Các biện pháp chống sản xuất buôn bán hàng giả trong các Doanh nghiệp Việt Nam

Lời mở đầu Hiện nay trên thị trường của chúng ta có rất nhiều loại hàng hoá phong phú đa dạng.Các loại hàng hoá được thông thương, giao lưu trao đổi trong và ngoài nước góp phần đáng kể vào sự nghiệp Công nghiệp hoá- hiện đại hóa đất nước. Để tồn tại và đứng vững trên thị trường thì chất lượng hàng hoá là hàng đầu. Trong khi đó nền kinh tế Việt Nam còn đối đầu với nhiều thách thức,đó là xu hướng cạnh tranh theo hai hướng:Cạnh tranh tích cực và cạnh tranh tiêu cực. Một trong những vấn đề cạnh t

doc11 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 05/09/2013 | Lượt xem: 121 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Các biện pháp chống sản xuất buôn bán hàng giả trong các Doanh nghiệp Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ranh tiêu cực đó là vấn đề hàng giả.Tệ nạn sản xuất buôn bán hàng giả ngày càng có những diễn biến phức tạp, hàng giả trong nước, hàng giả nước ngoài tràn vào thị trường Việt Nam phá hoại sản xuất trong nước, lừa dối người tiêu dùng. Chính từ những thực tế đang diễn ra từng ngày từng giờ và với mong muốn tìm hiểu để biết rõ hơn về vấn đề chống hàng giả trên thị trường thế giới nói chung cũng như thị trường Việt Nam nói riêng em đã chọn đề tài “Các biện pháp chống sản xuất, buôn bán hàng giả trong các doanh nghiệp Việt Nam” làm đề tài tiểu luận của mình.Đây là vấn đề vô cùng bức xúc của các nhà lãnh đạo đối với cuộc đấu tranh chống hàng giả trên các mặt trận:kinh tế, hình sự và quản lý nhà nước trong kinh doanh. Nội dung I. Khái quát về hàng giả Hiện nay trên thị trường hàng giả hàng nhái đã xâm nhập la liệt vào nhiều lĩnh vực, cuộc sống hàng ngày của nhân dân. Mặc dù các cơ quan chức năng đã tích cực điều tra phòng chống, các trinh sát tăng cường kiểm tra, kiểm soát nhưng nạn sản xuất hàng giả hàng nhái, hàng kém chất lượng vẫn gia tăng. 1.Định nghĩa hàng giả: Theo nghị định 140CP các hình thức sau đây được coi là hàng giả: - Sản phẩm hàng hoá kể cả hàng hoá nhập khẩu có nhãn sản phẩm giả mạo, nhãn sản phẩm của một cơ sở sản xuất khác mà không được chủ nhãn đăng ký bản quyền đồng ý. - Sản phẩm hàng hoá mang nhãn hiệu không đúng với nhãn sản phẩm đã đăng ký với cơ quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng. - Sản phẩm hàng hoá mang nhãn hiệu hàng hoá giống hệt hoặc tương tự có khả năng làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá của cơ sở sản xuất, buôn bán khác đã đăng ký với cơ quan bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp hoặc đã được bảo hộ theo điều ước Quốc tế mà Việt Nam tham gia. - Sản phẩm hàng hoá đã đăng ký hoặc chưa đăng ký chất lượng với cơ quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng mà có mức chất lượng thấp hơn mức tối thiểu cho phép. - Sản phẩm hàng hoá có giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi, công dụng của nó. - Sản phẩm hàng hoá ghi dấu phù hợp với tiêu chuẩn Việt Nam khi chưa được cấp giấy chứng nhận và dấu phù hợp với tiêu chuẩn Việt Nam 2.Các hình thức làm giả. Theo hướng dẫn thực hiện chỉ thị 31 của Thủ Tướng Chính Phủ về chống sản xuất và buôn bán hàng giả thì các dấu hiệu sau đây được coi là hàng giả a.Hàng giả về nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc, xuất xứ hàng hoá. - Hàng hoá có nhãn hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá của người khác đang được bảo hộ theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia mà không được phép của chủ nhãn hiệu. - Hàng hoá có dấu hiệu hoặc có bao bì mang dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với tên thương mại được bảo hộ hoặc với tên gọi xuất xứ hàng hoá được bảo hộ. - Hàng hoá, bộ phận của hàng hoá có hình dáng bên ngoài trùng với kiểu dáng công nghiệp đang được bảo hộ mà không được phép của chủ kiểu dáng công nghiệp. - Hàng hoá có dấu hiệu giả mạo về chỉ dẫn nguồn gốc, xuất xứ hàng hoá gây hiểu sai lệch về nguồn gốc, nơi sản xuất nơi đóng gói, lắp ráp hàng hoá. b. Giả về hàng hoá - Hàng hoá có nhãn hiệu giống hệt hoặc tương tự với nhãn hàng hoá của cơ sở khác đã công bố. - Những chỉ tiêu ghi trên nhãn hàng hoá không phù hợp với chất lượng hàng hoá nhằm lừa dối người tiêu dùng. - Nội dung ghi trên nhãn bị cạo, tẩy xoá, sửa đổi, ghi không đúng thời hạn sử dụng để lừa dối khách hàng. c .Các loại ấn phẩm đã in sử dụng vào việc sản xuất, tiêu thụ hàng giả: - Các loại đề can giả, tên sản phẩm, nhãn hàng hoá, bao bì có dấu hiệu vi phạm như: Trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với hàng hoá cùng loại, với nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp, tên gọi hàng hoá xuất xứ được bảo hộ. d. Hàng giả chất lượng hoặc công dụng. - Hàng giả có giá trị sử dụng không đúng như bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó. - Hàng hoá được thêm tạp chất, chất phụ gia không được phép sử dụng, làm thay đổi chất lượng, có chứa dược chất khác với tên dược chất ghi trên nhãn hiệu hoặc bao bì. - Hàng hoá không đủ thành phần nguyên liệu hoặc được thay thế bằng những nguyên liệu, phụ tùng khác không đảm bảo chất lượng so với tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá đã công bố, gây hậu quả xấu đối với sản xuất, sức khoẻ người, động vật, thực vật và môi trường sinh thái. - Hàng hoá chưa được chứng nhận phù hợp với tiêu chuẩn mà sử dụng giấy chứng nhận hoặc dấu phù hợp với tiêu chuẩn. 3. Tác hại của hàng giả Bên cạnh những tích cực sự phát triển của nền kinh tế thị trường còn nảy sinh nhiều biểu hiện tiêu cực do chạy theo lợi nhuận và sử dụng uy tín, chất lượng của mặt những hàng hoá được người tiêu dùng ưa thích, nhiều cơ sở sản xuất đã đưa ra thị trường những hàng kém chất lượng, hàng “nhái” nhãn mác, hàng giả, quảng cáo không trung thực, đánh lừa người tiêu dùng, gây thiệt hại cho nền kinh tế, làm nền kinh tế trì trệ, kém phát triển. a, Đối với người tiêu dùng: Làm cho người tiêu dùng mất dần niềm tin vào sản phẩm vì họ không tìm thấy giá trị đích thực mà mình mong muốn. Bên cạnh đó nó còn gây thiệt hại về tài sản, về sức khoẻ và tính mạng của người tiêu dùng khi mua phải hàng giả, hàng nhái hàng kém chất lượng. b, Đối với doanh nghiệp: Hàng giả gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và lưu thông hàng hoá của nhiều doanh nghiệp và làm nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Các doanh nghiệp lớn làm ăn chân chính thì mất hết uy tín đối với khách hàng, sản lượng bán ra không nhiều gây thất thu lớn đối với các doanh nghiệp và các doanh nghiệp phải đầu tư một số lượng tiền khá lớn vào việc chống hàng giả và việc cải tạo nhãn mác sản phẩm của mính sao cho hàng giả ít có khả năng nhái theo nhãn hiệu của công ty mình. c, Đối với Nhà nước: Làm thất thu Ngân sách Nhà nước, rối loạn trật tự quản lý kinh tế. Các cơ quan điều tra phải đối phó với những thủ đoạn tinh vi của những nhóm chuyên sản xuất hàng giả. ii.Tình hàng hoá giả ở Việt Nam: 1. Tình hình phát triển hàng giả ở Việt Nam. Tình hình hàng giả ở Việt Nam hiện nay đang là một vấn đề bức xúc của toàn xã hội. Hàng giả không chỉ được làm ở trong nước mà còn được nhập từ nước ngoài về. Hàng giả ở trong nước với đa dạng chủng loại như giả về mẫu mã, chất lượng nhãn hiệu, kiểu dáng thì hàng giả được nhập từ nước ngoài về còn tinh vi hơn nhiều. Tệ nạn sản xuất và buôn bán hàng giả ngày càng có nhiều diễn biến, phức tạp nhất là ở những vùng giáp danh giữa thành thị và nông thôn, vùng sâu vùng xa, nơi trình độ dân trí còn thấp, phương tiện giao thông đi lại còn khó khăn. Các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương còn thiếu chặt chẽ trong quản lý, kinh tế thống kê phát hiện 3564 vụ sản xuất và buôn bán hàng giả. Theo số liệu thống kê của cục quản lý và môi trường thuộc bộ thương mại, từ đầu năm đến nay trung bình mỗi tháng các cơ quan hàng giả thu giữ hàng trăm sản phẩm, mẫu mác hàng giả. Đặc biệt năm 2000 cơ quan quản lý thị trường đã xử lý tới 45 % vụ làm hàng giả là hàng thực phẩm, dược phẩm liên quan đến sức khoẻ, cuộc sống người tiêu dùng. Mặc dù trong năm nay không xảy ra các hiện tượng làm hàng giả, hàng kém chất lượng gây tác hại nghiêm trọng đến sức khoẻ cộng đồng như vụ bánh phở, nước mắm có fooc môn trong năm 1999, Song trong lĩnh vực nào, mặt hàng nào cũng có tệ nạn hàng giả. Đáng chú ý là hàng giả theo lĩnh vực nhập khẩu đã xuất hiện nạn đặt hàng giả theo yêu cầu từ nước ngoài nhập khẩu vào trong nước và đặt hàng giả để xuất ra nước ngoài có dấu hiệu tăng lên đáng kể. Hàng giả nhãn hiệu, kiểu dáng xuất xứ khá phổ biến như: Bao bì bánh ngọt Bảo Ngọc, nước suối Lavi…Trong đó một số mặt hàng nạn hàng giả đã lên mức báo động như vụ tiền giả: Theo báo cáo của bộ công an, từ năm 1993 đến nay trên toàn quốc đã phát hiện 1.754 vụ tiêu thụ lưu hành tiền giả. Tang vật thu được bao gồm 11,7 tỷ đồng Việt Nam; 126,850 USD; 308.000 séc du lịch; 559.000 nhân dân tệ giả. Nếu chỉ tính riêng 3 năm trở lại đây, các lực lượng chức năng đã phát hiện 1.135 vụ, thu giữ gần 7,6 tỷ đồng Việt Nam 54.000USD và 360.000 nhân dân tệ giả. Những con số trên đây cho thấy hoạt động của loại tội phạm đặc biệt này đang ngày càng gia tăng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới nền kinh tế cũng như trật tự an toàn xã hội. Thực trạng nhức nhối : Năm 2003 lực lượng bộ đội biên phòng đã phát hiện, bắt giữ 18 vụ với 41 đối tượng buôn bán lưu hành tiền giả, Thu giữ 239 triệu tiền Việt Nam giả; 14.200 đô la Mỹ; 3.700 nhân dân tệ; 1.870 riel( tiền Campuchia ) 12.870đ tiền xu loại 20 xen giả. So với năm 2002 tuy có giảm về sốvụ nhưng số lượng tang vật trong các vụ án lại rất lớn. Tuy nhiên đây mới chỉ là số vụ mà lực lượng biên phòng bắt giữ được qua các cửa khẩu biên giới. Trên thực tế, số tiền giả xâm nhập trót lọt vào Việt Nam còn rất nhiều. Có thể kể ra đây một số vụ điển hình: Tháng6/2003 công an tỉnh Quảng Nam đã phát hiện đường dây mua bán tiền giả liên tỉnh với 17 đối tượng, trong đó có một người nước ngoài( Trung Quốc )thu được gần 100 triệu đồng và điều tra chứng minh được vụ này tiêu thụ tới 1,425 tỷ đồng tiền giả. Ngày 19/07/2003 công an tỉnh Nam Định bắt quả tang 5 kẻ vận chuyển tiền giả thu 105 triệu đồng tiền giả. Chúng khai đã tiêu thụ khoảng 2 tỷ đồng tiền giả trên địa bàn tỉnh Nam Định. Tuy nạn hàng giả đã tràn ngập thị trường Việt Nam song người tiêu dùng vẫn chưa có cách gì để nhận biết đâu là hàng thật, đâu là hàng giả nên dẫn tới việc mua phải hàng giả vẫn diễn ra trên thị trường ngày càng nhiều. 2. Những thủ đoạn làm hàng giả trên thị trường Việt Nam Phương thức, thủ đoạn sản xuất hàng giả rất phức tạp và ngày càng tinh vi. Việc sản xuất chế biến hàng giả thường với qui mô nhỏ, tại nơi kín đáo canh gác rất chặt chẽ nên rất khó phát hiện. Lợi dụng nhu cầu và sự hiểu biết của nhân dân và lợi dụng vào việc thiếu thường xuyên kiểm tra của các cơ quan chức năng một số cơ sở đã thay đổi bao bì, nhãn mác các loại mặt hàng có giá trị cao, cùng tính chất, chủng loại để tăng thu lợi nhuận. Không những thế chúng còn cạo, tẩy xoá, sửa đổi, ghi không đúng thời hạn sử dụng trong nội dung ghi trên nhãn để lừa dối khách hàng. 3. Nguyên nhân dẫn đến nạn làm hàng giả trên thị trường Việt Nam. Hàng giả tồn tại trong mọi lĩnh vực, thực sự là một tệ nạn xã hội, gây tác hại to lớn đến lợi ích người tiêu dùng. Song một trong những nguyên nhân chủ yếu là người sản xuất nhằm thu lợi nhuận cao. Các cơ sở này đã tìm đủ cách thay thế vật liệu dởm, rẻ tiền để sản xuất hàng hoá với chi phí thấp mà vẫn bán được với giá cao, thu lợi nhuận nhiều. - Do người tiêu dùng không nhận biết được hàng thật, hàng giả. Việc quản lý nhãn mác của các cơ sở sản xuất chính hiệu, sản phẩm dịch vụ có uy tín còn lỏng nẻo. Cơ chế quản lý của Nhà nước chưa đồng bộ một số luật liên quan đế sản xuất, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp và lợi ích người tiêu dùng được đề ra quá chậm và thiếu sự kiểm soát chặt chẽ. - Do một số bộ phận người tiêu dùng có tâm lý dễ chấp nhận với hàng giả theo quan niệm “Tiền nào của ấy”. - Do chúng ta chưa làm tốt công tác tuyên truyền và cung cấp những kiến thức cơ bản cho người tiêu dùng về chất lượng hàng hoá, tình hình sản xuất và buôn bán hàng giả để nhận biết và tham gia phòng ngừa. - Các văn bản hướng dẫn xử lý đối với đối tượng sản xuất và buôn bán hàng giả còn thiếu dẫn đến tuỳ tiện trong xử lý. - Do sức cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước còn yếu cả về chất lượng và mẫu mã, chưa theo kịp khu vực và thế giới. - Việc phối hợp và đấu tranh giữa các ngành, lực lượng chức năng chưa đồng bộ, chưa có sự thống nhất cao. Công tác giám định chưa đáp ứng nhu cầu đấu tranh chống tội phạm. Kinh phí cho công tác đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả không có hoặc rất ít dẫn đến hạn chế kết quả chung. 4. Hậu quả. Tình trạng làm hàng giả, hàng nhái trên thị trường Việt Nam đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng. - Do chạy theo lợi nhuận và lợi dụng uy tín, chất lượng của những mặt hàng hoá được người tiêu dùng yêu thích, nhiều cơ sở sản xuất đã đưa ra thị trường những hàng hoá kém chất lượng, hàng nhái nhãn mác, hàng giả, quảng cáo không trung thực đánh lừa người tiêu dùng, gây thiệt hại cho nền kinh tế, làm cho nền kinh tế trì trệ, kém phát triển và uy tín của các đơn vị sản xuất, kinh doanh tốt, ảnh hưởng xấu đến người tiêu dùng, gây ô nhiễm môi trường, môi sinh. - Hàng giả gây nghiêm trọng sản xuất và lưu thông của nhiều doanh nghiệp và làm nản lòng các nhà nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. - Làm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước giảm sút một cách nghiêm trọng. - Hàng giả lan trên thị trường khiến cho các công ty có những mặt hàng nổi tiếng sản xuất trong nước đều bị thất thu nặng do hàng giả ăn theo thương hiệu. - Làm thất thu ngân sách Nhà nước, rối loạn trật tự quản lý kinh tế. 5.Tình hình chống sản xuất và buôn bán hàng giả của các lực lượng Như vấn đề tiền giả hiện nay ngành ngân hàng đã liên tục nghiên cứu, gửi văn bản cùng các catalo mẫu tiền giả về các địa phương để tuyên truyền nhắc nhở nhân dân cảnh giác với nạn tiền giả. Trên thực tế hiện nay mỗi người dân cũng như các doanh nghiệp khi tham gia giao dịch mua bán trên thị trường đều đã có ý thức cảnh giác vơí tiền giả. Thế nhưng nạn nguy hiểm này vẫn hoành hành, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế của đất nước. Chính vì thế việc chống sản xuất và buôn bán hàng giả của các lực lượng đòi hỏi các cơ quan chức năng phải có nhiều biện pháp mạnh mẽ giúp đỡ hiệu quả cả về mặt kỹ thuật và pháp luật. Như tiền giả thì trước hết ngành ngân hàng cần triển khai thêm những biện pháp như thiết kế đưa vào lưu hành loại tiền được in bằng công nghệ cao ở các mệnh giá khác nhau. Trong lúc chờ đợi sự hoàn thiện “ đủ sức đánh bật” vấn nạn tiền giả ra khỏi đời sống xã hội, các gia đình và các cửa hàng, doanh nghiệp cần trang bị máy soi tiền phát hiện tiền giả kết hợp kiểm tra bằng tay, mắt thường. Mặt khác khuyến khích thanh toán, giao dịch bằng tài khoản, ngân phiếu, thẻ tín dụng.... cũng sẽ góp phần hạn chế được sự xâm nhập của tiền giả. Ngành ngân hàng kịp thời thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng về đặc điểm các loại tiền giả để nhân dân, tổ chức, đơn vị phát hiện và có biện pháp phòng ngừa có hiệu quả. Iii. Một số biện pháp khắc phục: Để khắc phục vấn đề này không chỉ là các cấp, các ngành mà còn đối với toàn thể nhân dân nhất là đối các doanh nghiệp và người tiêu dùng. 1. Đối với các cấp, các ngành, nhà nước. Chính quyền và các ban ngành chức năng các cấp cần có chính sách đầu tư mở rộng sản xuất, tạo việc làm ổn định cho người lao động. Phải thực sự quan tâm đến điều kiện phát huy sản xuất, từng bước nâng cao mức thu nhập, cải thiện đáng kể cho đời sống cán bộ công nhân viên và nhân dân về đời sống vật chất, đồng thời tích cực vận động mọi người tự nguyện, tự rố cáo, tố giác tội phạm, không tham gia vào buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng. Công tác chỉ đạo đấu tranh phòng chống sản xuất và buôn bán hàng giả phải kiên quyết kịp thời, có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm. Rà soát các văn bản pháp quy, xem cái nào phù hợp để sửa đổi, bổ sung, cần cụ thể hoá các chế tài và làm rõ mức nào thì khởi tố hình sự, mức nào thì sử lý hành chính, nâng một số khung hình phạt về một số hành vi sản xuất, lưu thông, tàng trữ và buôn bán hàng giả. 2. Đối với các doanh nghiệp. Đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh phải chủ động bảo vệ chất lượng, mẫu mã, quản lý bao bì, nhãn mác hàng hoá của cơ sở mình, chức năng trong việc tuyên truyền hàng thật, hàng giả và chủ động phát hiện phối hợp với các lực lượng, chức năng trong công tác đấu tranh phòng chống và buôn bán hàng giả. Không buôn bán, kinh doanh, sản xuất, tàng trữ các loại hàng hoá kém chất lượng. Các doanh nghiệp chủ động dán tem chống hàng giả cho sản phẩm của mình. 3. Với người tiêu dùng: Không mua hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng và phải góp phần hỗ trợ các chi cục quản lý thị trường phòng chống và đẩy lùi tệ nạn hàng giả, khi phát hiện đối tượng nào đó buôn bán, tàng trữ hàng giả phải khai báo các đối tượng sản xuất ấy cho nhà chức trách kịp thời, không tiếp tay cho bọn xấu. 4. Tăng cường kiểm tra và xử lý nghiêm minh kịp thời các vụ vi phạm. Nhà nước ta cần tăng cường kiểm tra và xử lý nghiêm minh các vụ vi phạm buôn bán, sản xuất và tàng trừ hàng giả để có nhiều giải pháp xử lý kịp thời. Một chủ doanh nghiệp sản xuất đồ điện gia dụng tại quận 6 TP HCM cho biết với mức khung và hình phạt về tội sản xuất và buôn bán hàng giả, hàng nhái của nhà nước ta còn quá thấp chưa đủ để răn đe, ngăn chặn hoạt động sản xuất và buôn bán hàng giả với mức phạt từ 2 triệu đến 10 triệu đồng cho các hành vi sản xuất, buôn bán, nhập khẩu các loại nhãn hiệu bao bì trùng với nhãn hiệu đang được bảo hộ thì khác nào “động viên” cho các hoạt động làm ăn phi pháp tiếp tục vi phạm pháp luật? Các cơ quan chống hàng giả hàng nhái như hải quan, công an, bộ đội biên phòng, quản lý thị trường.... có trách nhiệm trong khâu truy tìm, xử lý hàngvi phạm nhưng do các cơ quan chủ quản khác nhau nên sự phối hợp khó đồng bộ và kịp thời. Mặt khác các cơ quan này chưa trang bị những thiết bị cần thiết và hiện đại để chống đối tượng sản xuất buôn bán hàng giả, hàng nhái. Hàng giả hàng nhái mỗi năm mỗi tăng và biến tướng không ngừng không thể không nhắc đến vai trò cuả các cơ quan nhà nước có chức năng giám định, thẩm định các mẫu hàng hoá để xác định nguồn gốc để có cơ sở xử lý chưa được phát huy một cách tối đa. KếT Luận Thực trạng sản xuất và buôn bán hàng giả ở Việt Nam diễn biến khá phức tạp với thủ đoạn ngày càng tinh vi. Hàng giả xuất hiện ở mọi nơi từ những mặt hàng thông thường đến những mặt hàng cao cấp, từ hàng tiêu dùng đến tư liệu sản xuất. Hàng giả đã và đang là nguy cơ đối với các nhà sản xuất trong nước, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư và sản xuất, nhiều mặt hàng ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ và tính mạng của người tiêu dùng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và lưu thông của doanh nghiệp, làm nản lòng các nhà đầu tư. Vì vậy, nạn hàng giả đang là vấn đề cần quan tâm của các cấp, các ngành cũng nh mọi ngời dân. Với sự nỗ lực của các lực lợng chống hàng giả bằng biện pháp hữu hiệu của Nhà nước và tất cả cộng đồng, nạn hàng giả sẽ giảm và môi trờng kinh doanh sẽ trong sạch hơn trong các doanh nghiệp Việt Nam. Trong quá trình thực hiện đề tài do hạn chế về thời gian và kinh nghiệm thực tế nên em sẽ không tránh khỏi những sai sót. Với hy vọng được hiểu thêm về đề tài một cách tường tận hơn, em rất mong được sự góp ý , chỉ bảo của các thầy cô giáo. Em xin chân thành cảm ơn! Sinh viên thực hiện Hà Hoàng Loan Mục lục Lời mở đầu: …...……………………………………..…….1 Nội dung:…....................................................................2 I,Khái quát về hàng giả 1, Định nghĩa hàng giả……………………………………2 2, Các hình thức làm giả………………………………….3 3,Tác hại của hàng giả……………………………………4 3, Đối với nhà nước III, Tình hình hàng giả ở Việt Nam 1,Tình hình phát triển tệ nạn hàng giả ở Việt Nam…..4 2, Những thủ đoạn………………………………………..5 3, Những nguyên nhân…………………………………...6 4, Hậu quả………………………………………………...7 IV, Một số biện pháp khắc phục 1, Đối với các cấp, các nghành…………………….…....8 2, Đối với các doanh nghiệp…………………….….…....9 3, Đối với người tiêu dùng………………………….....…9 4,Tăng cường kiểm tra va xử lý nghiêm minh…….…...9 Kết Luận………………………………………..………...10 ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc28385.doc
Tài liệu liên quan