Đề tài Cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

Tài liệu Đề tài Cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam MỤC LỤC Trang * Lời mở đầu 3 * Chương 1: Cơ sở lý thuyết của quá trình cổ phần hóa 5 I/ Khái niệm về công ty cổ phần 1. Định nghĩa 5 2. Đặc điểm 5 3. Lịch sử hình thành và phát triển công ty cổ phần 3.1 Hình thái kinh doanh một chủ 8 3.2 Hình thái kinh doanh chung vốn 11 3.3 Hình thái công ty cổ phần 13 3.4 Cấu trúc quản lý và kiểm soát chung cổ phần 15 II/ Các đặc điểm và các yếu tố tác động tới quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước A/ Các đặc điểm của cổ phần Ebook Đề tài Cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

doc50 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 30/04/2013 | Lượt xem: 988 | Lượt tải: 3download
Tóm tắt tài liệu Đề tài Cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hóa doanh nghiệp Nhà nước 1. Sự cần thiết phải cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước 16 2. Thực chất của cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước 18 3. Các mục tiêu cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước 18 4. Các phương pháp cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước 19 5. Các bước cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước 5.1 Xác định giá trị tài sản doanh nghiệp 20 5.2 Mệnh giá cổ phiếu và số lượng cổ phần 22 5.3 Bán cổ phiếu doanh nghiệp được cổ phần hóa 23 5.4 Ra mắt công ty cổ phần, đăng ký kinh doanh 24 6. Chính sách đối với cán bộ công nhân viên trước và sau khi cổ phần hóa 6.1 Lao động và chính sách đối với người lao độngtrong doanh nghiệp trước khi cổ phần hóa 26 6.2 Lao động và chính sách đối với người lao động khi doanh nghiệp đã chuyển thành công ty cổ phần 26 B/ Những yếu tố tác động đến quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta 1. Thực trạng của khu vực kinh tế Nhà nước ở nước ta 27 2. Các yếu tố thuận lợi và khó khăn trong quá trình cổ phần hóa 30 3. Thực trạng cổ phần hóa của doanh nghiệp ô tô khách Quảng Ninh 33 * Chương 2: Các giải pháp đề xuất đối với việc cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta hiện nay 37 1. Môi trường pháp lý cẩn thiết cho sự ra đời và hoạt động của công ty cổ phần 37 2. Từng bước xây dựng thị trường Chứng khoán và sở giao dịch Chứng khoán 38 3. Thành lập cơ quan Nhà nước có quyền lực để thực hiện chương trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước 40 * Kết luận 42 * Các tài liệu tham khảo 43 LỜI NÓI ĐẦU Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước là một giải pháp quan trọng mà nhiều nền kinh tế tiến hành, ngay cả những quốc gia có nền kinh tế phát triển, có phương thức quản lý doanh nghiệp tiến tiến như Anh, Pháp, Mỹ… cũng phải áp dụng. Với Việt Nam, cổ phẩn hóa doanh nghiệp Nhà nước luôn được tạo điều kiện và cơ chế để chương trình cổ phần hóa đạt kết quả cao. Vào những thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, đặc biệt là trong thập niên 90, khu vực hóa toàn cầu là xu thế phát triển tất yếu của nền kinh tế Thế gới. Việc gia nhập các tổ chức kinh tế của khu vực và Thế giới như AFTA, NAFTA, WTO… luôn là mong muốn của bất kỳ một quốc gia nào. Xu thế hội nhập này tạo cơ hội cạnh tranh bình đửang cho tất cả các doanh nghiệp, song nó cũng đựat các doanh nghiệp vào một cuộc chơi khắc nghiệt với quy luật “mạnh được, yếu thua”. Hàng rào thuế quan mà Chính phủ các nước đặt ra để bảo vệ các sản phẩm do các doanh nghiệp trong nước sản xuất sẽ mất tác dụng. Vì vậy, biện pháp duy nhất của các doanh nghiệp để không bị loại khỏi “cuộc chơi” là phải tự tăng cường khả năng cạnh tranh của mình để chiếm lĩnh và tạo thế đứng vững trên thị trường. Theo báo cáo của Bộ Tài Chính những năm đầu thập niên 90, các doanh nghiệp Nhà nước (chiếm vị trí chủ đạo hoạt động trong những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế) chủ yếu trong trạng thấi thiết bị lạc hậu 3-5 thế hệ. Cơ cấu kinh tế chưa phù hợp, chủ yếu là nông nghiệp chiếm 27%, thương mại 43%, công nghiệp và xây dựng 30%; quy mô các doanh nghiệp Nhà nước nhỏ (dưới 1 tỷ đồng) chiếm 68%. Thực tế khiến hiệu quả sử dụng vốn rất thấp. Mỗi đồng vốn chỉ tạo 2-3 đồng doanh thu và 0.1 đồng lợi nhuận. Tài sản cố định trong các doanh nghiệp Nhà nước chiếm tới 70-80% nhưng chỉ tạo ra 44% tổng sản phẩm. Théo các chuyên gia kinh tế, Việt Nam sẽ không có đủ sức cạnh tranh khi Việt Nam gia nhập các tổ chức các tổ chức thương mại khu vực và Thế giới. Do vậy, để tạo chỗ đứng trên thương trường, Việt Nam phải cải cách để tìm ra con đường cho sự phát triển. Nhiều giải pháp đã được đưa ra như: cơ cấu lại vốn và lĩnh vự hoạt động của các doanh nghiệp, sát nhập các doanh nghiệp vốn nhỏ hoạt động trong cùng lĩnh vực lại với nhau, lien doanh lien kết với nước ngoài… Nhưng những giải pháp này vẫn chưa thể mang đến những bước ngoặt, hiệu quả sản xuất-kinh doanh của các doanh nghiệp còn thấp, sức cạnh tranh yếu. Trước thực trạnh này, Nghị quyết Trung Ương II khóa VII đã đưa ra một giải pháp quan trọng để cải cách. Theo đó: “chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có điều kiện thành công ty cổ phần, phải chỉ đạo chặt chẽ quy mô, hình thức thí điểm, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng phạm vi thích hợp”. Vậy cổ phần hóa là gì? Quá trình tiến hành cổ phần hóa tại Việt Nam đã diễn ra như thế nào? Những kết quả cũng như những mặt tồn tại của nó? Trong khuôn khổ bài tiểu luận nghiên cứu và tài chính này, chúng tôi được nêu một vài điều về vấn đề “Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam” được tóm tắt lại qua quá trình tòm hiểu ở một số tài liệu và một vài ví dụ thức tế để thong qua đó chúng ta có thể có cái nhìn đầy đủ, chính xác hơn về vấn đề này cũng như có them những kiến thức về mảng tài chính vốn vô cùng rộng lớn này. Bài viết tất nhiên khó tránh khỏi những thiếu sót, vậy rất mong được tiếp nhanạ những ý kiến đóng góp, đánh giá của tất cả các bạn để bài viết them phong phú và chính xác hơn. Qua đây xin cho phép chúng tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc tới người đã hướng dẫn cho tôi hết lòng từ khi chưa hiểu biết về đề tài này và cho đến khi hoàn thành. Dù nội dung chỉ đạt đến một chừng mực nào đó nhưng qua lần nghiên cứu này nó giúp cho tôi dần làm quen với nghiên cứu bậc đại học và tôi tin rằng nó sẽ giúp tôi ngày càng hoàn thiện hơn về lý luận của mình. Xin chân thành cảm ơn ! Hà Nội, tháng 4 năm 2008 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ I- KHÁI NIỆM VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Định nghĩa: là loại công ty được thành lập do nhiều người bỏ vốn ra (cổ đông). Tiền vốn được chia thành các cổ phần bằng nhau, người hùn vốn với tư cách là các cổ đông sẽ mua một số cổ phần đó. Theo luật công ty ở nước ta, công ty cổ phần là công ty trong đó: - Số thành viên gọi là cổ đông mà công ty phải có trong suốt thời gian hoạt động ít nhất là bảy. - Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu. Mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phiếu. - Cổ phiếu được phát hành có thể có ghi tên hoặc không ghi tên. Cổ phiếu của sáng lập viên, của thành viên hội đồng quản trị phải là những cổ phiếu có ghi tên. - Cổ phiếu không ghi tên được tự do chuyển nhượng. Cổ phiếu có ghi tên chỉ được chuyển nhượng nếu được sự đồng ý của hội đồng quản trị. Công ty cổ phần được tự do đặt tên. Trên bảng hiệu, hoá đơn, quảng cáo, báo cáo, tài liệu, giấy tờ giao dịch khác của công ty đều phải ghi tên công ty kèm theo các chữ "công ty cổ phần" và vốn điều lệ. 2. ĐẶC ĐIỂM: + Rủi ro: Trong trường hợp công ty bị phá sản thì họ cũng chỉ mất số tiền đã đầu tư vào công ty mà thôi, không chịu trách nhiệm vô hạn như hình thức kinh doanh một chủ hoặc chung vốn. Nhờ đặc điểm này, các công ty cổ phần dám mạo hiểm đầu tư vào các dự án kinh doanh lớn hơn các loại hình công cộng khác bằng cách bán các cổ phiếu, trái phiếu cho những người có vốn muốn đầu tư để gia tăng thu nhập, nó đã làm những người này không phải e ngại những hậu quả tài chính có thể xảy ra đối với toàn bộ tài sản của họ. Như vậy, nhờ đặc điểm của hình thái công ty cổ phần - mọi cổ đông bây giờ chỉ có trách nhiệm pháp lý hữu hạn và công ty là một hình thức pháp lý đầy đủ, thuận lợi để kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận, - đã cho phép khắc phục được phần lớn các trở ngại đặt ra của hình thái kinh doanh chung vốn. Nó bổ sung cho doanh nghiệp một hình thái pháp lý gần như hoàn hảo để huy động những lực lượng vốn lớn trong xã hội. Mệnh giá cổ phiếu của các công ty thường định giá rất thấp để có khả năng khai thác được ngay cả những số tiền tiết kiệm nhỏ nhất trong công chúng. + Xét về mặt huy động vốn: Công ty cổ phần đã giải quyết hết sức thành công. Bởi vì những số tiền nhỏ dành dụm của nhiều gia đình nều để riêng không đủ để lập doanh nghiệp nhỏ, và do đó không thể đem ra kinh doanh được. Sự có mặt của các công ty cổ phần đã tạo điều kiện cho họ có cơ hội để đầu tư một cách có lợi và an toàn trong khoản vốn nhỏ nhưng gộp lại sẽ trở thành rất lớn. Các khoản tiền nhỏ trên có thể được gửi ở ngân hàng hay mua trái phiếu... Song hình thức cổ phần có sức hấp dẫn riêng mà các hình thức khác không thể thay thế được. Thứ nhất, việc mua cổ phiếu không những đem lại cho cổ đông lợi tức cổ phần (bằng hoặc cao hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng) mà còn hứa hẹn mang đến cho cổ đông một khoản thu nhập "ngầm" nhờ việc gia tăng giá trị giá cổ phiếu khi công ty làm ăn có hiệu quả. Thứ hai, các cổ đông có quyền được tham gia quản lý theo điều lệ của công ty và được pháp luật bảo đảm, điều đó làm cho quyền sở hữu của cổ đông trở nên cụ thể và có sức hấp dẫn hơn. Thứ ba, cổ đông có quyền được ưu đãi trong việc mua những cổ phiếu mới phát hành của công ty trước khi được đem bán rộng rãi cho công chúng. + Hình thái công ty cổ phần đã thực hiện được việc tách quan hệ sở hữu khỏi quá trình kinh doanh, tách quyền sở hữu với quyền quản lý và sử dụng, tạo nên một hình thái xã hội hoá sở hữu của đông đảo công chúng ở một bên, còn bên kia là tầng lớp các nhà quản trị kinh doanh chuyên nghiệp sử dụng tư bản xã hội cho các công cuộc kinh doanh quy mô lớn. Những người đóng vai trò sở hữu trong công ty cổ phần không trực tiếp đứng ra kinh doanh mà uỷ thác chức năng đó cho bộ máy quản lý của công ty. Bản thân công ty được pháp luật thừa nhận như một pháp nhân độc lập tách rời với các cá nhân góp vốn và kiểm soát nó. Nhờ đó, công ty cổ phần tiến hành tất cả các hoạt động kinh doanh dưới danh nghĩa của chính mình và nhận trách nhiệm đến cùng với các cam kết tài chính của công ty. Luật công ty của nhiều nước đều nêu ra hai tổ chức chính đại diện cho quyền sở hữu của các cổ đông trong công ty. Đại hội cổ đông và Hội đồng quản trị. Quyền sở hữu tối cao đối với công ty thuộc Đại hội cổ đông. Đại hội cổ đông thường được tổ chức mỗi năm một lần để lựa chọn và bãi miễn Hội đồng quản trị, quyết định sửa đổi điều lệ công ty, phân chia lợi nhuận cổ phần, phát hành thêm cổ phiếu hoặc hợp nhất vào các công ty khác... Hội đồng quản trị được bầu ra có trách nhiệm bảo toàn và phát triển giá trị các khoản vốn đầu tư của cổ đông. Chức năng chủ yếu của nó là đưa ra những chỉ dẫn mang tính chiến lược bao gồm những kế hoạch tài chính và những quyết định đầu tư lớn. Toàn bộ hoạt động quản lý kinh doanh thuộc về Ban giám đốc điều hành. Bên cạnh đó, Đại hội cổ đông cũng bầu ra Ban kiểm soát thực hiện việc kiểm tra, giám sát hoạt động của công ty để bảo vệ lợi ích cho những người góp vốn. + Các cổ phiếu và trái phiếu thông thường của công ty cổ phần có thể được quyền chuyển nhượng dễ dàng trên thị trường chứng khoán. Các cổ đông có thể rút lại vốn của mình để đầu tư vào một công cuộc kinh doanh khác bằng cách bán các cổ phiếu, trái phiếu và mua các cổ phiếu, trái phiếu ở những công ty mà mình muốn. Mặt khác, các cổ phiếu, trái phiếu của một công ty cổ phần chỉ được thanh lý khi công ty phá sản, vì thế cho dù có bao nhiêu cổ đông bán cổ phiếu và cổ phiếu được chuyển chủ bao nhiêu lần do bán hoặc do thừa kế, doanh nghiệp vẫn tiếp tục hoạt động một cách bình thường mà không bị ảnh hưởng. Có thể nói, công ty cổ phần và thị trường chứng khoán vừa duy trì được sự ổn định của doanh nghiệp, đồng thời vừa tạo nên sự di chuyền linh hoạt của các luồng vốn xã hội. Nhờ sự phát triển và hoàn thiện của thị trường chứng khoán, khả năng huy động vốn đầu tư được mở ra hết sức rộng rãi, nó cung cấp cho những cơ hội đầu tư đa dạng, đơn giản, dễ dàng và thuận tiện cho đông đảo công chúng. Mặt khác, nó không chỉ là nơi cung cấp vốn mà còn là nơi xếp đặt và phân phối lại các cơ hội đầu tư theo các nhu cầu đầu tư đa dạng của công ty và công chúng. Ở đây, vai trò của các chủ ngân hàng và những người buôn bán cổ phiếu hết sức quan trọng. Họ góp phần chuyển đổi các khoản đầu tư thông qua mua bán cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu v.v... trên thị trường cho mọi người và khuyến khích các công ty mới ra đời huy động vốn và đứng vững được trong kinh doanh. Khi một công ty mới thành lập, còn chưa đứng vững trên thương trường đó là lúc nó cần có những nhà đầu tư táo bạo, dám chấp nhận mạo hiểm để có lợi nhuận cao. Khi công ty đã ổn định vững chắc, các nhà đầu tư thận trọng mới vào cuộc. Giá cổ phiếu đã tăng lên, nhưng bù lại có độ an toàn cao. Các nhà đầu tư táo bạo đã có thể bán lại cổ phiếu, thu được khoản lợi nhuận vốn là mục tiêu cho mạo hiểm của họ để tiếp tục theo đuổi một cuộc đầu tư táo bạo khác. Nền kinh tế cần phải có các nhà đầu tư táo bạo và có sự chuyển đổi giữa các loại nhà đầu tư để thúc đẩy quá trình hình thành các doanh nghiệp mới hay các dự án đầu tư mới. Những hoạt động "đầu cơ" kiểu như thế có một vai trò quan trọng và được khuyến khích ở các nước. Là nơi cung cấp vốn, nơi hội tụ các cơ hội và nhu cầu đầu tư, thị trường chứng khoán phản ứng rất nhạy bén với những thay đổi, giao động của nền kinh tế. Chính vì vậy, sau này, Nhà nước với tư cách là một "tư bản tài chính" lớn nhất đã coi thị trường chứng khoán như công cụ để điều tiết các luồng tài chính và tiền tệ nói chung bằng cách quy định các hoạt động của nó, bơm vào hay hút ra các luồng công trái, trái phiếu chính phủ, qua đó điều chỉnh một phần khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế. 3. Lịch sử hình thành và phát triển công ty cổ phần 3.1 Hình thái kinh doanh một chủ Hình thái kinh doanh một chủ là các loại hình doanh nghiệp, trong đó sở hữu của người chủ tư nhân được duy trì và phát triển bằng lao động của bản thân hoặc thuê mướn với vốn liếng sẵn có và sự tính toán của anh ta trên cơ sở những đòi hỏi của thị trường. Đây là hình thái phổ biến thống trị trong nền sản xuất hàng hoá nhỏ và trong giai đoạn đầu của CNTB cạnh tranh tự do. Trong hình thái kinh doanh này bao gồm hai loại hình chủ yếu: Kinh doanh theo phương thức sản xuất hàng hoá nhỏ và kinh doanh theo phương thức sản xuất TBCN. Mục đích phương thức kinh doanh của những người sản xuất hàng hoá là sự duy trì và bảo tồn mối quan hệ của họ đối với tư liệu sản xuất như là người sở hữu. Phương thức kinh doanh này có đặc điểm người sở hữu đồng thời là người lao động và người đó chỉ có thể làm giàu bằng lao động của chính mình. Do vậy, sự phát triển sản xuất có được rất chậm chạp, quy mô mở rộng từ từ tuỳ theo sự phát triển của thị trường địa phương và khu vực. Toy nine, clung với sự phát triển nền kinh tế hàng hoá, lưu thông tiền tệ cũng ngày càng phát triển cho phép đẩy nhanh và mở rộng quá trình trao đổi, thanh toán cũng như tích trữ tiền tệ, và điều đó, góp phần làm thay đổi dần dần bản chất của phương thức kinh doanh này. Quá trình xã hội hoá sở hữu tư nhân nhờ hai tác nhân chủ yếu là trao đổi và tín dụng thì về mặt lịch sử trong quá trình chuyển hoá ấy phải kể đến hai yếu tố hết sức quan trọng, có tác dụng phân giải nền kinh tế của những người sản xuất hàng hoá nhỏ và thúc đảy quá trình hình thành nền kinh tế thị trường TBCN, đó là tư bản thương nghiệp và tư bản cho vay nặng lãi. Chúng ta hãy lần lượt xem xét vai trò của từng yếu tố này: a- Đối với tư bản thương nghiệp Sự phát triển của thương nghiệp và tư bản thương nghiệp làm cho nền sản xuất hướng vào giá trị trao đổi. Nó làm cho quy mô sản xuất được mở rộng, sản phẩm mang nhiều hình, nhiều vẻ và đi vào lưu thông một cách phổ biến; nó làm tan rã các hình thái tổ chức sản xuất lấy giá trị sử dụng làm mục đích và thúc đẩy sự phân công lao động xã hội trên cơ sở một thị trường thống nhất. Cùng với sự phát triển của tư bản thương nghiệp, hình thái tiền tệ cũng ngày càng phát triển. Đặc biệt với chức năng của tiền làm phương tiện thanh toán, các hoạt động mua bán được thực hiện dưới hình thức ứng trước và thanh toán có kỳ hạn ngày một nhiều và trở nên phổ biến trong nền kinh tế. Đó là cơ sở sâu xa để ngày càng xác lập mối quan hệ phụ thuộc chặt chẽ của những người sản xuất hàng hoá nhỏ vào thương nhân. Từ chỗ đóng vai trò môi giới giữa những người sản xuất với thị trường, tư bản thương nghiệp ngày càng xâm nhập sâu vào sản xuất và dần dần chi phối toàn bộ sản xuất, bắt sản xuất phục vụ cho mục đích của tư bản. Về mặt lịch sử, đó là cách phổ biến để chuyển các ngành thủ công có tính chất phường hội của công nghiệp thành thị thời phong kiến và các ngành nghề phụ ở nông thôn thành các ngành sản xuất mang tính chất TBCN. Như vậy, qúa trình chuyển hoá từ phương thức kinh doanh của những người sản xuất hàng hoá nhỏ lên phương thức kinh doanh TBCN đã diễn ra với sự tham gia đắc lực của tư bản thương nghiệp. Một nền sản xuất mà mọi thứ từ nguyên liệu tư liệu sản xuất đến sản phẩm tiêu dùng đều đi vào lưu thông, và do đó, phải qua tay tư bản thương nghiệp thực sự là môi trường cho các nhà tư bản công nghiệp ra đời, phát triển và khẳng định một phương thức kinh doanh mới. b- Đối với tư bản cho vay nặng lãi Tư bản tiền tệ hoạt động ở thời kỳ tiền sử CNTB mang hình thái tư bản cho vay nặng lãi. Sự phát triển của tiền tệ làm chức năng phương tiện thanh toán đã trở thành một địa bàn rộng lớn và đặc biệt của tư bản cho vay nặng lãi. Một mặt, mọi đảm phụ bằng tiền phải nộp theo kỳ hạn nhất định, dù đó là địa tô, cống nạp, thuế má... đều phải thanh toán bằng tiền. Mặt khác, do thương nghiệp ngày càng phát triển, sản xuất hàng hoá ngày càng phổ biến, thời gian mua bán và thanh toán ngày càng tách rời nhau thì càng cần thiết có một khối lượng tiền để thanh toán cho những kỳ hạn nhất định. Đó là mảnh đất mầu mỡ để tư bản cho vay nặng lãi phát triển và nó đã tham gia đắc lực vào công việc làm cho những người sản xuất hàng hoá nhỏ ngày càng mắc nợ nhiều hơn, dần dần mất hết những phương tiện để duy trì quá trình tái sản xuất bình thường của họ. Ở nơi nào mà tư liệu sản xuất bị phân tán thì tư bản cho vay nặng lãi tập trung hoá dần dần lại dưới hình thức của cải bằng tiền bằng cách xâm nhập vào các ngành sản xuất dưới dạng cầm cố và làm chủ nợ, làm cho quá trình tái sản xuất của họ ngày càng co hẹp lại, khánh kiệt và tan rã. Nó đóng vai trò như là một chất phân giải đẩy nhanh quá trình, một mặt, tích luỹ tư bản dưới hình thái của cải bằng tiền và mặt khác, tách người lao động ra khỏi tư liệu sản xuất của họ, tập trung họ trong các ngôi nhà lao động của công trường thủ công TBCN. Như vậy, trong quá trình phát triển nền kinh tế hàng hoá, với sự trợ giúp của tư bản thương nghiệp và tư bản cho vay nặng lãi, dựa trên chế độ tín dụng đang ngày càng phổ biến, hình thái kinh doanh một chủ đã có sự chuyển biến về chất từ phương thức kinh doanh xé lẻ ruộng đất và phân tán những tư liệu sản xuất của những người tư hữu nhỏ sang phương thức kinh doanh theo lối TBCN bằng quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất và tư liệu sản xuất vào tay một số ít người. Chế độ tư hữu có được nhờ lao động của bản thân, gắn chặt người lao động cá thể độc lập với những điều kiện lao động của người đó đã dần dần bị thay thế bằng chế độ tư hữu TBCN dựa trên lao động làm thuê. Hình thái kinh doanh một chủ ngày càng phát triển theo những quy luật kinh tế nội tại của nền sản xuất TBCN thì quy mô tích tụ và tập trung tư bản ngày càng lớn. Với mục đích kinh doanh là thu được lợi nhuận ngày càng cao và bị chi phối bởi hai cực cạnh tranh và độc quyền, quá trình trên đã làm cho các tư bản nhỏ lần lượt bị tư bản lớn đánh bại và bị thu hút vào tay những kẻ chiến thắng. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. thị trường thế giới ngày càng mở rộng, quy mô buôn bán và sản xuất đòi hỏi phải tập trung tư bản ngày càng lớn, các nhà tư bản cá biệt không thể tự mình đáp ứng được nữa. Do đó, để có thể đứng vững trong cạnh tranh và đáp ứng được nhu cầu của thị trường, các hình thức kinh doanh chung vốn lần lượt ra đời và phát triển. Hình thái kinh doanh một chủ ngày càng rút khỏi những ngành chủ yếu và lùi dần về những ngành công nghiệp có cấu tạo hữu cơ thấp, các ngành nông nghiệp, dịch vụ buôn bán lẻ, cần ít vốn đầu tư và thu hồi vốn nhanh. 3.2 Hình thái kinh doanh chung vốn: Trong lịch sử hình thái kinh doanh chung và có hai loại hình, đó là: hợp tác xã và công ty chung vốn. a- Hình thái kinh doanh hợp tác xã Đây là hình thái kinh doanh của những người sản xuất hàng hoá nhỏ nhằm chống lại quá trình tan rã và phá sản của họ trước phương thức kinh doanh TBCN. Sự phát triển của chế độ tín dụng đã thúc đẩy những hình thức tự cấp vốn cho nhau chuyển dần thành các hợp tác xã tín dụng, nhằm chống lại sức ép của tư bản cho vay nặng lãi. Tương tự, các hợp tác xã cung tiêu cũng lần lượt ra đời để chống lại sức ép của tư bản thương nghiệp. Từ chỗ thống nhất về vốn liếng, mua bán sản phẩm, dần dần loại hình hợp tác xã xâm nhập vào trong sản xuất hình thành nên hình thái kinh doanh hợp tác xã như là sự thống nhất của quá trình tái sản xuất: từ sản xuất đến lưu thông và huy động vốn. Trên cơ sở góp chung tư liệu sản xuất, vốn liếng và sức lao động, các hợp tác xã tiến hành kinh doanh theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng trong việc hưởng lợi và chịu rủi ro. Tuy nhiên, quy mô hợp tác xã với một nhóm những người sản xuất hàng hoá nhỏ cùng chung vốn làm ăn nên thường bó hẹp trong một hoạt động kinh doanh nhất định; hoạt động của hợp tác xã với tính chất tập thể, tự nguyện lỏng lẻo, ít chấp nhận mạo hiểm vì trách nhiệm pháp lý vô hạn của xã viên, nên ít khi kinh doanh quy mô lớn và đạt được thành công lớn; sự phát triển chủ yếu là đủ chống đỡ sức mạnh cạnh tranh của tư bản, và do đó, luôn có nguy cơ tan vỡ mỗi khi có công việc kinh doanh gặp khó khăn. Vì vậy, hình thái kinh doanh hợp tác xã ngày càng lùi bước dần khỏi các ngành công nghiệp, và chỉ còn trụ được trong tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, đại lý bán buôn và bán lẻ. b- Công ty chung vốn Hình thái kinh doanh công ty chung vốn của các tư bản có ba loại hình phổ biến: công ty dân sự, công ty hợp danh và công ty hợp tư đơn giản. Đặc điểm chung của các loại hình công ty này là góp vốn thiên về thân nhân (đối nhân), trách nhiệm pháp lý vô hạn và cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, đơn giản. Trong ba loại trên, dạng công ty hợp danh là phổ biến hơn cả vì nó hoạt động dưới hình thái công ty thương mại cả về pháp lý và hình thức; loại công ty dân sự thường mang tính chất gia đình cùng quản lý một tài sản (bất động sản hoặc động sản) hay một nhóm những người cùng nghề như nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thầy thuốc... còn loại công ty hợp tư đơn giản chủ yếu dành cho các tầng lớp có vốn (nhưng do quy chế chuyên môn không được phép kinh doanh như thầy tu, quan toà, quý tộc...) góp lại cho một người hay một số người có chuyên môn và đủ tư cách pháp nhân đứng ra kinh doanh. Trong thời kỳ đầu của sự phát triển phương thức sản xuất TBCN khi mà cạnh tranh còn đang thống trị, thì sự ra đời của các loại hình công ty này là một bước tiến của chế độ tín dụng để đứng vững và chiến thắng trong cạnh tranh, cũng như giảm sức ép của tín dụng ngân hàng và các hình thức vay mượn khác. Tuy nhiên, càng về sau, những hình thức này càng ít được ưu chuộng và thưa thớt dần, nhường chỗ cho các hình thức công ty vô danh và công ty trách nhiệm hữu hạn. Sở dĩ các hình thức này ngày càng bị thu hẹp vì trách nhiệm pháp lý không hạn chế trong kinh doanh chung vốn làm cho nó mang tính mạo hiểm quá cao. Do đó, rất khó khăn trong việc huy động những số vốn lớn. Thêm nữa, sự tồn tại ràng buộc của nó hết sức lỏng lẻo dễ bị giải tán bất kỳ lúc nào nếu một người chung vốn muốn rút lui, trong khi đó, về mặt pháp lý gặp nhiều khó khăn để đảm bảo duy trì nó. Tất cả những hạn chế đó làm cho những hình thức này ngày nay có xu hướng thu về những ngành kinh doanh nhỏ trong nông nghiệp, dịch vụ, bán lẻ, đại lý cho các hãng và thường là các nhóm có tính chất gia đình. 3.3 Hình thái công ty cổ phần Sự ra đời và phát triển loại hình công ty cổ phần đánh dấu sự chuyển hướng nền kinh tế từ trạng thái vay mượn chủ yếu qua ngân hàng hoặc chung vốn sang huy động vốn trên thị trường tài chính. Các công ty cổ phần là nguồn cung cấp sản phẩm cho sự phồn vinh của thị trường này. Đổi lại, sự thịnh vượng của thị trường tài chính tạo điều kiện cho các công ty cổ phần sinh sôi nảy nở. Ngay từ thời kỳ phát triển ban đầu của sở giao dịch và thị trường chứng khoán, Ăng -ghen đã nhận định: "Ngày nay, sở giao dịch có một tầm quan trọng lớn hơn nhiều và ngày càng tăng; những sự thay đổi ấy, trong sự phát triển về sau của chúng, có xu thế tích tụ vào tay những nhà giao dịch chứng khoán toàn bộ nền sản xuất,- công nghiệp cũng như nông nghiệp,- và toàn bộ lưu thông - cả những phương tiện giao thông liên lạc cũng như chức năng trao đổi; như vậy, sở giao dịch trở thành người đại biểu nổi bật nhất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Sự mở rộng của thị trường thế giới bằng việc chinh phục các thuộc địa làm cho khối lượng tín dụng được huy động theo phương thức truyền thống ngày càng không đáp ứng đủ so với yêu cầu tăng nhanh về quy mô thương mại và sản xuất. Tình hình đó đã khiến cho các hình thức công ty cổ phần trong thương mại và ngân hàng lần lượt ra đời như là kết quả của sự phát triển tín dụng thương nghiệp và tín dụng ngân hàng. Nhờ đó, nó đã tạo ra cơ sở tín dụng cần thiết cho sự hình thành công ty cổ phần trong các ngành công nghiệp mà trước hết là các ngành cần khối lượng vốn đầu tư rất lớn như chế tạo máy, đường sắt, hoá chất, khai khoáng. Có thể coi, chế độ tín dụng dựa trên sự phát triển hệ thống ngân hàng cổ phần và có sự tiếp sức của các công ty thương mại cổ phần đã duy trì được sự hoạt động hiệu quả của thị trường tài chính và góp phần thúc đẩy các công ty cổ phần trong các ngành công nghiệp ra đời. Hoạt động và phát triển. Do những ưu điểm củan nó, hình thái công ty cổ phần vừa mới ra đời đã lần lượt chiếm lĩnh hết ngày này sang ngành khác từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác. Trải qua thời gián, hình thái công ty cổ phần ngày càng được hoàn thiện, phát triển và đa dạng hoá. Có thể nói công ty cổ phần là một phát minh quan trọng nhất trong lịch sử phát triển các hình thái tổ chức doanh nghiệp kể từ cuộc cách mạng trong công nghiệp của TBCN, chứ không đơn thuần chỉ là sản phẩm thụ động của sự phát triển nền kinh tế thị trường. 3.4 Cấu trúc quản lý và kiểm soát chung CF Đại hội cổ đông Hội đồng quản trị Ban kiểm soát Giám đốc (hoặc Tổng giám đốc) điều hành Phó giám đốc (hoặc giám đốc) điều hành Phó giám đốc (hoặc giám đốc) điều hành Phó giám đốc (hoặc giám đốc) điều hành. Phòng (ban) chuyên môn Phòng (ban) chuyên môn Phòng (ban) chuyên môn Phòng (ban) chuyên môn Phòng (ban) chuyên môn Phòng (ban) chuyên môn II. CÁC ĐẶC ĐIỂM VÀ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC (CFHDNNN) A/ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA CFHDNNN 1. Sự cần thiết phải CFHDNNN Tình trạng hoạt động thiếu hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước. Đây là nguyên nhân quan trọng khiến cho hầu hết các chính phủ đi đến quyết định cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước. Do đâu mà có tình trạng này? Một điều dễ nhận thấy nhất là ngay cả những điều kiện thuận lợi thì hiệu quả của các xí nghiệp của các xí nghiệp quốc doanh cũng chỉ đạt mức thấp hơn nhiều so với mức trung bình của khu vực kinh tế tư nhân. Ở những nước đang phát triển và Đông Âu, các xí nghiệp quốc doanh được gọi là có hiệu quả cũng cần được cân nhắc vì thị trường ở đây có sự sai lệch lớn do giá cả bị điều tiết, không phản ánh đúng tính khan hiếm hay các chi phí cơ hội thực tế. Và những doanh nghiệp này thường có vị trí độc quyền, được Nhà nước bảo hộ và không có sự cạnh tranh với hàng nhập khẩu, mặc dù về quản lý đã được điều hành không có hiệu quả của các doanh nghiệp Nhà nước. + Hệ thống kế hoạch hoá và tài chính cứng nhắc không có tính chất thích ứng với cơ chế thị trường vì được quản lý theo hệ thống hành chính từ trên xuống với nhiều cấp trung gian. Nguồn tài chính được sử dụng hoàn toàn theo kế hoạch được duyệt từ đầu năm, không có sự chuyển đổi linh hoạt nhằm sử dụng hợp lý nguồn vốn và cũng không được chuyển sang cho năm sau. Điều này làm cho các kế hoạch tài chính của doanh nghiệp không có động cơ tiết kiệm, vì vậy không hợp lý hoá được sản xuất và giá thành luôn luôn phải cộng nhiều chi phí so với các doanh nghiệp tư nhân + Tính tự chủ trong quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước bị hạn chế vì nhiếu quy chế liên quan đến quyền sở hữu của Nhà nước, do đó gây ra những yếu tố làm cản trở đến hoạt động có hiệu quả của doanh nghiệp. + Tình trạng độc quyền của các doanh nghiệp Nhà nước trên thị trường được pháp luật của Nhà nước củng cố đã đánh mất những động lực nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này, đưa đến tình trạng xã hội buộc phải chấp nhận tiêu dùng các hàng hoá và dịch vụ do chúng sản xuất ra với chất lượng ít được cải tiến nhưng giá cả ngày càng tăng không hợp lý và nếu không tăng giá thì Nhà nước phải chịu những gánh nặng trợ cấp ngày càng lớn. + Các doanh nghiệp Nhà nước được thành lập nhờ nguồn vốn của Nhà nước không được phép phá sản và đực trợ cấp từ ngân sách hoặc được sử dụng các nguồn vốn nội bộ với lãi suất thấp hoặc được ưu tiên tiếp cận với các nguồn tài chính nước ngoài. Vì vậy, các doanh nghiệp Nhà nước không có các yếu tố kích thích phải nâng cao hiệu quả để tồn tại trong cạnh tranh đối với các doanh nghiệp tư nhân. + Động cơ hoạt động của các doanh ngiệp Nhà nước chỉ nhằm cố gắng tránh né sự thẩm xét của các cơ quan cấp trên trước những sản phẩm và dịch vụ đối với người tiêu dùng cũng như tránh né sự xung đột trong nội bộ, tránh né những sự cải tổ, đổi mới tổ chức quản lý để nâng cao hiệu quả, đảm bảo cho xí nghiệp có điều kiện hoạt động dễ chịu và ổn định. Do đó, mua sắm trang bị ngày càng dư thừa, biên chế ngày càng phình to dẫn đến chi phí quá mức so với nguồn thu. Thâm hụt ngân sách và nợ nước ngoài. Đây cũng là một nguyên nhân quan trọng thúc đẩy các nước phải tiến hành cổ phần hoá vì các khoản trợ cấp ngày càng lớn cho khu vực kinh tế quốc doanh để đảm bảo Nhà nước kiểm soát giá cả sản phẩm hoặc trang trải các chi phí về giá vốn được duy trì thấp để ổn định sản xuất ở một số ngành. Ngoài ra các khoản trợ cấp trực tiếp còn có khoản gián tiếp bị che giấu như ưu tiên vốn và ngoại tệ để nhập khẩu cho các doanh nghiệp Nhà nước với giá cả không phản ánh được tính khan hiếm của chúng. Kết quả tài chính nghèo nàn của các doanh nghiệp Nhà nước làm tăng sự phụ thuộc của chúng vào ngân sách Nhà nước. Thực tế, các nguồn tài chính có thể được Chính phủ huy động và vay nợ để trang trải thâm hụt ngân sách ngày càng suy giảm đã làm bộc lộ nghiêm trọng sự yếu kém của các doanh nghiệp Nhà nước và điều này._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc10009.doc
Tài liệu liên quan