nhằm hạn chế doanh nghiệp tránh thuế.Vì vậy Bộ Tài Chính thường có những quy định cụ thể về cách tính khấu hao nhằm mục đích tính thuế cho hợp lý. Luật thuế áp dụng cho mỗi quốc gia xác định khung thuế cho mỗi doanh nghiệp. Do đó khi lựa chọn phương pháp khấu hao thích hợp các doanh nghiệp cần nhằm đạt được mức tối đa số tiết kiệm thuế trong khuôn khổ luật thuế áp dụng. 4.3. Cơ sở lựa chọn phương pháp khấu hao phù hợp. - Qua trình bày trên ta có thể thấy rằng các phương pháp khấu hao khác nhau nhằm mục đích là phân bổ giá của một TSCĐ trong thời hạn sử dụng nó theo một phương thức hệ thống và hợp lý. Việc lựa chọn phương pháp khấu hao là việc phải tìm ra được một phương pháp mà cho các thông tin thích đáng nhất cho công tác quản lý . Tuy nhiên, không có phương pháp khấu hao nào được coi là phương pháp lý tưởng. Một sách lược quan trọng trong quản lý là sự lựa chọn phương pháp khấu hao thích hợp. Mỗi phương pháp khấu hao có điểm mạnh và điểm yếu của nó, khi nói "sách lược khấu hao " tức là nói về cách lựa chọn một phương pháp khấu hao dựa trên các yếu tố thực tế và hoàn cảnh của từng trường hợp. Điều đó nghĩa là việc lựa chọn một phương pháp khấu hao (sách lược khấu hao)phụ thuộc vào mục tiêu mà ta cần đạt được. Doanh nghiệp cần lựa chọn một phương pháp khấu hao dựa trên bản chất của công việc kinh doanh và của các loại tài sản khấu hao. Trên thực tế, một doanh nghiệp có thể sử dụng các phương pháp khấu hao khác nhau cho các loại tài sản khác nhau. Ví dụ, đối với tài sản có cường độ sử dụng đồng đều trong tất cả mọi năm tức là số thu nhập liên quan tới tài sản đó là số không đổi trong suốt thời hạn sử dụng tài sản, thì ta có thể sử dụng phương pháp đường thẳng.Trái lại, khi số doanh thu/ lợi nhuận sinh ra không đồng đều, tức là mức độ sử dụng tài sản biến đổi, thì phương pháp khấu hao theo số lượng khối lượng sản phẩm phù hợp hơn.Ví dụ về những loại tài sản này là xe tải, máy bay, mỏ khoáng vv... Ngoài ra, còn có những loại tài sản mà theo thời gian các chi phí sửa chữa bảo dưỡng tăng lên một cách đáng kể, thì để cân bằng chi phí vận hành trong thời gian sử dụng tài sản (khấu hao cộng với sửa chữa và bảo dưỡng), phương pháp số dư giảm dần có điều chỉnh là phù hợp. Ngoài ra việc lựa chọn phương pháp khấu hao còn dựa trên đặc điểm lưu chuyển vốn trong doanh nghiệp, đặc điểm nguồn hình thành TSCĐ, trình độ nhân viên và chi phí bỏ ra khấu hao. III. Hạch toán khấu hao TSCĐ 1.Một số nguyên tắc khi hạch toán khấu hao TSCĐ - Mọi TSCĐ của doanh nghiệp có liên quan đến hoạt động kinh doanh đều phải trích khấu hao .Mức trích khấu hao TSCĐ được hạch toán vào chi phí kinh doanh trong kỳ . Doanh nghiệp không được tính và trích khấu hao đối với những TSCĐ đã khấu hao hết nhưng vẫn sử dụng vào hoạt động kinh doanh. Đối với những TSCĐ chưa khấu hao hết đã hỏng , doanh nghiệp phải xác định nguyên nhân , quy trách nhiệm đền bù , đòi bồi thường thiệt hại... và tính vào chi phí khác... - Những TSCĐ không tham gia vào hoạt động kinh doanh thì không phải trích khấu hao bao gồm: TSCĐ thuộc dự trữ nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý hộ, giữ hộ. TSCĐ phục vụ các hoạt động phúc lợi trong doanh nghiệp như nhà trẻ, câu lạc bộ, nhà truyền thống, nhà ăn... được đầu tư vào quỹ phúc lợi. Những TSCĐ phục vụ nhu cầu chung toàn xã hội, không phục vụ cho hoạt động kinh doanh của riêng doanh nghiệp như đê đập, cầu cống, đường xá... mà Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý. Những TSCĐ khác không tham gia vào hoạt động kinh doanh Doanh nghiệp thực hiện việc quản lý, theo dõi các TSCĐ trên đây như đối với các TSCĐ dùng trong hoạt động kinh doanh và tính mức hao mòn của các TSCĐ này (nếu có), mức hao mòn hằng năm được xác định bằng cách lấy nguyên giá chia cho thời gian sử dụng của TSCĐ. Nếu các TSCĐ này có tham gia vào hoạt động kinh doanh thì trong thời gian TSCĐ tham gia vào hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp thực hiện tính và trích khấu hao vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp. - Doanh nghiệp cho thuê TSCĐ hoạt động phải trích khấu hao đối với TSCĐ cho thuê. - Doanh nghiệp đi thuê TSCĐ tài chính phải trích khấu hao TSCĐ thuê tài chính như TSCĐ thuộc sở hữu của doanh nghiệp theo quy định hiện hành. Trường hợp ngay tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, doanh nghiệp đi thuê TSCĐ tài chính cam kết không mua tài sản thuê trong hợp đồng thuê tài chính, thì doanh nghiệp đi thuê được trích khấu hao TSCĐ thuê tài chính theo thời hạn thuê trong hợp đồng. - Việc trích khấu hoặc thôi trích khấu hao TSCĐ được thực hiện bắt đầu từ ngày (theo số ngày của tháng) mà TSCĐ tăng, giảm hoặc ngừng tham gia vào hoạt động kinh doanh. - Quyền sử dụng đất lâu dài là TSCĐ vô hình đặc biệt, doanh nghiệp ghi nhận là TSCĐ vô hình theo nguyên giá nhưng không được trích khấu hao. - Xác định thời gian sử dụng TSCĐ hữu hình. Đối với TSCĐ còn mới ( chưa qua sử dụng ) , doanh nghiệp phải căn cứ vào khung thời gian sử dụng TSCĐ quy định tại phụ lục 1 ban hành kèm theo số 206/2003/QĐ - BTC ngày 12/12/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính để xác định thời gian sử dụng của TSCĐ. Đối với TSCĐ đã qua sử dụng , thời gian sử dụng của TSCĐ được xác định như sau : Thời gian sử dụngcủa tscđ mới cùng loại Thời gian Sử dụng Giá trị hợp lý của TSCĐ của tài = x sản cố Giá bán của TSCĐ mới cùng loại định ( hoặc của TSCĐ tương đương trên TT) Trong đó: Gía trị hợp lý của TSCĐ là giá mua hoặc trao đổi thực tế (trong trường hợp mua bán,trao đổi), giá trị còn lại của TSCĐ (trong trường hợp được cấp, được điều chuyển ), giá trị theo đánh giá của Hội đồng giao nhận (trong trường hợp được cho ,biếu tặng ,nhận vốn góp )... 3.Trường hợp doanh nghiệp muốn xác định thời gian sử dụng của TSCĐ khác với khung thời gian sử dụng quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Quyết định số 206/2003/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính, doanh nghiệp phải giải trình rõ các căn cứ để xác định thời gian sử dụng của TSCĐ đó để Bộ Tài chính xem xét, quyết định theo ba tiêu chuẩn sau: Tuổi thọ kĩ thuật của TSCĐ theo thiết kế Hiện trạng TSCĐ Tuổi thọ kinh tế của TSCĐ -Tuổi thọ kĩ thuật của TSCĐ theo thiết kế: là thời hạn sử dụng thực tế của TSCĐ đã được thiết kế (định sẵn) trong quá trình chế tạo ra sản phẩm đó. -Tuổi thọ kinh tế của TSCĐ: là khoảng thời gian mà tài sản được coi là mang lại lợi ích cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.Tuổi thọ kinh tế của TSCĐ có thể khác nhau tuỳ thuộc vào từng doanh nghiệp và các doanh nghiệp có thể tự xác định tuổi thọ kinh tế của TSCĐ nhưng phải trong khung thời gian sử dụng TSCĐ do BTC ban hành. 4. Trường hợp có các yếu tố tác động (như việc nâng cấp hay tháo dỡ một hay một số bộ phận của TSCĐ ..) nhằm kéo dài hoặc rút ngắn thời gian sử dụng đã xác định trứơc đó của TSCĐ, doanh nghiệp tiến hành xác định lại thời gian sử dụng của TSCĐ theo ba tiêu chuẩn đã được quy định. Điều này tại thời điểm hoàn thành nghiệp vụ phát sinh ,đồng thời phải lập biên bản nêu rõ các căn cứ làm thay đổi thời gian sử dụng. -Xác định thời gian sử dụng TSCĐ vô hình: Doanh nghiệp tự xác định thời gian sử dụng TSCĐ vô hình nhưng tối đa không quá 20 năm. Riêng thời gian sử dụng cuả quyền sử dụng đất có thời hạn được phép sử dụng đất theo quy định. -Xác định thời gian sử dụng TSCĐ trong một số trường hợp đặc biệt: Đối với dự án đầu tư theo hình thức Xây dựng -Kinh doanh -Chuyển giao (B.O.T), thời gian sử dụng TSCĐ dược xác định từ thời điểm đưa TSCĐ đến khi kết thúc dự án. Đối vơí hợp đồng hợp tác kinh doanh (B.B.C) có bên nước ngoài tham gia Hợp đồng, sau khi kết thúc thời hạn của hợp đồng bên nước ngoài thực hiện chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nứoc Việt Nam, thì thời gian sử dụng TSCĐ chuyển giao được xác định từ thời điểm đưa TSCĐ vào sử dụng cho đến khi kết thúc dự án. 2.Tài khoản sử dụng. a) TK 214 - Hao mòn TSCĐ Bên nợ : giá trị hao mòn TSCĐ giảm do giảm TSCĐ Bên có : giá trị hao mòn TSCĐ tăng do trích khấu hao Dư có : giá trị hao mòn TSCĐ hiện có ở doanh nghiệp. TK này có các TK cấp 2 : TK 2141 : Hao mòn TSCĐ hữu hình. TK2142 : Hao mòn TSCĐ đi thuê. TK2143 : Hao mòn TSCĐ vô hình. b) TK 009 - Nguồn vốn khấu hao cơ bản. Bên nợ : Nguồn vốn khấu hao cơ bản tăng Bên có : Nguồn vốn khấu hao cơ bản giảm Dư nợ : Nguồn vốn khấu hao cơ bản hiện có Nguồn vốn khấu hao cơ bản là nguồn vốn được dùng để xây dựng mua sắm TSCĐ mới, vốn này do Nhà nước quản lý. Số vốn khấu hao cơ bản thực tế được trích hàng tháng (sau khi trừ đi số khấu hao cơ bản phải trả nghân hàng, phải nộp cấp trên hoặc để lại cho doanh nghiệp theo chế độ quy định) doanh nghiệp phải nộp kịp thời vào ngân sách, không lệ thuộc vào mức nộp ghi trong kế hoạch. 3.Trình tự hạch toán trích và sử dụng nguồn vốn khấu hao - Định kỳ khi trích khấu hao kế toán phản ánh 2 bút toán . BT 1: Căn cứ vào bảng tính và phân bổ khấu hao cho từng bộ phận sử dụng TSCĐ kế toán ghi tăng chi phí sản xuất kinh doanh và tăng giá trị hao mòn TSCĐ. Nợ TK 627 (6274) : trích khấu hao TSCĐ dung cho phân xưởng Nợ TK 641 (6414) : Khấu hao TSCĐ dùng cho bộ phận bán hàng Nợ TK 642 (6424) : Khấu hao TSCĐ dùng cho bộ phận QLDN Nợ TK 241 (2412) : Khấu hao TSCĐ dùng cho xây dựng cơ bản Nợ TK 635 : Khấu hao TSCĐ cho thuê hoạt động ................... Có TK 2141 , 2142, 2143 : Tổng khấu hao đã trích . BT 2 : Phản ánh tăng nguồn vốn khấu hao cơ bản . Nợ TK 009: Số vốn khấu hao đã trích . - Trường hợp doanh nghiệp phải nộp vốn khấu hao cho cấp trên hoặc điều chuyển cho đơn vị khác theo lệnh của cấp trên . * Nếu không đựơc hoàn trả ghi 2 bút toán : BT 1: Phản ánh số vốn khấu hao đã nộp hoặc đã trả . Nợ TK 411 Có TK 111, 112 BT 2: Có TK 009 : Số vốn đã nộp hoặc đã trả . * Nếu được hoàn lại . -Khi nộp khấu hao hoặc đIều chuyển cho đơn vị khác ghi 2 bút toán: BT1: Nợ TK: 136 (1368) Có TK: 111,112 BT2: Có TK 009: Nộp vốn khấu hao. -Khi nhận lại vốn khấu hao ghi 2 bút toán: BT: Nợ TK111,112 Có TK136 (1368) BT2: Nợ TK009: Nhận lại vốn khấu hao. *Về việc trích khấu hao TSCĐ chế độ kế toán mới có nhưng thay đổi so với chế độ kế toán cũ như sau: Nếu như chế độ kế toán cũ quy định: việc trích hoặc thôi trích khấu hao được thực hiện theo nguyên tắc tròn tháng nghiã là những TSCĐ tăng hoặc giảm trong tháng thì đến tháng sau mới tính hoặc thôi tính khấu hao .Nguyên tắc này có những điểm không phù hợp và được sửa đổi theo chế độ kế toán hiện hành như sau: việc trích hoặc thôi trích khấu hao được thực hiện từ ngày TSCĐ tăng hoặc giảm hay ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh (tính theo số ngày trong tháng ) 4.Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ Bảng tính và phân bổ khấu hao Tài sản cố định Bộ , Tổng cục... Đơn vị :.... S T T Chỉ tiêu Tỷ lệ KH (%)TGSD Nơi sd Toàn DN TK 627 – Chi phí sản xuất chung TK 641 chi phí BH TK 642 chi phí QL DN TK 241 XD CB Dở dang TK 142 chi phí trả trước TK 335 chi phí phải trả N.giá TSCĐ Số KH PX SX PXSX PXSX 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 I.Số KH đã trích tháng trước II.Số KH TSCĐ tăng trong tháng. - - - III.Số KH TSCĐ giảm trong tháng - - IV.Số KH phải trích tháng này(I+II-III) - Đất - Nhà cửa,VKT Máy móc thiết bị ................ ................. Người lập bảng ( Ký, họ tên) Ngày ...tháng...năm 200... Kế toán trưởng ( Ký , họ tên) 5. Sơ đồ Kế toán tổng hợp Hao mòn TSCĐ TK211,213 TK214 TK 623,627,641,642,241 TK 136 TK 111,112 SD: SD: Khi thanh lý, nhượng bán TSCĐ Nộp vốn KH cho đvị cấp trên Trích KHTSCĐ tính vào CPSXKD TK 411 TK 009 TK 811 Đồng thời ghi tăng nguồn KH tích luỹ GTCL của TSCĐ Nộp Vốn KH cho cấp trên hoặc đ/c cho đv khác TK211 TK 211,212,213 TK 128,228 Đánh giá lại TSCĐ SD:xxx Đánh giá lại TSCĐ Cho vay = vốn KH 412 412 Phần GT còn lại Phần GTCLtăng Trị giá TSCĐ nhận do điều chuyển trong nội bộ công ty 411 Trị giá vốnTSCĐ do điều chuyển Trích HMTSCĐ Cho HĐ phúc lợi 412 Tăng HMTSCĐ do ĐGL 466 4313 Giảm HMTSCĐ do Đánh giá lại Trích HMTSCĐ Cho HĐ sự nghiệp SD có : P/á số luỹ Kế HMTSCĐ hiện có III.Hoàn thiện quản lý và hạch toán KHTSCĐ trong các doanh nghiệpViệt nam hiện nay 1. Đánh giá về chế độ hạch toán KHTSCĐ hiện hành và tình hình áp dụng tại các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Đối với việc trích khấu hao TSCĐ, các doanh nghiệp hiện nay ứng xử khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của mình. Một số doanh nghiệp trong ngành dệt, giấy, vận chuyển chất lỏng bằng đường ống.. đề nghị kéo dài thời g._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc33662.doc
Tài liệu liên quan