Chính sách Nhập khẩu của Mỹ & giải pháp đẩy mạnh Xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ

Lời nói đầu Nền kinh tế thế giới đang biến động mạnh mẽ với xu thế hội nhập khu vực và toàn cầu. Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật cùng với sự thúc đẩy mạnh mẽ của nhu cầu phát triển kinh tế làm tăng thêm sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trong mọi lĩnh vực nổi trội hơn bao giờ hết. Điều này buộc các nước phải thi hành chính sách mở cửa. Quá trình hợp tác và thâm nhập kinh tế giữa các quốc gia ngày càng phát triển. Trước tình hình thế giới như vậy, Việt Nam không

doc97 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 03/10/2013 | Lượt xem: 129 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Chính sách Nhập khẩu của Mỹ & giải pháp đẩy mạnh Xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
thể không mở cửa nền kinh tế, phát triển quan hệ đối ngoại nhằm mở rộng thị trường, tiếp thu các thành tựu về khoa học công nghệ trên thế giới để phát triển kinh tế trong nước. Khi phát triển quan hệ đối ngoại, chúng ta không thể không nhắc tới nước Mỹ. Mỹ là quốc gia giầu và mạnh nhất trên thế giới hiện nay. Cùng với Tây Âu và Nhật Bản, Mỹ là một trong ba trung tâm kinh tế của thế giới. Hiện nay, Mỹ đóng vai trò quan trọng nhất trong việc thúc đẩy kinh tế thế giới phát triển. Bên cạnh đó, Mỹ còn đóng vai trò đầu tàu trong nhiều tổ chức kinh tế và chính trị trên thế giới, như Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Quỹ tiền tệ thế giới (IMF), Ngân hàng thế giới (WB). Thị trường Mỹ với dân số khoảng 260 triệu người, thu nhập bình quân đầu người trên 33000 USD là thị trường tiêu thụ lớn nhất trên thế giới. Vì vậy, hầu hết các nước trên thế giới đều tìm cách thâm nhập vào thị trường khổng lồ và đầy tiềm năng này. Việt Nam và Mỹ trước đây từng là kẻ thù của nhau, nhưng từ đầu thập kỷ 90 tới nay trước tình hình bối cảnh thế giới nhiều thay đổi, hai nước đã nỗ lực không ngừng trong việc hàn gắn quá khứ, bình thường hóa quan hệ. Quá trình bình thường hóa quan hệ giữa hai nước đã thúc đẩy quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước ngày càng phát triển. Từ mức quan hệ thương mại gần như là con số không, đến năm 2001, kim ngạch thương mại giữa hai nước vượt con số 1 tỷ USD. Ngày 11/12/2001, Quốc hội Mỹ đã chính thức phê chuẩn Hiệp định thương mại Việt – Mỹ. Đây là cột mốc quan trong trong thương mại hai nước và cũng là cơ hội lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, một trong những trở ngại đối với các doanh nghiệp Việt Nam là việc các doanh nghiệp Việt Nam chưa hiểu rõ về chính sách nhập khẩu, về thị trường cũng như môi trường pháp luật và thương mại của Mỹ. Trên cơ sở đó, em đã chọn đề tài “Chính sách nhập khẩu của Mỹ và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ” với mục đích khái quát những luật cơ bản điều tiết hoạt động thương mại của Mỹ và một số quy định trong chính sách nhập khẩu Mỹ, đồng thời đề xuất và tổng hợp một số giải pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa việc xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Mỹ. Luận văn tốt nghiệp ngoài lời mở đầu và phần kết luận, bao gồm ba chương với các nội dung sau: Chương I: Chính sách nhập khẩu của Mỹ Chương II: Thực trạng xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường Mỹ Chương III: Đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường Mỹ Bản luận văn tốt nghiệp này được hoàn thành với nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ của các anh, chị trong Ban pháp chế – Phòng Thương mại công nghiệp Việt Nam. Đặc biệt với sự chỉ dẫn, giúp đỡ tận tình của Thầy giáo em đã hoàn thành luận văn này. Do khả năng còn hạn chế, bản luận văn tốt nghiệp không tránh khỏi sai sót và có những khiếm khuyết. Do vậy, em mong nhận được đóng góp của thầy, cô và bạn đọc quan tâm để luận văn được hoàn chỉnh hơn. Chương I Chính sách nhập khẩu của Mỹ đối với việt nam I. Một số quy định trong chính sách nhập khẩu của Hoa Kỳ Khái quát về luật thương mại Hoa Kỳ Mối quan hệ giữa luật liên bang và luật các bang của Hoa Kỳ trong hoạt động ngoại thương Do Mỹ là nước theo chế độ liên bang, nên ngoài luật của Liên bang được áp dụng còn có luật riêng của mỗi bang. Mặc dù luật Liên bang và luật ở các bang có thể khác nhau, nhưng thẩm quyền của mỗi luật đã được quy định rõ ràng trong Hiến pháp Mỹ. Trong lĩnh vực ngoại thương, Hiến pháp Mỹ có quy định về “các điều luật tối cao”, “điều luật xuất nhập khẩu”, và “điều khoản thương mại” đề cập đến mối liên hệ giữa các bang và Liên bang trong hoạt động quản lý thương mại quốc tế. Điều khoản tối cao: điều khoản này quy định nếu luật các bang có các quy định xung đột trực tiếp với các quy định tương tự của luật Liên bang thì luật Liên bang sẽ được áp dụng nếu Quốc hội quyết định như vậy. Điều khoản xuất nhập khẩu: Điều khoản này ngăn cấm Chính phủ Liên bang đánh thuế xuất khẩu và ngăn cấm chính quyền các bang đánh thuế xuất nhập khẩu. Điều khoản này được đề ra do những nguyên nhân sau: thứ nhất, chính phủ Liên bang cần có một tiếng nói thống nhất trong hoạt động đối ngoại; thứ hai, thuế nhập khẩu là một nguồn thu quan trọng cho ngân sách Liên bang; thứ ba, ngăn cản các bang ven biển có những quy định cản trở hoặc có các khoản thuế đánh vào hàng hoá đang vận chuyển vào các bang. Điều khoản thương mại: Điều khoản này trao cho chính quyền Liên bang quyền lực tối cao đối với các hoạt động thương mại có yếu tố nước ngoài và ngăn cấm các bang đánh thuế, có các hạn chế hoặc gây ra các gánh nặng không thích hợp đối với hoạt động xuất khẩu. Chính quyền các bang, theo điều khoản này, cũng bị hạn chế rất nhiều trong việc hạn chế nhập khẩu. Tuy nhiên, các bang vẫn có thể thực thi các hạn chế nhập khẩu trong trường hợp để bảo vệ an toàn và sức khỏe cộng đồng. Luật điều tiết hoạt động xuất khẩu Các luật hỗ trợ xuất khẩu và triển khai hiệp định thương mại Điều 301 - luật thương mại 1974 là luật quan trọng nhất của Mỹ để thực hiện quyền của các công ty Mỹ trong khuôn khổ các hiệp định song phương và đa phương đã ký, thúc đẩy việc tiếp cận thị trường nước ngoài cho hàng hoá và dịch vụ của Mỹ và để ngăn chặn những hành vi “thương mại không công bằng” của nước ngoài như xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, trợ giá... Luật này thiết lập một quy trình để Văn phòng đại diện thương mại Mỹ điều tra những hành vi “thương mại không công bằng” của nước ngoài và thảo luận với chính phủ nước ngoài về cách giải quyết những tranh chấp mà có thể thỏa thuận cấp chính phủ nhằm ngăn chặn những hành động vi phạm trên hoặc để bồi thường thiệt hại cho Mỹ. Nếu không có một thỏa thuận vừa ý, luật này yêu cầu Đại diện thương mại Mỹ sử dụng thủ tục giải quyết tranh chấp đã có theo hiệp định thương mại có liên quan. Nếu bước này vẫn chưa đưa ra được giải pháp vừa ý cho các tranh chấp, Đại diện thương mại Mỹ có thể tiến hành một số bước khác để trả đũa, có thể: tạm hoãn những thỏa thuận trong các hiệp định thương mại đã ký; ấn định mức thuế cao hơn đối với hàng hóa nhập khẩu; hoặc hạn chế nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ của nước ngoài. Nếu hành vi thương mại của bên nước ngoài là “không công bằng” hay tạo ra các gánh nặng quá lớn cho thương mại Mỹ nhưng không vi phạm luật thương mại, thì Đại diện thương mại Mỹ chỉ được thực thi các biện pháp hạn chế vừa phải nếu thấy thật cần thiết. Quốc hội Mỹ còn quy định rằng Đại diện thương mại Mỹ phải tiến hành đánh giá hàng năm các hàng rào thương mại của nước ngoài, và kết quả này được công bố hàng năm dưới dạng “Báo cáo Đánh giá thương mại quốc gia về các hàng rào ngoại thương”, còn được gọi là báo cáo NTE. Theo điều “siêu 301” trong Bộ luật thương mại sửa đổi, được thông qua năm 1988, báo cáo NTE được sử dụng để lập một danh sách những thông lệ quốc gia ưu tiên, gọi là “super 301”, chủ yếu là danh sách các nước là đối tượng của luật “super 301”. Trong vòng 21 ngày sau khi trình báo cáo, Đại diện thương mại Mỹ phải tiến hành điều tra theo điều 301 về các thông lệ ưu tiên của nước ngoài được xác định trong báo cáo. Kiểm soát xuất khẩu Theo các đạo luật quản lý xuất khẩu EAA, Bộ thương mại Mỹ kiểm soát các mặt hàng được sử dụng hai mục đích là các mặt hàng dân sự nhưng có tiềm năng ứng dụng vào mục đích quân sự. Cục quản lý xuất khẩu của Bộ thương mại là cơ quan chính cấp phép xuất khẩu những mặt hàng được sử dụng hai mục đích. Bộ ngoại giao cấp phép xuất khẩu các mặt hàng và dịch vụ quốc phòng theo quy định của Luật kiểm soát xuất khẩu vũ khí, trong khi một số loại vật tư, thiết bị hạt nhân nhất định lại do Uỷ ban kiểm soát hạt nhân cấp phép theo quy định của Luật năng lượng nguyên tử. Luật về quyền hạn kinh tế trong tình trạng khẩn cấp quốc tế (IEEPA) được thông qua năm 1977, cho phép Tổng thống được quyền phong tỏa tài sản nước ngoài tại Mỹ, cấm vận thương mại và tiến hành các biện pháp cần thiết khác để đối phó với những đe dọa bất thường hoặc đặc biệt đối với an ninh quốc gia hay lợi ích kinh tế của Mỹ. Luật điều tiết hoạt động nhập khẩu Hạn chế nhập khẩu Điều 201 Luật thương mại Mỹ, được sửa đổi và bổ sung năm 1988, đã quy định về các bước thực hiện các biện pháp bảo vệ ngành công nghiệp trong nước khỏi sự biến động gây thiệt hại lớn đối với nền kinh tế ở Mỹ. Tiêu chuẩn để hạn chế nhập khẩu: Theo điều 201, việc hạn chế nhập khẩu được tiến hành khi mà hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ tăng đến mức gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng đối với các ngành sản xuất trong nước hay các loại hàng hóa cạnh tranh trực tiếp với hàng hóa nhập khẩu. Việc hạn chế nhập khẩu được tiến hành theo yêu cầu của Tổng thống Mỹ trên cơ sở các khuyến nghị của Uỷ ban Thương mại quốc tế. Các biện pháp hạn chế nhập khẩu trên chỉ có hiệu lực tạm thời và dùng để tạo cho các ngành công nghiệp trong nước có đủ thời gian để lấy lại khả năng cạnh tranh của mình. Theo Luật thương mại bổ sung năm 1988, trên cơ sở đề nghị của Uỷ ban thương mại, Tổng thống Mỹ sẽ tiến hành hạn chế nhập khẩu nếu Tổng thống Mỹ cho rằng biện pháp này sẽ mang lại các lợi ích kinh tế và xã hội. Các biện pháp mà Tổng thống dùng để hạn chế nhập khẩu bao gồm: Tăng thuế, mức tăng cao nhất là lên 50%; Sử dụng thuế hạn ngạch, tức thuế xuất sẽ tăng cao hơn sau khi nhập một lượng hàng hóa nhất định; áp dụng hạn ngạch tuyệt đối với hàng hóa nhập khẩu, là hạn ngạch về số lượng, tức là không được nhập vượt quá số lượng hạn ngạch cho phép trong thời hạn hạn ngạch; áp dụng hạn ngạch trên cơ sở bán đấu giá các giấy phép nhập khẩu. Quyền hạn chế hàng dệt và nông sản Là thành viên của WTO, tham gia Hiệp định hàng may mặc trong khuôn khổ WTO (trước đây là Hiệp định đa sợi trong khuôn khổ GATT), nên Mỹ phải tuân thủ những quy định của Hiệp định này. Các hiệp định trong khuôn khổ Vòng đàm phán Urugoay và luật triển khai hiệp định cho phép Mỹ đưa ra những hạn chế đối với hàng nông sản và hàng dệt. Hiệp định hàng dệt may, có hiệu lực tháng 1 năm 1994, cho phép các nước thành viên ký kết WTO đàm phán các hiệp định song phương nhằm thiết lập những hạn chế về số lượng đối với hàng dệt may và quần áo nhập khẩu. Trong khuôn khổ Hiệp định hàng dệt may, các hạn ngạch và hạn chế đối với việc buôn bán hàng dệt may được dỡ bỏ dần trong 3 giai đoạn và hết hạn vào ngày 1/1/2005. Tất cả các thành viên của WTO là đối tượng áp dụng của Hiệp định hàng dệt may, cho dù họ chưa hoặc đã ký vào Hiệp định đa sợi trước đây và chỉ có các thành viên của WTO mới đủ điều kiện tham gia Hiệp định hàng dệt may. Hiệp định hàng dệt may song phương được đàm phán giữa nước xuất khẩu và nước cung cấp theo Hiệp định đa sợi vẫn có hiệu lực trong thời gian chuyển đổi đến năm 2005. Các tiêu chuẩn sản phẩm Những khác biệt về tiêu chuẩn sản phẩm, danh sách và hệ thống chứng nhận sản phẩm có thể cản trở hoạt động thương mại và có thể được sử dụng để đối xử phân biệt đối với hàng nhập khẩu, vì vậy các nước trong khuôn khổ GATT đã thương lượng và ký kết Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật, còn gọi là bộ luật tiêu chuẩn vào năm 1979 thiết lập những quy tắc để chính phủ các nước chuẩn bị, chấp nhận và áp dụng hệ thống tiêu chuẩn và chứng nhận. Các vòng đàm phán Urugoay dựa trên Bộ luật tiêu chuẩn này thiết lập Hiệp định về hàng rào kỹ thuật đối với thương mại. Hiệp định mới này yêu cầu loại bỏ các hàng rào thương mại dưới hình thức tiêu chuẩn hàng hóa, các hoạt động kiểm định hay các thủ tục đánh giá mức độ phù hợp của hàng hóa. 2. Một số quy định trong chính sách nhập khẩu của Mỹ Quy chế thương mại bình thường-NTR (hay còn gọi là quy chế tối huệ quốc-MFN) của Mỹ Quy chế tối huệ quốc (Most Favoured Nation – MFN) áp dụng ở Mỹ từ năm 1930 theo Luật thuế năm 1930 (Tariff Act 1930) là một điều khoản quy định ở các hiệp định thương mại quốc tế, mà các nước tham gia ký kết hiệp định cam kết dành cho nhau sự đãi ngộ thương mại không thấp hơn sự ưu đãi cao nhất mà nước đó dành cho một nước khác. Trong chính sách thuế quan của Mỹ, MFN có nghĩa là các sản phẩm của các nước được Mỹ “đãi ngộ tối huệ quốc” sẽ chiếm mức thuế thấp hơn nước không được Mỹ dành cho chế độ MFN đó. (Thể hiện ở cột số 1 và cột số 2 trong danh bạ thuế quan HTS của Mỹ). Từ tháng 6 năm 1998, nhân điều chỉnh sắc luật liên quan đến hoạt động của Cục thuế liên bang Mỹ (IRS), Quốc hội Mỹ đã quyết định thay đổi tên gọi của chính sách Tối huệ quốc (MFN) thành khái niệm Quan hệ thương mại bình thường (Normal Trade Relations-NTR). 2.2. Hàng rào thuế quan của Hoa Kỳ 2.2.1. Danh bạ thuế quan thống nhất (The Harmonised Tariff Schedule- HTS) Danh bạ thuế quan thống nhất của Mỹ chia hàng hoá thành khoảng 5000 mục (Heading) và tiểu mục (Subheading) theo trình tự: từ những loại hàng hoá đơn giản, sản phẩm nông nghiệp tới các loại hàng hoá chế tạo tinh vi. Danh bạ này còn chia thành 22 lĩnh vực, mỗi lĩnh vực thông thường bao quát một ngành công nghiệp. 22 lĩnh vực lại được chia thành các chương nhỏ, mỗi chương lại bao gồm một loại hàng hoá, nguyên vật liệu hay sản phẩm của ngành công nghiệp đó. Mỗi mục được biểu thị bằng 8 ký tự. Mức thuế trong HTS được chia làm hai cột: Cột một chia làm hai cột nhỏ. Cột thứ nhất là phần chung gồm các mức thuế đánh vào hàng hoá từ những quốc gia được hưởng chế độ ưu đãi Tối huệ quốc (Chế độ ưu đãi thuế quan thương mại bình thường). Cột thứ hai là phần đặc biệt gồm các mức thuế đặc biệt áp dụng trong những chương trình ưu đãi về thuế, ví dụ ưu đãi về thuế trong chế độ GSP. Cột hai là mức áp dụng cho các nước không được hưởng chế độ ưu đãi về thuế. Mọi hàng hoá nhập khẩu vào Mỹ đều phải chịu thuế hoặc được miễn trừ thuế theo các qui định trong HTS của Mỹ. Khi hàng hoá phải chịu thuế, người ta áp dụng tỷ lệ trên giá trị, tỷ lệ trên số lượng hoặc tỷ lệ hỗn hợp. ă Tỷ lệ trên giá trị (ad valorem rate): là mức thuế được xác định bằng một tỷ lệ phần trăm trên giá trị hàng nhập khẩu. Thuế ở Mỹ chủ yếu đánh theo phương pháp tỷ lệ trên giá trị. ă Tỷ lệ trên số lượng (specific rate): là một loại thuế ấn định đối với số lượng nhất định. ă Tỷ lệ hỗn hợp (compourd rate): là một loại thuế kết hợp thuế theo tỷ lệ trên giá trị và thuế theo tỷ lệ trên số lượng. 2.2.2. Định giá hải quan (Custom value) Năm 1970, Luật về các hiệp định thương mại (Trade of Agreement Act 1979) của Mỹ đưa ra phương pháp “Giá trị giao dịch” (Transaction Value) làm cơ sở chính để xác định giá hàng nhập khẩu để tính thuế. Nói chung, trị giá hải quan của tất cả hàng hoá xuất khẩu sang Mỹ là trị giá giao dịch của những hàng hoá đó. Nếu không thể sử dụng trị giá giao dịch, thì các cơ sở tính toán khác có thể được xem xét sử dụng. Các cơ sở phụ để tính trị giá sắp xếp theo thứ tự ưu tiên sử dụng gồm: Giá trị giao dịch (Transaction value) Giá của hàng hoá giống hệt nhau (Identical merchandise), Giá của hàng hoá tương tự (Similar merchandise) Giá trị khấu trừ (Deductive value) Giá trị tính toán cơ bản (Computed value) a). Giá trị giao dịch Giá trị giao dịch của hàng hoá là giá trị thực tế thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng hoá khi hàng hoá được bán để xuất khẩu vào Mỹ, cộng với các khoản sau nếu các khoản này không có trong giá bán: Chí phí đóng gói (bao gồm container, bao bì và chi phí lao động đóng gói) do người mua chịu. Tiền hoa hồng bán hàng do người mua chịu: Hoa hồng bán hàng do người mua chịu sẽ là một phần của giá trị giao dịch nhưng hoa hồng mua hàng thì lại không đựơc tính vào giá này. Hoa hồng bán hàng là hoa hồng trả cho đại lý của người bán, những người đại diện cho người sản xuất hoặc đại diện cho người bán. Giá trị của các khoản trợ giúp của người mua cho người bán: Người nhập khẩu thường cung cấp một số hình thức trợ giúp cho người sản xuất nước ngoài rồi sau đó mua hàng của họ. Nếu sự trợ giúp này dẫn đến sự giảm giá bán hàng hoá hay sử dụng các hàng hoá của người sản xuất trên nước Mỹ thì phần giá trị trợ giúp sẽ được tính vào giá trị giao dịch. Sự trợ giúp này thường bao gồm: nguyên vật liệu thô và các máy móc sử dụng để sản xuất hàng hoá xuất khẩu; khuôn rập hay khuôn đúc; mẫu mã, đồ án do những công ty nước ngoài hay những người không sống trên nước Mỹ thực hiện. Chi phí trả cho nhãn hiệu hay bản quyền mà người mua phải chịu như là một điều kiện khi mua hàng hoá: Người nhập khẩu thường phải trả các khoản phí cho việc sử dụng bản quyền, nhãn hiệu hay mẫu mã của hàng hoá trên nước Mỹ. Nếu việc trả các khoản phí này là điều kiện cho việc nhập khẩu hàng hoá vào Mỹ thì chúng sẽ được tính vào giá trị giao dịch. Giá trị giao dịch sẽ không bao gồm chi phí vận tải, bảo hiểm, phí môi giới hải quan, chi phí vận chuyển nội địa sau khi nhập khẩu, các dịch vụ liên quan đến phát sinh trong việc gửi hàng từ nước xuất khẩu đến địa điểm nhập khẩu ở Mỹ, chi phí lắp ráp, chi phí bảo quản hàng hoá, thuế hải quan và các thuế Liên bang khác kể cả bất kỳ khoản thuế tiêu thụ đặc biệt nào mà người bán ở Mỹ phải có nghĩa vụ thanh toán. Chi phí vận chuyển ở nước xuất khẩu cũng sẽ không tính vào giá trị giao dịch nếu chúng được ghi một cách riêng biệt và rõ ràng trong hoá đơn thương mại. Nếu người bán cung cấp tài chính cho hàng hoá xuất khẩu vào Mỹ thì khoản lợi tức trong thanh toán cũng sẽ không tính vào giá trị giao dịch nếu khoản lợi tức được ghi trên giấy với tỷ lệ lãi suất không bất thường. Tuy nhiên Hải quan Mỹ sẽ không sử dụng phương pháp này để tính giá trị hải quan nếu gặp các hạn chế sau trong tính toán: Những hạn chế đối với quyền định đoạt hay sử dụng hàng hoá của người mua. Những điều kiện để tính toán giá trị giao dịch không thể xác định. Tiền hàng phát sinh sau đó do bán lại, tiêu thụ, hoặc sử dụng hàng hoá, phải trả cho người bán, không thể được sử dụng để điều chỉnh lại trị giá giao dịch một cách hợp lý. b). Giá trị hàng hoá giống hệt và giá trị hàng hoá tương tự Nếu hàng hóa nhập khẩu không xác định được giá trị giao dịch, Phòng Hải quan sẽ xác định theo giá trị giao dịch của hàng hóa giống hệt. Nếu giá trị giao dịch của hàng hóa giống hệt không xác định được thì giá trị giao dịch của hàng hóa tương tự sẽ được sử dụng. Giá trị hàng hóa giống hệt hay tương tự đem so sánh phải là giá bán cùng thời điểm trên thị trường và ở cùng một cấp lưu thông và cùng một khối lượng. Nếu có nhiều giá trị giao dịch của những hàng hóa giống hệt hay tương tự thì giá trị thấp nhất sẽ được sử dụng để xác định trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu đó. Thuật ngữ “hàng hóa giống hệt” có nghĩa hàng hóa đó: Giống ở mọi khía cạnh so với hàng hóa nhập khẩu đang được xác định giá trị. Được sản xuất ở cùng một quốc gia với hàng hóa nhập khẩu đang được xác định giá trị. Được sản xuất bởi cùng một nhà sản xuất với hàng hóa nhập khẩu. Thuật ngữ “hàng hóa tương tự” có nghĩa hàng hóa đó: Được sản xuất ở cùng một quốc gia và cùng một người sản xuất như hàng hóa nhập khẩu. Giống về đặc điểm và linh kiện cấu tạo so với hàng hóa nhập khẩu. Có thể thay thế nhau trong buôn bán với hàng hóa nhập khẩu. Tuy nhiên, trong hai điều kiện trên thì điều kiện cùng nhà sản xuất có thể không bắt buộc tuyệt đối. c. Giá trị khấu trừ Nếu giá trị giao dịch của hàng hoá nhập khẩu, hàng hoá giống nhau, hàng hoá tương tự không thể xác định được, thì Phòng Hải quan sẽ sử dụng giá trị khấu trừ cho hàng hoá đang được định giá nếu người nhập khẩu không có ý định sử dụng giá trị khấu trừ từ trước. Giá trị khấu trừ là giá bán lại của hàng hóa nhập khẩu đó trên thị trường Mỹ sau khi cộng trừ một số hạng mục nhất định. Để tính giá trị khấu trừ, thuật ngữ “hàng hóa liên quan” được sử dụng. Hàng hóa liên quan nghĩa là hàng hóa giống hệt hay tương tự đang được định giá. Thông thường, giá trị khấu trừ được tính toán bắt đầu từ một giá đơn vị sau đó được tính toán bằng việc cộng thêm hoặc trừ vào giá này để ra giá trị khấu trừ. Giá đơn vị: Có 3 loại giá đơn vị được sử dụng để tính giá trị khấu trừ. Tùy thuộc vào thời gian và điều kiện hàng hóa liên quan được bán ở Mỹ mà loại giá đơn vị nào được sử dụng. Nếu hàng hóa liên quan được bán với điều kiện như khi nhập khẩu và cùng thời điểm với hàng hóa cần tính giá trị hải quan thì giá đơn vị là giá mà hàng hóa liên quan được bán với khối lượng lớn nhất. Nếu hàng hóa liên quan được bán với điều kiện như khi nhập khẩu nhưng không cùng thời điểm với hàng hóa cần tính giá trị hải quan thì giá đơn vị là giá hàng hóa liên quan được bán với khối lượng lớn nhất sau ngày hàng hóa cần tính giá trị hải quan được nhập vào Mỹ nhưng không quá 90 ngày sau ngày nhập khẩu. Nếu hàng hóa liên quan không được bán với điều kiện như khi nhập khẩu và được bán sau 90 ngày tính từ ngày hàng hóa cần tính giá trị hải quan được nhập thì giá đơn vị là giá mà tổng số lượng lớn nhất đang được định giá, sau khi được chế biến thêm ở Mỹ, được bán trong vòng 180 ngày sau ngày nhập khẩu. d. Giá trị tính toán cơ bản Nếu không thể sử dụng bất kỳ phương pháp định giá nào đã trình bày ở trên làm cơ sở xác định giá trị hải quan của hàng hoá, thì giá trị tính toán cơ bản được sử dụng. Giá trị này được tính bằng cách cộng giá nguyên vật liệu thô, chi phí chế biến hay sản xuất, gia công khác trong quá trình sản xuất hàng nhập khẩu, chi phí lao động, lợi nhuận và chi phí chung, chi phí đóng gói bao bì. Nếu cả 5 phương pháp trên đều không thể áp dụng, thì Hải quan Mỹ phải chọn 1 trong 5 cách trên và tiến hành một số điều chỉnh thích hợp nếu cần thiết, ví dụ họ dùng phương pháp giá trị hàng hóa giống hệt, nhưng hàng hóa giống hệt này không phải được sản xuất ở cùng nước với hàng hóa cần tính giá trị hải quan mà được sản xuất ở nước khác hoặc Hải quan sẽ gia hạn thời hạn 90 ngày kể từ ngày hàng hóa cần tính giá trị hải quan nhập vào Mỹ. 2.2.3. Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (Generalised System of Preferences) a). Lịch sử ra đời chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) Theo nguyên tắc đãi ngộ Tối huệ quốc không phân biệt đối xử, bất kỳ nước nào là thành viên của GATT đều được hưởng mức thuế thấp nhất. Trong những qui định của GATT có đưa ra những điều kiện như không mở rộng số nước được hưởng ưu đãi. v.v... Thế nhưng, từ sau năm 1950 dưới sức ép mạnh mẽ của một loạt các nước châu á và châu Phi mới giành được độc lập từ tay thực dân Anh, Pháp, v.v... thì cuối cùng GATT đã phải thay đổi. Trải qua những cuộc thảo luận, đàm phán ở GATT, OECD, tại hội nghị của Liên Hợp Quốc về thương mại và phát triển lần thứ 2 vào năm 1967 với chủ trương là sớm thực hiện ưu đãi chung thì đến năm 1970 đã đạt được sự nhất trí chung, tất cả 18 nước phát triển tuyên bố cho hưởng ưu đãi thực hiện Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập. b). Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập là một chương trình miễn thuế nhập khẩu cho những hàng hoá từ các nước hưởng lợi là các quốc gia độc lập hoặc các quốc gia và lãnh thổ phụ thuộc đang phát triển để khuyến khích tăng trưởng kinh tế ở những nước này. Chương trình này được Mỹ ban hành trong Luật Thương mại năm 1974 (Trade of Act 1974), có hiệu lực từ ngày 1/1/1976, và được gia hạn thêm trong từng kỳ. c). Điều kiện hưởng ưu đãi Để được hưởng GSP của Mỹ phải đảm bảo hai điều kiện là điều kiện về quốc gia được hưởng và điều kiện về hàng hoá được hưởng. Thứ nhất, quốc gia được hưởng GSP thường là nước đang phát triển, có mức thu nhập bình quân trên đầu người thấp hơn 8.500 USD. Lý do là các nước này chưa đủ “khả năng cạnh tranh”. Tuy nhiên Mỹ sẽ từ chối áp dụng Chế độ ưu đãi phổ cập cho những nước sau: Là một quốc gia Cộng sản, trừ phi: các sản phẩm của quốc gia này được nhận đối xử Tối huệ quốc; quốc gia này là thành viên của WTO và IMF; và quốc gia này không bị kiểm soát bởi chủ nghĩa Cộng sản quốc tế. Là thành viên OPEC hoặc các tổ chức khác nắm giữ nguồn cung cấp các nguồn hàng hóa quan trọng và nâng giá lên một cách vô lý tạo nên sự suy sụp trầm trọng của kinh tế thế giới. áp dụng “các ưu đãi ngược” với các nước phát triển, có thể có tác động ngược lại đối với thương mại Mỹ. Đã quốc hữu hóa, sung công tài sản của Mỹ, kể cả bằng sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa hoặc bản quyền, trừ phi Tổng thống Mỹ quyết định và thông báo với Quốc hội là có sự đền bù nhanh chóng, đầy đủ và hữu hiệu; hoặc đang có các cuộc đàm phán về đền bù; hoặc việc tranh chấp về đền bù đang được phán xét. Không công nhận hoặc không thực thi các quyết định của trọng tài thương mại quốc tế có lợi cho các bên của Mỹ. Hỗ trợ và bao che cho các cá nhân hay nhóm người tham gia các hoạt động khủng bố quốc tế. Thứ hai, đối với hàng hoá thương mại yêu cầu nhập khẩu chính thức, cần làm thủ tục yêu cầu hưởng ưu đãi GSP. Hàng hoá sẽ được hưởng ưu đãi miễn thuế nếu đáp ứng các điều kiện sau: Hàng đó phải đi thẳng từ nước hưởng GSP vào lãnh thổ Hải quan của Mỹ (nghĩa là không bốc dỡ, thay đổi, chế biến ở dọc đường). Hàng đó phải được sản xuất (trồng trọt, đánh bắt, chế tạo) tại nước được hưởng GSP và giá trị nguyên liệu do nước đó làm ra, cộng chi phí trực tiếp để gia công, chế tạo thành phẩm tại nước được hưởng GSP không được thấp hơn 35% giá trị sản phẩm ấy khi vào lãnh thổ hải quan Mỹ. Hàng được sản xuất ở hai hoặc trên hai nước mà những nước ấy là thành viên của một liên minh thuế quan, khu mậu dịch tự do thì được coi như là được sản xuất tại một nước, trị giá nguyên liệu chi phí được gộp lại để xác định điều kiện 35% nguyên liệu trong nước đã hưởng GSP. Khi nguyên liệu nhập khẩu vào nước được hưởng GSP và được chế biến thành một loại sản phẩm hay nguyên liệu thì vẫn được tính là giá trị tăng trong nước để đưa vào sản phẩm khi xét điều kiện 35% nguyên liệu nguyên liệu trong nước bao hàm trong sản phẩm GSP. d). Những điều cần chú ý khi sử dụng GSP của Mỹ Thứ nhất, Mỹ quy định rằng một nước được hưởng GSP của Mỹ khi đã dần lớn mạnh lên đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế thì sẽ rút khỏi danh sách nước được hưởng GSP của Mỹ. Thứ hai, Mỹ dành quyền xem xét lại tư cách GSP: Luật Thương mại Mỹ có quyền hạn chế sự ưu đãi GSP vì “nhu cầu cạnh tranh”. Mỹ giải thích là khi một (hoặc những) sản phẩm của một nước đã đủ sức cạnh tranh rồi thì thôi không cần ưu đãi thuế quan nữa, cần dành ưu đãi cho những nhà sản xuất còn non kém trong cạnh tranh và để bảo hộ sản xuất trong nước. Nội dung chủ yếu của quy định này là khi Mỹ nhập khẩu một mặt hàng nào từ một nước hưởng GSP của Mỹ mà vượt mức trị giá quy định và mức điều chỉnh hàng năm được phép nhập, hoặc mặt hàng đó đã chiếm tới 50% toàn bộ giá trị mà Mỹ cho nhập khẩu trong năm đó thì Mỹ sẽ đình chỉ không cho nhập mặt hàng ấy của nước được hưởng ưu đãi GSP nữa. Việc có tiếp tục được hưởng GSP hay không sẽ do Mỹ xét lại vào năm sau. 2.2.4. Hoàn thuế nhập khẩu Hoàn thuế (drawback) là sự hoàn trả 99% trị giá thuế hải quan thông thường và thuế doanh thu trong nước. Hoàn thuế được công nhận lần đầu trong luật thuế của Mỹ năm 1789. Kể từ đó nó đã trở thành một phần không thể thiếu của pháp luật Mỹ mặc dù các điều kiện quy định trong đó đã dần bị thay đổi theo thời gian. Lý do áp dụng hoàn trả thuế là để khuyến khích hoạt động kinh doanh và sản xuất của Mỹ. Việc này cho phép các nhà sản xuất Mỹ cạnh tranh ở nước ngoài tránh được việc phải tính thêm thuế phải trả cho hàng nhập khẩu vào chi phí, và sau đó là vào giá bán. Có ba loại hoàn thuế là: Hoàn thuế sản xuất, hoàn thuế tái xuất và hoàn thuế đối với hàng hoá bị từ chối nhập khẩu. Hoàn thuế sản xuất (manufacturing drawback) là hoàn thuế đối với hàng hoá nhập khẩu được dùng để sản xuất ra hàng hoá xuất khẩu. Hàng hoá nhập khẩu phải được dùng để sản xuất và được xuất khẩu trong vòng 5 năm kể từ ngày nhập khẩu. Việc hoàn thuế sẽ giúp những người sản xuất hàng hóa xuất khẩu của Mỹ mua được nguyên liệu rẻ từ nhà cung cấp nước ngoài, thậm chí cả những nước Mỹ không dành cho quy chế MFN, mà không phải trả thuế cao. Hoàn thuế tái xuất (non-used merchandise drawback) là hoàn thuế đối với hàng hoá nhập khẩu để tái xuất. Hàng hoá nhập khẩu muốn được hưởng hoàn thuế này thì phải được xuất khẩu trong vong 3 năm kể từ ngày nhập khẩu. Nhà nhập khẩu Mỹ không được làm “thay đổi căn bản” hàng nhập khẩu. Tuy nhiên, nhà nhập khẩu vẫn có thể đóng gói, làm sạch hay kiểm tra lại chất lượng của hàng hóa. Hoàn thuế đối với hàng hoá bị từ chối (rejected merchandise drawback) là hoàn thuế đối với hàng nhập khẩu nhưng sau đó lại được xuất khẩu vì hàng hoá đó không phù hợp với mẫu thử hay quy định về quy cách phẩm chất hay hàng hoá được chuyển tới mà không có sự đồng ý của người nhập khẩu. Muốn được hoàn thuế, hàng hoá đó phải được chuyển đến Hải quan trong vòng 3 tháng kể từ ngày nhập khẩu. 2.2.5. Thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ giá Để chống lại sự cạnh tranh không bình đẳng của các doanh nghiệp nước ngoài đối với doanh nghiệp trong nước trên thị trường nước mình, Mỹ đã ban hành 2 đạo luật: Luật thuế chống bán phá giá (ADs) và Luật thuế chống trợ giá (CVDs). Nếu hàng hoá nước ngoài xuất sang thị trường Mỹ bị phát hiện là bán phá giá hoặc trợ giá thì hai đạo luật trên sẽ được áp dụng để loại trừ sự cạnh tranh không bình đẳng này. a). Khái quát về hai loại thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ giá Thuế chống phá giá (Anti-dumping Duties-ADs) được áp dụng với những loại hàng hoá nhập khẩu được bán cho người mua trên lãnh thổ Mỹ với giá thấp hơn giá thị trường bằng cách đánh thuế nhập khẩu vào hàng hoá được xác định bị bán phá giá hoặc sẽ bị bán phá giá trên thị trường Mỹ với mức giá thấp hơn mức giá thực của hàng hoá đó. Giá thị trường của hàng hoá là giá mà hàng hoá đó thường được bán trên thị trường ở nước người sản xuất. Luật chống phá giá của Mỹ quy định rằng nếu Cơ quan Đại diện thương mại Mỹ (USTR) điều tra thấy luật pháp, chính sách, thực tiễn nước sở tại có những quy định khước từ hoặc không tuân thủ quyền lợi của Mỹ, được quy định trong Hiệp định thương mại, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của nước ngoài thì USTR sẽ tiến hành các thủ tục theo luật định. USTR được Tổng thống cho phép (thay mặt Tổng thống) có thẩm quyền: + Đình hoãn, từ chối, ngăn cản việc trao cho nước kia các quyền lợi quy định trong Hiệp định; + Đánh thuế và áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu không phụ thuộc vào bất cứ luật nào, áp phí và hạn chế lên dịch vụ của nước đó trong khoảng thời gian mà cơ quan này cho là thích hợp; + Đình hoãn, từ chối các quyền lợi hoặc hạn chế các ưu đãi đặc biệt theo các Hiệp định tự do thương mại; + Đi tới thoả thuận bắt buộc với nước đối tác loại bỏ luật, chính sách hoặ._.c thực tiễn không phù hợp hoặc trao cho Mỹ các lợi ích phù hợp tương đương. Thuế chống trợ giá (Counter-Vailing Duties-CVDs): Luật thuế chống trợ giá định một khoản bồi thường dưới dạng thuế nhập khẩu để bù vào phần trợ giá của sản phẩm nước ngoài, mà việc bán sản phẩm đó ở Mỹ gây thiệt hại các nhà sản xuất những mặt hàng giống và tương tự ở Mỹ. Trong mọi trường hợp, phần trợ giá phải bù lại có thể do chính phủ nước ngoài trực tiếp trả. Luật này cũng áp dụng đối với loại trợ giá gián tiếp bị phát hiện sau khi kiểm tra theo luật thuế trợ giá. Bộ thương mại, Uỷ ban Thương mại quốc tế (ITC), và Tổng cục hải quan Mỹ cùng có trách nhiệm trong việc thi hành luật chống bán phá giá và luật chống trợ giá. Bộ Thương mại chịu trách nhiệm quản lý chung về luật AD và CVD và điều tra về việc phá giá hoặc trợ cấp của nước ngoài đối với hàng hoá nhập khẩu. ITC thì xác định liệu sự việc đã, hoặc có thể ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất trong nước hay chưa, hoặc liệu một ngành sản xuất trong nước có bị ảnh hưởng ngay từ khi mới phát triển do việc bán phá giá hoặc việc trợ cấp xuất khẩu hay không. Tổng cục hải quan áp dụng AD và CVD khi những mức thuế này được ban hành. b). Quy trình áp dụng hai loại thuế trên Tiến hành điều tra: Việc điều tra thường được bắt đầu khi các nhà sản xuất trong nước hay các bên có liên quan như Liên đoàn lao động hay Hiệp hội công nghiệp có khiếu nại. Các bên khiếu nại phải nhanh chóng nộp đơn khiếu nại đồng thời cho Bộ thương mại và Uỷ ban thương mại quốc tế (ITC). Sau 45 ngày kể từ ngày nộp đơn hay kể từ khi Bộ thương mại bắt đầu tiến hành điều tra độc lập, ITC phải đánh giá sơ bộ những thiệt hại hoặc các đe dọa gây thiệt hại đối với các ngành công nghiệp Mỹ. Nếu đánh giá của ITC là không có vi phạm thì điều tra sẽ kết thúc. Nếu ITC xác định là có vi phạm thì Bộ thương mại sẽ đánh giá sơ bộ xem có một cơ sở hợp lý nào để tin rằng có sự trợ giá hay có sự bán phá giá nào không. Nếu Bộ thương mại xác định là có cơ sở hợp lý thì trong trường hợp luật thuế trợ giá, họ sẽ xác định mức trợ giá của từng hãng hoặc từng nước bị điều tra. Việc xác định này phải được hoàn thành trong vòng 65 ngày sau ngày bắt đầu điều tra, thời hạn này có thể kéo dài đến 130 ngày. Trong trường hợp luật thuế chống phá giá thì sau khi đánh giá sơ bộ, Bộ thương mại sẽ tính toán mức phá giá bình quân, là mức chênh lệch giữa giá trị thực tế của hàng hóa so với giá xuất khẩu vào Mỹ. Đánh giá sơ bộ phải hoàn thành trong vòng 140 ngày sau ngày bắt đầu điều tra, và có thể kéo dài lên đến 190 ngày. Trên cơ sở các đánh giá sơ bộ, Bộ thương mại sẽ chỉ thị trực tiếp cho Cục hải quan thực hiện: Định giá các khoản đặt cọc hay phiếu nợ áp đặt đối với hàng xuất khẩu để thực hiện các nghĩa vụ của hai loại thuế ADs và CVDs. Đình chỉ việc thanh lý các tài khoản cho đến khi Bộ thương mại đã xác định việc bán phá giá hay trợ giá có xảy ra hay không và đã tính toán được số dư thuế chống bán phá giá hay thuế chống bán trợ giá một cách chính xác. Trong hai trường hợp nêu trên, sau khi những đánh giá sơ bộ hoàn thành, người nhập khẩu hàng hóa đó phải nộp bảo lãnh hoặc đặt cọc bằng tiền mặt tương đương với mức trợ giá thuần dự tính hoặc mức phá giá cho cơ quan hải quan Mỹ. Tuy nhiên, nếu đánh giá sơ bộ của Bộ thương mại là không có, thì không phải nộp tiền đặt cọc, nhưng cuộc điều tra của Uỷ ban thương mại quốc tế vẫn tiếp tục cho đến bước đánh giá cuối cùng. Trong vòng 75 ngày sau đánh giá sơ bộ, trong điều kiện bình thường, Bộ Thương mại sẽ đưa ra đánh giá cuối cùng đối với cả hai luật thuế bù trừ và chống phá giá, thời hạn này có thể kéo dài đến 135 ngày. Nếu đánh giá cuối cùng của Bộ Thương mại xác định không có vi phạm, quá trình điều tra sẽ kết thúc và tiền nộp bảo lãnh và tiền đặt cọc sẽ được hoàn trả. Nếu đánh giá cuối cùng của Bộ thương mại là có vi phạm thì Uỷ ban thương mại quốc tế sẽ phải xác định những thiệt hại cuối cùng. Đánh giá cuối cùng của Uỷ ban thương mại quốc tế phải được thực hiện trong vòng 120 ngày sau khi Bộ thương mại đưa ra đánh giá sơ bộ hoặc sau 45 ngày khi Bộ thương mại thông báo là có vi phạm. Kết thúc điều tra: Nếu đánh giá cuối cùng của ITC khẳng định có vi phạm, thì Cục hải quan sẽ thu thuế trên số tiền đặt cọc trong vòng 7 ngày sau khi có xác nhận của ITC. Mức thuế cuối cùng phải nộp cho hàng hóa nhập khẩu có thể cao hơn nhiều so với mức đặt cọc. Theo yêu cầu của những bên có liên quan, Bộ thương mại phải kiểm tra lại, thường là 12 tháng một lần mức trợ giá hoặc mức phá giá đối với hàng hóa bị yêu cầu phải nộp thuế bù trừ và chống phá giá chưa giải quyết xong. Nếu không đồng ý với đánh giá cuối cùng của Bộ thương mại và Uỷ ban thương mại quốc tế về các quyết định liên quan tới thuế chống phá giá hoặc thuế trợ giá thì các bên liên quan có thể nộp đơn yêu cầu xử lại lên Toà án thương mại quốc tế của Mỹ tại New York. 2.3. Hàng rào phi thuế quan của Mỹ 2.3.1. Hạn ngạch nhập khẩu Hạn ngạch nhập khẩu là việc quản lý số lượng hàng hoá nhập khẩu trong một thời hạn nhất định. Hạn ngạch được quy định bằng luật, hướng dẫn và các tuyên bố theo tinh thần nội dung của một số luật cụ thể về vấn đề này. Đa phần hạn ngạch nhập khẩu do Tổng cục Hải quan Mỹ quản lý. Hạn ngạch nhập khẩu của Mỹ có thể chia thành 2 loại như sau: Hạn ngạch thuế quan (Tariff-rate quota): quy định số lượng hàng được nhập vào với mức thuế thấp trong một thời gian nhất định. Không có giới hạn về lượng sản phẩm có thể được đưa vào trong thời gian ghi trên hạn ngạch, nhưng số lượng nhiều hơn mức hạn ngạch cho thời gian đó không bị từ chối nhập khẩu mà sẽ bị đánh thuế nhập khẩu cao hơn. Hạn ngạch tuyệt đối (Absolute quota): là hạn ngạch về số lượng cho một chủng loại hàng hoá nào đó được nhập khẩu vào Mỹ trong một thời gian nhất định, nếu vượt quá hạn ngạch cho phép sẽ không được nhập vào Mỹ trong thời của hạn ngạch. Hàng nhập khẩu quá số lượng theo hạn ngạch có thể được tái xuất hoặc hoặc lưu kho cho tới thời hạn áp dụng hạn ngạch tiếp theo. a). Hạn ngạch đối với hàng dệt may Mỹ duy trì một hệ thống hạn ngạch rất phức tạp đối với hàng dệt may dưới 3 loại: hạn ngạch đạt được trên cơ sở hiệp định hàng dệt may trong khuôn khổ WTO; hạn ngạch đạt được trên cơ sở hiệp định song phương và hạn ngạch do Mỹ áp đặt với các nước còn lại. Hầu hết các hạn ngạch đối với hàng dệt may vào Mỹ là trên cơ sở Hiệp định hàng dệt may trong khuôn khổ WTO. Hiệp định này có hiệu lực từ tháng 1/1994 và cho phép các nước thành viên ký kết GATT đàm phán Hiệp định song phương nhằm thiết lập các hạn chế về số lượng đối với hàng dệt may. Cũng theo Hiệp định này, các hạn ngạch và hạn chế đối với thương mại hàng dệt may được dỡ bỏ dần sau 3 giai đoạn và hết hạn vào ngày 1/1/2005. Việc đàm phán các Hiệp định song phương giữa Mỹ và các nước được căn cứ vào các quy định của Hiệp định đa sợi trong khuôn khổ của GATT. Theo quy định cụ thể của Mỹ thì Hiệp định có hiệu lực từ 3 - 6 năm, gồm các điều khoản cơ bản sau: Hạn ngạch được xuất sang Mỹ: quy định theo chủng loại, khối lượng tính theo mét vuông hoặc tương đương Hạn ngạch chia ra thành các loại: loại hạn ngạch tổng hợp, loại hạn ngạch cụ thể, loại hạn ngạch điều chỉnh linh hoạt. Với từng điều kiện cụ thể, Hiệp định cho phép chuyển hạn ngạch sang năm sau hoặc sử dụng trước hạn ngạch của năm sau (cùng chủng loại), hoặc chuyển hạn ngạch từ loại sản phẩm này sang loại sản phẩm khác (trong cùng một năm) trong mức hạn ngạch cho phép. Hiệp định này quy định cơ chế tham khảo ý kiến giữa Mỹ và nước ký kết. Nếu nước ký kết không tuân thủ, Mỹ giành quyền đơn phương cắt bỏ hạn ngạch, cấm nhập khẩu. b). Hạn ngạch đối với hàng nông sản Theo đạo luật “Điều chỉnh Nông nghiệp” 1993, Tổng thống được phép áp dụng phí và hạn ngạch với hàng nông sản nhập khẩu gây tổn hại tới chương trình nông sản trong nước của Bộ nông nghiệp. Tuy nhiên, mức phí không được quá 50% giá trị sản phẩm. Hạn ngạch cũng không được vượt quá 50% số lượng đã nhập khẩu trong giai đoạn bị ảnh hưởng. Hiện nay, Mỹ áp dụng cách khống chế này cho các mặt hàng như: Bông, sản phẩm sữa, lạc đường tinh chế, sản phẩm có đường. Phí hạn ngạch loại này được Mỹ công bố trong phần XXII của danh bạ thuế quan HTS. Phomat, sữa và các sản phẩm sữa: Phomat và các sản phẩm phomat phải tuân thủ các quy định của Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm và Bộ Nông nghiệp. Phần lớn việc nhập khẩu phomat phải có giấy phép nhập khẩu và xin hạn ngạch của Bộ Nông nghiệp, Cục nông sản nước ngoài. Nhâp khẩu thịt: Mỹ sẽ áp dụng hạn ngạch khống chế việc nhập khẩu thịt bò, cừu, bê, dê khi lượng nhập khẩu đã vượt quá lượng quy định cơ bản cho nhập khẩu hàng năm ở mức 10% hoặc trên 10%. Mức hạn ngạch nhập khẩu bao giờ cũng được quy định dưới mức 1,193 tỷ pounds mỗi năm. Hạn ngạch nhập khẩu đường: Đối với hạn ngạch nhập khẩu đường, hiện nay Mỹ thực hiện theo quy chế mới (1990), quy định một lượng nhất định cho phép nhập đường vào Mỹ chịu mức thuế thấp. Lượng hạn ngạch này xác định trên cơ sở mức sản xuất trong nước hiện tại và nhu cầu tiêu thụ trong nước. Số lượng đường nhập thuế thấp này được phân cho các nước bạn hàng tuỳ theo khối lượng truyền thống họ vẫn cung cấp cho Mỹ. Cấm nhập khẩu một số loại hàng nông sản: Mỹ quy định cấm nhập khẩu một số hàng nông sản nếu như các mặt hàng nông sản này không đáp ứng được yêu cầu về cấp loại kích cỡ, chất lượng và độ già hay các loại sản phẩm như cà chua, nho khô, hạt tiêu còn xanh, cam, quả đào tiên, v.v... 2.3.2. Hạn chế nhập khẩu vì an ninh quốc gia và cán cân thanh toán quốc gia Hạn chế nhập khẩu vì lý do an ninh quốc gia: Điều 232 của Luật Mở rộng thương mại Mỹ 1962 cho phép Tổng thống Mỹ áp dụng những hạn chế đối với hàng nhập khẩu nếu xét thấy có nguy cơ phương hại đến an ninh quốc gia. Việc hạn chế này sẽ được thực hiện bằng cách áp dụng hạn ngạch và phí nhập khẩu. Tổng thống có thể hạn chế nhập khẩu các mặt hàng dầu lửa và định hạn ngạch từ dầu lửa. Khi nhận được đơn kiến nghị của các ngành có liên quan rằng việc nhập khẩu một mặt hàng nào đó về số lượng, chủng loại, ... gây phương hại đến an ninh quốc gia, Bộ trưởng Bộ thương mại sẽ cho điều tra, có tham khảo ý kiến của Bộ trưởng Bộ quốc phòng. Trong vòng 270 ngày, Bộ trưởng Bộ thương mại có tờ trình báo cáo và kiến nghị giải pháp với Tổng thống. Sau đó 90 ngày, Tổng thống cho ý kiến quyết định và 15 ngày tiếp theo sẽ công bố áp dụng biện pháp khống chế cụ thể. Hạn chế nhập khẩu vì lý do cán cân thanh toán: Điều 122 của Luật Mở rộng thương mại Mỹ 1962 cho phép Tổng thống Mỹ áp đặt những hạn chế đối với hàng nhập khẩu để đối phó với sức ép cán cân thanh toán. Tổng thống có thể thắt chặt những hạn chế nhập khẩu thông qua hạn ngạch hoặc thuế phụ thu nhập khẩu 15% trên giá trị, hoặc kết hợp cả hai biện pháp trong khoảng thời gian tối đa là 150 ngày. 2.4. Các hàng rào tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ Để bảo vệ lơi ích kinh tế, sức khoẻ người tiêu dùng và bảo tồn động thực vật trong nước, Chính phủ và Hải quan Mỹ đưa ra những đạo luật quy định về vệ sinh dịch tễ, tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm hạn chế hoặc cấm một số loại hàng cụ thể. 2.4.1. Quy định về nguồn gốc xuất xứ Quy định về nguồn gốc xuất xứ thực chất là quy định về các tiêu chuẩn để xác định nguồn gốc xuất xứ của hàng hoá. Quy định về nguồn gốc xuất xứ của hàng hoá nhằm mục tiêu, trước hết cho phép người mua cuối cùng ở Mỹ biết được nước sản xuất hàng hoá, từ đó quyết định mua hàng hoá nào. Để đảm bảo tính đồng bộ và thuận lợi cho ngưòi tiêu dùng Mỹ, Luật Hải quan Mỹ quy định mọi hàng hoá nhập khẩu vào Mỹ phải ghi xuất xứ bằng tiếng Anh. Ngoài ra việc quy định về nguồn gốc xuất xứ của hàng hoá bị quản lý bằng hạn ngạch theo quy định hay theo thoả thuận song phương hoặc đa phương của Mỹ. Hàng hoá muốn được hưởng chế độ đãi ngộ nào thì phải được sản xuất tại nước được hưởng chế độ đãi ngộ đó của Mỹ. 2.4.2. Quy định về ký mã hiệu Luật Hải quan Mỹ quy định mỗi mặt hàng do nước ngoài sản xuất phải được ghi ký mã hiệu ở những vị trí dễ thấy, rõ ràng, khó tẩy xoá và thường xuyên theo nội dung của hàng hoá cho phép, cùng với tên tiếng Anh của nước xuất xứ, để cho người mua cuối cùng ở Mỹ biết tên của nước xuất xứ, nơi hàng hoá được sản xuất hoặc chế tạo, đồng thời tạo thuận lợi cho việc kiểm tra hàng hoá khi làm thủ tục hải quan. Các hàng hóa khác được miễn không phải ghi ký mã hiệu trong trường hợp cụ thể là ngoại lệ đối với quy định này. Nếu hàng hoá hay container không được đánh ký mã hiệu chính xác thì Hải quan sẽ đánh thuế ký mã hiệu tương đương 10% giá trị hải quan của hàng hoá trừ khi hàng hoá đó được tái xuất, bị phá huỷ hay được đánh ký mã hiệu lại cho chính xác dưới sự giám sát của Hải quan. Thông thường trên các thùng hàng xuất khẩu, các nhà xuất khẩu cần phải ghi những ký mã hiệu sau: Tên người gửi hàng, nước xuất xứ, trọng lượng, số kiện hàng và kích cỡ của thùng đựng, cảng nhập hàng, nhãn hiệu đối với vật liệu nguy hiểm và các dấu hiệu bốc dỡ. Trong đó tên nước xuất xứ là quan trọng nhất khi nhập hàng vào Mỹ. Các cấp loại hàng sau đây được miễn ghi ký mã hiệu cho biết xuất xứ: Hàng hoá không thể ghi kỹ mã hiệu được. Hàng hoá không thể ghi kỹ mã hiệu trước khi gửi sang Mỹ vì sẽ gây hư hại. Hàng hoá không thể ghi kỹ mã hiệu trước khi gửi sang Mỹ, trừ khi chịu mất chi phí do việc cấm nhập hàng đó vì lý do kinh tế. Hàng hoá mà ký mã hiệu bao bì đã cho biết đầy đủ xuất xứ hàng hoá. Các chất liệu thô. Sản phẩm thuỷ sản của Mỹ, được miễn thuế. Sản phẩm có nguồn gốc từ Mỹ Sản phẩm từ hàng xuất khẩu của Mỹ và được gửi lại Mỹ. Hàng hoá có trị giá không quá 5 USD, nhập không cần làm thủ tục. 2.4.3. Quy định về nhãn mác thương mại a). Mác, mã phải ghi rõ nước xuất xứ: Luật pháp Mỹ quy định mọi hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ ngoại quốc phải ghi rõ ràng, không tẩy xoá ở chỗ dễ nhìn thâý trên bao bì nhập khẩu, tên người mua cuối cùng ở Mỹ, tên bằng tiếng Anh nước xuất xứ hàng hoá đó. b). Ngoại lệ: Trong một số trường hợp như sau, Mỹ không bắt buộc phải tuân thủ qui định trên: Hàng hoá không có nghi vấn xuất xứ hoặc xuất xứ quá rõ ràng. Hàng mà người nhập khẩu chế biến, thay đổi rồi xuất đi ngay và người mua cuối cùng của sản phẩm ấy không phải là người mua cuối cùng của số hàng nhập ban đầu. Sản phẩm nghề cá của Mỹ, sản phẩm thuộc quyền sở hữu của Mỹ, sản phẩm chuyển tải, xuất ngay từ Mỹ. Sản phẩm được miễn thuế trị giá 1USD hoặc thấp hơn hoặc thực sự là quà biếu trị giá dưới 10 USD hoặc sản phẩm sản xuất được trên 20 năm rồi mới xuất khẩu. c). Một số trường hợp đặc biệt: Không có ngoại lệ về ghi mác, mã đối với hàng đường ống, phụ kiện đường ống, xylanh khí nén, gioăng, khung phụ tùng của chúng kèm theo. Đồ chứa bao bì mặt hàng nấm phải ghi rõ bằng tiếng Anh nơi trồng nấm. Với hàng trang sức, hàng nghệ thuật theo kiểu của Mỹ phải ghi rõ nước xuất xứ. d). Phạt vi phạm: Hàng nhập vào Mỹ không tuân thủ các qui định trên sẽ bị phạt theo mức % của giá trị lô hàng. Hàng nhập không đáp ứng đúng yêu cầu về ghi mác, mã sẽ bị giữ lại ở khu vực hải quan Mỹ cho tới khi người nhập khẩu thu xếp cho tái xuất trở lại, phá huỷ hoặc khi hàng được xem là bỏ để Chính phủ định đoạt toàn bộ hoặc từng phần. Phần 304(h) Luật thuế của Mỹ qui định ai cố tình vi phạm, cố tình che dấu sẽ bị phạt tiền 5.000 USD hoặc bỏ tù dưới 1 năm. Trường hợp có sự phối hợp với nước ngoài để thay đổi tẩy xoá mác, mã về xuất xứ hàng hoá thì bị phạt 100.000 USD với lần đầu và các lần vi phạm sau đó là 250.000 USD. 2.4.4. Quy định về quyền sở hữu trí tuệ Điều 373 Luật thương mại Mỹ quy định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chủ yếu được sử dụng để ngăn chặn việc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của hàng hoá nhập khẩu. Điều luật này xác định những hình thức xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bất hợp pháp như bằng sáng chế, thương hiệu đã đăng ký, bản quyền, nguyên tắc hoạt động của sản phẩm vi mạch bán dẫn. Ngoài ra điều này còn cấm các hình thức cạnh tranh không lành mạnh và gian lận trong nhập khẩu và bán sản phẩm ở Mỹ gây thiệt hại nghiêm trọng ngành công nghiệp trong nước. Bằng sáng chế: Bằng sáng chế được bảo hộ trong vòng 17 năm, ngăn chặn bất cứ ai làm, sử dụng hoặc bán các sáng chế hoặc quy trình đã được cấp bằng. Toà án Mỹ cùng với những quy định pháp luật nghiêm ngặt, thường đưa ra các mức phạt bồi thường rất nặng nề cho việc vi phạm bằng sáng chế này, đặc biệt là đối các vụ nhập khẩu có vi phạm. Nhãn hiệu: Hàng hoá mang nhãn hiệu giả hoặc sao chép, bắt chước một nhãn hiệu đã đăng ký bản quyền của một công ty Mỹ hoặc nước ngoài, sẽ bị cấm nhập khẩu vào Mỹ, một bản sao đăng ký ở Mỹ sẽ phải nộp cho Uỷ ban Hải quan và được lưu giữ theo quy định. Việc nhập khẩu hàng hoá có nhãn hiệu thương mại có nguồn gốc thuộc sở hữu của công dân hay thuộc một công ty Mỹ sẽ được coi là trái phép nếu không được phép của chủ sở hữu của nhãn hiệu đó, hoặc không phải công ty chính hay chi nhánh của công ty đó, hoặc có chung quyền sở hữu nhãn hiệu đó, tuy nhiên nhãn hiệu này phải đăng ký với Hải quan. Bản quyền: Điều 602 (a) Luật bản quyền sửa đổi 1976 (Copy right Revision Act 1976) quy định: việc nhập khẩu vào Mỹ các văn bản sao chép từ nước ngoài mà không được phép của người có bản quyền là vi phạm Luật bản quyền và sẽ bị giữ và tịch thu, các bản sao sẽ bị huỷ. Tuy nhiên các mặt hàng này có thể bị trả lại nước xuất khẩu nếu chứng minh hợp lý cho cơ quan Hải quan là hàng không cố tình vi phạm. II. Chính sách nhập khẩu của Mỹ đối với Việt Nam 1. Nhập khẩu của Mỹ từ Việt Nam trong thời kỳ cấm vận Từ tháng 5/1964, Mỹ áp dụng “Đạo luật buôn bán với kẻ thù” thực thi cấm vận chống chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ở miền Bắc. Trong giai đoạn này Mỹ chỉ đặt quan hệ thương mại với chính quyền Sài gòn cũ, tuy nhiên, kim ngạch buôn bán cũng không lớn, chủ yếu là hàng viện trợ của Mỹ phục vụ chiến tranh ở Việt Nam và xuất khẩu của chính quyền Sài Gòn chủ yếu là cao su, gỗ, hải sản... nhưng với khối lượng không lớn. Từ tháng 5/1975 sau khi Việt Nam thống nhất đất nước, Mỹ mở rộng cấm vận với toàn bộ lãnh thổ Việt Nam trong tất cả các lĩnh vực thương mại, tài chính, tín dụng ngân hàng... Đồng thời Mỹ khống chế các nước đồng minh và các tổ chức quốc tế do Mỹ thao túng trong mối quan hệ kinh tế thương mại với Việt Nam. Ngược lại, Việt Nam đề ra chính sách “tiếp tục kề vai sát cánh cùng với các nước XHCN anh em và tất cả các dân tộc trên thế giới đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân chủ và CNXH, chống chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ”. Do đó, có thể nói quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và Mỹ giai đoạn từ sau 1975 đến cuối thập kỷ 80 là không có gì. Kể cả từ sau Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 6 (12/1986), Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới. Mặc dù tại Đại hội Đảng VI, Việt Nam đã có sự thay đổi lớn trong chính sách đối ngoại với Mỹ khi đề ra chính sách “tiếp tục bàn bạc với Mỹ giải quyết các vấn đề nhân đạo do chiến tranh để lại và sẵn sàng cải thiên quan hệ với Mỹ vì lợi ích hòa bình ổn định ở Đông Nam á”, nhưng quan hệ Việt Nam-Mỹ vẫn chưa có nhiều thay đổi lớn. Như vậy chính sách xuất nhập khẩu thời kỳ này Mỹ áp dụng đối với Việt Nam là cấm xuất khẩu hàng hoá sang Việt Nam và cấm nhập khẩu hàng hoá từ Việt Nam, điều đó có nghĩa là hai nước không có quan hệ buôn bán với nhau. Tuy nhiên theo số liệu thống kê của Việt Nam thì xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ thời kỳ 1986 – 1989 hầu như không có gì nhưng về nhập khẩu mặc dù bị cấm vận chặt chẽ song hàng nhập khẩu từ Mỹ giai đoạn này đạt giá trị gần 5 triệu USD. Quan hệ Việt – Mỹ bắt đầu có những thay đổi tích cực kể từ khi ngoại trưởng Mỹ James Baker tuyên bố Mỹ trực tiếp đối thoại với Việt Nam. Ngày 6/8/1990 đối thoại Việt-Mỹ vòng một giữa đại sứ Trịnh Xuân Lãng và phó trợ lý ngoại trưởng K.Quyn về quan hệ Việt-Mỹ. Tháng 3/1992 trợ lý ngoại trưởng Mỹ, R. Solomon thăm nước ta tiến hành cuộc đàm phán Việt-Mỹ cao nhất từ trước đến nay. Sau đó, Oa-sinh-tơn tuyên bố Mỹ sẽ viện trợ cho Việt Nam 3 triệu USD để đáp lại sự hợp tác ngày càng tăng của Việt Nam trong vấn đề POW/MIA. Đến tháng 4, Mỹ cho phép mở đường bưu chính viễn thông trực tiếp với nước ta, bãi bỏ các hạn chế đối với các tổ chức Phi chính phủ vào Việt Nam và cho phép xuất sang các sản phẩm đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con người. Ngày 14/12/1992, trước sức ép mạnh mẽ của giới kinh doanh và các công ty Mỹ, tổng thống G.Bush tuyên bố cho phép các công ty và giới kinh doanh được vào Việt Nam thăm dò, tìm hiểu khả năng làm ăn và mở văn phòng. Tuy nhiên, các hợp đồng chỉ được thực hiện sau khi bãi bỏ cấm vận. Đối với vấn đề MIA (vấn đề người Mỹ mất tích), một vấn đề thu hút quan tâm của nhiều người Mỹ, Việt Nam coi đây là vấn đề nhân đạo và luôn nỗ lực hợp tác giải quyết nhằm thúc đẩy quá trình bình thường hóa giữa hai nước. Ngày 2/7/1993, tổng thống B.Clintơn thông báo quyết định giải tỏa quan hệ Việt Nam-IMF và cử đoàn cấp cao sang Việt Nam. Đây là kết quả tất yếu trên cơ sở các tiến bộ đạt được trong việc giải quyết vấn đề POW/MIA và trước các sức ép của chính các đồng minh của Mỹ đòi xoá bỏ cấm vận với Việt Nam. Lúc này, nền kinh tế nước ta đã đạt được những tiến bộ to lớn, trở thành thị trường giầu tiềm năng vì vậy nhiều nước đã “vượt rào” quan hệ với nước ta. Trong chuyến thăm nước ta 2/1993, tổng thống pháp F. Mit-tơ-răng, công khai tuyên bố lệnh cấm vận của Mỹ không còn hợp thời, và đề ra sáng kiến “nhóm nước bạn bè của Việt Nam” giúp Việt Nam trả món nợ 140 triệu USD cho IMF. Bất chấp phản đối của Mỹ, trước hội nghị thường niên của IMF (7/1993), Pháp tuyên bố rằng các nước bạn bè Việt Nam sẽ hành động theo kế hoạch của mình giúp đỡ Việt Nam bất chấp sự phản đối của Mỹ. Ngày 3/2/1994, tổng thống B. Clintơn, tuyên bố bãi bỏ cấm vận đối với Việt Nam và đề nghị hai nước trao đổi cơ quan liên lạc. Đây là bước tiến quan trọng cho phép các công ty Mỹ có thể vào thị trường nước ta làm ăn và là bước tiến quan trọng cho việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước. Song song với việc cải thiện quan hệ chính trị giữa Việt Nam và Mỹ, hoạt động ngoại thương từ đầu thập kỷ 90 đã có được những bước đột phá ban đầu. Theo số lượng thống kê của Việt Nam, tổng kim nghạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ năm 1990 chỉ là 10.000 USD, năm 1991 xuống còn 9.000 USD, năm 1991 lên 110.000 USD, năm 1993 đạt 58.000 USD. Trong khi đó trong giai đoạn này hàng nhập khẩu từ Mỹ về Việt Nam đạt giá trị gần 7 triệu USD (1991-1993). Đây là những con số vô cùng nhỏ, kim ngạch xuất-nhập khẩu với Mỹ lúc này chỉ chiếm khoảng 0,14% tổng kim ngạch xuất-nhập khẩu của Việt Nam, chứ chưa nói đến việc so sánh với kim ngạch xuất-nhập khẩu khổng lồ của Mỹ. Nhưng nó cho thấy những bước tiến tích cực ban đầu trong quan hệ kinh tế hai nước, góp phần thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ. 2. Chính sách nhập khẩu của Mỹ đối với Việt Nam Với quyết định chính thức bãi bỏ lệnh cấm vận ngày 3/2/1994 của tổng thống Mỹ Bill Clinton theo đó cho phép các hoạt động giao dịch tài chính, thương mại và các giao dịch khác với Việt Nam và công dân Việt Nam. Cùng với việc bãi bỏ lệnh cấm vận, địa vị của Việt Nam theo các quy chế kiểm soát xuất khẩu của Mỹ cũng thay đổi. Trước đó, Việt Nam là một trong ba nước (Việt Nam, Cu ba, Bắc Triều Tiên) được Mỹ xếp vào nhóm Z tức là nhóm nước bị cấm vận buôn bán hoàn toàn. Kể từ ngày 3/2/1994, các quy chế xuất khẩu của Mỹ đã được sửa đổi để xếp Việt Nam vào nhóm nước Y là nhóm nước ít hạn chế thương mại hơn gồm có các nước thuộc khối Vacsava cũ, Anbani, Mông cổ, Lào, Campuchia. Bộ vận tải và Bộ thương mại Mỹ đã bãi bỏ lệnh cấm tầu và máy bay Mỹ vận chuyển hàng hóa sang Việt Nam, đồng thời cho phép tầu mang cờ Việt Nam vào cảng của Mỹ. Ngày 11/7/1995 đã đi vào lịch sử hai nước khi Tổng thống Mỹ B. Clintơn tuyên bố bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. ý nghĩa của việc bình thường hóa quan hệ đối với Việt Nam: Thứ nhất, giúp ta phá được thế bao vây cô lập mà Mỹ tiến hành đối với ta từ sau năm 1975, thực hiện thành công nhiệm vụ đại hội VII đề ra “thực hiện bình thường hóa quan hệ với Mỹ” và “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trên thế giới” Thứ hai, lần đầu tiên kể từ khi ta tuyên bố độc lập, nước ta có quan hệ với tất cả các nước lớn trên thế giới, tạo cho ta môi trường hòa bình, ổn định nhất từ trước tới nay để ta thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển đất nước. Thứ ba, bình thường hóa hoàn toàn quan hệ hai nước tạo môi trường thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập vào thị trường Mỹ. Về phía Mỹ, bình thường hóa quan hệ giúp Mỹ thực hiện được những mục tiêu của mình: Thứ nhất, Tổng thống Mỹ B. Clinton trong tuyên bố của mình nói “bằng việc giúp đưa Việt Nam hòa nhập vào cộng đồng các dân tộc, việc bình thường hóa còn phục vụ lợi ích của chúng ta cho việc phấn đấu một nước Việt Nam tự do và hòa bình ở Châu á”. Thứ hai, “một thế hệ trước đây đã có những đánh giá khác nhau về cuộc chiến tranh đã từng chia rẽ chúng ta…bước đi này sẽ giúp chúng ta tiến lên phía trước về một vấn đề chia rẽ người Mỹ với nhau quá lâu rồi”. Thứ ba, bình thường hóa quan hệ với Việt Nam sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nhân Mỹ thâm nhập và tìm kiếm cơ hội làm ăn ở Việt Nam. Cùng với việc bình thường hóa quan hệ đối ngoại, Việt Nam và Mỹ đã nỗ lực đàm phán và ký kết một hiệp định thương mại giữa hai nước. Tháng 4/1996, Mỹ trao cho Việt Nam bản: “Những yếu tố bình thường hóa quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam”. Ngược lại, tháng 7/1996, Việt Nam trao cho Mỹ bản: “Năm nguyên tắc bình thường hóa quan hệ kinh tế-thương mại và đàm phán Hiệp định thương mại với Mỹ”. Sau đó, hai nước đã tiến hành tất cả 10 vòng đàm phán thương mại và từ ngày 3-13/7/2000 tại Washington, Bộ trưởng Thương mại Việt Nam Vũ Khoan và đại diện thương mại Mỹ thảo luận những vấn đề còn lại trong Hiệp định thương mại. Ngày 13/7/2000 (giờ Washington) hai bên đã ký kết Hiệp định thương mại. Theo Tổng thống Mỹ Bill Clinton: “Hiệp định chúng tôi ký kết hôm nay sẽ mở cửa một cách toàn diện thị trường Việt Nam, từ nông nghiệp cho tới hàng công nghiệp, các sản phẩm viễn thông, đồng thời tạo việc làm cả ở Việt Nam và Mỹ. Với Hiệp định này, Việt Nam nhất trí tăng tốc độ mở cửa với thế giới, tuân thủ những quyết định quan trọng theo luật định và hệ thống thương mại quốc tế, tăng thêm nguồn thông tin cho nhân dân mình; thông qua việc chấp nhận cạnh tranh, đẩy mạnh sự đi lên của một nền kinh tế thị trường tự do và khu vực tư nhân trong phạm vi Việt Nam. Chúng tôi hi vọng thương mại được mở rộng đồng hành với sự hùng mạnh, tôn trọng nhân quyền và các tiêu chuẩn lao động quốc tế”. Về phía Việt Nam, Thủ tướng Phan Văn Khải cho rằng: “Ký kết Hiệp định thương mại đánh dấu việc hoàn tất quá trình bình thường hóa quan hệ kinh tế-thương mại giữa hai nước. Đây cũng là một bước có ý nghĩa quan trọng trong quá trình Việt Nam hội nhập nền kinh tế quốc tế, đặc biệt là việc gia nhập WTO. Hiệp định sẽ tạo điều kiện mở rộng trao đổi thương mại và tăng cường quan hệ hợp tác, đầu tư giữa hai nước. Hiệp định này không chỉ đảm bảo lợi ích của hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ, mà còn là một đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triển”. Có thể nói Hiệp định thương mại Việt-Mỹ là nấc thang cuối cùng trên con đường bình thường quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Mỹ. Theo Bộ trưởng Thương mại Vũ Khoan, Hiệp định này là “hiệp định thương mại đồ sộ đầu tiên Việt Nam ký kết với nước ngoài”. Trước đây Việt Nam đã ký hiệp định thương mại với hơn 100 quốc gia trên thế giới nhưng đó chỉ là những hiệp định dựa trên khái niệm thương mại truyền thống, thường mang tính nguyên tắc, không có cam kết và lộ trình cụ thể. Ngược lại, Hiệp định thương mại Việt - Mỹ là “hiệp định mang tính tổng thể, chi tiết chia thành nhiều chương, mỗi chương có nhiều phụ lục kèm theo. Hiệp định này không chỉ đề cập đến thương mại hàng hóa mà còn bao hàm cả thương mại dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, v.v... và đây là Hiệp định đầu tiên chúng ta đàm phán theo các tiêu chuẩn của WTO”. Ngày 28/11/2001 Quốc hội Việt Nam phê chuẩn Hiệp định và ngày 11/12/2001 Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ chính thức có hiệu lực. Cùng với việc Hiệp định Thương mại có hiệu lực, hơn bao giờ hết các doanh nghiệp Việt Nam cần nắm rõ chính sách xuất nhập khẩu của Mỹ nói chung và với Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, chính sách nhập khẩu của Mỹ đối với Việt Nam vẫn nằm trong khuôn khổ sân chơi quốc tế, vì vậy các doanh nghiệp Việt Nam một mặt phải nắm rõ các quy định trong chính sách nhập khẩu của Mỹ đồng thời cũng phải nắm bắt các quy định riêng có đặc biệt của Mỹ đối với từng nhóm nước. Chính sách thuế Quy chế tối huệ quốc (MFN) Thuế chống bán hạ giá (CVDs) Luật chống bán phá giá (ADs) Quy định về các nước bị theo dõi (Priority Country): Các nước bị theo dõi đặc biệt hay được quy định theo điều “Siêu 301” mà thực chất là danh sách các nước có thể là đối tượng áp dụng của Điều 301. Ví dụ về một số nước bị theo dõi đặc biệt (quy định theo điều siêu 301): + Với Achentina: bị Hoa Kỳ chỉ trích là đã thi hành các biện pháp hạn chế công ty nước ngoài tiếp cận thị trường dệt may, giày dép cao cấp. + Với Canađa: về nhập khẩu bia, du lịch biên giới, nhạc đồng quê, sản phẩm sữa, gỗ xẻ và phát hành tạp chí; + Với Trung Quốc: về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; + Với Nhật Bản: về nông nghiệp, ô tô và phụ tùng ô tô, phim ảnh; Việt Nam luôn nằm trong danh sách là nươc bị theo dõi đặc biệt của Mỹ do đó nếu Việt Nam không cải thiện công tác bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, và thực hiện cam kết mở cửa thị trường theo quy định trong Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ thì việc đình hoãn các quy chế thương mại mà hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam được hưởng chỉ là vấn đề thời gian. Chính sách phi thuế Các chính sách phi thuế là các biện pháp phi thuế quan mà Mỹ áp dụng để điều tiết các hoạt động nhập khẩu. Các biện pháp đó bao gồm: Quyền hạn chế nhập khẩu hàng nông sản và hàng dệt: Quyền này cho phép Tổng thống có quyền hạn chế nhập khẩu các mặt hàng nông sản và dệt may. Hiện nay, theo các Hiệp định tại Vòng đàm phán Uruguay và Luật thực hiện các Hiệp định đó, Hoa Kỳ cam kết loại bỏ dần các hạn chế đối với hàng nông sản và hàng dệt. Hiệp định đa sợi/ Hiệp định về Hàng dệt và may mặc: Hiệp định đa sợi (MFA), một hiệp định quốc tế có hiệu lực từ tháng 1 năm 1974, cho phép các nước ký kết GATT đàm phán các Hiệp định thương mại song ph._.ẩu nói riêng của Việt Nam nhằm loại bỏ những văn bản (luật hoặc dưới luật) đã lỗi thời, bất cập và không mang lại hiệu quả. Cụ thể là những văn bản quy phạm pháp luật ở cấp địa phương và cấp trung ương đang tạo ra những rào cản đối với việc thực thi Hiệp định thương mại. Làm được điều này cũng chính là đẩy nhanh tiến trình Việt Nam gia nhập WTO. - Cần nhanh chóng bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện theo hướng tháo gỡ các rào cản về thương mại trong thuế quan và phi thuế quan, các rào cản khác trong các lĩnh vực thương mại hàng hoá, dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ theo lộ trình đã được cam kết trong hiệp định. Việc tháo gỡ này cần được triển khai để đáp ứng yêu cầu thực thi những quy định trọng tâm của Hiệp định: đối xử quốc gia, đối xử tối huệ quốc và tạo điều kiện cho kinh doanh, tạo ra sàn pháp lý bình đẳng cho các đối tượng tham gia vào sân chơi chung của nền kinh tế. - Khẩn trương soạn thảo và ban hành luật cạnh tranh và chống độc quyền nhằm tạo sự cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp Việt Nam, kể cả doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong việc xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài nói chung và thị trường Mỹ nói riêng - Ban hành mới và sửa đổi các luật thuế xuất khẩu, phù hợp với lịch trình cắt giảm thuế đối với hàng hoá theo quy định của Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ, cụ thể là phải tích cực hơn nữa trong việc xây dựng, thảo luận và thông qua Pháp lệnh về Đối xử Tối huệ quốc và Đối xử Quốc gia vì đây là những nghĩa vụ cơ bản mà phía Việt Nam phải làm và phải làm ngay khi Hiệp định Thương mại song phương có hiệu lực. - áp dụng chế độ đăng ký và kiểm tra chất lượng hàng hoá: mặc dù không yêu cầu khắt khe về chất lượng hàng hoá như thị trường EU, nhưng pháp luật Mỹ lại rất bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng nên Nhà nước cần quan tâm đến việc áp dụng chế độ đăng ký và kiểm tra chất lượng hàng hoá. Mặt khác, thực hiện chế độ này còn để nâng cao chất lượng của hàng hoá, do đó nâng giá bán, uy tín và tạo ra sức cạnh tranh cho hàng hoá Việt Nam. Đặc biệt đối với một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn như thuỷ sản, dệt may, đồ điện, điện tử, thực phẩm chế biến. Đối với hàng hoá tiêu dùng thì càng cần phải áp dụng chế độ này một cách bắt buộc và chặt chẽ. Đây cũng là chìa khoá để doanh nghiệp Việt Nam vượt rào về các quy định vệ sinh dịch tễ của Mỹ đối với hàng nhập khẩu. 2. Giải pháp ở tầm vi mô 2.1. Tích cực hơn, chủ động hơn, sáng tạo hơn trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam so với các doanh nghiệp của nước khác ở thị trường Mỹ Để làm được điều này, bản thân các doanh nghiệp cần nhận thức rằng: chưa bao giờ các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội như sau khi Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ có hiệu lực. Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam phải ngay lập tức chuẩn bị cho mình một loạt các điều kiện cần thiết để có thể thâm nhập vào thị trường Mỹ. Trước hết, mỗi doanh nghiệp Việt Nam phải: - Nâng cao hơn nữa trình độ quản lý doanh nghiệp (đối với doanh nghiệp xuất khẩu), nâng cao chất lượng sản phẩm hàng xuất khẩu (đối với doanh nghiệp sản xuất) bằng cách xây dựng các kế hoạch hành động của mình như đào tạo tích cực hơn nữa trình độ hiểu biết về chuyên môn, về nghiệp vụ và ngoại ngữ của các công nhân cũng như cán bộ quản lý, đầu tư hơn nữa vào hệ thống công nghệ máy móc, quy trình sản xuất hiện đại, v.v... - Khảo sát, nghiên cứu thị trường Mỹ từ nhiều góc độ, bằng nhiều phương pháp để xây dựng chiến lược sản xuất và chiến lược xuất khẩu, chiến lược tiếp thị quảng cáo, đồng thời cũng phải nắm vững hệ thống luật pháp, chính sách xuất nhập khẩu của Mỹ. - Có chính sách đối với việc tìm kiếm nguồn hàng để có thể chiếm lĩnh thị trường Mỹ, tìm hiểu rõ đối tác thương mại Mỹ. - Xây dựng và giữ vững thị trường mục tiêu nhằm từng bước giữ được sự tín nhiệm của khách hàng trên thị trường Mỹ, củng cố và tiến tới chiếm lĩnh thị phần nhất định. - Ngoài những nguồn đầu tư trong nước, cần phải thu hút và tận dụng một cách tối đa các nguồn vốn đầu tư nước ngoài dưới hình thức vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hoặc là vốn viện trợ chính thức (ODA) vào việc sản xuất hàng xuất khẩu, đặc biệt là các ngành sản xuất sử dụng công nghệ cao nhằm tạo những sản phẩm có chất lượng tốt và đồng đều, có sức cạnh tranh trên thị trường và phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của người dân Mỹ. 2.2. Đẩy mạnh công tác tiếp thị của các doanh nghiệp ở thị trường Mỹ Các doanh nghiệp Việt Nam có thể thực hiện nhiều phương pháp hoạt động tiếp thị trực tiếp khác nhau chẳng hạn như thông qua hội chợ triển lãm, tiếp thị qua mạng hay đặt văn phòng đại diện tại Mỹ. Nếu thực hiện hoạt động tiếp thị trực tiếp, doanh nghiệp Việt Nam nên: Tham khảo ý kiến của Hiệp hội ngành hàng, của Tham tán thương mại Việt Nam tại Mỹ, của các khách hàng quen trước khi qua Mỹ, và có thể tham khảo các tổ chức thông tin khác. Tổ chức chu đáo cho các chuyến đi như lập lịch trình cho chuyến đi, chuẩn bị catalogue giới thiệu sản phẩm, thông qua người quen để tìm Việt kiều trợ giúp phiên dịch, kế hoạch tiếp xúc với đối tác phải rất cụ thể chi tiết, v.v... Nếu các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện các hoạt động tiếp thị vào thị trường Mỹ qua hội chợ triển lãm: Hàng năm tại Mỹ tổ chức hàng trăm cuộc triển lãm lớn nhỏ, do đó nếu có sự tài trợ của Nhà nước thì các doanh nghiệp cố gắng tham gia để tìm kiếm các đối tác thương mại Mỹ cũng như tìm kiếm các hợp đồng xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, để tham gia triển lãm có hiệu quả các doanh nghiệp Việt Nam nên: Gởi Fax hoặc Email cho các khách hàng ở Mỹ về sự tham gia hội chợ của công ty Thiết kế sẵn gian hàng tại Việt Nam sao cho gây ấn tượng và dự trù được chi phí và nhân sự tham gia. Chuẩn bị hàng hoá vừa để trưng bày, vừa để làm quà tặng, vừa để bán hàng trực tiếp Nên cử lãnh đạo có năng lực tham gia hội chợ vì có thể có nhiều hợp đồng được ký trong quá trình tổ chức triển lãm. Nếu tiếp thị qua mạng Internet thì các doanh nghiệp cần xây dựng địa chỉ Email của doanh nghiệp, xây dựng trang Web ấn tượng và khoa học. Đối với các doanh nghiệp hay các tổng công ty lớn thì có thể đặt văn phòng đại diện tại Mỹ tìm kiếm đối tác khách hàng, theo dõi tình hình tổ chức thực hiện các hợp đồng và các hoạt động xuất khẩu sang Mỹ, phối hợp tổ chức tiếp thị tại thị trường Mỹ.v.v... 2.3. Chủ động tiếp cận công nghệ thông qua việc tích cực sử dụng có hiệu quả hơn hệ thống Internet Thương mại điện tử tuy mới xuất hiện và đang ở dạng tiềm năng nhưng đang phát triển rất nhanh và tiềm năng cũng rất lớn. Thương mại điện tử có nhiều điểm ưu việt và thực sự là một công cụ mới cho chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam. Trước hết, người bán và người mua được nối trực tiếp với nhau và không có hạn chế về không gian và thời gian, cho nên các doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả của quá trình nghiên cứu thị trường. Nhờ có thương mại điện tử mà các doanh nghiệp xuất khẩu giảm được chi phí quảng cáo, chi phí vận chuyển đặc biệt là đối với hàng hóa là các ấn phẩm điện tử, giảm các loại chi phí khác như chi phí giao dịch. Mặc dù các doanh nghiệp Việt Nam phải có thời gian dài mới có thể tham gia xuất khẩu hàng hóa thông qua mạng Internet, nhưng ngay từ bây giờ các doanh nghiệp Việt Nam phải nhận thức được xu thế của phương thức kinh doanh hiện đại này và chuẩn bị đầy đủ về vốn, ngoại ngữ cũng như các yếu tố về kỹ thuật công nghệ thông tin để sẵn sàng hòa nhập và đưa vào ứng dụng khi có thể. 3. Giải pháp đối với một số mặt hàng cụ thể 3.1. Hàng dệt may a1). Nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm Nâng cao chất lượng và thực hiện đa dạng hóa sản phẩm thông qua việc nâng cao tay nghề công nhân, có chính sách ưu đãi để giữ công nhân giỏi. Tiếp tục đầu tư để đổi mới trang thiết bị, máy móc hiện đại. Tạo những thương hiệu sản phẩm có uy tín, chú ý đến chất liệu làm ra sản phẩm may phù hợp với thị hiếu cũng như thẩm mỹ của người tiêu dùng Mỹ, đầu tư thoả đáng vào công nghệ bao bì cho sản phẩm dệt may. Thiết kế bao bì phải phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế (ghi rõ bằng tiếng Anh xuất xứ, có ghi mã vạch) và bao bì phải đảm bảo gọn gàng để giảm chi phí nâng cao chất lượng bao bì. Chú ý đến tính độc đáo của sản phẩm thông qua việc sử dụng chất liệu thổ cẩm, sản phẩm thêu tay, đan ren, v.v... đồng thời chú ý đến chất liệu làm ra sản phẩm may phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Mỹ. a2). Nâng cao tính cạnh tranh về giá cho sản phẩm may Vì hàng may Việt Nam chưa có thương hiệu có tiếng trên thế giới nên việc tiếp tục duy trì chính sách định giá thấp để thoả mãn thị trường bình dân của Mỹ. Trên cơ sở đó các doanh nghiệp Việt Nam cần: Có chính sách khuyến khích nâng cao năng suất lao động để giảm chi phí nhân công trên một đơn vị sản phẩm Xây dựng tiêu chuẩn quản trị ISO 9000 trong các xí nghiệp may và hợp lý hoá quy trình sản xuất góp phần giảm được sản phẩm hỏng. Liên kết với các hãng nước ngoài để sử dụng thương hiệu sản phẩm của họ, điều này cho phép định giá sản phẩm cao nhưng vẫn mang tính cạnh tranh so với giá của các hãng gốc sản xuất. Tìm kiếm nguyên liệu trong nước, kể cả nguyên liệu từ các nước từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư FDI và doanh nghiệp KCX để giảm giá thành sản phẩm. a3). Đảm bảo thực hiện các hợp đồng xuất khẩu đúng thời hạn quy định Đơn hàng nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ thường có giá trị lớn nên các doanh nghiệp của Việt Nam phải có lượng hàng lớn để kịp thời cung ứng thực hiện hợp đồng. Số lượng hàng lớn mà thời gian cung ứng lại ngắn nên bản thân từng doanh nghiệp Việt Nam hiện nay khó lòng đảm đương nổi. Vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải sớm xem xét khả năng hợp tác với nhau, cùng đầu tư trang thiết bị chuyên dùng một cách đồng bộ để có thể sản xuất những lô hàng có tiêu chuẩn giống nhau nhằm thực hiện đơn hàng lớn từ nước bạn. Đồng thời, Hiệp hội Dệt May Việt Nam cần tích cực tăng cường hoạt động hơn nữa, từng bước góp phần khắc phục những điểm yếu hiện nay của ngành dệt may. Mặt khác, là đại diện cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, Hiệp hội cần tích cực tham gia hoạt động với các tổ chức quốc tế và khu vực liên quan đến lĩnh vực dệt may như Hiệp hội Dệt May ASEAN, Diễn đàn ngành Dệt May vùng Châu á Thái Bình Dương để trao đổi thông tin về thị trường, về nhu cầu thị hiếu, chính sách và truyền đạt những kiến nghị của ngành dệt may trong nước đối với khu vực và quốc tế nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp dệt may trong quá trình kinh doanh xuất khẩu nói chung và xuất khẩu sang thị trường Mỹ nói riêng. a4). Các biện pháp đưa nhanh sản phẩm may thâm nhập thị trường Mỹ. Theo quy định của Luật Thương mại Mỹ, Hiệp định song phương về hàng Dệt may giữa Mỹ với nước xuất khầu như sau: Mức hạn ngạch nhập khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ sẽ được xác định trên cơ sở trị giá hoặc khối lượng hàng dệt đã đưa vào thị trường Mỹ ở thời điểm đàm phán. Thường thì khi khối lượng hàng dệt đưa vào Mỹ đạt 100.000 tá sản phẩm thì Hải quan của Mỹ bắt đầu theo dõi và khi khối lượng này tăng lên đến 200.000 tá sản phẩm thì phía Mỹ chính thức đề nghị đàm phán để xác định hạn ngạch nhập khẩu. Vì vậy ngành dệt may Việt Nam phải cố gắng xâm nhập thị trường Mỹ càng nhanh càng tốt ngay trong một vài năm đầu Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ có hiệu lực. Trên có sở đó để đẩy mạnh được xuất khẩu hàng may các doanh nghiệp Việt Nam cần: Trong thời gian đầu vẫn duy trì gia công bán và phân phối qua trung gian để đưa hàng vào Mỹ. Nhận gia công cho các công ty của Hàn quốc, Đài Loan, Hông Kông để qua học đưa hàng vào thị trường Mỹ. Nhận gia công cho các hãng may lớn ở Mỹ. Xuất khẩu sản phẩm sang các thị trường trung gian để sau đó các doanh nghiệp nước này đưa sản phẩm vào thị trường Mỹ. Xuất khẩu trực tiếp cho các doanh nghiệp Mỹ: Khác với thị trường EU và Nhật Bản, các doanh nghiệp Mỹ ít sử dụng phương thức đặt hàng gia công may sản phẩm, mà họ thường áp dụng phương thức mua đứt bán đoạn. Nên vấn đề ở đây là doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam phải: Tìm kiếm khách hàng Mỹ, đẩy mạnh hoạt động Marketing. Đầu tư vào công nghệ thiết kế thời trang, tạo ra những sản phẩm may có mẫu mã phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng Mỹ. Đăng ký nhãn hiệu bản quyền từng bước tạo lập thương hiệu có uy tín. Cải thiện môi trường đầu tư để khuyến khích đầu tư nước ngoài đầu tư vào ngành sản xuất nguyên liệu phục vụ may xuất khẩu và xuất khẩu sản phẩm may sang thị trường Mỹ. Nhà nước cần có một cơ chế tài chính hỗ trợ sự phát triển của ngành dệt may, vì xuất khẩu trực tiếp cần nhiều vốn hơn rất nhiều so với xuất khẩu gia công. Tạo lập mối quan hệ công chúng: các doanh nghiệp lớn của Việt Nam có thể tạo lập thông qua mối quan hệ tốt đẹp đã có với các hãng may và tập đoàn quốc tế nổi tiếng để giới thiệu với công chúng Mỹ về sản phẩm may mặc Việt Nam. Ngoài ra có thể tạo liên kết với thương nhân Việt kiều Mỹ để tạo lập từng bước quan hệ với thị trường Mỹ. Thiết lập các đại lý bán hàng ở Mỹ: Các doanh nghiệp Việt Nam cần tìm các đại lý có uy tín và có chế độ hoa hồng thoả đáng để khuyến khích bán hàng ở đại lý. Trên thị trường Mỹ, cộng đồng người Việt, kể cả người Việt gốc Hoa ở Mỹ là những kênh quan trọng giới thiệu hàng hoá Việt Nam. Do vậy các doanh nghiệp Việt Nam cần chú ý thâm nhập thị trường Mỹ trước hết thông qua các khu chợ, siêu thị và chợ nơi có cộng đồng người Việt sinh sống. a5). Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho các doanh nghiệp ngành may Nhà nước cần hỗ trợ các doanh nghiệp dệt may vốn có quy mô vừa và nhỏ, nguồn vốn còn hạn hẹp dưới các hình thức khác nhau như tổ chức các đoàn thương mại qua lại nhau, các chuyến đi khảo sát thị trường, xây dựng các trang web, tham quan triển lãm hội chợ, v.v... Ngoài ra nhà nước nên thành lập trung tâm thương mại, siêu thị thời trang dệt may hoặc trung tâm kinh tế may để cung cấp những thông tin về cơ hội gia công, mua bán hàng may ở các khu vực thị trường thế giới, đặc biệt là thị trường Mỹ; cung cấp những mẫu mốt thời trang cho các doanh nghiệp; môi giới thuê mướn mua bán máy móc, trang thiết bị ngành may; tư vấn kỹ thuật, thủ tục hải quan, v.v... cho các doanh nghiệp ngành may. 3.2. Hàng thuỷ sản Mặc dù được hưởng mức thuế phi MFN chênh lệch không lớn so với mức thuế MFN và luôn là một trong những mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn nhất của Việt Nam sang Mỹ (có kim ngạch lớn nhất năm 2000 với 242,9 triệu USD), xuất khẩu thủy sản Việt Nam vẫn chưa tận dụng hết lợi thế của mình. Ngay cả khi Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ có hiệu lực, thì xuất khẩu thủy sản cũng khó phát huy hết tiềm năng nếu ngành thủy sản không thực hiện những biện pháp thiết thực, mà cụ thể là: Thứ nhất, cần phải tăng cường đầu tư và nâng cao năng lực quản lý việc đánh bắt cá xa bờ và nuôi trồng thủy sản để một mặt đảm bảo đủ nguồn nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu, mặt khác đa dạng hóa chủng loại sản phẩm thủy sản xuất khẩu sang thị trường Mỹ. Trước tình hình nguồn tài nguyên ven bờ đã cạn kiệt do khai thác quá công suất trong thời gian qua cho nên chủ trương tăng sản lượng khai thác đánh bắt xa bờ là một biện pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề nguyên liệu cho chế biến thủy sản xuất khẩu, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để lựa chọn những loại thủy sản mới đưa và xuất khẩu. Bên cạnh đánh bắt xa bờ, một lợi thế so sánh khác của Việt Nam để tham gia thương mại quốc tế thời gian tới là đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, để có thể giải quyết được những vấn đề liên quan đến vốn, diện tích, kỹ thuật nuôi trồng như giống, thức ăn và những ràng buộc về môi trường sinh thái ngành thủy sản chắc chắn rất cần tới sự trợ giúp của Nhà nước và cộng đồng quốc tế. Thứ hai, giá hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Mỹ nhìn chung là vẫn thấp, chỉ bằng 70% mức giá cùng loại của Thái Lan và Indonesia nhưng vẫn không cạnh tranh được với hàng từ các nước xuất khẩu khác. Sở dĩ như vậy là do kỹ thuật chế biến hàng thủy sản Việt Nam còn hạn chế. Để khắc phục điểm bất lợi này, cần phải tăng cường hợp tác kinh tế - kỹ thuật với nước ngoài trong việc chế biến hàng thủy sản xuất khẩu. Việc gia nhập Hiệp hội Nghề cá các nước Đông Nam á cũng như gia nhập các tổ chức khu vực và thế giới AFTA, APEC sẽ mở ra cho Việt Nam những cơ hội vô cùng to lớn để tranh thủ nguồn vốn đầu tư, đổi mới công nghệ đánh bắt, chế biến và nuôi trồng thủy sản, cũng như học hỏi những kinh nghiệm trong việc đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ khoa học kỹ thuật của các nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Philippines, là những nước chế biến thủy sản khá tiên tiến và có sản phẩm thủy sản đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế. Thứ ba, song song với việc phấn đấu giảm giá thành sản phẩm để có ưu thế trong cạnh tranh quốc tế thì vấn đề đảm bảo về mặt chất lượng và an toàn vệ sinh hàng thực phẩm có tầm quan trọng sống còn đối với hoạt động xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam nói chung, và hoạt động xuất khẩu sang thị trường Mỹ nói riêng. Tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm HACCP (Hazard Analysis Critical Control Point - Phân tích các nguy cơ và kiểm soát các khâu trọng yếu) là yêu cầu bắt buộc đối với hàng thủy sản Việt Nam khi xuất sang thị trường Mỹ. Để chiếm lĩnh thị trường Mỹ, thì không còn cách nào khác ngoài việc các doanh nghiệp sản xuất chế biến hàng thủy sản Việt Nam phải tranh thủ sự trợ giúp về mặt kỹ thuật, tài chính của Nhà nước và quốc tế để đạt chất lượng theo tiêu chuẩn HACCP. Thứ tư, Bộ Thuỷ sản nên mở trang Web nhằm: giới thiệu tiềm năng thuỷ sản Việt Nam; phổ biến giới thiệu giống; nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản; giới thiệu thị trường trong đó giới thiệu về thị trường Mỹ như nhu cầu thị hiếu, khách hàng, quy định kỹ thuật với thuỷ sản nhập khẩu, thuế nhập khẩu đối với từng loại thuỷ sản, v.v… Cuối cùng, do thủy sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chiến lược sang thị trường Mỹ cho nên để giúp các doanh nghiệp sản xuất và chế biến thủy sản xuất khẩu đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng này sang thị trường Mỹ, Nhà nước cần tăng cường các biện pháp khuyến khích xuất khẩu thủy sản. Chẳng hạn, có chính sách hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật cho các doanh nghiệp Việt Nam như tài trợ xuất khẩu thủy sản và thành lập quỹ hỗ trợ sản xuất, xuất khẩu thủy sản, quỹ tín dụng, v.v... 3.3. Mặt hàng giày dép Với việc Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ có hiệu lực thì nhiều loại giày dép nhập khẩu từ Việt Nam có mức thuế giảm và do đó khả năng cạnh tranh hàng Việt Nam sẽ cao hơn. Có thể nói rằng trong thời gian qua, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu giày dép của Việt Nam đã thành công trên thị trường thế giới và có những thương hiệu nổi tiếng trong khu vực như: Biti’s, Bita’s, Vinagiày…những mặt hàng này đã bắt đầu thâm nhập được vào thị trường Mỹ ở một mức độ nhất định nào đó. Đồng thời nhiều hãng giày nổi tiếng thế giới như Reebok, Adidas, Nike… đang hoạt động tại Việt Nam thu hút hàng vạn công nhân, và đây chính là cơ sở và là cơ hội để đưa hàng hoá vào Mỹ bằng chính sách đa dạng hóa sản phẩm. Tuy nhiên một vài yếu kém lộ rõ trong ngành công nghiệp giày dép của Việt Nam. Cụ thể là nguyên liệu giày dép hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu, các doanh nghiệp Việt Nam không thể tự sản xuất được nguyên liệu dày dép do đó làm cho giá thành giày dép của Việt Nam cao và nếu Mỹ dành cho Việt Nam hưởng chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập (GSP) thì giày dép Việt Nam khó được hưởng vì không đạt tiêu chuẩn về xuất xứ. Bên cạnh đó đa số giày dép đưa vào thị trường Mỹ hiện nay đều qua các nhà phân phối nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam, vì vậy mặc dù xuất khẩu mặt hàng này là một trong những mặt hàng có giá trị lớn nhất trong số sản phẩm đưa vào Mỹ nhưng các công ty giày Việt Nam chưa biết nhiều về thị trường Mỹ. Một khó khăn nữa đối với các công ty giày của Việt Nam khi xuất khẩu vào thị trường Mỹ là các mặt hàng của các doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh với các sản phẩm của Trung Quốc chiếm đến gần 50% thị phần giày dép của Mỹ. Ngoài ra, các xí nghiệp xuất khẩu giày dép của Trung Quốc cũng gần như chiếm tuyệt đối thị trường giày dép của các tầng lớp dân cư có mức thu nhập trung bình và thấp của nước Mỹ trước Việt Nam 10 năm. Trước những khó khăn thách thức cũng như những thuận lợi do Hiệp định Thương mại song phương mang lại đối với mặt hàng giày dép của Việt Nam, Việt Nam cần phải có: a1). Giải pháp nâng cao tính cạnh tranh về chất lượng Hỗ trợ và khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ và trang thiết bị hiện đại để sản xuất những mặt hàng phù hợp với thị hiếu người dân Mỹ. Có những chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào sản xuất giày dép xuất khẩu sang thị trường Mỹ nói riêng và thị trường thế giới nói chung. Củng cố và phát triển những thương hiệu giày dép có uy tín trên thị trường quốc tế, đặc biệt là trên thị trường Mỹ. Đầu tư thoả đáng vào công việc thiết kế thời trang giày dép. a2). Giải pháp nâng cao tính cạnh tranh về giá Xây dựng chiến lược đầu tư và hỗ trợ đầu tư vào công nghệ thuộc da và sản xuất da giả để chủ động nguồn nguyên liệu và giảm chi phí sản xuất, không phải phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Nâng cao tay nghề công nhân, nâng cao năng suất lao động. Khuyến khích xây dựng tiêu chuẩn ISO 9000 ở các xí nghiệp có sản xuất giày dép. Chủ động xuất khẩu trực tiếp vào thị trường Mỹ không thông qua các nhà phân phối nước ngoài sẽ góp phần làm giảm chi phí, hơn nữa tạo được uy tín trên thị trường Mỹ đối với những mặt hàng xuất khẩu trực tiếp. 3.4. Hàng nông sản Tuy ngành hàng nông sản đã có một số mặt hàng được thị trường Mỹ chấp nhận, song, hiện nay vẫn còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác và phát huy chưa tương xứng với lợi thế vốn có. Nhiều loại sản phẩm nông nghiệp chưa được khai thác đưa vào xuất khẩu như các sản phẩm thịt gia cầm, một số loại hoa quả nhiệt đới (chuối, quả có múi...). Những sản phẩm đã được khai thác xuất khẩu như cà phê, cao su, chè và gia vị thì hầu hết là ở dạng thô (chiếm tới 70 - 80%), do đó không có lợi thế trong cạnh tranh. Nguyên nhân chính của tình trạng trên là: - Cơ sở hạ tầng yếu, thiếu sự đồng bộ của các yếu tố sản xuất (điện, nước, kỹ thuật) tại các vùng tập trung chuyên canh sản xuất hàng nông sản. - Công nghệ sau thu hoạch còn rất nhiều bất cập mà cụ thể là máy móc và thiết bị sản xuất còn sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu chế biến tiêu hao nhiều nguyên liệu trong khi đó chất lượng lại thấp, không đảm bảo. - Tổ chức hệ thống kinh doanh xuất khẩu còn yếu kém, không hiệu quả, lưu thông chồng chéo, tranh mua, tranh bán, gây tổn hại đến lợi ích chung trong kinh doanh xuất khẩu cũng như lợi ích người sản xuất. - Hệ thống thông tin yếu kém, hiểu biết về thị trường Mỹ còn hạn chế, khả năng tiếp thị sản phẩm dưới nhiều hình thức của các doanh nghiệp Việt Nam còn chưa hiệu quả. Trên cơ sở đó, để tăng cường khả năng xuất khẩu của ngành nông sản sang thị trường Mỹ, cần phải thực hiện những biện pháp sau đây: Đầu tư vốn và kỹ thuật để phát triển và mở rộng nguồn hàng nông sản xuất khẩu: mục tiêu của chiến lược này chủ yếu là nhằm khai thác hết tiềm năng của sản xuất nông nghiệp Việt Nam và tạo ra các cơ sở nguồn hàng nông sản xuất khẩu không chỉ có quy mô lớn mà còn phong phú về chủng loại sản phẩm. Tăng cường năng lực chế biến để nâng cao giá trị hàng xuất khẩu: song song với việc tăng cường vốn đầu tư để nâng cấp hệ thống máy móc thiết bị nghệ tiên tiến, thì trong giải pháp này cần phải chú ý tới việc xây dựng một chương trình đồng bộ dành cho các sản phẩm trọng điểm dựa trên cơ sở đa dạng hóa sản phẩm để chọn ra các sản phẩm có ưu thế xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Hỗ trợ và khuyến khích xây dựng các tiêu chuẩn GMP, ISO, v.v... trong sản xuất và chế biến hàng nông sản, đồng thời hỗ trợ nắm bắt thông tin qua các Hiệp hội ngành hàng, qua các trung tâm phát triển ngoại thương của tỉnh, thành phố, qua Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, nắm bắt thông tin về ngành hàng từ nước Mỹ qua mạng Internet. Đẩy mạnh công tác tiếp thị ở thị trường Mỹ: thông qua Cục Xúc tiến Thương mại thuộc Bộ thương mại hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận với thị trường Mỹ; mỗi Bộ ngành của Chính phủ xây dựng trang Web tiếp thị sản phẩm chủ lực của Việt Nam trên mạng Internet; nâng cao vai trò đại diện thương mại Việt Nam tại Mỹ trong tiếp thị, tìm kiếm đối tác, thông tin đại chúng... giúp các doanh nghiệp Việt Nam thành lập văn phòng đại diện hoặc thực hiện chức năng văn phòng đại diện cho các công ty Việt Nam; tham gia hội chợ triển lãm, v.v... Kết luận Từ chiến tranh, hận thù sang đối thoại và là đối tác của nhau trong nhiều lĩnh vực, khoa học công nghệ, ngân hàng tài chính, văn hoá du lịch, thương mại, v.v... quan hệ Việt Nam và Mỹ đã có những bước chuyển biến cực kỳ khởi sắc, đặc biệt kể từ khi Mỹ tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt Nam ngày 3/2/1994. Với chính sách mở nền kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư từ phía Việt Nam và thiện chí hợp tác từ phía Mỹ, hai quốc gia đã từng là kẻ thù của nhau trong quá khứ thì nay đã xích lại gần nhau hơn trong xu thế hội nhập toàn cầu. Từ mức quan hệ thương mại gần như là con số không đến năm 2001, kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt con số trên 1 tỷ USD. Mặc dù kim ngạch này chưa tương xứng với tiềm năng của hai nước những cũng đã phản ánh được nỗ lực từ hai phía mong muốn khép lại quá khứ và tiến tới một tương lai hợp tác toàn diện sâu sắc. Từng được xếp vào nhóm nước kẻ thù của Mỹ, Việt Nam với vô vàn khó khăn trong việc xuất khẩu hàng hoá của mình sang thị trường lớn nhất thế giới thì nay đã được xem như một đối tác thương mại tiềm năng của Mỹ. Hiệp định Thương mại song phương Việt – Mỹ đã được Quốc hội hai nước thông qua mở ra một quan hệ mới trong lĩnh vực thương mại giữa hai nước. Hơn bao giờ hết Việt Nam đang đứng trước những cơ hội lớn và cũng đang phải đối mặt với muôn vàn thách thức. Vì vậy các doanh nghiệp Việt Nam cần phải nắm vững chính sách xuất nhập khẩu của Mỹ, những quy định cụ thể trong từng giai đoạn, từng lĩnh vực để xây dựng cho mình một chiến lược xuất nhập khẩu thành công vượt qua được mọi khó khăn thách thức, trở ngại góp phần xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng phát triển và giàu mạnh. TàI liệu tham khảo Thông tấn xã Việt Nam: - “Quan hệ thương mại Việt - Mỹ”, ngày 11/5/2001. - “Thế kỷ Mỹ”, ngày 10/6/2001. Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ ngày 13/7/2000. Nguyễn Đình Lương “Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ dưới tác động của Hiệp định Thương mại song phương”, tạp chí Quốc tế, số 11/2000. Vũ Khoan “Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ”, tạp chí Cộng sản, số 15/2000. Tuyên bố của Tổng thống Bill Clinton về việc bình thường hoá quan hệ của Hoa Kỳ với Việt Nam. Báo Nhân Dân số 234/1995. Báo cáo của Bộ Thương mại về tình hình thực hiện kế hoạch năm 2000 và phương hướng, mục tiêu kế hoạch thương mại năm 2001. Xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ – Một số khía cạnh pháp lý cần quan tâm khi giao kết hợp đồng – Bản tin câu lạc bộ Pháp chế doanh nghiệp số 1-2002-Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Chương trình tư vấn cho doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ – Phòng Thương mại công nghiệp Việt Nam, PGS - TS. Nguyễn Thị Mơ. Tác động của Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ đến ngành nông nghiệp Việt Nam – Kinh tế đối ngoại- Đặng Kim Sơn và Phạm Quang Diệu Hội nhập quốc tế trong thương mại và đầu tư. Nội dung cam kết về đầu tư trong Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ – TS. Đinh Văn Ân – Q.Viện trưởng Viện nghiên cứu và Quản lý Kinh tế Trung Ương Những điều cần biết khi xuất khẩu vào Thị trường Mỹ- Bộ Thương mại Chiến lược thâm nhập thị trường Mỹ – PGS.TS. Võ Thanh Thu, KS. Nguyễn Cương và GVC. Nguyễn Thị My. 14. Buying fromVietnam –Ngo Van Thuan - Cục xúc tiến thương mại (Bộ thương mại). 15. Xuất khẩu vào thị trường Mỹ – Bộ tài chính- Tổng cục Hải quan (Hướng dẫn chi tiết về thương mại và thủ tục Hải quan cho hàng hoá nhập khẩu vào Mỹ). 16. Các trang web: Mục lục Lời mở đầu Chương I: chính sách nhập khẩu của Mỹ của Mỹ đối với Việt nam I. Một số quy định trong chính sách nhập khẩu của Mỹ 1 Khát quát về luật thương mại Mỹ 1 1.1. Mối quan hệ giữa luật liên bang và luật các bang của Mỹ trong hoạt động ngoại thương 1 1.2. Luật điều tiết hoạt động xuất khẩu 2 1.2.1. Các luật hỗ trợ xuất khẩu và triển khai hiệp định thương mại 2 1.2.2. Kiểm soát xuất khẩu 3 1.3. Luật điều tiết hoạt động nhập khẩu 3 1.3.1. Hạn chế nhập khẩu 3 1.3.2. Quyền hạn chế hàng dệt và nông sản 4 1.3.3. Các tiêu chuẩn sản phẩm 5 Một số quy định trong chính sách nhập khẩu của Mỹ 5 2.1. Quy chế Tối huệ quốc (MFN) của Mỹ 5 Hàng rào thuế quan của Mỹ 5 Danh bạ thuế quan thống nhất (HTS) 5 Định giá hải quan 6 Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) 10 Hoàn thuế nhập khẩu 13 Thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ giá 14 Hàng rào phi thuế quan của Mỹ 17 Hạn ngạch nhập khẩu 17 Hạn chế nhập khẩu vì an ninh quốc gia và cán cân thanh toán quốc gia 19 Hàng rào tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ 20 Quy định về nguồn gốc xuất xứ 20 Quy định về ký mã hiệu 21 Quy định về nhãn mác thương mại 22 Quy định về quyền sở hữu trí tuệ 23 Chính sách nhập khẩu của Mỹ đối với Việt Nam và vấn đề đặt ra đối với việt nam .... 24 1. Nhập khẩu của Mỹ từ Việt Nam trong thời kỳ cấm vận 24 2. Chính sách nhập khẩu của Mỹ đối với Việt Nam 26 3. Vấn đề đặt ra cho Việt Nam trong hoạt động xuất khẩu sang thị trường Mỹ 31 Chương II: Thực trạng xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường Mỹ Nhu cầu nhập khẩu hàng hoá Việt Nam của Mỹ 35 1. Một vài nét về thị trường Mỹ 35 2. Vai trò của Việt Nam trong chính sách nhập khẩu của Mỹ 37 Nhu cầu một số mặt hàng Mỹ nhập khẩu từ Việt nam 38 Thực trạng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ 42 1. Tình hình chung 42 2. Thực trạng xuất khẩu đối với một số mặt hàng cụ thể 44 iii. Đánh giá 58 Chương III: Đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường Mỹ I. Triển vọng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ 64 Triển vọng xuất khẩu do Hiệp định thương mại Việt- Mỹ mang lại 64 Triển vọng xuất khẩu đối với một số mặt hàng cụ thể 65 Cà phê 65 Thuỷ hải sản 67 Dệt may và giày dép 68 Dầu khí 69 II. Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường Mỹ 70 Giải pháp ở tầm vĩ mô 70 Giải pháp ở tầm vi mô 78 Giải pháp đối với một số mặt hàng cụ thể 81 Kết luận 90 TàI liệu tham khảo 91 ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docA0428.doc
Tài liệu liên quan