Báo cáo Tổng hợp về đặc điểm hoạt động kinh doanh của Công ty XNK hà tây

Phần nội dung I. Tóm lược về Công ty xuất nhập khẩu Hà Tây 1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty. - Công ty Xuất nhập khẩu Hà Tây được thành lập ngày 01/12/1992 theo Quyết định số 471-QĐ/UB của UBND tỉnh Hà Tây. Trạm thu mua hàng xuất khẩu đặt tại các tỉnh, huyện. - Công ty được cấp giấp phép đăng ký kinh doanh số 104356 ngày 11 tháng 12 năm 1993. Và có giấp phép kinh doanh xuất nhập khẩu số 2.06.1.002 ngày 23 tháng 3 năm 1993 của Bộ Thương mại. - Ngày 20/11/1991 theo Quyết đị

doc18 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 03/10/2013 | Lượt xem: 108 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Báo cáo Tổng hợp về đặc điểm hoạt động kinh doanh của Công ty XNK hà tây, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
nh số 388/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ban hành theo quy chế về việc "Thành lập và giải thể Doanh nghiệp Nhà nước" - Công ty chuyển giao các đơn vị hạch toán độc lập sang các cơ sở chuyên ngành quản lý. - Tổ chức của Công ty theo hình thức: Công ty là một doanh nghiệp Nhà nước, trực thuộc UBND tỉnh Hà Tây hạch toán kinh doanh độc lập, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại hai Ngân hàng công thương Hà Tây và Ngân hàng ngoại thương Việt nam. - Tên gọi: Công ty Xuất nhập khẩu Hà Tây . - Tên giao dịch quốc tế : HA TAY IMPORT- EXPORT COMPANY (UNIMEX HATAY) - Trụ sở chính: 16ATrần Đăng Ninh - Thị xã Hà Đông - Tỉnh Hà Tây. - Điện thoại số : 034 . 822757 - Công ty xuất nhập khẩu Hà Tây đặt dưới sự quản lý của nhà nước, cấp trên trực tiếp. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh Công ty chịu trách nhiệm vật chất về những cam kết của mình với những hợp đồng đã ký với các bên và ngược lại. Công ty thực hiện hạch toán kinh tế trên cơ sở tuân thủ các chủ trương chính sách, pháp luật và các quy định quản lý về Nhà nước và địa phương tôn trọng và đảm bảo quyền lợi vật chất, tinh thần, các chính sách đối với người lao động ở trong đơn vị và làm tròn nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước và Tỉnh. 2. Cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty. Công ty Xuất nhập khẩu Hà Tây gồm có 169 cán bộ công nhân viên được biên chế thành 04 phòng ban và 02 chi nhánh.Các phòng quản lý chức năng có 01 trưởng phòng và 01 đến 02 phó. Một số cán bộ, nghiệp vụ chuyên môn. Cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty Sơ đồ 1 Chú thích : Quan hệ chỉ đạo trực tiếp Quan hệ phối hợp Đứng đầu Công ty là Giám đốc Công ty do UBND Tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm. Giám đốc quản lý và điều hành Công ty theo chế độ 01 thủ trưởng và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của Công ty trước pháp luật, trước Sở Thương mại và tập thể cán bộ công nhân viên chức của Công ty. Giúp đỡ công việc cho Giám đốc Công ty có 03 Phó Giám đốc Công ty. Phó Giám đốc Công ty do Giám đốc Công ty lựa chọn và đề nghị Giám đốc Sở Thương mại bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm. Kế toán trưởng chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc Công ty, có trách nhiệm giúp Giám đốc Công ty tổ chức thực hiện toàn bộ công tác kế toán thống kê thông tin kinh tế, báo cáo kết quả hoạt động của Công ty theo quy định hiện hành của Nhà nước. Công ty được tổ chức theo bộ máy quản lý chức năng và mạng lưới kinh doanh phù hợp với nhiệm vụ của một Công ty Xuất nhập khẩu. Nhiệm vụ của các phòng ban chức năng do Giám đốc quy định cụ thể: * Phòng kinh doanh: + Nghiên cứu và nắm bắt tình hình thông tin thị trường trong nước và nhu cầu mặt hàng,về nguồn hàng,tình hình sản suất,giá cả và các biến động. + Xác nhận kế hoạch kinh doanh hàng năm,6 tháng,đề suất các phương án kinh doanh,liên doanh liên kết tiêu thụ hàng hóa và phối hợp thực hiện các phương án đó sau khi đã được Công ty phê duyệt. + Giúp Giám đốc tỗ chức xây dựng kế hoạch xuất - nhập khẩu,các kế hoạch thâm nhập thị trường mới,mở rộng thị trường truyền thống. * Phòng Tổ chức hành chính: - Giúp Giám đốc trong công tác tổ chức hoạt động hành chính, quản lí tài sản và nhân sự, tiền lương. Phối hợp với các phòng chức năng để quản lí và điều hành hoạt động của Công ty theo đúng định hướng và kế hoạch. + Xây dựng phương án bố trí sắp xếp cán bộ viên chức toàn công ty và các đơn vị . + Làm công tác khác về tổ chức: quản lý hồ sơ cán bộ ,làm thủ tục về tiếp nhận , nghỉ hưu thôi việc, thuyên chuyển, khen thưởng và kỷ luật cán bộ. Tham mưu qiúp giám đốc về công tác hành chính quản trị cụ thể: + Xây dựng phương án bảo vệ đảm bảo công tác an ninh trật tự cơ quan . + Làm tốt văn thư,lưu trữ , quản lý dấu công ty , dấu chức danh. + Quản lý nhà khách, đảm bảo các yêu cầu vật chất cho công tác điều hành hàng ngày. + Đảm bảo công tác vệ sinh môi trường cơ quan. * Phòng Kế toán tài chính : Thực hiện theo dõi tình hình hoạt động kinh doanh và báo cáo tình hình tài chính và các nghiệp vụ tài chính kế toán khác. Chịu trách nhiệm quản lý vốn, tài sản, hàng hoá, giám sát thu chi tại Công ty. - Phối hợp với phòng kế hoạch tổng hợp xây xây dựng kế hoạch tài chính toàn công ty và kế hoạch từng đợn vị thành viên . - Các phương án kinh doanh đã được Giám đốc duyệt trong thời hạn 3 ngày phải đáp ứng vốn để các đơn vị thực hiện hợp đồng ( hồ sơ vay vốn do các đơn vị chuẩn bị). Thanh toán tiền hàng với bạn hàng trong nước và nước ngoài. Giám sát sử dụng vốn của các đơn vị đôn đốc thu hồi vốn, lãi tiền vay. Lựa chọn phương pháp hạch toán phù hợp và hướng dẫn kế toán các đơn vị trong công tác hạnh toán. Chấp hành nghiêm chế độ báo cáo kế toán, thống kê chế độ báo cáo về thuế, kịp thời, chính xác đúng quy định. - Kế toán trưởng , từng quý báo cáo ban Giám đốc tình hình quản lý sử dụng vốn các khoản công nợ trong hạn, đến hạn và nợ quá hạn, đề xuất biện pháp sử lý. Thời gian báo cáo trong vòng 5 ngày của tháng đầu quý báo cáo tình hình quý trước. Tổng hợp kết quả sản xuất kinh doanh của từng đơn vị và đề xuất Giám đốc khen thưởng. Kế toán trưởng liên đới chịu trách nhiệm khi để các đơn vị sử dụng vốn sai mục đích, làm thất thoát vốn. Hệ thống sổ sách, công tác hạch toán kế toán, phân phối lợi nhuận của Công ty thực hiện theo đúng quy định của Nhà nước và theo pháp lệnh kế toán. Việc phân tích hoạt động kinh tế tài chính của Công ty được thực hiện theo quy định hiện hành của Nhà nước và hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành. * Phòng Kế hoạch tổng hợp : - Xây dựng kế hoạch định hướng phát triển sản xuất kinh doanh dài hạn (5- 10 năm) của toàn công ty. Tổng hợp kế hoạch định hướng quý năm của các đơn vị trực tiếp kinh doanh. Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện kế hoạch và phối hợp với phòng kế toán tài chính giám sát việc sử dụng vốn của các đơn vị thành viên. Kiểm tra các hợp đồng kinh tế, thẩm định các phương án sản xuất kinh doanh, đề xuất ý kiến với Giám đốc. Thời gian kiểm tra, thẩm định để trình kế hoạch không quá 2 ngày, kể từ khi nhận được hợp đồng và phương án các đơn vị gửi đến. Chịu trách nhiệm liên đới khi để xẩy ra kinh doanh thua lỗ hoặc thất thoát vốn do yếu tố chủ quan gây ra. * Văn phòng đại diện ở các Tỉnh : - Giúp Giám đốc làm công tác tiếp thị. Trong một số trường hợp đặc biệt trưởng văn phòng đại diện được Giám đốc uỷ nhiệm ký một số văn bản của Công ty. Tổ chức xuất nhập khẩu hàng hóa do tự khai thác được thị trường đảm bảo có hiệu quả, chấp hành tốt chính sáchvà các quy định của nhà nước, của địa phương nơi đặt văn phòng đại diện. 3. Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của Công ty. * Chức năng hoạt động của Công ty. - Trực tiếp xuất khẩu và nhận ủy thác xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thổ, thủy hải sản, thực phẩm chế biến, hàng thủ công mỹ nghệ, hàng tiểu thủ công nghiệp do Công ty thu mua, gia công chế biến hoặc do liên doanh, liên kết tạo ra. - Trực tiếp nhập khẩu và nhận ủy thác nhập khẩu các mặt hàng công cụ sản xuất, vật tư, nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng kể cả chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất. - Tổ chức sản xuất, liên doanh, liên kết, hợp tác đầu tư với các tổ chức kinh tế trong nước và nước ngoài để sản xuất chế biến hàng xuất nhập khẩu và hàng tiêu dùng. * Nhiệm vụ của Công ty: - Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch dài hạn, ngắn hạn về sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu, gia công, lắp ráp theo đúng luật pháp hiện hành của Nhà nước và hướng dẫn của Sở Thương mại Hà Tây . - Tổ chức nghiên cứu nâng cao năng suất lao động, đổi mới trang thiết bị, tổ chức tiếp thị tốt để nâng cao năng lực kinh doanh và cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo kinh doanh có hiệu quả ngày càng cao. - Chấp hành pháp luật Nhà nước, thực hiện các chế độ, chính sách về quản lý và sử dụng tiền vốn, vật tư, tài sản, nguồn lực, thực hiện hạch toán kinh tế, bảo toàn và phát triển vốn, thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước. - Thực hiện báo cáo theo ngành và chịu sự thanh tra của pháp luật. - Tổ chức tốt bộ máy doanh nghiệp, quản lý toàn diện, đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ công nhân viên chức theo pháp luật, chính sách của Nhà nước và sự phân cấp quản lý của Sở Thương mại để thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của Công ty. Chăm lo đời sống, tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động làm việc, thực hiện phân phối công bằng. - Bảo vệ doanh nghiệp, bảo vệ môi trường, giữ gìn trật tự an ninh chính trị và an toàn xã hội trong phạm vi quản lý của Công ty theo quy định của pháp luật. II. Môi trường kinh doanh của công ty. Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp là tổng hợp các yếu tố(tự nhiên và xã hội, chính trị và kinh tế... ) và các mối liên hệ (bên trong, bên ngoài...) có liên quan đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Mỗi một chủ thể hoạt động trong xã hội đều chịu sự chi phối nhất định các môi trường bao quanh nó. Đó là tổng hợp các yêu tố có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp qua lại lẫn nhau. Chính những nhân tố này qui định xu hướng và trạng thái hành động của chủ thể. Trong kinh doanh thương mại quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải chịu sự chi phối của các nhân tố bên trong lẫn bên ngoài nước. Các nhân tố này thường xuyên biến đổi và vì vậy, làm cho hoạt động kinh doanh xuất khẩu ngày càng phức tạp hơn. Để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh đòi hỏi các nhà kinh doanh phải nắm bắt và phân tích được ảnh hưởng của từng nhân tố cá biệt tới hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ cụ thể. 1. Môi trường bên ngoài a). Nhân tố kinh tế- xã hội trong nước. Nhân tố kinh tế- xã hội trong nước có ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu ở đây bao gồm: Trạng thái của nền kinh tế trong nước như các yếu tố: dung lượng sản xuất, tình hình nhân lực và tiền lương, tình hình công nghệ, cơ sở hạ tầng và nhân tố thứ hai là các chính sách của Nhà nước. b). Các chính sách và quy định của Nhà nước Có thể nói các chính sách và quy định của nhà nước ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu. Thông qua việc đề ra các chính sách và quy định, Nhà nước thiết lập môi trường pháp lý nhằm điều chỉnh các hoạt động của các doanh nghiệp. Chúng ta có thể xem xét tác động của các chính sách đó dưới các khía cạnh sau : Các chính sách khác của nhà nước như xây dựng các mặt hàng chủ lực, trực tiếp gia công xuất khẩu , đầu tư cho xuất khẩu, lập các khu chế xuất, các chính sách tín dụng xuất khẩu, chính sách trợ cấp xuất khẩu cũng góp phần to lớn tác đọng tới tình hình xuất của một quốc gia. Tùy theo mức độ can thiệp, tính chất và phương pháp sử dụng các chính sách trên mà hiệu quả và mức độ ảnh hưởng của nó tới lĩnh vực xuất khẩu sẽ như thế nào. Bên cạnh các chính sách trên, nhóm các chính sách hỗ trợ mang tính thể chế - tổ chức, các khung pháp lý và hệ thống hành chính cũng là một trong các nhân tố tác động trực tiếp tới họat động xuất khẩu của các doanh nghiệp. e). Nhân tố tài nguyên thiên nhiên và địa lý. Vị trí địa lý cũng như nguồn tài nguyên thiên nhiên là những cái mà tự nhiên ban cho, thông qua đó các nước khai thác tiềm năng của nó để phục vụ xuất khẩu. Nguồn tài nguyên thiên là một trong những nhân tố quan trọng làm cơ sở cho quốc gia xây dựng cơ cấu ngành và vùng để xuất khẩu. Nó góp phần ảnh hưởng đến loại hàng , quy mô hàng xuất khẩu của quốc gia. Vị trí địa lý có vai trò như là nhân tố tích cực hoặc tiêu cực đối với sự phát triển kinh tế cũng như xuất khẩu của một quốc gia. Vị trí đị lý thuận lợi là điều kiện cho phép một quốc gia tranh thủ được phân công lao động quốc tế , hoặc thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ như du lịch, vận tải, ... d). ảnh hưởng của tình hình kinh tế - xã hội thế giới. Trong điều kiện mà mỗi quốc gia đều dựa vào lợi thế của mình cũng như thị trường tiêu thụ thế giới để tổ chức sản xuất và xuất khẩu thì tính liên kết và phụ thuộc giữa các nước ngày càng tăng lên. Chính vì điều này mà mỗi sự biến động của tình hình kinh tễ- xã hội ở nước ngoài đều có những ảnh hưởng nhất định đối với hoạt động kinh tế trong nước. Lĩnh vực hoạt động xuất khẩu là lĩnh vực trực tiếp quan hệ với các chủ thể ở nước ngoài, chịu sự chi phối và tác động của các nhân tố ở nước ngoài nên nó lại càng rất nhạy cảm. Bất kỳ một sự thay đổi nào về chính sách xuất khẩu, tình hình lạm phát , thất nghiệp hay tăng truởng về suy thoái kinh tế...của các nước đều ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu ở nước ta. e). đối thủ cạnh tranh Mặc dù công ty xuất nhập khẩu Hà Tây có quá trình phát triển lâu dài và có nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh nhất là trong xuất nhập khẩu các mặt hàng truyền thống như mây tre, vải sợi, hương liệu tiêu dùng...nhưng nó cũng phải cạnh tranh với các công ty khác( công ty Mây tre, các công ty Dệt may...) cũng có chức năng và nhiệm vụ xuất nhập khẩu như công ty. Chính vì vậy công ty phải không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực sẵn có trong công ty như vốn, lao động,uy tín chất lượng thì mới có thể tồn tại và phát triển được. 2. Môi trường bên trong doanh nghiệp. a). Nhân tố bộ máy quản lý hay tổ chức hành chính. Là sự tác động trực tiếp của các cấp lãnh đạo xuống cán bộ công nhân viên nhằm mục đích buộc phải thực hiện một hoạt động. Để quản lý tập trung thống nhất phải sử dụng phương pháp hành chính.Việc thiết lập cơ cấu tổ chức của bộ máy doanh nghiệp cũng như cách thức điều hành của các cấp lãnh đạo là nhân tố quyết định tính hiệu quả trong kinh doanh. Nếu một doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức hợp lý, cách điều hành sáng suốt sẽ góp phần thúc đẩy hiệu quả hoạt động kinh doanh, ngược lại nếu cơ cấu tổ chức xệch xọac, cách điều hành kém cỏi sẽ dẫn đến hiệu quả thấp trong hoạt động kinh doanh. b). Nhân tố con người. Con người luôn được đặt ở vị trí trung tâm của mọi hoạt động. Hoạt động xuất khẩu hàng hoá phải nhấn mạnh tới nhân tố con người bởi vì nó là chủ thể sáng tạo và trực tiếp điều hành các hoạt động, ảnh hưởng của nhân tố này thể hiện qua hai chỉ tiêu chủ yếu nhất. Đó là tinh thần làm việc và năng lực công tác. TInh thần làm việc được biểu hiện bởi bầu không khí trong doanh nghiệp, tình đoàn kết và ý chí phấn đấu cho mục tiêu chung. Năng lực của nhân viên lại biểu hiện qua kỹ năng điều hành, công tác các nghiệp cụ cụ thể và qua kết quả của hoạt động. Để nâng cao vai trò nhân tố con người, các doanh nghiệp một mặt phải chú trọng đào tạo cán bộ, công nhân viên, bồi dưỡng và nâng cao nghiệp vụ của họ, mặt khác, phải quan tâm thích đáng đến lợi ích cá nhân, bao gồm cả lợi ích vật chất , tinh thần. c.) Mạng lưới kinh doanh của doanh nghiệp. Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp ngoại thương phụ thuộc rất lớn vào hệ thống mạng lưới kinh doanh của nó.Một mạng lưới kinh doanh rộng lớn, với các điểm kinh doanh được bố trí hợp lý là điều kiện để các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động như tạo nguồn hàng,vận chuyển,làm đại lý xuất khẩu...một cách thuận tiện hơn và do đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu. Nếu mạng lưới kinh doanh là quá thiếu, hoặc bố trí ở các điểm không hợp lý sẽ gây cản trở cho hoạt động kinh doanh làm triệt tiêu tính năng động và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường. d.) Khả năng cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp. Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp như vốn cố định bao gồm các máy móc, thiết bị chế biến, hệ thống kho hàng, hệ thống phương tiện vận tải, các điểm thu mua hàng , đại lý, chi nhánh và trang thiết bị của nó cùng với vốn lưu động là cơ sở cho hoạt động kinh doanh.các khả năng này quy định quy mô và tính chất của hoạt động kinh doanh xuất khẩu, và vì vậy cũng góp phần quyết định tới hiệu quả kinh doanh. Rõ ràng là, một doanh nghiệp có hệ thống kho hàng hợp lý, các phương tiện vận tải đầy đủ và cơ động, các máy móc chế biến hiện đại sẽ góp phần nâng cao chất lượng hàng hóa và khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Do vậy, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện hợp đồng xuất khẩu một cách có tính khả thi và hiệu quả hơn. Trong kinh doanh xuất khẩu, thông thường các doanh nghiệp ngoại thương có cơ cấu vốn lưu động và cố định theo tỷ lệ 8:2 hoặc 7:3 là hợp lý. Tuy vậy, việc tăng vốn cố định là cần thiết nhằm góp phần mở rộng qui mô kinh doanh, cho phép xâm nhập và cạnh tranh trên thị trường lớn hơn. e). Nguồn nhân lực của Công ty. Hiện nay tổng số cán bộ công nhân viên của Công ty xuất nhập khẩu Hà Tây là 169 người. Đây là một đội ngũ bao gồm những người có trình độ đại học, trên đại học, những kỹ thuật viên lành nghề. Đội ngũ cán bộ công nhân viên năng động, nhiệt tình có trình độ chuyên môn tốt và có tinh thần trách nhiệm cao đối với Công ty. 3. Đặc điểm về vốn kinh doanh. Vốn kinh doanh của Công ty bao gồm vốn cố định, vốn lưu động được phản ánh trong bản tổng kết tài sản của Công ty. Vốn kinh doanh của Công ty được hình thành như sau: - Vốn cố định bao gồm vốn ngân sách cấp, vốn tự bổ sung, vốn vay ... - Vốn xây dựng cơ bản bao gồm vốn ngân sách cấp, vốn của cấp trên cấp vốn đầu tư xây dựng, vốn đầu tư từ các quỹ quý, vốn nhận góp liên doanh, vốn khác. - Vốn lưu động gồm vốn ngân sách cấp, vốn tự bổ sung, vốn vay, vốn nhận góp liên doanh. Ngoài ra Công ty còn hình thành quỹ phát triển sản xuất; nguồn vốn để hình thành quỹ này chủ yếu là từ lợi nhuận cuối cùng thu được sau một chu kỳ kinh doanh. III. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Công ty. 1. Đặc điểm về mặt hàng kinh doanh: Công ty Xuất nhập khẩu Hà Tây là một Công ty kinh doanh xuất nhập khẩu tổng hợp bao gồm hàng tiêu dùng, nguyên vật liệu, thiết bị máy móc đáp ứng nhu cầu khác nhau của sản xuất và đời sống. Bên cạnh đó, Công ty còn thực hiện các dịch vụ gia công sản xuất, tái sản xuất hàng hóa, nhận ủy thác xuất nhập khẩu, chuyển khẩu. Trong kinh doanh xuất nhập khẩu, mặt hàng chủ yếu của Công ty gồm: * Về xuất khẩu: Công ty trực tiếp xuất khẩu các mặt hàng sau: - Phòng KD I : Thảm cói, Len, Đồ gỗ mỹ nghệ, Dép xốp.. - Phòng KD II: Chè, Ván tre ép, Gỗ trang trí nội thất, Hàng may mặc.. - Phòng KD III : Hoa quả, Tơ tằm, Sợi tẩy, Quần áo sợi.. - Phòng KD IV : Lông vịt, Hoa quả.. - Phòng KD V: Hoa quả, Cá khô,Đường kính, Quần áo mũ len.. - Xí nghiệp T3 : Gia vị, May thêu, Thảm cói.. - Trạm Chương Mỹ : Mây tre - Chi nhánh TPHCM : Da trâu bò thuộc, Mành trúc.. - Phòng Mây tre : Mây tre.. - Phòng kế hoạch: Quần áo len.. - Chi nhánh Lạng sơn: Hoa quả.. - Về nhập khẩu: Công ty trực tiếp nhập khẩu các mặt hàng sau: + Hàng tiêu dùng: Sợi acrylic, Bếp nướng, các thiết bị điện, xe gắn máy, xe hơi, vải, thực phẩm ... + Hàng vật tư thiết bị phục vụ sản xuất: phân bón, xăng dầu, hóa chất, hạt nhựa, phụ tùng ô tô, máy nông ngư nghiệp ... Từ mặt hàng kinh doanh của Công ty ta biết được chiến lược kinh doanh của Công ty là đa dạng hóa. Tuy nhiên, những mặt hàng mà Công ty chú trọng nhất trong xuất khẩu vẫn là hàng nông, lâm, thổ sản. Đây là mặt hàng truyền thống của Công ty, có nguồn cung ứng khá phong phú và dồi dào ở trong nước, phù hợp với điều kiện sản xuất ở nước ta. Về nhập khẩu, Công ty tập trung nhiều nhất vào mặt hàng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất. Đây là những mặt hàng mà năng lực sản xuất ở trong nước chưa đáp ứng được nhu cầu, nhất là nhu cầu ở các tỉnh phía Bắc. Nhìn chung, những mặt hàng kinh doanh xuất nhập khẩu của Công ty đều thuộc diện khuyến khích và ưu đãi của Nhà nước. Đây cũng là những mặt hàng kinh doanh chủ lực của phần lớn các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp. Đối với Công ty, vấn đề đặt ra là phải tìm được nguồn hàng có chất lượng cao, đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng. 2. Đặc điểm về phương thức kinh doanh. - Phương thức kinh doanh chủ yếu của Công ty là thực hiện xuất và nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác qua các đơn vị khác, nhận xuất nhập khẩu mặt hàng của các đơn vị khác (các đơn vị uỷ thác phải có đăng ký kinh doanh và các mặt hàng kinh doanh phù hợp với nội dung đăng ký). Đối với xuất khẩu, Công ty sau khi thực hiện giao dịch và ký kết hợp đồng thành công thì tiến hành thu gom hàng hóa trong nước, chuẩn bị hàng hóa để thực hiện hợp đồng xuất khẩu. Đối với hàng nhập khẩu, căn cứ vào nhu cầu tiêu dùng cụ thể của từng đơn vị sản xuất trong nước và hợp đồng đã ký mà Công ty lên đơn hàng nhập khẩu. Đối với hợp đồng mua bán ký kết với khách nước ngoài: Các đợi vị soạn thảo trình giám đốc công ty ký. Giám đốc công ty có thể ký giấy uỷ quyền cho Phó giám đốc công ty, trưởng phòng, giám đốc xí nghiệp , trưởng trạm hoặc trưởng chi nhánh ký. Đối với hợp đồng mua bán ký kết với bạn hàng trong nước : Giám đốc công ty uỷ quyền cho các đồng chí trưởng phòng nghiệp vụ, giám đốc xí nghiệp , trưởng trạm hoặc trưởng chi nhánh ký. Ngoài ra, khi tìm được thị trường hoặc bạn hàng yêu cầu thì Công ty ký hợp đồng gia công, sau khi đem bán thành phẩm về nước thì Công ty ủy nhiệm cho các đơn vị sản xuất gia công các mặt hàng đó theo hợp đồng thỏa thuận giữa hai bên. 3. Đặc điểm về địa bàn kinh doanh. Công ty Xuất nhập khẩu Hà Tây có địa bàn kinh doanh khá rộng lớn. ở trong nước, Công ty thiết lập mạng lưới chân hàng rộng khắp, đặc biệt là ở các tỉnh ở Miền Bắc. Công ty quan hệ với nhiều đơn vị sản xuất thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó phải kể đến các Công ty thuộc Bộ Thương mại, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. ở nước ngoài, Công ty có quan hệ truyền thống với bạn hàng các nước Châu á và Châu Âu. Các thị trường lớn tiêu thụ sản phẩm của Công ty là các nước Nga, Mỹ, Đức, Pháp, ý, Tây Ban Nha, Anh, Đài Loan, ấn Độ, Lào,Ba lan... Hiện nay Công ty đang từng bước mở rộng sang thị trường Trung Quốc và các nước Đông Âu, và Tây âu một thị trường năng, nhu cầu tiêu thụ lớn, nhất là sản phẩm truyền thống. Đối với thị trường Mỹ, tuy mối quan hệ xuất nhập khẩu giữa hai nước mới chỉ có trong vài năm gần đây. Công ty đang tìm cách để xâm nhập và phát triển (mở rộng) thị trường này. Là một Công ty hoạt động trên địa bàn rộng, mặt hàng kinh doanh đa dạng đòi hỏi Công ty phải thiết lập nhiều mối quan hệ, trong đó Công ty đặc biệt quan tâm các quan hệ với các Bộ, Ban ngành Trung ương, các tổ chức tài chính, các đơn vị trong và ngoài nước có khả năng cung cứng thông tin, vốn nhằm tăng cường và phát triển tiềm lực của Công ty, tạo điều kiện để mở rộng quy mô kinh doanh, phát triển thị trường, hoàn thành được nhiệm vụ từng năm. 4. Nguồn hàng xuất khẩu. Nguồn hàng xuất khẩu là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu của công ty. Vì vậy việc tổ chức thu mua tạo nguồn là một vấn đề hết sức quan trọng. Hiện nay công ty tổ chức thu mua hàng xuất khẩu từ các địa phương, các cơ sở sản xuất nằm rải rác trên cả nước. Việc mở rộng được thị trường thu mua của công ty trong thời gian qua là kết quả đáng mừng và nó sẽ giúp cho công tác thu mua tạo nguồn hàng đạt kết quả cao nếu công ty biết khai thác một cách triệt để. Địa bàn thu mua tạo nguồn của công ty được phân bố theo các chi nhánh trực thuộc: - Tại khu vực phía bắc: do ba chi nhánh Lạng Sơn tổ chức. Các mặt hàng chủ yếu là chè, hồi, quế, hải sản, hàng mây tre đan, rau quả. Các trạm xuất khẩu tại Ba Vì ,Hà Đông ,Thường Tín,Chương Mỹ... - Tại khu vực Nam Bộ: do chi nhánh Thành Phố Hồ Chí Minh tổ chức. Các mặt hàng như hải sản, cao su, xoài tươi. Ngoài ra công ty còn tổ chức thu mua trực tiếp từ các cơ sở sản xuất chế biến, chủ yếu là các mặt hàng như gốm sứ, hàng may mặc, nhãn, vải khô. . . được sản xuất tại các khu vực Miền Bắc. Như vậy, hàng hoá thu mua phục vụ cho xuất khẩu của công ty ở các tỉnh khu vực phía Bắc chiếm một tỷ lệ lớn, đây cũng là điều kiện thuận lợi về địa hình cho hoạt động xuất khẩu của Công ty . Tuy nhiên, tại các khu vực miền Nam, Công ty cũng đã tiến hành thu gom được một lượng hàng hoá xuát khẩu tương đối lớn. Tổ chức thu mua tạo nguồn của công ty được phản ánh qua sơ đồ sau: Sơ đồ 2 Hàng hoá từ các hộ gia đình sản xuất có thể được thu gom qua các nhà buôn nhỏ địa phương, các chi nhánh của Công ty rồi về Công ty: hoặc có thể được đưa trực tiếp về công ty. Hàng hoá từ các cơ sở sản xuất chế biến cũng có thể được đưa trực tiếp về Công ty không qua khâu trung gian. IV . Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. * Thuận lợi: Trong 10 năm chuyển đổi sang cơ chế thị trường công ty đã đứng vững và thích nghi với cơ chế thị trường, mặt khác có các chỉ thị, nghị quyết của nhà nước đã từng bước tháo gỡ khó khăn, phát huy nội lực, nâng cao trách nhiệm. - Sự đoàn kết nhất trí, cảm thông sâu sắc với những khó khăn của cán bộ công nhân viên trong toàn công ty của ban chấp hành đảng bộ, ban giám đốc công ty. - Sự năng động sáng tạo dám nghĩ dám làm và dám chịu trách nhiệm, khắc phục khó khăn của lãnh đạo các cấp từ Công ty đến các đơn vị trực thuộc, từ các phòng ban đến các tổ đội phân xưởng... - Chủ trương, định hướng của đảng uỷ, lãnh đạo công ty là rất đúng đắn, phù hợp với tình hình phát triển của từng giai đoạn cũng như phù hợp với qui luật phát triển chung với mục tiêu tồn tại, ổn định và từng bước phát triển, mà trước mắt là phải giải quyết bằng được công ăn việc làm cho cán bộ công nhân viên. - Diện tích mặt bằng tương đối rộng, nằm tại trung tâm thị xã Hà Đông. - Sự chỉ đạo giúp đỡ của các cấp trên như UBND Tỉnh Hà Tây,Sở Thương mại... cũng như sự kết hợp có hiệu quả của các phòng, ban tham mưu của sở chủ quản. * Khó khăn: Vốn kinh doanh quá ít,vay lãi ngân hàng nhiều,cơ sở vật chất xuống cấp, do đó kinh doanh còn manh nhúm, nên hiệu quả còn chưa cao, thu nhập của người lao động chỉ đạt và vượt mức lương cơ bản chút ít. - Từ khi nhà nước chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường, chỉ riêng về mặt tư tưởng, nhận thức đã là một vấn đề khó khăn. Cơ chế bao cấp đã hình thành như một tiềm thức trong mỗi cán bộ công nhân viên. Bởi vậy quá trình chuyển đổi hoàn toàn không đơn giản. - Cơ sở vật chất kỹ thuật chủ yếu là kho, bãi, các loại phương tiện thiết bị vận tải thì thiếu thốn và không đáp ứng được nhu cầu công việc. - Vấn đề công ăn việc làm của công nhân gặp rất nhiều khó khăn. Công ty cần kết hợp hài hòa giữa các chính sách xã hội với công nhân và sự ổn định cho doanh nghiệp. - Tình hình tài chính của công ty gặp nhiều khó khăn.Vốn góp cho liên doanh, liên kết, đầu tư cho cơ sở hạ tầng, mở rộng sản xuất thiếu nghiêm trọng. 1. Tình hình kinh doanh ngoài nước. Trong những năm cuối thập kỷ 90 trở lại đây, hoạt động kinh doanh của Công ty xuất nhập khẩu Hà Tây đã có những bước phát triển vững chắc. Sự đổi mới cơ chế quản lý của Nhà nước, trong đó Nhà nước giao quyền tự chủ cho Công ty tự lựa chọn và lập phương án kinh doanh, tự hạch toán độc lập đã mở ra cho Công ty một phong cách làm ăn mới năng động và sáng tạo. Tuy rằng, trong cơ chế thị trường mới, tính cạnh tranh và loại trừ lẫn nhau diễn ra giữa các chủ thể kinh tế là hết sức gay gắt và khốc liệt, và mặc dù Công ty phải đối mặt với tình trạng khó khăn ban đầu như nạn thiếu vốn, thiếu thị trường tiêu thụ, thiếu đội ngũ cán bộ có khả năng thực hành nghiệp vụ xuất nhập khẩu, nhưng qua những thử nghiệm ban đầu, ban lãnh đạo Công ty cùng toàn thể cán bộ công nhân viên đã từng bước vượt qua thử thách, giành lấy cơ hội và không ngừng đưa Công ty phát triển lên một tầm cao mới. *Về nhập khẩu. Năm 1998 nhập khẩu của Công ty là 5,1 triệu USD tăng 78,5% so với năm 1997. Năm 1999 là 6 triệu USD tăng 17 % so với năm 1998 và năm 2000 là 6.015.783,12 triệu USD tăng 1,5 % so với năm 1999. Nhiều mặt hàng phục vụ cho sản xuất công nghiệp và nông nghiệp đã được công ty nhập khẩu phục vụ tiêu dùng như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nguyên liệu, hương liệu.. *Về xuất khẩu. Năm 1998 xuất khẩu của Công ty là 8 triệu USD tăng 14% so với năm 1997. Năm 1999 là 9,7 triệu USD tăng 21 % so với năm 1998 và năm 2000 là 25.219.451,26 triệu USD tăng 23,7 % so với năm 1999. Các năm công ty đều thực hiện đạt và vượt mức kế hoạch của Tỉnh và ngành định hướng. Những năm qua công ty đã chủ động khai thác nguồn hàng địa phương để xuất khẩu, trong đó tập trung vào mặt hàng truyền thống như: mây tre đan, gỗ mỹ nghệ, thảm len... Sau đây là kết quả thực hiện một số chỉ tiêu qua các năm Chỉ tiêu 1998 1999 2000 Tổng doanh số ( tỷ đồng) 130 186 199 2. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu (1000 USD) 13.133 15.974 21.216.975 3.Tổng mức nộp NS ( tr.đồng) 11.520 20.700 22.894 4. Tổng mức lợi nhuận ( tr.đồng) 300 544 652 5.Tổng mức vốn lưu động và đ.tư bổ xung( tr.đ) 4.023 4.515 5.248 6. B/Q thu nhậpngười/ tháng (nghìn) 419 580 660 7. Số lao động trực tiếp ( người) 163 152 146 (Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh XNK của công ty) Với sự cố gắng không ngừng của toàn thể cán bộ công nhân viên trong thời gian qua, đạt kim ngạch XNKlà 21.216.975 USD.Trong đó xuất khẩu 15.393.595 USD và nhập khẩu 5.877.397 USD, doanh thu 5,9 tỷ đồng. Nhìn vào bảng trên ta thấy hoạt động kinh doanh của Công ty trong 3 năm từ 1998 đến 2000 đều có hiệu quả nhưng chưa phải là cao. Trong thời gian hoạt động, mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng doanh thu và lợi nhuận của Công ty vẫn liên tục tăng lên.. Bên cạnh việc tăng doanh thu từ xuất khẩu Công ty đã tiến hành đầu tư và mở rộng thị trường trong nước, do đó doanh thu từ hoạt động ngoại thương cũng tăng lên. Trong các năm từ 1998 đến 2000, doanh thu của Công ty tăng lên khoảng 69 tỷ đồng và lợi nhuận tương ứng cũng tăng lên 352 triệu đồng. Như vậy, trong khoảng thời gian 3 năm từ 1998 đến 2000 doanh thu của Công ty đã tăng lên 1,5 lần. Điều này nói lên rằng hoạt động kinh doanh của Công ty đang có xu hướng khả quan đáng mừng. Năm 1998 là năm đánh dấu bước phát triển mới ở Công ty. Đây là thời kỳ mà Công ty từng bước mở rộng thị trường từ các nước Châu á, Đông Âu sang thị trường các nước Tây Âu và sang cả Châu Phi và Châu Mỹ ... Do có những bước đi trong phương án kinh doanh linh động và phù hợp với sự chuyển đổi cơ chế của nền kinh tế quốc dân nên Công ty đã đẩy mạnh được hoạt động xuất nhập khẩu với những kết quả rất khả quan. Nếu năm 1998, kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 13.521.000 USD thì chỉ đến năm 2000, giá trị xuất khẩu của Công ty đã đạt 15.974.000USD, tăng hơn 1,8 lần so với năm 1999. Trong kinh doanh xuất nhập khẩu thì hoạt động xuất khẩu luôn chiếm tỷ trọng cao hơn, với mức tăng bình quân hàng năm khá vững chắc.Trong khi đó, hoạt động nhập khẩu có những biểu hiện bất thường. Qua số liệu ta thấy tình hình trả lương của công ty năm 2000,1999 so với năm 1998 có xu hướng tốt cụ thể tiền lương bình quân tháng của nhân viên năm 1999 tăng 161.000 đồng tăng 72,24 %._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBC723.doc
Tài liệu liên quan