Giải pháp nhằm đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH Nội Thất Đại Dương

Mục lục Lời mở đầu………………………………………………………1 Danh mục bảng số, biểu đồ, mô hình: Mô hình 1: Tiêu thụ sản phẩm………………………………………….5 Mô hình 2: Sơ đồ tổ chức bộ máy của công ty ………………………..24 Mô hình3: Tổ chức bộ máy tiêu thụ sản phẩm của công ty……………33 Mô hình 4: Quy trình đặt hàng…………………………………………34 Mô hình 5: Công tác vận chuyển hàng hóa theo chu trình ……………34 Bảng số 1: Cơ cấu lao động của công ty……………………………….29 Bảng số 2: Trình độ lao động của công ty……………………………..30 Bảng số 3: Chỉ tiêu về vố

doc77 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 13/08/2013 | Lượt xem: 127 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Giải pháp nhằm đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH Nội Thất Đại Dương, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
n……………………………………………..31 Bảng số 4: Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm nội thất nội thất của công ty..36 Bảng số 5: Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty Đại Dương từ 2006 – 2008……………………………………………………………………38 Bảng số 6: Kết quả sản xuất kinh doanh chính…………………………39 Bảng số 7: Kết quả tiêu thụ sản phẩm của công ty trên thị trường trong nước……………………………………………………………………..42 Bảng số 8: Kết quả tiêu thụ sản phẩm nội thất của công ty theo thị trường …………………………………………………………………………..44 Bảng số 9: Doanh thu tiêu thụ sản phẩm theo phương thức tiêu thụ….45 Bảng số 10: Doanh thu tiêu thụ sản phẩm công ty theo dòng sản phẩm……………………………………………………………………..47 Bảng số 11: Doanh thu tiêu thụ sản phẩm của từng quý qua các năm gần đây……………………………………………………………………….49 Bảng số 12: Một số chỉ tiêu về tài chính của công ty TNHH Nội Thất Đại Dương……………………………………………………………………50 Biểu đồ 1: Doanh thu bán hàng của công ty ……………………………39 Biểu đồ 2: Cơ cấu doanh thu tiêu thụ sản phẩm nội thất của công ty theo thị trường………………………………………………………………...44 Biểu đồ 3: Doanh thu tiêu thụ sản phẩm nội thất theo 3 phương thức trong 3 năm gần đây…………………………………………………….45 Biểu đồ 4: Mức tăng tăng doanh thu mặt hàng nội thất văn phòng qua các năm gần đây……………………………………………………………..48 Lời mở đầu Tiêu thụ sản phẩm là một trong những hoạt động cơ bản và quan trọng của doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh. Mặc dù sản xuất là chức năng trực tiếp tạo ra sản phẩm song tiêu thụ lại đóng vai trò là điều kiện tiền đề không thể thiếu được để sản xuất có thể có hiệu quả. Chất lượng của việc tiêu thụ sản phẩm (doanh nghiệp sản xuất thương mại), phục vụ khách hàng (doanh nghiệp dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm…) quyết định hiệu quả hoạt động sản xuất hoặc chất lượng dịch vụ. Đặc biệt là trong cơ chế thị trường hiện nay khi mà mọi doanh nghiệp gắn mình với thị trường thì hoạt động tiêu thụ lại càng có vị trí quan trọng hơn. Đối với các doanh nghiệp sản xuất chỉ có thể và phải bán cái mà thị trường cần chứ không phải bán cái mà doanh nghiệp có. Việc xác định cái mà thị trường cần là một bước trong khâu tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Nhận thức được tầm quan trọng như vậy của tiêu thụ nên nhiều doanh nghiệp hiện nay đã không ngừng chú trọng đến khâu tiêu thụ. Tuy nhiên việc áp dụng phương pháp nào để thúc đẩy công tác tiêu thụ lại hoàn toàn không giống nhau ở các doanh nghiệp. Nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: Đặc điểm của sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất, các điều kiện hiện có của doanh nghiệp…Doanh nghiệp phải biết lựa chọn các biện pháp phù hợp để không ngừng nâng cao hiệu quả của hoạt động tiêu thụ. Có như vậy thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp mới nâng cao và giúp doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu đề ra. Sau một thời gian thực tập tại công ty TNHH Nội Thất Đại Dương, em đã chọn đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp của em như sau: “Giải pháp nhằm đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm tại công ty TNHH Nội Thất Đại Dương”. Chuyên đề của em gồm các phần sau đây: Chương I: Vai trò của việc tiêu thụ sản phẩm đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Chương II: Thực trạng việc tiêu thụ sản phẩm của công ty TNHH Nội Thất Đại Dương. Chương III: Phương hướng và biện pháp đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty TNHH Nội Thất Đại Dương. Trong quá trình thực hiện em đã nhận được sự giúp đỡ hướng dẫn tận tình của giảng viên TS Nguyễn Thị Kim Dung. Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn giúp đỡ quý báu của Cô. Do trình độ có hạn và đây là một vấn đề khá rộng nên em không khỏi mắc những sai sót. Sau gần 4 tháng thực tập tại Công ty TNHH Nội Thất Đại Dương em cũng đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ quý công ty. Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn đến quý công ty. Em xin chân thành cảm ơn. Chương I: Vai trò của việc tiêu thụ sản phẩm đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. I. Khái niệm và vai trò của tiêu thụ sản phẩm. 1. Khái niệm tiêu thụ sản phẩm: Sản phẩm hàng hóa được công ty sản xuất ra là để bán nhằm thực hiện mục tiêu đã định của riêng mỗi doanh nghiệp. Do đó tiêu thụ sản phẩm là một trong những nội dung quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Qúa trình tiêu thụ sản phẩm gắn liền với sự thanh toán giữa người mua và người bán và sự chuyển quyền sở hữu hàng hóa. Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự mình quyết định ba vấn đề trung tâm ( sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào) cho nên việc tiêu thụ sản phẩm cần được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. - Khái niệm tiêu thụ sản phẩm theo nghĩa hẹp: “Tiêu thụ (bán hàng) hàng hóa, dịch vụ là việc chuyển quyền sở hữu sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đã thực hiện cho khách hàng đồng thời thu được tiền hàng hóa hoặc được quyền thu tiền bán hàng”1. - Khái niệm tiêu thụ sản phẩm theo nghĩa rộng: “Tiêu thụ sản phẩm là một quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu từ việc nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu khách hàng, đặt hàng và tổ chức sản xuất đến thực hiện các nghiệp vụ tiêu thụ, xúc tiến bán hàng… nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất.”2 Các khâu này được thực hiện trực tiếp và gián tiếp ở tất cả các cấp, các phần tử trong hệ thống doanh nghiệp, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển hóa hình thái giá trị của hàng hóa từ hàng sang tiền đạt hiệu quả cao nhất. Hoạt động tiêu thụ sản phẩm là hoạt động sử dụng tổng thể các biện pháp về tổ chức, kinh tế và kế hoạch nhằm thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tiêu thụ sản phẩm như nắm nhu cầu thị trường, tổ chức sản xuất, tiếp nhận sản phẩm, chuẩn bị hàng hóa và xuất bán theo yêu cầu của khách hàng với chi phí thấp nhất. Đối với các doanh nghiệp, việc chuẩn bị hàng hóa để bán cho khách hàng là một hoạt động trong khâu tiêu thụ hàng hóa. Các nghiệp vụ trong khâu chuẩn bị hàng bán bao gồm: Tiếp nhận, phân loại, bao gói, lên nhãn hiệu sản phẩm, xếp hàng ở kho, bảo quản và chuẩn bị đồng bộ hàng để xuất bán và vận chuyển hàng theo yêu cầu của khách hàng. Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm là việc tăng cường tiêu thụ về mặt hàng, mở rộng phạm vi thị trường, tăng số khách hàng, tăng doanh số bán nhằm đạt được mục tiêu doanh nghiệp đã đặt ra. Mục tiêu của quá trình tiêu thụ sản phẩm bao gồm cả mục tiêu số lượng: Thị phần, doanh số, đa dạng hóa doanh số, lợi nhuận và mục tiêu chất lượng: Cải thiện hiệu quả của doanh nghiệp và cải thiện dịch vụ khách hàng. Tiêu thụ sản phẩm không chỉ là nhiệm vụ của riêng bộ phận tiêu thụ sản phẩm mà là nhiệm vụ chung của toàn bộ doanh nghiệp. Tiêu thụ sản phẩm cần phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản là đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng về các sản phẩm, bảo đảm tính liên tục trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, tiết kiệm và nâng cao trách nhiệm của các bên trong quan hệ thương mại. Mô hình 1: Tiêu thụ sản phẩm Doanh nghiệp sản xuất và nhập khẩu Bán buôn Bán lẻ Người tiêu dùng cuối cùng Mội giới Đại lý 2. Vai trò của tiêu thụ sản phẩm: 2.1. Vai trò của tiêu thụ sản phẩm đối với nền kinh tế: Đối với nền kinh tế sản xuất hàng hoá, tiêu thụ sản phẩm có vai trò hết sức quan trọng, nó được nhìn nhận trên hai bình diện: Bình diện vĩ mô (tức là đối với tổng thể nền kinh tế ) và bình diện vi mô (đối với doanh nghiệp). Về phương diện xã hội, tiêu thụ sản phẩm có vai trò trong việc cân đối giữa cung và cầu. Nền kinh tế quốc dân là một tổng thể thống nhất với những cân bằng, những tương quan tỷ lệ nhất định. Tiêu thụ sản phẩm có tác dụng cân đối cung cầu. Khi sản phẩm sản xuất được tiêu thụ tức là sản xuất đang diễn ra một cách bình thường trôi chảy, tránh được sự mất cân đối giữ được bình ổn trong xã hội và phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Hoạt động tiêu thụ sản phẩm càng được tổ chức tốt càng thúc đẩy nhanh quá trình phân phối lưu thông hàng hoá, tái sản xuất xã hội càng tiến hành nhanh chóng, sản xuất càng phát triển nhanh cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Tiêu thụ sản phẩm giúp các đơn vị xác định được phương hướng và bước đi của kế hoạch sản xuất cho giai đoạn tiếp theo. Thông qua tiêu thụ sản phẩm có thể dự đoán được nhu cầu tiêu dùng của xã hội nói chung và từng khu vực, từng loại mặt hàng nói riêng. Dựa trên kết quả đó, các doanh nghiệp sẽ xây dựng được các chiến lược, kế hoạch phù hợp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình sao cho hiệu quả nhất. 2.2. Vai trò của tiêu thụ sản phẩm đối với doanh nghiệp: Tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò cực kỳ quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp đó. Khi sản phẩm của doanh nghiệp được tiêu thụ tức là khi đó được người tiêu dùng chấp nhận về chất lượng, sự thích ứng nhu cầu và sự hoàn thiện của các hoạt động dịch vụ. Khi đó người tiêu dùng sẵn sàng trả tiền cho sản phẩm lựa chọn của mình. Nhờ vậy mà doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển. Sức tiêu thụ của sản phẩm thể hiện uy tín của doanh nghiệp, chất lượng sự thích ứng nhu cầu, sự hoàn thiện của các dịch vụ. Nói cách khác tiêu thụ sản phẩm phản ánh rõ nét những điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp. Công tác tiêu thụ sản phẩm là cầu nối gắn người sản xuất với người tiêu dùng, thông qua tiêu thụ, người sản xuất hiểu rõ nhu cầu của khách hàng, nhu cầu hiện tại cũng như xu hướng trong tương lai. Từ đó đưa ra những đối sách thích hợp đáp ứng tốt nhu cầu. Cũng thông qua tiêu thụ sản phẩm, người tiêu dùng biết đến sản phẩm của doanh nghiệp, về công dụng, về hình thức,mẫu mã và uy tín của sản phẩm trên thị trường. Từ đó tìm sự lựa chọn thích hợp nhất. Như vậy, người sản xuất và người tiêu dùng càng gắn kết với nhau hơn nhờ tiêu thụ sản phẩm. Hoạt động tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa quyết định đối với các hoạt động nghiệp vụ khác của doanh nghiệp chẳng hạn như đầu tư mua sắm thiết bị, công nghệ, tài sản, tổ chức sản xuất, lưu thông và thực hiện dịch vụ phục vụ khách hàng. Nếu sản phẩm sản xuất ra không tiêu thụ được sẽ kéo theo hàng loại các hoạt động nói trên bị ngưng trệ vì không có tiền để thực hiện, lúc đó tái sản xuất không diễn ra. Tiêu thụ sản phẩm có tác động tích cực đến quá trình tổ chức sản xuất áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ tiên tiến, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Dựa vào phân tích đánh giá kết quả tiêu thụ mà doanh nghiệp đề ra được những phương hướng cách thức tổ chức sản xuất mới, áp dụng khoa học kỹ thuật để đáp ứng nhu cầu thường xuyên biến đổi. Trong cơ chế thị trường, tiêu thụ sản phẩm không phải đơn thuần là việc đem bán các sản phẩm doanh nghiệp sản xuất ra mà phải bán những gì xã hội cần với giá cả thị trường. Muốn vậy, doanh nghiệp phải luôn luôn bảo đảm chất lượng sản phẩm, chủng loại phong phú đa dạng, giá cả hợp lý. Từ đó buộc các doanh nghiệp phải nghiên cứu nhu cầu thị trường, cải tiến công nghệ sản xuất, tăng cường đầu tư chiều sâu, áp dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất. Thực hiện tiết kiệm trong các khâu để hạ giá thành sản phẩm. Trên ý nghĩa như vậy, tiêu thụ được coi là một biện pháp để điều tiết sản xuất, định hướng cho sản xuất, là tiêu chuẩn để đánh giá quá trình tổ chức sản xuất, cải tiến công nghệ. Kết quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm được dùng làm tiêu thức để so sánh doanh nghiệp với nhau. Sức tiêu thụ sản phẩm thể hiện vị trí, quyền lực, uy tín của doanh nghiệp trên thương trường. Do vậy, người ta thường so sánh các doanh nghiệp bằng kết quả tiêu thụ, đó là giá trị tiêu thụ thực hiện được. Thông qua tổ chức tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp thu được lợi nhuận là nguồn vốn tự có của doanh nghiệp, tăng thêm khả năng tận dụng các thời cơ hấp dẫn trên thị trường và cũng là nguồn hình thành các quỹ của doanh nghiệp dùng để kích thích lợi ích các cán bộ công nhân viên họ quan tâm gắn bó với hoạt động của doanh nghiệp. Cuối cùng tiêu thụ sản phẩm phản ánh tính đúng đắn của mục tiêu và chiến lược kinh doanh. Nó là biểu hiện chính xác, cụ thể nhất sự thành công hay thất bại của quá trình thực hiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 2.3 Vai trò tiêu thụ sản phẩm đối với quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp Để tiếp tục sản xuất kinh doanh trên thương trường các doanh nghiệp luôn luôn phải tìm cách để tái sản xuất và mở rộng sản xuất kinh doanh. Tái sản xuất kinh doanh là việc doanh nghiệp tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh ở chu kỳ sau như ở chu kỳ trước. Mở rộng sản xuất kinh doanh là việc doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh ở chu kỳ sau lớn hơn chu kỳ trước. Để có thể tái sản xuất kinh doanh và mở rộng sản xuất kinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp phải tiêu thụ được sản phẩm do mình sản xuất ra và thu được tiền đảm bảo bù đắp chi phí bỏ ra, có lợi nhuận từ đó doanh nghiệp có đủ nguồn lực để tiếp tục đầu tư cho chu kỳ sản xuất sau. Nếu không tiêu thụ được sản phẩm sẽ gây ứ đọng vốn, tăng các chi phí bảo quản dự trữ do tồn kho và các chi phí khác, gây đình trệ hoạt động sản xuất kinh doanh và doanh nghiệp sẽ không thực hiện được tái sản xuất kinh doanh. 3. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả tiêu thụ sản phẩm Đối với bất kỳ hoạt động nào, sau khi thực hiện cũng phải phân tích và đánh giá hiệu quả của nó để rút ra bài học kinh nghiệm cho lần sau trong kinh doanh, doanh nghiệp phải phân tích đánh giá một cách toàn diện, kịp thời phát hiện những điểm không phù hợp hay chưa thích ứng tìm ra nguyên nhân của sự thành công hay thất bại và từ đó rút ra kinh nghiệm và điều chỉnh lại. Không những sau một quá trình tiêu thụ mà trong khi thực hiện doanh nghiệp cũng phải tổ chức thu thập thông tin kết quả tiêu thụ, phân tích kết quả và rút ra kết luận. Hiệu quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm thể hiện thông qua các chỉ tiêu phản ánh tình hình bán hàng của doanh nghiệp đó có thể là chỉ tiêu định lượng như doanh thu, chi phí, lợi nhuận hay chỉ tiêu định tính như: Số tăng, giảm tuyệt đối và tương đối kỳ thực hiện so với kỳ kế hoạch. Khi đánh giá kết quả hoạt động tiêu thụ, người ta có thể sử dụng thước đo hiện vật hoặc thước đo giá trị. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp: 3.1. Các chỉ tiêu hiện vật đánh giá kết quả tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp: Chỉ tiêu số lượng sản phẩm tiêu thụ: Q = i Chỉ tiêu đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch: Số lượng tiêu thụ theo thực tế * 100 Số lượng tiêu thụ theo kế hoạch Chỉ tiêu đánh giá sự phối hợp nhịp nhàng giữa sản xuất và tiêu thụ: * 100 Sản lượng tiêu thụ Sản lượng sản xuất 3.2. Chỉ tiêu giá trị: Doanh thu tiêu thụ sản phẩm = qi: Số lượng sản phẩm loại i tiêu thụ được pi: Giá bán sản phẩm nội thất loại i Doanh thu tiêu thụ theo từng dòng sản phẩm Q = qi * pi Doanh thu tiêu thụ trực tiếp / đại lý. Doanh thu tiêu thụ đại lý = (tổng số sản phẩm loại I bán theo đại lý * giá bán đại lý sản phẩm loại i) Doanh thu tiêu thụ trực tiếp = (số lượng sản phẩm nội thất loại I bán trực tiếp * giá bán đại lý sản phẩm loại i) Chi phí bán hàng Lãi gộp Kết quả tài chính = Tổng doanh thu – Tổng chi phí Li= [Qi* pi – (Zi + Fi + Ti)] Li: Lợi nhuận hay lỗ từ hoạt động tiêu thụ sản phẩm loại i. Qi: Khối lượng sản phẩm loại i tiêu thụ được. pi: Giá bán sản phẩm loại i. Zi: Tổng giá thành tại xưởng sản phẩm loại i. Fi: Tổng chi phí lưu thông sản phẩm loại i bán ra. Ti: Tổng mức thuế tiêu thụ của sản phẩm loại i. 3.3. Chỉ tiêu hiệu quả: Mức doanh lợi của vốn kinh doanh (%). Lợi nhuận P1 = *100 Vốn kinh doanh Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng vốn kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Mức doanh lợi của doanh thu: Lợi nhuận P2 = Tổng doanh thu Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng chi phí kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. 3.4. Chỉ tiêu định tính: Chỉ tiêu đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng: Thông qua các ý kiến phản hồi, đóng góp và nhận xét của khách hàng đối với doanh nghiệp, bộ phận hay cá nhân đại diện bán hàng về sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp để từ đó có khả năng làm hài lòng khách hàng hơn. Chỉ tiêu đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng: Thông qua tình hình hoạt động của các kênh tiêu thụ, tình hình hoàn thành kế hoạch, kết quả hỗ trợ xúc tiến bán hàng… Từ đó phân tích khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường của doanh nghiệp. Uy tín và thương hiệu : Chỉ tiêu này được xem là tài sản vô hình của doanh nghiệp. Nếu sản phẩm của doanh nghiệp đã tạo được niềm tin của khách hàng, doanh nghiệp có thể tạo dựng được thương hiệu của mình, nâng cao uy tín đối với sản phẩm của doanh nghiệp, công tác tiêu thụ càng đạt hiệu quả cao. II. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc tiêu thụ sản phẩm của công ty. 1. Nhân tố khách quan 1.1. Khách hàng: Khách hàng là đối tượng mà doanh nghiệp phục vụ là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Vì quy mô hay số lượng của khách hàng tạo nên quy mô của thị trường. Khách hàng với các yếu tố nhu cầu, các yếu tố tâm lý, tập quán và thị hiếu. Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều hướng tới thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Thông thường, để theo dõi thông tin về khách hàng, doanh nghiệp thường tập trung vào 5 loại thị trường khách hàng như sau: Thị trường người tiêu dùng: Là các cá nhân và hộ tiêu dùng mua hàng hoá và dịch vụ cho mục đích cá nhân. Thị trường khách hàng là doanh nghiệp: Là các tổ chức và doanh nghiệp mua hàng hoá và dịch vụ để gia công chế biến thêm hoặc để sử dụng vào một quá trình sản xuất kinh doanh khác. Thị trường buôn bán trung gian: Là các tổ chức cá nhân mua hàng hóa dịch vụ cho mục đích bán lại để kiếm lời. Thị trường các cơ quan và tổ chức của Đảng và Nhà nước: Mua hàng hoá dịch vụ cho mục đích sử dụng trong lĩnh vực quản lý, hoạt động công cộng hoặc để chuyển giao tới các tổ chức cá nhân khác đang có nhu cầu sử dụng. Thị trường quốc tế: Khách hàng nước ngoài bao gồm người tiêu dùng, người sản xuất, người mua trung gian và chính phủ của các quốc gia khác. Nhu cầu và các yếu tố tác động đến nhu cầu của khách hàng trên các thị trường là không giống nhau. Do đó tính chất ảnh hưởng đến công tác tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp cũng khác, bởi vậy chúng cần được nghiên cứu riêng tuỳ vào mức độ tham gia vào các thị trường của mỗi doanh nghiệp để công tác tiêu thụ sản phẩm hàng được thực hiện. 1.2. Môi trường: Trong hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp thì có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm và có thể có nhiều cách khác nhau để phân loại các yếu tố này. Bất kỳ doanh nghiệp nào đều hoạt động trong một môi trường nhất định gọi là môi trường kinh doanh. Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp là tập hợp tất cả các yếu tố bên trong và bên ngoài tác động trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Người ta chia các nhân tố ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp thành các nhóm yếu tố sau: Thứ nhất: Yếu tố kinh tế đây là nhân tố ảnh hưởng mạnh đến kết quả tiêu thụ sản phẩm. Các nhân tố về mặt kinh tế có vai trò rất quan trọng, quyết định đến việc hình thành và hoàn thiện môi trường kinh doanh, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Các nhân tố kinh tế gồm có: - Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định sẽ làm cho thu nhập của tầng lớp dân cư tăng dẫn đến sức mua hàng hóa và dịch vụ tăng lên. Đây là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng tạo nên sự thành công trong kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao và ổn định kéo theo hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đạt hiệu quả cao, khả năng tích tụ và tập trung sản xuất cao. - Tỷ giá hối đoái: Đây là nhân tố tác động nhanh chóng và sâu sắc với từng quốc gia và từng doanh nghiệp nhất là trong điều kiện nền kinh tế mở cửa khi đồng nội tệ lên giá sẽ khuyến khích nhập khẩu và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước sẽ giảm trên thị trường nội địa. Các doanh nghiệp trong nước mất dần cơ hội mở rộng thị trường, phát triển sản xuất kinh doanh. Ngược lại, khi đồng nội tệ giảm giá dẫn đến xuất khẩu tăng cơ hội sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước tăng, khả năng cạnh tranh cao hơn ở thị trường trong nước và quốc tế bởi khi đó giá bán hàng hóa trong nước giảm hơn so với đối thủ cạnh tranh nước ngoài. - Lãi suất cho vay của ngân hàng: Nếu lãi suất cho vay cao dẫn đến chi phí kinh doanh của doanh nghiệp cao, điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhất là khi so với doanh nghiệp có tiềm lực vốn sở hữu mạnh. - Lạm phát: Lạm phát cao các doanh nghiệp sẽ không đầu tư vào sản xuất kinh doanh đặc biệt là đầu tư tái sản xuất mở rộng và đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất của doanh nghiệp vì các doanh nghiệp sợ không đảm bảo về mặt hiện vật các tài sản, không có khả năng thu hồi vốn sản xuất hơn nữa, rủi ro kinh doanh khi xẩy ra lạm phát rất lớn. - Các chính sách kinh tế của nhà nước: Các chính sách phát triển kinh tế của nhà nước có tác dụng cản trở hoặc ủng hộ lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Có khi một chính sách kinh tế của nhà nước tạo cơ hội đối với doanh nghiệp này nhưng làm mất cơ hội cho doanh nghiệp khác Thứ hai: Yếu tố khoa học công nghệ: Các yếu tố kỹ thuật công nghệ quyết định và chi phối phần công nghệ của doanh nghiệp. Tác động đến kỹ thuật, công nghệ của doanh nghiệp gồm có: Trình độ hiện có trang thiết bị của doanh nghiệp, cơ sở vật chất như thế nào? Mức đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ. Khả năng áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ Thứ ba: Yếu tố văn hóa xã hội: Văn hóa xã hội tạo ra tập quán và thói quen tiêu dùng khác nhau với mỗi khách hàng khách nhau. Sự ảnh hưởng này do các yếu tố : Xu hướng tiêu dùng, sở thích tiêu dùng, tôn giáo, tính linh hoạt của người tiêu dùng… Thứ tư: Các nhân tố thuộc về chính trị pháp luật: Một thể chế chính trị, một hệ thống pháp luật chặt chẽ, rõ ràng, mở rộng và ổn định sẽ làm cơ sở cho sự bảo đảm điều kiện thuận lợi và bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh lành mạnh, đạt hiệu quả cao cho doanh nghiệp và xã hội. Thể hiện rõ nhất là các chính sách bảo hộ mậu dịch tự do, các chính sách tài chính, những quan điểm trong lĩnh vực nhập khẩu, các chương trình quốc gia, chế độ tiền lương, trợ cấp, phụ cấp cho người lao động... Các nhân tố này đều ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Thứ năm: Các yếu tố tự nhiên: Các nhân tố tự nhiên có thể tạo ra các thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các nhân tố tự nhiên bao gồm tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý... Vị trí địa lý thuận lợi sẽ tạo điều kiện khuyếch trương sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ giảm thiểu các chi phí phục vụ bán hàng, giới thiệu sản phẩm. Tài nguyên thiên nhiên phong phú tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động trong cung ứng nguyên vật liệu đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh, đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh. 1.3. Các đối thủ cạnh tranh: Số lượng các doanh nghiệp trong ngành và các đối thủ ngang sức tác động rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có quy mô lớn, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ cao hơn các đối thủ khác trong ngành. Càng nhiều doanh nghiệp cạnh tranh trong ngành thì cơ hội đến với từng doanh nghiệp càng ít, thị trường phân chia nhỏ hơn, khắt khe hơn dẫn đến lợi nhuận của từng doanh nghiệp cũng nhỏ đi. Do vậy, việc nghiên cứu đối thủ cạnh tranh là việc cần thiết để giữ vững thị trường tiêu thụ sản phẩm của mỗi doanh nghiệp. 2. Nhân tố chủ quan: 2.1. Mạng lưới tiêu thụ và bộ máy tổ chức tiêu thụ: 2.1.1.Công tác tổ chức bán hàng của doanh nghiệp cũng là nhân tố quan trọng thúc đẩy kết quả tiêu thụ sản phẩm của công ty cao hay thấp. Công tác tổ chức bán hàng gồm nhiều mặt: Hình thức bán hàng: Một doanh nghiệp nếu kết hợp tổng hợp các hình thức: Bán buôn, bán lẻ tại kho, tại cửa hàng giới thiệu sản phẩm, thông qua các đại lý... tất nhiên sẽ tiêu thụ được nhiều sản phẩm hơn một doanh nghiệp chỉ áp dụng đơn thuần một hình thức bán hàng nào đó. Để mở rộng và chiếm lĩnh thị trường các doanh nghiệp còn tổ chức mạng lưới các đại lý phân phối sản phẩm. Nếu các đại lý này được mở rộng và hoạt động có hiệu quả sẽ nâng cao doanh thu cho doanh nghiệp, còn nếu thu hẹp hoặc thiếu vắng các đại lý hoặc các đại lý hoạt động kém hiệu quả sẽ làm giảm sút doanh thu tiêu thụ sản phẩm. Tổ chức thanh toán: Khách hàng sẽ cảm thấy thoải mái hơn khi áp dụng nhiều phương thức thanh toán khác nhau như: Thanh toán bằng tiền mặt, thanh toán chậm, thanh toán ngay đặc biệt hiện nay là hình thức thanh toán bằng thẻ ... và như vậy, khách hàng có thể lựa chọn cho mình phương thức thanh toán tiện lợi nhất, hiệu quả nhất. Để thu hút đông đảo khách hàng đến với doanh nghiệp thì doanh nghiệp nên áp dụng nhiều hình thức thanh toán đem lại sự thuận tiện cho khách hàng, làm đòn bẩy để kích thích tiêu thụ sản phẩm. Dịch vụ kèm theo sau khi bán: Để cho khách hàng được thuận lợi và cũng là tăng thêm sức cạnh tranh trên thị trường, trong công tác tiêu thụ sản phẩm, các doanh nghiệp còn tổ chức các dịch vụ kèm theo khi bán như: Dịch vụ vận chuyển, bảo quản, lắp ráp, hiệu chỉnh sản phẩm và có bảo hành, sửa chữa.... Nếu doanh nghiệp làm tốt công tác này sẽ làm cho khách hàng cảm thấy thuận lợi, yên tâm, thoải mái hơn khi sử dụng sản phẩm có uy tín của doanh nghiệp. Nhờ vậy mà khối lượng sản phẩm tiêu thụ sẽ tăng lên. 2.1.2. Bộ máy tổ chức tiêu thụ: Sự hoàn hảo của bộ máy tổ chức, tính hiệu quả của một hệ thống không chỉ là tổng của kết quả thực hiện của các bộ phận, chức năng, nghiệp vụ được xem xét riêng biệt mà nó là hàm số của những tương tác giữa chúng. Một doanh nghiệp muốn đạt được mục tiêu của mình thì đồng thời phải đạt được một trình độ tổ chức quản lý tương ứng. Khả năng tổ chức, quản lý doanh nghiệp dựa trên quan điểm tổng hợp, bao quát tập trung và những mối quan hệ tương tác cả các bộ phận tạo thành tổng thể, tạo nên sức mạnh thực sự cho doanh nghiệp. 2.2. Giá bán sản phẩm: Việc tiêu thụ sản phẩm chịu tác động rất lớn của nhân tố giá cả sản phẩm về nguyên tắc giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa và giá cả xoay quanh giá trị hàng hóa, theo cơ chế thị trường hiện nay giá cả được hình thành tự phát trên thị trường theo sự thoả thuận giữa người mua và người bán. Do đó, doanh nghiệp hoàn toàn có thể sử dụng giá cả như một công cụ sắc bén để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm. Nếu doanh nghiệp đưa ra một mức giá phù hợp với chất lượng sản phẩm được đông đảo người tiêu dùng chấp nhận, doanh nghiệp sẽ dễ dàng tiêu thụ sản phẩm của mình. Ngược lại, nếu định giá quá cao, người tiêu dùng không chấp nhận thì doanh nghiệp chỉ có thể ngồi nhìn sản phẩm chất đống trong kho mà không tiêu thụ được. Mặt khác, nếu doanh nghiệp quản lý kinh doanh tốt làm cho giá thành sản phẩm thấp doanh nghiệp có thể bán hàng với giá thấp hơn mặt bằng giá của các sản phẩm cùng loại trên thị trường. Đây là một lợi thế trong cạnh tranh giúp cho doanh nghiệp có thể thu hút được cả khách hàng của các đối thủ cạnh tranh. Từ đó dẫn đến thành công của doanh nghiệp trên thị trường. Đối với thị trường có sức mua có hạn, trình độ tiêu thụ ở mức độ thấp thì giá cả có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiêu thụ sản phẩm. Với mức giá chỉ thấp hơn một chút đã có thể tạo ra một sức tiêu thụ lớn nhưng với mức giá chỉ nhỉnh hơn đã có thể làm sức tiêu thụ giảm đi rất nhiều. Điều này dễ dàng nhận thấy ở thị trường nông thôn, miền núi, nơi có mức tiêu thụ thấp, hay nói rộng ra là thị trường của những nước chậm phát triển. Điều này được chứng minh rõ nét nhất là sự chiếm lĩnh của hàng Trung Quốc trên thị trường nước ta hiện nay. 2.3. Chất lượng sản phẩm: Chất lượng sản phẩm là một yếu tố quan trọng thúc đẩy hoặc kìm hãm hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Trong nền kinh tế thị trường chất lượng sản phẩm là một vũ khí cạnh tranh sắc bén có thể dễ dàng đè bẹp các đối thủ cạnh tranh cùng ngành. Vì vậy, các chương trình quảng cáo khi nói về sản phẩm của công ty, nhiều sản phẩm đưa tiêu chuẩn chất lượng lên hàng đầu: “Chất lượng tốt nhất”, “chất lượng vàng”, “chất lượng không biên giới”... Chất lượng sản phẩm tốt không chỉ thu hút được khách hàng làm tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ mà còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp nâng cao uy tín cho doanh nghiệp, đồng thời có thể nâng cao giá bán sản phẩm một cách hợp lý mà vẫn thu hút được khách hàng. Ngược lại, chất lượng sản phẩm thấp thì việc tiêu thụ sẽ gặp khó khăn, nếu chất lượng sản phẩm quá thấp thì ngay cả khi bán giá rẻ vẫn không được người tiêu dùng chấp nhận. Đặc biệt trong ngành nội thất thì chất lượng sản phẩm có ảnh hưởng rất lớn đến khối lượng sản phẩm tiêu thụ. Việc bảo đảm chất lượng lâu dài với phương châm “Trước sau như một” còn có ý nghĩa là lòng tin của khách hàng đối với doanh nghiệp là uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng. Chất lượng sản phẩm tốt sẽ như sợi dây vô hình thắt chặt khách hàng với doanh nghiệp, tạo đà cho hoạt động tiêu thụ diễn ra thuận lợi. 2.4. Tiềm lực vô hình của doanh nghiệp Tiềm lực vô hình của doanh nghiệp trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm thể hiện thông qua khả năng bán hàng gián tiếp của doanh nghiệp. Tiềm lực vô hình không tự nhiên mà có. Tuy nó có thể được hình thành một cách tự nhiên nhưng nhìn chung nó cần được tạo dựng một cách có ý thức và thông qua mục tiêu và chiến lược cụ thể. Tiềm lực vô hình của doanh nghiệp bao gồm: Hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường tạo ra sự quan tâm của khách hàng đến sản phẩm của doanh nghiệp. Điều này cho phép doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm dễ dàng hơn. Đối với sản phẩm nội thất ngoài việc đảm bảo mẫu mã đẹp và hiện đại phù hợp với nhiều đối tượng khách hàng còn phải đảm bảo chất lượng tốt. Mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu sản phẩm. Uy tín và mối quan hệ xã hội của lãnh đạo doanh nghiệp. 2.5. Tiềm lực của doanh nghiệp: 2.5.1. Tiềm lực tài chính của doanh nghiệp: Là yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua khối lượng nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh, khả năng phân phối và quản lý nguồn vốn có hiệu quả. Trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm, một doanh nghiệp có nguồn vốn lớn và có khả năng đảm bảo một khoản ngân sách cho hoạt động tiêu thụ sản phẩm phù hợp sẽ tạo cho doanh nghiệp một sức mạnh để đạt được những mục tiêu nhất định. 2.5.2. Tiềm lực con người của doanh nghiệp Tiềm lực con người là một trong những yếu tố đảm bảo sự thành công trong kinh doanh. Tiềm lực con người của doanh nghi._.ệp thể hiện khả năng ở tất cả cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp tạo thành sức mạnh tinh thần của doanh nghiệp. Tài năng của Ban lãnh đạo, sự nháy bén linh hoạt của đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác tiêu thụ sẽ tạo ra những môi trường lớn, khả năng tiêu thụ nhiều sản phẩm hơn. Đặc biệt là kiến thức về thị trường , về sản phẩm và khả năng nhận biết sự biến động nhu cầu thị trường, thị hiếu người tiêu dùng...của ban lãnh đạo cũng như đội ngũ cán bộ làm công tác tiêu thụ sản phẩm. 2.6. Định hướng sản xuất: Doanh nghiệp sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, vào thời điểm nào, số lượng là bao nhiêu để thỏa mãn được tối đa nhu cầu của khách hàng. Định hướng sản xuất của doanh nghiệp cần phải được sửa đổi linh hoạt cho phù hợp với nhu cầu thị trường. Công tác nghiên cứu thị trường “đầu vào” và “đầu ra” là căn cứ để xác định định hướng sản xuất là nguyên nhân thành công của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong thị trường biến động như hiện nay. 2.7. Trình độ công nghệ và khả năng sản xuất của doanh nghiệp: Trình độ công nghệ càng cao, quá trình sản xuất diễn ra liên tục ổn định giúp hoạt động tiêu thụ sản phẩm diễn ra nhịp nhàng, tránh được tình trạng thiếu sản phẩm cung cấp cho khách hàng, đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách kịp thời, đầy đủ, đảm bảo chất lượng sản phẩm. Chương II: Thực trạng việc tiêu thụ sản phẩm của Công ty TNHH Nội Thất Đại Dương giai đoạn từ năm 2006 - 2008 I. Khái quát về công ty TNHH Nội Thất Đại Dương 1. Quá trình hình thành và phát triển 1.1. Tên công ty: Công ty TNHH NỘI THẤT Đại Dương Tên giao dịch:OCEAN FURNITURE COMPANY LIMITED Tên viết tắt: OCEANCO.,LTD 1.2. Địa chỉ trụ sở chính: nhà 9, khu tập thể công an Thành Phố Hà Nội, đường Giang Văn Minh. phường Đội Cấn. Quận Ba Đình. Thành phố Hà Nội. Điện thoại: 0913317937 fax: 04 37648887 Website: noithatdaiduong@vnn.vn 1.3. Ngành nghề kinh doanh: - Môi giới thương mại - Kinh doanh vật liệu, đồ dùng trang trí nội thất, hàng thủ công mỹ nghệ. - Kinh doanh thiết bị và máy văn phòng, thiết bị trường học, văn phòng phẩm. - Mua bán và sản xuất đồ gỗ (trừ các loại gỗ nhà nước cấm). - Kinh doanh các sản phẩm cơ khí tiêu dùng. - Kinh doanh đồ điện gia dụng, điện tử, điện lạnh, tin học. - Đại lý mua, bán, ký gửi hàng hoá. - Thiết kế mặt bằng quy hoạch xây dựng. - Thiết kế kiến trúc công trình. - Thiết kế nội, ngoại thất công trình. - Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi. - San lấp mặt bằng, thi công nền móng công trình, hạ tầng kỹ thuật. - Sản xuất, gia công kết cấu thép bê tông. - Buôn bán vật tư, máy móc, thiết bị nghành công nghiệp, giao thông, xây dựng. - Đại lý cung cấp vật tư máy móc và dịch vụ bưu chính viễn thông. - Kinh doanh bất động sản. - Kinh doanh nhà hàng, khách sạn(không bao gồm kinh doanh phòng hát, karaoke, quán bar, vũ trường). - Lữ hành nội địa. - Quảng cáo thương mại. - Dịch vụ kỹ thuật. lắp đặt sửa chữa bảo dưỡng bảo trì các sản phẩm công ty kinh doanh. - Sản xuất, lắp đặt, các thiết bị vật tư nghành nước. - Vận chuyển hành khách, vận tải hành hoá. - Tư vấn, mua bán và lắp đặt điều hoá, thiết bị lạnh trong lĩnh vực công nghiệp, thiết bị xử lý môi trường. - Sản xuất mua bán, lắp đặt thiết bị thí nghiệm, trang thiết bị, khí sạch trong lĩnh vực y tế, thuỷ sản. - Mua bán, lắp đặt, bảo trì hệ thống điện dân dụng, công nghiệp, thiết bị máy nổ, máy phát điện và động cơ diezen, máy thuỷ, thiết bị cơ khí. - Mua bán, tư vấn, lắp đặt, bảo trì thang máy (không bao gồm dịch vụ thiết kế công trình) - Mua bán, lắp đặt thiết bị bảo vệ, camera quan sát, thiết bị phòng cháy chữa cháy. - Mua bán, tư vấn, thi công, lắp đặt, bảo trì thiết bị tập luyện, thi đấu thể thao Quá trình phát triển của công ty từ năm 2003 đến nay. Công ty TNHH Nội Thất Đại Dương được thành lập theo sự chấp thuận của sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội ngày 16 tháng 7 năm 2003 do anh VŨ XUÂN ĐẠI làm giám đốc. Sau 6 năm hình thành và phát triển đến nay do nhu cầu của khách hàng ngày càng cao. Quan điểm về nhu cầu xây dựng không chỉ ở mà đạt tiện nghi tối đa, đáp ứng mọi nhu cầu về công năng thẩm mỹ. Đầu tư chi phí cho phần trang trí nội thất dần chiếm nhiều kinh phí hơn xây dựng cơ bản công trình. Nhận thức được điều này công ty đã phát triển thêm rất nhiều sản phẩm mới có mẫu mã và chất lượng cao hơn phong cách hiện đại, tính năng thẩm mỹ được đẩy lên cao nhất. Hiện nay công ty đã có một siêu thị đồ nội thất tại khu đô thị Mỹ Đình để trưng bày và bán những sản phẩm của công ty. Cho đến nay công ty đã đăng ký kinh doanh thay đổi lần thứ tư. Sau 6 năm thành lập và phát triển, công ty đã lớn mạnh hơn rất mạnh, tuy vẫn còn non trẻ nhưng đã có bước đầu chú trọng phát triển đội ngũ kỹ sư, công nhân lành nghề để có thể nắm bắt được kinh nghiệm sản xuất ra những sản phẩm đạt chất lượng tương đương với sản phẩm ngoại nhập và đạt chất lượng tiêu chuẩn mà công ty đã đặt ra. Thực tế các chủng loại về hàng hoá với sự đa dạng về mẫu mã, màu sắc, giá cả cạnh tranh nên luôn được thị trường chấp nhận và hiện đang được sử dụng trên toàn miền Bắc. Vì vậy doanh nghiệp luôn được khách hàng tín nhiệm giao thầu trang trí nội thất những công trình lớn như: Tổng công ty dầu khí, ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam, công ty cổ phần chứng khoán bảo việt, công ty bảo hiểm nhân thọ tỉnh Hải Phòng… 2. Bộ máy tổ chức và chức năng nhiệm vụ của công ty. 2.1. Bộ máy tổ chức: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và sản xuất hợp lý, phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp và thích ứng nhạy bén với thị trường. Thực tế đã chứng minh rằng bộ máy quản lý và sản xuất trong doanh nghiệp quyết định lớn đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Bộ máy quản lý và các phân xưởng sản xuất. Công ty tổ chức bộ máy theo mô hình hỗn hợp của mô hình tổ chức trực tuyến - chức năng kết hợp với mô hình tổ chức kinh doanh theo khu vực địa lý. Tổ chức và bộ máy của công ty gồm: - Tổng giám đốc công ty - 03 phó giám đốc - Các phòng ban, nghiệp vụ - Các chi nhánh: Chi nhánh Hà Nội, chi nhánh thành phố HCM Mô hình 2: Sơ đồ tổ chức bộ máy của công ty Tổng giám đốc Phó tổng giám đốc Phó tổng giám đốc Phó tổng giám đốc Phòng nhân sự Phòng kế toán Phòng kế hoạch sản xuất Phòng kỹ thuật Phòng vật tư xnk Phòng sản xuất Chi nhánh Hà Nội Phòng kinh doanh Chi nhánh Thành Phố HCM Phòng Marketting Theo mô hình tổ chức này, tổng giám đốc công ty là người lãnh đạo cao nhất của công ty được sự giúp sức của những người lãnh đạo chức năng để chuẩn bị các quyết định, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quyết định. Tuy nhiên tổng giám đốc công ty là người đại diện hợp pháp của công ty, chịu trách nhiệm trước nhà nước về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, đồng thời cũng chịu trách nhiệm trước toàn thể cán bộ, công nhân viên của công ty về các vấn đề bảo vệ quyền lợi của người lao động. Phòng kế hoạch sản xuất: Tiếp nhận đơn hàng từ phòng kinh doanh và lập kế hoạch sản xuất về số lượng, chủng loại, mẫu mã. Phòng kỹ thuật: Phụ trách những vấn đề về kỹ thuật sản xuất, cải tiến và xây dựng quy trình công nghệ sản xuất, áp dụng những sáng kiến vào việc thiết kế và phát triển sản phẩm mới. Ngoài ra, bộ phận kỹ thuật có nhiệm vụ kiểm tra, nghiệm thu chất lượng sản phẩm trên từng công đoạn để kịp thời khắc phục những nhược điểm. Phòng sản xuất: Trực tiếp điều hành các phân xưởng sản xuất, lắp ráp. Luôn luôn cung cấp đúng và đủ sản phẩm mà khách hàng đã yêu cầu, đồng thời có những kế hoạch chuẩn bị trước những nhu cầu thay đổi bất thường của thị trường. Phó giám đốc điều hành chung công tác tiêu thụ sản phẩm do công ty sản xuất ra. Cùng với phó giám đốc trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty là phòng kinh doanh và các chi nhánh. Phòng kinh doanh: Thực hiện các việc thương thảo, tìm kiếm thị trường, giao dịch ký kết các hợp đồng và quản lý các hợp đồng. Nhận đơn mua hàng phòng từ các chi nhánh, các khách hàng. Kiểm tra đơn hàng và gửi đơn hàng cho các khách hàng, kho sản phẩm của các chi nhánh, các đại lý. Lập bảng điều chỉnh giá khi có sự thay đổi mức giá bán và gửi tới các chi nhánh, các đại lý. Phòng nhân sự: Quản lý nguồn nhân lực(quản lý toàn bộ hồ sơ nhân sự, bố trí, sắp xếp, chọn và tuyển công nhân viên, tham mưu cho lãnh đạo về công tác quản lý đào tạo cán bộ, công nhân viên đồng thời đặt ra các chế độ về lương, thưởng, phụ cấp,… quản lý các hệ thống, các hệ thống thông tin có liên quan. Công ty có nguồn nhân lực giàu chất xám, có bề dày kinh nghiệm, trình độ tay nghề, tính kỷ luật cao. Phòng kế toán: Phụ trách mảng tài chính kế toán, thu thập, phân loại và xử lý, tổng hợp số liệu từ đó cung cấp số liệu một cách trung thực, chính xác, kịp thời trong việc ra quyết định của các nhà quản lý có liên quan. Thực hiện liên hệ giữa kế toán - tài chính của công ty, các phòng ban, bộ phận, xí nghiệp nội bộ trong công ty, với cấp trên, thực hiện quan hệ hữu quan khác như: Ngân hàng, cơ quan kiểm toán, bảo hiểm… 2.2. Chức năng nhiệm vụ của công ty: Chức năng: - Sản xuất ra những mặt hàng thuộc lĩnh vực hoạt động của công ty phù hợp với nhu cầu của khách hàng. - Kinh doanh những mặt hàng mà công ty sản xuất ra và trao đổi sản phẩm với các Công ty khác. Giải quyết tốt mối quan hệ trong nội bộ công ty và quan hệ giữa công ty với bên ngoài. Nhiệm vụ của công ty: - Sản xuất và kinh doanh đúng nghành nghề đã đăng ký và mục đích thành lập của công ty. - Quản lý tốt lao đông, vật tư, tiền vốn, để không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh. - Thực hiện phân phối theo lao động và chăm lo đời sống cán bộ công nhân viên. - Thực hiện đầy đủ trách nhiệm xã hội. - Tuân thủ nghiêm chỉnh luật của nhà nước. - Thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợp đồng mua bán nội thất với các đối tác. - Chủ động điều phối hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý các đơn vị, phòng ban trực thuộc công ty. Ngoài nhiệm vụ sản xuất trên, Công ty phải thực hiện phân phối theo lao động và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao trình độ văn hoá, tay nghề của công nhân, bảo vệ công ty, bảo vệ sản xuất, bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh trật tự, làm tròn nghĩa vụ quốc phòng, tuân thủ pháp luật, hạch toán và báo cáo trung thực theo chế độ nhà nước quy định. 3. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Nội Thất Đại Dương. 3.1. Về sản phẩm: Công ty TNHH Nội Thất Đại Dương là công ty tư nhân chuyên cung cấp các sản phẩm nội thất kiểu dáng đẹp, phong cách hiện đại và luôn dựa trên yêu cầu của khách hàng do vậy hầu hết sản phẩm được sản xuất và thiết kế theo đơn đặt hàng của khách hàng. Sản phẩm là đơn chiếc, mỗi sản phẩm đều có kích thước khác nhau trong cùng một loại sản phẩm. Vì mỗi khách hàng đều có các nhu cầu về sản phẩm khác nhau và phù hợp với thiết kế không gian của những ngôi nhà, văn phòng, trường học. Cùng một sản phẩm bàn nếu dùng cho văn phòng sẽ có thiết kế riêng với kiểu dáng kích thước khác so với thiết kế của gia đình và cho trường học. Dùng cho nội thất nhà dân và nội thất văn phòng khách sạn có: Bàn ghế, cửa ra vào, vách ngăn, rèm, tủ, thảm và các loại ghế cao cấp bàn ăn, bàn hội nghị cao cấp khác… Sản phẩm của công ty luôn có chất lượng được đảm bỏa theo tiêu chuẩn quản lý chất lương ISO 9000- 2001 3.2. Thị trường hoạt động của công ty Đại Dương: Thị trường của Công ty chủ yếu là miền Bắc, bên cạnh đó cũng mở rộng ra miền Trung và miền Nam. Công ty TNHH Nội Thất Đại Dương có một đặc điểm là phân phối sản phẩm theo khách hàng, nếu khách hàng di chuyển thì công ty thường thuê ngoài để giảm bớt chi phí. Với thị trường chính là Hà Nội đây là trung tâm của cả nước, là nơi phát triển năng động, ở đây tập trung rất nhiều doanh nghiệp và tập đoàn. Đây cũng là nơi thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài , là nơi có tiềm năng phát triển nên công ty quyết định lựa chọn thị trường mục tiêu là Hà Nội. Bên cạnh những cơ hội đó thì kinh doanh ở thị trường Hà Nội cũng tạo cho công ty sự cạnh tranh rất khốc liệt với các đối thủ cạnh tranh đã hoạt động trong lĩnh vực nội thất lâu năm như: Tập đoàn nội thất Hòa Phát, Nhà Xinh, Xuân Hòa…Ngoài ra, công ty còn có các thị trường tương đối lớn như Hải Phòng, Nam Định, Nghệ An, Đà Nẵng, Nha Trang, TP Hồ Chí Minh… 3.3. Hệ thống cơ sở phục vụ sản xuất kinh doanh: Để sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì máy móc thiết bị cũng là một phần rất quan trọng không thể thiếu với bất kỳ doanh nghiệp sản xuất nào. Chất lượng, số lượng của máy móc thiết bị phản ánh đúng năng lực hiện có của Công ty, trình độ khoa học kỹ thuật, mức hiện đại chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất - hạ giá thành sản phẩm. Công nghệ, máy móc thiết bị: Hiện nay công ty có 4 dây chuyền sản xuất bao gồm dây truyền ép gỗ công nghiệp, dây truyền đánh bóng sản phẩm, dây truyền sơn chất lượng cao… đó là các dây chuyền công nghệ tiên tiến trong khu vực, đặc biệt dây chuyền sản xuất két sắt có trình độ công nghệ bậc nhất hiện nay. Hệ thống kho tàng, cửa hàng giới, cửa hàng giới thiệu trưng bày sản phẩm, đại lý trụ sở, văn phòng, nhà máy đặc biệt công ty mới mở thêm một siêu thị ở khu đô thị MỸ Đình để bày bán và giới thiệu sản phẩm của công ty tới khách hàng được tốt hơn. 3.4. Đặc điểm về nguồn nhân lực: Trong quá trình hình thành và phát triển. Công ty đã nhận thức được vai trò quan trọng của yếu tố lao động cũng như tổ chức lao động để sử dụng lao động sao cho có kế hoạch và hợp lý nhất. Phân công, phân bổ lao động là nhân tố cực kỳ quan trọng quyết định công việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả hay không. Để phối hợp tối đa giữa các phòng ban, phân xưởng sản xuất đạt được hiệu quả cao nhất. Là một doanh nghiệp tư nhân có quy mô khá đến đầu năm 2008 là 243 lao động làm việc trong các bộ phận khác nhau. Công ty đã bố trí sử dụng tương đối hợp lý nguồn lao động và với việc tinh giảm bộ máy quản lý, nâng cao, bồi dưỡng đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên. Bên cạnh đó công ty đề ra chế độ trách nhiệm vật chất thông qua khen thưởng, kỷ luật không ngừng khuyến khích đội ngũ cán bộ công nhân viên nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề, tăng năng suất lao động từ đó năng suất lao động bình quân của công ty ngày càng tăng lên. Bảng số1: Cơ cấu lao động của công ty Chỉ tiêu Năm 2005 Tỷ lệ % Năm 2006 Tỷ lệ % Năm 2007 Tỷ lệ % Năm 2008 Tỷ lệ % lđ 215 100 220 100 227 100 243 100 Lđ trực tiếp 133 61,86 163 74,09 170 74,88 183 75,3 Lđ phục vụ 66 30,69 40 18,18 39 17,18 40 16,46 Lđ quản lý 16 7,44 17 7,72 18 7,92 20 8,23 (Nguồn: Phòng nhân sự công ty) Bảng số 2: Trình độ lao động của công ty Chỉ tiêu Năm 2005 Tỷ lệ (%) Năm 2006 Tỷ lệ (%) Năm 2007 Tỷ lệ (%) Năm 2008 Tỷ lệ (%) lđ 215 100 220 100 227 100 243 100 Đại hoc 42 19,53 47 21,36 53 23,34 65 26,74 Cao đẳng 34 15,81 39 17,72 46 20,26 52 21,39 Còn lại 139 64,65 134 60,9 128 56,38 126 51,85 (Nguồn: Phòng nhân sự công ty) Từ năm 2005 đến nay tổng số lao động của công ty tăng lên ngày càng nhiều. Năm 2005 tổng số lao động của công ty là 215 lao động, năm 2006 là: 220 lao động tăng 1,023 lần so với năm 2005, năm 2007 là: 227 lao động tăng 1,031 lần so với năm 2006, năm 2008 là: 243 lao động tăng 1,07 lần so với năm 2007. Nguyên nhân sự gia tăng lao động của công ty là do hoạt động kinh doanh có hiệu quả, do đó công ty mở rộng kinh doanh đòi hỏi phải bổ sung lao động. Qua bảng cơ cấu lao động, ta nhận thấy tỷ lệ lao động có chuyên môn, trình độ đại học chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng số lao động của công ty cụ thể năm 2005 chiếm: 19,53 %, năm 2006 chiếm: 21,36 %, năm 2007 chiếm: 23,34%, năm 2008 chiếm: 26,74 %. Hơn nữa, tỷ lệ lao động có chuyên môn, trình độ đại học đều tăng qua các năm. Nguyên nhân chính là do đặc điểm công ty kinh doanh nhiều trên lĩnh vực: Nội thất phục vụ khách sạn, trung tâm thương mại , xuất nhập khẩu do đó đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ nhân viên có kiến thức nghiệp vụ giỏi, khả năng giao tiếp đàm phán tốt, có khả năng lôi kéo khách hàng... Tỷ lệ lao động còn lại bao gồm chủ yếu là lao động trực tiếp dưới các phân xưởng, xí nghiệp sản xuất. Số lao động này chủ yếu là những người mới học hết cấp III, một số người mới học hết cấp II. Song tỷ lệ lao động này hàng năm lại giảm đi rõ rệt cụ thể: Năm 2005 chiếm: 64,65%, năm 2006 chiếm: 60,9 %, năm 2007 chiếm:56,38%, năm 2008 chiếm:51,85%. Như vậy tỷ lệ lao động này năm 2006 giảm: 3,59% so với năm 2005, năm 2007 giảm: 4,47 % so với năm 2006, năm 2008 giảm: 1,56% so với năm 2007. Nguyên nhân là do những năm qua công ty đã không ngừng tổ chức bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, tay nghề cho cán bộ công nhân của công ty để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh. 3.5. Đặc điểm về nguồn vốn công ty. Như ta đã biết, nguồn vốn có vai trò lớn trong sản xuất kinh doanh. Để thấy rõ hơn thực trạng sản xuất kinh doanh của công ty ta có bảng chỉ tiêu về vốn và sự biến động của các nguồn vốn trong tổng số vốn của công ty. Bảng số 3: Chỉ tiêu về vốn: ĐVT:VNĐ Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Vốn cố định 378.594.283 110.035.649 350.013.789 Vốn lưu động Trong đó vốn tự có Tỷ trọng vốn tự có trong vốn lưu động 4.722.704.401 1.199.414.229 25,4% 6.448.809.210 522.752.289 8,11% 6.771.994.664 1.586.114.623 23,42% Tổng vốn kinh doanh 5.101.298.684 6.558.844.859 7.122.008.453 (Nguồn: Phòng kế toán công ty) Theo đà phát triển công ty đã có sự mở rộng về nguồn vốn. Đây là một kết quả đáng mừng trước sự nỗ lực cố gắng của toàn nhân viên trong công ty. Theo bảng trên, nguồn vốn của công ty không biến động nhiều nhưng nguồn vốn lưu động chiếm tỷ trọng lớn. Vốn lưu động ở công ty chủ yếu là hàng dự trữ, các khoản phải thu. Qua các năm vốn lưu động có sự tăng lên nhưng mà tốc độ tăng không đều nhau. Do đặc điểm của vốn lưu động thường biến động nhanh (thể hiện ở số vòng quay). Năm 2006 đạt 4.722.704.401 VNĐ thì đến năm 2007 tăng lên đến 6.448.809.210 VNĐ tăng 36,55% tương ứng là 1.726.104.800 VNĐ. Năm 2008 cũng tăng so với năm 2007 tăng khoảng 5,01% tương ứng là 323.185.454 VNĐ. Sự tăng lên này chứng tở công ty đã phát huy nhiều vốn lưu động từ nhiều nguồn khác nhau để thúc đẩy mua hàng và từ đó quy mô sản xuất kinh doanh cũng tăng lên. Công ty TNHH Nội Thất Đại Dương với đặc điểm là vừa sản xuất vừa kinh doanh mặt hàng nội thất nên cần có vốn cố định để xây dựng và để mua sắm trang bị các loại tài sản cố định khác nhau ở doanh nghiệp. Theo bảng trên tỷ trọng vốn cố định trong tổng số vốn chiếm ít. Năm 2006 chiếm 7,42%, năm 2007 chiếm 1,68%, năm 2008 chiếm 4,91%. Đây chính là cơ cấu của vốn cố định. Công ty chủ yếu thực hiện chức năng mua nguyên liệu sản xuất sản phẩm để bán nên vốn cố định chiếm ít. II. Thực trạng tiêu thụ sản phẩm của công ty Đại Dương từ năm 2006 - 2008. 1. Tổ chức tiêu thụ sản phẩm của công ty. 1.1. Tổ chức bộ máy tiêu thụ sản phẩm của công ty. Tiêu thụ sản phẩm là trách nhiệm của toàn bộ công nhân viên từ tổ sản xuất, tổ công tác đến cấp công ty. Tuy nhiên thực hiện công tác tiêu thụ sản phẩm nội thất của công ty Đại Dương thuộc phòng kinh doanh và các chi nhánh. Trong đó, phòng kinh doanh tiến hành xây dựng hoạch định các chiến lược, các kế hoạch tiêu thụ sản phẩm cấp công ty, giao nhiệm vụ và đặt mục tiêu cho các bộ phận, chi nhánh. Các chi nhánh tổ chức chỉ đạo thực hiện các kế hoạch được giao và phấn đấu đạt mục tiêu đã đề ra. Mô hình 3: Tổ chức bộ máy tiêu thụ sản phẩm của công ty. Đội vận chuyển Kho sản xuất Chi nhánh Hà Nội Chi nhánh các tỉnh khác Giám đốc phụ trách kinh doanh Kho công ty Kho khu MỸ Đình Đối với các đơn đặt hàng của khách hàng có thể trực tiếp từ khách hàng hoặc từ các chi nhánh được fax đến phòng kinh doanh. Phòng kinh doanh trực tiếp nhận, tổng hợp lại thành một đơn đặt hàng mới sau đó fax đến phòng kế toán. Phòng kế toán tiến hành kiểm tra, xử lý và trả lời đơn đặt hàng và tiến hành lập kế hoạch sản xuất. Qua thực tế việc đặt hàng theo chu trình trên gặp một số khó khăn: Mất nhiều thời gian, làm chậm đơn hàng vì qua nhiều giai đoạn. Vì vậy, chu trình đặt hàng có thể thay đổi như sau: Cửa hàng, phòng thị trường và các chi nhánh có thể fax, gửi mail, điện thoại tới phòng kế hoạch để đặt hàng. Mô hình 4: Quy trình đặt hàng Các cửa hàng của công ty Phòng thị trường Đại lý cấp một Chi nhánh Hà Nội Phòng kinh doanh Phòng kế hoạch Khách hàng Các chi nhánh khác Đối với những đơn đặt hàng, sản phẩm được vận chuyển thẳng từ kho của công ty hoặc kho ở khu MỸ Đình đến khách hàng giảm được chi phí vận chuyển, chi phí lưu kho, bốc xếp tại các kho… Mô hình 5: Công tác vận chuyển hàng hóa theo chu trình sau Sản xuất, xưởng sản xuất Kho khu Mỹ Đình Kho công ty Khách hàng Kho các bộ phận chi nhánh 1.2. Hoạch định số lượng tiêu thụ sản phẩm của công ty từ năm 2006- 2008: Phân tích đánh giá thị trường và khách hàng Có thể nói thị trường nội thất đang nóng lên ở Việt Nam. Nhu cầu tiêu dùng sản phẩm nội thất ngày càng tăng, đặc biệt là sản phẩm nội thất văn phòng, trường học do ngày càng có nhiều doanh nghiệp mọc lên và sự gia tăng đổi mới đầu tư thiết bị. Hơn nữa sự đòi hỏi của khách hàng ngày càng cao về chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng, kích thước… và luôn có sự so sánh về giá cả giữa các công ty với nhau. Sự thay đổi này tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà cung cấp sản phẩm nội thất đặc biệt là những công ty nội thất đã tạo được thương hiệu trên thị trường. Tuy nhiên, sự tham gia các doanh nghiệp kinh doanh các sản phẩm nội thất ngày càng gia tăng, đặc biệt là sản phẩm nội thất nhập ngoại với mẫu mã chủng loại, kiểu dáng phong phú mà giá cả lại không đắt hơn nhiều so với sản phẩm nội thất của Đại Dương. Để có thể tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Đại Dương cần phải đổi mới sản phẩm nội thất của mình tạo sự đa dạng cho sản phẩm của công ty. Tuy nhiên Đại Dương vẫn giữ được lợi thế trong sản phẩm của mình là “ chất lượng”. Thị trường Trung Quốc, Thái Lan, Pháp được đánh giá là thị trường truyền thống của công ty. Tuy nhiên công ty thường ít tìm kiếm thị trường xuất khẩu mới và hoạt động nghiên cứu nhu cầu người tiêu dùng tại các thị trường này thường rất hiếm do chi phí cho hoạt động rất cao và hiệu quả thường không cao, hơn nữa còn hạn chế về nhân lực những chuyên viên nghiên cứu thị trường. Mục tiêu và nhiệm vụ tiêu thụ sản phẩm của công ty Công ty thường không xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh cho công ty nói chung và chiến lược tiêu thụ sản phẩm nói riêng trong giai đoạn dài mà chỉ là các kế hoạch trong ngắn hạn thường là một năm, một quý, một tháng. Kế hoạch đưa ra các mục tiêu và các nhiệm vụ phải phấn đấu đạt được. Thuộc về hoạt động tiêu thụ sản phẩm công ty đưa ra chỉ tiêu sau: Bảng số 4: Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm nội thất của công ty Đơn vị: Tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Doanh thu tiêu thụ 223 273 271 Lợi nhuận trước thuế 10 12 11,5 (Nguồn: Phòng kinh doanh của công ty Đại Dương) Các khoản chi phí mà công ty thường chi cho hoạt động tiêu thụ sản phẩm là: Tiền lương và phụ cấp cho đội ngũ lao động ở bộ phận trực tiếp thực hiện chức năng tiêu thụ sản phẩm và ở các bộ phận hỗ trợ tiêu thụ. Các chi phí giao dịch trong tìm kiếm khách hàng và trong thương lượng đàm phán với khách hàng. Chi phí cho các hoạt động hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm nội thất ( chi phí cho quảng cáo, tham gia hội chợ triển lãm, tổ chức hội nghị khách hàng, các chương trình khuyến mại,…). Tiến độ tiêu thụ sản phẩm: Sản phẩm nội thất của công ty tiêu thụ trong năm thường không đều đặn, tiêu thụ mạnh tập trung chủ yếu vào quý III,IV. Đây chính là cơ sở điều tiết sản xuất phù hợp với tiêu thụ và bảo đảm cung ứng kịp thời sản phẩm cho khách hàng. Với các khách hàng đã ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm với công ty, tiến độ tiêu thụ sản phẩm biểu hiện tiến độ giao hàng. Nhìn chung công ty giao sản phẩm kịp thời cho khách hàng theo đúng tiến độ giao hàng, đúng địa điểm giao hàng, đúng sản phẩm giao hàng. 2. Kết quả tiêu thụ sản phẩm của công ty. 2.1. Kết quả kinh doanh chung của công ty. Đại Dương là nhà sản xuất kinh doanh nội thất có tín nhiệm cao với người tiêu dùng cả nước.Trong những năm gần đây, hoạt động kinh doanh của Công ty luôn có những chuyển biến tốt đẹp. Nền kinh tế thị trường cùng với những thay đổi tích cực trong luật và các chính sách của Nhà nước đã tạo hành lang thông thoáng cho Công ty có một chỗ đứng trên thị trường. Tuy nhiên tình hình cạnh tranh gay gắt giữa các Công ty cùng hoạt động trong nghành nội thất trên địa bàn Hà Nội và một số tỉnh lân cận cũng như với hàng hoá nhập khẩu đặc biệt là cuộc khủng hoảng kinh tế không biết đến bao giờ mới kết thúc, đang đặt ra thử thách rất lớn đối với công ty, buộc công ty muốn tồn tại và phát triển phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh hướng vào thị trường, phục vụ được kịp thời nhu cầu của thị trường để xây dựng cho kế hoạch đầu vào, đầu ra, hợp lý và phù hợp với thế và lực của công ty. Để ổn định kinh doanh, bảo đảm việc làm và thu nhập ngày càng tăng cho người lao động, công ty đã rất cố gắng để mở rộng thị trường, tăng sản lượng tiêu thụ hàng năm để đáp ứng cho thị trường trong thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận. Sau đây là một số kết quả cụ thể về tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty trong thời gian qua: Bảng số 5: Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty Đại Dương từ năm 2006 - 2008: Đơn vị: VNĐ Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 1. DT bán hàng và cung cấp dịch vụ 222.276.859.612 276.968.499.880 277.951.494.878 T.đó DT hàng XK 7.476.664.292 8.410.018.981 13.435.113.087 2. Các khoản khấu trừ 716.141.299 1.147.864.492 1.364.922.230 Chiết khấu TM 0 0 0 Giá trị hàng bán trả lại 716.141.299 1.147.864.492 1.364.922.230 Giảm giá hàng bán 0 0 0 Thuế TTĐB, thuế xk phải nộp 0 0 0 3. DTT về bán hàng, cung cấp dịch vụ 221.560.718.313 275.820.635.388 276.586.572.647 4. Giá vốn hàng bán 192.117.948.694 238.369.400.429 239.743.094.432 5. LN gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ 29.442.769.619 37.451.234.959 36.843.478.215 6. DT hoạt động tài chính 4.681.075.467 5.059.691.866 5.061.619.367 7. Chi phí tài chính 4.475.085.153 5.048.512.646 4.807.626.471 Trong đó lãi vay trả lại 4.459.250.874 5.038.124.306 4.731.406.994 8. Chi phí bán hàng 9.295.722.068 13.197.581.941 13.964.298.605 9. Chi phí quản lý DN 11.416.896.991 11.282.580.556 11.069.823.322 10. LN thuần từ hoạt động kinh doanh 8.936.140.875 12.982.251.682 12.063.349.184 11. Thu nhập khác 975.160.492 1.033.956.933 980.582.417 12. Chi phí khác 208.841.628 268.765.009 273.472.658 13. Lợi nhuận khác 76.696.864 765.191.924 707.109.759 14. Tổng LN trước thuế 9.702.459.739 13.747.443.607 12.770.458.943 (Nguồn: Phòng kinh doanh công ty Đại Dương) Qua bảng chi tiết trên ta rút ra bảng tổng hợp sau: Bảng số 6: Kết quả sản xuất kinh doanh chính: Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Năm2008 Tổng doanh thu (trđ) 222.276 276.968 277.951 Tốc độ tăng trưởng doanh thu (%) 24,6 0,35 Lợi nhuận trước thuế (trđ) 9.702 13.747 12.770 Tỷ suất lợi nhuận trước thuế / doanh thu (%) 4,36 4,96 4,59 (Nguồn: Phòng kinh doanh công ty Đại Dương) Biểu đồ 1: Doanh thu bán hàng của công ty. Qua bảng trên chúng ta thấy được tình hình sản xuất và kinh doanh của công ty Đại Dương như sau: Tổng doanh thu năm 2007 cao hơn năm 2006, tổng doanh thu của năm 2008 cao hơn năm 2007, tốc độ tăng trưởng doanh thu tương đối cao, năm 2007 tăng trưởng so với năm 2006 là 24,6%. Mặc dù trong thời kỳ khủng hoảng như hiện nay khiến các công ty trên toàn thế giới không ít phải phá sản hoặc làm ăn thua lỗ nhưng năm 2008 công ty vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng dương là 0,35% . Với tốc độ tăng trưởng như vậy công ty Đại Dương đã chứng tỏ được khả năng, năng lực kinh doanh của mình trong thời gian vừa qua, với sự tăng trưởng về doanh như vậy, chúng ta một phần nào thấy được sự phát triển của công ty. Nếu chúng ta chỉ nhìn vào chỉ tiêu về doanh thu thì sẽ không thể đánh chính xác được hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh chỉ tiêu về doanh thu chúng ta phải xét về chỉ tiêu lợi nhuận của công ty Đại Dương. Năm 2006 tổng lợi nhuận trước thuế của công ty Đại Dương đạt 9.702 triệu đồng và đến năm 2007 đạt 13.747 triệu đồng tăng 4.045 triệu đồng so với năm 2006, đến năm 2008 tổng lợi nhuận trước thuế của công ty đạt 12.770 triệu đồng, giảm 977 triệu đồng. Trong một năm khó khăn về kinh tế như năm 2008 nhưng công ty vẫn đạt được mức lợi nhuận khá cao gần bằng mức lợi nhuận năm 2007.Với những kết quả đã đạt được về lợi nhuận như vậy chúng ta có thể thấy công ty Đại Dương luôn luôn kinh doanh có lãi và tổng nguồn vốn dùng để tái đầu tư năm sau luôn cao hơn năm trước và quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty luôn được mở rộng. Để có thể thấy rõ được tình hình sản xuất kinh doanh của công ty chúng ta so sánh chỉ tiêu giữa tốc độ tăng trưởng về doanh thu và tỷ suất lợi nhuận/ doanh thu. Trong năm 2006, tỷ suất lợi nhuận / doanh thu của công ty là 4,36% và của năm 2007 là 4,96% tăng so với năm 2006 cùng với tỷ suật lợi nhuận/ doanh thu tăng và tốc độ tăng trưởng doanh thu tăng chúng ta có thể nhận xét một cách chính xác là kết quả sản xuất kinh doanh của công ty năm 2007 tốt hơn năm 2006, hay hiệu quả kinh doanh của công ty năm 2007 cao hơn năm 2006. Trong năm 2008 tốc độ tăng trưởng về doanh thu chỉ đạt 0,35% tuy nhiên tỷ suất lợi nhuận/ doanh thu năm 2008 vẫn đạt 4,59%. Chúng ta thấy rõ được tỷ suất lợi nhuận/ doanh thu năm 2008 thấp hơn năm 2007, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế. Ở đây không có nghĩa là công ty kinh doanh không có lãi mà chỉ là giảm lợi nhuận hơn so với năm 2007 mà thôi. Như vậy có thể thấy trong năm 2008 công ty tăng các khoản về chi phí bất thường dùng cho các hoạt động như là ký kết các hợp đồng mới, ngoại giao, tăng các khoản về chi phí bán hàng, quản lý và cũng do doanh số bán hàng năm 2008 giảm so với năm 2007 chút ít...nhưng cũng có thể nói năm 2008 hiệu quả sử dụng vốn của năm 2008 không tốt bằng năm 2007. Nhìn chặng đường sản xuất kinh doanh của công ty TNHH Nội Thất Đại Dương trong những năm qua chúng ta có thể có nhận xét chung là. Công ty nhìn chung hoạt động sản xuất kinh doanh trong những năm qua là tốt, tốc độ tăng trưởng khá đặt trong điều kiện khó khăn hiện nay, và có những bước tiến đán._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc22083.doc
Tài liệu liên quan