Báo cáo Quy trình kiểm toán thuế giá trị gia tăng (VAT) trong kiểm toán tài chính do Công ty dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán và kiểm toán AASC thực hiện

Lời nói đầu Nền kinh tế Việt Nam đang từng bước phát triển và hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới. Sự phát triển đa dạng của các loại hình doanh nghiệp hoạt động trong nhiều ngành kinh tế khác nhau đặt ra những yêu cầu đối với công tác quản lý, kiểm tra kiểm soát của Nhà nước, đó là những yêu cầu đảm bảo việc khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả đồng thời yêu cầu đối với các doanh nghiệp trong việc tuân thủ đúng đắn chế độ chính sách Nhà nướ

doc67 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 05/09/2013 | Lượt xem: 128 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Báo cáo Quy trình kiểm toán thuế giá trị gia tăng (VAT) trong kiểm toán tài chính do Công ty dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán và kiểm toán AASC thực hiện, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
c đã đặt ra và đảm bảo các thông tin kinh tế được phản ánh trung thực với thực tế hoạt động tại đơn vị. Hoạt động kiểm toán Báo cáo tài chính đã xuất hiện và ngày càng phát triển ở Việt Nam như một công cụ trợ giúp đắc lực trong công tác quản lý kinh tế của Nhà nước và góp phần cung cấp những thông tin đáng tin cậy cho người quan tâm và sử dụng những thông tin đó. Thực hiện nghĩa vụ đối với Ngân sách Nhà nước là trách nhiệm pháp lý bắt buộc đối với tất cả các doanh nghiệp trong quan hệ với pháp luật. Vì vậy kiểm toán việc thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với ngân sách Nhà nước cũng là nội dung quan trọng trong cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp. Theo quy định hiện hành, hàng năm các doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ với Nhà nước về thuế các loại trong đó có thuế Giá trị gia tăng. Được thực tập tại Công ty dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán và kiểm toán AASC, em đã tìm hiểu về công tác kiểm toán tại công ty nói chung và quy trình kiểm toán thuế Gía trị gia tăng nói riêng. Trong quá trình tìm hiểu em đã nhận thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của việc kiểm toán thuế Gía trị gia tăng trong kiểm toán Báo cáo tài chính, vì vậy em đã chọn đề tài “ Quy trình kiểm toán Thuế Gía trị gia tăng trong kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán và kiểm toán AASC thực hiện” cho chuyên đề thực tập của mình. Nội dung chuyên đề gồm 3 phần chính: Phần I: Lý luận chung về Thuế giá trị gia tăng ( GTGT ) và kiểm toán Thuế GTGT trong kiểm toán Báo cáo tài chính. Phần II: Thực trạng kiểm toán Thuế GTGT trong kiểm toán Báo cáo tài chính tại Công ty dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán và kiểm toán AASC. Phần III: Bài học kinh nghiệm và kiến nghị nhằm hoàn thiện quy trình kiểm toán Thuế GTGT trong kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty AASC thực hiện. Chuyên đề của em được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của thầy Trần Mạnh Dũng và các anh chị kiểm toán viên trong phòng Dự án của Công ty AASC. Nội dung của chuyên đề được trình bày trên cơ sở những kiến thức lý luận về kiểm toán thuế và sự tìm hiểu thực tế tại Công ty AASC. Chuyên đề của em sẽ còn nhiều thiếu sót, em rất mong sự góp ý và chỉ bảo của thầy hướng dẫn và của các anh chị trong phòng Dự án của Công ty AASC. Phần I: Lý luận chung về Thuế giá trị gia tăng và kiểm toán thuế GTGT trong kiểm toán Báo cáo tài chính I. Nội dung cơ bản về Thuế GTGT 1.Khái niệm Thuế GTGT và đối tượng chịu, nộp thuế 1.1.Khái niệm Thuế GTGT Để góp phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng lưu thông hàng hoá và dịch vụ, khuyến khích phát triển nền kinh tế quốc dân, động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng vào Ngân sách nhà nước, Luật thuế giá trị gia tăng số 02/1997/QH9 ngày 10/5/1997 đã được thông qua tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá IX. Sự ra đời của Luật thuế GTGT thay thế cho Luật thuế doanh thu trước đây là bước cải cách thứ hai trong tiến trình cải cách hệ thống chính sách thuế của Nhà nước nhằm làm cho chính sách thuế của Việt Nam phù hợp hơn với cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế. Thuế giá trị gia tăng theo Điều 1, Chương I của Luật thuế giá trị gia tăng được hiểu như sau: “ Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng ”. 1.2. Đối tượng chịu, nộp thuế GTGT. Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng trừ một số đối tượng được quy định tại Điều 4 của Luật thuế GTGT. Đối tượng nộp thuế GTGT là các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế ( gọi chung là cơ sở kinh doanh ) và tổ chức, cá nhân khác nhập khẩu hàng hoá chịu thuế ( gọi chung là người nhập khẩu ). 2. Căn cứ tính thuế Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất. 2.1. Gía tính thuế GTGT Gía tính thuế GTGT được quy định như sau: Đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT; Đối với hàng hoá nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu, cộng với thuế nhập khẩu; Đối với hàng hoá, dịch vụ dùng để trao đổi, sử dụng nội bộ, biếu, tặng là giá tính thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này; Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền thuê thu từng kỳ; Đối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp là giá bán của hàng hoá tính theo giá bán trả một lần, không tính theo số tiền trả từng kỳ; Đối với gia công hàng hoá là giá gia công chưa có thuế ( bao gồm tiền công, nhiên liệu, động lực, vật liệu phụ và chi phí khác để gia công); Đối với hàng hoá, dịch vụ khác là giá do Chính phủ quy định. Gía tính thuế GTGT đối với hàng hoá, dịch vụ được quy định bao gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm mà cơ sở kinh doanh được hưởng, trừ các khoản phụ thu và phí mà cơ sở kinh doanh phải nộp Ngân sách Nhà nước. Trường hợp đối tượng nộp thuế có doanh số mua, bán bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá chính thức do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh số để xác định giá tính thuế. 2.2. Thuế suất thuế GTGT Mức thuế suất giá trị gia tăng được quy định như sau: Mức thuế suất 0% đối với hàng hoá xuất khẩu, bao gồm cả hàng hoá chịu thuế tiêu thụ đặc biệt xuất khẩu; phần mềm máy tính xuất khẩu; sửa chữa máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải cho nước ngoài và dịch vụ xuất khẩu lao động; hoạt động xây dựng, lắp đặt ở nước ngoài và cho Doanh nghiệp chế xuất. Xuất khẩu bao gồm xuất khẩu ra nước ngoài, xuất khẩu vào khu chế xuất hoặc xuất khẩu cho doanh nghiệp chế xuất và trường hợp cụ thể khác được coi là xuất khẩu theo quy định của Chính phủ. Cơ sở kinh doanh xuất khẩu các hàng hoá, dịch vụ trên đây được áp dụng mức thuế suất 0% phải thực hiện đầy đủ các thủ tục, hồ sơ quy định đối với xuất khẩu và phải thanh toán tiền bán hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu qua Ngân hàng. Mức thuế suất 5% đối với một số hàng hóa, dịch vụ như: nước sạch phục vụ sản xuất và sinh hoạt; thiết bị và dụng cụ y tế, dịch vụ khoa học, kỹ thuật; dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp. Mức thuế suất 10% đối với một số hàng hoá, dịch vụ như: dầu mỏ, khí đốt, than đá, sản phẩm điện tử, cơ khí, dịch vụ kế toán, kiểm toán. Mức thuế suất 20% đối với hàng hoá, dịch vụ: Vàng, bạc, đá quý do cơ sở kinh doanh mua vào, bán ra; Xổ số kiến thiết và các loại hình xổ số khác; Đại lý tàu biển; Dịch vụ môi giới; 3. Phương pháp tính thuế GTGT Thuế GTGT cơ sở kinh doanh phải nộp được tính theo một trong hai phương pháp: phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng. Trường hợp cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế có hoạt động kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ thì cơ sở phải hạch toán riêng hoạt động kinh doanh này để tính thuế trực tiếp trên giá trị gia tăng. 3.1. Phương pháp khấu trừ thuế Theo phương pháp này số thuế GTGT phải nộp được xác định bằng số thuế GTGT đầu ra trừ (-) số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ. 3.1.1. Thuế GTGT đầu ra Thuế GTGT đầu ra bằng giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân (x) với thuế suất thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ đó. Trường hợp cơ sở bán hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT không ghi cụ thể giá bán chưa có thuế và thuế GTGT trên hoá đơn GTGT thì thuế GTGT đầu ra được tính trên giá bán ra của hàng hoá, dịch vụ đó, trừ trường hợp được dùng hoá đơn, chứng từ ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT. 3.1.2. Thuế GTGT đầu vào Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ bằng tổng số thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế GTGT hàng hoá nhập khẩu dùng vào sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT. * Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế được tính khấu trừ thuế GTGT đầu vào như sau: - Thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ mua vào dùng cho sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT thì được khấu trừ toàn bộ. - Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ mua vào dùng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT thì chỉ được khấu trừ số thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT. Cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ; trường hợp không hạch toán riêng được thì được khấu trừ theo tỷ lệ (%) giữa doanh số chịu thuế so với tổng doanh số bán ra. - Thuế đầu vào được khấu trừ phát sinh trong tháng nào được kê khai, khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp của tháng đó. Riêng thuế đầu vào của tài sản cố định được khấu trừ lớn thì thực hiện khấu trừ dần hoặc được hoàn thuế theo quy định. Đối với cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng, khi chuyển sang áp dụng tính nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế chỉ được tính khấu trừ thuế GTGT theo quy định đối với hoá đơn, chứng từ phát sinh từ ngày áp dụng thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế. - Đối với cơ sở kinh doanh mua hàng hoá, dịch vụ có tính đặc thù được dùng loại chứng từ ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì căn cứ vào giá đã có thuế để xác định giá không có thuế và thuế GTGT đầu vào được khấu trừ theo phương pháp tính đã quy định. - Trường hợp cơ sở kinh doanh tại Việt Nam có ký kết hợp đồng với nhà thầu nước ngoài thực hiện việc nộp thuế GTGT thay cho nhà thầu nước ngoài thì cơ sở kinh doanh được tính khấu trừ thuế đầu vào số thuế GTGT đã nộp thay. * Căn cứ để xác định số thuế đầu vào được khấu trừ theo quy định là: - Đối với hàng hoá, dịch vụ mua vào là số tiền thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ; trường hợp nộp thay bên bán là chứng từ nộp thuế thay. - Đối với hàng hoá nhập khẩu là số tiền thuế GTGT đã nộp ghi trên chứng từ nộp thuế GTGT hàng nhập khẩu. - Đối với hàng hoá, dịch vụ mua vào được dùng loại chứng từ ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì được căn cứ vào chứng từ đó để tính số thuế đầu vào được khấu trừ theo quy định. 3.2. Phương pháp tính thuế GTGT trực tiếp trên giá trị gia tăng. Số thuế GTGT phải nộp được xác định bằng giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân (x) với thuế GTGT của loại hàng hoá, dịch vụ đó. * Gía trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ được xác định bằng giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ bán ra trừ (-) giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ mua vào tương ứng. Giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ mua vào, bán ra là giá thực tế mua, bán ghi trên hoá đơn mua, bán hàng hoá, dịch vụ, bao gồm cả thuế GTGT và các khoản phụ thu, phí thu thêm mà bên bán được hưởng, bên mua phải trả. Gía thanh toán của hàng hoá, dịch vụ mua vào được xác định bằng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào bao gồm cả thuế GTGT mà cơ sở kinh doanh đã dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT bán ra. Trường hợp cơ sở kinh doanh chưa thực hiện đầy đủ việc mua bán hàng hoá, dịch vụ có hoá đơn, chứng từ làm căn cứ xác định giá trị gia tăng theo quy định trên thì giá trị gia tăng được xác định như sau: - Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện bán hàng hoá, dịch vụ có đầy đủ hoá đơn, chứng từ theo chế độ, xác định được đúng doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ nhưng không có đủ hoá đơn mua hàng hoá, dịch vụ thì giá trị gia tăng được xác định bằng doanh thu nhân (x) với tỷ lệ (%) giá trị gia tăng tính trên doanh thu. - Đối với cá nhân kinh doanh chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ hoá đơn mua, bán hàng hoá, dịch vụ thì cơ quan thuế căn cứ vào tình hình kinh doanh của từng cá nhân kinh doanh để ấn định mức doanh thu tính thuế; giá trị gia tăng được xác định bằng doanh thu ấn định nhân (x) với tỷ lệ (%) giá trị gia tăng tính trên doanh thu. * Tỷ lệ (%)giá trị gia tăng tính trên doanh thu làm căn cứ xác định giá trị gia tăng do cơ quan thuế quy định phù hợp với từng ngành nghề kinh doanh. * Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng chỉ áp dụng đối với các đối tượng sau: - Cá nhân sản xuất, kinh doanh là người Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh ở Việt Nam không theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hoá đơn, chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế; - Cơ sở kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ thuộc đối tượng áp dụng tính thuế GTGT phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng. Trường hợp cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế có hoạt động kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý thì được tính và kê khai thuế phải nộp riêng đối với hoạt động kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng. 4. Hoá đơn, chứng từ mua bán hàng hoá, dịch vụ 4.1. Những quy định chung về hoá đơn, chứng từ sử dụng Các cơ sở kinh doanh phải thực hiện đầy đủ việc mua, bán hàng hoá, dịch vụ có hoá đơn, chứng từ theo đúng quy định của pháp luật. Hoá đơn mua, bán hàng hoá, dịch vụ quy định đối với các cơ sở kinh doanh như sau: - Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế khi bán hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT phải sử dụng hoá đơn GTGT ( trừ trường hợp được dùng hoá đơn, chứng từ đặc thù ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT). - Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp trực tiếp trên GTGT khi bán hàng hoá, dịch vụ phải sử dụng hoá đơn bán hàng. - Khi lập hoá đơn, cơ sở kinh doanh phải ghi đầy đủ, đúng các yếu tố quy định trên hoá đơn. Đối với hoá đơn GTGT phải ghi rõ giá bán chưa có thuế, phụ thu và phí tính ngoài giá bán (nếu có), thuế GTGT, tổng giá thanh toán đã có thuế; nếu không ghi tách riêng giá bán chưa có thuế và thuế GTGT, chỉ ghi chung giá thanh toán thì thuế GTGT đầu ra phải tính trên giá thanh toán. - Hoá đơn, chứng từ hợp pháp được sử dụng là: Hoá đơn do Bộ Tài chính ( Tổng cục Thuế) phát hành và được cơ quan thuế cung cấp; Hoá đơn do các cơ sở kinh doanh tự in để sử dụng theo mẫu quy định và đã được Tổng cục Thuế chấp nhận cho sử dụng; Các Bảng kê hàng hoá, dịch vụ mua vào, bán ra theo quy định; Các loại hoá đơn, chứng từ đặc thù khác được phép sử dụng. - Hoá đơn hợp pháp phải đầy đủ các nội dung theo quy định sau: Hoá đơn do người bán hàng, dịch vụ thu tiền, kể cả trao đổi sản phẩm giao cho người mua hàng phải là bản gốc, liên 2 ( liên giao cho khách hàng). Hoá đơn phải ghi đầy đủ các chỉ tiêu, nội dung theo quy định và phải nguyên vẹn, không rách hoặc nhàu nát. Số liệu, chữ viết, đánh máy hoặc in trên hoá đơn phải rõ ràng, trung thực, đầy đủ, chính xác, không bị tẩy xoá, sửa chữa. - Tổ chức, cá nhân khi bán hàng hoá, dịch vụ thu tiền hoặc trao đổi sản phẩm đều phải lập và giao hoá đơn hợp pháp cho khách hàng; Nếu không lập và giao hoá đơn hoặc lập và giao hoá đơn không hợp pháp cho khách hàng là hành vi trốn thuế, sẽ bị xử lý theo quy định. 4.2. Một số trường hợp được quy định cụ thể về việc sử dụng và ghi hoá đơn a. Cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế bán hàng hoá, dịch vụ sau đây: hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT, bán hàng hoá, dịch vụ cho đối tượng được miễn thuế GTGT, bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ phải sử dụng hoá đơn GTGT, trên hoá đơn GTGT chỉ ghi dòng giá bán là giá không có thuế GTGT, dòng thuế suất, số thuế GTGT không ghi và gạch bỏ. Hoá đơn ghi rõ là hàng hoá không chịu thuế GTGT hoặc hàng hoá bán cho đối tượng được miễn thuế GTGT. b. Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế là đại lý bán hàng đúng giá theo quy định của bên chủ hàng, hưởng hoa hồng, khi bán hàng đại lý sử dụng hoá đơn GTGT của cơ sở đại lý. Hoá đơn ghi rõ hàng hoá bán đại lý, giá bán chưa có thuế, thuế suất, mức thuế GTGT và tổng cộng tiền thanh toán theo đúng giá quy định của bên chủ hàng. Khi thanh toán hoa hồng, cơ sở đại lý phải lập hoá đơn GTGT để thanh toán, trên hoá đơn chỉ ghi dòng giá bán là tiền hoa hồng, dòng thuế suất, tiền thuế GTGT không ghi và gạch bỏ. Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế trực tiếp trên giá trị gia tăng là đại lý bán hàng đúng giá quy định của bên chủ hàng, hưởng hoa hồng, sử dụng hoá đơn bán hàng của cơ sở đại lý. Giá bán hàng hoá, dịch vụ ghi trên hoá đơn là giá đã có thuế GTGT theo quy định của bên chủ hàng. Khi thanh toán tiền hoa hồng được hưởng do bán hàng đại lý, cơ sở làm đại lý phải lập hoá đơn bán hàng ghi tiền hoa hồng được hưởng để bên chủ hàng thanh toán; trường hợp hàng hoá bán đại lý là hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt của cơ sở sản xuất gửi bán, trên hoá đơn phải ghi rõ là hàng bán đại lý. Cơ sở kinh doanh nhận làm đại lý mua hàng hoá theo đúng giá quy định của bên giao đại lý, hưởng hoa hồng, khi mua, trả hàng, đại lý thu mua sử dụng chứng từ, hoá đơn, mã số thuế của cơ sở. c. Cơ sở kinh doanh xuất nhập khẩu là đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế nhận nhập khẩu hàng hoá uỷ thác cho các cơ sở khác, khi trả hàng cơ sở nhận uỷ thác lập chứng từ như sau: Cơ sở nhận nhập khẩu uỷ thác khi xuất trả hàng nhập khẩu uỷ thác, nếu đã nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu thì lập hoá đơn GTGT để bên đi uỷ thác làm căn cứ kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng hoá uỷ thác nhập khẩu. Trường hợp cơ sở nhận nhập khẩu uỷ thác chưa nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu, khi xuất trả hàng nhập khẩu uỷ thác, cơ sở lập phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ do Bộ Tài chính ( Tổng cục thuế ) phát hành kèm theo lện điều động nội bộ làm chứng từ lưu thông hàng hoá trên thị trường. Sau khi đã nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu cho hàng hoá nhập khẩu uỷ thác, cơ sở mới lập hoá đơn theo quy định trên. Hoá đơn GTGT xuất trả hàng nhập khẩu uỷ thác ghi: - Giá bán chưa có thuế GTGT bao gồm: giá trị hàng hoá thực tế nhập khẩu theo giá CIF, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt và các khoản phải nộp theo chế độ Nhà nước ở khâu nhập khẩu ( nếu có ). - Thuế suất thuế GTGT và tiền thuế GTGT ghi theo Thông báo nộp thuế của cơ quan Hải quan. - Tổng cộng tiền thanh toán. Cơ sở nhận nhập khẩu uỷ thác lập hoá đơn GTGT riêng để thanh toán tiền hoa hồng uỷ thác nhập khẩu. d. Cơ sở sản xuất kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế có hàng hoá xuất khẩu ( kể cả cơ sở gia công hàng hoá xuất khẩu, hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt xuất khẩu ) thuộc đối tượng chịu thuế GTGT, khi xuất khẩu hàng hoá, cơ sở sử dụng hoá đơn GTGT. Khi xuất hàng hoá để vận chuyển đến cửa khẩu hay đến nơi làm thủ tục xuất khẩu, nếu chưa có căn cứ để lập hoá đơn GTGT, cơ sở sử dụng Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ do Bộ Tài chính ( Tổng cục thuế ) phát hành kèm theo Lệnh điều động nội bộ làm chứng từ lưu thông hàng hoá trên thị trường. Sau khi làm xong thủ tục cho hàng hóa xuất khẩu, cơ sở lập hoá đơn GTGT cho hàng hóa xuất khẩu. 5. Đăng ký, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế 5.1. Đăng ký nộp thuế - Cơ sở kinh doanh, kể cả các chi nhánh, cửa hàng trực thuộc cơ sở kinh doanh chính phải đăng ký nộp thuế với Cục thuế hoặc Chi cục thuế nếu là cá nhân kinh doanh về địa điểm kinh doanh, ngành nghề kinh doanh, lao động, tiền vốn, nơi nộp thuế và các chỉ tiêu liên quan khác theo mẫu đăng ký nộp thuế và hướng dẫn của cơ quan thuế. Đối với cơ sở mới thành lập, thời gian đăng ký nộp thuế chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày cơ sở được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; trường hợp cơ sở chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nhưng có hoạt động kinh doanh, cơ sở phải đăng ký nộp thuế trước khi kinh doanh. Các cơ sở đã đăng ký nộp thuế nếu có thay đổi ngành nghề kinh doanh, chuyển trụ sở kinh doanh sang các địa điểm khác, sát nhập, giải thể, phá sản, hợp nhất, chia, tách hay thành lập các cửa hàng, chi nhánh mới .v.v. phải đăng ký bổ sung với cơ quan thuế chậm nhất là 5 ngày trước khi có sự thay đổi đó. - Cơ sở hoạt động sản xuất, kinh doanh có trụ sở chính ở một địa phương ( tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) nhưng có cơ sở hạch toán phụ thuộc kể cả trụ sở, văn phòng giao dịch làm thủ tục bán hàng ở một địa phương khác thì cơ sở kinh doanh phải đăng ký nộp thuế với cơ quan thuế nơi đóng trụ sở, các cơ sở hạch toán phụ thuộc cũng phải đăng ký nộp thuế GTGT với cơ quan thuế địa phương nơi cơ sở phụ thuộc đóng trụ sở. - Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng áp dụng phương pháp tính thuế trực tiếp trên giá trị gia tăng nếu thực hiện đầy đủ các điều kiện về chế độ hoá đơn, chứng từ, sổ kế toán, kê khai, nộp thuế đúng chế độ và tự nguyện đăng ký áp dụng tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế, được cơ quan thuế kiểm tra xác định đã thực hiện đúng, đủ các điều kiện trên đây thì cơ quan thuế thông báo cho cơ sở thực hiện; nếu trong quá trình thực hiện mà cơ sở không thực hiện đúng các điều kiện quy định thì cơ quan thuế ra thông báo đình chỉ việc áp dụng tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế. 5.2. Kê khai thuế - Cơ sở kinh doanh phải kê khai thuế GTGT từng tháng và nộp tờ khai thuế cho cơ quan thuế trong 10 ngày đầu của tháng tiếp theo. Trong trường hợp không phát sinh thuế đầu vào, thuế đầu ra, cơ sở kinh doanh vẫn phải kê khai và nộp tờ khai thuế cho cơ quan thuế. - Cơ sở kinh doanh, người nhập khẩu hàng hoá phải kê khai và nộp tờ khai thuế GTGT theo từng lần nhập khẩu cùng với việc kê khai thuế nhập khẩu với cơ quan thu thuế nơi có cửa khẩu nhập hàng hoá. - Cơ sở kinh doanh buôn chuyến phải kê khai và nộp thuế theo từng chuyến hàng với cơ quan thuế nơi mua hàng, trước khi vận chuyển hàng đi. - Cơ sở kinh doanh nhiều loại hàng hoá, dịch vụ có mức thuế suất thuế GTGT khác nhau phải kê khai thuế GTGT theo từng mức thuế suất quy định đối với từng loại hàng hoá, dịch vụ; nếu cơ sở kinh doanh không xác định được theo từng mức thuế suất thì phải tính và nộp thuế theo mức thuế suất cao nhất của hàng hoá, dịch vụ mà cơ sở có sản xuất, kinh doanh. 5.3. Nộp thuế Thuế GTGT được nộp vào Ngân sách Nhà nước theo quy định sau: - Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT đầy đủ, đúng hạn vào Ngân sách Nhà nước theo thông báo nộp thuế của cơ quan thuế. Thời hạn nộp thuế của tháng được ghi trong thông báo chậm nhất không quá ngày 25 của tháng tiếp theo. - Cơ sở kinh doanh, người nhập khẩu hàng hoá phải nộp thuế GTGT theo từng lần nhập khẩu. Thời hạn thông báo và thời hạn nộp thuế GTGT đối với hàng hoá nhập khẩu thực hiện theo thời hạn thông báo và thời hạn nộp thuế nhập khẩu. - Trong kỳ tính thuế, cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế, nếu có số thuế đầu vào lớn hơn số thuế đầu ra thì được khấu trừ vào kỳ tính thuế tiếp theo. Trường hợp cơ sở kinh doanh đầu tư mới tài sản cố định, có số thuế đầu vào được khấu trừ lớn thì được khấu trừ dần hoặc được hoàn thuế theo quy định. 5.4. Quyết toán thuế Cơ sở kinh doanh phải thực hiện quyết toán thuế hàng năm với cơ quan thuế. Năm quyết toán thuế được tính theo năm dương lịch. Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày kết thúc năm, cơ sở kinh doanh phải nộp báo cáo quyết toán thuế cho cơ quan thuế và phải nộp đủ số thuế còn thiếu vào Ngân sách Nhà nước trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nộp báo cáo quyết toán, nếu nộp thừa thì được trừ vào số thuế phải nộp kỳ tiếp theo. Trong trường hợp sát nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản, cơ sở kinh doanh phải thực hiện quyết toán thuế với cơ quan thuế và gửi báo cáo quyết toán thuế cho cơ quan thuế trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày có quyết định sát nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản. 5.5. Hoàn thuế Việc hoàn thuế GTGT chỉ thực hiện trong các trường hợp sau: - Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế được xét hoàn thuế hàng quý nếu số thuế đầu vào được khấu trừ của các tháng trong quý lớn hơn số thuế đầu ra hoặc được hoàn thuế đầu vào của tài sản cố định có giá trị lớn; - Quyết toán thuế khi sát nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản có số thuế nộp thừa; - Có quyết định xử lý hoàn thuế của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. 6. Phương pháp hạch toán thuế GTGT Hạch toán thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp Đối với các doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, khi mua hàng hoặc bán hàng ( trừ nhập khẩu hàng hoá ), kế toán không phải xác định thuế GTGT được khấu trừ hay phải nộp. Cuối kỳ, căn cứ vào giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT và thuế suất từng loại để xác định số thuế GTGT phải nộp của từng hoạt động. Cụ thể: Phản ánh thuế GTGT của hàng nhập khẩu và trị giá hàng nhập khẩu: Nợ TK liên quan ( 151, 152, 153, 156, 211...) : Gía thực tế hàng nhập khẩu ( giá CIF + Thuế nhập khẩu + Thuế GTGT + Chi phí tiếp nhận...). Có TK 333 (3333. TNK) : Thuế nhập khẩu. Có TK 3331 (33312) : Thuế GTGT của hàng nhập khẩu phải nộp. Có TK 331, 111, 112... : Gía mua và chi phí thu mua hàng nhập khẩu. Phản ánh số thuế GTGT phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh: Nợ TK 642 (6425). Có TK 3331(33311). Phản ánh thuế GTGT phải nộp của hoạt động tài chính và hoạt động bất thường: Nợ TK liên quan ( 635, 811 ). Có TK 3331( 33311). Phản ánh số thuế GTGT đã nộp: Nợ TK 3331 ( 33311, 33312 ) Có TK liên quan ( 111, 112, 311...). Phản ánh số thuế GTGT được giảm trừ: Nợ TK 3331 : Trừ vào số phải nộp trong kỳ. Nợ TK 111, 112 : Nhận số giảm trừ bằng tiền. Có TK 711 : Số thuế GTGT được giảm trừ. Hạch toán thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ Hạch toán thuế GTGT đầu vào được khấu trừ Trường hợp mua vật tư, hàng hoá, dịch vụ trong nước: Nợ TK liên quan ( 151, 152, 153, 156, 611, 627, 641, 642...) : Gía mua chưa có thuế GTGT. Nợ TK 133 ( 1331) : Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ. Có TK 331, 111, 112, 311...: Tổng giá thanh toán phải trả cho người bán, người cung cấp. Trường hợp mua TSCĐ dùng vào sản xuất kinh doanh: Nợ TK 211: Gía mua chưa thuế ( Nếu không qua lắp đặt). Nợ TK 241: Gía mua chưa thuế ( Nếu phải qua lắp đặt ). Nợ TK 133 ( 1332) : Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ. Có TK liên quan (111, 112, 331, 341...) : Tổng giá thanh toán. Trường hợp mua hàng nhập khẩu dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc diện chịu thuế GTGT, phản ánh số thuế GTGT của hàng nhập khẩu sẽ được khấu trừ: Nợ TK 133 ( 1331, 1332) : Thuế GTGT được khấu trừ. Có TK 3331 ( 33312) : Thuế GTGT phải nộp. Trường hợp mua hàng nhập khẩu dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh không thuộc diện chịu thuế GTGT hay thuộc diện chịu thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hoặc dùng vào hoạt động phúc lợi, sự nghiệp, dự án, phúc lợi công cộng...( tài trợ bằng nguồn kinh phí riêng) thì thuế GTGT của hàng nhập khẩu phải nộp được tính vào trị giá hàng mua: Nợ TK liên quan ( 151, 152, 156, 211...): Trị giá mua hàng nhập khẩu( cả thuế nhập khẩu và thuế GTGT). Có TK 333 (3333- TNK): Thuế nhập khẩu. Có TK 333 (33312) : Thuế GTGT của hàng nhập khẩu. Có TK 111, 112, 331... : Gía mua hàng nhập khẩu. Trường hợp mua vật tư, dịch vụ sử dụng cho sản xuất các mặt hàng, dịch vụ chịu thuế GTGT và các mặt hàng không thuộc diện chịu thuế GTGT: Về nguyên tắc phải hạch toán riêng số dùng để sản xuất các mặt hàng chịu thuế GTGT (được khấu trừ). Đối với thuế GTGT đầu vào của số vật tư, dịch vụ dùng để sản xuất các mặt hàng không thuộc diện chịu thuế GTGT được tính vào giá trị vật tư, dịch vụ mua ngoài hoặc đối tượng có liên quan. Trường hợp không tách được thì toàn bộ số GTGT đầu vào được tập hợp hết vào tài khoản 133. Cuối kỳ, phải phân bổ cho từng đối tượng dựa vào doanh thu từng loại. Nợ TK liên quan (151, 152, 153, 156, 611, 627, 641, 642...) : Gía mua chưa có thuế GTGT. Nợ TK 133 (1331) : Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ. Có TK 331, 111, 112, 311... : Tổng giá thanh toán phải trả cho người bán, người cung cấp. Hạch toán thuế GTGT đầu ra Phản ánh thuế GTGT phải nộp khi tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá: Nợ TK liên quan ( 111, 112, 131...) : Tổng giá thanh toán. Có TK 333 ( 33311) : Thuế GTGT phải nộp. Có TK 511, 512 : Doanh thu bán hàng. Trường hợp sử dụng các chứng từ đặc thù cho phép hoặc trực tiếp bán lẻ hàng hoá, dịch vụ cho người tiêu dùng không thuộc diện phải lập hoá đơn bán hàng, kế toán phải căn cứ vào tổng giá thanh toán ghi trên chứng từ( hoặc bảng kê bán lẻ hàng hoá, dịch vụ) để xác định giá bán chưa thuế, số thuế GTGT phải nộp để ghi sổ. Trường hợp cung cấp dịch vụ thu tiền trước: Ghi nhận doanh thu là toàn bộ số tiền thu được chưa có thuế GTGT và thuế GTGT phải nộp: Nợ TK liên quan (111, 112) : Tổng số tiền đã thu. Có TK 333 (33311) : Thuế GTGT phải nộp. Có TK 338 (3387) : Doanh thu bán hàng ghi nhận trước. Trường hợp phát sinh các khoản thu nhập từ hoạt động tài chính và hoạt động bất thường ( thu cho thuê TSCĐ, thu thanh lý, nhượng bán TSCĐ, thu về bán bất động sản...) : Nợ TK liên quan (111, 112, 131...) : Tổng giá thanh toán. Có TK 333(33311) : Thuế GTGT phải nộp. Có TK 515 : Thu nhập hoạt động tài chính. Có TK 711 : Thu nhập hoạt động bất thường. 6.2.3. Hạch toán thuế GTGT được khấu trừ, thuế GTGT phải nộp, đã nộp và thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ Trường hợp số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ nhỏ hơn số thuế GTGT phải nộp : Kết chuyển toàn bộ số thuế GTGT được khấu trừ: Nợ TK 3331. Có TK 131. Phản ánh số thuế GTGT đã nộp trong kỳ. Nợ TK 3331: Số thuế GTGT đã nộp. Có TK liên quan (111, 112, 311...). Trường hợp số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ lớn hơn số thuế GTGT phải nộp thì kết chuyển đúng bằng số phải nộp. Nợ TK 3331. Có TK 133. Trường hợp thuế GTGT vừa phân bổ cho đối tượng chịu thuế GTGT vừa phân bổ cho các đối tượng không chịu thuế GTGT: Nợ TK 3331 : Kết chuyển số thuế GTGT được khấu trừ. Nợ TK 632 : Kết chuyển thuế GTGT không được khấu trừ ( nếu nhỏ hơn hoặc bằng doanh thu). Nợ TK 142 ( 1421) : Kết chuyển số thuế GTGT không được khấu trừ ( phần lớn hơn doanh thu). Có TK 133 : Kết chuyển thuế GTGT đầu vào. Sang tháng sau, số thuế GTGT không được khấu trừ đã kết chuyển vào tài khoản 1421 sẽ được trừ tiếp tục vào giá vốn hàng bán. Trường hợp được hoàn lại thuế GTGT ( khi số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ của 3 tháng liên tục lớn hơn số thuế GTGT đầu ra các tháng tương ứng, thuế GTGT của TSCĐ khấu trừ 3 tháng liên tục chưa hết...). Nợ TK liên quan ( TK 111, 112...) : Số đã nhận. Có TK 133 : Số đầu vào được hoàn lại. Có TK 333( 3331) : Số nộp thừa được hoàn lại. Trường hợp được giảm thuế ( các cơ sở bị lỗ do mức thuế GTGT phải nộp của các hoạt động kinh doanh lớn hơn mức thuế doanh thu trước đây) : Nợ TK 333 (3331) : Trừ vào số phải nộp. Nợ TK 111, 112 ... : Số._. được giảm đã nhận. Có TK 711 : Số thuế GTGT được giảm trừ. Những gian lận thường gặp trong quá trình kiểm toán thuế GTGT. Thuế GTGT là loại thuế gián thu, đánh vào người tiêu dùng cuối cùng song đối tượng trực tiếp nộp thuế lại là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ, do đó trong quá trình hạch toán thuế GTGT tại các doanh nghiệp, những gian lận vẫn thường xuyên xảy ra. Hầu hết mục tiêu của việc gian lận trong hạch toán thuế GTGT ở các doanh nghiệp là nhằm trốn thuế, giảm thiểu số thuế phải nộp vào Ngân sách nhà nước. Một số hành vi gian lận thường xảy ra như: - Mua từ chợ đen hoá đơn GTGT giả mẫu Bộ Tài chính phát hành của hoá đơn thật để ghi chép giả nhằm trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế và đòi được hoàn thuế. - Ghi chép không trung thực giữa các liên trong cùng một số hoá đơn ( liên giao cho khách hàng thì ghi đúng thực tế mua bán, còn liên lưu để tính thuế GTGT thì ghi rất thấp về doanh số và mức thuế GTGT đầu ra). - áp dụng sai thuế suất đối với hàng hoá, dịch vụ, cố ý nhầm lẫn giữa hàng hoá không chịu thuế với hàng có chịu thuế, nhất là khi vận dụng thuế suất 0% ( nếu áp dụng mức thuế suất 0% đối với hàng hoá, dịch vụ đầu vào thì doanh nghiệp được hoàn lại số thuế đầu ra theo quy định tại khoản 1 Điều 16 Luật thuế GTGT số 02/1997QH9 ngày 10/5/1997 ). - Một số hành vi gian lận với trình độ hạch toán kế toán cao hơn như: phân bổ thuế GTGT của vật tư, TSCĐ không đúng với đơn vị và sản phẩm, hạng mục công trình; nhiều trường hợp hạch toán toàn bộ thuế GTGT vào giá thành ngay khi mua sắm, xây lắp xong TSCĐ để được khấu trừ số thuế lớn ngay trong kỳ đó. Đã có không ít các doanh nghiệp tư nhân hạch toán thuế GTGT của tài sản, thiết bị không dùng trong sản xuất mà phục vụ cho sinh hoạt cá nhân, gia đình (ôtô, xe máy…) vào số thuế yêu cầu khấu trừ trong sản xuất kinh doanh. - Gian lận khi lập bảng kê mua hàng ( chủ yếu là mua hàng nông sản, thuỷ hải sản, lâm sản của nông dân để xuất khẩu). Để ngăn chặn sự gian lận này Bộ Tài chính đã ban hành một loạt các thông tư trong đó có thông tư số 108/2002/TT- BTC quy định không khấu trừ thuế khi mua các loại hàng hoá, dịch vụ không có hoá đơn GTGT. - Móc nối giữa các doanh nghiệp xuất khẩu với đơn vị chế biến hay đầu nậu mua gom hàng xuất khẩu để làm hoá đơn giúp nhau được khấu trừ thuế GTGT mặc dù thực tế không có mua bán hàng hoá với nhau. II. Nội dung Kiểm toán Thuế GTGT trong kiểm toán Báo cáo tài chính 1. Vai trò của kiểm toán thuế GTGT Thuế GTGT khi áp dụng đã thể hiện rõ tính ưu việt hơn so với thuế Doanh thu trước đây. Điều này được thể hiện ở những điểm sau: Một là, áp dụng thuế GTGT sẽ giảm bớt số lượng các mức thuế suất, chỉ với 4 mức thuế suất GTGT so với 11 mức thuế suất Thuế Doanh thu trước đây. Hai là, thuế GTGT có diện bao quát rộng, bao gồm hầu như toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế. Nếu chia các đối tượng chịu thuế trong nền kinh tế ra thành: các hoạt động tạo ra thu nhập, các hoạt động tiêu dùng số thu nhập đã tạo ra và các đối tượng khác thì chỉ riêng thuế GTGT đã bao quát hết mảng đối tượng thứ hai: tiêu dùng thu nhập đã có. Do diện chịu thuế rộng nên thuế GTGT đã góp phần tăng thu Ngân sách và là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nước. Do thuế GTGT có ý nghĩa rất lớn đối với Ngân sách nhà nước nên công tác quản lý, kiểm tra, kiểm soát việc kê khai và nộp thuế GTGT của các Doanh nghiệp là một công tác quan trọng trong quá trình thực hiện quản lý Nhà nước về kinh tế, trong đó không thể không nói tới vai trò của kiểm toán Báo cáo tài chính: Hỗ trợ các cơ quan thuế thông qua việc khẳng định tính trung thực và hợp lý của các khoản thuế phải nộp. Ba là, về bản chất thuế GTGT mang tính trung lập về mặt kinh tế. Xét trong nội bộ nền kinh tế, thuế GTGT đánh vào khâu tiêu dùng cuối cùng, không đánh vào sản xuất. Các doanh nghiệp sản xuất chỉ là khâu trung gian, thu thuế hộ Nhà nước, rồi nộp vào Kho bạc Nhà nước. Chính vì thế mà thuế GTGT khắc phục được nhược điểm “ thuế đánh trùng lên thuế ” của Thuế Doanh thu, tạo nên mặt bằng cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp cùng ngành nghề với nhau, từ đó đã thúc đẩy các doanh nghiệp tích cực tổ chức cơ cấu bộ máy quản lý và dây chuyền công nghệ, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. Chính vì vậy mà thuế GTGT cũng đã góp phần làm lành mạnh hoá môi trường hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, tạo sự công bằng, bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách nhà nước. Đối với từng doanh nghiệp, trên bảng cân đối kế toán, thuế GTGT được phản ánh qua hai tài khoản: TK133 “Thuế GTGT được khấu trừ” và TK 3331 “Thuế GTGT đầu ra”, được phản ánh như các khoản công nợ phải thu và phải trả do vậy tính trên tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp, thuế GTGT cũng được coi là một khoản mục chứa đựng nhiều khả năng gian lận và sai sót và do đó rủi ro kiểm toán đối với khoản mục thuế GTGT cũng cao hơn so với các khoản mục khác. Vì vậy, khi thực hiện kiểm toán khoản mục thuế GTGT, các kiểm toán viên không những phải hiểu biết sâu sắc về đặc điểm tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, các mức thuế suất áp dụng đối với từng loại hàng hoá mà còn phải liên tục cập nhập các thông tin liên quan đến chế độ, các chính sách thuế mới. 2. Mục tiêu kiểm toán thuế GTGT Thuế GTGT là một khoản mục trên Báo cáo tài chính của doanh nghiệp nên cũng như các khoản mục khác, khi kiểm toán thuế GTGT các kiểm toán viên cũng cần thực hiện các thủ tục kiểm toán nhằm thoả mãn mục tiêu chung và các mục tiêu đặc thù của khoản mục. Hệ thống mục tiêu kiểm toán khi kiểm toán thuế GTGT được thể hiện qua bảng sau: Cơ sở dẫn liệu Mục tiêu đối với nghiệp vụ Sự hiện hữu (phát sinh) Tất cả các nghiệp vụ liên quan đến thuế GTGT được ghi sổ trong kỳ trên thực tế có phát sinh và đều có chứng từ minh chứng kèm theo. Tính trọn vẹn Mọi nghiệp vụ phát sinh liên quan đến thuế GTGT đều được phản ánh đầy đủ trên sổ sách, báo cáo kế toán. Quyền và nghĩa vụ Doanh nghiệp có quyền được khấu trừ đối với thuế GTGT được khấu trừ và có nghĩa vụ với thuế GTGT còn phải nộp Ngân sách nhà nước. Đo lường và tính giá Thuế GTGT phải nộp và đã nộp phải được phản ánh theo đúng giá trị thực và phù hợp với các chứng từ gốc đi kèm. Số liệu trên tài khoản thuế GTGT phải được tính toán một cách chính xác và có sự phù hợp giữa sổ cái, sổ chi tiết, tờ khai và Báo cáo tài chính. Đảm bảo rằng các bản kê khai được lập chính xác, đặc biệt về thuế suất và căn cứ tính thuế. Trình bày và khai báo Các nghiệp vụ liên quan đến thuế GTGT phải được phân loại và xác định đúng đắn trên hệ thống Báo cáo tài chính. Mục tiêu kiểm toán chung đối với khoản mục thuế GTGT là đánh giá tính hợp lý chung của số tiền phản ánh số thuế GTGT phải nộp của doanh nghiệp cũng như số tiền ghi trên từng khoản mục thuế GTGT được khấu trừ và thuế GTGT đầu ra trên cơ sở cam kết của nhà quản lý và những thông tin thu được qua kiểm tra chi tiết ở khách hàng. 3. Quy trình kiểm toán thuế GTGT Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc kiểm toán cũng như để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm căn cứ cho kết luận của kiểm toán viên về tính trung thực và hợp lý cuả số liệu trên Báo cáo tài chính, cuộc kiểm toán thường được tiến hành theo quy trình gồm ba giai đoạn là: lập kế hoạch và thiết kế các phương pháp kiểm toán, thực hiện kế hoạch kiểm toán, hoàn thành cuộc kiểm toán và phát hành báo cáo kiểm toán. 3.1. Lập kế hoạch kiểm toán Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà các kiểm toán viên cần thực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra các điều kiện pháp lý cũng như các điều kiện cần thiết khác cho kiểm toán. Việc lập kế hoạch kiểm toán đã được quy định rõ trong các Chuẩn mực Kiểm toán hiện hành , Chuẩn mực Kiểm toán thứ tư trong 10 Chuẩn mực Kiểm toán được thừa nhận rộng rãi (GAAS) đòi hỏi “ công tác kiểm toán phải được lập kế hoạch đầy đủ và các trợ lý, nếu có, phải được giám sát đúng đắn”. Đoạn hai trong Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300 cũng nêu rõ kiểm toán viên và Công ty kiểm toán cần lập kế hoạch kiểm toán để có thể đảm bảo được rằng cuộc kiểm toán đã được tiến hành một cách có hiệu quả. Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên của một cuộc kiểm toán có vai trò quan trọng, chi phối tới chất lượng và hiệu quả chung của toàn bộ cuộc kiểm toán, thể hiện ở một số điểm sau: Kế hoạch kiểm toán giúp kiểm toán viên thu thập được các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm cơ sở để đưa ra các ý kiến xác đáng về các Báo cáo tài chính, từ đó giúp các kiểm toán viên hạn chế những sai sót, giảm thiểu trách nhiệm pháp lý, nâng cao hiệu quả công việc và giữ vững được uy tín nghề nghiệp đối với khách hàng. Kế hoạch kiểm toán giúp các kiểm toán viên phối hợp hiệu quả với nhau cũng như phối hợp hiệu quả với các bộ phận có liên quan như kiểm toán nội bộ, các chuyên gia bên ngoài… Đồng thời qua sự phối hợp hiệu quả đó, kiểm toán viên có thể tiến hành cuộc kiểm toán theo đúng chương trình đã lập với các chi phí ở mức hợp lý, tăng cường sức mạnh cạnh tranh cho Công ty kiểm toán và giữ uy tín với khách hàng trong mối quan hệ làm ăn lâu dài. Kế hoạch kiểm toán thích hợp là căn cứ để Công ty kiểm toán tránh xảy ra những bất đồng với khách hàng. Trên cơ sở kế hoạch kiểm toán đã lập, kiểm toán viên thống nhất với các khách hàng về nội dung công việc sẽ thực hiện, thời gian tiến hành kiểm toán cũng như là trách nhiệm của mỗi bên. Ngoài ra, căn cứ vào kế hoạch kiểm toán đã được lập, kiểm toán viên có thể kiểm soát và đánh giá chất lượng công việc kiểm toán đã và đang thực hiện, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng của cuộc kiểm toán, từ đó càng thắt chặt hơn mối quan hệ giữa Công ty kiểm toán với khách hàng. Lập kế hoạch kiểm toán bao gồm lập kế hoạch chiến lược, lập kế hoạch tổng thể và lập kế hoạch chi tiết. Lập kế hoạch chiến lược là công việc cần làm khi thực hiện cuộc kiểm toán đối với những khách hàng lớn, hợp đồng kiểm toán được thực hiện trong nhiều năm. 6 bước công việc như sau: Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán. Thu thập thông tin cơ sở. - Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng và thực hiện các thủ tục phân tích. - Đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán. -Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát. - Lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và soạn thảo chương trình kiểm toán. Bước thứ nhất của giai đoạn lập kế hoạch là chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán. Trong bước này Công ty kiểm toán sẽ tiến hành các công việc cần thiết để chuẩn bị lập kế hoạch kiểm toán bao gồm: đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán, nhận diện các lý do kiểm toán, lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán và ký hợp đồng kiểm toán. Sau khi ký hợp đồng kiểm toán, kiểm toán viên cần thu thập thông tin cơ sở và thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng, thực hiện các thủ tục phân tích để đánh giá tính trọng yếu và rủi ro nhằm đưa ra một kế hoạch kiểm toán phù hợp. Trên cơ sở ước lượng ban đầu về tính trọng yếu, kiểm toán viên phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục, trong đó có khoản mục thuế GTGT. Sự phân bổ này được xác định cụ thể và chính xác hơn sau quá trình đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và là cơ sở để thiết kế chương trình kiểm toán cho các chu trình, khoản mục. Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát là một trong những bước công việc quan trọng không chỉ để xác minh tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ mà còn làm cơ sở cho việc xác định phạm vi thực hiện thử nghiệm kiểm soát cần thiết và các thử nghiệm cơ bản trên số dư và nghiệp vụ trong quá trình tiến hành kiểm toán. 3.2. Thực hiện kế hoạch kiểm toán Thực hiện kế hoạch kiểm toán là quá trình sử dụng các phương pháp kỹ thuật kiểm toán thích ứng với đối tượng kiểm toán cụ thể để thu thập bằng chứng kiểm toán. Các phương pháp kỹ thuật kiểm toán được thể hiện qua cách thức thu thập và những bước công việc trong triển khai thực hiện các trắc nghiệm cụ thể, còn được gọi là các thủ tục kiểm toán. Trong giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán, các kiểm toán viên sẽ thực hiện hai loại thủ tục chính đó là: thủ tục phân tích và thủ tục kiểm tra chi tiết. 3.1. Thực hiện thủ tục phân tích Thực hiện thủ tục phân tích cũng là một bước công việc hết sức quan trọng trong quá trình kiểm toán Báo cáo tài chính, thủ tục phân tích trong các giai đoạn công việc một cách thích hợp sẽ giúp kiểm toán viên có được một cuộc kiểm toán đạt hiệu quả cao, giảm chi phí cho cuộc kiểm toán. Thông thường, thực hiện thủ tục phân tích phải trải qua những giai đoạn chủ yếu sau: Bước 1: Phát triển mô hình: kết hợp các biến tài chính và hoạt động. Bước 2: Xem xét tính độc lập và tin cậy của dữ liệu tài chính và nghiệp vụ. Bước 3: Ước tính giá trị và so sánh với giá trị ghi sổ. Bước 4: Phân tích nguyên nhân chênh lệch. Thủ tục phân tích đối với khoản mục thuế GTGT có thể được thực hiện với thuế GTGT đầu ra, thuế GTGT đầu vào hay số thuế GTGT còn phải nộp cuối kỳ. Ví dụ khi thực hiện thủ tục phân tích đối với thuế GTGT đầu ra, do thuế GTGT đầu ra được xác định dựa trên doanh thu bán hàng, vì vậy, kiểm toán viên cần sử dụng biến số là kết quả kiểm toán doanh thu nhân với thuế suất thuế GTGT để so sánh với giá trị ghi sổ, từ đó tìm ra nguyên nhân chênh lệch… 3.2. Chương trình kiểm toán chi tiết thuế GTGT Chương trình kiểm toán của hầu hết các cuộc kiểm toán được thiết kế gồm 3 phần: trắc nghiệm công việc, trắc nghiệm phân tích và trắc nghiệm trực tiếp các số dư. Mỗi phần công việc trên đều bao gồm 4 nội dung: xác định thủ tục kiểm toán, quy mô mẫu chọn, khoản mục được chọn và thời gian thực hiện. Chương trình kiểm toán được thiết kế trong từng cuộc kiểm toán cụ thể tuỳ thuộc vào khách hàng được kiểm toán. Tuy nhiên, trên thực tế, tại các Công ty kiểm toán, chương trình kiểm toán được thiết kế thường không phân chia rõ ràng thành 3 phần : trắc nghiệm công việc, trắc nghiệm phân tích và trắc nghiệm trực tiếp số dư mà các phần này được phối hợp, sắp xếp thành một chương trình kiểm toán mẫu áp dụng cho các khoản mục. Để đảm bảo hoàn thành tốt công việc kiểm toán thuế GTGT, có đủ cơ sở để kết luận về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của khoản mục thuế GTGT thì chương trình kiểm toán cần phải đảm bảo một số điểm sau: Xem xét, kiểm tra số dư đầu kỳ của thuế GTGT, cần thực hiện một số công việc cụ thể sau: - Đối chiếu số dư cuối kỳ phản ánh trên sổ sách kế toán kỳ trước với số dư cuối kỳ phản ánh trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của kỳ trước gồm Phần 2 “ Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước” và Phần 3 “ Thuế GTGT được khấu trừ, thuế GTGT được hoàn lại, thuế GTGT được giảm, thuế GTGT hàng bán nội địa”. - Đối chiếu số dư cuối kỳ phản ánh trên sổ sách kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kỳ trước với số dư đầu kỳ phản ánh trên sổ sách, Báo cáo kết quả kinh doanh kỳ này. Trường hợp đã có số liệu kiểm tra quyết toán thuế kỳ trước của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì phải điều chỉnh số liệu ( số dư cuối kỳ trước, số dư đầu kỳ ) theo số liệu trên Biên bản kiểm tra quyết toán thuế. Xem xét kiểm tra khoản thuế GTGT phải nộp phát sinh trong kỳ bao gồm một số công việc cần thiết sau: - Lập bảng tổng hợp số phát sinh thuế GTGT phải nộp trong năm, đối chiếu với các năm trước nếu thấy có biến động đột xuất cần phải đi sâu làm rõ nguyên nhân. - Thực hiện việc tính toán khoản thuế GTGT phảI nộp trong kỳ phát sinh sau đó đối chiếu với số liệu mà đơn vị đã tính, nếu phát hiện sai lệch thì đI sâu làm rõ nguyên nhân và thống nhất số liệu với doanh nghiệp. - Nếu có ý kiến tranh chấp giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý Nhà nước thì phải nghiên cứu kỹ, nắm vững các quy định của Nhà nước, ý kiến của doanh nghiệp, của cơ quan Nhà nước để làm rõ đúng, sai và có ý kiến tư vấn cho doanh nghiệp và cơ quan Nhà nước trực tiếp quản lý về biện pháp giải quyết. Xem xét, kiểm tra số đã nộp Ngân sách trong kỳ báo cáo, để đảm bảo yêu cầu kiểm toán viên cần thực hiện một số công việc sau: - Lập bảng kê chi tiết thuế GTGT đã nộp trong kỳ báo cáo. - Thực hiện các thủ tục kiểm tra chi tiết sổ sách, chứng từ nộp tiền ( uỷ nhiệm chi, sec, phiếu tiền mặt…). - Đối chiếu việc ghi chép sổ sách kế toán với chứng từ kế toán nhằm xác định việc ghi chép có đầy đủ, chính xác và có chứng từ chứng minh không. - Đối chiếu số liệu giữa sổ sách kế toán, số liệu đã được kiểm tra với số liệu trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Xem xét, kiểm tra số còn phải nộp tại thời điểm cuối kỳ. Nếu việc kiểm toán xác định số thuế GTGT phải nộp phát sinh trong kỳ, số đã nộp thực hiện trong kỳ đã đảm bảo được yêu cầu đúng đắn, chính xác thì công việc còn lại cần làm là chỉ kiểm tra việc tính toán cân đối giữa số dư đầu kỳ, số phát sinh trong kỳ để xác định được đúng số thuế GTGT còn phải nộp tại thời điểm cuối kỳ. 3.3. Kết thúc kiểm toán Giai đoạn kết thúc kiểm toán bao gồm các công việc: lập bảng tổng hợp bút toán điều chỉnh, tổng hợp các vấn đề cần đưa ra trong Thư quản lý, phát hành Báo cáo kiểm toán. Báo cáo kiểm toán là tài liệu trình bày các kết luận sau cùng về thông tin tài chính được kiểm toán, thể hiện ngắn gọn và đầy đủ những công việc mà các nhân viên kiểm toán đã tiến hành. Báo cáo kiểm toán là tài liệu quan trọng đính kèm với Báo cáo tài chính của khách hàng. Phần II. Thực trạng kiểm toán thuế GTGT trong kiểm toán Báo cáo tài chính tại Công ty AASC I. Giới thiệu chung về Công ty AASC Quá trình hình thành và phát triển Công ty dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán AASC Công ty dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán (AASC) là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính, hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán và tư vấn tài chính kế toán. Công ty được thành lập ngày 13/5/1991 theo Quyết định số 164 TC/QĐ-TCCB của Bộ trưởng Bộ Tài chính có trụ sở chính đặt tại số 1 Lê Phụng Hiểu, Hà Nội. AASC là công ty kiểm toán đầu tiên của Việt Nam được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động và Thủ tướng chính phủ tặng bằng khen về thành tích hoạt động kiểm toán và tư vấn tài chính kế toán sau 10 năm hoạt động. Khi mới được thành lập, Công ty dịch vụ kế toán – ASC ( tên ban đầu của Công ty) chỉ hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ kế toán và tư vấn tài chính. Sau hai năm hoạt động do nhu cầu của thị trường cũng như sự phát triển của dịch vụ kiểm toán nên ngày 6 tháng 9 năm 1993, Thủ tướng Chính phủ đã uỷ nhiệm cho Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước ra Công văn số 1798/UB/KHH bổ sung thêm nhiệm vụ và đổi tên cho Công ty. Ngày 14 tháng 9 năm 1993, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ký Quyết định số 639/TC- TCCB đổi tên Công ty thành: Công ty dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán với tên giao dịch quốc tế: Acounting and Financial Consultancy Service Company viết tắt là AASC, đồng thời giao bổ sung thêm nhiệm vụ kiểm toán cho Công ty. Để hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Công ty, ngày 23 tháng 4 năm 1998, Bộ Tài Chính đã ban hành “ Điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán trực thuộc Bộ Tài Chính”, kèm theo Quyết định số 556/1998QĐ-BTC. Quyết định này quy định về quyền hạn, nghĩa vụ, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức cơ cấu bộ máy quản lý trong hoạt động của Công ty. Là một doanh nghiệp Nhà nước hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán độc lập, Công ty dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao đồng thời không ngừng nâng cao tính độc lập, chủ động trong việc duy trì và nâng cao chất lượng các dịch vụ cung cấp, tạo thêm các dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu của xã hội và mở rộng thị trường hoạt động của mình. Bắt đầu từ cơ sở vật chất sơ sài của những ngày đầu thành lập: chỉ có 8 người với số vốn khoảng 200 triệu, đến nay Công ty AASC đã có một cơ sở khá hiện đại với đội ngũ gần 300 nhân viên kiểm toán (trong đó có 79 người đạt chứng chỉ Kiểm toán viên cấp Nhà nước) có đủ trình độ và luôn không ngừng trau dồi kiến thức để đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao trong công việc. Ngoài trụ sở chính của Công ty tại số 1 Lê Phụng Hiểu, Hà Nội, Công ty AASC đã mở rộng thêm 5 chi nhánh nhằm đáp ứng nhu cầu kiểm toán ngày càng tăng. Các chi nhánh của Công ty bao gồm: Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh. Chi nhánh Thanh Hoá. Chi nhánh Vũng Tàu. Chi nhánh Quảng Ninh. Chi nhánh Hải Phòng. Cùng với việc mở rộng thị trường hoạt động Công ty cũng không ngừng vươn lên nhằm cung cấp những dịch vụ chất lượng và đa dạng. Công ty AASC đã và đang cung cấp các dịch vụ: Kiểm toán. Kế toán. Công nghệ thông tin. Tư vấn tài chính, quản trị kinh doanh. Tư vấn thuế. Đào tạo và hỗ trợ tuyển dụng. Giám định tài chính, kế toán. Trong số các hoạt động này, kiểm toán là một trong những hoạt động truyền thống và thường xuyên tạo ra doanh thu chủ yếu cho Công ty. Khách hàng trong lĩnh vực này rất đa dạng, bao gồm các Tổng công ty, các doanh nghiệp Nhà nước, công ty TNHH, các Ngân hàng, các Dự án do các tổ chức tín dụng quốc tế tài trợ và các tổ chức kinh tế xã hội… Hiện nay công ty đang cung cấp dịch vụ kiểm toán cho gần sáu trăm khách hàng thường xuyên. Dịch vụ kiểm toán cung cấp cho một số khách hàng lớn bao gồm: Kiểm toán Báo cáo tài chính doanh nghiệp đối với một số khách hàng lớn thường xuyên như: Bảo hiểm y tế Việt Nam, Tổng Công ty Xi măng Việt Nam, Tổng Công ty Than Việt Nam… Kiểm toán Báo cáo tài chính tổ chức tín dụng: ngoài các Ngân hàng lớn do các Công ty kiểm toán quốc tế thực hiện, hầu hết các ngân hàng thương mại cổ phần đều do Công ty thực hiện như: Ngân hàng TMCP Quân đội, Ngân hàng TMCP Bắc á, Ngân hàng TMCP Đông Nam á, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam,… Kiểm toán Báo cáo tài chính dự án: Công ty được bổ nhiệm làm kiểm toán cho các Dự án do Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu á (ADB) tài trợ như: Dự án nâng cấp và khôi phục Quốc lộ 1(WB), Dự án cải tạo cấp nước và vệ sinh các thành phố, thị xã (ADB),… Kiểm toán Báo cáo tài chính công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán: Công ty đã thực hiện kiểm toán cho 12 Công ty trong tổng số 20 Công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán. Kiểm toán Báo cáo quyết toán vốn đầu tư các công trình XDCB hoàn thành: một số dự án lớn mà Công ty đã thực hiện kiểm toán như: Dự án Mỏ Apatit Lào Cai, Dự án Nhà máy thuỷ điện Sông Hinh… Kiểm toán Báo cáo quyết toán hàng nhập khẩu theo tỷ lệ nội địa hoá: Công ty đã thực hiện kiểm toán cho hơn 20 doanh nghiệp trong tổng số trên 50 doanh nghiệp hoạt động có liên quan đến hàng nhập khẩu theo tỷ lệ nội địa hoá. Cơ cấu tổ chức bộ máy Theo Quyết định 556/1998/QĐ-BTC, bộ máy tổ chức của Công ty dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán gồm: Ban Giám đốc. Các phòng ban chức năng ( làm nhiệm vụ hành chính tổ chức, tài vụ, kế toán quản trị nội bộ). Các phòng nghiệp vụ. Các chi nhánh. Công ty gồm năm chi nhánh hạch toán độc lập. Hoạt động của từng chi nhánh được theo dõi tại từng đơn vị và tổng hợp tại Công ty. Công ty có thể giao quyền cho các chi nhánh và điều hoà các nguồn lực trong nội bộ Công ty khi cần thiết phù hợp với kế hoạch phát triển chung của toàn Công ty. Ban Giám đốc Công ty gồm có: Giám đốc Công ty: Ông Ngô Đức Đoàn. 3 phó giám đốc: + Ông Tạ Quang Tạo. + Ông Lê Đăng Khoa. + Ông Nguyễn Thanh Tùng. Giám đốc Công ty: do Bộ trưởng Bộ Tài chính bổ nhiễm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật. Giám đốc là người đại diện toàn quyền của Công ty; chịu trách nhiệm trước Bộ Tài chính và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Công ty. Giám đốc Công ty đồng thời là Giám đốc chi nhánh tại Hà Nội. Phó giám đốc Tạ Quang Tạo: kiêm Giám đốc chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời phụ trách các chi nhánh phía Nam. Phó giám đốc Lê Đăng Khoa: phụ trách hoạt động kiểm toán Xây dựng cơ bản, chịu trách nhiệm trước Giám đốc Công ty và trước pháp luật về nhiệm vụ được giao. Phó giám đốc Nguyễn Thanh Tùng: phụ trách hoạt động kiểm toán Báo cáo tài chính, chịu trách nhiệm trước Giám đốc Công ty và trước pháp luật về nhiệm vụ được giao. Các Giám đốc chi nhánh được Giám đốc Công ty uỷ quyền điều hành toàn bộ hoạt động tại đơn vị mình, trực tiếp ký kết các hợp đồng với khách hàng. Các phòng chức năng và nghiệp vụ Hiện nay Công ty AASC có 4 phòng chức năng gồm: Phòng Tài chính kế toán. Phòng Hành chính tổng hợp. Phòng Công nghệ thông tin. Phòng Kiểm soát chất lượng. Công ty có 5 phòng nghiệp vụ, đó là các phòng: Phòng Kiểm toán các ngành thương mại dịch vụ. Phòng Kiểm toán các ngành sản xuất vật chất. Phòng Tư vấn và kiểm toán. Phòng Kiểm toán xây dựng cơ bản. Phòng Kiểm toán các dự án. Ngoài ra ở Công ty còn có Ban đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ với chức năng đào tạo và bồi dưỡng nhằm nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ nhân viên, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp. Sơ đồ tổ chức Công ty AASC như sau: Tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty Khi mới thành lập Công ty chỉ có số vốn ít ỏi 229.107.173 đồng ( được ghi trong Giấy phép đăng ký kinh doanh số 109157 do Trọng tài kinh tế Hà Nội cấp ngày 24/9/1993), qua hơn 10 năm hoạt động đến nay nguồn vốn kinh doanh đã tăng lên khoảng 10 lần so với số vốn ban đầu. Doanh thu của Công ty tăng từ 820 triệu năm 1992 lên 18,7 tỷ trong năm 2001 và 21 tỷ trong năm 2002. Năm 1992 Công ty mới đóng góp vào Ngân sách 245 triệu thì năm 2001 con số đó đã tăng lên 2,7 tỷ và năm 2002 Công ty đã nộp Ngân sách nhà nước 3,2 tỷ. Thu nhập bình quân của cán bộ nhân viên tăng từ 2,1 triệu đồng/tháng năm 2001 lên 2,3 triệu đồng/tháng năm 2002. Bảng số 1: Kết quả hoạt động kinh doanh trong hai năm 2001 và 2002 Đơn vị tính: Tỷ đồng Chỉ tiêu Thực hiện năm 2001 Thực hiện năm 2002 Doanh thu. Trong đó DTDV Kiểm toán. 18,7 16,8 21 17,4 Chi phí. 15,7 18,9 Lợi nhuận. 2,8 2,1 Nộp NSNN. 2,7 3,2 Thu nhập bình quân đầu người ( triệu đồng/ tháng). 2,1 2,3 II. Quy trình kiểm toán thuế GTGT trong kiểm toán Báo cáo tài chính tại Công ty AASC Kiểm toán thuế GTGT là một phần của quá trình kiểm toán Báo cáo tài chính do đó quy trình kiểm toán thuế GTGT do Công ty AASC thực hiện cũng được tiến hành theo trình tự của cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính bình thường, qua 3 giai đoạn: lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán, thực hiện kiểm toán, hoàn thành kiểm toán và phát hành báo cáo kiểm toán. Lập kế hoạch kiểm toán Việc lập kế hoạch kiểm toán tại Công ty AASC thường do các kiểm toán viên thực hiện hoặc có thể do các trợ lý kiểm toán có kinh nghiệm lập sau đó được các kiểm toán viên kiểm tra và bổ sung nếu cần thiết. Với những khách hàng lớn và thường xuyên thì việc lập kế hoạch luôn được coi trọng và được các kiểm toán viên thực hiện một cách đầy đủ và chu đáo theo đúng Chuẩn mực kiểm toán số 300 và quy định của Công ty về việc lập kế hoạch kiểm toán. Kế hoạch kiểm toán được lập gồm: kế hoạch chiến lược và kế hoạch chi tiết. Lập kế hoạch chiến lược bao gồm những công việc sau: Mô tả đặc điểm và tình hình kinh doanh của khách hàng như: lĩnh vực hoạt động, loại hình doanh nghiệp, công nghệ sản xuất sản phẩm, tổ chức bộ máy quản lý, các văn bản pháp lý có liên quan đến hoạt động kinh doanh mà khách hàng phải tuân thủ. Đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát ảnh hưởng đến Báo cáo tài chính. Mục tiêu kiểm toán trọng tâm và xác định phương pháp tiếp cận kiểm toán. Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ. Tìm hiểu chế độ kế toán đang được khách hàng áp dụng trong đó có các Chuẩn mực kế toán áp dụng, chính sách tài chính áp dụng trong việc lập Báo cáo tài chính... Xác định nhu cầu hợp tác với các chuyên gia khác để thực hiện kiểm toán. Dự kiến nhân lực cho cuộc kiểm toán: chủ nhiệm kiểm toán, trưởng nhóm và các thành viên tham gia. Kế hoạch chi tiết được kiểm toán viên chính lập gồm có: Thông tin về hoạt động của khách hàng. Khách hàng: năm đầu, thường xuyên hay năm thứ mấy. Tên công ty khách hàng, trụ sở chính, các chi nhánh (nếu có), điện thoại, fax. Giấy phép hoạt động ( quyết định thành lập, đăng ký kinh doanh, giấy phép đầu tư…). Lĩnh vực hoạt động, địa bàn hoạt động, vốn đầu tư, thời gian hoạt động. Hội đồng quản trị, Ban giám đốc: số thành viên, danh sách các thành viên. Kế toán trưởng, nhân sự chủ chốt của bộ phận kế toán. Tóm tắt quy chế kiểm soát nội bộ. Năng lực quản lý của Ban giám đốc. Hiểu biết chung về nền kinh tế có ảnh hưởng đến hoạt động của khách hàng. Đặc điểm kinh doanh và những biến đổi trong công nghệ sản xuất kinh doanh, thay đổi mở rộng hay thu hẹp thị trường và môi trường cạnh tranh, thay đổi nhà cung cấp hay hình thức bán hàng… Hiểu biết về hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ. Căn cứ vào kết quả phân tích soát xét sơ bộ Báo cáo tài chính và tìm hiểu hoạt động kinh doanh của khách hàng để xem xét mức độ ảnh hưởng tới việc lập Báo cáo tài chính. Các chính sách kế toán đang áp dụng và những thay đổi trong các chính sách đó. Các thông tin, các quy định và chế độ phải tuân thủ. Các sự kiện, các giao dịch và các nghiệp vụ có ảnh hưởng quan trọng đến Báo cáo tài chính cũng như các ảnh hưởng của các chính sách mới về kế toán và kiểm toán. Đội ngũ nhân viên kế toán. Yêu cầu về Báo cáo cùng các số dư tài khoản quan trọng. Kết luận và đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ là đáng tin cậy và có hiệu quả ở các mức độ: cao, trung bình hay thấp. Đánh giá rủi ro và xác định mức độ trọng yếu. Tại AASC, mức trọng yếu trong kiểm toán BCTC được xây dựng dựa trên cơ sở tham khảo mức trọng yếu mà một số Công ty nước ngoài áp dụng, vận dụng vào điều kiện thực tế ở Việt Nam từ đó có một mức trọng yếu tương đối áp dụng cho khách hàng. Cụ thể như sau: Bảng số 2: Bảng tính mức độ trọng yếu. Khoản mục Tỷ lệ % Số tiền Ước tính mức trọng yếu Thấp nhất Cao nhất Tối thiểu Tối đa 1 2 3 4 5 = 2 * 4 6 = 3 * 4 Lợi nhuận trước thuế 4 8 Doanh thu 0,4 0,8 Tài sản LĐ và ĐTNH 1,5 2 Nợ ngắn hạn 1,5 2 Tổng tài sản 0,8 1 Phân bổ mức trọng yếu cho các khoản mục. Dựa vào mức trọng yếu đã ước lượng ở trên, kiểm toán viên sẽ phân bổ cho khoản mục, nhóm khoản mục với hệ số nhất định (có thể gọi là hệ số phân bổ) theo công thức sau: Mức trọng yếu phân bổ cho mỗi khoản mục = Mức trọng yếu đã ước lượng Tổng các tích Số dư khoản mục x Hệ số phân bổ x Số dư khoản mục được phân bổ Bảng phân bổ mức trọng yếu được lập với các chỉ tiêu hệ số phâ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc29664.doc
Tài liệu liên quan