Biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho Sinh viên khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM ----------***------------ LÊ THÀNH THẾ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CHO SINH VIÊN KHOA NGOẠI NGỮ - ĐHTN LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Thái Nguyên 2009 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM ----------***------------ LÊ THÀNH THẾ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CHO SINH VIÊN KHOA NGOẠI NGỮ - ĐHTN Chuyên ngành: Giáo dục học Mã số: 60.14.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS

pdf114 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 09/12/2013 | Lượt xem: 1293 | Lượt tải: 4download
Tóm tắt tài liệu Biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho Sinh viên khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
.TSKH: NGUYỄN VĂN HỘ Thái Nguyên 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1 PHẦN MỘT: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Tính cấp thiết của đề tài Để nâng cao chất lượng dạy học, thực hiện phương châm “dạy học lấy người học làm trung tâm” cần phải tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên và coi đó là một hình thức tổ chức dạy học ở Đại học. Tuy nhiên trong thực tế việc nâng cao năng lực tự học cho sinh viên chưa được quan tâm đúng mức. Vì thế việc tìm ra các biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên đã trở thành một yêu cầu cấp bách trong các trường đại học nói chung và khoa Ngoại ngữ nói riêng. Trong những năm qua có nhiều công trình nghiên cứu đã xác định các phương hướng, những biện pháp đổi mới phương pháp dạy học khác nhau, các tư tưởng tập trung vào việc phát huy năng lực tự học, tự rèn luyện của người học, chuyển dần từ hệ phương pháp “tập trung vào người dạy” sang hệ phương pháp “tập trung vào người học”, chuyển dần từ phương pháp dạy học sang phương pháp nghiên cứu. Tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên trở thành một nội dung đổi mới trong nhà trường sư phạm, nếu được thực hiện tốt sẽ góp phần đổi mới phương pháp dạy học ở đại học hiện nay. Vì vậy, trong quá trình học tập đòi hỏi sinh viên phải tự giác, tích cực, chủ động, năng động sáng tạo để có thể lĩnh hội được hệ thống những tri thức khoa học qua đó rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo tương ứng. Để đạt được những yêu cầu đó đòi hỏi sinh viên phải có khả năng tự học, tự rèn luyện cao. Thực tế việc dạy học trong các trường sư phạm nói chung và khoa Ngoại ngữ nói riêng còn nhiều điểm tồn tại, việc dạy học chủ yếu nhằm cung cấp một khối lượng kiến thức xác định trong các giờ lên lớp, chưa có sự quan tâm đúng mức đến việc tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên, chưa thực sự quan tâm đến việc rèn luyện hệ thống kĩ năng sư phạm cho sinh viên. Trong lý luận dạy học, tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên được coi là một hình thức tổ chức dạy học ở đại học, việc tìm kiếm các biện pháp tổ chức Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2 hoạt động tự học cho sinh viên đã trở thành một yêu cầu cấp bách trong các trường đại học nói chung và trường sư phạm nói riêng. Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên khoa Ngoại Ngữ - ĐHTN” 2. Mục đích nghiên cứu Xây dựng các biện pháp hướng dẫn, tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên khoa Ngoại Ngữ - ĐHTN, nhằm nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên trong quá trình đào tạo. 3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 3.1. Khách thể nghiên cứu: Hoạt động dạy và học của giảng viên và sinh viên khoa Ngoại Ngữ - ĐHTN. 3.2. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp tổ chức hoạt động tự học, các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngoại Ngữ - ĐHTN. 4. Gỉa thuyết khoa học Có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả dạy - học ở các trường sư phạm nói chung và khoa Ngoại Ngữ nói riêng, một trong những nguyên nhân đó là do hoạt động tự học của sinh viên chưa được tổ chức một cách hợp lý. Nếu đề ra được các biện pháp tổ chức hoạt động tự học ở trên lớp, kết hợp với hoạt động tự học ở nhà và hoạt động ngoại khoá cho sinh viên theo hướng tích cực hoá hoạt động người học, thì sẽ góp phần vào việc nâng cao hiệu quả tự học cho sinh viên khoa Ngoại Ngữ nói riêng và chất lượng đào tạo nói chung. 5. Nhiệm vụ nghiên cứu 5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề tự học và tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên khoa Ngoại ngữ - ĐHTN. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3 5.2. Xây dựng hệ thống các biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên khoa Ngoại Ngữ và tiến hành thực nghiệm các biện pháp (áp dụng trên phần Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm). 6. Phƣơng pháp nghiên cứu 6.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn - Phương pháp quan sát hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngoại Ngữ trong mối quan hệ với hoạt động dạy học. - Phương pháp điều tra bằng ankét về thực trạng tự học của sinh viên khoa Ngoại Ngữ trong giai đoạn hiện nay. - Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến góp ý của các chuyên gia về cách xử lý kết quả điều tra, các biện pháp tổ chức, cách thực nghiệm… - Phương pháp thực nghiệm khoa học: Tiến hành thực nghiệm các biện pháp tổ chức hoạt động tự học môn Tâm lý học ở trên lớp cho sinh viên khoa Ngoại Ngữ. 6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá các tài liệu lý luận về tự học. Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu lịch sử của vấn đề nghiên cứu, phát hiện và khai thác những khía cạnh mà các công trình nghiên cứu trước đây đã đề cập tới vấn đề về tự học và tổ chức tự học, làm cơ sở cho việc tiến hành các hoạt động nghiên cứu tiếp theo. 6.3. Phương pháp toán học Sử dụng phương pháp thống kê toán học nhằm để xử lý số liệu về thực trạng tự học của sinh viên khoa Ngoại Ngữ. 7. Phạm vi giới hạn của đề tài Nghiên cứu hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngoại Ngữ và tiến hành thực nghiệm một số biện pháp tổ chức hoạt động tự học (áp dụng trên phần Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4 Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học dạy học) cho sinh viên khoa Ngoại Ngữ - ĐHTN. 8. Những luận điểm mang tính chất phƣơng pháp luận của đề tài Nghiên cứu vấn đề tự học trong sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên một cách toàn diện. Nghiên cứu vấn đề tự học trong mối quan hệ với các hoạt động khác: hoạt động chính khoá, hoạt động ngoại khoá, các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Nghiên cứu hoạt động tự học trong mối quan hệ thống nhất biện chứng với hoạt động dạy học. Nghiên cứu hoạt động tự học theo quan điểm tiếp cận tâm lý học hoạt động. Nghiên cứu hoạt động tự học trên quan điểm tiếp cận công nghệ dạy học. Nghiên cứu hoạt động tự học trên quan điểm phát triển dựa vào yếu tố nội lực là cơ bản (yếu tố người học giữ vai trò quyết định). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5 PHẦN HAI: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CHO SINH VIÊN KHOA NGOẠI NGỮ - ĐHTN 1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.1.1. Vấn đề tự học và tổ chức tự học trong các nghiên cứu ở nước ngoài. Tìm hiểu các tư tưởng trên thế giới nghiên cứu về tự học và tổ chức hoạt động tự học, chúng tôi có một số nhận xét sau: Tự học, tổ chức hoạt động tự học không phải là mảnh đất mới chưa được “cày xới” mà tự học là một vấn đề đã được nhiều nhà giáo dục học trên thế giới quan tâm đến dưới các góc độ khác nhau: phát huy tính tích cực, tính độc lập, tính tự giác, tính sáng tạo của người học như các nhà khoa học giáo dục Xôcơrat, Khổng Tử, Cômenxki, Đixtecvec, Usinxki. Ngay từ những năm công nguyên, XôCơRát (469 – 339 TCN) đã đưa ra quan niệm rất nổi tiếng: Giáo dục phải giúp con người tự khẳng định chính mình. Vận dụng quan điểm đó vào dạy học, ông cho rằng cần phải để cho người học tự suy nghĩ, tự tìm tòi, cần giúp người học tự phát hiện thấy sai lầm của mình và tự khắc phục những sai lầm đó. Đến thế kỉ 17 J.A.Cômenxki (1592-1670) đã tìm ra phương pháp cho phép giáo viên giảng viên giảng ít hơn, học sinh học nhiều hơn. Ông đề ra một số nguyên tắc dạy học mà cho đến nay vẫn còn nguyên tác dụng nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh: Nguyên tắc đảm bảo tính trực quan trong dạy học, nguyên tắc đi từ cái chung đến cái riêng, nguyên tắc tôn trọng đặc điểm đối tượng. Đến thế kỉ thứ XIX Conxtantin Đmitrêvic Usinxki (1824-1870) đã nghiên cứu về tính tích cực, tính độc lập của học sinh. Theo ông tính tích cực, tính độc lập là cơ sở duy nhất để cho sự học có hiệu quả. Ông cho rằng cần giáo dục cho học sinh biết định hướng trong môi trường xung quanh, biết hành Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6 động một cách sáng tạo, biết tự mình nâng cao vốn học vấn và tự phát triển bản thân. Trong dạy học không nên dồn tất cả tính tích cực vào công tác dạy của người giáo viên, còn học sinh thì lại thụ động mà cần phải làm sao cho học sinh tích cực ở mức độ cao nhất. Đầu thế kỉ XX những thành tựu về lý luận dạy học của nhà nước Xô Viết ra đời gắn liền với tên tuổi của một số nhà giáo dục học nổi tiếng như: V.V.Đavưdov, L.V.Zankov[41], I.Ia.lecne[47], Iu.K.Babanski[13], R.A.Nhizamov [51]. Khi nghiên cứu về lý luận dạy học ở đại học, các tác giả đã vạch rõ sự khác biệt giữa dạy học ở đại học với dạy học ở phổ thông: Các tác giả cho rằng dạy học ở đại học không phải chỉ trả lời câu hỏi dạy như thế nào? Mà còn phải trả lời câu hỏi: sinh viên độc lập học tập như thế nào? Độc lập nghiên cứu khoa học ra sao? Tìm tòi sáng tạo như thế nào?... Có thể nói ngay từ đầu thế kỉ XX, vấn đề tự học ở đại học đã được rất nhiều các tác giả quan tâm dưới góc độ phương pháp dạy và phương pháp học. Vấn đề này cho đến nay vẫn tiếp tục được nghiên cứu. Còn I.F. Kharlamop đã nghiên cứu tự học dưới góc độ tìm ra những biện pháp để phát huy tính tích cực học tập của học sinh bằng cách: Tăng cường việc nghiên cứu làm việc với sách giáo khoa, với tài liệu học tập, dạy học nêu vấn đề, cải tiến công tác tự lực học tập, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá… Cùng với xu thế phát triển của thời đại I.U.K.Babanxki nghiên cứu tự học gắn liền với việc tìm ra các biện pháp tối ưu hoá việc học theo hai hướng: Phát huy tính tích cực, tính tự giác của học sinh trong học tập dưới sự hướng dẫn, điều khiển trực tiếp của thầy, kết hợp với quản lý và tự quản lý hoạt động học tập của học sinh. Với ý tưởng trên trong dạy học người ta đã đề ra các phương pháp dạy học mới, đó là phương pháp dạy học chương trình hoá. Đáp ứng với xu thế phát triển của thời đại, đáp ứng với những yêu cầu đổi mới của các quốc gia trên thế giới, các nhà giáo dục học ở các nước phát triển Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 7 đã đi sâu nghiên cứu để tối ưu hoá việc học, hình thành, phát triển năng lực tự học để người học có thể học thường xuyên, học suốt đời. Makiguchi [70], B.P.Exipov [24], khi nghiên cứu bản chất tự học của sinh viên. Các tác giả đã chỉ ra rằng: bản chất tự học của sinh viên là hoạt động nhận thức bằng hành động tìm tòi, nghiên cứu, khám phá. Đây chính là cơ sở lý luận của vấn đề tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên. Cuối thế kỉ XX ảnh hưởng của sự phát triển khoa học kĩ thuật, đặc biệt là ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghệ, phần lớn các nhà giáo dục học đã nghiên cứu tự học theo hai hướng chính: Hướng thứ nhất nghiên cứu áp dụng công nghệ dạy học, nhằm thay đổi vị trí của thầy và trò trong quá trình dạy học, từ chuyên gia về việc dạy, giáo viên phải chuyển sang chuyên gia về việc học của người học; Hướng thứ hai là dạy học phân hoá, dạy học tiến hành theo nhịp độ cá nhân người học để đạt tới năng suất và hiệu quả cao nhất trong việc học, dạy học cần phải được tổ chức hướng vào người học. Tiêu biểu cho các hướng nghiên cứu trên là Raja Roy Singh. Ông đã nghiên cứu vai trò của năng lực tự học trong việc học tập thường xuyên và học tập suốt đời, đề cao vai trò chuyên gia cố vấn của người thầy trong việc học tập thường xuyên, học tập suốt đời, trong việc hình thành phát triển năng lực tự học của người học. Năm 1986 Sharma và R. Ahmed [63] đã nghiên cứu hoạt động tự học như là một hình thức tổ chức dạy học bằng cách dạy phương pháp cho người học. Theo tác giả, người ta có thể dạy phương pháp cho sinh viên bằng nhiều hình thức khác nhau tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh, tuỳ theo tính chất đặc thù môn học và nội dung yêu cầu của bài học. Nhưng theo ông dù tuân theo hình thức nào thì cũng phải thực hiện theo các giai đoạn sau: - Giai đoạn 1: Giáo viên thiết kế bài tập và cung cấp nguồn tài liệu cần thiết cho bài tập và chỉ dẫn cụ thể những gì sinh viên phải làm để hoàn thành bài tập. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8 - Giai đoạn 2: Giáo viên tổ chức cho sinh viên tự nghiên cứu, tự làm bài tập với sự hỗ trợ của những thông tin có sẵn. - Giai đoạn 3: Giáo viên làm việc với sinh viên trên lớp theo hình thức cá nhân hay tập thể thông qua những hình thức khác nhau: Thảo luận, xêmina, củng cố ôn tập, xây dựng bài giảng, kiểm tra đánh giá, tự kiểm tra, tự đánh giá. Đây là lí thuyết mới về tổ chức tự học dưới góc độ nhìn nhận tự học như là một phương pháp dạy học. Tóm lại, qua nghiên cứu các tư tưởng, quan điểm, bàn về dạy học và tự học, tổ chức hoạt động tự học của các tác giả trên thế giới, chúng tôi có một số nhận xét sau: Tự học là cần thiết đối với tất cả mọi người, vấn đề tự học của học sinh nói chung và của sinh viên đại học nói riêng được các tác giả trên thế giới quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau như phát huy tính tích cực học tập của người học, tối ưu hoá việc học bằng dạy học chương trình hoá, áp dụng công nghệ dạy học, tổ chức dạy học phân hoá, dạy học theo nhịp độ cá nhân, dạy phương pháp học cho người học để đạt được hiệu quả cao nhất ở người học. 1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam về tự học và tổ chức tự học Thấm nhuần lời dạy của Hồ Chủ Tịch: Học phải suốt đời ngay cả khi đã đi làm việc [101]. Với phương châm “Về cách học phải lấy tự học làm gốc”; “Về cách dạy thì phải tránh lối dạy nhồi sọ… Về học tập tránh lối học vẹt” [33 – tr 444,319] Đáp ứng yêu cầu cấp bách của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, các nhà giáo dục học Việt Nam quan tâm đến vấn đề tự học, tổ chức hoạt động tự học và đã đi sâu nghiên cứu tự học dưới nhiều góc độ. Tự học là một hoạt động độc lập diễn ra không hoặc ít có sự điều khiển của thầy (Tác gả Nguyễn Cảnh Toàn [55] và một số nhóm tác giả khác nữa). Tự học là hoạt động tích cực, chủ động, tự giác của người học dưới vai trò chủ đạo (tổ chức, hướng dẫn, điều khiển) của thầy (Các tác giả: Nguyễn Ngọc Quang [53] [56] Đặng Vũ Hoạt [29], Nguyễn Ngọc Bảo [10]. Trịnh Quang Từ [71],…). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9 Hướng thứ ba nghiên cứu tự học như là một hình thức tổ chức ngoài giờ lên lớp, phối hợp các hình thức tổ chức dạy học khác (Phạm Hồng Quang [57] và một số luận văn thạc sỹ khác…) Hầu hết các công trình nghiên cứu đều khẳng định tự học có một ý nghĩa và vai trò rất quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người, là nhân tố trọng yếu nâng cao chất lượng dạy và học, là yếu tố cơ bản để người học lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và hình thành thái độ mới. Trong một số công trình nghiên cứu về tự học và tổ chức hoạt động tự học thì tính tích cực, tính độc lập, động cơ học tập của người học giữ một vai trò rất quan trọng đối với chất lượng và hiệu quả của hoạt động tự học (Nguyễn Ngọc Bảo, Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức). Kiểm tra đánh giá là khâu then chốt nhằm giúp người thầy điều chỉnh, điều khiển hoạt động dạy của mình, điều khiển, điều chỉnh hoạt động học của trò, đồng thời giúp người học tự điều khiển, tự điều chỉnh hoạt động học tập nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động dạy học. Bên cạnh đó, kiểm tra đánh giá còn là một nhân tố phát huy tính tích cực của người học trong quá trình tự học và hình thành kĩ năng tự đánh giá ở sinh viên. Kĩ năng tự học được các tác giả xem xét như là nhân tố bên trong, rất quan trọng để người học hoàn thành nhiệm vụ học tập. Kĩ năng tự học của sinh viên được hình thành thông qua hoạt động học tập, rèn luyện, qua phương pháp dạy của thày và phương pháp học của trò. Những tư tưởng này được phản ánh qua các công trình nghiên cứu của các tác giả Trịnh Quang Từ, Trần Văn Hiếu: Tác giả Trần Văn Hiếu đã nghiên cứu về các kỹ năng đọc sách của sinh viên và đã xây dựng thành công quy trình đọc sách cho sinh viên. 1.2. Lý luận về tự học 1.2.1. Đặc điểm và bản chất của hoạt động tự học Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10 Trong thực tế, người ta có thể có nhiều cách học khác nhau: Học một cách ngẫu nhiên. Qua kiểu học này, nó đưa lại cho người học những tri thức tiền khoa học, những năng lực thực tiễn trực tiếp, do kinh nghiệm hàng ngày mang lại. Cách học thứ hai là học có chủ định, là việc học diễn ra theo phương thức đặc thù ở nhà trường, qua đó hình thành ở người học những tri thức khoa học, những năng lực mới phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn nghĩa là nhằm lĩnh hội các tri thức mới, kĩ năng, kĩ xảo mới trong nhà trường. Như vậy, hoạt động học là hoạt động của người học nhằm tổ chức các điều kiện bên trong và bên ngoài đảm bảo cho việc lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo có hiệu quả. Nghiên cứu hoạt động tự học với tư cách là một hình thức tổ chức dạy học ở đại học dựa trên quan điểm tiếp cận công nghệ dạy học và tiếp cận hoạt động, theo Lê Khánh Bằng: Học - về bản chất là quá trình tiếp thu và xử lý thông tin bằng các hành động trí tuệ và chân tay, dựa vào vốn sinh học và vốn đạt được của cá nhân, từ đó mà có được tri thức, kĩ năng, thái độ mới [6 - tr8]. Từ quan niệm trên chúng tôi có thể đi đến khái niệm về học tập như sau: Học là quá trình người học tự giác, tích cực, độc lập tiếp thu tri thức, kinh nghiệm từ môi trường xung quanh bằng các thao tác trí tuệ và chân tay nhằm hình thành cấu trúc tâm lý mới để biến đổi nhân cách của mình theo hướng ngày càng hoàn thiện, và dù trong tình huống nào thì trong bản thân sự học cũng hàm chứa sự tự học. Tự học là học với sự tự giác và tích cực ở mức độ cao. Khi quan niệm về tự học, có rất nhiều quan niệm khác nhau. Đứng dưới góc độ nghiên cứu hoạt động tự học như là hoạt động nghiên cứu, với sự giúp đỡ gián tiếp của giáo viên, thực nghiệm trên mô hình đào tạo giáo viên, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình rồi cả động cơ, tình cảm, cả Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 11 nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, ý chí tiến thủ không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó”. [66-tr59,60]. Nghiên cứu hoạt động tự học như là một hình thức tổ chức hoạt động dạy học ở đại học, tác giả Lưu Xuân Mới cho rằng: “Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính sinh viên tiến hành ở trên lớp, ở ngoài lớp theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy định. Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân nhưng có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học [48-tr276]. Nhìn chung, các tác giả đều quan niệm rằng tự học là học với sự độc lập và tích cực, tự giác ở mức độ cao, tự học là quá trình mà trong đó, chủ thể người học tự biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng các thao tác trí tuệ hoặc chân tay nhờ cả ý chí, nghị lực và sự say mê học tập của cá nhân. Tự học có thể diễn ra ở trên lớp hoặc ngoài giờ lên lớp, chẳng hạn như giải bài tập trên lớp, nảy sinh những thắc mắc khi nghe giáo viên giảng bài, tự sắp xếp những lời giảng của giáo viên để ghi vào vở, tự phân tích, nhận xét câu trả lời của bạn trong quá trình thảo luận… Theo chúng tôi, tự học là một quá trình, trong đó dưới vai trò chủ đạo của giáo viên, người học tự mình chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo thông qua các hoạt động trí tuệ (quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh,phán đoán…) và cả các hoạt động thực hành (khi phải sử dụng các thiết bị đồ dùng học tập). Tự học gắn liền với động cơ, tình cảm và ý chí… của người học để vượt qua chướng ngại vật hay vật cản trong học tập nhằm tích luỹ kiến thức cho bản thân người học từ kho tàng tri thức của nhân loại, biến những kinh nghiệm này thành kinh nghiệm và vốn sống của cá nhân người học. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 12 - Giữa học và tự học có mối quan hệ với nhau, học chỉ có hiệu quả khi có sự tự học, tự học là kết quả cuối cùng của học. - Tự học có thể diễn ra dưới sự chỉ đạo trực tiếp của giáo viên và ngay cả khi không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên. Tự học được thực hiện qua nhiều bước khác nhau: tiếp nhận thông tin từ nhiều kênh thông tin khác nhau, xử lý thông tin dựa vào vốn kinh nghiệm hiểu biết của mình, tự kiểm tra, tự đánh giá những thông tin đã thu được, vận dụng thông tin để giải quyết vấn đề do nhiệm vụ nhận thức và thực tiễn đặt ra… Tự học có thể hiểu là quá trình người học tự tìm ra ý nghĩa của việc học, làm chủ các hành động học tập của mình, tạo ra các cầu nối nhận thức trong tình huống học. Bản chất của tự học là quá trình chủ thể người học cá nhân hoá việc học nhằm thoả mãn các nhu cầu học tập, tự giác tiến hành các hành động học tập (nhận thức, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, các hoạt động giao tiếp, các hoạt động thực hành, các hoạt động kiểm tra, đánh giá...) để thực hiện có hiệu quả mục đích và nhiệm vụ học tập đề ra. Hay nói một cách khác là tự học là học với sự tự giác cao và tích cực ở mức độ cao. - Tự học chỉ thực sự có hiệu quả khi: + Người học phải thực sự có nhu cầu muốn học + Tự học chỉ diễn ra khi người học tiến hành giải quyết vấn đề, giải quyết tình huống, giải quyết các nhiệm vụ học tập + Tự học chỉ được thực hiện thông qua làm việc nghĩa là người học phải có được những cơ hội để thể nghiệm những gì mà họ đã tiếp thu được trước đó. + Tự học của sinh viên là một mặt hoạt động trong quá trình dạy học nó không thể tách rời với hoạt động dạy của GV, vì vậy tự học chỉ có thể đạt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13 hiệu quả cao khi nó được diễn ra trong mối quan hệ thống nhất biện chứng với hoạt động dạy của thầy. Nghĩa là, tự học có hiệu quả cao khi có sự hướng dẫn tổ chức của thầy. Vì vậy, muốn nâng cao hiệu quả của hoạt động tự học của SV đòi hỏi người thầy giáo ngoài chức năng tổ chức, hướng dẫn, truyền đạt... cần phải dạy cách thao tác với đối tượng, cách chiếm lĩnh đối tượng cho SV, hay nói cách khác là hướng dẫn phương pháp học, cách học cho SV. + Tự học có hiệu quả cao khi tạo được môi trường học tập cho người học, khi người học không ngừng rèn luyện cho mình một hệ thống kĩ năng tự học. Muốn tự học có kết quả cao đòi hỏi chủ thể tự học phải có động cơ và thái độ học tập đúng đắn, phải có nhu cầu và hứng thú học tập, phải có sự say mê khoa học, phải nhận thức rõ được mục đích của hoạt động học tập và ý thức một cách đầy đủ về việc học của mình. Để hoàn thành nội dung học tập đòi hỏi chủ thể tự học phải có ý chí vượt khó để vượt qua vật cản hay chướng ngại vật trong quá trình tự học nhằm đạt được các mục tiêu học tập đã đề ra. Bên cạnh đó, hoạt động tự học của SV được thực hiện bởi hệ thống kĩ năng, kĩ xảo nhất định vì vậy muốn hoạt động tự học đạt hiệu quả cao đòi hỏi người học phải có hệ thống kĩ năng tự học, cụ thể: Kĩ năng sắp xếp thời gian tự học, kĩ năng đọc sách, kỹ năng nghe và ghi chép bài trên lớp, kĩ năng nghiên cứu khoa học... và kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập. + Tự học chỉ thực sự có hiệu quả khi người học có đầy đủ các phương tiện hỗ trợ cho hoạt động tự học, phương tiện đầu tiên phải kể đến là tài liệu giáo trình, các tài liệu hướng dẫn tự học và các tài liệu tham khảo khác. Ngoài ra còn các phương tiện hỗ trợ như đèn chiếu, băng hình, máy vi tính, các phương tiện nghe nhìn khác... Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 14 Phải có địa điểm để tự học với các điều kiện cần thiết về vệ sinh học đường để hoạt động tự học của SV có hiệu quả. Phải có đủ điều kiện về cơ sở vật chất cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày của SV. 1.3. Tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên 1.3.1. Tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên Trong hoạt động dạy, tổ chức hoạt động là một công việc cần thiết ảnh hưởng tới chất lượng và hiệu quả của hoạt động dạy - học. Khi quan niệm về tổ chức quá trình dạy học, có rất nhiều quan niệm khác nhau, số đông các tác giả đều cho rằng tổ chức dạy học là sự sắp xếp các thao tác, các hành động dạy học. Khi nghiên cứu các quan điểm đó để vận dụng vào việc tổ chức hoạt động tự học cho SV chúng tôi cho rằng: Tổ chức hoạt động tự học cho SV là quá trình thiết kế, sắp xếp các biện pháp tổ chức giảng dạy của thầy nhằm tiến hành hướng dẫn điều khiển, chỉ đạo cách tự thiết kế, tự sắp xếp các biện pháp hoạt động tự học, tự nghiên cứu của SV, giúp SV phát huy tới mức cao nhất năng lực tự học, tự nghiên cứu của mình, thực hiện tốt mục đích và nhiệm vụ học tập đề ra. Bản chất của việc tổ chức hoạt động tự học cho SV là sắp xếp và tiến hành các biện pháp dạy học sao cho phát huy được tính tích cực, tính tự giác của người học ở mức độ cao nhất. Vì vậy có thể nói rằng tổ chức hoạt động tự học cho SV là quá trình tiến hành các biện pháp nhằm tích cực hoá hoạt động học tập của SV trong quá trình lĩnh hội tri thức ở trên lớp, ở nhà và trong hoạt động thực hành, ngoại khoá. Biện pháp dạy học là cách thức sử dụng hay áp dụng riêng biệt hoặc phối hợp các yếu tố trong quá trình dạy học như phương pháp, phương tiện, tài liệu, tình huống, môi trường, thời gian, công nghệ, giáo viên, SV... để tiến hành hoạt động dạy học nhằm giải quyết có hiệu quả mục đích, nhiệm vụ dạy Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 15 học đề ra. Như vậy, biện pháp tổ chức dạy học là quá trình thiết kế, sắp xếp các biện pháp giảng dạy của giáo viên nhằm tiến hành tổ chức điều khiển các biện pháp tự học của sinh viên để thực hiện một cách có hiệu quả mục đích, nhiệm vụ dạy học đề ra. 1.3.2. Hoạt động của giảng viên và sinh viên trong tổ chức hoạt động tự học Hoạt động của giảng viên là hoạt động dạy, dạy sao cho người học biết cách tự học vì vậy đòi hỏi người thầy giáo phải dạy tốt. Để dạy tốt ở bậc đại học đòi hỏi người cán bộ giảng dạy cùng một lúc phải thực hiện tốt ba nhiệm vụ của dạy học: - Dạy nghề cho SV: Thông qua nội dung tri thức bài giảng và phương pháp giảng dạy của thầy, giúp SV nắm vững hệ thống những tri thức khoa học cơ bản trên cơ sở đó hình thành ở họ hệ thống kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp tương ứng, để sau khi ra trường họ có khả năng lập nghiệp. - Dạy phương pháp tự học cho SV: Thông qua các biện pháp tổ chức hoạt động giảng dạy của thầy nhằm phát triển các năng lực và phẩm chất hoạt động trí tuệ của SV, giúp SV hình thành phương pháp tự học, tự nghiên cứu. - Dạy thái độ cho SV: Thông qua phương pháp dạy của thầy, thông qua các biện pháp tổ chức hoạt động dạy học của thầy, nhằm bồi dưỡng cho SV ý thức cá nhân đối với nghề nghiệp tương lai, đồng thời hình thành ở họ niềm tin cách mạng và niềm tin sư phạm, giáo dục cho SV những phẩm chất nhân cách của người giáo viên. Đó là lòng yêu nước, yêu nghề, mến trẻ, có tình cảm trong sáng và cao thượng, phấn đấu hết mình vì học sinh thân yếu, vì sự nghiệp giáo dục chung của đất nước... Tuy nhiên nếu chỉ thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ nêu trên trong quá trình dạy học thì chưa đủ, để dạy tốt giảng viên cần phải thực hiện sao cho với sự chi phí ít nhất về thời gian, kinh phí, sức lực của giáo viên, SV, của nhà trường và cha mẹ SV nhưng lại đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi do nghề Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 16 nghiệp và xã hội đặt ra ở mức độ cao. Muốn giải quyết được vấn đề trên, việc giảng dạy cần phải được tiến hành theo các phương hướng sau: - Giảng viên cần tiến hành các biện pháp dạy học nhằm phát huy cao độ tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập sáng tạo của SV, phát huy tới mức cao nhất năng lực tự học, tự nghiên cứu của SV. - Tăng cường rèn luyện kỹ năng thực hành, kỹ năng nghề nghiệp cho SV bằng việc giải các bài tập tình huống, bài tập thực hành, đi thực tế phổ thông và tổ chức hoạt động ngoại khoá cho SV. - Chuyển từ phương pháp học tập sang phương pháp tự học, tự nghiên cứu. - Chuyển dần từ phương pháp diễn giảng ở đại học sang phương pháp dạy học nêu vấn đề, kết hợp với làm việc theo nhóm, hoặc tổ chức thảo luận xêmina. Tận dụng tới mức cao nhất vốn tri thức, vốn kinh nghiệm mà SV đã tích luỹ được để giải quyết các nhiệm vụ học tập - Đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá theo hướng khách quan hoá, công khai hoá và hình thành năng lực tự đánh giá cho SV. - Đổi mới cơ sở vật chất và các phương tiện kĩ thuật dạy học theo hướng sử dụng công nghệ thông tin. Xây dựng các giáo án điện tử để giảng dạy cho SV hoặc sử dụng trình chiếu trong dạy học... Bên cạnh đó, để giảng dạy tốt ở bậc đại học người giảng viên cần phải thiết kế quá trình dạy học theo các công đoạn sau: * Xác định mục tiêu môn học (Xác định mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể của từng chương học, từng bài học) gồm: Mục tiêu về tri thức, mục tiêu về kĩ năng, mục tiêu thái độ mà SV cần phải đạt được. * Giảng viên cần nắm vững trình độ hiện có của SV. Nghĩa là phải nắm được trình độ tối thiểu đã có ở SV để tiếp thu bài học mới, so sánh đối chiếu với mục tiêu môn học, chương học, bài học cần phải thực hiện. Trên cơ sở đó, GV có thể lựa chọn nội dung và phương pháp giảng dạy cho phù hợp với đối tượng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 17 * Giảng viên cần khai thác động lực bên ngoài và động lực bên trong của quá trình dạy học nhằm thúc đẩy quá trình học tập của SV: Khai thác động lực bên ngoài của quá trình dạy học là tạo ra những ảnh hưởng tốt của các phương tiện kĩ thuật dạy học, của môi trường lớp học và toàn bộ cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động học tập của SV như những ảnh hưởng của GV, những ảnh hưởng của SV khác trong lớp, những ảnh hưởng của môi trường kinh tế, chính trị xã hội... Khai thác động lực bên trong của quá trình dạy học bằng cách tạo ra những mâu thuẫn nhận thức trong bản ._.thân SV khi tiến hành chiếm lĩnh nội dung tri thức, thông qua việc xây dựng những tình huống có vấn đề, các bài tập nhận thức ở nhiều mức độ khác nhau. * Giảng viên cần thủ tiêu hoặc hạn chế các tác nhân gây nhiễu tác động đến SV và quá trình học tập của SV, GV cần nắm vững bản chất của quá trình dạy học để có thể hướng dẫn SV học tập bằng nhiều cách khác nhau theo con đường algôrit và ơritstic. * Giảng viên cần thường xuyên thông tin phản hồi nhanh kết quả học tập của SV để thu mối liên hệ ngược trên cơ sở đó điều chỉnh hoạt động dạy của mình và điều khiển hoạt động học của SV. * Giảng viên cần phải vận dụng quy trình công nghệ trong giảng dạy ở bậc đại học. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 18 Chƣơng 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN KHOA NGOẠI NGỮ - ĐHTN 2.1. Thực trạng tự học của sinh viên khoa Ngoại ngữ - ĐHTN 2.1.1. Thực trạng tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên khoa Ngoại ngữ - ĐHTN Để đánh giá một cách khách quan thực trạng tổ chức hoạt động tự học cho SV khoa Ngoại ngữ - ĐHTN, chúng tôi đã tiến hành điều tra bằng ankét, quan sát các giờ học, tự học của sinh viên và trao đổi trực tiếp với SV, giáo viên giảng dạy bộ môn và cán bộ quản lý của khoa Ngoại ngữ - ĐHTN. Mục đích khảo sát nhằm đánh giá đúng về nhận thức của SV khoa Ngoại ngữ đối với vấn đề tự học, cách thức tổ chức hoạt động tự học của giảng viên và SV, những yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động dạy và tự học của giảng viên và SV. Trên cơ sở đó, tìm ra những biện pháp tổ chức có hiệu quả hoạt động tự học cho SV. Trước khi tiến hành khảo sát chúng tôi đã nghiên cứu nắm đặc điểm tình hình của SV, cơ sở vật chất của khoa Ngoại ngữ - ĐHTN và hoạt động giảng dạy của giáo viên. Trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành thiết kế hai mẫu phiếu A1 và A2. Mẫu phiếu A1 dành cho SV và mẫu phiếu A2 dành cho cán bộ giảng dạy. Chúng tôi tiến hành việc điều tra được thực hiện trên 118 SV năm thứ nhất và 3 giảng viên giảng dạy bộ môn Tâm lý học của khoa Ngoại ngữ - ĐHTN kết hợp với trò chuyện, phỏng vấn, đàm thoại với giảng viên, cán bộ quản lý, sinh viên và thu được các kết quả sau: 2.1.2. Thực trạng nhận thức của sinh viên khoa Ngoại ngữ - ĐHTN về vấn đề tự học. Để đánh giá thực trạng nhận thức của SV khoa Ngoại ngữ, chúng tôi sử dụng câu hỏi sau: Bạn đánh giá thế nào về vai trò của hoạt động tự học: a) Rất quan trọng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 19 b) Quan trọng c) Bình thường d) Không quan trọng Chúng tôi thu được kết quả ở bảng sau: Bảng 1.1: Thực trạng nhận thức của SV khoa Ngoại ngữ về tự học STT Vai trò của hoạt động tự học Ý kiến của SV 1 Rất quan trọng 79,7 % 2 Quan trọng 19,5 % 3 Bình thường 0,8% 4 Không quan trọng 0% Qua kết quả thu được ở bảng trên chúng tôi nhận thấy rằng đa số SV đều có nhận thức đúng về vai trò của hoạt động tự học. Cụ thể: Có 94 SV chiếm 79,7% cho rằng hoạt động tự học có vai trò rất quan trọng; 23 SV chiếm 19,5% cho rằng hoạt động tự học có vai trò quan trọng và chỉ có 1 SV chiếm 0,8% là bình thường; 0% là không quan trọng. Để đánh giá về thực trạng nhận thức của SV khoa Ngoại ngữ - ĐHTN về vấn đề tự học chúng tôi còn sử dụng câu hỏi: Theo bạn tự học có ý nghĩa như thế nào? a) Giúp người học tiếp thu tri thức b) Tự học giúp người học vận dụng những tri thức đã học vào những tình huống cụ thể c) Tự học giúp người học có thêm tri thức để hình thành và phát triển nhân cách của bản thân d) Tự học là để kiểm tra và thi có kết quả cao e) Tự học là để làm phong phú thêm hiểu biết của mình Kết quả thu được như sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 20 - Tự học là để người học tiếp thu tri thức 45,8% - Tự học giúp người học vận dụng những tri thức đã học vào những tình huống cụ thể 6,8% - Tự học giúp người học có thêm tri thức để hình thành và phát triển nhân cách của bản thân 33,9% - Tự học là để kiểm tra và thi có kết quả cao 12,7% - Tự học là để làm phong phú thêm hiểu biết của mình 0,8% Qua kết quả trên chúng tôi thấy: Số đông SV đã có nhận thức một cách khá đầy đủ, sâu sắc về ý nghĩa của hoạt động tự học (có 45,8% số đông SV cho rằng tự học là để người học tiếp thu tri thức; 33,9% có quan niệm cho rằng tự học giúp người học có thêm tri thức để hình thành và phát triển nhân cách của bản thân). Tuy nhiên, nhận thức về tự học của SV giữa các chuyên ngành cũng có sự khác nhau. Nguyên nhân dẫn tới sự khác nhau đó có thể do rất nhiều nguyên nhân tạo thành, như: - Do trình độ SV được tuyển đầu vào khác nhau - Do điều kiện học tập và môi trường học tập khác nhau - Do phương pháp giảng dạy và cách thức tổ chức hoạt động dạy học khác nhau của giảng viên. 2.1.2.1 Thực trạng sử dụng các biện pháp tổ chức hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngoại ngữ - ĐHTN * Thực trạng về việc sử dụng thời gian tự học thường xuyên của SV khoa Ngoại ngữ Khi được hỏi: Bạn tự học như thế nào? Kết quả thu được như sau: - Chỉ khi giáo viên yêu cầu: 29,66% - Khi chuẩn bị thi và kiểm tra: 53,38% - Thường xuyên vào các buổi hàng ngày: 16,96% Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 21 Qua kết quả trên chúng tôi nhận thấy rằng ý thức tự giác, tích cực tự học của SV là chưa cao (tự học thường xuyên vào các buổi hàng ngày chỉ chiếm 16,96%). Chính vì lí do này mà kết quả chọc tập của một số SV chưa đạt yêu cầu trong quá trình đào tạo. Để tìm hiểu thực trạng hoạt động tự học của SV chúng tôi sử dụng câu hỏi số 4: Khi tự học bạn thường sử dụng những biện pháp nào sau đây? Với câu hỏi trên chúng tôi thu được những kết quả rất khác nhau, cụ thể: - Đọc qua bài cũ: 19,5% - Đọc kĩ và tái hiện lại tri thức đã học bằng ngôn ngữ nói và viết: 16,9% - Đọc và nghiên cứu bài mới trước khi nghe giảng: 10,1% - Nghiên cứu bài mới trước khi nghe giảng và xây dựng đề cương nghiên cứu: 15% - Tổ chức trao đổi về nội dung nghiên cứu: 1,7% - So sánh đối chiếu về kết quả nhận thức của mình với bài giảng của thầy: 5% - Vận dụng tri thức để giải quyết các vấn đề khác nhau: 6,7% Ngoài ra kết quả điều tra cho thấy SV còn sử dụng phối hợp nhiều biện pháp tự học khác nhau như: - Đọc qua bài cũ, đọc kĩ và tái hiện lại tri thức đã học bằng ngôn ngữ nói và viết: 3,3% - Đọc qua bài cũ, đọc và nghiên cứu bài mới trước khi nghe giảng với tổ chức trao đổi về nội dung nghiên cứu: 1,7% Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 22 - Đọc qua bài cũ, đọc kĩ và tái hiện lại tri thức đã học bằng ngôn ngữ nói và viết với nghiên cứu bài mới trước khi nghe giảng và xây dựng đề cương nghiên cứu: 7,5% - Vận dụng phối hợp các biện pháp nói trên: 10,9% Bảng 1.2: Các biện pháp tự học được sinh viên khoa Ngoại ngữ áp dụng thường xuyên STT Biện pháp áp dụng thƣờng xuyên Tỷ lệ % 1 Đọc qua bài cũ 19,5 % 2 Đọc kĩ và tái hiện lại tri thức đã học bằng ngôn ngữ nói và viết 16,9% 3 Đọc và nghiên cứu bài mới trước khi nghe giảng 10,1% 4 Nghiên cứu bài mới trước khi nghe giảng và xây dựng đề cương nghiên cứu 15% 5 Vận dụng phối hợp tất cả các biện pháp nói trên 10,9% Qua kết quả trên chúng tôi thấy biện pháp tổ chức hoạt động tự học được SV khoa Ngoại ngữ áp dụng thường xuyên nhất đó là học bài cũ, tái hiện lại tri thức đã nghe giảng, nghiên cứu bài mới trước khi nghe giảng và xây dựng đề cương nghiên cứu. Điều này là hoàn toàn phù hợp với nhận thức của SV về vấn đề tự học. Biện pháp tổ chức hoạt động tự học ít được SV áp dụng nhất đó là các biện pháp so sánh đối chiếu về kết quả nhận thức của mình với bài giảng của thầy, tổ chức trao đổi, thảo luận nội dung tự nghiên cứu với bạn, với thầy... Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 23 * Thực trạng sử dụng các biện pháp tổ chức hoạt động tự học ở trên lớp cho sinh viên khoa Ngoại ngữ Bảng 1.3: Biện pháp tổ chức hoạt động tự học ở trên lớp cho SV: STT Mức độ Biện pháp Thƣờng xuyên Không thƣờng xuyên Không áp dụng 1 Thông báo trước nội dung sắp học cho SV trước một tuần 66,67% 33,33% 2 Cho SV nghiên cứu trước nội dung bài giảng trước khi nghe giảng 66,67% 33,33% 3 Hướng dẫn SV nội dung cần đọc, cần nghiên cứu 66,67% 33,33% 4 Hướng dẫn cách đọc, cách tự nghiên cứu cho SV 33,33% 66,67% 5 Tổ chức thảo luận nhóm về vấn đề tự nghiên cứu 100% 6 Sử dụng mô hình, sơ đồ để hệ thống hoá tri thức bài học cho sv 100% 7 Tổ chức sv làm việc theo nhóm, thảo luận các vấn đề đã nghiên cứu 100% 8 Tổ chức thông tin phản hồi nhanh, hướng dẫn sv cách tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả tự nghiên cứu 33,33% 66,67% 9 Hướng dẫn sv giải các bài tập thực hành của chuyên ngành đào tạo 66,67% 33,33% 10 Tổ chức câu lạc bộ môn học cho sv 66,67% 33,33% Kết quả thu được ở trên là kết quả thu được qua điều tra đối với 3 giáo viên dạy bộ môn Tâm lý học. Ngoài ra chúng tôi còn tiến hành trò chuyện đối Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 24 với một số giáo viên của từng chuyên ngành và kết quả thu được cũng tương đối như kết quả trên. * Thực trạng về việc chấp hành các biện pháp tổ chức tự học của sinh viên trước yêu cầu của giáo viên Để tìm hiểu thực trạng trên chúng tôi sử dụng câu hỏi số 5 trong phiếu điều tra A1, kết quả thu được thể hiện ở bảng sau: Bảng 1.4: Việc chấp hành các biện pháp tổ chức tự học của sinh viên trước yêu cầu của giáo viên: STT Nội dung yêu cầu Ý kiến sv (%) 1 Đọc qua nội dung giáo viên yêu cầu 18,6% 2 Đọc kĩ không ghi chép 16,1% 3 Nghiên cứu kĩ, xây dựng đề cương 21,2% 4 Nghiên cứu, tóm tắt nội dung nghiên cứu 33,1% 5 Nghiên cứu và nảy sinh thắc mắc 11% 6 Không chuẩn bị 0% * Nhận xét đánh giá của sinh viên về các biện pháp của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên Để có được những thông tin ngược từ phía SV đối với các biện pháp của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động tự học chúng tôi sử dụng câu hỏi sau: Theo bạn những biện pháp sau đây của giáo viên có mức độ ảnh hưởng như thế nào tới hoạt động tự học của bạn? Kết quả thu được như sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 25 Bảng 1.5: Nhận xét đánh giá của sinh viên về các biện pháp của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên STT Mức độ ảnh hƣởng % Các hoạt động Rất tốt Tốt Không ảnh hƣởng Ảnh hƣởng xấu 1 Thông báo trước nội dung sắp học cho SV 55,94 44,06 2 Cho SV biết yêu cầu của bài mới 65,25 25,42 9,33 3 Cho SV biết ý nghĩa của bài học đối với nghề nghiệp tương lai 44,06 40,68 15,26 4 Yêu cầu SV tự nghiên cứu trước nội dung sắp học và xây dựng đề cương nghiên cứu 29,66 55,93 14,41 5 Giới thiệu tài liệu giáo trình và hướng dẫn cách đọc cho SV 50 44,91 4,23 0,86 6 Hướng dẫn cách đọc và tóm tắt nội dung nghiên cứu 33,89 56,78 9,33 7 Tổ chức cho SV làm việc theo nhóm, thảo luận về vấn đề đã tự nghiên cứu 47,45 46,61 5,94 8 Hướng dẫn giải các bài tập thực hành 22,88 65,26 11,86 9 Thông tin phản hồi về kết quả nghiên cứu và lĩnh hội của SV sau mỗi bài học 28,81 58,48 12,71 10 Tổ chức câu lạc bộ theo môn học cho SV 44,91 38,14 16,95 * Thực trạng về kĩ năng tự học của sinh viên. Bảng 1.6: Thực trạng tự đánh giá của sinh viên về kĩ năng tự học của sinh viên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 26 TT Điểm, tỷ lệ % Các kỹ năng 1 % 2 % 3 % 4 % 5 % 1 Kỹ năng đọc sách 9,9 8,5 16,2 17 48,4 2 Kỹ năng nắm bắt nội dung bài trên lớp 16,2 10,1 22 35,5 16,2 3 Kỹ năng xây dựng đề cương nghiên cứu 46,4 16,2 16,2 7,6 13,6 4 Kỹ năng tham gia thảo luận 63,8 5,9 10,1 10,1 10,1 5 Kỹ năng sắp xếp thời gian tự học 17,2 5,9 12,7 25,4 38,8 6 Kỹ năng khái quát hoá nội dung tri thức đã học 73,8 3,4 7,6 7,6 7,6 7 Kỹ năng giải các bài tập thực hành 68,8 12,7 7,6 9,3 1,6 8 Kỹ năng rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên 80,7 13,5 4,2 0,8 0,8 9 Kỹ năng khắc phục khó khăn trong học tập 39,9 33,9 16,9 5,9 3,4 10 Kỹ năng đặt vấn đề nảy sinh thắc mắc 17,8 47,5 20,4 12,7 1,6 Từ nhận thức về tự học và thực trạng tổ chức tự học cho SV đã dẫn tới thực trạng về kỹ năng tự học của SV như sau: Tự đánh giá của SV về kỹ năng tự học (kỹ năng tự học được SV đánh giá cho điểm từ cao nhất đến thấp nhất). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 27 Từ kết quả trên chúng tôi nhận thấy: SV khoa Ngoại ngữ còn yếu về kỹ năng đặt vấn đề, nảy sinh thắc mắc, xây dựng đề cương nghiên cứu, kỹ năng vận dụng, kỹ năng rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên, kỹ năng khái quát hoá nội dung tri thức đã học, kỹ năng thảo luận. * Nhận xét chung về thực trạng các biện pháp tự tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên khoa Ngoại ngữ. Chúng tôi có nhận xét như sau: Các biện pháp tổ chức hoạt động tự học của SV khoa Ngoại ngữ là chưa hợp lý, chưa phù hợp với yêu cầu của hoạt động học tập ở trường đại học. Hoạt động tự học của SV còn mang nặng hình thức ghi nhớ và tái hiện, chưa chú ý đến hoạt động tự nghiên cứu, chưa chú ý đến hoạt động thực hành rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên. Từ các biện pháp tổ chức tự học như trên đã dẫn tới việc SV chấp hành các biện pháp tổ chức hoạt động tự học do giảng viên đề ra một cách miễn cưỡng, không tự giác. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là do SV chưa có thói quen tự học thường xuyên, chưa có phương pháp tự học, chưa có kỹ năng tự học. Cán bộ giảng dạy và cán bộ quản lý của khoa chưa thực sự quan tâm tới việc tổ chức hoạt động tự học cho SV, giảng viên còn gặp khó khăn trong quá trình tổ chức hoạt động tự học và quản lý SV. 2.1.2.2. Nguyên nhân của thực trạng sử dụng các biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên khoa Ngoại ngữ - ĐHTN. Để biết được nguyên nhân của thực trạng sử dụng các biện pháp tổ chức hoạt động tự học chúng tôi sử dụng các câu hỏi sau: * Những nguyên nhân về phía SV khi tự tổ chức hoạt động tự học: Khi được hỏi: Bạn có những khó khăn nào trong những khó khăn sau đây khi tự tổ chức hoạt động tự học của mình? Kết quả thu được như sau; - Thiếu địa điểm tự học: 10,16% Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 28 - Thiếu thời gian tự học: 3,38% - Thiếu tài liệu giáo trình: 35,59% - Chưa biết cách học: 38,98% - Thiếu môi trường tự học: 0,84% - Không có tính tích cực và ý chí vượt khó của bản thân: 11,05% Kết quả trên cho chúng ta thấy, nguyên nhân cơ bản dẫn tới hiệu quả của việc tổ chức tự học chưa cao là do SV chưa biết cách học, chưa có kỹ năng tự học và thiếu tài liệu giáo trình. * Những nguyên nhân về phía giảng viên khi tiến hành tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên. - Do SV chưa tích cực trong học tập: 82% - Thiếu tài liệu, giáo trình và các phương tiện hỗ trợ hoạt động dạy học: 78% - Chưa có những biện pháp để quản lý quá trình tự học của SV: 85% Từ những kết quả khảo sát nêu trên, chúng tôi có nhận xét chung như sau: Nguyên nhân của thực trạng trên là do quỹ thời gian dành cho môn học còn ít, do SV chưa thực sự tích cực trong học tập, do thiếu tài liệu giáo trình và các phương tiện hỗ trợ cho hoạt động dạy học... 2.2. Nhận xét chung về thực trạng tự học và tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên khoa Ngoại ngữ - ĐHTN Nhìn chung, SV khoa Ngoại ngữ chưa có nhận thức đầy đủ về bản chất, vai trò, ý nghĩa của hoạt động tự học, vì thế mà việc sử dụng thời gian và các biện pháp tổ chức hoạt động tự học của SV chưa được hợp lý và khoa học. SV tự học không thường xuyên mà mới chỉ tập trung học khi chuẩn bị kiểm tra và thi. Một trong những nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên là do SV chưa có kỹ năng tự học, chưa biết cách học, chưa có đủ tài liệu giáo trình và các phương tiện hỗ trợ cho hoạt động tự học. Đặc biệt là do giảng viên chưa thực sự quan tâm đến các biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho SV, chưa phát huy hết vai trò tích cực, độc lập sáng tạo của SV trong quá trình dạy học. Chính vì vậy mà hoạt động tự học của SV ở khoa Ngoại ngữ chưa được đẩy mạnh, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 29 chưa được tổ chức một cách khoa học, hợp lý. Nhiệm vụ đặt ra đối với các nhà quản lý, những người làm công tác giảng dạy là phải tổ chức hoạt động tự học cho SV, đặc biệt là phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động của người học nhằm phát huy tới mức cao nhất năng lực tự học và tự nghiên cứu của SV, để đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá ở các trường ĐHSP nói chung và khoa Ngoại ngữ nói riêng. Kết luận chƣơng 2 Tự học là học với sự tự giác và tích cực ở mức độ cao. Tự học là quá trình tự giác, tích cực chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng , kỹ xảo, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên và hình thành tình cảm, thái độ nghề nghiệp của SV dưới vai trò chủ đạo của người dạy. Tự học có thể diễn ra ở trên lớp hoặc trong quá trình tự học ở nhà và trong các hoạt động ngoại khoá. Ba khâu này có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau không thể tách rời. Nó bổ sung kết quả cho nhau. Tổ chức hoạt động tự học cho SV là quá trình tiến hành các biện pháp dạy học nhằm tích cực hoá hoạt động học tập của SV trong mọi hoạt động chính khoá, ngoại khoá nhằm góp phần hình thành năng lực sư phạm của người thầy giáo tương lai cho SV khoa Ngoại ngữ. Nhưng trong thực tế vấn đề này chưa được cán bộ giảng dạy trong khoa quan tâm một cách triệt để, đặc biệt là vấn đề tự học ở nhà của SV và vấn đề tổ chức hoạt động ngoại khoá để rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV, vì vậy mà SV chưa hiểu hết được ý nghĩa của môn học, chưa biết cách tổ chức hoạt động tự học. Chƣơng 3: CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CHO SINH VIÊN KHOA NGOẠI NGỮ - ĐHTN 3.1. Một số định hƣớng để đề xuất các biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho SV khoa Ngoại ngữ - ĐHTN 3.1.1. Tiếp cận quan điểm công nghệ dạy học Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 30 Công nghệ dạy học là lý luận dạy học ứng dụng, chuyên nghiên cứu việc xibecnetic hoá quá trình dạy học theo hướng phân hoá - cá thể hoá. Quá trình này cho phép người học tiến theo nhịp độ cá nhân, nâng cao chất lượng hiệu quả dạy học. Tiếp cận công nghệ dạy học vào việc tổ chức hoạt động tự học cần phải thực hiện tốt hai nhiệm vụ: - Chuyển hoá vào thực tiễn dạy học những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật, của khoa học giáo dục, của lý luận dạy học nói chung và lý luận dạy học bộ môn nói riêng nhắm thiết kế được công nghệ dạy học để tối ưu hoá năng lực tự học của SV. - Sử dụng tối đa và tối ưu các phương pháp, phương tiện, các hình thức tổ chức dạy học bộ môn vận hành theo nguyên lý mới, theo cơ chế tự học có hướng dẫn (Assisted slefleaning) tiến lên theo nhịp độ cá nhân, đánh giá trên quan điểm tiếp cận mục tiêu. Theo quan điểm tiếp cận trên, quá trình dạy học được thực hiện như một quy trình công nghệ đặc biệt mà ở đó, nguyên vật liệu là người học, họ là chủ thể có ý thức tự giác tích cực và chủ động. Trong công nghệ dạy học, giáo viên vừa là người thiết kế quy trình dạy, vừa là người thi công hoạt động dạy, vừa là người thiết kế quá trình học tập của SV. Còn người học, không chỉ học đi theo con đường thẳng nhờ sự chỉ dẫn của thầy, mà còn đi theo con đường tự nhận thức, tự nghiên cứu - con đường ơristic (tức là mày mò sáng tạo). Vận dụng công nghệ dạy học, công nghệ giáo dục vào giảng dạy bộ môn, nhằm tổ chức tốt hoạt động dạy - học bộ môn cần phải chú ý các điều kiện sau: Xác định mục tiêu dạy học cho toàn bộ chương trình học, cho từng chương học, từng phần, từng chủ đề xêmina, trong việc giải quyết các bài tập thực hành và trong hình thức tổ chức giảng dạy bộ môn. Trên cơ sở xác định đúng mục tiêu của chương trình, giảng viên giảng dạy bộ môn có thể thiết kế các quy trình dạy học bộ môn. Quy trình đó bao Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 31 gồm những thao tác, những hành động, gộp thành những công đoạn, những khâu theo một trình tự hợp lý, chặt chẽ. Trong các quy trình dạy học bộ môn, phải có sự kết hợp hài hoà giữa các nhân tố: thầy giáo, nội dung dạy học, phương pháp dạy học, nhân tố trò, các phương tiện kỹ thuật dạy học, các hình thức tổ chức dạy học và kết quả của quá trình dạy học. Trong các quy trình dạy học bộ môn lại bao gồm nhiều loại quy trình như: Quy trình dạy của thầy, quy trình học của trò, quy trình kiểm tra đánh giá... Khi tổ chức hoạt động tự học cho SV cần quán triệt các nguyên tắc cơ bản: 3.1.1.1. Đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của thầy với vai trò tích cực chủ động của sinh viên. Dạy và học là hai mặt hoạt động cơ bản của quá trình dạy học, luôn luôn có sự thống nhất biện chứng với nhau. Trong đó giáo viên đóng vai trò chủ đạo (là người hướng dẫn, tổ chức, điều khiển, chỉ đạo hoạt động nhận thức của SV) còn SV là người chịu sự hướng dẫn, chịu sự điều khiển của giáo viên nhưng đồng thời cũng là chủ thể của hoạt động nhận thức, học là nhân tố quyết định hiệu quả của quá trình dạy học ở đại học. Hoạt động dạy học chỉ có thể đạt được hiệu quả cao khi ngươi thầy phát huy được tính tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo, năng lực tự học, tự nghiên cứu của SV. Vì vậy trong quá trình dạy học, người thầy giáo cần nghiên cứu các biện pháp tổ chức hoạt động dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tính chủ động độc lập, sáng tạo của SV, hình thành và phát triển ở họ hệ thống những kĩ năng tự học, tự tổ chức, tự thiết kế hoạt động tự học có hiệu quả nhằm biến quá trình dạy học thành quá trình tự học, tự nghiên cứu của SV. Điều đó có nghĩa là hoạt động dạy học chỉ đạt được kết quả thực sự khi có sự kết hợp hữu cơ giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò. 3.1.1.2. Đảm bảo tính thực tiễn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 32 Các biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho SV phải có khả năng thực thi, phù hợp với mục tiêu đào tạo của khoa Ngoại ngữ, phù hợp với đặc điểm, nội dung, phương pháp giảng dạy bộ môn ở khoa, phù hợp với năng lực sư phạm của giảng viên. Các biện pháp tổ chức dạy học phải phù hợp với cơ sở vật chất phương tiện dạy học của khoa, với đặc điểm và trình độ nhận thức của SV đồng thời phù hợp với xu thế đổi mới phương pháp dạy học ở đại học trong giai đoạn hiện nay. 3.1.1.3. Đảm bảo tính toàn diện Các biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho SV phải tạo ra kết quả cao trên nhiều phương diện: Giúp SV nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tốt hơn, nhanh hơn, sâu sắc hơn, đồng thời góp phần giáo dục động cơ, thái độ học tập đúng đắn cho SV... Hình thành năng lực tự học, tự nghiên cứu và thói quen tự học, tự nghiên cứu cho SV. Giúp SV có khả năng tự học thường xuyên, tự học suốt đời để có thể tự đào tạo và đào tạo lại sau này Trên cơ sở quán triệt các định hướng trên, chúng tôi xây dựng hệ thống các biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho SV như sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 33 3.2. Các biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho SV. 3.2.1. Biện pháp tổ chức hoạt động tự học ở trên lớp Để tổ chức hoạt động tự học ở trên lớp cho SV, giảng viên có thể tiến hành một loạt các biện pháp như tạo môi trường học tập, tổ chức SV làm việc theo nhóm, kết hợp với thảo luận toàn lớp, tăng cường việc giải các bài tập thực hành, sử dụng mô hình hoá, thông tin phản hồi nhanh nhằm tích cực hoá hoạt động của SV trong quá trình tự học. Tích cực hoá hoạt động học tập của SV là sử dụng các biện pháp dạy học gây ảnh hưởng đến quá trình học tập của SV, làm thay đổi vị thế của SV trong quá trình học tập, từ chỗ là chủ thể tiếp nhận tri thức một cách thụ động, chuyển thành chủ thể tích cực, tự giác, tự lực và năng động tiến hành quá trình học tập của mình. Hay nói cách khác, tích cực hoá hoạt động học tập của SV là quá trình giảng viên sử dụng các biện pháp dạy học bộ môn làm chuyển biến việc học bộ môn từ chỗ là sự học, sự bắt chước, sự tái hiện, sự ghi nhớ, sao chép, ôn luyện máy móc... trở thành hoạt động học tập, có động cơ, có mục đích xác định với hệ thống những hành động cụ thể, được tiến hành với những phương pháp, phương tiện thích hợp, có kỹ năng, có kế hoạch dựa trên cơ sở tự giác, tích cực, chủ động tiến hành các nhiệm vụ học tập của SV. Như vậy bản chất của tính tích cực hoá hoạt động học tập ở SV là quá trình cán bộ giảng dạy tiến hành các biện pháp giảng dạy bộ môn nhằm phát huy tới mức cao nhất tính tự giác, tính tích cực học tập của SV, thông qua việc giải quyết các vấn đề, các nhiệm vụ học tập nhằm đạt được các mục tiêu học tập đề ra. Để tích cực hoá hoạt động học tập ở trên lớp của SV người cán bộ giảng dạy phải thực hiện tốt các biện pháp sau: 3.2.1.1. Tạo môi trường học tập cho sinh viên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 34 Môi trường học tập là toàn bộ những điều kiện vật chất và tinh thần diễn ra xung quanh người học, là nơi mà hoạt động học tập của SV được thực hiện. Môi trường học tập tốt là môi trường mà ở đó SV được nghe, được làm việc, được xem người khác làm, cùng làm và bảo ban người khác cùng làm... Môi trường học tập bao gồm cả môi trường vật chất và môi trường tinh thần do giáo viên tạo ra trong đó môi trường tinh thần giữ vị trí vai trò hết sức quan trọng vì nó góp phần tạo nên động cơ, mục đích, hứng thú học tập cho SV đồng thời nó là tác nhân kích thích tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập của SV đạt hiệu quả cao. Như tạo điều kiện về mặt phương tiện và kỹ thuật để tiến hành hoạt động học tập, gây hứng thú học tập cho SV, tạo ra các mối quan hệ nhiều mặt của SV, để họ có thể tiếp thu thông tin đa chiều từ nhiều kênh thông tin khác nhau... * Các biện pháp tạo môi trường học tập cho sinh viên Trong quá trình dạy học trên lớp giảng viên có thể tạo môi trường tinh thần học tập cho SV như sau: - Thông báo cho SV kế hoạch của bài học, chương học, tiết học. - Thiết lập các định hướng bài học, chương học, tiết học. - Thông báo đề cương bài học một cách rõ ràng, và cách thức tiến hành bài học, chương học, tiết học, những nội dung sẽ được đề cập, những biện pháp cần tiến hành, các quy tắc cơ bản cần phải tuân theo. - Tạo ra sự gần gũi giữa SV với SV, giữa SV với GV - Sử dụng các biện pháp như “tấn công não”, giải quyết các bài tập thực hành, sử dụng một mẩu chuyện nào đó trong thực tiễn giáo dục hay hệ thống những câu hỏi mang tính vấn đề... nhằm kích thích hứng thú học tập của SV. * Điều kiện để thực hiện biện pháp trên - GV nắm rõ đặc điểm của SV Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 35 - GV phải có nghệ thuật trong việc tạo hứng thú học tập cho SV - GV phải có kinh nghiệm trong thực tiễn giáo dục phổ thông - GV phải có kỹ năng xây dựng kế hoạch bài học - Phải giúp SV nhận thức rõ về ý nghĩa của bài học, chương học, học phần đối với nghề nghiệp trong tương lai - SV phải có động cơ và thái độ học tập đúng đắn. 3.2.1.2. Tổ chức cho sinh viên làm việc theo nhóm kết hợp với thảo luận toàn lớp Tổ chức SV làm việc theo nhóm để giải quyết các vấn đề học tập, thực hiện các mục tiêu học tập đề ra, rồi di chuyển vị trí để thảo luận chung toàn lớp, trao đổi, rút kinh nghiệm và lại có thể tiếp tục quay lại làm việc theo nhóm đó là mô hình đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Tổ chức dạy học theo nhóm kết hợp với thảo luận là giải pháp về tổ chức nhằm đảm bảo quá trình học tập diễn ra tích cực và hiệu quả. Thông qua làm việc theo nhóm kết hợp với tổ chức thảo luận làm cho việc học của SV trở nên mềm mại, linh hoạt không cứng nhắc dập khuôn máy móc. Đồng thời sử dụng tối đa các nguồn lực dạy học và tạo không gian hoạt động đa dạng, dễ thay đổi, nâng cao khả năng tương tác giữa SV với giảng viên và giữa SV với SV. Với các biện pháp tổ chức dạy học này có tác dụng tạo ra môi trường học tập đa thông tin cho SV. Tạo cơ hội giúp SV có thể tự nghiên cứu, tự bộc lộ để thể hiện năng lực và kết quả nghiên cứu của cá nhân, tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả học tập và nghiên cứu, đồng thời có tác dụng giúp họ phát triển hài hoà nhân cách của mình. Thông qua môi trường học tập hợp tác, SV không chỉ học được tri thức, kinh nghiệm, thái độ mà còn học được các kỹ năng thực hành, kỹ năng hợp tác. Ngoài ra học tập theo nhóm kết hợp với thảo luận toàn lớp còn giúp SV phát triển ý thức làm việc tập thể, phát huy trí Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 36 tuệ tập thể, phát huy tính tích cực học tập, năng lực tự học của SV, năng lực tổ chức, quản lý, tự quản của SV, tạo điều kiện cho mỗi SV có cơ hội để trải nghiệm sự thành công hay thất bại của mình. * Biện pháp tiến hành tổ chức dạy học theo nhóm Bước 1: Phân nhóm (mỗi nhóm từ 15 đến 20 người có năng lực không đồng đều) Bước 2: GV lựa chọn các vấn đề thích hợp với các mục tiêu, nội dung học tập nhằm làm xuất hiện tình huống có vấn đề ở SV. Bước 3: GV trình bày các mục tiêu học tập như là các mục tiêu của nhóm sau đó giao nhiệm vụ cho từng nhóm. Bước 4: Tổ chức SV làm việc theo nhóm để giải quyết các nhiệm vụ học tập đề ra. Bước 5: Tổ chức đại diện các nhóm trình bày vấn đề đã chuẩn bị và tổ chức thảo luận trước toàn lớp. Bước 6: GV nhận xét đánh giá kết quả của từng nhóm, nhận xét, phê bình hoặc khen thưởng. Sau đó hệ thống hoá, khái quát hoá tri thức bài học. * Điều kiện để thực hiện quy trình: - Thảo luận theo nhóm phải có chủ đề, mục tiêu, nội dung rõ ràng vì vậy mỗi bài học cần được xây dựng theo những chủ đề. - Khi thảo luận GV phải nhắc lại chủ đề, mục tiêu, nội dung thảo luận. - SV phải có sự chuẩn bị trước ít nhất là 3 - 5 ngày hay một tuần nhằm xây dựng đề cương thảo luận. - GV cần phát huy tính tích cực nhận thức của SV trong quá trình thảo luận, tận dụng một cách triệt để vốn kinh nghiệm mà SV đã tích luỹ được. - GV phải là người có năng lực chuyên môn sâu, có năng lực,._.ục tiêu học tập đề ra. đồng thời rèn luyện hệ thống kỹ năng sư phạm cho SV 2. Chuẩn bị thảo luận. - Chia nhóm và phân công nhiệm vụ cho các nhóm. Thông qua hình thức đặt vấn đề, nêu vấn đề. 3.. Tổ chức thảo luận. Bước 1, Bước 2, Bước 3 tuân theo như bài 1 và bài 2. Yêu cầu sinh viên phải làm bật được các vấn đề sau : Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 92 a) Vị trí của lứa tuổi đầu thanh niên ở trong gia đình và xã hội có những thay đổi: - Hoạt động của thanh niên ngày càng phong phú nên vai trò xã hội và hứng thú xã hội của các em không chỉ mở rộng về số lượng, phạm vi mà còn biến đổi về chất lượng - Tuổi thanh niên ngày càng xuất hiện nhiều vai trò của người lớn và họ thực hiện các vai trò đó ngày càng có tính độc lập và tinh thần trách nhiệm cao hơn - Trong gia đình, thanh niên có nhiều quyền lợi và trách nhiện của người lớn, được trao đổi, bàn bạc một số công việc trong gia đình, biết quan tâm đến nhiều mặt của đời sống. - Ngoài xã hội + 14 tuổi gia nhập Đoàn TNCSHCM, tham gia công tác tập thể, công tác xã hội với tinh thần độc lập và trách nhiệm cao. + 18 tuổi có quyền và nghĩa vụ của người công dân, thanh niên bắt đầu suy nghĩ về việc lựa chọn nghề nghiệp. - Vị trí “không xác định” của thanh niên là một tất yếu khách quan. Tính chất đó và những yêu cầu đề ra cho thanh niên được phản ánh một cách độc đáo trong tâm lý của các em. b) Trong công tác giáo dục học sinh THPT, người lớn cần chú ý: - Xây dựng tốt mối quan hệ giữa thanh niên với người lớn: quan hệ bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, tin tưởng, hiểu biết và chia sẻ... - Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong hoạt động của thanh niên, tạo điều kiện nâng cao tinh thần, trách nhiệm của họ. - Không quyết định và không làm thay, người lớn cần giúp đỡ, tổ chức thanh niên một cách khéo léo, tế nhị, lôi cuốn học sinh tham gia một cách tích cực, kích thích sự tự giáo dục và giáo dục lẫn nhau của các em. c) Sự hình thành thế giới quan ở lứa tuổi đầu thanh niên: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 93 - Tuổi thanh niên là lứa tuổi quyết định của sự hình thành thế giới quan bởi đây là lứa tuổi có đầy đủ điều kiện về mặt trí tuệ, nhân cách và xã hội để hình thành hệ thống quan điểm riêng. - Sự hình thành thế giới quan được thể hiện ở tính tích cực nhận thức: + Chỉ số đầu tiên là sự phát triển của hứng thú nhận thức với những vấn đề thuộc nguyên tắc chung nhất của vũ trụ, những quy luật phổ biến của tự nhiên, xã hội và sự tồn tại của xã hội loài người... + Thanh niên quan tâm nhiều nhất đến các vấn đề có liên quan đến con người, vai trò của con người trong lịch sử, quan hệ giữa con người và xã hội, giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa nghĩa vụ và tình cảm. + Ý nghĩa cuộc sống chiếm vị trí trung tâm trong suy nghĩ của các em. Vì vậy, các em có khuynh hướng sống một cuộc sống tích cực vì xã hội, muốn mang lại lợi ích cho người khác, quan tâm đến đời sống tinh thần nhiều hơn phúc lợi vật chất. - Vấn đề lựa chọn vị trí xã hội trong tương lai cho bản thân và các phương thức để đạt tới vị trí xã hội đó. Xác định đường đời mà trước hết là vấn đề định hướng nghề nghiệp. Bước 4 : Giáo viên khái quát hoá, hệ thống hoá bài học. Bước 5 : Thu phiếu học tập của sinh viên. Bước 6 : Thông tin phản hồi nhanh bằng hệ thống câu hỏi đã xây dựng ở phiếu hướng dẫn tự học bài số 2. Bước 7: Phát phiếu hướng dẫn tự học ở nhà và hướng dẫn tự học bài mới Bài 4: Tâm lý học sƣ phạm I - Tâm lý học dạy học I. Xây dựng phiếu hƣớng dẫn tổ chức tự học ở nhà nhằm rèn kỹ năng tự học cho SV. 1.Thiết kế các mục tiêu học tập: Nghiên cứu xong bài học sinh viên phải hiểu được : Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 94 - Khái nệm chung về hoạt động dạy và hoạt động học - Trình bày được bản chất của hoạt động dạy và hoạt động học - Vận dụng tri thức cơ bản của bài học vào việc quá trình dạy học và giáo dục học sinh sau khi kết thúc bài học 2. Tri thức và vốn kinh nghiệm cần có của sinh viên là mục tiêu về tri thức đã được xác định ở trên. 3. Các nhiệm vụ và nội dung cần nghiên cứu. Toàn bộ các vấn đề cơ bản trong các mục tiêu học tập đã đưa ra. SV tự nghiên cứu, xây dựng đề cương và tóm tắt nội dung nghiên cứu. 4. Tài liệu bắt buộc và tài liệu tham khảo. ( Toàn bộ tài liệu đã nêu ở bài một) 5. Hướng dẫn SV tự phản hồi kết quả tự học bằng hệ thống câu hỏi sau. Câu I: Hãy điền từ Đ hoặc S vào các câu sau. 1. Trong dạy học người thầy giáo có chức năng truyền đạt tri thức cho học sinh Đúng..................... Sai................... 2. Mục đích của hoạt động dạy là giúp trẻ em lĩnh hội nền văn hoá xã hội, phát triển tâm lý, hình thành nhân cách của bản thân Đúng..................... Sai................... 3. Trong hoạt động dạy, chức năng chủ yếu của người dạy lad sáng tạo ra tri thức khoa học Đúng..................... Sai................... 4. Một trong những điểm quan trong trọng nhất của hoạt động dạy là tạo ra được tính tích cực hoạt động học tập của người học để chiếm lĩnh đối tượng học tập Đúng..................... Sai................... 5. Hoạt động dạy học là hoạt động kép: Hoạt động dạy của chủ thể dạy và hoạt động học của chủ thể học. Hai hoạt động này gắn bó chặt chẽ với nhau. Đúng..................... Sai................... Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 95 6. Trong dạy học, hoạt động dạy có chức năng định hướng, giúp đỡ, tổ chức, điều khiển, điều chỉnh hành động học của học sinh bằng hệ thống các hành động sư phạm của giáo viên Đúng..................... Sai................... 7. Hoạt động học khác với hoạt động khác là ở chỗ, các hoạt động khác hướng vào đối tượng và làm biến đổi đối tượng, còn hoạt động học hướng vào chủ thể và làm biến đổi chủ thể của hoạt động Đúng..................... Sai................... 8. Hoạt động học là hoạt động được điều khiển một cách có ý thức nhằm tiếp thu tri thức, kĩ năng, kĩ xảo hành động và tiếp thu tri thức về chính bản thân hoạt động học. Đúng..................... Sai................... 9. Động cơ học tập không được thể hiện ở đối tượng của hoạt động học, tức là tri thức khoa học, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ... Đúng..................... Sai................... 10. Hoạt động học được thúc đẩy bởi động cơ hoàn thiện tri thức chứa đựng xung đột bên trong sự học Đúng..................... Sai................... Câu II: Câu hỏi nhiều lựa chọn 1. Đối tượng của hoạt động dạy là: a) Sự phát triển trí tuệ của học sinh b) Tri thức và những kĩ năng, kĩ xảo tương ứng với nó c) Sự phát triển tâm lý, nhân cách của học sinh d) Qúa trình dạy học 2. Tiến hành hoạt động dạy, người thầy giáo có nhiệm vụ: a) Sáng tạo ra tri thức mới b) Tái tạo lại tri thức, nền văn hoá xã hội cho bản thân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 96 c) Tổ chức, điều khiển quá trình tái tạo lại tri thức, nền văn hoá xã hội ở học sinh d) Cả a; b và c 3. Để tạo ra được tính tích cực trong hoạt động học tập của học sinh, giáo viên cần: a) Biết cách cụ thể hoá, đơn giản hoá các nội dung học tập b) Làm cho học sinh vừa có ý thức của đối tượng cần chiếm lĩnh, vừa biết cách chiếm lĩnh đối tượng c) Thực hiện chặt chẽ các quy định, nội quy dạy học trong nhà trường d) Cả a; b và c. 4. Việc nắm được nghững tri thức, kĩ năng, kĩ xảo thông qua thực hiện một hoạt động nào đó trong cuộc sống hàng ngày, được gọi là: a) Hoạt động học b) Hoạt động tự học c) Học kĩ năng d) Học ngẫu nhiên 5. Hoạt động lĩnh hội những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo theo một mục đích tự giác, được gọi là: a) Học ngẫu nhiên b) Học không chủ định c) Hoạt động học d) Học kinh nghiệm 6. Đối tượng hoạt động học là: a) Tri thức khoa học b) Tri thức và những kĩ năng, kĩ xảo tương ứng với nó c) Sự tiếp thu tri thức d) Qúa trình nhận thức 7. Hoạt động học hướng vào làm thay đổi; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 97 a) Chủ thể của hoạt động b) Khách thể của hoạt động c) Đối tượng của hoạt động d) Động cơ của hoạt động 8. Bản chất của hoạt động học là: a) Hoạt động hướng vào làm thay đổi đối tượng học b) Hoạt động tích cực của học sinh nhằm tiếp thu tri thức, kĩ năng, kĩ xảo c) Hoạt động đặc thù của con người nhằm lĩnh hội những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và lĩnh hội chính bản thân hoạt động học d) Hoạt động làm thay đổi bản thân người học, do họ tiếp thu tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mới. II. Các biện pháp tổ chức hoạt động tự học ở trên lớp cho SV. Chủ đề thảo luận : a) Phân tích bản chất của hoạt động dạy. b) Trình bày vắn tắt bản chất của hoạt động học c) Mục đích học tập là gì? Làm thế nào để hình thành được mục đích học tập cho học sinh 1. Mục tiêu thảo luận : - Nhằm thực hiện hoàn thành các mục tiêu học tập đề ra. 2. Chuẩn bị thảo luận. - Chia nhóm và phân công nhiệm vụ cho các nhóm. Thông qua hình thức đặt vấn đề, nêu vấn đề. 3.. Tổ chức thảo luận. Bước 1, Bước 2, Bước 3 tuân theo như bài 1 và bài 2. Yêu cầu sinh viên phải làm bật được các vấn đề sau : a) Phân tích bản chất của hoạt động dạy: - Thầy giáo là chủ thể của hoạt động dạy Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 98 - Chức năng của thầy giáo trong hoạt động này là không làm nhiệm vụ sáng tạo ra tri thức mới, cũng không làm nhiệm vụ tái tạo tri thức cũ mà nhiệm vụ chủ yếu, đặc trưng là tổ chức quá trình tái tạo này ở trẻ. - Khi tiến hành hoạt động dạy, thầy giáo không làm nhiệm vụ phát triển chính mình mà nhằm tổ chức tái tạo nền văn hoá xã hội, nhằm tạo ra cái mới trong tâm lý học sinh. - Vấn đề cốt lõi trong hoạt động dạy là phải tạo ra được tính tích cực trong hoạt động của học sinh, làm cho các em vừa ý thức được đối tượng cần chiếm lĩnh, vừa biết cách chiếm lĩnh được đối tượng. Chính tính tích cực này của học sinh trong hoạt động học quyết định chất lượng học tập. - Hoạt động dạy của thầy có mối quan hệ biện chứng với hoạt động học của trò hợp thành hoạt động dạy học, trong đó người dạy thực hiện chức năng tổ chức, điều khiển hoạt động hoạt động học, trò có chức năng hành động tích cực để lĩnh hội kinh nghiệm xã hội biến thành kinh nghiệm bản thân, tạo ra sự phát triển tâm lý. b Trình bày vắn tắt bản chất của hoạt động học: - Đối tượng của hoạt động học là tri thức và kĩ năng, kĩ xảo tương ứng với nó - Hoạt động học là hoạt động hướng vào làm thay đổi chính chủ thể học tập - Hoạt động học là hoạt động được được điều khiển một cách có ý thức, nhằm tiếp thu tri thức, kĩ năng, kĩ xảo. - Hoạt động học không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà còn hướng vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động (cách học) - Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của học sinh c) * Mỗi khái niệm của mối môn học thể hiện trong từng tiết, từng bài là những mục đích của hoạt động học tập Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 99 - Mục đích này chỉ bắt đầu hình thành khi chủ thể bắt tay vào thực hiện hành động học tập. Khi đó chủ thể thâm nhập vào đối tượng, nội dung mục đích xuất hiện sẽ định hướng cho hành động qua đó chủ thể chiếm lĩnh được năng lực mới, tri thức mới. - Trong quá trình chiếm lĩnh đối tượng học tập luôn có sự chuyển hoá giữa mục đích và phương tiện. Mục đích cuối cùng được hình thành một cách tất yếu trong tiến trình thực hiện một hệ thống các hành động học tập. * Muốn hình thành mục đích học tập cho học sinh phải lấy hành động học tập của các em làm cơ sở. Thông qua việc thâm nhập vào đối tượng, học sinh sẽ nắm được những dấu hiệu bản chất, những mối quan hệ bên trong có tính quy luật của các sự vật hiện tượng... dần dần thay đổi mức độ làm chủ những khái niệm, những giá trị, những chuẩn mực, những quy luật, những phương thức hành vi, hành động. Vì vậy nhà giáo dục cần phải tổ chức hoạt động, hành động có nội dung, hấp dẫn về hình thức, có khả năng lôi cuốn sự tham gia tích cực, sáng tạo của các em... Bước 4 : Giáo viên khái quát hoá, hệ thống hoá bài học. Bước 5 : Thu phiếu học tập của sinh viên. Bước 6 : Thông tin phản hồi nhanh bằng hệ thống câu hỏi đã xây dựng ở phiếu hướng dẫn tự học bài số 2. Bước 7: Phát phiếu hướng dẫn tự học ở nhà và hướng dẫn tự học bài mới II - Tâm lý học giáo dục đạo đức I. Xây dựng phiếu hƣớng dẫn tổ chức tự học ở nhà nhằm rèn kỹ năng tự học cho SV. 1.Thiết kế các mục tiêu học tập: Nghiên cứu xong bài học: - SV hiểu, trình bày được: Khái niệm đạo đức; Hành vi đạo đức và cấu trúc tâm lý của hành vi đạo đức. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 100 - Vận dụng tri thức cơ bản của bài học vào việc quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh sau khi kết thúc bài học 2. Tri thức và vốn kinh nghiệm cần có của sinh viên là mục tiêu về tri thức đã được xác định ở trên. 3. Các nhiệm vụ và nội dung cần nghiên cứu. Toàn bộ các vấn đề cơ bản trong các mục tiêu học tập đã đưa ra. SV tự nghiên cứu, xây dựng đề cương và tóm tắt nội dung nghiên cứu. 4. Tài liệu bắt buộc và tài liệu tham khảo. (Toàn bộ tài liệu đã nêu ở bài một) 5. Hướng dẫn SV tự phản hồi kết quả tự học bằng hệ thống câu hỏi sau. Câu I: Hãy điền từ Đ hoặc S vào các câu sau. 1. Đạo đức được thay đổi tuỳ theo hình thái kinh tế xã hội và chế độ chính trị xã hội khác nhau Đúng..................... Sai................... 2. Bất cứ hành vi nào có ý nghĩa về mặt đạo đức (phù hợp với chuẩn mực đạo đức) đều gọi là hành vi đạo đức Đúng..................... Sai................... 3. Một người học thuộc lòng các chuẩn mực đạo đức và các quy tắc đạo đức là người có hành vi đạo đức. Đúng..................... Sai................... 4. Người có hiểu biết về các chuẩn mực đạo đức quy định hành vi của họ, được coi là người có tri thức đạo đức Đúng..................... Sai................... 5. Có tri thức đạo đức tốt, chắc chắn sẽ có hành vi đạo đức tốt Đúng..................... Sai................... 6. Muốn có hành vi đạo đức tốt cần phải có cả tri thức đạo đức và niềm tin đạo đức Đúng..................... Sai................... Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 101 7. Nghị lực là một trong những yếu tố biến ý thức đạo đức thành thói quen hành vi đạo đức Đúng..................... Sai................... 8. Nếu nắm vững tri thức về các chuẩn mực đạo đức thì cá nhân sẽ có hành vi đạo đức. Đúng..................... Sai................... 9. Có những tình cảm đạo đức tích cực và tình cảm đạo đức tiêu cực Đúng..................... Sai................... 10. Công tác giáo dục của nhà trường là yếu tố quyết định trực tiếp sự hình thành và phát triển đạo đức của học sinh Đúng..................... Sai................... 11. Trong giáo dục đạo đức, cha mẹ cần ngăn cấm con cái tiếp xúc với những ảnh hưởng xấu bên ngoài. Đúng.................... Sai...................... 12. Điều kiện để tồn tại và củng cố hành vi đạo đức của học sinh là xây dựng bầu không khí đạo đức tập thể của các em Đúng................ Sai....................... Câu II: Câu hỏi nhiều lựa chọn 1. Trong tâm lý học mác xít đạo đức được hiểu là: a) Hệ thống những yêu cầu con người đặt ra trong các mối quan hệ xã hội b) Một trong những hình thái của ý thức xã hội c) Hệ thống những chuẩn mực được con người tự đặt ra và tự giác tuân theo trong quá trình quan hệ xã hội d) Cả a; b và c 2. Hành vi đạo đức là: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 102 a) Hành vi được thúc đẩy bởi động cơ có ý nghĩa về mặt đạo đức do cá nhân tự giác làm b) Một hành vi có ích cho xã hội và cho cá nhân, không vi phạm các chuẩn mực đạo đức c) Một hành vi do cá nhân tự nguyệ thực hiện d) Cả a; b và c 3. Tiêu chuẩn để đánh giá hành vi đạo đức là: a) Tính tự giác b) Tính không vụ lợi cá nhân c) Tính có ích d) Cả a; b và c. 4. Hành vi nào được xem là hành vi đạo đức trong các hành vi sau? a) Hôm nay, Tuấn làm được một việc tốt và được nhà trường tuyên dương: Em đã giúp một cụ già bị ngất vào trạm xá gần trường. Em rất vui khi nghĩ đến phần thưởng của bố đã hứa: “Nếu con làm được một việc tốt thì bố sẽ có phần thưởng” b) Hoa rất chăm chỉ học hành, nhưng do chưa có phương pháp tốt nên kết quả học tập của em năm nào cũng thấp c) Nhìn thấy cụ già chuẩn bị qua đường giữa dòng xe tấp nập, Hồng vội vàng chạy tới nói: “Ông ơi, ông để cháu dắt ông qua đường” d) Cả a; b và c 5. Yếu tố quyết định trực tiếp trình độ đạo đức của mỗi học sinh là: a) Sự tu dưỡng của học sinh b) Việc tổ chức giáo dục của nhà trường c) Không khí rèn luyện đạo đức của tập thể học sinh d) Nền nếp sinh hoạt và tổ chức giáo dục của gia đình 6. Giáo dục đạo đức thực chất là: a) Hình thành ý thức đạo đức Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 103 b) Hình thành hành vi đáng với các chuẩn mực đạo đức c) Hình thành phẩm chất đạo đức d) Cả a; b và c 7. Yếu tố nào trong các yếu tố sau tác động vào niềm tin đạo đức? a) Học môn đạo đức được nghe giáo viên giảng về những tri thức đạo đức khái quát và hệ thống b) Tác động của các môn văn hoá khác (đặc biệt các môn khoa học xã hội) c) Tiếp xúc với người thực, việc thực d) Các hình tượng nghệ thuật trong hoạt động ngoại khoá 8. Hiểu như thế nào là đúng về mối quan hệ giữa các yếu tố trong cấu trúc tâm lý của hành vi đạo đức? a) Tri thức đạo đức soi sáng con đường tới mục đích của hành vi. Nó là cơ sở của niềm tin, tình cảm và động cơ, thiện chí, thói quen đạo đức b) Nghị lực phải do tri thức, thiện chí và tình cảm đạo đức tạo ra mới giúp con người biến ý thức thành hành vi đạo đức c) Thói quen làm cho ý thức và hành vi đạo đức được thực hiện thống nhất mà không đòi hỏi nỗ lực ý chí. d) Cả a, b và c 9. Trong việc giáo dục trẻ em, phong cách giáo dục tốt nhất là: a) Phong cách dân chủ b) Phong cách độc đoán, gia trưởng c) Phong cách tự do d) Cả a, b và c 10. Phương pháp giáo dục tốt nhất là: a) áp đặt, cưỡng bức thực hiện theo mệnh lệnh b) Giảng bài, thuyết phục, động viên, giám sát c) Hoàn toàn để trẻ tự do làm theo ý mình d) Cả a, b và c Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 104 11. Để nhân cách học sinh trở thành chủ thể đạo đức cần hình thành ở các em phẩm chất tâm lý nào? a) Tính sẵn sàng hành động có đạo đức b) Nhu cầu tự đánh giá, tự khẳng định c) Lương tâm d) Cả a, b, c II. Các biện pháp tổ chức hoạt động tự học ở trên lớp cho SV. Chủ đề thảo luận : a) Hành vi đạo đức là gì? Tiêu chuẩn để đánh giá hành vi đạo đức? b) Trình bày ngắn gọn cấu trúc tâm lý của hành vi đạo đức c) Tại sao nhân cách là chủ thể của hành vi đạo đức? Từ đó rút ra kết luận sư phạm? d) Trình bày hiểu biết của mình về tri thức đạo đức và niềm tin đạo đức. Từ đó rút ra kết luận sư phạm cần thiết. 1. Mục tiêu thảo luận : - Nhằm thực hiện hoàn thành các mục tiêu học tập đề ra. 2. Chuẩn bị thảo luận. - Chia nhóm và phân công nhiệm vụ cho các nhóm. Thông qua hình thức đặt vấn đề, nêu vấn đề. 3.. Tổ chức thảo luận. Bước 1, Bước 2, Bước 3 tuân theo như bài 1 và bài 2. Yêu cầu sinh viên phải làm bật được các vấn đề sau : a) Hành vi đạo đức là gì? Tiêu chuẩn để đánh giá hành vi đạo đức? * Hành vi đạo đức Hành vi đạo đức là một hành động tự giác được thúc đẩy bởi một động cơ có ý nghĩa về mặt đạo đức. Chúng thường được biểu hiện trong cách đối nhân, xử thế, trong lối sống, trong phong cách, trong lời ăn tiếng nói.... Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 105 Tiêu chuẩn đánh giá hành vi đạo đức - Tính tự giác của hành vi đạo đức - Tính có ích của hành vi đạo đức - Tính không vụ lợi của hành vi đạo đức b) Trình bày ngắn gọn cấu trúc tâm lý của hành vi đạo đức: SV cần nêu được các ý cơ bản như: - Tri thức và niềm tin đạo đức - Động cơ và tình cảm đạo đức - Thiện chí, nghị lực và thói quen đạo đức c) Tại sao nhân cách là chủ thể của hành vi đạo đức? Từ đó rút ra kết luận sư phạm? * Nhân cách là chủ thể của hành vi đạo đức: - Một hành vi đạo đức cụ thể, xét cho đến cùng là do nhân cách trọn vẹn thực hiện hành vi đó - Tri thức đạo đức, niềm tin đạo đức, tình cảm đạo đức, thiện chí, nghị lực và thói quen đạo đức chính là hệ thống phẩm chất và năng lực cùng ý thức của một con người cụ thể tạo nên cấu trúc tâm lý của hành vi đạo đức. *KLSP: Giáo dục đạo đức đồng thời với việc giáo dục toàn bộ nhân cách thông qua tổ chức hành vi đạo đức. d) Trình bày hiểu biết của mình về tri thức đạo đức và niềm tin đạo đức. Từ đó rút ra kết luận sư phạm cần thiết * Tri thức đạo đức là sự hiểu biết của con người về những chuẩn mực đạo đức quy định về những hành vi xã hội của họ trong mối quan hệ với người khác và với xã hội. * Niềm tin đạo đức là sự tin tưởng một cách sâu sắc và vững chắc của con người vào tính chính nghĩa và tính chân lí của các chuẩn mực đạo đức và sự thừa nhận tính tất yếu phải tôn trọng triệt để các chuẩn mực ấy. *KLSP: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 106 - Cần phân biệt việc hiểu tri thức đạo đức với việc học thuộc một cách hình thức các chuẩn mực và nguyên tắc đạo đức - Việc hình thành niềm tin đạo đức phụ thuộc vào việc trang bị những khái niệm bằng nhiều hình thức, sự thể nghiệm trong cuộc sống, sự tổ chức giáo dục gia đình, giáo dục trong tập thể... Bước 4 : Giáo viên khái quát hoá, hệ thống hoá bài học. Bước 5 : Thu phiếu học tập của sinh viên. Bước 6 : Thông tin phản hồi nhanh bằng hệ thống câu hỏi đã xây dựng ở phiếu hướng dẫn tự học bài số 2. Bước 7: Phát phiếu hướng dẫn tự học ở nhà và hướng dẫn tự học bài mới Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 107 ĐỀ KIỂM TRA KẾT QUẢ TN Thời gian làm bài 90 phút Câu 1 : Hãy điền từ Đ hoặc S vào trước các câu sau. 1. Sự phát triển tâm lý của trẻ em không phải là sự tăng hay giảm một yếu tố tâm lý nào đó mà là sự biến đổi về chất lượng tâm lý. Sự thay đổi về lượng dẫn đến biến đổi về chất trong các cấu trúc tâm lý của trẻ em. 2. Nguyên nhân cơ bản của sự phát triển tâm lý ở trẻ là hoàn cảng sống của chính đứa trẻ. 3. Quan hệ bạn bè cùng tuổi là một đặc trưng nổi bật trong giai đoạn phát triển của học sinh THCS. 4. ở học sinh THCS không còn hiện tượng coi thường học thuộc lòng và ghi nhớ máy móc. 5. Thái độ tích cực hay tiêu cực đối với các môn học của học sinh THPT không phụ thuộc vào quan niệm về ý nghĩa của các môn học mà nó sẽ gắn với nghề các em định chọn trong tương lai. 6. Sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu trong sự phát triển tâm lý của cả tuổi học sinh THCS và THPT. 7. Trong thực tế có hai phương thức dạy: Dạy dựa vào hoạt động khác - dạy theo phương thức cuộc sống và dạy theo phương thức nhà trường - tức là hoạt động dạy học. 8. Trong hoạt động dạy, chức năng chủ yếu của người thầy giáo là sáng tạo sư phạm, tức là tổ chức tái tạo nền văn hoá xã hội ở chính mình một cách khoa học. 9. Hoạt động dạy học là hoạt động kép: Hoạt động dạy của chủ thể dạy và hoạt động học của chủ thể học. Hai hoạt động này gắn bó chặt chẽ với nhau. 10. Hoạt động học là hoạt động được điều khiển một cách có ý thức nhằm tiếp thu tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và tiếp thu tri thức về chính bản thân hoạt động học. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 108 Câu II : Hãy chọn câu trả lời đúng nhất trong các câu trả lời sau : 1. Trong quá trình phát triển tâm lý cá nhân, các giai đoạn phát triển là: a. Có tính tuyệt đối. b. Là kết quả của sự tích luỹ các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của cá nhân. c. Chỉ có ý nghĩa tương đối. d. Các giai đoạn phát triển tâm lý do sự phát triển cơ thể quy định. 2. Anh (chị) không tán thành quan niệm nào dƣới đây : a. Con người tỏ thái độ tích cực trước hoàn cảnh ngay từ những tháng năm đầu tiên của cuộc đời. b. Con người chỉ tích cực hoạt động khi được xã hội đánh giá c. Tính tích cực hoạt động sẽ giúp trẻ phát triển tốt nếu được người lớn hướng dẫn chu đáo. d. Càng phát triển, hoạt động của cá nhân càng có tính tự giác 3. Sự phát triển tâm lý của trẻ diễn ra: a. Phẳng lặng, không có khủng hoảng và đột biến. b. Diễn ra cực kì nhanh chóng. c. Là một quá trình diễn ra cực kì nhanh chóng, nó không phẳng lặng mà có khủng hoảng, đột biến. d. Không phẳng lặng, mà có khủng hoảng và đột biến. 4. Quan niệm: “Trẻ em không phải là ngƣời lớn thu nhỏ lại” là quan điểm của: a. Thuyết tiền định. b. Thuyết duy cảm. c. Thuyết hội tụ hai yếu tố. d. Tâm lý học mác xít. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 109 5. Mệnh đề nào dƣới đây thể hiện đúng bản chất giai đoạn lứa tuổi học sinh THCS (tuổi thiếu niên) a. Tuổi dậy thì b. Tuổi khủng hoảng, khó khăn c. Tuổi chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành. d. Về cơ bản thiếu niên vẫn là trẻ con không hơn không kém 6. Những đặc trƣng tâm lý của tuổi thiếu niên có đƣợc là do điều kiện nào? a. Sự phát triển cơ thể và hoạt động hệ thần kinh mạnh mẽ nhưng không cân đối b. Hiện tượng dạy thì xảy ra ở tuổi này. c. Sự thay đổi các điều kiện xã hội và hoạt động chủ đạo d. Cả a, b, c 7. Nguyên nhân chủ yếu gây ra sự xung đột giữa thiếu niên và ngƣời lớn là: a. Người lớn không hiểu thiếu niên và vẫn đối xử với các em như trẻ con. b. Hoạt động thần kinh của thiếu niên không cân bằng c. Thiếu niên luôn ngang bướng để chứng tỏ mình đã lớn. d. Phản ứng tất yếu của lứa tuổi không thể khắc phục được. 8. Cách đối xử nào với thiếu niên là thích hợp nhất: a. Người lớn cần tôn trọng tính độc lập của các em, để các hoàn toàn tự quyết định vấn đề của mình b. Thiếu niên vẫn chưa thực sự là người lớn nên cần quan tâm kiểm soát từng cử chỉ, hành động của các em c. Người lớn cần có quan hệ hợp tác giúp đỡ thiếu niên trên cơ sở tôn trọng, tin tưởng các em. d. Đây là lứa tuổi bướng bỉnh, cần có sự kiểm soát chặt chẽ và biện pháp cứng rắn với các em. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 110 9. Trong các mối quan hệ xã hội, vị trí của học sinh THPT thƣờng có tính chất: a. Hoàn toàn ổn định b. Xác định c. Không xác định d. Tương đối ổn định 10. Điểm đặc trƣng trong nhận thức của học sinh THPT: a. Chuyển từ tính không chủ định sang có chủ định b. Tính có chủ định phát triển mạnh, chiếm ưu thế. c. Cả tính có chủ định và tính không chủ định đều phát triển. d. Tính không chủ định phát triển mạnh và chiếm ưu thế. 11. Điểm nào không phù hợp trong việc giáo dục của ngƣời lớn đối với tuổi học sinh THPT: a. Thiết lập quan hệ bình đẳng, tôn trọng và tin cậy các em b. Q an tâm chỉ dẫn và giám sát thường xuyên, trực tiếp các hoạt động và quan hệ của các em trong mọi lĩnh vực. c. Trợ giúp các em theo hướng tăng dần tính tự quyết định của các em trong hoạt động và quan hệ của mình. d. Thường xuyên chú ý đến tính hai mặt của sự phát triển ở lứa tuổi này khi ra các quyết định giáo dục 12. Tiến hành hoạt động dạy ngƣời thầy giáo có nhiệm vụ: a. Sáng tạo ra tri thức mới. b. Tái tạo lại tri thức, nền văn hoá xã hội cho bản thân. c. Tổ chức, điều khiển quá trình tái tạo lại tri thức, nền văn hoá xã hội ở học sinh. d, Cả a, b và c. 13. Muốn tổ chức thành công quá trình tái tạo nền văn hoá xã hội ở ngƣời học, ngƣời dạy cần: a. Tạo ra tính tích cực trong hoạt động học của học sinh b. Biết cách truyền đạt có hiệu quả nhất đối với học sinh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 111 c.Biến đổi một cách linh hoạt tuỳ theo những điều kiện cụ thể d.ổn định không đổi trong mọi tình huống 14. Công việc chủ yếu của ngƣời GV để chuẩn bị cho một bài lên lớp là: a.Xây dựng được kế hoạch giảng dạy của môn học b.Chuẩn bị được giáo án một cách đầy đủ và chi tiết c. Tạo ra tính tích cực trong hoạt động dạy d. Biết cách chế biến tài liệu học tập cho phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh. 15. Việc nắm tri thức, kĩ năng, kĩ xảo thông qua thực hiện một hoạt động nào đó trong cuộc sóng hàng ngày, đƣợc gọi là: a. Hoạt động học b. Hoạt động tự học c. Học kĩ năng d. Học ngẫu nhiên 16. Hoạt động lĩnh hội những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo theo một mục đích tự giác, đƣợc gọi là: a. Học ngẫu nhiên b. Học không chủ định c. Hoạt động học d. Học kinh nghiệm 17. Hoạt động học hƣớng vào làm thay đổi: a. Chủ thể của hoạt động b. Khách thể của hoạt động c. Đối tượng của hoạt động d. Động cơ của hoạt động 18. Hiểu nhƣ thế nào là đúng về mối quan hệ giữa các yếu tố trong cấu trúc tâm lý của hành vi đạo đức: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 112 a. Tri thức đạo đức soi sáng con đường tới mục đích của hành vi. Nó là cơ sở của niềm tin, tình cảm và động cơ, thiện chí, thói quen đạo đức b. Nghị lực phải do tri thức, thiện chí và tình cảm đạo đức tạo ra mới giúp con người biến ý thức thành hành vi đạo đức c. Thói quen làm cho ý thức và hành vi đạo đức được thực hiện thống nhất mà không đòi hỏi nỗ lực ý chí d. Cả a, b, c 19. Giáo dục đạo đức thực chất là: a. Hình thành ý thức đạo đức b. Hình thành hành vi đúng với chuẩn mực đạo đức c. Hình thành phẩm chất đạo đức d. Cả a, b và c. 20. Để nhân cách học sinh trở thành chủ thể đạo đức cần hình thành ở các em phẩm chất tâm lý nào. a. Tính sẵn sàng hành động có đạo đức b. Nhu cầu tự đánh giá, tự khẳng định c. Lương tâm. d. Cả a, b, c. Câu III - Trả lời thật ngắn gọn các câu hỏi sau: - Động cơ hoàn thiện tri thức có đặc điểm gì? rút ra kết kuận sư phạm cần thiết - Làm thế nào để hình thành động cơ hoàn thiện tri thức cho học sinh? - Trình bày quan hệ nhu cầu đạo đức và hành vi đạo đức? - Tại sao nhân cách là chủ thể của hành vi đạo đức? từ đó rút ra kết luận sư phạm. ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLA9022.pdf
Tài liệu liên quan