Các giải pháp chủ yếu thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

A. LỜI MỞ ĐẦU Việt Nam trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội với mục tiêu là xây dựng một nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp. Để có thể đạt được điều đó, thì nước ta cần phải tìm cho mình con đường phát triển vừa phù hợp với tình hình kinh tế xã hội trong nước, vừa đảm bảo xu thế phát triển chung của thế giới. Và kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế mà nước ta đã lựa chọn trong thời kì đổi mới. Nó vừa mang tính chất

doc20 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 21/10/2013 | Lượt xem: 561 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Các giải pháp chủ yếu thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
chung của kinh tế thị trường, vừa có những đặc thù được quyết định bởi nguyên tắc và bản chất của CNXH. Đảng ta đã xác định một cách nhất quán kinh tế thị trường định hướng XHCN là nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo và quyết định, kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể trở thành nền tảng vững chắc cho nền kinh tế quốc dân. Với vai trò to lớn này đòi hỏi kinh tế nhà nước phải đổi mới để giữ vững vai trò chủ đạo, thúc đẩy các thành phần kinh tế khác cùng phát triển. Vì vậy việc nghiên cứu về kinh tế nhà nước hiểu rõ mặt tích cực và hạn chế của nó, để có thể đưa ra những giải pháp nhằm phát huy, tăng cường vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay là hết sức quan trọng. Với tầm quan trọng đó em đã chọn đề tài: “ KINH TẾ NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM” Trong quá trình thực hiện đề tài, do còn thiếu kiến thức và kinh nghiệm nên không tránh khỏi nhiều khiếm khuyết, sai sót. Em mong nhận được sự góp ý nhận xét và bổ sung. Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS_TS TÔ ĐỨC HẠNH đã giúp đỡ, hướng dẫn em thực hiện đề tài này. B.PHẦN NỘI DUNG I. Khái quát chung về thành phần kinh tế nhà nước: 1.Quá trình hình thành kinh tế nhà nước: Sau khi hòa bình lặp lại ở miền Bắc, Đảng và Nhà nước ta đã lựa chọn con đường đi lên CNXH ở miền Bắc và tiếp tục đấu tranh giải phóng miền Nam. Đảng ta đã lãnh đạo nhân xây dựng đất nước theo con đường XHCN, thực hiện mục tiêu “Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”. Để xây dựng nền chính trị XHCN thì đòi hỏi phải có nền kinh tế đặc trưng cho hình thái chính trị ấy - một nền kinh tế có thành phần chính hình thành trên chế độ công hữu. Trong lúc bấy giờ, nền kinh tế Việt Nam dựa trên chế độ tư hữu, đó là sở hữu tư nhân của những người sản xuất nhỏ và sở hữu tư nhân của CNTB. Đối với hình thức này, Nhà nước đã tiến hành cải tổ, sắp xếp để phát triển thành phần kinh tế cá thể tiểu thủ công nghiệp và thành phần kinh tế tư bản tư nhân - là đại diện của quan hệ sản xuất cũ CNTB. Vậy để xây dựng một nền kinh tế mới XHCN, nhà nước đã tăng cường đầu tư xây dựng các doanh nghiệp nhà nước trong các nghành kinh tế, kết quả là hình thành nên một thành phần kinh tế mới – kinh tế nhà nước - giữ vai trò chủ đạo, then chốt trong nền kinh tế quốc dân. 2. Khái niệm về kinh tế nhà nước: Kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu công cộng ( công hữu ) về tư liệu sản xuất ( sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước). Kinh tế nhà nước bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, các quỹ dự trữ quốc gia, các quỹ bảo hiểm nhà nước và các tài sản thuộc sở hữu nhà nước có thể đưa vào vòng chu chuyển kinh tế. Kinh tế nhà nước là những đơn vị, tổ chức trực tiếp sản xuất kinh doanh hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh, mà toàn bộ nguồn lực thuộc sở hữu Nhà nước hoặc một phần thuộc sở hữu nhà nước theo tỉ lệ nhất định. Kinh tế nhà nước được hình thành thông qua việc Nhà nước đầu tư vốn xây dựng mới từ vốn ngân sách Nhà nước hoặc thông qua quốc hữu hóa các xí nghiệp tư nhân. Trong thành phần kinh tế nhà nước, thực hiện phân phối theo lao động và theo hiệu quả sản xuất kinh doanh, đây là hình thức phân phối, nguyên tắc phân phối căn bản phù hợp với các thành phần dựa trên chế độ công hữu ở nước ta hiện nay. 3. Các bộ phận hợp thành KTNN: _ Doanh nghiệp nhà nước ( DNNN) là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lí, hoạt động kinh doanh, hoạt động công ích, nhằm thực hiện những mục tiêu đã định. Trong các nhân tố cấu thành KTNN thì DNNN là nhân tố giữ tỷ lệ cao nhất và vai trò quan trọng nhất trong việc đảm bảo cho KTNN giữ được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Bởi vậy khi đề cập đến vai trò chủ đạo của KTNN thì người ta thường đề cập đến DNNN là chủ yếu. Doanh nghiệp nhà nước chia làm 2 loại: + Các DNNN hoạt động kinh doanh: mục tiêu là nhằm thu lợi nhuận. Nhà nước sẽ giữ 100% vốn đối với doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực quan trọng đặc biệt và sẽ cổ phần chi phối hoặc 100% vốn đối với các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực kinh doanh mà nhà nước cần nắm nhằm bảo đảm ổn định nền kinh tế. Các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh thông thường là những doanh nghiệp có quy mô lớn có đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước, phải luôn luôn đi đầu trong ứng dụng kỹ thuật - công nghệ hiện đại, đảm bảo nhu cầu của đời sống nhân dân. + Các doanh nghiệp hoạt động công ích: là những doanh nghiệp hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, có thể không có thu mà nhà nước cấp kinh phí đó là những doanh nghiệp cung cấp các hàng hoá công cộng, dịch vụ công như : An ninh, quốc phòng, giao thông, giáo dục, ytế… _ Ngân sách nhà nước: thực hiện chức năng thu, chi ngân sách, có tác dụng điều chỉnh, quản lí, kiểm soát các hoạt động của KTNN. _ Ngân hàng nhà nước: đảm bảo cho KTNN, kinh tế quốc dân hoạt động bình thường trong mọi tình huống. Các quỹ dự trữ quốc gia điều tiết quản lí, bình ổn giá cả, đảm bảo cho tình hình kinh tế - xã hội chung. _ Hệ thống bảo hiểm: chịu trách nhiệm thực hiện những chính sách bảo hiểm do nhà nước quy định phục vụ cho nền kinh tế. II. Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường: 1. Tính tất yếu vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước: Ở nước ta trong thời kì đổi mới tồn tại nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất: sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu hỗn hợp, sở hữu tư nhân, tương ứng với những hình thức sở hữu này là các thành phần kinh tế khác nhau. Các thành phần kinh tế không tồn tại độc lập với nhau mà có quan hệ hữu cơ với nhau, luôn vận động và có sự chuyển hóa trong quá trình phát triển, tạo thành cơ cấu kinh tế. Nền kinh tế cơ cấu nhiều thành phần là đặc trưng phổ biến của mọi nền kinh tế thị trường. Nhưng để kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta khác với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, thì cần phải có thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, còn kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là tư bản tư nhân giữ vai trò thống trị. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể được xây dựng và phát triển trở thành nền tảng vững chắc cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, để có thể giữ vững định hướng XHCN có sự điều tiết, quản lí của Nhà nước thì phải có một kinh tế nhà nước vững mạnh, phát triển, là lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện vai trò điều tiết, hướng nền kinh tế theo mục tiêu XHCN. Nhà nước phải nắm trong tay những sức mạnh kinh tế thông qua kinh tế nhà nước, có như vậy những cải cách, tác động vào nền kinh tế mới hiệu quả. Nhưng dù định hướng chính sách có đúng đắn mà không có sức mạnh vật chất thì cũng không thể thành công được. Thành phần kinh tế nhà nước có vai trò mở đường, dẫn dắt cho nền kinh tế Việt Nam phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế, cần phải tạo điều kiện cho thành phần kinh tế nhà nước nắm vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, là nhân tố chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Phát huy lợi thế nguồn vốn lớn từ ngân sách, lực lượng lao động được đào tạo chuyên sâu về trình độ quản lí, kĩ thuật, khoa học, công nghệ hiện đại, quan hệ kinh tế mở rộng trong và ngoài nước. Kinh tế nhà nước có chức năng tạo lập cơ sở vật chất hạ tầng, sản xuất các hàng hóa, dịch vụ công cộng, hỗ trợ, chi phối các thành phần kinh tế khác. Kinh tế nhà nước phải nắm được những ngành then chốt, những lĩnh vực quan trọng trong nền kinh tế quốc dân như công nghiệp nặng, giao thông vận tải, cơ sở hạ tầng… Có thể nói, vấn đề phát huy, tăng cường vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là một tất yếu khách quan, nhận thức được vấn đề này ta cần đề ra nhiều biện pháp, chính sách để tăng cường vai trò chủ đạo của nó. 2. Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước: 2.1. KTNN là lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lí vĩ mô. Đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đó là: các đơn vị kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường, nhà nước đóng vai trò điều tiết nền kinh tế theo định hướng XHCN. Các đơn vị kinh tế luôn phải giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản đó là sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào theo mục tiêu là tối đa hoá lợi nhuận. Điều đó dẫn đến kết quả là các đơn vị kinh tế luôn chạy theo những loại hàng hoá và dịch vụ mang đến nhiều lợi nhuận và sẽ rút khỏi thị trường các loại hàng hoá không có lãi hoặc lỗ. Điều này sẽ gây nên sự mất cân bằng cho nền kinh tế, để ổn định lại thị trường, thì cần đến sự điều tiết của Nhà nước thông qua công cụ hiệu quả là KTNN. Khi nền kinh tế quốc dân mở rộng sản xuất kinh doanh ở một mặt hàng cụ thể nào đó, mà các thành phần kinh tế khác không đủ khả năng để tham gia, từ chối tham gia thì khi đó cần đến sự mở đường, tham gia xây dựng của KTNN. Đến một lúc nào đó, khi các thành phần kinh tế khác đã đủ sức đáp ứng được nhu càu của thị trường, kinh tế nhà nước sẽ rút lui khỏi thị trường đó, nhường chỗ cho thành phần kinh tế khác. Quá trình này diễn ra liên tục trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân – vai trò điều tiết của kinh tế nhà nước. 2.2. KTNN làm đòn bẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội. Để nền kinh tế nước ta phát triển một cách nhanh chóng thì cần có những bước tăng trưởng. Do vậy cần một lực lượng có sức mạnh kinh tế làm đòn bẩy để thúc đẩy các thành phần khác cùng phát triển và kinh tế nhà nước chính là thành phần sẽ đảm nhiệm chức năng này. Những vấn đề xã hội đang là một hạn chế lớn của nước ta. Muốn phát triển kinh tế - xã hội cần phải giải quyết triệt để các vấn đề đó. Để thực hiện được điều đó ta cần có thực lực về kinh tế. Trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần hiện nay thì chỉ có kinh tế nhà nước mới có thể đảm nhận được vai trò làm lực lượng chủ lực cho Nhà nước giải quyết vấn đề đó. 2.3. KTNN mở đường, hướng dẫn hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển. Tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới. Kinh tế nhà nước phải tạo được động lực thúc đẩy, tạo đà và dẫn dắt các thành phần kinh tế khác mà cơ bản nhất là thành phần kinh tế tư bản tư nhân và thành phần kinh tế cá thể phát triển. Kinh tế nhà nước tạo cơ sở hạ tầng cho mỗi nền kinh tế hàng hóa, chiếm giữ các ngành then chốt và trọng điểm trong xã hội, tạo môi trường thuận lợi để khai thông và tận dụng mọi nguồn lực đưa nền kinh tế phát triển. KTNN kiểm soát các thị trường của hoạt động vốn, thị trường tiền tệ đảm bảo khả năng ổn định kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Kinh tế nhà nước tạo nền tảng kinh tế - xã hội cho đời sống, trong điều kiện kinh tế nước ta, việc đầu tư lớn chỉ có thể thực hiện từ nguồn vốn Nhà nước. Mặt khác, KTNN thông qua việc cung cấp hàng hóa tạo ra các sản phẩm và dịch vụ có tác dụng thúc đẩy lưu thông, phân phối giữa các ngành và khu vực, góp phần xóa đói giảm nghèo, xóa bỏ sự khác biệt giữa các vùng, qua đó làm tăng tinh thần hòa hợp cộng đồng và ý thức đoàn kết dân tộc. 2.4. KTNN là khu vực xung kích chủ yếu thực hiện CNH, HĐH đất nước. Mặc dù sự nghiệp CNH, HĐH là của toàn dân, nhưng trong hoàn cảnh tiềm lực của dân doanh còn chưa đủ mạnh để đảm đương nhiệm vụ này, thì sự nghiệp cao cả được đặt lên vai KTNN. Vì vậy KTNN là lực lượng chủ chốt đi đầu trong quá trình chuyển nước ta thành nước công nghiệp văn minh. Để thực hiện được, kinh tế nhà nước cần có những chính sách khuyến khích để tập thể, tư nhân tập trung vào các ngành mũi nhọn, trở thành một hạt nhân tổ chức lôi kéo các thành phần kinh tế khác cùng tham gia vào con đường CNH, HĐH. III. THỰC TRẠNG KINH TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY: 1. Những thành tựu của kinh tế nhà nước: Trong thời kì đổi mới, kinh tế nhà nước nói chung và doanh nghiệp nhà nước nói riêng đã có nhiều bước chuyển biến rõ rệt, được sắp xếp lại một cách căn bản, giải thể, cải cách lại các doanh nghiệp nhỏ, yếu kém, làm ăn không hiệu quả, những doanh nghiệp còn lại được củng cố, phát triển vững chắc. Với các chính sách, cơ chế đổi mới để DNNN tự chủ trong cơ chế thị trường, về kế hoạch, các doanh nghiệp được chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ mà Nhà nước giao cho đó là kế hoạch sản xuất, cung ứng vật tư kỹ thuật, đầu tư xây dựng cơ bản, tài chính, lao động… trên cơ sở tính toán nhu cầu thị trường về sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp mình. Về tài chính doanh nghiệp được Nhà nước giao vốn, tự chủ sử dụng vốn và sử dụng quỹ khấu hao để đầu tư, đổi mới tài sản… Về tổ chức bộ máy và nhân lực: doanh nghiệp có quyền tự chủ động tổ chức bộ máy quản lý và tổ chức kinh doanh cho phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ Nhà nước giao, được đào tạo và sử dụng lao động theo quy định của pháp luật trên cơ sở hợp đồng ký kết với người lao động và thoả ước lao động tập thể, thực hiện trợ cấp cho người lao động khi thôi việc, mất việt… Về quản lý Nhà nước đối với DNNN: từng bước xoá bỏ chế độ chủ quan của cơ quan hành chính Nhà nước cấp trên trực tiếp can thiệp quá sâu vào các hoạt dộng của DNNN, chỉ quản lý trên các mặt có tính tổng quan, chiến lược, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động và kiểm tra việc chấp hành pháp luật. Về thực hiện chức năng chủ sở hữu, Nhà nước đối với DNNN: có một bước đổi mới lớn dựa trên cơ sở phân công, phân cấp giữa chính phủ và các cấp quản lý với đại diện chủ sở hữu ở Doanh nghiệp. Quá trình đổi mới cơ chế, chính sách đã chuyển DNNN sang kinh doanh theo cơ chế thị trường, xác lập dần quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, các doanh nghiệp đã được sử dụng hiệu qủa hơn tiền vốn và tài sản, nâng cao chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh và ổn định việc làm cho người lao động. Nhờ đó, nền kinh tế ngày càng đạt được nhiều thành tựu to lớn. KTNN vẫn chiếm một tỉ trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân ở nước ta, nhất là các ngành công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hằng năm tăng dần. ( Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam ) Năm 2007, thành phần kinh tế nhà nước đã đóng góp 37% trong tổng GDP của cả nước. Không chỉ mức GDP chung của cả nước tăng mà ngành nào, lĩnh vực nào cũng phát triển. Tỉ trọng đóng góp GDP của các ngành ngày càng tăng. Đặc biệt là nhóm ngành công nghiệp – xây dựng tăng từ 36,73% năm 2000, lên 41,61% năm 2007. Công nghiệp tăng trưởng một cách ngoạn mục, tăng trưởng cao ở cả 3 khu vực với 2 chữ số. Khu vực doanh nghiệp nhà nước năm 2007 tăng cao nhất so với 2 năm trước đó ( năm 2005 tăng 7,2%, năm 2006 tăng 11,9% ). Trong khu vực này, các doanh nghiệp trung ương tăng tới 13,3% cũng cao hơn tốc độ tăng của 2 năm trước đó ( năm 2005 tăng 12,4%, năm 2006 tăng 11,9% ). Các doanh nghiệp địa phương tăng 3% , cao hơn tốc dộ tăng của 2 năm trước đó ( năm 2005 giảm 5,2%, năm 2006 tăng 2% ). ( Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam ) Tiêu thụ cũng tạo nên động lực cho sự tăng trưởng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ năm 2006 là 588.900 tỉ đồng, trong đó kinh tế nhà nước chiếm 13,6%, năm 2007 đạt 714.000 tỉ đồng trong đó kinh tế nhà nước chiếm 10,7% tổng mức. Dự kiến năm 2008, tốc độ lưu chuyển bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ xã hội tăng khoảng 22 – 23% so với năm 2007, đạt từ 872000 – 878000 tỉ đồng. Trong đó khu vực kinh tế nhà nước tăng khoảng 17,2% so với 2007, chiếm tỉ trọng 11,2% trong cơ cấu tổng mức bán lẻ. Kim ngạch xuất khẩu năm 2007 đạt quy mô lớn nhất từ trước đến nay, cao gấp 3,3 lần năm 2000. Kim ngạch xuất khẩu bình quân 1 tháng của năm 2007 đã đạt trên 4 tỉ USD. Khu vực kinh tế nhà nước còn nhận được một lượng lớn nguồn vốn đầu tư phát triển, năm 2006 là 185.100 tỉ đồng chiếm 46,4% cơ cấu vốn đầu tư cả nước, năm 2007 là 200.000 tỉ đồng chiếm 43,3%. Các doanh nghiệp nhà nước chiếm tỉ trọng lớn trong tổng sản phẩm trong nước, trong tổng thu ngân sách, kim ngạch xuất khẩu và trong công tác hợp tác đầu tư với nước ngoài, là lực lượng quan trọng trong việc thực hiện các chính sách xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai, đảm bảo các dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội, quốc phòng, an ninh. Doanh nghiệp nhà nước đã giải quyết được việc làm cho một số lượng lớn người lao động, năm 2006 là 4,007 nghìn người, năm 2007 là 3.974 nghìn người. DNNN càng ngày càng thích ứng với cơ chế thị trường, năng lực sản xuất tiếp tục tăng, cơ cấu ngày càng hợp lí, trình độ công nghệ quản lí có nhiều tiến bộ, đời sống người lao động từng bước được cải thiện. 2. Nguyên nhân những thành tựu đạt được: Thứ nhất, xuất phát điểm đầu tiên cho sự đổi mới nền kinh tế nước ta đó là nhờ chủ trương đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Chủ trương xây dựng một nền kinh tế mở của Đảng, đã rất phù hợp với thực tế tình hình đất nước ta, do đó đã mở ra một thời kỳ kinh tế mới năng động, sáng tạo, nhanh chóng đưa đến hiệu quả phát triển của nền kinh tế, - xã hội đất nước. Thứ hai, nhà nước XHCN Việt Nam đang từng bước hoàn thiện dần hệ thống các công cụ quản lý vĩ mô của mình, đối với thành phần kinh tế nhà nước đặc biệt là đối với các doanh nghiệp nhà nước. Bằng các văn bản pháp quy, các chính sách kinh tế mà nhà nước đã thể chế hoá các quan điểm, chủ trương của Đảng về vai trò chủ đạo của KTNN, DNNN, một loạt các văn bản, quyết định được được thực thi làm cho hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước càng ngày càng hiệu quả, tự chủ. Thứ ba, sự cố gắng phấn đấu của các DNNN, của đội ngũ cán bộ, quản lý và người lao động trong cơ chế mới mà Đảng đề ra, đòi hỏi các DNNN cũng như các cán bộ quản lý người lao động, phải có một sự thay đổi nhất định, đáp ứng được những đòi hỏi của cơ chế kinh tế mới. Càng ngày ta nhận thấy tính năng động, sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của nhiều cán bộ, công nhân viên ở các DNNN được nâng cao. Các DNNN đã có những việc làm nhằm đưa hoạt động sản xuất của mình hiệu quả hơn như đổi mới công nghệ, đào tạo đội ngũ cán bộ… Thứ tư, hợp tác đa phương, đa hình thức, hướng về xuất khẩu, của các DNNN được phát triển cả về quy mô và hiệu quả, nhờ đó mà tranh thủ sự đầu tư, giúp đỡ của quốc tế, của các doanh nghiệp nước ngoài, không chỉ cho thành phần KTNN mà còn cho các thành phần kinh tế khác về thị trường, về đổi mới công nghệ, về phương pháp sản xuất, kinh doanh…. nhờ đó mà KTNN thực hiện được vai trò mở đường, dẫn dắt các thành phần kinh tế khác cùng phát triển theo đúng định hướng XHCN của Đảng. 3. Những hạn chế của kinh tế nhà nước trong thời kì đổi mới: Trong công cuộc đổi mới, kinh tế nhà nước bên cạnh những thành tựu đạt được vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, cần khắc phục: Hiệu quả sản xuất kinh doanh, tốc độ phát triển chưa cao, không ít doanh nghiệp nhà nước vẫn còn ỷ lại vào sự bảo hộ bao cấp của nhà nước. Theo thống kê hiện nay, có 40% doanh nghiệp nhà nước sản xuất kinh doanh thực sự hiệu quả, 40% chưa hiệu quả, khi lỗ khi lãi, không ổn định, còn lại 20% là yếu kém, thua lỗ liên tục. Nhiều doanh nghiệp nhà nước xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh không gắn với định hướng phát triển chung của toàn ngành, không phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ được giao và chưa xuất phát từ nhu cầu thị trường, nhiều doanh nghiệp nhà nước đưa ra các dự án không có khả năng thực thi, hiệu quả đầu tư thấp, lãng phí tiền vốn, phát sinh tiêu cực, tham nhũng, để lại những hậu quả, khó khắc phục. Việc bảo toàn và phát triển vốn nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện tốt, tình trạng ăn vào vốn, mòn vốn, mất vốn vẫn còn rất nhiều, Không ít doanh nghiệp chưa thực hiện tốt quy chế dân chủ tại DNNN, nhất là công khai tài chính, việc chi tiêu tuỳ tiện, lãng phí. Hiệu quả sử dụng vốn còn thấp, chưa phân bổ vốn hợp lí cho từng nhóm ngành. Các doanh nghiệp nhà nước ở nước ta rất kém trong khả năng cạnh tranh, có nhiều ngành, sản phẩm của doanh nghiệp nhà nước được bảo hộ tuyệt đối hoặc bảo hộ qua các hàng rào thuế quan. Đặc biệt là khả năng cạnh tranh trên thị trường thấp do mức giá quá cao so với mặt hàng cùng loại nhập khẩu. Về cơ cấu vẫn còn nhiều bất hợp lí, tỉ trọng các doanh nghiệp nhà nước trong các ngành nông nghiệp, thương mại còn lớn, trong khi cơ cấu doanh nghiệp nhà nước đòi hỏi phải tập trung vào phát triển công nghiệp, dặc biệt là công nghiệp chế biến. Quy mô doanh nghiệp nhà nước vẫn còn nhỏ, bộ máy hành chính giàn trải, cồng kềnh, cơ cấu vẫn còn nhiều trùng lặp, chồng chéo về ngành nghề, sản phẩm trên cùng một địa bàn. Nguồn vốn hạn hẹp nhưng lại đầu tư hình thành nhiều doanh nghiệp có quy mô vốn quá nhỏ, không đủ lực để sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đây là một sự lãng phí trong đầu tư, phát triển. Công nợ của các doanh nghiệp nhà nước hiện nay là quá lớn. Nợ khó đòi, nợ quá hạn ngày càng tăng, gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động của Ngân hàng. Theo số liệu thống kê của ngân hàng phát triển Việt Nam, năm 2007 các dự án xây dựng các công trình giao thông phải trả nợ 141.6 tỉ đồng vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước. Doanh nghiệp nhà nước là địa điểm của tệ tham nhũng, lãng phí, gây thất thoát nguồn lực Nhà nước. 4. Nguyên nhân của những hạn chế: Chưa có sự thống nhất cao, trong nhận thức về vai trò, vị trí của kinh tế nhà nước và DNNN, về yêu cầu và giải pháp sắp xếp đổi mới, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN. Chỉ chủ tư nhân – là chủ sở hữu tài sản một cách chính đáng mới quan tâm chăm lo cho doanh nghiệp của mình, quản lý chi phí hợp lý, tiết kiệm đồng thời có khả năng nhanh nhạy, linh hoạt trong cơ chế thị trường. DNNN có chủ sở hữu là nhà nước nên có một bộ phận không nhỏ cán bộ quản lý lấy tài sản ra sử dụng lãng phí, mặt khác, DNNN bị chi phối bởi nhiều cơ quan quản lý nên hạn chế nhiều khả năng kinh doanh dẫn đến hiệu quả kinh doanh thấp, sức cạnh tranh kém. Chất lượng đội ngũ quản lý có nhiều sai sót hạn chế về phẩm chất cũng như khả năng quản lý. Công tác tổ chức quản lý và khuyến khích sản xuất chưa hợp lý. Một bộ phận không nhỏ cán bộ công nhân nhân viên bị thoái hoá, biến chất đã vi phạm chính sách, pháp luật gây thất thoát tài sản, tiền vốn và làm tổn hại cho nhà nước và tập thể rất nhiều. Một bộ phận không nhỏ các cán bộ quản lý từ khối kinh tế cũ bảo thủ ỷ lại, thiếu năng động nhưng vẫn giữ các chức vụ quản lý, lãnh đạo quan trọng trong doanh nghiệp, cùng với số cán bộ quản lý thiếu trách nhiệm, thiếu kiến thức về kinh doanh, quản lý chưa được đào tạo, bồi dưỡng. Số lượng công nhân viên chức trong các DNNN tuy lớn nhưng trình độ học vấn văn hoá, kỹ thuật còn thấp, công nhân thiếu tay nghề do đó không đáp ứng được yêu cầu chất lượng sản phẩm cao. Các DNNN còn chậm đổi mới công nghệ, còn nhiều bất cập trong việc tổ chức sản xuất, bố trí xây dựng dây chuyền sắp xếp cán bộ, công nhân viên chưa đúng chức năng, Trong khi đó bộ máy quản lý DN còn nặng nề, cồng kềnh số lượng lao động còn dư thừa chưa được giải quyết nên năng suất thấp. Quản lý của nhà nước đối với KTNN vòn nhiều thiết sót. Chưa có chiến lược quy hoạch dài hạn đầy đủ về phát triển các ngành kinh tế, kinh doanh, đặc biệt là quy hoạch phát triển DNNN trên các vùng kinh tế, khu kinh tế trọng điểm trong các ngành kinh tế, dịch vụ then chốt mũi nhọn. Do vậy mà hệ thống DNNN chưa có cơ cấu hợp lý, chưa có chiến lược kinh doanh và phát triển DN một cách đầy đủ và đúng đắn. Đó là nguyên nhân dẫn đến việc tổ chức sản xuất, kinh doanh chưa có hiệu quả. Hệ thống pháp luật cơ chế ban hành và thực hiện chưa cơ bản. Luật pháp nước ta còn rất nhiều bất cập , thường mang tính tình thế, thay đổi liên tục. Điều đó gây trở ngại cho các nhà hoạt động kinh tế trong việc hoạch định kế hoạch sản xuất lâu dài cho doanh nghiệp. Hiệu quả thực thi pháp luật còn rất chậm, chưa nghiêm túc. Các chính sách còn chồng chéo, thiếu thống nhất giữa các cấp làm cho doanh nghiệp khó nắm bắt để thực hiện. IV. MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA KINH TẾ NHÀ NƯỚC HIỆN NAY: 1. Thực hiện chính sách đầu tư phù hợp cho các bộ phận kinh tế nhà nước nhằm vừa đảm bảo hoạt động vừa tạo tính tự lực, năng động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Hiện nay, do những trợ cấp về tài chính của nhà nước đối với các doanh nghiệp còn thiếu tính thực tế, có khi doanh nghiệp làm ăn đã có lãi vẫn được trợ cấp mà trong khi doanh nghiệp cần vốn hơn thì lại được trợ cấp quá ít. Điều đó đòi hỏi việc quản lý của chính phủ về tài chính, về thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp cần rõ ràng hơn để có chính sách đầu tư thích hợp, vừa tạo động lực vừa khuyến khích các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn. 2. Đổi mới, sắp xếp lại cơ cấu những bộ phận còn nhiều yếu kém, nhất là các doanh nghiệp nhà nước. Cần tổ chức lại một cách quy mô, hoạt động hiệu quả và thực hiện được vai trò chủ đạo, chính yếu trong nền kinh tế quốc dân. Muốn thực hiện được giải pháp này, đòi hỏi các nhà hoạch định phải có chính sách đúng đắng, có khả năng thực thi và phù hợp với tình hình thực tế của từng doanh nghiệp. Phải điều chỉnh một cách hợp lí cơ cấu DNNN, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng, chiếm thị phần đủ lớn trong các ngành và dịch vụ. Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lí để các doanh nghiệp nhà nước phải tự làm chủ, tự chịu trách nhiệm, có thể tham gia cạnh tranh bình đẳng cùng các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân. 3. Đẩy mạnh công tác cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, thực hiện giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê, sáp nhập, giải thể, phá sản doanh nghiệp nhà nước. Đây là một giải pháp mang nhiều ưu điểm và có khả năng cao nhất trong việc đẩy nhanh hiệu quả hoạt động, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Hầu hết các doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá thì doanh thu, thu nhập của người lao động, vốn, nộp thế đều tăng hơn so với trước. Mặt khác, thực chất của cổ phần hoá là nhằm huy động và sử dụng rộng rãi vốn đầu tư xã hội, do đó mà khả năng mở rộng sản xuất, kinh doanh được nâng lên. Ở nước ta, cổ phần hóa là quá trình đa dạng hoá sở hữu có bản chất khác hẳn các nước, là hình thức xã hội hoá một bộ phận DNNN để nhiều người cùng sở hữu doanh nghiệp theo tỷ lệ cổ phần nhằm huy động vốn, nâng cao hiệu quả quản lý và phát huy tính năng động, sáng tạo của người lao động. Để quá trình cổ phần hóa diễn ra dễ dàng, thì cần phải có sự thống nhất giữa Nhà nước và doanh nghiệp trong việc xác định giá trị. Muốn việc đánh giá tài sản của doanh nghiệp được khách quan, chuẩn xác hơn thì hệ thống cơ quan định giá cũng cần có sự thay đổi, hình thành những công ty trung gian để dựa trên các quan hệ cung – cầu của thị trường. Có chính sách khuyến khích các nhà đầu tư có tiềm năng về công nghệ, thị trường, kinh nghiệm quản lí, tiền vốn mua cổ phần. Bên cạnh đó cũng cần có những chính sách nhằm đảm bảo lợi ích cho người lao động, trong quá trình cải cách doanh nghiệp hay cổ phần hoá DNNN, nên có biện pháp hữu hiệu bảo vệ cổ phần của người lao động lâu dài, để họ thực sự là người chủ đích thực doanh nghiệp họ đang cống hiến lao động. 4. Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế chính sách của Nhà nước nhằm tạo môi trường pháp lý cho các doanh nghiệp được hoạt dộng hiệu quả hơn. Phân biệt rõ quyền sở hữu và quyền kinh doanh của Nhà nước, nhằm tạo ra môi trường và quyền tự chủ để doanh nghiệp nhà nước cạnh tranh trên thị trường một cách bình đẳng, tự chịu trách nhiệm với hoạt động sản xuất của mình. Có cơ chế kiểm tra, kiểm soát, thanh tra của Nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước, nhất là về vấn đề tài chính, ngân sách, trình độ quản lý của cán bộ. Nhà nước phải ổn định các chính sách kinh tế vĩ mô, đề ra những chiến lược kinh tế lâu dài, ổn định để tạo lòng tin cho các doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả hơn. Không phân biệt quá sâu sắc giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, tạo ra khoảng cách giữa các doanh nghiệp, mà phải tạo môi trường pháp lý bình đẳng để các doanh nghiệp cạnh tranh một cách có hiệu quả nhất. Nhà nước cần có những quy định về tiêu chuẩn cán bộ quản lí chủ chốt của doanh nghiệp, quy định chế độ đãi ngộ và trách nhiệm đối với các cán bộ. Có những chương trình đào tạo nâng cao tay nghề của công nhân, viên chức trong các doanh nghiệp. 5. Đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức Đảng ở doanh nghiệp Nhà nước. Tổ chức Đảng ở từng doanh nghiệp có nhiệm vụ lãnh đạo thực hiện đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tham gia trực tiếp và lãnh đạo có hiệu quả nhiệm vụ phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người lao động, phát huy dân chủ, thi đua hoàn thành nhiệm vụ, lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng. Tùy từng hoàn cảnh, tính chất, tình hình thực tế của từng doanh nghiệp mà có những đường lối đổi mới tổ chức Đảng cho phù hợp, đạt được hiệu quả. C. PHẦN KẾT LUẬN Kinh tế nhà nước là một thành phần quan trọng chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Đó là sức mạnh vật chất để Nhà nước điều tiết nền kinh tế vĩ mô, là hình thức kinh tế dựa trên chế độ sở hữu Nhà nước về tư liệu sản xuất. Qua quá trình hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đang dần hoàn thiện và phát triển, thành phần kinh tế nhà nước đã có những thành tựu đóng góp đáng kể vào sự phát triển chung này, đồng thời cũng khẳng định được vai trò then chốt của mình trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Bên cạnh đó, kinh tế nhà nước còn bộc lộ một số yếu kém, bất cập, trình độ còn hạn chế, công nghệ lạc hậu, quản lí yếu kém, nhiều tiêu cực chưa giải quyết dứt điểm, nên để nó thực sự trở thành một thành phần chủ đạo thì ta phải có nhiều biện pháp đổi mới, sắp xếp, tiến hành cổ phần hóa. Đặc biệt là vấn đề cổ phần hóa các DNNN, đó là một trong những giải pháp tích cực để nâng cao tính năng động, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp. Những điều chỉnh hợp lí, kịp thời của Đảng và Nhà nước đã tạo ra chuyển biến mới, đưa kinh tế nhà nước ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Kinh tế nhà nước là một trong những nhân tố quyết định đến thành công sự nghiệp xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Góp phần quan trọng đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp, sánh vai với các nước trong khu vực và trên thế giới. Tài liệu tham khảo 1. Giáo trình Kinh tế chính trị Mac – Lênin. 2. Tạp chí Cộng sản. 3. Tạp chí ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc7358.doc
Tài liệu liên quan