Báo cáo Phân tích tình hình tài chính của Công ty thông qua hệ thống tài chính tại Công ty cổ phần LILAMA Hà Nội

LỜI MỞ ĐẦU Trong xu thế hội nhập với nền kinh tế thế giới. Các công ty Việt nam ra đời ngày càng nhiều về cả loại hình hoạt động lẫn lĩnh vực hoạt động. Để có thể tồn tại, phát triển và cạnh tranh với các công ty khác trong và ngoài nước đòi hỏi mỗi công ty cần có một chiến lược kinh doanh hợp lý trong khuôn khổ pháp luật và các quy định của Nhà nước cho phép. Đặc biệt tình hình tài chính của công ty phải rõ ràng, minh bạch. Tình hình tài chính được thể hiện thông qua các báo cáo tài chính của

doc111 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 13/08/2013 | Lượt xem: 120 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Báo cáo Phân tích tình hình tài chính của Công ty thông qua hệ thống tài chính tại Công ty cổ phần LILAMA Hà Nội, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
công ty. Báo cáo tài chính không chỉ là tài liệu quan trọng của mỗi công ty mà nó còn cung cấp thông tin về công ty cho những người quan tâm. Thông qua việc phân tích báo cáo tài chính của công ty ta có thể thấy được tình hình tài chính hiện tại của công ty, những rủi ro cũng như khả năng phát triển trong tương lai. Từ đó các nhà quản lý đưa ra các quyết định kinh doanh thích hợp, đưa công ty từng bước ổn định và phát triển. Như vậy việc lập và phân tích báo cáo tài chính rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp cũng như Công ty cổ phần LILAMA Hà Nội. Công ty cổ phần LILAMA Hà Nội đang ngày càng phát triển và khẳng định vị thế của mình trong lĩnh vực xây lắp và xây dựng. Đảm bảo tình hình tài chính luôn trong sạch và minh bạch là điều kiện tiên quyết đối với sự phát triển của công ty. Trong quá trình thực tập và tìm hiểu về Công ty cổ phần LILAMA Hà Nội, đặc biệt là tìm hiểu về các báo cáo tài chính em thấy việc “Phân tích tình hình tài chính của công ty thông qua hệ thống báo cáo tài chính tại Công ty cổ phần LILAMA Hà Nội” rất quan trọng và cần thiết. Vì vậy em quyết định chọn đề tài này. Kết cấu đề tài gồm 3 chương: Chương I: Cơ sở lý luận chung về phân tích tình hình tài chính thông qua hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Chương II: Phân tích thực trạng tình hình tài chính thông qua hệ thống báo cáo tài chính của Công ty cổ phần LILAMA Hà Nội. Chương III: Đánh giá thực trạng tình hình tài chính và phương hướng hoàn thiện phân tích tình hình tài chính thông qua hệ thống báo cáo tài chính tại Công ty cổ phần LILAMA Hà Nội. CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH THÔNG QUA HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP Khái quát chung về báo cáo tài chính doanh nghiệp Khái niệm, mục đích, vai trò, và phân loại báo cáo tài chính 1.1.1.1 Khái niệm Báo cáo tài chính là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, dựa vào phương pháp kế toán tổng hợp số liệu từ sổ sách kế toán, theo các chỉ tiêu tài chính phát sinh tại những thời điểm hoặc thời kỳ nhất định. Các báo cáo tài chính phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của doanh nghiệp. Nó chứa đựng những thông tin tổng hợp nhất về tình hình tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp tại những thời điểm; tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp; đồng thời giải trình giúp các đối tượng sử dụng thông tin tài chính nhận biết được thực trạng tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để ra các quyết định phù hợp. 1.1.1.2 Mục đích Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21, mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. Để đạt được mục đích này các báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp về tài sản, vốn chủ sở hữu, nợ phải trả, doanh thu, thu nhập khác, chi phí, lãi và lỗ, các luồng tiền. Cùng với Bản thuyết minh báo cáo tài chính cung cấp và giải thích thêm một số chỉ tiêu mà trong các báo cáo tài chính chưa được trình bày, giải thích một cách rõ ràng cụ thể. 1.1.1.3 Vai trò Báo cáo tài chính cung cấp các thông tin kinh tế, tài chính cần thiết. Là cơ sở để kiểm tra, phân tích một cách tổng hợp, toàn diện, có hệ thống tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính chủ yếu của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính cũng cung cấp những thông tin, số liệu để kiểm tra, giám sát tình hình hạch toán kinh doanh, việc chấp hành chế độ kế toán cũng như các chế độ chính sách do Nhà nước đề ra. Báo cáo tài chính còn cung cấp những thông tin, số liệu để phân tích đánh giá những khả năng và tiềm năng kinh tế, tài chính của doanh nghiệp. Giúp cho công tác dự báo và lập các kế hoạch tài chính trong tương lai của doanh nghiệp. 1.1.1.4 Phân loại Phân loại báo cáo tài chính giúp cho việc nghiên cứu và sử dụng báo cáo tài chính một cách thuận lợi hơn. Tùy theo tiêu thức khác nhau mà ta có các phân loại báo cáo tài chính khác nhau. Sau đây ta xem xét một số cách phân loại báo cáo tài chính: Phân loại báo cáo tài chính doanh nghiệp theo nội dung phản ánh gồm: Báo cáo phản ánh tổng quát tình hình tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp; Báo cáo phản ánh doanh thu, thu nhập, chi phí và kết quả hoạt động kinh doanh; Báo cáo phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước; Báo cáo phản ánh tình hình lưu chuyển tiền tệ; Báo cáo thuyết minh. Phân loại báo cáo tài chính doanh nghiệp theo thời gian lập gồm: Báo cáo tài chính năm; Báo cáo tài chính giữa niên độ. Phân loại báo cáo tài chính doanh nghiệp theo tính bắt buộc gồm: Báo cáo tài chính bắt buộc; Báo cáo tài chính hướng dẫn. Phân loại báo cáo tài chính doanh nghiệp theo phạm vi thông tin phản ánh gồm: Báo cáo tài chính doanh nghiệp độc lập; Hệ thống báo cáo tài chính hợp nhất; hệ thống báo cáo tài chính tổng hợp. Yêu cầu lập báo cáo tài chính Báo cáo tài chính phải trình bày một cách trung thực và hợp lý, phản ánh tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp. Để đảm bảo yêu cầu trung thực hợp lý, các báo cáo tài chính được lập và trình bày trên cơ sở tuân thủ chế độ kế toán, các chuẩn mực kế toán và các quy định của cơ quan hiện hành. Doanh nghiệp cần nêu rõ trong phần thuyết minh báo cáo tài chính là báo cáo tài chính được lập và trình bày phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam. Tức là báo cáo tài chính tuân thủ mọi quy định của từng chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hướng dẫn thực hiện chuẩn mực kế toán Việt Nam. Trường hợp doanh nghiệp sử dụng chính sách kế toán khác với quy định của chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam cho dù đã thuyết minh đầy đủ trong chính sách kế toán cũng như trong phần thuyết minh báo cáo tài chính vẫn không được coi là tuân thủ chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành. Báo cáo tài chính phải đảm bảo độ tin cậy của thông tin, phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự kiện; trình bày khách quan, không thiên vị; tuân thủ nguyên tắc thận trọng và trình bày đầy đủ trên khía cạnh trọng yếu. Báo cáo tài chính phải trình bày đầy đủ các thông tin nhằm cung cấp các thông tin phù hợp, tin cậy, so sánh được và dễ hiểu. Nó còn cung cấp các thông tin bổ sung khi quy định trong chuẩn mực kế toán không đủ để giúp cho người sử dụng hiểu được tác động của những giao dịch hoặc những sự kiện cụ thể đến tình hình tài chính, tình hình và kế quả kinh doanh của doanh nghiệp. 1.1.3 Nguyên tắc lập báo cáo tài chính Theo nguyên tắc hoạt động liên tục, báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần. Giám đốc doanh nghiệp cần phải đánh giá về khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp. Vì thế khi đánh giá nếu thấy có những điều không chắc chắn liên quan đến các sự kiện hoặc các điều kiện có thể gây ra sự nghi ngờ lớn về khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp thì những điều không chắc chắn đó cần nêu rõ. Nếu báo cáo tài chính không được lập trên cơ sở hoạt động liên tục thì sự kiện này cần được nêu rõ cùng với cơ sở dùng để lập báo cáo tài chính và lý do khiến doanh nghiệp không được coi là đang hoạt động liên tục. Báo cáo tài chính được lập trên cơ sở kế toán dồn tích, ngoại trừ các thông tin liên quan đến luồng tiền. Theo cơ sở kế toán dồn tích, các giao dịch và sự kiện được ghi nhận vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực thu, thực chi tiền. Việc trình bày và phân loại các khoản mục trong báo cáo tài chính phải được thực hiện trên cơ sở nhất quán từ niên độ này sang niên độ khác. Trừ khi có sự thay đổi đáng kể về bản chất các hoạt động của doanh nghiệp hoặc khi xem xét lại việc trình bày báo cáo tài chính cho thấy rằng cần phải thay đổi để có thể trình bày một cách hợp lý hơn các giao dịch và sự kiện; hoặc có một chuẩn mực kế toán khác yêu cầu có sự thay đổi trong việc trình bày. Khi có sự thay đổi doanh nghiệp cần phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính. Báo cáo tài chính được lập trên cơ sở nguyên tắc trọng yếu và tập hợp. Điều này có nghĩa là từng khoản mục trọng yếu được trình bày riêng biệt trong các báo cáo tài chính, các khoản mục không trọng yếu thì được tập hợp vào những khoản mục có cùng tính chất và chức năng. Để xác định một khoản mục, một tập hợp các khoản mục là trọng yếu phải đánh giá quy mô và tính chất của chúng. Nếu không trình bày hoặc trình bày thiếu một thông tin được coi là trọng yếu có thể là sai lệch báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng tới quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính. Theo nguyên tắc bù trừ, các khoản mục tài sản và nợ phải trả trình bày trên báo cáo tài chính không được bù trừ, trừ khi có một chuẩn mực kế toán khác quy định hoặc cho phép bù trừ. Theo nguyên tắc có thể so sánh được, các thông tin bằng số liệu trong báo cáo tài chính nhằm để so sánh giữa các kỳ kế toán phải được trình bày tương ứng với các thông tin bằng số liệu trong báo cáo tài chính của kỳ trước. 1.1.4 Kết cấu và nội dung của các báo cáo tài chính Hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp bao gồm: 1. Bảng cân đối kế toán 2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 4. Bản thuyết minh báo cáo tài chính Ngoài các báo cáo tài chính phải lập theo quy định, doanh nghiệp có thể lập các báo cáo quản lý để cung cấp những thông tin phục vụ cho công tác quản lý, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. 1.1.4.1 Bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Việc lập Bảng cân đối kế toán dựa vào số liệu từ sổ kế toán tổng hợp; sổ, thẻ kế toán chi tiết hoặc Bảng tổng hợp chi tiết; Bảng cân đối kế toán năm trước. Khi lập Bảng cân đối kế toán cột số liệu “số đầu năm” của Bảng cân đối kế toán năm nay được chuyển từ cột số liệu “số cuối năm” của Bảng cân đối năm trước. Căn cứ vào sổ kế toán tổng hợp, sổ, thẻ kế toán chi tiết kế toán tiến hành lập các số liệu trên cột “số cuối năm” của Bảng cân đối kế toán. 1.1.4.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Việc lập Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh dựa vào số liệu từ sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết trong kỳ dùng cho các tài khoản doanh thu, chi phí, xác định kết quả kinh doanh; Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm trước. Khi lập Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cột số liệu “năm trước” của Báo cáo kết quả kinh doanh năm nay được chuyển từ cột số liệu “năm nay” trên Báo cáo kết quả kinh doanh năm trước. Căn cứ vào số liệu trên các sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết trong kỳ dùng cho tài khoản từ loại 5 đến loại 9 kế toán tiến hành lập số liệu trên cột “năm nay” của Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. 1.1.4.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ phản ánh luồng tiền vào, ra trong doanh nghiệp, tình hình tài trợ, đầu tư bằng tiền của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Việc lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ dựa vào số liệu từ Bảng cân đối kế toán; Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; Bản thuyết minh báo cáo tài chính; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ năm trước; sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết của các TK 111, 112, 113 và các tài khoản phải thu, phải trả, tài khoản chi phí. Khi lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cột số liệu “năm trước” của Báo cáo lưu chuyển tiền tệ năm nay được chuyển từ cột số liệu “năm nay” trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ năm trước. Căn cứ vào Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Bản thuyết minh BCTC, sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết các TK 111, 112, 113, các tài khoản liên quan khác kế toán tiến hành lập số liệu trên cột “năm nay” của Báo cáo lưu chuyển tiền tệ. 1.1.4.4 Bản thuyết minh báo cáo tài chính Bản thuyết minh báo cáo tài chính được lập để cung cấp các thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh chưa có trong các báo cáo tài chính trên, đồng thời giải thích một cách rõ ràng, cụ thể một số chỉ tiêu đã được trình bày. Việc lập Bản thuyết minh báo cáo tài chính dựa vào số liệu Bảng cân đối kế toán; Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ năm báo cáo; số liệu sổ kế toán tổng hợp; sổ, thẻ kế toán chi tiết; Bản thuyết minh báo cáo tài chính năm trước. Ngoài ra còn căn cứ vào tình hình thực tế của doanh nghiệp. Khi lập Bản thuyết minh báo cáo tài chính cột số liệu “năm trước” của Bản thuyết minh báo cáo tài chính năm nay được chuyển từ cột số liệu “năm nay” của Bản thuyết minh báo cáo tài chính năm trước. Căn cứ vào Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, các tài liệu và quy định có liên quan tiến hành lập số liệu, các chỉ tiêu trên Bản thuyết minh báo cáo tài chính. Căn cứ vào sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết lập các số liệu trên cột “năm nay” của Bản thuyết minh báo cáo tài chính. 1.1.5 Hệ thống báo cáo tài chính Việt Nam so với chuẩn mực quốc tế Việc lập và trình bày báo cáo tài chính được quy định theo chuẩn mực kế toán Quốc tế số 1 (IAS 1) và chuẩn mực kế toán Quốc tế số 7 (IAS 7), theo chuẩn mực kế toán Viết Nam số 21 (VAS 21) và chuẩn mực kế toán Việt Nam số 24 (VAS 24). Hai chuẩn mực này đều bao gồm mục đích, yêu cầu, nguyên tắc lập báo cáo tài chính, cấu trúc và nội dung chủ yếu của các báo cáo tài chính. Với yêu cầu chung khi lập báo cáo tài chính là trình bày trung thực và hợp lý. Cần áp dụng chính sách, chế độ kế toán phù hợp với quy định của từng chuẩn mực kế toán. Hai chuẩn mực yêu cầu khi lập báo cáo tài chính phải dựa trên các nguyên tắc như: hoạt động liên tục, cơ sở dồn tích, nhất quán, trọng yếu và tập hợp, bù trừ, có thể so sánh. Kết cấu và nội dung chủ yếu của các báo cáo tài chính đều đưa ra thông tin tổng quát về doanh nghiệp lập báo cáo như tên, địa chỉ của doanh nghiệp; loại báo cáo; kỳ báo cáo; ngày lập báo cáo; đơn vị tiền tệ sử dụng. Ngoài ra tùy theo đặc điểm và tính chất của từng báo cáo mà có cách trình bày thích hợp. Để phù hợp với tình hình kinh tế, hệ thông pháp luật trong nước, chế độ kế toán Việt Nam đã có những điều chỉnh cần thiết. Chế độ kế toán Việt Nam đã được hoàn thiện nhằm thống nhất với chế độ kế toán Quốc tế và phù hợp với điều kiện thực tế nước ta. Hệ thống báo cáo tài chính theo chuẩn mực quốc tế gồm 5 báo cáo chính: Bảng tổng kết tài sản - Bảng cân đối kế toán, Báo cáo thu nhập - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Thay đổi vốn chủ sở hữu, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Các chế độ kế toán và các thuyết minh - Bản thuyết minh báo cáo tài chính. Trong kiểm tra hệ thống báo cáo Việt Nam chỉ có 4 báo cáo chính, Thay đổi vốn chủ sở hữu được trình bày trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính. Nội dung và kết cấu của các báo cáo tài chính theo chế độ kế toán Việt Nam có tính bắt buộc theo mẫu. Trong khi chuẩn mực kế toán quốc tế chỉ có tích chất hướng dẫn, và nó khuyến khích các doanh nghiệp lập thêm các báo cáo khác phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp. Trong chuẩn mực kế toán Việt Nam quy định cụ thể thời gian lập, nộp và nơi nhận báo cáo tài chính đối với từng loại hình doanh nghiệp. Chuẩn mực kế toán quốc tế không quy định cụ thể những nội dung trên. Như vậy, chuẩn mực kế toán Việt Nam có sự thống nhất và cũng có những nét khác biệt so với chuẩn mực kế toán quốc tế. Tuy nhiên hệ thống báo cáo tài chính của nước ta đang ngày càng được hoàn thiện để thống nhất với quy định quốc tế và phù hợp với điều kiện nước ta. 1.2 Phương pháp phân tích tình hình tài chính 1.2.1 Khái niệm, mục đích, ý nghĩa của việc phân tích tình hình tài chính 1.2.1.1 Khái niệm Phân tích báo cáo tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu, và so sánh số liệu về tài chính trong kỳ hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua. Là quá trình sử dụng các báo cáo tài chính của công ty để phân tích và đánh giá tình hình tài chính của công ty. Việc phân tích báo cáo tài chính công ty có thể do bản thân công ty hoặc các tổ chức bên ngoài công ty bao gồm các nhà cung cấp vốn như ngân hàng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các nhà đầu tư như công ty chứng khoán, các qũy đầu tư,… thực hiện. 1.2.1.2 Mục đích Mục đích của phân tích báo cáo tài chính là nhằm đánh giá tình hình tài chính và hoạt động của công ty để có cơ sở ra những quyết định hợp lý. Có hai mục đích chính trong phân tích báo cáo tài chính: Thứ nhất, mục tiêu ban đầu của việc phân tích báo cáo tài chính là nhằm để "hiểu được các con số" hoặc để "nắm chắc các con số", tức là sử dụng các công cụ phân tích tài chính như là một phương tiện hỗ trợ để hiểu rõ các số liệu tài chính trong báo cáo tài chính. Như vậy, phải sử dụng các biện pháp phân tích khác nhau nhằm để miêu tả những quan hệ và chắt lọc thông tin từ các dữ liệu ban đầu. Thứ hai, do sự định hướng của công tác phân tích tài chính nhằm vào việc ra quyết định, một mục tiêu quan trọng khác là nhằm đưa ra một cơ sở hợp lý cho việc dự đoán tương lai. Trên thực tế, tất cả các công việc ra quyết định, phân tích tài chính hay tất cả những việc tương tự đều nhằm hướng vào tương lai. Do đó, người ta sử dụng các công cụ và kĩ thuật phân tích báo cáo tài chính nhằm cố gắng đưa ra đánh giá có căn cứ về tình hình tài chính tương lai của công ty, dựa trên phân tích tình hình tài chính trong quá khứ và hiện tại, và đưa ra ước tính tốt nhất về khả năng của những sự cố kinh tế trong tương lai. 1.2.1.3 Ý nghĩa Thông tin từ việc phân tích báo cáo tài chính cung cấp cho mọi đối tượng để đưa ra quyết định tùy theo những mục tiêu khác nhau. Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp thu nhận thông tin để đưa ra quyết định điều hành kinh doanh. Các nhà đầu tư dựa vào các thông tin từ việc phân tích báo cáo tài chính để ra quyết định đầu tư. Các tổ chức tín dụng thông qua việc phân tích báo cáo tài chính đưa ra các quyết định cho vay, tài trợ vốn một các phù hợp. Một số cơ quan khác thông qua việc phân tích báo cáo tài chính để xác minh tình hình thực hiện chế độ tài chính, thực hiện các nghĩa vụ đối với cơ quan có thẩm quyền. Các thông tin từ việc phân tích báo cáo tài chính còn có tác dụng kiểm tra tình hình tài chính của doanh nghiệp từ đó góp phần hoàn thiện cơ chế tài chính, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển ổn định trên thương trường. 1.2.2 Cơ sở dữ liệu sử dụng trong phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 1.2.2.1 Cơ sở dữ liệu Việc thực hiện phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Với 4 báo cáo tài chính là: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Bản thuyết minh báo cáo tài chính. Bên cạnh việc sử dụng hệ thống báo cáo tài chính còn sử dụng hệ thống sổ sách kế toán, những thông tin về ngành nghề kinh doanh, lĩnh vực hoạt động… 1.2.2.2 Kiểm tra cơ sở dữ liệu phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp Kiểm tra báo cáo tài chính là việc làm cần thiết và cũng là yêu cầu bắt buộc đối với công tác hạch toán kế toán và quản lý doanh nghiệp. Kiểm tra tính trung thực, đầy đủ, kịp thời của các báo cáo tài chính. Việc kiểm tra số liệu trên báo cáo tài chính nhằm tìm ra những sai sót, vi phạm pháp luật, chính sách, chế độ về quản lý tài chính, kinh tế. * Kiểm tra Bảng cân đối kế toán Đối với Bảng cân đối kế toán trước tiên tiến hành kiểm tra tính cân bằng và mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trong nội bộ Bảng cân đối kế toán. Điều này là do Bảng cân đối kế toán có tính cân bằng về lượng giữa giá trị tài sản và nguồn vốn. Nó thể hiện qua các phương trình kế toán cơ bản: Tài sản = Nguồn vốn Tài sản = Vốn chủ sở hữu + Nợ phải trả Tài sản = Tài sản ngắn hạn + Tài sản dài hạn Việc kiểm tra Bảng cân đối kế toán là kiểm tra tính cân bằng của các phương trình trên. Sau khi kiểm ra tính cân đối cần xem xét đến việc tính toán số học của các chỉ tiêu. Theo nguyên tắc lập Bảng cân đối kế toán thì một chỉ tiêu tổng hợp bao giờ cũng bao gồm nhiều chỉ tiêu chi tiết câu thành. Chẳng hạn Tổng tài sản = Tài sản ngắn hạn + Tài sản dài hạn. Tài sản ngắn hạn bao gồm tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho, tài sản ngắn hạn khác. Tiếp đến là kiểm tra mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trên Bảng cân đối kế toán với các báo cáo tài chính khác. Điều này là do các báo cáo tài chính được lập vào cùng một thời điểm và cùng phản ánh tình hình của doanh nghiệp nên số liệu trên các chỉ tiêu thường thống nhất với nhau. Cụ thể là trị số của chỉ tiêu phản ánh trên Bảng cân đối kế toán phải bằng trị số của chỉ tiêu đó phản ánh trên các báo cáo tài chính khác tại cùng một thời điểm cho dù tính toán theo cách thức khác nhau. Trị số của một chỉ tiêu đầu kỳ này phải thống nhất với cuối kỳ trước. Trị số cuối kỳ của chỉ tiêu trên Bảng cân đối kế toán luôn bằng trị số đầu kỳ cộng số tăng trong kỳ và trừ số giảm trong kỳ trên báo cáo tài chính khác. Bên cạnh đó còn phải kiểm tra nguồn số liệu và nội dung phản ánh của các chỉ tiêu trên Bảng cân đối kế toán. Khi kiểm tra cần đối chiếu số liệu trên sổ sách và chứng từ kế toán. * Kiểm tra Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Trước tiên ta kiểm tra mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trong nội bộ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Mối quan hệ này thể hiện qua phương trình tổng quát: Kết quả từng hoạt động kinh doanh = Doanh thu hoặc thu nhập từng hoạt động kinh doanh - Chi phí từng hoạt động kinh doanh Sau đó ta kiểm tra mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh với các báo cáo tài chính khác. Đặc biệt là mối quan hệ với các chỉ tiêu trên Bản thuyết minh báo cáo tài chính. Ngoài ra cần kiểm tra nguồn số liệu và nội dung phản ánh của các chỉ tiêu trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Cần xem xét nguồn số liệu sử dụng trong việc ghi nhận, nội dung và thời gian ghi nhận doanh thu và chi phí cũng như sự phù hợp giữa các khoản doanh thu và chi phí phát sinh trong kỳ của doanh nghiệp. * Kiểm tra Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Cũng như các báo cáo tài chính khác, các chỉ tiêu trong nội bộ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có mối quan hệ qua lại lẫn nhau. Do đó ta cần tiến hành kiểm tra mối quan hệ này. Theo phương pháp trực tiếp, mối quan hệ giữa các chỉ tiêu thể hiện qua phương trình: Lưu chuyển tiền thuần từ các hoạt động = Tổng tiền thu từ các hoạt động - Tổng tiền chi từ các hoạt động Còn theo phương pháp gián tiếp, lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính được kiểm tra tương tự phương pháp trực tiếp. Còn lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh ta có mối quan hệ: Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh = Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế ± Các khoản điều chỉnh Ngoài ra cần phải kiểm tra mối quan hệ giữa Báo cáo lưu chuyển tiền tệ với các báo cáo tài chính khác. Kiểm tra mối quan hệ với các chỉ tiêu trên Bảng cân đối kế toán và Bản thuyết minh báo cáo tài chính. * Kiểm tra Bản thuyết minh báo cáo tài chính Trước tiên kiểm tra nguồn dữ liệu để lập các chỉ tiêu trên Bản thuyết minh báo cáo tài chính. Các đặc điểm về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, các chính sách, chế độ áp dụng. Ngoài ra còn phải kiểm tra nguồn thông tin bổ sung cho các khoản mục được trình bày trong 3 báo cáo còn lại. Kiểm tra mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính với các báo cáo tài chính khác. 1.2.3 Các phương pháp phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 1.2.3.1 Phương pháp so sánh So sánh là phương pháp được dùng phổ biến trong việc phân tích báo cáo tài chính. Nó là phương pháp nhằm nghiên cứu sự biến động và xác định mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích. Các phương pháp so sánh chủ yếu được sử dụng là so sánh theo chiều ngang, so sánh theo chiều dọc, so sánh xác định xu hướng và tính chất liên hệ. Để đảm bảo tính chất so sánh được của các chỉ tiêu qua thời gian, cần đảm bảo một số điều kiện như đảm bảo sự thống nhất về nội dung kinh tế của các chỉ tiêu. Đảm bảo phương pháp tính các chỉ tiêu thống nhất. Đảm bảo sự thống nhất về đơn vị tính của các chỉ tiêu. Một việc rất quan trọng khi thực hiện phương pháp so sánh là phải xác định được số gốc để so sánh. Khi tiến hành so sánh cần so sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số thực tế kỳ kinh doanh trước để xác định xu hướng thay đổi. So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số kỳ kế hoạch để xác định múc độ hoàn thành kế hoạch. So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình ngành để đánh giá vị trí của doanh nghiệp trong ngành. 1.2.3.2 Phương pháp loại trừ Loại trừ là phương pháp nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích và được thực hiện bằng cách khi xác định sự ảnh hưởng của nhân tố này thì phải loại trừ ảnh hưởng của nhân tố khác. Có 2 phương pháp loại trừ là phương pháp số chênh lệch và phương pháp thay thế liên hoàn. * Phương pháp số chênh lệch Phương pháp số chênh lệch là phương pháp dựa vào sự ảnh hưởng trực tiếp của từng nhân tố đối với chỉ tiêu. Phương pháp này thường áp dụng khi phân tích các chỉ tiêu mà các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu dưới dạng tích. Các nhân tố thường được sắp xếp theo trình tự nhân tố số lượng, tiếp đến là nhân tố chất lượng. Khi phân tích ảnh hưởng của một nhân tố ta sử dụng phần chênh lệch của nhân tố đó nhân chỉ số các nhân tố khác, nhân tố chưa phân tích trị số ở kỳ gốc, nhân tố đã phân tích ở kỳ phân tích. Cuối cùng tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố để đưa ra kết luận. * Phương pháp thay thế liên hoàn Phương pháp thay thế liên hoàn là tiến hành thay thế lần lượt từng nhân tố theo một trình tự nhất định. Phương pháp này được áp dụng khi phân tích các chỉ tiêu mà các nhân tố có quan hệ với chỉ tiêu dưới dạng biểu thức đại số. Khi phân tích ta tiến hành thay thế theo thứ tự nhân tố chưa phân tích trị số ở kỳ gốc, nhân tố đã phân tích trị số ở kỳ phân tích. Sau đó tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố để đưa ra kết luận. 1.2.3.3 Phương pháp chi tiết chỉ tiêu tài chính Phương pháp này dựa trên cơ sở các chỉ tiêu phân tích đều có thể chi tiết theo nhiều thứ khác nhau. Từ đó ta phân tích những mặt, những bộ phận sau đó tổng hợp để đưa ra bản chát của đối tượng nghiên cứu. Ta có thể chi tiết các chỉ tiêu phân tích theo ba hướng như: chi tiết theo nội dung của các chỉ tiêu, chi tiết theo thời gian, chi tiết theo địa chỉ. 1.2.3.4 Phương pháp mô hình tài chính (mô hình Dupont) Phương pháp này nhằm thiết kế các chỉ tiêu cần phân tích dưới dạng mô hình, từ đó phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố tới chỉ tiêu và thấy được sự tác động mức ảnh hưởng đến chỉ tiêu như thế nào. Mô hình Dupont có dạng: Tỷ suất lợi nhuận theo tài sản = Lợi nhuận thuần = Lợi nhuận thuần × Doanh thu thuần Tổng tài sản Doanh thu thuần Tổng tài sản Ngoài các phương pháp phân tích trên trong phân tích báo cáo tài chính còn sử dụng các phương pháp như phương pháp đồ thị, phương pháp cân đối. 1.3 Nội dung phân tích tình hình tài chính thông qua hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp 1.3.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính Đánh giá khái quát tình hình tài chính nhằm cung cấp thông tin cho mọi đối tượng có nhu cầu biết được cơ cấu tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp đã phù hợp với đặc điểm ngành nghề kinh doanh chưa, đã phù hợp với khả năng tài chính, tình hình huy động vốn của doanh nghiệp chưa. 1.3.1.1 Đánh giá tình hình biến động tài sản Đánh giá tình hình biến động tài sản chính là xem xét, phân tích cơ cấu tài sản của doanh nghiệp. Thông qua kết quả phân tích để các nhà quản trị có các biện pháp điều chuyển, đầu tư đúng mục đích, đúng ngành nghề góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh doanh và khai thác tối đa các yếu tố của quá trình sản xuất. Cơ cấu tài sản đó chính là tỷ trọng của mỗi khoản mục tài sản so với tổng tài sản. Khi phân tích cơ cấu tài sản ta xác định tỷ trọng của mỗi chỉ tiêu so với tổng số. Từ đó ta so sánh cơ cấu kỳ phân tích với kỳ kế hoạch, hoặc các kỳ kinh doanh trước, hoặc với các doanh nghiệp điển hình để thấy được cơ cấu tài sản đã phù hợp chưa. Thông qua việc phân tích xác định các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu không phù hợp. Có thể là do các khoản mục tài sản có tốc độ tăng, giảm không đồng đều. Từ đó ta đưa ra các biện pháp cụ thể nhằm góp phần ổn định cơ cấu tài sản. Ta có bảng đánh giá tình hình biến động tài sản: CHỈ TIÊU Năm N-2 Năm N-1 Năm N Năm N-1 so với năm N-2 Năm N so với năm N-2 Năm N so với năm N-1 Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng A. TÀI SẢN NGẮN HẠN I. Tiền và các khoản tương đương tiền II. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn III. Các khoản phải thu IV. Hàng tồn kho V. Tài sản ngắn hạn khác B. TÀI SẢN DÀI HẠN I. Phải thu dài hạn II. Tài sản cố định III. Bất động sản đầu tư II. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn III. Tài sản dài hạn khác TỔNG TÀI SẢN 1.3.1.2 Đánh giá tình hình biến động nguồn hình thành tài sản Nguồn hình thành tài sản chính là nguồn vốn của doanh nghiệp. Để đánh giá tình hình biến động nguồn hình thành tài sản ta đi xem xét, phân tích cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp. Thông qua kết quả phân tích cơ cấu nguồn vốn có thể thấy được trách nhiệm của doanh nghiệp đối với từng nguồn, khả năng huy động tài chính ở mức độ như thế nào. Qua đó doanh nghiệp đưa ra các biện pháp huy động vốn, thanh toán công nợ để vừa góp phần ổn định tài chính vừa nâng cao hiệu quả kinh doanh. Tương tự cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn cũng chính là tỷ trọng của mỗi khoản mục nguồn vốn so với tổng nguồn vốn. Khi phân tích ta cũng xác định tỷ trọng mỗi nguồn vốn so với tổng số. Từ đó ta so sánh cơ cấu kỳ phân tích với kỳ kế hoạch, hoặc các kỳ kinh doanh trước, hoặc với các doanh nghiệp điển hình để thấy được cơ cấu nguồn vốn đã phù hợp chưa. Ta có bảng đánh giá tình hình biến động nguồn vốn: CHỈ TIÊU Năm N-2 Năm N-1 Năm N Năm N-1 so với năm N-2 Năm N so với năm N-2 Năm N so với năm N-1 Số tiền ._. Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng A. NỢ PHẢI TRẢ I. Nợ ngắn hạn II. Nợ dài hạn B. VỐN CHỦ SỞ HỮU I. Vốn chủ sở hữu II. Nguồn kinh phí và các quỹ khác TỔNG NGUỒN VỐN 1.3.2 Phân tích công nợ và khả năng thanh toán 1.3.2.1 Phân tích tình hình công nợ Phân tích tình hình công nợ là phân tích tình hình các khoản phải thu và phải trả của doanh nghiệp. Từ đó cung cấp cho các đối tượng quan tâm biết được cơ cấu của các khoản phải thu, phải trả; và biết được số chiếm dụng và bị chiếm dụng của doanh nghiệp. Thông qua việc phân tích doanh nghiệp đưa ra các biện pháp thu hồi nhằm giảm bớt các khoản phải thu quá hạn, tránh sự thiết thòi về tài sản của doanh nghiệp. Đồng thời đưa ra các biện pháp huy động vốn nhằm đáp ứng khả năng thanh toán cho các khoản phải trả để nâng cao uy tín và thương hiệu cho doanh nghiệp. Tình hình công nợ của công ty thể hiện qua công thức: Tỷ lệ các khoản phải thu so với các khoản nợ phải trả = Tổng các khoản phải thu Tổng nợ phải trả × 100 Đây là chỉ tiêu phản ánh quan hệ giữa các khoản phải thu so với các khoản phải trả. Chỉ tiêu này thường phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh ngành nghề kinh doanh và hình thức sở hữu vốn của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này lớn hơn 100% chứng tỏ doanh nghiệp đang bị chiếm dụng vốn, chỉ tiêu này càng nhỏ hơn 100% chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng vốn nhiều. Một số chỉ tiêu phân tích các khoản phải thu: Số vòng quay các khoản phải thu = Tổng tiền hàng bán chịu Số dư bình quân các khoản phải thu Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích các khoản phải thu quay được bao nhiêu vòng. Chỉ tiêu này càng cao càng chứng tỏ tình hình thu tiền của doanh nghiệp nhanh, ít bị chiếm dụng vốn. Thời gian bình quân 1 vòng quay các khoản phải thu = Thời gian của kỳ phân tích Số vòng quay các khoản phải thu Chỉ tiêu này cho biết thời gian mỗi vòng quay hết bao nhiêu ngày, chi tiêu này càng cao càng tốt. Khi phân tích chỉ tiêu này cần đối chiếu với thời hạn ghi trong hợp đồng kinh tế của khách hàng để biết được khả năng thu tiền thực sự của doanh nghiệp và tình hình thanh toán của khách hàng. Một số chỉ tiêu phân tích các khoản phải trả: Số vòng quay các khoản phải trả = Tổng tiền hàng mua chịu Số dư bình quân các khoản phải trả Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích các khoản phải trả quay được bao nhiêu vòng. Chỉ tiêu này càng cao càng chứng tỏ tình hình thanh toán tiền hàng của doanh nghiệp nhanh. Thời gian bình quân 1 vòng quay các khoản phải trả = Thời gian của kỳ phân tích Số vòng quay các khoản phải trả Chỉ tiêu này cho biết thời gian 1 vòng quay các khoản phải trả là bao nhiêu ngày, chỉ tiêu này càng thấp càng tốt. Tuy nhiên khi phân tích chúng ta cần đối chiếu với thời hạn ghi trong hợp đồng kinh tế để biết được tình hình thanh toán tiền của doanh nghiệp đối với nhà cung cấp thực chất như thế nào. 1.3.2.2 Phân tích khả năng thanh toán Khả năng thanh toán là khả năng một doanh nghiệp có thể hoàn trả các khoản nợ đến hạn. Khi một doanh nghiệp không có khả năng thanh toán toà án sẽ tuyên bố phá sản, vỡ nợ. Ta có bảng chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán: Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 1. Hệ số thanh toán nhanh 2. Hệ số thanh toán ngắn hạn 3. Hệ số thanh toán tổng quát (Hk) 4. Hệ số chuyển đổi thành tiền của TSNH 5. Hệ số thanh toán dài hạn Trong đó: Hệ số thanh toán nhanh = Tiền và các khoản tương đương tiền Nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán nhanh các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này quá cao hay quá thấp đều không tốt. Nó ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn và tình hình tài chính của doanh nghiệp Hệ số thanh toán ngắn hạn = Tổng giá trị tài sản ngắn hạn Nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán của TSNH đối với nợ ngắn hạn. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp thừa khả năng thanh toán đồng thời chứng tỏ các TSNH được đầu tư từ nguồn vốn ổn định. Hệ số chuyển đổi thành tiền của tài sản ngắn hạn = Tiền và các khoản tương đương tiền Tổng giá trị tài sản ngắn hạn Chỉ tiêu này cho biết khả năng chuyển đổi thành tiền của các tài sản ngắn hạn, chỉ tiêu này thường phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp. Hệ số thanh toán dài hạn = Tổng giá trị tài sản dài hạn Nợ dài hạn Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán của tài sản dài hạn đối với nợ dài hạn của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt, chứng tỏ doanh nghiệp thừa khả năng thanh toán. Đó là nhân tố góp phần ổn định tình hình tài chính. Hệ số thanh toán tổng quát = Tổng giá trị tài sản Tổng nợ phải trả Chỉ tiêu này cho biết tổng tài sản của doanh nghiệp có đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp hay không. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt, là nhân tốt góp phần ổn định tình hình tài chính của doanh nghiệp. Hệ số khả năng thanh toán lãi vay = Lợi nhuận sau thuế + Chi phí lãi vay Chi phí lãi vay Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán của doanh nghiệp đối với lãi vay. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt, vì khi đó doanh nghiệp không chỉ có khả năng thanh toán lãi vay mà còn thanh toán nợ gốc vay. Đây là chỉ tiêu hấp dẫn các nhà đầu tư. 1.3.3 Phân tích hiệu quả kinh doanh 1.3.3.1 Ý nghĩa của phân tích hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ tổ chức sử dụng các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh là sự so sánh giữa kết quả thu về với các yếu tố bỏ ra. Thông qua việc phân tích hiệu quả kinh doanh nhằm cung cấp thông tin cho tất cả mọi đối tượng đưa ra các quyết định đầu tư hoặc gữi nguyên quy mô hoặc thu hẹp quy mô nhằm đảm bảo an toàn vốn cho doanh nghiệp. Phân tích hiệu quả kinh doanh còn giúp các đối tượng nhận diện được dấu hiệu rủi ro tài chính có thể xuất hiện và xu hướng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai. Hiệu quả kinh doanh còn giúp cho doanh nghiệp có hướng đầu tư phù hợp, đồng thời đưa ra các biện pháp tiết kiệm chi phí. 1.3.3.2 Đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh của công ty Đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh nhằm biết được hiệu quả kinh doanh ở mức độ nào, xu hướng kinh doanh và những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh. Để đánh giá được hiệu quả kinh doanh của công ty ta xem xét các chỉ tiêu: Sức sinh lời của tài sản = Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản bình quân Chỉ tiêu này cho biết khả năng tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp từ tài sản. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt, chứng tỏ tài sản của doanh nghiệp được sử dụng hiệu quả, là nhân tố góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Sức sinh lời của vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận sau thuế Vốn chủ sở hữu bình quân Chỉ tiêu này cho biết khả năng tạo ra lợi nhuận của vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu cảu doanh nghiệp tốt, góp phần nâng cao khả năng đầu tư của chủ doanh nghiệp. Hệ số lợi nhuận sau thuế so với chi phí = Lợi nhuận sau thuế Tổng chi phí Chỉ tiêu này cho biết sau một kỳ hoạt động doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng chi phí thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt. Ngoài việc đánh giá các chỉ tiêu còn phân tích Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Bằng cách phân tích sự biến động của các chỉ tiêu trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. 1.3.3.3 Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản Để phân tích hiệu quả sử dụng tài sản thường phân tích các chỉ tiêu: Sức sinh lời của tài sản = Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản bình quân Suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần = Tổng tài sản bình quân Doanh thu thuần Suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận sau thuế = Tổng tài sản bình quân Lợi nhuận sau thuế Ngoài việc phân tích hiệu quả sử dụng tổng tài sản còn phân tích hiệu quả sử dụng TSCĐ, TSNH, HTK. Việc phân tích hiệu quả sử dụng TSCĐ, TSNH, HTK ngoài các chỉ tiêu trên còn phân tích các chỉ tiêu về tốc độ luân chuyển. Số vòng quay TSNH = Tổng số luân chuyển thuần TSNH bình quân Thời gian 1 vòng quay của TSNH = Thời gian kỳ phân tích Số vòng quay TSNH Số vòng quay HTK = Giá vốn hàng bán HTK bình quân Thời gian 1 vòng quay của HTK = Thời gian kỳ phân tích Số vòng quay HTK 1.3.3.4 Đánh giá về khả năng sinh lời Để đánh giá về khả năng sinh lời của doanh nghiệp ta phân tích các chỉ tiêu sau: Tỷ lệ sinh lợi vốn chủ sở hữu (ROE) = Lợi nhuận sau thuế Vốn chủ sở hữu bình quân Tỷ lệ sinh lợi của tài sản (ROA) = Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản bình quân Tỷ lệ sinh lợi doanh thu (ROS) = Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần Chỉ tiêu ROE cho biết cứ 1 đồng vốn chủ sở hữu tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu ROA cho biết cứ 1 đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu ROS cho biết trong 1 đồng doanh thu thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Các chỉ tiêu này càng cao càng tốt. Chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng sinh lợi. 1.1.4 Phân tích rủi ro tài chính và giá trị doanh nghiệp 1.1.4.1 Phân tích rủi ro tài chính Rủi ro tài chính thể hiện kết quả cuối cùng doanh nghiệp không có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ, do đó nguy cơ phá sản có thể xẩy ra. Khi nhận diện dấu hiệu rủi ra ta thường phải kết hợp các nhóm chỉ tiêu. Chỉ tiêu về khả năng thanh toán như: hệ số thanh toán nhanh, hệ số thanh toán tổng quát. Các chỉ tiêu này càng thấp và kéo dài chứng tỏ mức độ rủi ro tài chính cao và có thể xẩy ra phá sản. Chúng ta còn sử dụng chỉ tiêu phản ánh số phải thu, phải trả quá hạn: Hệ số phải thu quá hạn so với phải thu = Phải thu quá hạn Tổng các khoản phải thu Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp không có khả năng thu hồi nợ. Doanh nghiệp đang bị thiệt hại về tài sản và có nguy cơ xảy ra phá sản nếu để tình trạng này kéo dài. Hệ số phải thu quá hạn so với phải thu = Phải trả quá hạn Tổng các khoản phải trả Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ phải trả và nguy cơ phá sản cũng có thể xẩy ra. Ngoài các chỉ tiêu trên cần xem xét các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh như ROE, ROA. Các chỉ tiêu này mà nhỏ hơn 0 chứng tỏ doanh nghiệp không đảm bảo được quá trình tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng. Khi đó dẫn tới hiện tượng ăn vào vốn chủ sở hữu và khá năng phá sản cũng có thể xẩy ra. Chỉ tiêu về đòn bẩy tài chính AOE trong mối quan hệ với hiệu quả kinh doanh và tỷ suất tiền vay cũng ảnh hưởng tới rủi ro tài chính. Khi doanh nghiệp huy động vốn vay quá nhiều mà tỷ suất tiền vay lại cao hơn hiệu quả sử dụng vốn thì doanh nghiệp có nguy cơ không trả được nợ vay, có thể bị phá sản. 1.1.4.2 Phân tích giá trị doanh nghiệp Giá trị của một doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tất cả các khoản thu nhập mà doanh nghiệp mang lại cho các nhà đầu tư trong quá trình hoạt động kinh doanh. Giá trị doanh nghiệp là sự tổng hợp của nhiều yếu tố như thương hiệu, uy tín, môi trường kinh doanh, chiến lược kinh doanh, công nghệ, trang thiết bị vật chất, con người… Hiện nay việc xác định giá trị doanh nghiệp là rất cần thiết. Kinh tế càng phát triển, cạnh tranh gay gắt thì việc giải thể, phá sản, sát nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp tất yếu sẽ xảy ra. Do đó việc xác định giá trị doanh nghiệp là rất cần thiết. Có nhiều phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp như: phương pháp dựa vào bảng cân đối, phương pháp dựa vào kết quả kiểm kê và đánh giá lại tài sản, phương pháp chiết khấu dòng tiền… Khi phân tích ta có thẻ kết hợp các phương pháp để xác định giá doanh nghiệp cho chính xác. Ta xem xét phương pháp dựa vào bảng cân đối để xác định giá trị doanh nghiệp. Khi đó: Giá trị doanh nghiệp = Giá trị tổng tài sản - Nợ phải trả Đây là phương pháp đơn giản, dễ hiểu dựa trên sổ sách kế toán. CHƯƠNG II PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH THÔNG QUA HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN LILAMA HÀ NỘI 2.1 Tổng quan về công ty 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty Tên công ty: Công ty cổ phần LILAMA Hà Nội Tên giao dịch là: LILAMA Ha Noi Joint Stock Company (LILAMA – HANOI – CO) Trụ sở: Số 52 - Đường Lĩnh Nam - Phường Mai Động - Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội. Hình thức sở hữu vốn: Công ty cổ phần (51% vốn Nhà nước). Lĩnh vực kinh doanh: Chế tạo thiết bị, lắp máy và xây dựng các công trình. Ngành nghề kinh doanh: Sản xuất, thiết kế, chế tạo, xây dựng, lắp đặt. Mã số thuế: 0100105341 Công ty cổ phần LILAMA Hà Nội là một đơn vị thành viên của Tổng công ty lắp máy Việt Nam (LILAMA). Năm 1960 công ty lắp máy và xây dựng Hà Nội (tiền thân của Công ty cổ phần LILAMA Hà Nội ngày nay) được thành lập theo giấy phép đăng ký kinh doanh số 109587 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp. Công ty lắp máy và xây dựng Hà Nội là một doanh nghiệp hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân. Sau hơn 48 năm xây dựng và trưởng thành Công ty đã không ngừng phát triển cả chiều sâu và chiều rộng, cho đến nay Công ty đã trở thành một doanh nghiệp hàng đầu hoạt động trong lĩnh vực chế tạo, lắp đặt kết cấu thép, lắp đặt dây chuyền thiết bị, xây lắp các công trình công nghiệp và dân dụng. Có thể khái quát quá trình hình thành và phát triển của công ty như sau: Từ năm 1960 đến năm 1975: Đây là giai đoạn Công ty mới thành lập. Giai đoạn này mục tiêu kinh doanh không đặt lên hàng đầu, hoạt động sản xuất kinh doanh thực hiện theo kế hoạch của cấp trên giao cho. Mục đích chính là phục vụ lợi ích chung của dân tộc, vì thế hiệu quả kinh doanh chưa được coi trọng. Từ năm 1975 đến năm 1988: Trong giai đoạn này nền kinh tế chung cả nước chậm phát triển, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, sản xuất kinh doanh không phát triển. Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước làm ăn không có hiệu quả. Công ty cũng không nằm ngoài các doanh nghiệp đó song hạch toán công ty vẫn có lãi. Các chỉ tiêu bên trên giao vẫn hoàn thành và vượt mức kế hoạch. Từ năm 1989- 2004: Công ty đã thực hiện theo đường lối Đại hội VI mà Đảng đề ra là chuyển đổi cơ chế kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lí vĩ mô của Nhà Nước. Công ty đã nỗ lực khắc phục khó khăn để tạo dựng uy tín trên thị trường và sản xuất kinh doanh có hiệu quả, mục tiêu kinh tế được coi trọng hơn. Từ năm 2005- đến nay: Theo quyết định số 177/QĐ- BXD ngày 18/02/2005 của Bộ Xây dựng, Công ty thực hiện cổ phần hoá từ doanh nghiệp 100% vốn đầu tư của Nhà nước thành công ty cổ phần với 51% vốn Nhà nước, 49% vốn góp cổ phần. Giấy phép đăng ký kinh doanh mới số 0103007179-C.T.C.P do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp. Số vốn điều lệ của công ty: 100 tỷ đồng. Với trên 48 năm kinh nghiệm, không ngừng trưởng thành và phát triển, Công ty đã thực hiện xây lắp hàng nghìn công trình công nghiệp và dân dụng trên toàn quốc với chất lượng cao. LILAMA Hà Nội đã trở thành một thương hiệu uy tín trên thương trường, đóng góp vào sự phát triển của nền công nghiệp đất nước. Các công trình lớn mà Công ty đã thực hiện và bàn giao có thể kể đến như: Nhà máy thức ăn gia súc EH Tiên Sơn, Nhà máy thép Thái Nguyên, Nhà máy thép Danieli Thái Nguyên, Nhà máy thức ăn gia súc Cargil, Nhà máy kính cán - kính tấm kéo ngang Đáp Cầu, Nhà máy gạch Cotto Hạ Long, Nhà máy xi măng Hải Phòng mới, Nhà máy thép Danieli Thái Nguyên, Nhà máy bia Hà Nội mở rộng, Nhà máy xi măng Hải Phòng mới, Khu thể thao dưới nước SEAGAMES 23, Công trình Trung tâm Hội nghị Quốc Gia… và nhiều công trình khác. Với nguồn nhân lực dồi dào, phương tiện kĩ thuật và cơ sở vật chất đầy đủ, hiện đại, Công ty cổ phần LILAMA Hà Nội sẵn sàng nhận thầu thiết kế, chế tạo thiết bị, xây lắp, bảo trì trọn gói các công trình theo phương thức chìa khoá trao tay, liên doanh liên kết với các công ty, các hãng tư nhân, các nhà thầu trong và ngoài nước. Qua 48 năm xây dựng và trưởng thành, tập thể cán bộ công nhân viên Công ty cổ phần Lilama Hà Nội được Đảng và Nhà nước tặng: 1 Huân chương Lao động hạng nhất 2 Huân chương Lao động hạng nhì 4 Huân chương Lao động hạng ba 1 Tập thể Anh hùng lao động 5 Lần được tặng Huy chương vàng chất lượng cao ngành Xây dựng Cờ thi đua xuất sắc – BXD năm 2002, 2003 Cờ thi đua xuất sắc Công đoàn Xây dựng Việt Nam, 2003 Bằng khen của chính phủ, 2004 Bằng khen Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, 2002 Bằng khen UBND tỉnh Vĩnh phúc, 2004 Bằng khen Bộ Xây Dựng, 2004 Một số chỉ tiêu tài chính phản ánh tình hình sản xuất kinh doanh của công ty LILAMA được phản ánh thông qua bảng sau: Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu tài chính Chỉ tiêu Đơn vị tính 2006 2007 2008 1. Bố trí cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn 1.1 Bố trí cơ cấu tài sản - - Tài sản dài hạn/ Tổng tài sản % 62.9 55.0 49.8 - Tài sản ngắn hạn/ Tổng tài sản % 37.1 45.0 50.2 1.2 Bố trí cơ cấu nguồn - - Nợ phải trả/ Tổng nguồn vốn % 97.7 98.3 86.9 - Nguồn vốn chủ sở hữu/ Tổng nguồn vốn % 2..3 1.7 13.1 2. Khả năng thanh toán - 2.1 Khả năng thanh toán ngắn hạn lần 0.919 0.831 1.226 2.2 Khả năng thanh toán nhanh lần 0.081 0.003 0.045 3. Tỷ suất sinh lợi - 3.1 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu - - Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên doanh thu % 0.741 0.465 0.474 - Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu % 0.534 0.335 0.341 3.2 Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản - - Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên tổng tài sản % 0,154 0.160 0.210 - Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản % 0,111 0.115 0.151 3.3 Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên NV chủ sở hữu % 4.793 6.802 1.153 Tài sản ngắn hạn Tổng nợ ngắn hạn (Nguồn: Phòng Tài chính - Kế toán) Trong đó: Khả năng thanh toán ngắn hạn = Tiền + Các khoản tương đương tiền Tổng nợ ngắn hạn Khả năng thanh toán nhanh = Để đạt được thành tích như ngày hôm nay thì không thể không kể đến sự nỗ lực đóng góp quan trọng của toàn thể cán bộ công nhân viên. Một trong ba yếu tố đầu vào quan trọng quyết định hiệu quả hoạt động kinh doanh chính là lao động. Hiện nay công ty cổ phần LILAMA Hà Nội có một đội ngũ cán bộ công nhân viên gồm 1200 người với trình độ nghiệp vụ chuyên môn cao, trong đó: - Trình độ đại học và trên đại học: 245 người. - Trình độ cao đẳng: 106 người - Trình độ trung cấp, sơ cấp: 158 người - Công nhân kỹ thuật: 612 người - Lao động phổ thông: 79 người Tình hình nhân sự và thu nhập bình quân của công ty cổ phần LILAMA Hà Nội từ năm 2003 – 2007: Đơn vị tính: Đồng Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Số người (người) 497 689 839 1,024 1,200 Thu nhập bình quân (đồng/người/tháng) 1,700,000 1,750,000 1,820,000 1,860,000 1,900,000 (Nguồn: Phòng Tài chính - Kế toán) 2.1.2 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm 2.1.2.1 Đặc điểm về sản phẩm Công ty LILAMA Hà Nội là đơn vị sản xuất kinh doanh với nét đặc trưng của ngành là tái tạo ra tài sản cố định. Đặc điểm nổi bật của sản phẩm xây lắp là: * Sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trúc…có qui mô lớn, kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc, cố định tại một chỗ, thời gian thi công dài, và chủ yếu ở ngoài trời, thời gian sử dụng cũng lâu dài. * Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán, hoặc thoả thuận với chủ đầu tư (giá đấu thầu) do đó tính chất hàng hoá của sản phẩm xây lắp không được thể hiện rõ. * Quá trình sản xuất rất phức tạp, không ổn định và có tính lưu động cao, việc hoàn thành kế hoạch sản xuất chịu tác động của rất nhiều nhân tố khác nhau bao gồm: các nhân tố thuộc về lực lượng sản xuất của doanh nghiệp, các nhân tố thuộc về tư tưởng tổ chức, chỉ đạo thi công, các nhân tố thuộc về thời tiết, thiên nhiên và các nhân tố khác. 2.1.2.2 Quy trình công nghệ Có thể khái quát quá trình kinh doanh như sau: Sơ đồ 1.1: Quá trình sản xuất, kinh doanh Đấu thầu Hợp đồng nhận thầu Thiết kế kỹ thuật Biện pháp thi công Dự toán thi công Tổ chức thi công Nghiệm thu, bàn giao Quyết toán, thanh lý hợp đồng (Nguồn: Phòng Kinh tế - Kỹ thuật) Quy trình sản xuất chung kinh doanh của Công ty cổ phần LILAMA Hà Nội bao gồm 3 giai đoạn chính: cung ứng yếu tố đầu vào, sản xuất (thi công), tiêu thụ (hoàn thành, bàn giao). Quy trình được tiến hành như sau: khi Công ty nhận được công trình do Tổng công ty giao xuống hoặc do tham gia đấu thầu. Sau đó căn cứ vào bản kế hoạch trong năm và dự toán công trình, phòng cung ứng vật tư lập kế hoạch cung ứng vật tư thiết bị và tiến hành thu mua, kiểm tra vật tư thiết bị hiện có tại Công ty. Công ty xuất kho vật liệu chính, máy móc thiết bị thi công chuyển tới chân các công trình hoặc điều chuyển giữa các công trình. Vật liệu phụ các đội có thể tự mua. Nếu trong trường hợp Công ty chưa thể đáp ứng, các đội thi công có thể sử dụng phương án mua, thuê ngoài được duyệt. Tùy theo quy mô của từng công trình mà số lượng lao động sử dụng khác nhau. Sau khi vật tư thiết bị lao động đã được chuyển xuống công trình, các đội thi công sẽ tiến hành thi công công trình. Khi công trình đã hoàn thành là sản phẩm xây lắp, xây dựng, thép mạ kẽm mạ màu hoặc là các thiết bị phi tiêu chuẩn và kết cấu thép. Sơ đồ 1.2: Quy trình sản xuất Sản xuất vật tư, thiết bị, máy móc Tự cung ứng Điều chuyển Thuê ngắn hạn Hoàn thành Sản phẩm xây dựng, xây lắp, thép mạ kẽm, mạ màu Thiết bị phi tiêu chuẩn và kết cấu thép Kho công ty Nhà cung cấp Lao động biên chế Thị trường lao động Cácyếu tố sản xuất Đội thi công, xưởng sản xuất Khách hàng (Nguồn: Phòng Kinh tế - Kỹ thuật) 2.1.3 Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh 2.1.3.1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh Công ty với các ngành kinh doanh chính: Xây dựng công trình công nghiệp, đường dây tải điện, trạm biến thế, lắp đặt máy móc, thiết bị cho các công trình. Đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị và khu công nghiệp, xây dựng và kinh doanh nhà ở. Sản xuất kinh doanh cấu kiện kim loại cho xây dựng, xà gồ thép, thép mạ kẽm, thép mạ màu, tấm lợp kim loại, các phụ kiện từ thép mạ kẽm, thép mạ màu. Chế tạo và lắp thiết bị nâng, nồi hơi, bồn, bể áp lức dung tích lớn. Chế tạo thiết bị phi tiêu chuẩn và thiết bị đồng bộ cho các công trình công nghiệp. Cung cấp, lắp đặt, bảo trì thang máy. Thiết kế kết cấu: đối với công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp, kỹ thuật hạ tầng đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao. Sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến lương thực, thực phẩm, kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị. Dịch vụ cho thuê nhà xưởng, văn phòng, kinh doanh khách sạn. Để hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra một cách thường xuyên, liên tục Công ty đã bố trí tổ chức các phân xưởng, đội tổ theo sơ đồ sau: Sơ đồ 1.3: Sơ đồ tổ chức kinh doanh Đội lắp đặt thang máy Đội lắp đặt HT ống Đội lắp đặt KCT 2 Đội lắp đặt KCT 1 Đội lắp đặt HT điện 2 Đội lắp đặt HT điện 1 Xưởng Mai Động Xưởng Quang Minh Dây chuyền sản xuất Dây chuyền mạ màu Dây chuyền mạ kẽm Công ty (Nguồn: Phòng Tổ chức) 2.1.3.2 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý Trải qua nhiều lần thay đổi, hiện nay bộ máy quản lý của Công ty cổ phần LILAMA Hà Nội được tổ chức như mô tả trong sơ đồ 1.4 (trang 39). Như đã được mô tả ở sơ đồ 1.4, bộ máy quản lý được tổ chức theo kiểu trực tuyến - chức năng. Người tối cao và duy nhất có quyền ra quyết định trong công ty là Giám đốc điều hành với sự trợ giúp của 3 Phó giám đốc phụ trách từng lĩnh vực. Cơ cấu này vừa đảm bảo thực hiện chế độ một thủ trưởng, vừa phát huy được quyền dân chủ, sáng tạo, độc lập tương đối của các phòng, ban trong công ty. Đặc trưng cơ bản của mô hình quản lý này là vừa duy trì quan hệ trực tuyến giữa Giám đốc, các Phó giám đốc và các phòng ban; đồng thời kết hợp tổ chức các bộ phận chức năng, các phòng ban với nhau. Quyền hạn, chức năng và nhiệm vụ của các bộ phận như sau: Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan có thẩm quyền cao nhất trong việc quyết định mọi vấn đề của công ty. Hội đồng quản trị: do Đại hội cổ đông bầu và bãi miễn (đứng đầu là Chủ tịch Hội đồng quản trị), là cơ quan quản lý công ty, quyết định mọi vấn đề liên quan tới kế hoạch phát triển, lợi ích của công ty trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội cổ đông. Ban kiểm soát: do Đại hội cổ đông bầu và bãi miễn, là cơ quan thay mặt cổ đông để kiểm soát việc chấp hành pháp luật của công ty. Ban Giám đốc: gồm một Giám đốc và 3 Phó giám đốc. - Giám đốc là người do Hội đồng quản trị bầu và bãi miễn, thay mặt công ty chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý Nhà nước và Tổng công ty về mọi mặt sản xuất kinh doanh của công ty, trực tiếp chỉ đạo sản xuất, xây dựng bộ máy giúp việc đồng thời chỉ đạo trực tiếp và giám sát đến các phòng ban, tổ đội công trường. Kết thúc năm kế hoạch, Giám đốc thực hiện phân tích, đánh giá thực hiện kế hoạch sản xuất báo cáo trước Hội đồng quản trị và Đại hội cổ đông. - Ba Phó giám đốc: có nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo các bộ phận được phân công uỷ quyền và giúp việc cho Giám đốc trong việc tham gia quản lý các lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Phó giám đốc kinh doanh: phụ trách tiêu thụ sản phẩm, tổ chức mạng lưới các đại lý tiêu thụ sản phẩm cho công ty, được ủy quyền ký kết các hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao và kế hoạch tiêu thụ sản phẩm. Phó giám đốc kỹ thuật: là người được ủy quyền và chịu trách nhiệm trước Giám đốc công ty về các lĩnh vực như nghiên cứu, xây dựng kế hoạch nhằm hoàn thành công trình được giao; theo dõi hướng dẫn thi công, điều động máy móc thi công cho công trình, chỉ đạo phối hợp giữa các phòng ban liên quan để bảo đảm cung ứng vật tư, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ thi công. Phó giám đốc phụ trách sản xuất thép mạ kẽm, mạ màu: là người được ủy quyền và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất thép mạ kẽm, mạ màu. Các phòng ban chuyên môn, các tổ đội, phân xưởng và dây chuyền sản xuất thực hiện theo đúng các chức năng được quy định: - Phòng Kinh tế - Kỹ thuật: lập kế hoạch về khối lượng thi công, theo dõi khối lượng thực hiện, chủ trì xây dựng định mức, đơn giá, lập dự toán, lập hồ sơ thầu, tổ chức áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới, những sáng kiến cải tiến kỹ thuật mới, những sáng kiến cải tiến kỹ thuật, phối hợp cùng các đơn vị thi công làm tốt công tác nghiệm thu kỹ thuật, chạy thử, bàn giao công trình. Chuẩn bị đầy đủ tài liệu để Giám đốc ký hợp đồng với đối tác, lập các thanh lý hợp đồng theo quy định. - Phòng Tài chính - Kế toán: có nhiệm vụ vừa tổ chức hạch toán kế toán, vừa xây dựng kế hoạch huy động vốn, thanh toán việc thanh toán với các ngân hàng và chủ đầu tư cũng như cán bộ công nhân viên. Hàng kỳ, phòng Tài chính - Kế toán phải cung cấp các báo cáo nghiệp vụ cho lãnh đạo công ty và các cơ quan quản lý Nhà nước. - Phòng kinh doanh – XNK: có nhiệm vụ nắm bắt nhu cầu thị trường để xây dựng và tổ chức các phương án kinh doanh có hiệu quả, bảo đảm nguồn hàng hóa chất lượng tổt, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Thực hiện các công việc về thương mại nhằm tiêu thụ tối đa sản phẩm của công ty sản xuất ra. Thực hiện các công tác nghiên cứu thị trường và đề ra các chiến lược kinh doanh. Đồng thời có chức năng tư vấn cho Giám đốc về công tác xuất nhập khẩu và tổ chức việc thực hiện kinh doanh xuất nhập khẩu. - Phòng Kế hoạch & đầu tư: giúp Giám đốc theo dõi thực hiện khối lượng công tác sản xuất kinh doanh qua đó xây dựng các kế hoạch ngắn và dài hạn. Lập các dự án đầu tư, các dự án tiền khả thi để đầu tư phát triển sản phẩm. - Phòng cung ứng vật tư: có chức năng phối hợp với các phòng ban lập dự trù cung cấp vật tư cho công trình, mua sắm vật tư, sắp xếp kho bãi bảo quản vật tư, chi tiết việc liên hệ mua vật tư với các công ty để phục vụ các công trình. - Phòng tổ chức: có chức năng quản lý nhân sự theo sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Giám đốc bao gồm: tổ chức tuyển dụng, đào tạo, sắp xếp, điều chuyển nhân sự cho phù hợp với tính chất và yêu cầu của công việc. Theo dõi đề bạt nâng lương, đi học, khen thưởng, kỷ luật, hưu trí, đóng bảo hiểm của người lao động. - Phòng quản lý máy: quản lý máy móc, thiết bị của công ty như máy ủi, máy san nền đảm bảo sử dụng đúng theo yêu cầu kỹ thuật và đạt hiệu quả kinh tế cao. - Phòng hành chính: thừa lệnh Giám đốc ký tên và đóng dấu vào các công văn, các bản sao và các bản xác nhận khác đồng thời soạn thảo văn bản và bảo mật các văn bản hành chính trong công ty. - Ban QA – QC (kiểm tra chất lượng sản phẩm): thực hiện kiểm tra, giám sát các sản phẩm do công ty gia công, chế tạo và các công trình thi công. - Các xưởng và các đội lắp đặt: thực hiện chức năng sản xuất, thi công, lắp đặt các công trình cấp trên giao, đảm bảo hoàn thành đúng kỹ thuật và bàn giao đúng thời hạn. - Các dây chuyền mạ kẽm, mạ màu: thực hiện các hoạt động sản xuất sản phẩm thép mạ cung cấp cho thị trường. Phòng tài chính kế toán Phòng Kinh doanh - XNK Phòng Kế hoạch – Đầu tư Phòng cung ứng vật tư Phòng tổ chức Phòng quản lý máy Phòng kinh tế kỹ thuật Phòng hành chính Đội lắp đặt thang máy ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG BAN KIỂM SÁT HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ PGĐ Kỹ thuật GIÁM ĐÓC ĐIỀU HÀNH PGĐ Phụ trách sản xuất thép mạ kẽm, mạ màu PGĐ Kinh doanh Phòng kỹ thuật Dây chuyền mạ kẽm Ban QA - QC Xưởng Quang Minh Xưởng Mai Động Đội lắp đặt KCT 1 Đội lắp đặt KCT 2 Đội lắp đặt HT điện 1 Đội lắp đặt HT điện 2 Đội lắp đặt HT ống Dây chuyền mạ màu mµu Sơ đồ 1.4: Tổ chức bộ máy quản lý (Nguồn: Phòng tổ chức) 2.1.4 Đặc điểm bộ máy kế toán 2.1.4.1 Tổ chức bộ máy kế toán Công ty cổ phần LILAMA Hà Nội là một đơn vị hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng. Việc tổ chức công tác kế toán của công ty bao gồm các nội dung sau: Công ty tổ chức công tác kế toán theo hình thức tập trung. Phòng kế toán theo dõi toàn bộ hoạt động thu chi tài chính, thực hiện toàn bộ công tác hạch toán từ việc xử lý chứng từ, đến lập Báo cáo tài chính. Sơ đồ 1.5: Sơ đồ bộ máy kế toán của Công ty cổ phần LILAMA Hà Nội KẾ TOÁN TRƯỞNG Kế toán vật tư, TSCĐ Kế toán tổng hợp chi phí và tính giá thành Kế toán tiền lương Kế toán vốn bằng tiền Thủ quỹ (Nguồn: Phòng Tài chính – Kế toán) Nhiệm vụ cụ thể của từng bộ phận như sau: - Kế toán trưởng (kiêm trưởng phòng): Là người tổ chức chỉ đạo mọi hoạt động của phòng kế toán, lập các báo cáo tài chính chung cho toàn Công ty và chịu trách nhiệm về tính trung thực,._.ính của công ty. Khối lượng công việc rất lớn trong khi phòng Tài chính – Kế toán chỉ có 5 nhân viên bao gồm cả kế toán trưởng. Do đó 1 nhân viên phải phụ trách nhiều phần hành. Điều này ảnh hưởng tới tiến độ và chất lượng công việc. Phòng Tài chính – Kế toán hoạt động độc lập với các phòng ban khác. Tuy nhiên công ty cũng cần xây dựng một bộ phận để kiểm tra, giám sát hoạt động của Phòng Tài chính – Kế toán, giảm thiểu sai sót trong công tác kế toán. Để thông tin cung cấp cho các nhà quản lý đầy đủ và chính xác. 3.1.2 Đánh giá về công tác lập và phân tích báo cáo tài chính tại công ty 3.1.2.1 Ưu điểm Hệ thống báo cáo tài chính của công ty đầy đủ 4 loại báo cáo, phản ánh tình hình hoạt động kinh doanh của công ty. Hệ thống báo cáo tài chính của công ty bao gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh báo cáo tài chính. Ngoài ra công ty còn lập các báo cáo khác như: Bản quyết toán BHXH, BHYT, KPCĐ theo từng quý, Tổng hợp nhập - xuất - tồn vật tư, hàng hoá, thành phẩm, Tình hình tăng giảm TSCĐ năm, Tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành xây lắp (lập theo qúy, năm)… Và các báo cáo nội bộ như: Báo cáo chi phí tiền lương định kỳ, Báo cáo lao động và thu nhập của người lao động, Báo cáo tổng hợp các chỉ tiêu tài chính, Báo cáo giá trị sản xuất kinh doanh – doanh thu… nộp lên cho Giám đốc và cơ quan cấp trên. Việc lập đầy đủ các báo cáo giúp các nhà quản lý biết được tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như thực trạng tài chính của công ty để có hướng điều chỉnh kịp thời nhằm cải thiện tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh. Hệ thống báo cáo tài chính của công ty được lập theo đúng chế độ và chuẩn mực quy định. Các cá nhân chịu trách nhiệm thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo. Việc kiểm tra tài chính và các chế độ báo cáo tài chính nhằm kiểm soát hoạt động tài chính tuân thủ pháp luật, tuân thủ chế độ kế toán do Nhà nước ban hành cũng như quy định của công ty. 3.1.2.2 Nhược điểm Cho dù một hệ thống báo cáo tài chính của một doanh nghiệp có tốt đến đâu thì cũng không tránh khỏi những sai sót. Trên các khía cạnh trọng yếu thì hệ thống báo cáo tài chính của công ty được đánh giá là đã phản ánh đầy đủ và trung thực. Tuy nhiên vẫn còn có một số nhược điểm tồn tại. Trong Bảng cân đối kế toán khoản mục HTK chiếm tỷ trọng khá lớn. HTK của công ty chủ yếu là giá trị dở dang của các công trình, dự án. Điều này làm cho lượng vốn của công ty bị ứ đọng rất lớn. Làm giảm hiệu quả sử dụng vốn của công ty. HTK của công ty còn có nguyên vật liệu và thành phẩm. Mỗi loại có giá cả và cách bảo quản khác nhau. Trong điều kiện giá cả biến động như hiện nay, công ty không tiến hành lập dự phòng giảm giá HTK là không đảm bảo nguyên tắc thận trọng của kế toán. Công ty nên xem xét trích lập dự phòng giảm giá HTK nhằm đảm bảo tài chính cho công ty. Công ty đang quá trình cổ phần hóa. Tuy nhiên quá trình cổ phần hóa kéo dài, công ty chưa thực hiện hết các thủ tục bàn giao tài sản, nguồn vốn và quyết toán chi phí cổ phần hóa với Nhà nước. Do đó các số liệu trên báo cáo tài chính có thể thay đổi. Việc lập báo cáo tài chính đôi khi còn chậm về tiến độ thời gian. Nguyên nhân có thể là do khối lượng công việc tại phòng Tài chính – Kế toán vào cuối quý, cuối năm quá lớn, trong khi số lượng nhân viên thì có hạn. Việc lập chậm báo cáo tài chính trong tình trạng gấp rút thì có thể ảnh hưởng đến tính chính xác của các thông tin kế toán. Lập báo cáo tài chính chậm sẽ ảnh hưởng tới các quyết định của nhà quản lý. Tính chính xác của công tác hạch toán kế toán sẽ ảnh hưởng tới tính chính xác của báo cáo tài chính. Trong quá trình hạch toán các nghiệp vụ thông thường không thể đúng hoàn toàn được cho nên báo cáo tài chính được lập thường không đảm bảo tính chính xác hoàn toàn. Kế toán viên sẽ dùng bút toán để sửa chữa, bổ sung khi phát hiện ra sai sót. Tuy nhiên nếu kế toán viên không phát hiện ra sai sót trước khi lên báo cáo thì các kiểm toán viên có thể phát hiện ra và thực hiện các biện pháp xử lý thích hợp. Với một công ty có tầm cỡ trong lĩnh vực xây lắp, công ty có một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao và có kinh nghiệm trong công việc. Các nghiệp vụ kế toán phát sinh tại công ty là thường xuyên và lặp đi lặp lại, nên việc hạch toán sai ít xảy ra. Tuy nhiên công ty cũng cần tránh xảy ra các sai sót trong công tác kế toán. Ngoài việc lập các báo cáo tài chính công ty chưa thực sự đi sâu vào việc phân tích các báo cáo tài chính. Công ty chỉ mới dừng lại ở việc phân tích một số chỉ tiêu tài chính cơ bản và giải thích số liệu trên bản thuyết minh báo cáo tài chính. 3.2 Một số biện pháp nhằm hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính của công ty Công ty lập báo cáo tài chính theo đúng chế độ do Bộ Tài chính ban hành. Hệ thống báo cáo tài chính của công ty được trình bày cụ thể, đầy đủ, bao gồm 4 loại báo cáo. Tuy nhiên một số khoản mục trong Bảng cân đối kế toán trình bày chưa được chính xác. Trong đó khoản mục HTK công ty chưa lập dự phòng giảm giá. Điều này có thể gây ra sự biến động trong hoạt động kinh doanh của công ty khi có sự thay đổi giá HTK trên thị trường. Khoản mục HTK của công ty chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng tài sản. Công ty cần phân loại HTK cho phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của mình. Từ đó, tùy thuộc với đặc điểm, tính chất HTK, tình hình biến động giá cả trên thị trường mà trích lập dự phòng cho phù hợp. Đảm bảo tính ổn định, giảm những rủi ro có thể xảy ra đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Quá trình cổ phần hóa của công ty kéo dài, điều này ảnh hưởng đến công tác quản lý và sử dụng vốn của công ty. Bên cạnh đó công ty vẫn chưa thực hiện hết các thủ tục bàn giao tài sản, nguồn vốn và quyết toán chi phí cổ phần hóa với Nhà nước. Điều này dẫn tới khi bàn giao, quyết toán một số nội dung trên báo cáo tài chính đã bị thay đổi. Công ty nên đẩy nhanh tiến độ bàn giao tài sản, nguồn vốn để hoàn tất thủ tục chuyển sang công ty cổ phần và sớm được đưa cổ phiếu niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán. Để khắc phục tình hình lập báo cáo tài chính còn chậm và hạch toán sai công ty cần tăng cường hiệu quả làm việc và nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi nhân viên. Nâng cao hơn nữa trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân viên kế toán. Công ty cũng cần có biện pháp thưởng, phạt hợp lý đối với từng nhân viên nhằm nâng cao hiệu quả công việc. Công ty cũng có biện pháp giám sát và đôn đốc các nhân viên hoàn thành các nhiệm vụ được giao, từ đó đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động của công ty. Thực tế là để khắc phục được hai nhược điểm trên cũng một lúc là rất khó. Vì công việc kế toán thường dồn vào cuối kỳ kế toán, do đó nếu đảm bảo nộp báo cáo tài chính đúng tiến độ thì phải xử lý một khối lượng công việc lớn trong một thời gian ngắn. Điều này có thể gây ra những sai sót trong công tác hạch toán như ghi nhầm, ghi thiều. Có thể gây ra những sai sót trọng yếu ảnh hưởng đến việc cung cấp thông tin cho các nhà quản lý. Trong trường hợp này, công ty cần phân công công việc rõ ràng và chi tiết cho từng kế toán viên, có thể tăng thời gian làm việc ngoài giờ tùy theo khả năng của nhân viên và trả lương ngoài giờ xứng đáng. Trường hợp gây ra sai phạm cần có biện pháp nhắc nhở và xử phạt phù hợp. 3.3 Một số kiến nghị nhằm tăng cường quản lý và hiệu quả sử dụng vốn tại công ty 3.3.1 Chủ động xây dựng kế hoạch huy động và sử dụng vốn hiệu quả Để thực hiện được hoạt động sản xuất kinh doanh công ty cần phải có vốn. Do đó việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty cũng chính là việc lập kế hoạch huy động và sử dụng vốn. Muốn hiệu quả sử dụng vốn được nâng cao đòi hỏi phải xây dựng kế hoạch kinh doanh sát thực và mang tính khả thi cao, trên cơ sở đó xây dựng phương án huy động vốn hợp lý. Hiện nay nguồn vốn chủ yếu của công ty là vốn vay. Nó sẽ ảnh hưởng đến mức độ độc lập tài chính của công ty. Do đó công ty cần tăng cường nguồn vốn chủ sở hữu. Như khai thác tối đa nguồn vốn nội bộ hiện có, thu hút vốn từ cán bộ công nhân viên. Công ty cũng sớm niêm yết cổ phiếu trên thị trường để huy động vốn trong dân cư. Muốn thu hút được nhiều vốn công ty cần phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Hệ số sinh lời của công ty hiện nay còn thấp, công ty cần phải cải thiện, nâng cao chất lượng sản phẩm bán ra để tăng doanh thu. Công ty cũng cần quan tâm tới hoạt động đầu tư tài chính. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay việc đầu tư góp vốn vào công ty khác cũng như đầu tư vào thị trường chứng khoán là một việc làm cần thiết. Đó là những kênh đầu tư giúp công ty tăng lợi nhuận hoạt động tài chính và có cơ hội học hỏi kinh nghiệm quản lý và những thành tựu khoa học kỹ thuật từ các công ty khác. Bên cạnh đó công ty cũng cần có biện pháp quản lý chi phí tốt nhằm tiết kiệm chi phí, nâng cao lợi nhuận. Công ty cũng cần xác định đúng nhu cầu vốn của các công trình để bỏ vốn hợp lý, tránh tình trạng thiếu vốn hay ứ đọng vốn. 3.3.2 Điều chỉnh cơ cấu tài sản, nguồn vốn hợp lý Một số khoản mục trong Bảng cần đối kế toán xây dựng chưa hợp lý. TSNH của công ty chiếm tỷ trọng khá lớn và đang tăng dần qua các năm. Trong khi tốc độ luân chuyển TSNH vẫn còn lớn, có thể gây ra tình trạng ứ đọng TSNH. Đặc biệt là khoản mục phải thu và HTK. Hiện nay HTK vẫn đang chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng tài sản. Nó sẽ làm tăng chi phí dự trữ, bảo quản của công ty. HTK của công ty chủ yếu là giá trị dở dang của các công trình, dự án. Công ty cần có biện pháp đẩy nhanh tốc độ thi công, sớm hoàn thành và bàn giao các công trình tránh gây nên tình trạng ứ đọng vốn. Đối với những vật tư có sẵn trên thị trường công ty có thể không cần dự trữ nhiều. Những vật tư công ty sử dụng thường xuyên trong quá trình sản xuất thì có thể đặt hàng trước với nhà cung cấp, xây dựng mối làm ăn lâu dài với một vài nhà cung cấp để họ có thể cung ứng vật tư kịp thời với giá cả hợp lý. Từ đó công ty sẽ yên tâm sản xuất kinh doanh mà không sợ biến động về giá cả vật tư trên thị trường. Công ty cũng cần có biện pháp để thu hồi các khoản phải thu, tăng lượng tiền mặt trong lưu thông. Đối với các khoản nợ phải thu ngắn hạn của công ty còn chiếm một tỷ trọng lớn, do đó cần tăng cường quản lý. Phải xây dựng một kế hoạch theo dõi các khoản nợ phải thu và có biện pháp thu hồi nợ nhanh và hiệu quả. Chẳng hạn như chính sách chiết khấu thanh toán, chiết khấu thương mại cho khách hàng. Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu hiện nay còn thấp. Để tăng hệ số sinh lợi của vốn chủ sở hữu (ROE) thì cần giảm vốn chủ sở hữu. Điều này không hợp lý đối với cơ cấu nguồn vốn của công ty. Vì hiện nay nợ phải trả chiếm tỷ lệ quá lớn so với tổng nguồn vốn. Nếu giảm vốn chủ, tăng vốn vay có thể đẩy công ty rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và bị phá sản. Do đó để nâng cao chỉ tiêu này công ty cần tăng doanh thu, tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm. 3.3.3 Tăng cường hiệu quả quản lý Công tác quản lý quyết định sự thành bại của bất kỳ doanh nghiệp nào. Quản lý về con người, vốn, cơ sở vật chất… Nếu thiếu quản lý thì một doanh nghiệp không thể định ra hướng đi cho mình. Có thể nói, hiệu quả quản lý là một điều kiện tiên quyết cho sự thành công của doanh nghiệp. Bộ máy quản lý hiệu quả là một bộ máy phải có tầm nhìn chiến lược. Phải đưa ra được phương hướng kinh doanh trong ngắn hạn, dài hạn trên cơ sở phân tích thị trường và phân tích tình hình hoạt động của công ty. Để nâng cao chất lượng quản lý công ty cần tiến hành quản lý tốt mọi mặt. Về quản lý vốn, công ty tiến hành tốt công tác quản lý kinh doanh, quản lý việc xây dựng và thực hiện các kế hoạch huy động và sử dụng vốn. Công ty thực hiện phân cấp về quản lý cũng như về tài chính, quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm. Đối với tài sản, cơ sở vật chất của công ty cần được sử dụng triệt để, tăng hiệu quả sử dụng tài sản. Quản lý tài sản tránh tình trạng sử dụng lãng phí. Phải thường xuyên theo dõi tài sản về cả giá trị, số lượng và chất lượng. Tài sản được phân loại và theo dõi, ghi chép cụ thể trên sổ sách. Một yếu tố quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp là con người. Phải không ngừng nâng cao ý thức của đội ngũ nhân viên, từng bước hình thành một đội ngũ nhân viên giỏi về chuyên môn, giàu kinh nghiệm và nhanh nhạy trong công tác thị trường. Công ty cũng tạo điều kiện cho cán bộ công nhân viên đi học thêm, nâng cao tay nghề. Để nâng cao ý thức làm việc, nâng cao chất lượng và hiệu quả trong công việc công ty cũng đề ra các chế độ thưởng, phạt hợp lý. Xây dựng một cơ chế giám sát mọi mặt trong hoạt động của công ty từ hoạt động kinh doanh đến giám sát công việc của từng cán bộ nhân viên nhằm nâng cao hiệu quả quản lý. 3.3.4 Không ngừng tìm kiếm các dự án và công trình mới Đối với công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng và xây lắp. Các sản phẩm hoàn thành của công ty là các công trình lớn, nhỏ. Công ty đang không ngừng tìm kiếm các dự án mới thông qua hình thức đấu thầu công khai hoặc chỉ định thầu. Hiện nay công ty đang đưa vào sử dụng dây chuyền thép mạ kẽm, mạ màu mới. Các sản phẩm mới này có thể cạnh tranh với thị trường nước ngoài. Công ty không chỉ tìm kiếm các dự án trong nước mà còn mở rộng ra thị trường quốc tế. Ngoài ra công ty cũng tìm kiếm các dự án của nước ngoài đầu tư ở Việt Nam. Để làm được điều đó, công ty cần tìm hiểu rõ nhu cầu thì trường trong và ngoài nước, tăng uy tín của công ty, mở rộng liên doanh liên kết trong và ngoài nước. 3.3.5 Giải pháp phát huy tối đa hiệu quả của Nhà máy thép mạ kẽm, mạ màu Đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh thép mạ kẽm, mạ màu thì cần phải tìm thuê các chuyên gia giỏi của nước ngoài để làm giám đốc kỹ thuật và điều hành sản xuất. Tổ chức các lớp học nâng cao trình độ chuyên môn và ngoại ngữ cho đội ngũ kỹ sư, công nhân vận hành. Bên cạnh đó, cần thường xuyên kiểm tra sự phối hợp giữa các bộ phận trong quá trình sản xuất nhằm giảm thiểu số lượng sản phẩm bị khuyết tật, giảm giá thành sản phẩm. Do đó để phát huy hiệu quả tối đa của Nhà máy, hội đồng quản trị công ty chủ trương sẽ bán cổ phần của Nhà máy cho đối tác nước ngoài. Dự kiến sẽ chuyển Nhà máy thành công ty cổ phần trong đó đối tác nước ngoài chiếm cổ phần chi phối tối đa 80%, Công ty cổ phần Lilama Hà Nội nắm giữ khoảng 20%. 3.3.6 Các biện pháp tăng doanh thu, giảm chi phí Để lợi nhuận của công ty ngày càng tăng cần có các biện pháp tăng doanh thu và giảm chi phí. Doanh thu của công ty đang có xu hướng tăng, tuy nhiên cần đẩy nhanh tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn tốc độ tăng của chi phí. Công ty cần thường xuyên triển khai công tác tiếp thị, tập trung vào các dự án do Tổng công ty làm tổng thầu. Đối với các dự án do công ty tự tiếp thị thì sẽ tập trung vào các dự án có vốn nước ngoài, các dự án có vốn thanh toán rõ ràng và hiệu quả. Công ty cần có biện pháp quản lý và tiết kiệm chi phí hợp lý. Ngoài ra cũng cần đổi mới quy trình công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm nhưng vẫn đảm bảo sử dụng tiết kiệm vốn. Công ty tiến hành nghiên cứu cải tiến mới một số bộ phận máy, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản xuất. Phát động phong trào phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm trong toàn thể cán bộ công nhân viên. Công ty cần phải giảm các khoản vay từ ngân hàng, tăng cường huy động vốn từ các nguồn khác để giảm chi phí lãi vay. Tăng cường quản lý chặt chẽ các khoản vốn bị chiếm dụng tránh những tổn thất không đáng có phải xảy ra làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cần thường xuyên kiểm tra sự phối hợp giữa các bộ phận trong quá trình sản xuất nhằm giảm thiểu số lượng sản phẩm hỏng, giảm giá thành sản phẩm. Công ty cần có biện pháp tiết kiệm nguyên vật liệu như tận dụng các đoạn sắt thép thừa hoặc bán phế liệu có thêm thu nhập khác cho công ty. KẾT LUẬN Hệ thống báo cáo tài chính là sản phẩm cuối cùng công tác kế toán. Nó là tài liệu cung cấp đầy đủ các thông tin về tình hình tài chính của công ty cho nhà quản lý cũng như những người quan tâm. “Việc phân tích báo cáo tài chính sẽ giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp cũng như những người quan tâm tới công ty thấy rõ hơn bức tranh về thực trạng hoạt động tài chính, xác định được những nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Từ đó, có những giải pháp hữu hiệu để ổn định và tăng cường tình hình tài chính của doanh nghiệp”. Hiện nay Bộ Tài chính đã ban hành các chế độ, chuẩn mực đối với việc lập báo cáo tài chính. Đảm bảo báo cáo tài chính của các công ty cung cấp đầy đủ, kịp thời và chính xác các thông tin. Tuy nhiên công tác phân tích báo cáo tài chính vẫn chưa được các công ty quan tâm đúng mực. Các công ty chỉ mới dừng ở mức lập báo cáo tài chính chưa đi sâu vào phân tích báo cáo tài chính. Thông qua đề tài: “Phân tích tình hình tài chính của công ty thông qua hệ thống báo cáo tài chính tại Công ty cổ phần LILAMA” em đã phần nào hiểu hơn công tác lập cũng như phân tích báo cáo tài chính. Qua đó cũng xem xét, đánh giá được tình hình tài chính của công ty và đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty. Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng do kiến thức, trình độ chuyên môn cũng như kinh nghiệm thực tế chưa nhiều nên chuyên đề thực tập của em còn nhiều hạn chế. Vì vậy, em mong nhận được sự hướng dẫn chỉ bảo của thầy Trần Đức Vinh và các anh chị ở Phòng Tài chính – Kế toán để khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PGS.TS. Nguyễn Năng Phúc. 2008. Giáo trình phân tích báo cáo tài chính. Nhà xuất bản Đại học Kinh Tế Quốc Dân. PGS.TS Lưu Thị Hương & PGS.TS Vũ Duy Hào. 2007. Tài chính doanh nghiệp. Nhà xuất bản Đại học Kinh Tế Quốc Dân. Một số luận văn các khóa trước. DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TSNH : Tài sản ngắn hạn TSCĐ : Tài sản cố định TSDH : Tài sản dài hạn GTGT : Giá trị gia tăng XNK : Xuất nhập khẩu BHXH : Bảo hiểm xã hội BHYT : Bảo hiểm y tế KPCĐ : Kinh phí công đoàn HTK : Hàng tồn kho BCTC : Báo cáo tài chính Hk : Hệ số khả năng thanh toán chung TK : Tài khoản DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu tài chính 30 Sơ đồ 1.1: Quy trình sản xuất kinh doanh 32 Sơ đồ 1.2: Quy trình sản xuất 33 Sơ đồ 1.3: Sơ đồ tổ chức kinh doanh 34 Sơ đồ 1.4: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý 39 Sơ đồ 1.5: Sơ đồ bộ máy kế toán của Công ty cổ phần LILAMA Hà Nội 40 Sơ đồ 1.6: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức “Nhật lý chung” 43 Bảng 1: Bảng đánh giá tình hình biến động tài sản của công ty 48 Bảng 2: Bảng đánh giá tình hình biến động nguồn vốn của công ty 53 Bảng 3: Bảng phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn 58 Bảng 4: Bảng phân tích vòng quay và thời gian 1 vòng quay các khoản phải thu 60 Bảng 5: Bảng phân tích khả năng thanh toán tại công ty 64 Bảng 6: Bảng chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán 66 Bảng 7: Khả năng thanh toán lãi vay 68 Bảng 8: Bảng phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 70 Bảng 9: Bảng phân tích hiệu quả sử dụng tổng tài sản 73 Bảng 10: Bảng phân tích hiệu quả sử dụng TSCĐ 74 Bảng 11: Bảng phân tích hiệu quả sử dụng TSNH 75 Bảng 12: Bảng phân tích tốc độ luân chuyển của TSNH 76 Bảng 13: Bảng phân tích hiệu quả sử dụng HTK 77 Bảng 14: Bảng phân tích tỷ lệ sinh lời của công ty 78 Bảng 15: Bảng phân tích Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 82 Bảng 16: Bảng phân tích rủi ro tài chính 84 MỤC LỤC Phụ lục1: Bảng cân đối kế toán BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN CÔNG TY CỔ PHẦN LILAMA HÀ NỘI Đơn vị tính: đồng Năm 2006, 2007, 2008 TÀI SẢN Mã số 31/12/2006 31/12/2007 31/12/2008 A. TÀI SẢN NGẮN HẠN 100 233,641,866,109 368,736,218,139 507,247,700,069 I. Tiền và các khoản tương đương tiền 110 20,589,461,568 1,237,844,144 18,428,048,820 1. Tiền 111 20,589,461,568 1,237,844,144 18,428,048,820 2. Các khoản tương đương tiền 112 0 0 0 II. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn 120 0 0 0 III. Các khoản phải thu 130 46,666,737,414 131,693,471,944 92,285,839,012 1. Phải thu của khách hàng 131 38,701,858,034 52,884,805,610 52,426,521,236 2. Trả trước cho người bán 132 4,834,575,045 5,999,876,547 5,925,804,960 3. Phải thu nội bộ ngắn hạn 133 0 0 0 4. Phải thu theo tiến độ HĐXD 134 0 76,104,768,720 33,334,002,207 5. Các khoản phải thu khác 138 3,130,304,335 3,237,331,332 599,510,609 6. Dự phòng các khoản phải thu khó đòi (*) 139 0 0 0 IV. Hàng tồn kho 140 152,087,161,603 211,048,971,328 373,620,846,256 1. Hàng tồn kho 141 152,087,161,603 211,048,971,328 373,620,846,256 2. Dự phòng giảm giá hàng tồn kho (*) 149 0 0 0 V. Tài sản ngắn hạn khác 150 14,298,505,524 18,222,620,458 22,912,965,981 1. Chi phí trả trước ngắn hạn 151 2,636,601,187 2,636,601,187 0 2. Thuế GTGT được khấu trừ 152 11,661,904,337 15,519,196,434 13,058,880,283 3. Thuế và các khoản khác phải thu Nhà nước 154 0 66,822,837 132,675,480 4. Tài sản ngắn hạn khác 158 0 0 9,721,410,218 B. TÀI SẢN DÀI HẠN 200 395,974,824,852 450,821,036,405 503,493,944,000 I. Các khoản phải thu dài hạn 210 0 0 0 1. Phải thu dài hạn của khách hàng 211 0 0 0 2. Phải thu nội bộ dài hạn 212 0 0 0 3. Phải thu dài hạn khác 213 0 0 0 4. Dự phòng phải thu dài hạn khó đòi (*) 219 0 0 0 II. Tài sản cố định 220 395,842,003,752 394,844,721,228 374,210,351,821 1. Tài sản cố định hữu hình 221 16,302,901,194 364,990,666,203 347,476,149,716 - Nguyên giá 222 30,712,925,207 395,847,512,819 410,603,290,463 - Giá trị hao mòn lũy kế(*) 223 (14,410,024,013) -30,856,846,616 -63,127,140,747 2. Tài sản cố định thuê tài chính 224 5,470,127,908 21,512,590,262 18,104,596,238 - Nguyên giá 225 7,782,788,217 24,516,110,571 20,355,648,238 - Giá trị hao mòn lũy kế(*) 226 (2,312,660,309) -3,003,520,309 -2,251,052,000 3. Tài sản cố định vô hình 227 810,000,000 720,000,000 637,500,000 - Nguyên giá 228 900,000,000 900,000,000 915,000,000 - Giá trị hao mòn lũy kế(*) 229 (90,000,000) -180,000,000 -277,500,000 4. Chi phí xây dựng cơ bản dở dang 230 373,258,974,650 7,621,464,763 7,992,105,867 III. Bất động sản đầu tư 240 0 0 0 IV. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn 250 0 804,429,034 0 1. Đầu tư vào công ty con 251 0 0 0 2. Đầu tư vào công ty liên kết, liên doanh 252 0 804,429,034 0 3. Đầu tư dài hạn khác 258 0 0 0 4. Dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư dài hạn (*) 259 0 0 0 V. Tài sản dài hạn khác 260 132,821,100 55,171,886,143 129,283,592,179 1. Chi phí trả trước dài hạn 261 132,821,100 55,171,886,143 129,283,592,179 2. Tài sản thuế thu nhập hoãn lại 262 0 0 0 3. Tài sản dài hạn khác 268 0 0 0 TỔNG CỘNG TÀI SẢN 270 629,616,690,961 819,557,254,544 1,010,741,644,069 NGUỒN VỐN A. NỢ PHẢI TRẢ 300 615,081,887,503 805,680,098,562 878,314,623,479 I. Nợ ngắn hạn 310 254,113,298,628 443,833,832,541 413,616,569,122 1. Vay và nợ ngắn hạn 311 141,318,974,381 228,556,039,168 236,882,835,182 2. Phải trả người bán 312 69,973,864,655 109,348,094,990 72,141,772,555 3. Người mua trả tiền trước 313 16,523,656,245 75,439,226,571 89,659,081,975 4. Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước 314 0 72,384,036 0 5. Phải trả công nhân viên 315 4,513,269,258 5,362,165,348 4,000,088,927 6. Chi phí phải trả 316 646,933,029 19,413,987,935 330,382,933 7. Phải trả nội bộ 317 6,796,652,870 1,624,968,216 0 8. Phải trả theo kế hoạch tiến độ HĐXD 318 0 0 0 9. Các khoản phải trả, phải nộp khác 319 14,339,948,190 4,016,966,277 10,602,407,550 10. Dự phòng phải trả ngắn hạn 320 0 0 0 II. Nợ dài hạn 330 360,968,588,875 361,846,266,021 464,698,054,357 1. Phải trả dài hạn người bán 331 0 0 0 2. Phải trả dài hạn nội bộ 332 0 0 0 3. Phải trả dài hạn khác 333 0 790,000,000 6,129,486,670 4. Vay và nợ dài hạn 334 360,968,588,875 360,796,177,221 458,308,478,887 5. Thuế thu nhập hoãn lại phải trả 335 0 0 0 6. Dự phòng trợ cấp mất việc làm 336 0 260,088,800 260,088,800 7. Dự phòng phải trả dài hạn 337 0 0 0 B. VỐN CHỦ SỞ HỮU 400 14,534,803,458 13,877,155,982 132,427,020,590 I. Vốn chủ sở hữu 410 14,508,522,244 13,857,730,340 132,473,576,300 1. Vốn đầu tư của chủ sở hữu 411 13,500,000,000 13,500,000,000 100,000,000,000 - Ngân sách 411A 0 0 51,000,000,000 - Tự bổ sung 411B 0 13,500,000,000 49,000,000,000 2. Thặng dư vốn cổ phần 412 0 0 24,250,520,121 3. Vốn khác của chủ sở hữu 413 0 0 0 4. Cổ phiếu ngân quỹ 414 0 0 0 5. Chênh lệch đánh giá lại tài sản 415 0 0 0 6. Chênh lệch tỷ giá hối đoái 416 0 0 0 7. Quỹ đầu tư phát triển 417 856,924,531 215,684,318 0 8. Quỹ dự phòng tài chính 418 32,070,335 22,518,644 0 9. Quỹ khác thuộc vốn chủ sở hữu 419 119,527,378 119,527,378 0 10. Lợi nhuận chưa phân phối 420 8,223,056,179 II. Nguồn kinh phí và các quỹ khác 430 26,281,214 19,425,642 -46,555,710 1. Quỹ khen thưởng, phúc lợi 431 26,281,214 19,425,642 -46,555,710 2. Nguồn kinh phí 432 0 0 3. Nguồn kinh phí đã hình thành TSCĐ 433 0 0 TỔNG CỘNG NGUỒN VỐN 440 629,616,690,961 819,557,254,544 1,010,741,644,069 CÁC CHỈ TIÊU NGOÀI BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN CHỈ TIÊU Thuyết minh 31/12/2006 31/12/2007 31/12/2008 1. Tài sản thuê ngoài 24 2. Vật tư, hàng hóa nhận giữ hộ, nhận gia công 167,258,158 167,258,158 3. Hàng hóa nhận bán hộ, nhận ký gửi, ký cược 4. Nợ khó đòi đã xử lý 5. Ngoại tệ các loại (USD) 6. Dự toán chi sự nghiệp, dự án Phụ lục 2: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CÔNG TY CỔ PHẦN LILAMA HÀ NỘI Đơn vị tính: đồng Năm 2006, 2007, 2008 CHỈ TIÊU Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 1. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 130,584,864,522 292,448,753,233 450,552,559,920 2. Các khoản giảm trừ  0 10,443,558,395 3,258,599,073 - Chiết khấu bán hàng  0 0 410,000,000 - Giảm giá hàng bán  0 373,311,343 135,985,875 - Hàng bán bị trả lại  0 10,070,247,052 2,712,613,198 3. Doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ 130,584,864,522 282,005,194,838 447,293,960,847 4. Giá vốn hàng bán 121,451,265,333 256,895,248,092 419,173,431,081 5. Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ 9,133,599,189 25,109,946,746 28,120,529,766 6. Doanh thu hoạt động tài chính 1,127,929,924 2,399,933,241 2,129,393,498 7. Chi phí tài chính 4,402,651,291 17,420,478,018 17,514,403,265 - Trong đó: Chi phí lãi vay 4,366,101,269 17,124,858,795 17,498,662,725 8. Chi phí bán hàng 0 2,770,329,585 3,205,530,274 9. Chi phí quản lý doanh nghiệp 5,468,545,885 6,989,596,503 8,203,577,911 10. Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh 390,331,937 329,475,881 1,326,411,814 11. Thu nhập khác 716,015,845 982,677,552 1,000,680,900 12. Chi phí khác 138,711,373 1,196,117 207,337,499 13. Lợi nhuận khác 577,304,472 981,481,435 793,343,401 14. Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 967,636,409 1,310,957,316 2,119,755,215 15. Chi phí thuế TNDN hiện hành 270,938,195 367,068,048 593,531,460 16. Chi phí thuế TNDN hoãn lại 0 0 17. Lợi nhuận sau thuế TNDN 696,698,214 943,889,268 1,526,223,755 18. Lãi cơ bản trên cổ phiếu 699 269 Phụ lục 3: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ BÁO CÁO LƯU CHUYỂN TIỀN TỆ CÔNG TY CỔ PHẦN LILAMA HÀ NỘI Đơn vị tính: đồng Năm 2006, 2007, 2008 Chỉ tiêu Mã số 2008 2007 2006 I. Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh 1. Tiền thu từ bán hàng, cung cấp dịch vụ và doanh thu khác 1 126,093,954,749 120,470,618,437 118,040,219,194 2. Tiền chi trả cho người cung cấp hàng hóa và dịch vụ 2 (285,142,326,916) (147,958,263,914) (164,302,954,524) 3. Tiền chi trả cho người lao động 3 (63,215,691,319) (29,726,492,716) (16,598,855,766) 4. Tiền chi trả lãi vay 4 (22,603,279,504) (15,847,250,526) (12,682,444,209) 5. Tiền chi nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp 5 (100,000,000) (100,000,000) 6. Tiền thu khác từ hoạt động kinh doanh 6 452,074,183,852 27,452,889,145 1,127,629,324 7. Tiền chi khác cho hoạt động kinh doanh 7 (133,338,980,163) (6,479,326,859) (12,548,082,655) Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh 20 73,867,860,699 (52,187,826,433) (87,064,488,636) II. Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư 1.Tiền chi để mua sắm, xây dựng TSCĐ và các tài sản dài hạn khác 21 (218,698,822,691) (73,872,909,442) 43,157,095,828 2.Tiền thu từ thanh lý, nhượng bán TSCĐ và các tài sản dài hạn khác 22 3. Tiền chi cho vay, mua các công cụ nợ của đơn vị khác 23 4.Tiền thu hồi cho vay, bán lại các công cụ nợ của đơn vị khác 24 5. Tiền chi đầu tư góp vốn vào đơn vị khác 25 6. Tiền thu hồi đầu tư góp vốn vào đơn vị khác 26 7. Tiền thu lãi cho vay, cổ tức và lợi nhuận được chia 27 1,742,032,363 Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư 30 (216,956,790,328) (73,872,909,442) (43,157,095,828) III. Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính 1.Tiền thu từ phát hành cổ phiếu, nhận vốn góp của chủ sở hữu 31 52,663,735,000 0 5,127,761,364 2.Tiền chi trả vốn góp cho các chủ sở hữu, mua lại cổ phiếu của doanh nghiệp đã phát hành 32 3. Tiền vay ngắn hạn, dài hạn nhận được 33 584,745,253,996 253,430,648,615 210,377,230,685 4. Tiền chi trả nợ gốc vay 34 (474,615,778,150) (143,584,731,796) (70,454,457,762) 5. Tiền chi trả nợ thuê tài chính 35 (2,487,203,884) (3,148,628,639) (3,476,583,904) 6. Cổ tức, lợi nhuận đã trả cho chủ sở hữu 36 (18,670,463) Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính 40 160,287,336,449 106,697,288,180 141,573,950,383 Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ (20+30+40) 50 17,198,406,820 (19,363,447,695) 11,352,365,919 Tiền và tương đương tiền đầu kỳ 60 1,237,844,144 20,589,461,568 3,084,136,761 Ảnh hưởng của thay đổi tỷ giá hối đoái quy đổi ngoại tệ 61 (8,202,144) 11,830,271 6,152,958,888 Tiền và tương đương tiền cuối kỳ (50+60+61) 70 18,428,048,820 1,237,844,144 20,589,461,568 NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN Hà Nội, Ngày tháng năm 2009 Giáo viên hướng dẫn NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN Hà Nội, Ngày tháng năm 2009 Giáo viên phản biện ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc21318.doc