Giải pháp tăng lợi nhuận tại Công ty TNHH Thuận Thiên Thành

Đại học kinh tế quốc dân Khoa ngân hàng tài chính ===o0o=== chuyên đề tốt nghiệp Đề tài: Giải pháp tăng lợi nhuận tại công ty TNHH Thuận THiên Thành Giáo viên hướng dẫn : PGS – TS Vũ Duy Hào Sinh Viên Thực Tập : Bùi tuyết chinh Lớp : Tài chính Khoá : 36 Hà Nội - 2008 Mục Lục Lời mở đầu 1 Chương 1: Lý luận cơ bản về lợi nhuận trong doanh nghiệp…3 1.1 Khái quát về lợi nhuận trong doanh nghiệp 3 1.1.1 Khái niệm lợi nhuận 3 1.1.2 Vai trò của lợi nhuận 4 1.1.3 Phân loại lợi

doc59 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 21/10/2013 | Lượt xem: 603 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Giải pháp tăng lợi nhuận tại Công ty TNHH Thuận Thiên Thành, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
nhuận 6 1.2 Nội dung và phương pháp xác định lợi nhuận trong doanh nghiệp 7 1.2.1 Lợi nhuận và phương pháp xác định lợi nhuận 7 1.2.2 Phân phối lợi nhuận trong doanh nghiệp 13 1.2.3 Sự cần thiết phải tăng lợi nhuận trong doanh nghiệp 15 1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp 16 1.3.1 Nhân tố chủ quan 16 1.3.2 Nhân tố khách quan 17 Chương 2: Thực trạng lợi nhuận tại công ty Thuận Thiên Thành 20 2.1 Tổng quan về công ty 20 2.2 Thực trạng lợi nhuận tại công ty Thuận Thiên Thành 23 2.2.1 Báo cáo tài chính công ty 23 2.2.2 Phân tích thực trạng lợi nhuận tại công ty Thuận Thiên Thành 26 2.3 Đánh giá thực trạng lợi nhuận tại công ty Thuận Thiên Thành 32 2.3.1 Những kết quả đạt được 32 2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 34 Chương 3: Giải pháp tăng lợi nhuận tại công ty Thuận Thiên Thành 37 3.1 Định hướng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty 37 3.2 Giải Pháp 39 3.2.1 Nhóm giải pháp chung 39 3.2.2 Nhóm giải pháp tăng doanh thu 43 3.2.3 Nhóm giải pháp giảm chi phí 47 3.3 Một số kiến nghị 49 3.3.1 Một số kiến nghị đối với công ty 49 3.3.2 Kiến nghị với nhà nước ban ngành có liên quan 52 Kết Luận 53 Danh Mục Tham khảo 57 Danh mục bảng biểu Sơ đồ 1: Sơ đồ bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh của công ty 21 Sơ đồ 2: Sơ đồ mối quan hệ giữa các phòng ban của công ty 23 Bảng 2.1 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH Thuận Thiên Thành năm 2005-2007 24 Bảng 2.2 Bảng cân đối kế toán công ty TNHH Thuận Thiên Thành 25 Bảng 2.3 Bảng tỷ suất lợi nhuận của công ty TNHH Thuận Thiên Thành 28 Bảng 2.4 Bảng phân tích nhân tố ảnh hưởng tới tổng lợi nhuận của TNHH Thuận Thiên Thành 31 Danh mục chữ viết tắt HĐKD : Hoạt động kinh doanh HĐ : Hoạt động QLDN : Quản lý doanh nghiệp TNDN : Thu nhập doanh nghiệp HĐTC : Hoạt động tài chính DT : Doanh thu CP : Chi phí TSLN : Tỷ suất lợi nhuận TNHH : Trách nhiệm hữu hạn CBCNV : Cán bộ công nhân viên TSCĐ : Tài sản cố định Lời mở đầu Trải qua hơn 20 năm đổi mới, đã xuât hiện nhiều loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, tuy làm ăn còn gặp nhiều thăng trầm khác nhau nhưng phần lớn doanh nghiệp đã rút ra được nhiều bài học quý giá trong sản xuất kinh doanh, thích nghi với kinh tế thị trường. Nếu như trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, các xí nghiệp quốc doanh đơn thuần sản xuất và giao nộp sản phẩm theo kế hoạch ấn định từ trên xuống mà không cần quan tâm đến chất lượng, giá thành và lợi nhuận thì ngày nay đối mặt với kinh tế thị trường, khi mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải tính toán hiệu quả mà là hiệu quả thật sự chứ không phải là “lãi giả , lỗ thật” như trước đây . Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải đặt trên cơ sở thị trường, năng suất, chất lượng, hiệu quả đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội cũng như doanh nghiệp . Cơ chế thị trường đòi hỏi vừa nâng cao năng suất, vừa tạo điều kiện cho việc nâng cao năng suất vì lợi ích sống còn của doanh nghiệp và sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước. Doanh nghiệp dựa trên chiến lược chung của cả nước để xây dựng chiến lược riêng của mình nói đúng hơn là dựa trên tín nhiệm của thị trường mà xây dựng chiến lược theo nguyên tắc: Doanh nghiệp bán những thứ mà thị trường cần chứ không bán những gì mà thị trường có. Trong quá trình kinh doanh, cạnh tranh và khát vọng lợi nhuận đã thực sự trở thành động lực thôi thúc các doanh nghiệp tăng cường đầu tư, đổi mới thiết bị công nghệ, đầu tư vào những ngành nghề mới … với mục đích cuối cùng là đạt được chỉ tiêu lợi nhuận ngày càng lớn. Vậy lợi nhuận là gì và có vai trò như nào đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ? Với mục đích tìm hiểu về lợi nhuận và hoạt động sản xuất kinh doanh sản phẩm nhôm sơn tĩnh điện em đã đến thực tập tại Công ty TNHH Thuận Thiên Thành. Sau một thời gian học hỏi, nghiên cứu em đã chọn đề tài: “Giải pháp tăng lợi nhuận tại Công ty TNHH Thuận Thiên Thành”. Chuyên đề tốt nghiệp của em gồm 3 chương : Chương 1 : Lý luận cơ bản về lợi nhuận trong doanh nghiệp Chương 2 : Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Thuận Thiên Thành . Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao lợi nhuận tại Công ty. Với một thời gian có hạn và kiến thức thực tế không nhiều nên chuyên đề tốt nghiệp của em còn có những khuyết điểm. Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của thầy giáo hướng dẫn Vũ Duy Hào . Em xin chân thành cảm ơn ! Chương 1: Lý luận cơ bản về lợi nhuận trong doanh nghiệp Khỏi quỏt về lợi nhuận trong doanh nghiệp Khỏi niệm Tuỳ theo quan điểm và gúc độ xem xột khỏc nhau, cỏc nhà kinh tế học đó cú nhiều quan điểm khỏc nhau về lợi nhuận. Cỏc kinh tế học cổ điển trước Mark cho rằng: ‘Cỏi phần trội lờn nằm trong giỏ bỏn so với chi phớ sản xuất kinh doanh gọi là lợi nhuận’. Theo Mark thỡ “Giỏ trị thặng dư hay cỏi phần trội lờn nằm trong toàn bộ giỏ trị hàng hoỏ, trong đú lao động thặng dư hay lao động khụng được trả cụng của cụng nhõn đa được vật hoỏ thỡ gọi là lợi nhuận”. Trong khi đú cỏc nhà kinh tế học hiện đại như Samuelson đó phỏt biểu: “Lợi nhuận là một khoản thu nhập dụi ra bằng tổng số thu về trừ đi tổng số chi ” hay cụ thể hơn lợi nhuận được định nghĩa là “ sự chờnh lệch giữa tổng thu nhập của một doanh nghiệp và tổng số chi phớ”. Hiện nay lợi nhuận của quỏ trỡnh sản xuất kinh doanh được coi là: “phần chờnh lệch giữa thu nhập tiờu thụ hàng, hoỏ dịch vụ và chi phớ chi ra để đạt được thu nhập đú ”. Nhỡn chung những quan niệm trờn, ta nhận thấy rằng chỳng đều cú điểm chung nhất: Lợi nhuận là số thu dụi ra so với chi phớ bỏ ra. Vậy lợi nhuận của một Doanh Nghiệp là khoản chờnh lệch giữa tổng doanh thu bỏn sản phẩm hàng hoỏ dịch vụ trừ đi tổng chi phớ bỏ ra tương ứng để tạo ra được hàng hoỏ dịch vụ đó tiờu thụ bao gồm cả phần nộp thuế cho nhà nước. 1.1.2 Vai trò của lợi nhuận Trong nền kinh tế bao cấp, vai trò của lợi nhuận không được chú ý đến, các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh theo kế hoạch của Nhà nước. Nhà nước bao cấp về giá vật tư hàng hoá, về lãi tín dụng, về vốn kinh doanh… kết quả hoạt động cuối cùng lỗ hay lãi không ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Nhưng trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải thực hiện hạch toán kinh doanh, thì lợi nhuận là mối quan tâm hàng đầu của mọi doanh nghiệp, lợi nhuận có vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói riêng và đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân nói chung. Đối với doanh nghiệp Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh với mục tiêu chính là để kiếm lợi nhuận. Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận là mục tiêu của kinh doanh, là thước đo hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp không ngừng sử dụng hợp lý, tiết kiệm các nguồn lực, nâng cao năng suất, chất lượng của quá trình sản xuất kinh doanh. Vậy, để cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho nhu cầu của thị trường, nhu cầu của người tiêu dùng, các nhà doanh nghiệp phải bỏ ra các chi phí nhất định. Họ phải thuê đất đai, lao động, nhà xưởng, tiền vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh hàng hoá và dịch vụ. Họ mong muốn hàng hoá và dịch vụ của họ được mua với giá thấp nhất và bán với giá cao để đủ bù đắp lại những chi phí đã bỏ ra, ngoài ra họ còn muốn có một phần lợi nhuận dư thừa để mở rộng và phát triển sản xuất. Nếu các doanh nghiệp không thể tạo ra được lợi nhuận thì họ cũng không muốn sẵn sàng cung cấp cho nhu cầu của xã hội về các hàng hoá dịch vụ đó. Do đó, động cơ lợi nhuận là một bộ phận hợp thành quyết định tạo ra sự hoạt động thắng lợi của thị trường hàng hoá dịch vụ. * Lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh toàn bộ kết quả và hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, kể từ lúc bắt đầu tìm kiếm nhu cầu thị trường, chuẩn bị sản xuất kinh doanh, tổ chức quá trình sản xuất kinh doanh, tổ chức cung ứng hàng hoá dịch vụ ra thị trường. Nó phản ánh về cả mặt lượng và chất của quá trình sản xuất kinh doanh. Kinh doanh tốt sẽ cho lợi nhuận nhiều khi lợi nhuận nhiều sẽ tạo khả năng để đầu tư, tái sản xuất mở rộng, tiếp tục quá trình sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn. Ngược lại, làm ăn kém sẽ dẫn đến thua lỗ và phá sản là tất yếu. Vì vậy, có thể nói rằng lợi nhuận tối đa là mục tiêu hàng đầu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp cạnh tranh trong cơ chế thị trường - hoạt động của doanh nghiệp phải sinh lợi. * Lợi nhuận là đòn bẩy kinh tế quan trọng kích thích người lao động đẩy mạnh sản xuất nâng cao năng suất lao động. Vai trò đòn bẩy kinh tế được thể hiện thông qua quá trình hình thành, phân phối và sử dụng lợi nhuận. Qua quá trình đó góp phần giải quyết mối quan hệ giữa ba mặt lợi ích : lợi ích Nhà nước, lợi ích của tập thể và lợi ích của người lao động nhằm nâng cao đời sống vật chất cho người lao động, thúc đẩy mọi người quan tâm đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Đối với kinh tế xã hội. * Lợi nhuận của doanh nghiệp không chỉ là bộ phận quan trọng của thu nhập thuần tuý của doanh nghiệp mà đồng thời là nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước và là cơ sở để tăng thu nhập quốc dân mỗi nước. Vậy vai trò của lợi nhuận không những quan trọng đối với bản thân mỗi doanh nghiệp mà cả xã hội. Vì thu nhập thuần tuý của doanh nghiệp là cơ để tăng thu nhập quốc dân, thu nhập thuần tuý càng lớn thì khả năng tăng thu nhập quốc dân càng cao và do đó khả năng tái sản xuất và phát triển xã hội càng nhiều. Nhờ có lợi nhuận các doanh nghiệp không những thực hiện được nghĩa vụ đóng góp quan trọng cho nguồn thu ngân sách Nhà nước thông qua các chính sách thuế theo luật định mà còn tạo điều kiện để các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động từ thiện và nhân đạo. * Lợi nhuận của doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ và mật thiết với các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật khác như chỉ tiêu về đầu tư sản xuất, sử dụng các yếu tố đầu vào, chỉ tiêu chi phí và giá thành, các chỉ tiêu đầu ra và các chính sách tài chính quốc gia… Tóm lại, phấn đấu tăng lợi nhuận là đòi hỏi tất yếu của quá trình sản xuất kinh doanh, là mục tiêu của các doanh nghiệp. 1.1.3 Phõn loại lợi nhuận Hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp trong một kỳ kinh doanh khụng chỉ bao gồm cỏc hoạt động sản xuất kinh doanh chớnh và phụ theo đỳng ngành nghề đăng ký kinh doanh mà doanh nghiệp cũn tiến hành nhiều hoạt động kinh doanh đa dạng, phức tạp và cú tớnh chất khụng thường xuyờn, khụng chủ yếu. Chỳng bao gồm cỏc hoạt động tài chớnh và cỏc hoạt động bất thường. Căn cứ trờn mỗi mảng hoạt động, Doanh nghiệp xỏc định cỏc chỉ tiờu doanh thu, chi phớ, và lợi nhuận tương ứng. Tổng lợi nhuận Doanh nghiệp sẽ là tổng lợi nhuận của cỏc lợi nhuận bộ phận trong từng mảng hoạt động kinh doanh trong kỳ. Như vậy lợi nhuận của Doanh nghiệp được xem xét ở đây là lợi nhuận sau thuế, nó bao gồm lợi nhuận sau thuế từ hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính và hoạt động bất thường: Lợi nhuận hoạt động kinh doanh là khoản chênh lệch giữa tổng doanh thu bán sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ trừ đi chi phí hoạt động kinh doanh, bằng lợi nhuận trước thuế từ hoạt động kinh doanh trừ đi thuế thu nhập doanh nghiệp. Lợi nhuận của hoạt động tài chính là chênh lệch giữa doanh thu hoạt động tài chính và chi phí hoạt động tài chính, bao gồm các hoạt động cho thuê tài sản, mua, bán trái phiếu, chứng khoán, mua bán ngoại tệ, lãi tiền gửi ngân hàng, lãi cho vay, lãi cổ phần và lãi do ghóp vốn liên doanh. Lợi nhuận của hoạt động bất thường là chênh lệch giữa doanh thu từ hoạt động bất thường và chi phí từ hoạt động bất thường, bao gồm các khoản phải trả không có chủ nợ thu hồi lại, các khoản nợ khó đòi đã được duyệt, nhượng bán tài sản ...sau khi đã trừ đi chi phí tương ứng. Tỷ trọng của mỗi bộ phận lợi nhuận trong tổng lợi nhuận Doanh nghiệp có sự khác nhau giữa các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực kinh doanh khác nhau. Đối với doanh nghiệp thông thường (khác với các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ ) hoạt động sản xuất kinh doanh luôn tách rời với các hoạt động tài chính.Vì vậy cơ cấu lợi nhuận của các Doanh nghiệp gồm 3 loại trên. Nhưng nhìn chung, lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh luôn chiếm tỷ trọng cao và có ý nghĩa quyết định trong tổng lợi nhuận của Doanh nghiệp. Nội dung và phương pháp xác định lợi nhuận trong doanh nghiệp Lợi nhuận và phương pháp xác định lợi nhuận Nội dung của lợi nhuận Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp rất đa dạng và phong phú, hiệu quả kinh doanh có thể đạt được từ nhiều hoạt động khác nhau. Bởi vậy lợi nhuận của doanh nghiệp cũng gồm nhiều loại, trong đó chủ yếu là: Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh là khoản chênh lệch giữa tổng doanh thu tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ trừ đi chi phí hoạt động kinh doanh trừ đi thuế thu nhập doanh nghiệp. Lợi nhuận thu được từ hoạt động tài chính là chênh lệch giữa doanh thu hoạt động tài chính và chi phí hoạt động tài chính, bao gồm các hoạt động cho thuê tài sản, mua bán trái phiếu, chứng khoán, mua bán ngoại tệ, lãi tiền gửi ngân hàng, lãi cho vay, lãi cổ phần, và lãi do ghóp vốn liên doanh. Lợi nhuận của hoạt động khác là chênh lệch giữa doanh thu từ hoạt động khác và chi phí từ hoạt động khác. Phương pháp xác định lợi nhuận Gồm 2 hương pháp: Phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp. + Phương pháp trực tiếp * Các chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối Theo phương pháp này lợi nhuận của doanh nghiệp được xác định trực tiếp từ hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và hoạt động khác. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh là bộ phận lợi nhuận chủ yếu mà doanh nghiệp thu được từ hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ trong kỳ được xác định theo công thức: Lợi nhuận từ HĐKD = Doanh thu thuần - Giá vốn hàng bán - Chi phí bán hàng - Chi phí QL DN Trong đó: Lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh là số lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp(TNDN). Doanh thu thuần = Doanh thu tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ trong kỳ - Các khoản giảm trừ doanh thu Các khoản giảm trừ doanh thu gồm: Chiết khấu hàng bán, giảm giá hàng bán, giá trị hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp. Chi phí bán hàng là một bộ phận của chi phí lưu thông phát sinh dưới hình thái tiền tệ để thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh hàng hoá, dịch vụ trong kỳ báo cáo. Chi phí quản lý doanh nghiệp phản ánh các khoản chi chung cho quản lý văn phòng và các khoản chi phí kinh doanh không gắn được với các địa chỉ cụ thể trong cơ cấu tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp. Lợi nhuận từ hoạt động tài chính là khoản thu do hoạt động đầu tư tài chính, quản lý kinh doanh về vố đưa lại gồm: Lãi tiền gửi ngân hàng, lãi kinh doanh chứng khoán, lãi ghóp vốn liên doanh, chi phí liên quan đến việc thuê tài sản, chênh lệch tỷ giá , thu cho thuê bằng sáng chế nhãn hiệu thương mại, bán bất động sản...... Chi phí hoạt động tài chính là các khoản chi phí đầu tư tài chính ra ngoài doanh nghiệp nhằm mục đích sử dụng hợp lý các nguồn vốn tăng thêm thu nhập và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm chi phí liên doanh liên kết không tính vào giá trị vốn ghóp, lỗ kinh doanh chứng khoán giá trị gốc của bất động sản khi nhượng bán, lập dự phòng giảm giá từ chứng khoán, ... Ta có công thức tính sau: Lợi nhuận hoạt động tài chính = Thu nhập hoạt động tài chính - Chi phí hoạt động tài chính - Lợi nhuận từ hoạt động khác là những hoạt động diễn ra không thường xuyên mà doanh nghiệp không dự tính trước được hoặc có dự tính nhưng ít khả năng thực hiện như các hoạt động thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, xử lý nợ khó đòi. Lợi nhuận hoạt động khác = Thu nhập hoạt động khác - Chi phí hoạt động khác Thu nhập hoạt động khác là khoản thu từ các hoạt động xảy ra không thường xuyên, ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu của doanh nghiệp. Những khoản thu nhập khác có thể do chủ quan của doanh nghiệp hay khách quan đưa tới bao gồm: Thu về nhượng bán, thanh lý TSCĐ, thu về tiền phạt vi phạm hợp đồng kinh tế, thu các khoản nợ khó đòi, thu bán vật tư hàng hoá,... Chi phí hoạt động khác là những khoản chi như: Chi phạt thuế truy thu nộp thuế, tiền phạt do doanh nghiệp vi phạm hợp đồng, chi cho thanh lý, nhượng bán TSCĐ. Sau khi xác định lợi nhuận của các hoạt động kinh doanh, kết quả sẽ thu được lợi nhuận như sau : Lợi nhuận trước thuế TNDN = Lợi nhuận trước thuế HĐKD + Lợi nhuận trước thuế HĐTC + Lợi nhuận trước thuế HĐ khác Sau đó ta sẽ xác định lợi nhuận sau thuế TNDN của các doanh nghiệp trong kỳ theo công thức: Lợi nhuận sau thuế TNDN = Lợi nhuận trước thuế TNDN - Thuế thu nhập doanh nghiệp Hoặc Lợi nhuận sau thuế TNDN = Lợi nhuận trước thuế TNDN * (1 - Thuế thu nhập doanh nghiệp) Nhận xét: Các cách xác địng lợi nhuận theo phương pháp trực tiếp rấ đơn giản, dễ tính toán, do đó phương pháp này được áp dụng khá phổ biến vá rộng rãi trong doanh nghiệp ít loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ. Còn đối với doanh nghiệp lớn, sản xuất nhiều loại sản phẩm thì phương pháp này không thích hợp bởi khối lượng công việc tính toán sẽ rất lớn, tốn nhiều thời gian công sức. * Các chỉ tiêu lợi nhuận tương đối Các chỉ tiêu lợi nhuận được xem xét là: Tỷ suất lợi nhuận vốn, tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu, tỷ suất lợi nhuận giá thành, tỷ suất lợi nhuận doanh thu. - Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh (Tvkd): Là quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận đạt được với số vốn kinh doanh sử dụng bình quân trong kì (gồm vốn cố định và vốn lưu động). Nó phản ánh khả năng sinh lợi của vốn tự có và được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp. Tăng mức doanh lợi vốn kinh doanh cũng thuộc trong số những mục tiêu hoạt động quản lý tài chính của doanh nghiệp. Đây là chỉ tiêu đo lường mức độ sinh lời của đồng vốn. Công thức xác định: Tvkd = ( P/V ) * 100 - Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (Tvcsh): Chỉ tiêu này được xác định bằng quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế với tổng nguồn vốn chủ sở hữu. Công thức xác định: Tvcsh = ( P/Vtc )* 100 - Tỷ suất lợi nhuận giá thành (Tg): Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận thu được so với giá thành của sản phẩm hàng hoá tiêu thụ trong kỳ. Công thức xác định: Tg = ( P/Zt ) * 100 Tỷ suất lợi nhuận doanh thu (Tdt): Để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh người ta cần xác định tỷ lệ về khả năng sinh lãi (tỷ suất lợi nhuận). Đây là nhóm chỉ tiêu phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu năng quản lý doanh nghiệp. Tỷ suất lợi nhuận cao cho ta thấy hiệu quả kinh tế cao của kinh doanh và ngược lại. Hơn nữa, tỷ suất lợi nhuận cho ta thấy rõ hai mặt, một là tổng số lợi nhuận tạo ra do các tác động của toàn bộ chi phí đã chi ra tốt hay xấu, hai là số lợi nhuận tạo ra trên một đơn vị chi phí cao hay thấp. Do yêu cầu nghiên cứu, phân tích và đánh giá khác nhau của từng doanh nghiệp mà có nhiều phương pháp tính tỷ suất lợi nhuận khác nhau. Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm (Tỷ suất lợi nhuận doanh thu bán hàng). Chỉ tiêu này được xác định bằng cách chia lợi nhuận sau thuế cho doanh thu tiêu thụ. Nó phản ánh số lợi nhuận sau thuế có trong một trăm đồng doanh thu. Công thức xác định: Tdt = ( P/DT ) * 100 Trong đó: P : Lợi nhuận sau thuế hoặc lợi nhuận trước thuế V : Tổng nguồn vốn kinh doanh trong kỳ Vtc : tổng nguồn vốn chủ sở hữu trong kỳ. Zt : giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá tiêu thụ trong kỳ. DT : doanh thu thuần. + Phương gián tiếp (xác định lợi nhuận qua các bước trung gian) Chúng ta có thể xác định lợi nhuận trước thuế (lợi nhuận ròng) trong kỳ của doanh nghiệp qua các bước trung gian. Để xác định được kết quả cuối cùng của hoạt động kinh doanh đó là lợi nhuận ròng của doanh nghiệp chúng ta cần tính lần lượt các chỉ tiêu sau: Chi phí hoạt động tài chính Lợi nhuận từ hoạt động tài chính( = 9-10) Thu nhập khác Chi phí khác Lợi nhuận từ hoạt động khác( = 12-13) Lợi nhuận trước thuế TNDN( = 8+11+14) Doanh thu bán hàng Các khoản giảm trừ doanh thu Doanh thu thuần về bán hàng (= 1-2) Trị giá vốn hàng bán Lợi nhuận gộp về hoạt động sản xuất kinh doanh(= 3-4) Chi phí bán hàng Chi phí quản lý doanh nghiệp Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh(= 5-6-7) Thu nhập hoạt động tài chính Thuế TNDN (15* thuế xuất thuế TNDN) Lợi nhuận ròng( = 15-16) Nhận xét: Cách tính này cho phép người quản lý nắm được quá trình hình thành lợi nhuận và tác động của từng khâu đến kết quả hợt sản xuất kinh cuối kỳ của doanh nghiệp, đó là lợi nhuận sau thuế TNDN (Lợi nhuậ ròng). Mặt khác, chúng ta có thể thấy được sự tác động của từng khâu hoạt động tới sự tăng giảm lợi nhuận của doanh nghiệp từ đó giúp chúng ta có những giải pháp điều chỉnh thích hợp ghóp phần nâng cao hiệu quả xản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Phân phối lợi nhuận trong doanh nghiệp Phân phối lợi nhuận nhằm mục đích chủ yếu tái đầu tư mở rộng năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, khuyến khích người lao động nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Về nguyên tắc, lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp được sử dụng một phần để chia lãi cổ phần, phần còn lại là lợi nhuận không chia. Tỷ lệ phần lợi nhuận chia lãivà lợi nhuận không chia tuỳ thuộc vào chính sách của nhà nước (đối với doanh nghiệp Nhà Nước) hay chính sách cổ tức, cổ phần của đại hội cổ đông (đối với doanh nghiệp khác) ở mỗi doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Đối với doanh nghiệp Nhà Nước Việt Nam, lợi nhuận sau thuế, sau khi nộp phạtvà các khoản khác nếu có, được trích lập các quỹ của doanh nghiệp như quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm, quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi. Các quỹ của doanh nghiệp. + Quỹ đầu tư phát triển: Quỹ này được sử dụng vào đầu tư mở rộng và phát triển kinh doanh. Đổi mới thay thế máy móc, thiết bị dây chuyền công nghệ, nghiên cứu áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật. Nghiên cứu khoa học nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp . Bổ sung vốn lưu động, tham gia liên doanh mua cổ phiếu. + Quỹ dự phòng tài chính: Dùng để bù đắp các khoản chênh lệch từ những tổn thất do thiên tai, hoả hoạn, những rủi do trong kinh doanh không được trong giá thành và đền bù của cơ bảo hiểm. + Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm: Dùng để trợ cấp cho người lao động có thời gian làm việc tại doanh nghiệp có thời gian đủ một năm trở lên bị mất việc làm hoặc chi cho việc đào tạo lại chuyên môn, kỹ thuật cho người lao động do thay đổi công nghệ hoặc chuyển sang việc mới, đặc biệt là đào tạo nghề dự phòng cho lao động nữ của doanh nghiệp. Trợ cấp người lao động mất việc làm do các nguyên nhân khách quan như: lao động dôi ra vì thay đổi công nghệ, do liên doanh, do thay đổi tổ chức trong khi chưa bố trí công việc khác, hoặc chưa kịp giải quyết cho thôi việc. Doanh nghiệp phải hình thành trích nộp để hình thành quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm của Tổng Công ty (nếu là thành viên Tổng Công ty) theo tỷ lệ do hội đồng quản trị Tổng Công Ty quyết định. + Quỹ phúc lợi dùng để: Đầu tư xây dựng, sửa chữa, bổ sung vốn xây dựng các công trình phúc lợi chung trong ngành, hoặc với các đơn vị khác theo hợp đồng thoả thuận, chi cho các hoạt động phúc lợi xã hội, thể thao, văn hoá, phúc lợi công cộng của tập thể công nhân viên doanh nghiệp.... Ngoài ra doanh nghiệp có thể dùng quỹ này để chi trợ cấp khó khăn cho người lao động của doanh nghiệp đã về hưu, mất sức hay lâm vào hoàn cảnh khó khăn không nơi nương tựa. Chủ tịch hội đồng quản trị (Giám đốc) quyết định sử dụng sau khi có ý kiến thoả thuận của công đoàn doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải trích nộp để hình thành quỹ phúc lợi tập trung của tổng công ty (nếu là thành viên của tổng công ty theo tỷ lệ của hội đồng quản trị quyết định được sử dụng theo quy định của Tổng công ty. + Quỹ khen thưởng: Quỹ khen thưởng dùng để Thưởng cuối năm hoặc thưởng thường kỳ cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp. Thưởng đột xuất cho những cá nhân, tập thể trong doanh nghiệp có sáng kiến cải tíên kỹ thuật mang lại hiệu quả kinh doanh cao cho doanh nghiệp. Thưởng cho các nhân đơn vị ngoài doanh nghiệp có quan hệ hợp đồng kinh tế đã hoàn thành tốt các điều kiện của hợp đồng, mang lại lợi ích cho doanh nhiệp. Doanh nghiệp phải trích nộp hình thành quỹ khen thưởng tập trung của Tổng Công ty theo tỷ lệ do hội đồng quản trị quy định. Sự cần thiết gia tăng lợi nhuận trong Doanh nghiệp Lợi nhuận giữ vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì trong điều kiện hoạch toán kinh doanh độc lập theo cơ chế thị trường, doanh nghiệp có tồn tại và phát triển hay không?. Chính vì vậy Lợi nhuận là đòn bẩy kinh tế quan trọng đồng thời là thươc đo quan trọng để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Lợi nhuận tác động đến tất cả các mặt hoạt động của doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. Lợi nhuận là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy nó là chỉ tiêu quan trọng nhất tác động đến mọi vấn đề của doanh nghiệp, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, đồng thời lợi nhuận ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Lợi nhuận tối đa là mục tiêu hàng đầu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp cạnh tranh trong cơ chế thị trường – hoạt động của doanh nghiệp phải sinh lợi. Lợi nhuận là đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động đẩy mạnh sản xuất nâng cao năng xuất lao động. Nó được thể hiện thông qua quá trình hình thành, phân phối và sử dụng lợi nhuận. Lợi nhuận của doanh nghiệp klhông chỉ là bộ phận quan trọng của thu nhập thuần tuý của doanh nghiệp mà còn là nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà Nước và là cơ sở để tăng thu nhập quốc dân của mỗi nước. Lợi nhuận không những quan trọng với bản thân mỗi doanh nghiệpmà cả xã hội. Vì thu nhập thuần tuý của mỗi doanh nghiệp là cơ sở để tăng thu nhập quốc dân, thu nhập thuần tuý càng lớn thì thu nhập quốc dân càng cao và do đó khả năng tái sản xuất xã hội càng nhiều. Nhờ có lợi nhuận các doanh nghiệp không những thực hiện các nghĩa vụ với nhà nước mà còn tham gia các hoạt động từ thiện... Tóm lại, phấn đấu tăng lợi nhuận là đòi hỏi tất yếu của quá trình sản xuất kinh doanh, là mục tiêu hàng đầu của mỗi doanh nghiệp. Các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp Nhân tố chủ quan 1.3.1.1 Nhân tố về tổ chức quản lý quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Tổ chức quản lý quá trình kinh doanh là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Quá trình quản lý bao gồm các khâu cơ bản như : định hướng chiến lược phát triển doanh nghiệp, xây dựng kế hoạch kinh doanh, xây dựng các phương án kinh doanh, tổ chức thực hiện các hoạt động kinh doanh ; kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh các hoạt động kinh doanh, quản lý tổ chức nguồn nhân lực, thực hiện đầy đủ các chế độ đối với người lao động. Các khâu của quá trình quản lý hoạt động kinh doanh làm tốt sẽ làm tăng sản lượng, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm nhờ giảm được chi phí quản lý. Đó là điều kiện quan trọng để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. 1.3.1.2 Nhân tố về chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Trong mỗi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp thì chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là khác nhau, từ đó cho biết được lợi nhuận của doanh nghiệp thu được là nhiều hay ít. Nếu là doanh nghiệp mới ra nhập thị trường thì mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp là làm sao xâm nhập được thị trường. Vì doanh nghiệp phải đưa ra chiến lược giá thấp, chiết khấu thương mại cao để tăng cạnh tranh. Lúc này lợi nhuận của doanh nghiệp rất thấp thậm chí là không có lợi nhuận ( hoặc lỗ). Đến một thời điểm nào đó doanh nghiệp chiếm được thị trường, thì lúc này doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên nhanh chóng. 1.3.1.3 Lợi thế thương mại uy tín và danh tiếng của doanh nghiệp được thể hiện qua thương hiệu sản phẩm Một doanh nghiệp có uy tín lâu năm bao giờ cũng có lợi thế cạnh tranh cao do đó bán được nhiều sản phẩm hơn, giá bán ra cao hơn. Để có thương hiệu sản phẩm uy tín cao là do trong qua khứ doanh nghiệp đã xây dựng cho mình một nền móng chất lượng vững chắc tạo chỗ đứng cho sản phẩm của mình, được khách hàng tín nhiệm, tên tuổi của doanh nghiệp được tạo dựng. 1.3.1.4 Hoạt động Marketing. Hoạt động tiếp thị Marketing của Công ty phải nói là rất mờ nhạt. Đội ngũ cán bộ thực hiện công tác Marketing hầu như không có, mặt khác chưa phát huy được năng lực, không đáp ứng trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Chính sách sản phẩm, chính sách giá cả và chính sách giao tiếp khuyếch trương chưa được thực hiện một cách có hiệu quả. Công ty chưa có kế hoạch thâm nhập thị trường thực tế, tiếp cận với các công trình xây dựng để tìm kiếm nguồn vốn và tăng khối lượng công việc. Đây là một điểm yếu của công ty trong khi cơ chế thị trường rộng mở, các thành phần kinh tế tự do kinh doanh, cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở nên gay gắt thì công ty lại chưa hoàn chỉnh được một hệ thống Marketing có đủ trình độ, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Công ty chưa chủ động tìm kiếm các chủ đầu tư để giới thiệu và báo giá về dịch vụ của Công ty mình. Do vậy số lượng tìm kiếm các hợp đồng kinh tế còn thấp. 1.3.2 Nhân tố khách quan Ngoài các nhân tố chủ quan tác động đến lợi nhuận của doanh nghiệp thì các nhân tố khách quan cũng tác động trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp: Đó là nhân tố về doanh thu, chi phí, quy trình công nghệ .... 1.3.2.1 Nhân tố về doanh thu: Doanh nghiệp muốn tăng doanh thu phải có chiến lược bán hàng hợp lý (chiến lược marketting, Chiến lược kinh doanh cụ thể của từng loại sản phẩm hàng hoá, dịch vụ cụ thể). Đề ra một chiến lược kinh doanh cụ thể cho hoạt động bán hàng của doanh nghiệp để đẩy mạnh bán hàng tăng doanh thu như các chính sách khuyến mại, giảm giá,chính sách đại lý nhà phân phôisao cho hợp lý, số lượng hàng hoá bán ra nhiều sẽ tăng doanh thu dẫn đến tăng lợi nhuận. Nhưng không được chạy theo số lượng mà bỏ qua chất lượng của sản phẩm hàng hoá, Doanh nghiệp phải đặc biệt quan tâm đến chất lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ và coi chất lượng của sản phẩm dịch vụ là sự sống còn của doanh nghiệp. Mặt khác doanh nghiệp phải tạo được niềm tin uy tín với khách hàng cũng như người tiêu dùng. Đó là nhữn._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc7849.doc