Báo cáo Thực tập tại Bộ Kế hoạch đầu tư và Vụ Kinh tế Dịch Vụ

MỤC LỤC Lời mở đầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kế hoạch và đầu tư, bao gồm: tham mưu tổng hợp về chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội chung của cả nước, về cơ chế, chính sách quản lý kinh tế chung và một số lĩnh vực cụ thể, về đầu tư trong nước, ngoài nước, khu công nghiệp, khu chế xuất, về quản lý nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt là ODA), đấu thầu, doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh trong phạm vi cả

doc26 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 13/08/2013 | Lượt xem: 227 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Báo cáo Thực tập tại Bộ Kế hoạch đầu tư và Vụ Kinh tế Dịch Vụ, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật. Bộ Kế hoạch và Đầu tư gồm có 31 Vụ , Ban , Viện nghiên cứu .... là những cơ quan trực thuộc Bộ đảm nhiệm những vai trò , chức năng và nhiệm vụ do Bộ đề ra .Vụ Kinh tế Dịch vụ thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực kế hoạch phát triển thương mại và dịch vụ. Qua thời gian nghiên cứu và thực tập tại Vụ Kinh tế Dịch vụ , em đã học hỏi được nhiều kiến thức bổ ích . Sau đây là bài báo cáo tổng kết của em về Vụ Kinh tế Dịch vụ . Báo cáo tổng kết gồm 3 chương Chương 1 : Quá trình hình thành, phát triển và cơ cấu tổ chức của Bộ Kế hoạch đầu tư và Vụ Kinh tế Dịch Vụ Chương 2 : Báo cáo tổng kết công tác hoạt động năm 2008 của Vụ Kinh tế Dịch Vụ Chương 3 : Nhiệm vụ công tác năm 2009 của Vụ Kinh tế Dịch vụ Em xin chân thành cảm ơn ThS . Đỗ Thị Hương đã hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành bài báo cáo này. Chương 1: Quá trình hình thành, phát triển và cơ cấu tổ chức của Bộ Kế hoạch đầu tư và Vụ Kinh tế Dịch Vụ 1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Bộ Kế hoạch đầu tư 1.1.1. Tổng quát chung vê Bộ Kế Hoạch Đầu tư Từ trước năm 2000, ngày 8 tháng 10 năm 1955, ngày Hội đồng Chính phủ họp quyết định thành lập ủy ban Kế hoạch Quốc gia được xác định là ngày thành lập ủy ban Kế hoạch Nhà nước, nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Ngược trở lại lịch sử, ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới được thành lập, ngày 31 tháng 12 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra Sắc lệnh số 78-SL thành lập ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến thiết nhằm nghiên cứu, soạn thảo và trình Chính phủ một kế hoạch kiến thiết quốc gia về các ngành kinh tế, tài chính, xã hội và văn hóa. ủy ban gồm các ủy viên là tất cả các Bộ trưởng, Thứ trưởng, có các Tiểu ban chuyên môn, được đặt dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Chính phủ. Vì vậy, trong buổi lễ ngành Kế hoạch và Đầu tư đón nhận Huân chương Sao Vàng được tổ chức tại Hội trường Ba Đình lịch sử ngày 4 tháng 11 năm 2000, Thủ tướng Phan Văn Khải đã khẳng định lấy ngày 31 tháng 12 năm 1945 là ngày truyền thống của ngành Kế hoạch và Đầu tư. Kể từ đây ngành Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Kế hoạch và Đầu tư coi ngày 31 tháng 12 hằng năm là ngày Lễ chính thức của mình. Theo dòng lịch sử, chúng ta có thể điểm lại các mốc quan trọng trong quá trình xây dựng và trưởng thành của Ngành Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Ngày 14 tháng 5 năm 1950, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra Sắc lệnh số 68-SL thành lập Ban Kinh tế Chính phủ (thay cho ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến thiết). Ban Kinh tế Chính phủ có nhiệm vụ nghiên cứu, soạn thảo và trình Chính phủ những đề án về chính sách, chương trình, kế hoạch kinh tế hoặc những vấn đề quan trọng khác. Trong phiên họp ngày 8 tháng 10 năm 1955, Hội đồng Chính phủ đã quyết định thành lập ủy ban Kế hoạch Quốc gia và ngày 14 tháng 10 năm 1955, Thủ tướng Chính phủ đã ra Thông tư số 603-TTg thông báo quyết định này. ủy ban Kế hoạch Quốc gia và các Bộ phận kế hoạch của các Bộ ở Trung ương, Ban kế hoạch ở các khu, tỉnh, huyện có nhiệm vụ xây dựng các dự án kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, và tiến hành thống kê kiểm tra việc thực hiện kế hoạch. Ngày 9-10-1961, Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị định số 158-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của ủy ban Kế hoạch Nhà nước, trong đó xác định rõ ủy ban Kế hoạch Nhà nước là cơ quan của Hội đồng Chính phủ có trách nhiệm xây dựng kế hoạch hàng năm và kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế và văn hóa quốc dân theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Cùng với thời gian, qua các thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Chính phủ đã có hàng loạt các Nghị định quy định và bổ sung chức năng cho ủy ban Kế hoạch Nhà nước (158/CP, 47/CP, 209/CP, 29/CP, 10/CP, 77/CP, 174/CP, 15/CP, 134/CP, 224/CP, 69/HĐBT, 66/HĐBT, 86/CP, v.v...). Ngày 27 tháng 11 năm 1986 Hội đồng Bộ trưởng có Nghị định 151/HĐBT giải thể ủy ban Phân vùng kinh tế Trung ương, giao công tác phân vùng kinh tế cho ủy ban Kế hoạch Nhà nước. Ngày 1 tháng 1 năm 1993, ủy ban Kế hoạch Nhà nước tiếp nhận Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế TW, đảm nhận nhiệm vụ xây dựng chính sách, luật pháp kinh tế phục vụ công cuộc đổi mới. Ngày 1 tháng 11 năm 1995, Chính phủ đã ra Nghị định số 75/CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trên cơ sở hợp nhất ủy ban Kế hoạch Nhà nước và ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư. Ngày 17 tháng 8 năm 2000 Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 99/2000/TTg giao Ban Quản lý các khu công nghiệp Việt Nam về Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan của Chính phủ có chức năng tham mưu tổng hợp về xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, về cơ chế, chính sách quản lý kinh tế, quản lý nhà nước về lĩnh vực đầu tư trong và ngoài nước; giúp Chính phủ phối hợp điều hành thực hiện các mục tiêu và cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân. Theo Nghị định này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có những nhiệm vụ chủ yếu sau: 1. Tổ chức nghiên cứu xây dựng chiến lược và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo ngành, vùng lãnh thổ. 2. Trình Chính phủ các dự án Luật, Pháp lệnh, các văn bản pháp quy có liên quan đến cơ chế chính sách về quản lý kinh tế, khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước nhằm thực hiện cơ cấu kinh tế phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội. 3. Tổng hợp các nguồn lực của cả nước kể các nguồn từ nước ngoài để xây dựng trình Chính phủ các kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn về phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và các cân đói chủ yếu của nền kinh tế quốc dân. 4. Hướng dẫn các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân các Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng và cân đối tổng hợp kế hoạch. 5. Hướng dẫn, kiểm tra các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương trong việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. 6. Làm Chủ tịch các Hội đồng cấp Nhà nước: Xét duyệt định mức kinh tế - kỹ thuật, xét thầu quốc gia, thẩm định thành lập doanh nghiệp nhà nước; điều phối quản lý và sử dụng nguồn ODA; cấp giấy phép đầu tư cho các dự án hợp tác, liên doanh. 7. Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định việc sử dụng quỹ dự trữ Nhà nước. 8. Tổ chức nghiên cứu dự báo, thu thập xử lý các thông tin về phát triển kinh tế - xã hội. 9. Tổ chức đào tạo lại và bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ công chức, viên chức trực thuộc Bộ quản lý. 10. Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chiến lược phát triển, chính sách kinh tế, quy hoạch và kế hoạch hóa phát triển. Bộ máy tổ chức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư theo Nghị định 75/CP gồm 22 đơn vị giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước và 6 tổ chức sự nghiệp trực thuộc. Từ chỗ chỉ có 55 người khi mới thành lập năm 1955, năm 1988 biên chế của Bộ đạt số lượng cao nhất 930 người; đến nay Bộ Kế hoạch và Đầu tư có 760 cán bộ công nhân viên, trong đó 420 cán bộ đang tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng và điều hành kế hoạch. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu của Bộ cũng không ngừng lớn mạnh, hiện nay có 2 giáo sư, 7 phó giáo sư, 126 tiến sĩ, 42 thạc sĩ, 479 người có trình độ đại học. Chủ nhiệm đầu tiên của ủy ban Kế hoạch Quốc gia - tiền thân của ủy ban Kế hoạch Nhà nước, sau này là Bộ Kế hoạch và Đầu tư - là cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Các đồng chí Chủ nhiệm ủy ban Kế hoạch Nhà nước và Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư từ năm 1955 đến năm 2002: 1. Đồng chí Phạm Văn Đồng 2. Đồng chí Nguyễn Duy Trinh 3. Đồng chí Nguyễn Côn 4. Đồng chí Lê Thanh Nghị 5. Đồng chí Nguyễn Lam 6. Đồng chí Võ Văn Kiệt 7. Đồng chí Đậu Ngọc Xuân 8. Đồng chí Phan Văn Khải 9. Đồng chí Đỗ Quốc Sam 10. Đồng chí Trần Xuân Giá 11. Đồng chí Võ Hồng Phúc 1.1.2 Cơ cấu tổ chức của Bộ Kế Hoạch Đầu Tư Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001; Căn cứ Nghị định số số 178 / 2007 /NĐ - CP ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ; Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Điều 3 : Cơ cấu tổ chức 1. Vụ Tổng hợp kinh tế quốc dân. 2. Vụ Kinh tế địa phương và lãnh thổ. 3. Vụ Tài chính, tiền tệ. 4. Vụ Kinh tế công nghiệp. 5. Vụ Kinh tế nông nghiệp. 6. Vụ Kinh tế dịch vụ. 7. Vụ Kết cấu hạ tầng và đô thị. 8. Vụ Quản lý các khu kinh tế . 9. Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư. 10. Vụ Kinh tế đối ngoại 11. Vụ Lao động ,văn hóa , xã hội 12. Vụ Khoa học , giáo dục , tài nguyên và môi trường. 13. Vụ Quản lý quy hoạch 14. Vụ Quốc phòng , an ninh. 15. Vụ Hợp tác xã 16. Vụ Pháp chế 17. Vụ Tổ chức cán bộ; 18. Vụ Thi đua khen thưởng 19. Thanh tra Bộ 20. Văn phòng Bộ . 21. Cục Quản lý đấu thầu . 22. Cục phát triển doanh nghiệp 23. Cục đầu tư nước ngoài . 24. Tổng cục thống kê 25. Viện Chiến lược phát triển 26. Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung Ương 27. Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế – Xã hội quốc gia 28. Trung tâm tin học 29. Báo đầu tư 30. Tạp chí Kinh tế và Dự báo 31. Học viện Chính sách và Phát triển Tại Điều này , các tổ chức quy định từ khoản 1 đến khoản 24 là các tổ chức hành chính giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước ; các tổ chức quy định từ khoản 25 đến khoản 31 là các tổ chức sự nghiệp nhà nước phục vụ quản lý nhà nước trực thuộc Bộ Văn phòng Bộ, Thanh tra Bộ, Vụ Kinh tế đối ngoại, Vụ Tổng hợp kinh tế quốc dân, Vụ Kinh tế địa phương và lãnh thổ, Vu quản lý quy hoạch được tổ chức phòng Bộ trưởng Bộ Kê hoạch và Đâu tư trình Thủ tướng Chính phủ ban hành các quyết định quy định chức năng , nhiệm vụ , quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thông kê , Viện Chiến lược phát triển , Viện nghiên cứu quản lý tế Trung ương , trung tâm Thông tin – Dự báo kinh tế – Xã hội quốc gia và quyết định ban hành danh sách các tổ chức sự nghiệp khác hiện có trực thuộc Bộ 1.2. Cơ cấu tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của Vụ Kinh tế dịch vụ 1.2.1 Cơ cấu tổ chức của Vụ Kinh tế Dịch Vụ Căn cứ theo Điều 3 Quyết định số 598 / QĐ - BKH. Vụ Kinh tế dịch vụ có Vụ trưởng , Phó Vụ trưởng. Vụ làm việc theo chế độ chuyên viên. Theo như mô hình dưới đây CƠ CẤU TỔ CHỨC VỤ KINH TẾ DỊCH VỤ Vụ Trưởng Vụ Kinh Tế Dịch Vụ Phó Vụ Trưởng 1 Các chuyên viên Vụ Kinh tế Dịch vụ Phó Vụ trưởng 2 1.2.2 Chức năng và nhiệm vụ của Vụ Kinh tế Dịch vụ Vụ Thương mại Dịch vụ chính thức được đổi tên thành Vụ Kinh tế Dịch vụ theo Công báo số 617 / 28 – 11 – 2008 /VBQPPL / NĐ-CP / 1336 ,và Căn cứ Nghị định số 61/2003/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Thương mại và dịch vụ và Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Điều 1. Vụ Thương mại và dịch vụ thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực kế hoạch phát triển thương mại và dịch vụ. Điều 2. Vụ Thương mại và dịch vụ có các nhiệm vụ sau đây: Nghiên cứu, tổng hợp chiến lược, quy hoạch phát triển ngành thương mại và dịch vụ; phối hợp với các đơn vị liên quan trong Bộ tổng hợp, lập quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội chung của cả nước, quy hoạch vùng lãnh thổ. Chủ trì tổng hợp kế hoạch 5 năm, hàng năm về phát triển ngành thương mại, dịch vụ và du lịch trên các mặt: lưu chuyển hàng hoá thị trường trong nước, xuất nhập khẩu, dịch vụ và du lịch. Lập các bảng cân đối tổng cung, tổng cầu về các hàng hoá, dịch vụ chủ yếu của nền kinh tế. Tổng hợp kế hoạch ngành kho tàng, tổng hợp các nhu cầu vật tư, hàng hoá ngành dự trữ quốc gia. 3. Nghiên cứu, phân tích, lựa chọn các dự án đầu tư trong nước và ngoài nước thuộc lĩnh vực Vụ phụ trách. Làm đầu mối quản lý các chương trình, dự án được Bộ giao. 4. Chủ trì nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển ngành thương mại, dịch vụ; phối hợp với các đơn vị liên quan trong Bộ nghiên cứu và đề xuất các cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong kế hoạch 5 năm, hàng năm. Trực tiếp soạn thảo các cơ chế, chính sách và văn bản quy phạm pháp luật cụ thể khi được Bộ giao. Làm đầu mối tham gia thẩm định các cơ chế, chính sách và các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của ngành và lĩnh vực thuộc Vụ phụ trách để các bộ, ngành trình Thủ tướng Chính phủ hoặc ban hành theo thẩm quyền. 5. Kiểm tra, theo dõi việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án (kể cả dự án ODA), báo cáo đánh giá việc thực hiện kế hoạch hàng tháng, quý và hàng năm của các ngành và lĩnh vực thuộc Vụ phụ trách. Đề xuất các giải pháp xử lý những vướng mắc trong quá trình điều hành triển khai thực hiện kế hoạch. 6. Tham gia với các đơn vị liên quan trong Bộ thẩm định dự án, thẩm định kế hoạch đấu thầu, lựa chọn nhà thầu đối với các dự án, gói thầu thuộc thẩm quyền quyết định của Thủ tướng Chính phủ để Bộ trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hoặc cho phép đầu tư; làm đầu mối tham gia thẩm định các dự án thuộc lĩnh vực Vụ phụ trách để các bộ, ngành, địa phương quyết định theo thẩm quyền gồm: thẩm định thành lập mới, sắp xếp, tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước; thẩm định các dự án đầu tư (cả vốn trong nước và vốn ngoài nước); thẩm định quy hoạch phát triển các ngành thương mại, dịch vụ, du lịch. Thực hiện việc giám sát đầu tư các dự án thuộc ngành Vụ phụ trách. 7. Nghiên cứu dự báo, thu thập và hệ thống hoá các thông tin về kinh tế phục vụ cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực Vụ phụ trách; phối hợp với các đơn vị liên quan trong Bộ xử lý và cung cấp thông tin về phát triển các ngành thương mại, dịch vụ và du lịch. 8. Làm đầu mối tổng hợp kế hoạch 5 năm, hàng năm của: Bộ Thương mại, Tổng cục Du lịch, Cục Phục vụ ngoại giao đoàn, Hội đồng Trung ương liên minh các hợp tác xã Việt Nam. 9. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư giao. Cơ cấu tổ chức của Vụ Kinh tế Dịch vụ được quy định trong điều 3 của nghị định Chương 2: Báo cáo tổng kết công tác hoạt động năm 2008 của Vụ Kinh tế Dịch Vụ 2.1. Bối cảnh Năm 2008, công tác của Vụ diễn ra trong bối cảnh: + Trong quá trình hội nhập sâu và toàn diện vào nền kinh tế khu vực và thế giới, hoạt động thương mại tiếp tục diễn biến sôi động, đa dạng, cơ hội nhiều nhưng thách thức cũng không nhỏ. Trong khi đó, nền kinh tế – tài chính thế giới năm 2008 gặp nhiều biến động lớn, ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới nói chung, đặc biệt là đối với các quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật Bản và khu vực EU, Thương mại thế giới cạnh tranh ngày càng gay gắt về sản phẩm, thị trường, các rào cản kỹ thuật; các ngành sản xuất chịu nhiều tác động do giá cả biến động bất thường. Trong nước, thời tiết tiếp tục diễn biến phức tạp, hạn hán, bão lụt, đặc biệt là trận lụt lịch sử tại Hà Nội và nhiều tỉnh phía Bắc đã có ảnh hưởng đến sản xuất và tác động không nhỏ đến hoạt động thương mại và đời sống dân cư. + Việt Nam tiếp tục thực hiện tích cực các cam kết sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới. + Phát triển dịch vụ đang từng bước đi vào nề nếp song nhận thức cũng như phương pháp tính toán, phân loại, hệ thống báo cáo thống kê dịch vụ của các ngành, các cấp còn hạn chế, quản lý còn nhiều lúng túng. + Các chương trình đầu tư có mục tiêu do Vụ đảm nhiệm được triển khai với quy mô và địa bàn lớn hơn trong khi công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn nhà nước đòi hỏi phải sát sao, quyết liệt, cấp bách hơn nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, chống thất thoát, lãng phí, đầu tư dàn trải, nợ tồn đọng vốn. + Bên cạnh những nhiệm vụ thường xuyên, năm 2008, Vụ còn thực hiện một số nhiệm vụ do Lãnh đạo Bộ giao như: Phối hợp theo dõi các khu Kinh tế cửa khẩu, soạn thảo sửa đổi Quyết định 32/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Quy chế hoạt động kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng, hoàn thiện Đề án kinh doanh casino tại Việt Nam, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng Chiến lược phát triển dịch vụ, phối hợp với Cục Đầu tư nước ngoài trình Chính phủ đề án SAMADUBAI. + Vụ được đề bạt lên Thứ trưởng 01 người, đề bạt Phó Vụ trưởng 01 người, bổ sung 2 cán bộ mới vừa hoàn thành thời gian tập sự, 3 cán bộ chuyển công tác đã được Vụ Tổ chức cán bộ hoàn thành thủ tục. + Chương trình tín dụng chuyên ngành JBIC: Năm 2008, Vụ tiếp tục phối hợp với JBIC để chỉ đạo các địa phương khẩn trương hoàn thành các các dự án thuộc Chương trình IV, xử lý những vướng mắc, đảm bảo tiến độ giải ngân các dự án thuộc Chương trình V. Đối với Chương trình VI, cho đến nay đã thống nhất với phía Nhật Bản về danh sách các dự án, chỉ đạo các địa phương nhanh chóng hoàn thiện hồ sơ để cung cấp cho phía bạn. 2.2. Thực hiện công tác chuyên môn 2.2.1. Công tác quy hoạch và kế hoạch - Cập nhật tình hình thực hiện nhiệm vụ và các mục tiêu phát triển thương mại, dịch vụ trong kế hoạch 5 năm 2006-2010. - Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan hoàn chỉnh Đề án Kinh doanh casino tại Việt Nam trình Bộ Chính trị và Chính phủ. - Tham gia các ban điều hành quy hoạch ngành và vùng như: + Hạ tầng thương mại 3 vùng kinh tế trọng điểm + Hạ tầng du lịch - Xây dựng báo cáo kế hoạch thương mại dịch vụ năm 2009 đảm bảo tiến độ, chất lượng, trong đó có những phân tích, đánh giá đúng về tình hình thực tế, trên cơ sở đó đưa ra nhiều kiến nghị giải pháp đồng bộ, các thông tin tương đối cập nhật, được Bộ đánh giá tốt. - Tổng hợp kế hoạch năm 2009 cụ thể cho các Bộ ngành thuộc lĩnh vực Vụ phụ trách: xuất nhập khẩu, du lịch, dịch vụ, bán lẻ, dự trữ quốc gia, đầu tư xây dựng cơ bản, đề xuất cân đối một số mặt hàng chủ yếu... - Tham gia góp ý, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội các địa phương và các vùng kinh tế, các dự án đầu tư nước ngoài lớn của các Bộ, ngành và địa phương. - Tham gia góp ý các đề án, chiến lược hợp tác đàm phán các vấn đề về hội nhập kinh tế quốc tế của các Bộ, ngành, địa phương. 2.2.2. Điều hành kế hoạch - Tham gia các tổ liên ngành như: + Tổ điều hành thị trường trong nước + Tổ công tác liên ngành về dịch vụ + Tổ điều hành xuất khẩu gạo + Hoạt động thương mại biên mậu + Về cạnh tranh, chống bán phá giá - Tham gia công tác điều hành cung - cầu hàng hoá và các cân đối vĩ mô; điều hành xuất nhập khẩu, phát triển du lịch, đề xuất biện pháp về giá, thuế, những yêu cầu mới phát sinh trong cơ chế, trong quản lý và kinh doanh hàng hoá dịch vụ trên thị trường nội địa, xúc tiến thương mại, chương trình thương hiệu quốc gia. - Phối hợp với các đơn vị trong và ngoài Bộ nhằm phục vụ công tác điều hành kế hoạch hàng tháng, quý, năm... (báo cáo đánh giá, kiến nghị giải pháp, đề xuất chính sách...) thường xuyên và kịp thời. - Tham gia báo cáo định kỳ và sinh hoạt đều đặn với Tổ điều hành thị trường nội địa. - Tổ chức nhiều đoàn đi công tác các địa phương, phối hợp với các Bộ ngành tham gia khảo sát tại một số vùng kinh tế trọng điểm, kiểm tra, giám sát nhiều dự án liên quan. - Báo cáo định kỳ (tháng quý, năm) và báo cáo chuyên đề, đột xuất, theo yêu cầu của Bộ. - Phối hợp chặt chẽ với các Bộ ngành liên quan, thường xuyên giao ban xuất nhập khẩu hàng tháng, kịp thời kiến nghị những giải pháp trong điều hành kế hoạch 2008, đặc biệt với những diễn biến thị trường phức tạp, Vụ đã có những đề xuất, giải pháp kịp thời, góp phần kiềm chế nhập siêu, lạm phát, kích cầu tiêu dùng, nâng cao hiệu quả đầu tư. - Phối hợp với Bộ Tài chính trong công tác điều hành dự trữ quốc gia, đảm bảo cứu trợ, cứu nạn kịp thời, ổn định sản xuất và đời sống nhân dân trong những trường hợp cần thiết. - Phối hợp với Bộ Công Thương xây dựng Đề án nâng cao hiệu quả công tác quản lý thị trường, đánh giá quy hoạch kết cấu hạ tầng thương mại các vùng kinh tế trọng điểm... - Tham gia với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch về các biện pháp gia tăng khách du lịch quốc tế và xúc tiến du lịch; xây dựng các chương trình hợp tác quốc tế, các dự án về phát triển du lịch: Quy hoạch, chiến lược, đào tạo nhân lực. - Giám sát việc phân bổ vốn hỗ trợ có mục tiêu cho cơ sở hạ tầng du lịch, hạ tầng thương mại tại các địa phương, có văn bản kiến nghị đối với địa phương phân bổ vốn dàn trải, phân bổ vốn không đúng mục tiêu, bố trí vốn kéo dài. - Chuẩn bị đầy đủ và kịp thời các thông tin quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước để báo cáo cấp trên khi có yêu cầu (phục vụ cho các cuộc họp, cho các cấp Lãnh đạo trong các đoàn công tác trong và ngoài nước). - Chuẩn bị nội dung trả lời chất vấn Quốc hội về các vấn đề liên quan thương mại dịch vụ. - Hoàn thành tốt các nhiệm vụ khác do Lãnh đạo Bộ giao. 2.2.3. Quản lý các chương trình, dự án được Bộ giao Đối với các dự án đã triển khai: - Tổ chức một số đoàn đi kiểm tra giám sát tình hình thực hiện dự án tại các tỉnh có dự án ở 3 miền, - Thực hiện công tác giải ngân, - Đôn đốc và chỉ đạo tư vấn chương trình đi kiểm tra giám sát tại các địa phương, kết quả đã phát hiện được môt số vướng mắc và đã kiến nghị biện pháp xử lý. Đối với Chương trình mới (SPL VI): - Phối hợp với các địa phương tổng hợp hồ sơ dự án để làm cơ sở cho Đoàn hình thành dự án (SAPROP) đánh giá - Thống nhất với JBIC về danh sách các dự án vay. - Phối hợp với các địa phương tổ chức các đoàn chuyên gia (gồm cả trong nước và nước ngoài) đi đánh giá, khảo sát các dự án (bao gồm cả dự án thí điểm) - Chỉ đạo các địa phương chuẩn bị hồ sơ các bước tiếp theo để cung cấp cho Đoàn thẩm định dự án của phía Nhật Bản. 2.2.4. Cơ chế, chính sách - Tham gia đóng góp ý kiến các văn bản pháp quy trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ như Nghị định hướng dẫn Luật: Du lịch, Thương mại, Đầu tư Doanh nghiệp; Sử dụng vốn nhà nước; Kinh doanh dịch vụ đòi nợ,... - Các cơ chế, chính sách phát triển thuơng mại, dịch vụ, dự trữ quốc gia, trợ giá, trợ cước... như: Chính sách điều hành thị trường, cân đối các mặt hàng trọng yếu; Chính sách xử phạt hành chính trong lĩnh vực thương mại; Về kinh doanh mặt hàng, ngành hàng có điều kiện; Chính sách phát triển hạ tầng thương mại, hạ tầng cửa khẩu... - Tham gia ban soạn thảo Đề án nâng cao hiệu quả công tác quản lý thị trường ; Ban chỉ đạo và Ban Nghiên cứu một số dự án về phát triển du lịch do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch chủ trì; Tham gia với Bộ Công Thương để triển khai chương trình phát triển thương mại điện tử đến năm 2010. - Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Quy chế về hoạt động kinh doanh trò chơi địên tử có thưởng dành cho người nước ngoài ban hành kèm theo Quyết định 32/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; nghiên cứu Đề án kinh doanh casino tại Việt Nam. - Chuẩn bị cho việc nghiên cứu Chiến lược phát triển dịch vụ Việt Nam đến 2020. - Tham gia ý kiến đối với một số chủ trương chính sách do các đơn vị khác trong Bộ chủ trì như Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 08/2001/NĐ-CP về ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, … - Tham gia ý kiến đối với một số chủ trương chính sách do các đơn vị khác trong Bộ chủ trì. 2.2.5 Tham gia công tác thẩm tra và giám sát đầu tư: - Chủ trì góp ý kiến đối với các dự án phát triển du lịch ở các địa phương, khu du lịch trọng điểm quốc gia và vùng do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch chủ trì thẩm tra. - Tham gia ý kiến các dự án quy hoạch du lịch, quy hoạch vùng do Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư, Viện Chiến lược phát triển chủ trì; chủ trì, tham gia góp ý một số dự án du lịch, dự án kinh doanh trò chơi địên tử có thưởng, dự án kinh doanh casino, dự án đầu tư ra nước ngoài. - Tham gia đợt rà soát quy hoạch sân golf tại các địa phương. - Tham gia Ban chỉ đạo và Ban Nghiên cứu một số dự án về phát triển du lịch do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch chủ trì. 2.3. Các công tác khác 2.3.1 Hội nhập kinh tế quốc tế - Tham gia các cuộc họp của Uỷ ban Điều phối dịch vụ ASEAN và phối hợp tổng hợp ý kiến các Bộ ngành liên quan để đưa ra phương án đàm phán và bản chào của Việt Nam chuẩn bị cho vòng đàm phán thứ 5 về gói cam kết thứ 7 của Hiệp định khung về dịch vụ ASEAN (AFAS); Tham gia một số cuộc họp Nhóm dịch vụ trong APEC ; tham gia soạn thảo và đàm phán Hiệp định đầu tư toàn dịên ASEAN (HACIA); tham gia ý kiến các vấn đề mở cửa dịch vụ của ASEAN với các đối tác ASEAN, EU, ấn Độ, Trung Quốc... - Chủ trì điều phối đàm phán dịch vụ Logistics trong khung khổ Uỷ ban điều phối dịch vụ ASEAN (CCS). + Tham gia các cuộc đàm phán về tự do hoá dịch vụ giữa ASEAN với các đối tác úc và Niu Di Lân, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, ấn Độ và chủ trì/ phối hợp để chuẩn bị ý kiến của Bộ ta đối với các vấn đề liên quan đến việc thành lập các khu vực thương mại tự do giữa ASEAN với các đối tác. + Chủ động nghiên cứu đánh giá các mặt tích cực và ảnh hưởng tiêu cực trong quá trình mở cửa thị trường thương mại dịch vụ khi tham gia các tổ chức quốc tế. 2.3.2 Học tập và nghiên cứu khoa học + Về nghiên cứu khoa học, nhìn chung, lực lượng cán bộ trong Vụ tương đối trẻ nên đều tích cực học tập nâng cao trình độ, tham gia các khoá học, hội thảo, hội nghị trong và ngoài nước; học tập nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học, kỹ năng đàm phán; học thêm để lấy bằng cao học, tiến sỹ... + Đang hoàn thiện và chuẩn bị bảo vệ 2 đề tài khoa học cấp Bộ liên quan thương mại dịch vụ. + Phát động phong trào thi đua sôi động trong các ngày lễ lớn như 30/4, 19/5, 2/9 ; 3/2 nhằm tạo không khí vui tươi lành mạnh trong nội bộ nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn. 2.3.3 Công tác tổ chức và điều hành công việc trong Vụ + Lãnh đạo Vụ phối hợp với Chi uỷ, Chi bộ, Ban chấp hành công đoàn chỉ đạo sát sao công việc của Vụ. Các cán bộ của Vụ đều có ý thức tự giác làm việc, chấp hành kỷ cương, kỷ luật lao động, đoàn kết và phối hợp tốt trong việc thực hiện các công việc được giao. + Cấp Vụ tăng cường giám sát và điều hành nhịp nhàng các hoạt động, công việc của các tổ, nhóm chuyên môn, xử lýý kịp thời các vướng mắc, chậm trễ, lấy cải cách hành chính làm trọng tâm trong chỉ đạo điều hành nên trong năm qua công tác xử lýý văn bản trong Vụ ít bị tồn đọng, chậm trễ và luôn đáp ứng yêu cầu được giao trong kế hoạch hành động và chương trình công tác hàng quýý của Bộ. + Tiếp tục rà soát theo Quy hoạch cán bộ Lãnh đạo Vụ thời kỳ 2005-2010 đã trình Lãnh đạo Bộ. + Hoàn thành Quy chế làm việc trong nội bộ Vụ Thương mại và Dịch vụ., đưa vào triển khai, thực hiện nghiêm túc. 2.4. Đánh giá khái quát về hoạt động của Vụ thời gian qua: 2.4.1 Kết quả đạt được: - Năm 2008 là năm nền kinh tế thế giới và trong nước diễn biến phức tạp, đòi hỏi công tác dự báo, điều hành vĩ mô phải nâng tầm đáp ứng với yêu cầu thực tế. Trong bối cảnh đó, mặc dù lực lượng cán bộ của Vụ còn hạn chế, song nhờ sự phối hợp chặt chẽ, chỉ đạo sát sao của cấp Uỷ, Công đoàn và Lãnh đạo, Vụ đã phấn đấu hoàn thành xuất sắc một khối lượng lớn công việc đảm bảo chất lượng, đúng thời gian qui định; chủ động tổ chức nghiên cứu, đề xuất ý kiến đóng góp vào các chương trình xây dựng cơ chế, chính sách kịp thời, góp phần tích cực trong công tác theo dõi, giám sát, điều hành kế hoạch năm 2008 nói chung và kế hoạch phát triển thương mại, dịch vụ nói riêng. - Luôn gương mẫu chấp hành đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật nhà nước và vận dụng trong việc triển khai các nhiệm vụ của Vụ; xây dựng tập thể đoàn kết trong sạch vững mạnh, có tinh thần đấu tranh phê bình và tự phê bình. - Mọi cán bộ công chức của Vụ đều tự giác học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, rèn luyện phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên. 2.4.2 Tồn tại, hạn chế: Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song trong năm 2008, Vụ Thương mại và Dịch vụ vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục, cụ thể là: + Do hạn chế về thời gian, hạn chế thông tin, tư liệu nên nhiều giải pháp đề xuất chưa mang tính đột phá, công tác dự báo còn hạn chế. + Công tác kiểm tra, giám sát các dự án thuộc các chương trình ở các địa phương chưa nhiều. + Công chức còn thiếu chủ động trong công việc, chấp hành kỷ luật lao động chưa nghiêm, đặc biệt là về giờ giấc làm việc. + Việc tổ chức sinh hoạt khoa học chưa được thường xuyên, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Chương 3: Nhiệm vụ công tác năm 2009 của Vụ Kinh tế Dịch vụ Năm 2009 là năm quan trọng của kế hoạch 5 năm 2006-2010, là thời điểm thực hiện mở cửa thị trường bán lẻ theo cam kết. Trong khi đó, tình hình kinh tế trong nước và thế giới dự báo còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, Vụ được đổi tên thành Vụ Kinh tế Dịch vụ nên chức năng, nhiệm vụ có thay đổi theo hướng mở rộng hơn, khối lượng công việc được phân công nhiều và khó khăn hơn. Do vậy, toàn Vụ phải nỗ lực, phấn đấu nhiều hơn nữa, phát huy những thành tích, kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế, tồn tại để hoàn thành nhiệm vụ, đoàn kết, nhất trí dưới sự lãnh đạo của Chi uỷ, Lãnh đạo Vụ, xây dựng đơn vị thành một tập thể đoàn kết và vững mạnh toàn diện. Ngoài những công việc thường xuyên thực hiện theo chức năng nhiệm vụ được giao, trong năm 2009, Vụ sẽ tập trung vào một số công việc sau: 3.1. Về công tác xây dựng quy hoạch, xây dựng văn bản pháp luật - Tham gia, phối hợp xây dựng, điều chỉnh các quy hoạch, chính sách phát triển các ngành, lĩnh vực và địa phương: hạ tầng thương mại, du lịch, hệ thống phân phối, mạng lưới bán lẻ. - Tổng hợp và phối hợp với các cơ quan có liên quan tiến hành việc xây dựng Chiến lược tổng thể phát triển các ngành dịch vụ Việt Nam đến năm 2020. - Dự báo xu hướng phát triển thị trường và ngành hàng xuất khẩu. - Chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định về quản lýý kinh doanh casino. - Tham gia thẩm định điều chỉnh, bổ sung quy hoạch du lịch các vùng do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch chủ trì nghiên cứu; tham gia ý kiến quy hoạch du lịch do các địa phương thực hiện. - Phối hợp với các đơn vị trong và ngoài Bộ xây dựng kế hoạch phát triển thương mại, dịch vụ năm 2010. - Chủ trì, hoặc phối hợp với các đơn vị trong và ngoài Bộ nghiên cứu một số chuyên đề về ảnh hưởng của thực hiện các cam kết đối với lĩnh vực dịch vụ Việt Nam làm căn cứ đề xuất cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển ngành để chuẩn bị xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. - Chủ trì xây dựng cơ chế chính sách the._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc22704.doc
Tài liệu liên quan