Kỹ năng giao tiếp của sinh viên sư phạm trường Cao đẳng Cần Thơ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH  Châu Thuý Kiều KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM TRƯỜNG CAO ĐẲNG CẦN THƠ LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC TP. HỒ CHÍ MINH – 2010 LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành khoá Cao học Tâm lý học khoá 2007 – 2010, ngoài những nỗ lực của bản thân tôi còn nhận được sự quan tâm, động viên, hỗ trợ của rất nhiều người. Tôi xin chân thành cảm ơn đến: Trường Đại học Sư phạmTp.HCM, Phòng Sau Đại học, Khoa Tâm lý giáo dục của trường v

pdf86 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 09/12/2013 | Lượt xem: 1374 | Lượt tải: 10download
Tóm tắt tài liệu Kỹ năng giao tiếp của sinh viên sư phạm trường Cao đẳng Cần Thơ, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
à toàn thể giảng viên giảng dạy khoá Cao học tâm lý K18. Trường và Khoa đã tổ chức khoá học để chúng tôi có điều kiện nâng cao và hoàn thiện tri thức của mình. Quý thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy và hướng dẫn chúng tôi trong suốt khoá học. Xin bày tỏ sự biết ơn và kính trọng đến cô TS Phan Thị Tố Oanh. Cô là người hướng dẫn khoa học cho đề tài của tôi. Xin chân thành cảm ơn và tỏ lòng tri ân về tất cả sự nhiệt tình, tậm tâm hướng dẫn của cô trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài. Ban giám hiệu trường Cao đẳng Cần thơ, Khoa Sư phạm và Tổ Tâm lý giáo dục của trường đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khoá học. Toàn thể sinh viên khoa Sư phạm đã hợp tác để tôi có thể khảo sát, lấy số liệu thành công phục vụ cho đề tài. Cha mẹ tôi, chồng tôi đã hỗ trợ và động viên tôi trong suốt quá trình tôi tham dự khoá cao học. Tất cả các bạn bè đã giúp tôi rất nhiều việc trong quá trình học và thực hiện đề tài của tôi. Châu Thuý Kiều LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài: “Kỹ năng giao tiếp của sinh viên Sư phạm trường Cao đẳng Cần Thơ” là công trình khoa học do tôi thực hiện. Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong công trình nghiên cứu nào khác. Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có sự khiếu nại, tố cáo về bản quyền tác giả. Châu Thuý Kiều DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 1. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT HS : Học sinh CĐCT : Cao đẳng Cần Thơ GT : Giao tiếp GV : Giảng viên TĐ : Tổng điểm NL : Năng lực KN : Kỹ năng ĐTB : Điểm trung bình KNGT : Kỹ năng giao tiếp TB : Thứ bậc MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Giao tiếp là điều kiện tồn tại của con người, thông qua giao tiếp cá nhân gia nhập vào các mối quan hệ xã hội, tiếp thu nền văn hoá xã hội lịch sử, biến nó thành cái riêng của mình, đồng thời cũng góp phần vào sự phát triển văn hoá chung. Xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật càng hiện đại càng ảnh hưởng đến hành vi, sự suy nghĩ và cuộc sống con người nên mối quan hệ giữa con người với con người càng được quan tâm,vì thế giao tiếp được xem là vấn đề thời sự trong nhiều lĩnh vực, nhất là những lĩnh vực làm việc trực tiếp với con người như giáo dục, dạy học, ngoại giao… Ngày nay giao tiếp là phương tiện để con người hợp tác cùng nhau, hướng tới mục đích bình đẳng, hạnh phúc. Nhu cầu giao tiếp là nhu cầu quan trọng của con người. Để thỏa mãn nhu cầu giao tiếp và tiến hành giao tiếp có kết quả, con người cần có kỹ năng giao tiếp, nhưng như I.C.Vapilic đã nói: “Giao thiệp với mọi người là một nghệ thuật mà không phải ai cũng nắm được. Bất kỳ ai cũng phải học điều đó” [37, tr.3] Vấn đề giao tiếp của học sinh, sinh viên là một vấn đề đáng quan tâm như A.Steer nguyên Giám đốc ngân hàng Thế giới tại Việt Nam đã nói có ba điều nhà trường Việt Nam nên bổ sung ngay từ bậc Trung học đó là: “Dạy cách giải quyết các vấn đề, dạy cách làm việc tập thể, dạy cách giao tiếp hiệu quả”. Và trong báo Sinh Viên số 61 ra tháng 12 năm 2000, tác giả Thu Trang viết: “Đã có người nước ngoài kết luận học sinh, sinh viên Việt Nam sau khi ra trường thường thiếu 3 yếu tố: sức khoẻ, thực tiển và năng lực giao tiếp”. Sinh viên Sư phạm trường Cao đẳng Cần Thơ là những người giáo viên trong tương lai, họ cần được cung cấp những tri thức, kỹ năng về giao tiếp. Chính từ kiến thức về giao tiếp giúp họ có những mối quan hệ tốt đối với bạn bè, thầy cô. Điều này sẽ là nhân tố giúp tạo điều kiện tốt cho việc học tập, học hỏi, giao lưu, lĩnh hội tri thức. Mặt khác, sau khi rời khỏi ghế nhà trường, sinh viên có được những tri thức cơ bản về kỹ năng giao tiếp nhằm giúp họ sống tốt, làm việc thành công trong các mối quan hệ xã hội, trong môi trường làm việc của mình. Hiện nay, đại đa số sinh viên Sư phạm trường Cao đẳng Cần Thơ đã có được những tri thức, kỹ năng giao tiếp nhất định nhưng còn vụng về, nhút nhát, thụ động trong lớp học cũng như việc trao đổi giữa các bạn cùng học và với giảng viên. Hạn chế này do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân kỹ năng giao tiếp của họ chưa cao. Trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục hiện nay của đất nước nói chung và của thành phố Cần Thơ nói riêng, người giáo viên không thể thiếu những kỹ năng giao tiếp cơ bản. Kỹ năng giao tiếp là hành trang quý giá giúp họ thành công trong nghề nghiệp nói riêng và cuộc sống nói chung. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Kỹ năng giao tiếp của sinh viên Sư phạm trường Cao đẳng Cần Thơ” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp. 2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Nghiên cứu thực trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên Sư phạm trường Cao Đẳng Cần Thơ, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nâng cao mức độ kỹ năng giao tiếp cho sinh viên, để họ có điều kiện học tập tốt, có năng lực giao tiếp với cộng đồng và làm tốt nhiệm vụ của người giáo viên sau này. 3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3.1. KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU Sinh viên Sư phạm trường Cao đẳng Cần Thơ năm I, II, III (năm học 2009 - 2010); tổng số 311 sinh viên, trong đó 298 sinh viên nữ , 13 sinh viên nam. 3.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Kỹ năng giao tiếp của sinh viên Sư phạm năm I, II, III trường Cao đẳng Cần Thơ. 4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC Kỹ năng giao tiếp của sinh viên Sư phạm trường Cao đẳng Cần Thơ đã được hình thành và phát triển trong quá trình học tập nhưng còn hạn chế và phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nếu tìm được những biện pháp tác động thích hợp sẽ nâng cao mức độ kỹ năng giao tiếp cho sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường. 5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU - Hệ thống một số vấn đề lý luận về giao tiếp, kỹ năng giao tiếp. - Khảo sát, đánh giá thực trạng mức độ kỹ năng giao tiếp của sinh viên Sư phạm trường Cao đẳng Cần Thơ. - Đề xuất một số biện pháp nâng cao mức độ kỹ năng giao tiếp cho sinh viên Sư phạm trường Cao đẳng Cần Thơ. 6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: - Nghiên cứu và hệ thống hoá những lý luận về giao tiếp và kỹ năng giao tiếp. - Từ kết quả nghiên cứu lý luận xác định khung cơ sở phương pháp luận định hướng quy trình, phương pháp nghiên cứu. - Phương pháp này chủ yếu để nghiên cứu lý luận là phương pháp nghiên cứu tài liệu. Phương pháp này diễn ra theo các giai đoạn như phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa những lý thuyết, cũng như những nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước trên cơ sở các công trình đã được đăng tải trên các sách báo và tạp chí về các vấn đề liên quan đến đề tài. 6.2. Phương pháp trắc nghiệm: Chúng tôi sử dụng trắc nghiệm kỹ năng giao tiếp V.P.Dakharop với hệ thống 80 câu hỏi, chia thành 10 nhóm kỹ năng cụ thể là: 1. Kỹ năng thiết lập các mối quan hệ: Bao gồm các tình huống có số sau: 1, 11, 21, 31, 41, 51, 61, 71. 2. Kỹ năng cân bằng nhu cầu cá nhân và đối tượng giao tiếp: Bao gồm các tình huống có số sau: 2, 12, 22, 32, 42, 52, 62, 72. 3. Kỹ năng nghe đối tượng giao tiếp: Bao gồm các tình huống có số sau: 3, 13, 23, 33, 43, 53, 63, 73. 4. Kỹ năng tự chủ cảm xúc, hành vi: Bao gồm các tình huống có số sau: 4, 14, 24, 34, 44, 54, 64, 74. 5. Kỹ năng tự kiềm chế kiểm tra người khác: Bao gồm các tình huống có số sau: 5, 15, 25,35, 45,55, 65,75. 6. Kỹ năng diễn đạt cụ thể, dễ hiểu: Bao gồm các tình huống có số sau: 6, 16,26, 36, 46, 56,66, 76. 7. Kỹ năng linh hoạt mềm dẻo trong giao tiếp: Bao gồm các tình huống có số sau: 7, 17, 27, 37, 47, 57, 67,77. 8. Kỹ năng thuyết phục đối tượng giao tiếp: Bao gồm các tình huống có số sau: 8, 18, 28, 38, 48, 58, 68, 78. 9. Kỹ năng chủ động, điều khiển quá trình giao tiếp: Bao gồm các tình huống có số sau: 9, 19, 29, 39, 49, 59,69,79. 10. Sự nhạy cảm trong giao tiếp: Bao gồm các tình huống có số sau: 10, 20, 30, 40, 50, 60, 70. Cách tính điểm và tổng hợp kết quả trắc nghiệm: Mỗi câu có ba hình thức điểm: 0, 1và 2 Điểm 0: Ứng với không có dấu hiệu của năng lực tương ứng. Điểm 1: Ứng với năng lực xuất hiện không xuyên. Điểm 2: Có năng lực tương ứng, được thể hiện trong nhiều trường hợp, thường xuyên. Điểm lý thuyết “lý tưởng” cao nhất của mỗi nhóm có thể đạt được là 16 lần, thấp nhất có thể là 0. Dựa vào thang điểm của V.P.Dakharop cho mỗi kỹ năng có thể chia 4 mức độ sau: Mức 1: Từ 15 đến 16 là loại giỏi Mức 2: Từ 11 đến 14 là loại khá Mức 3: Từ 8 đến 10 là loại trung bình Mức 4: Từ 7 trở xuống là loại yếu. 6.3. Phương pháp quan sát: Phương pháp này dùng hỗ trợ cho các phương pháp điều tra nhằm làm sáng tỏ thêm nội dung nghiên cứu. Quan sát hoàn cảnh sinh viên giao tiếp thực tế với bạn bè, thầy cô trong và ngoài lớp học 6.4. Phương pháp phỏng vấn Phương pháp này nhằm tìm hiểu sâu hơn về kỹ năng giao tiếp của sinh viên Sư phạm trường Cao đẳng Cần Thơ. Chúng tôi sử dụng phương pháp này phỏng vấn sinh viên sau khi sinh viên tác động thử nghiệm. Hệ thống câu hỏi được chuẩn bị trước. Nội dung câu hỏi nhằm làm sáng tỏ kết quả từ phiếu trắc nghiệm tâm lý. 6.5. Phương pháp thử nghiệm tác động: Thử nghiệm tác động nhằm nâng cao kỹ năng diễn đạt ngôn ngữ cho sinh viên. 6.6. Phương pháp thống kê toán học: Để kết quả nghiên cứu đảm bảo tính khách quan, khoa học, chính xác, có độ tin cậy cao chúng tôi sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lý và kiểm tra số liệu. Cụ thể là chúng tôi dùng chương trình SPSS (Statistical Package for Social Sciences) trong môi trường Window, phiên bản 11.5 để xử lý các số liệu đã thu được. Các số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê ứng dụng trong giáo dục học và tâm lý học. 7. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI - Về nội dung: đề tài giới hạn nghiên cứu mức độ kỹ năng giao tiếp của sinh viên Sư phạm trường Cao đẳng Cần Thơ - năm học 2009 - 2010. Đối tượng giao tiếp của sinh viên giới hạn trong phạm vi nhà trường như: Thầy cô; bạn bè; cán bộ phòng, khoa… - Về khách thể nghiên cứu: 311 sinh viên Sư phạm năm I, II, III trường Cao Đẳng Cần Thơ, năm học 2009 - 2010. 8. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về kỹ năng giao tiếp của sinh viên Sư phạm trường Cao đẳng Cần Thơ. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần: - Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về kỹ năng giao tiếp và tầm quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho sinh viên Sư phạm trường Cao đẳng Cần Thơ. - Làm rõ thực trạng về kỹ năng giao tiếp của sinh viên Sư phạm trường Cao đẳng Cần Thơ. - Chứng minh rằng có thể nâng cao mức độ kỹ năng giao tiếp cho sinh viên nếu có biện pháp tác động thích hợp và nhà trường tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức thực hiện các biện pháp tác động cho sinh viên. 9. CẤU TRÚC LUẬN VĂN MỞ ĐẦU: ( 6 TRANG) NỘI DUNG: ( 96 TRANG) CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIAO TIẾP VÀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP (35 TRANG) CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM TRƯỜNG CAO ĐẲNG CẦN THƠ (41 TRANG) CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO MỨC ĐỘ KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM TRƯỜNG CAO ĐẲNG CẦN THƠ (20 TRANG) KẾT LUẬN - KI ẾN NGH Ị: (4 TRANG) TÀI LIỆU THAM KHẢO: (4 TRANG) NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIAO TIẾP VÀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP 1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ GIAO TIẾP VÀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP 1.1.1. Ở nước ngoài: Vấn đề giao tiếp đã được con người xem xét từ thời cổ đại, nhà triết học Socrate (470- 399TCN) và Platon (428-347 TCN) đã nói tới đối thoại như là sự giao tiếp trí tuệ, phản ánh mối quan hệ qua lại giữa con người với con người. Khoa học ngày càng phát triển, những tri thức về lĩnh vực giao tiếp cũng không ngừng tăng lên. Các nhà triết học, xã hội học, tâm lý học… càng quan tâm nghiên cứu đến vấn đề này, chúng tôi thấy nổi lên một số hướng nghiên cứu sau đây: - Hướng thứ nhất: Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về giao tiếp như: bản chất, cấu trúc, cơ chế, phương pháp luận nghiên cứu giao tiếp, mối quan hệ giữa giao tiếp và hoạt động…Thuộc xu hướng này có công trình của A.A.Bođaliov, Xacopnhin, A.A.Léonchiev, B.Ph.Lomov... - Hướng thứ hai: Nghiên cứu giao tiếp với nhân cách có công trình của A.A.Bohnheva… - Hướng thứ ba: Nghiên cứu các dạng giao tiếp nghề nghiệp như giao tiếp sư phạm có công trình của A.A.Leonchiev, A.V.Petropxki, V.A.Krutetxki, Ph.N.Gonobolin… - Hướng thứ tư: Nghiên cứu các dạng giao tiếp như KNGT trong quản lý, trong kinh doanh và những bí quyết trong quan hệ giao tiếp có công trình của Allan Pease, Derak Torrington… 1.1.2. Ở trong nước: Vấn đề giao tiếp được nghiên cứu từ những năm 60 của thế kỷ XX, có thể phân thành một số hướng nghiên cứu sau: - Hướng thứ nhất: Nghiên cứu bản chất tâm lý học của giao tiếp, đặc điểm giao tiếp của con người, chỉ ra nội dung, hiệu quả, phương tiện giao tiếp…có công trình của Phạm Minh Hạc, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ngọc Bích, Trần Trọng Thuỷ, Nguyễn Sinh Huy… - Hướng thứ hai: Nghiên cứu giao tiếp như là một tiến trình truyền đạt thông tin, các đặc điểm giao tiếp của người tham gia vào truyền thông, có công trình của Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Thị Oanh, Nguyễn Khắc Viện… - Hướng thứ ba: Nghiên cứu thực trạng đặc điểm giao tiếp của một số đối tượng đặc biệt là Sinh viên Sư phạm, đề xuất những tác động nhằm nâng cao hiệu quả giao tiếp của họ như đề tài của Tống Duy Riêm, Bùi Ngọc Thiết, Trần Thị Kim Thoa… - Hướng thứ tư: Nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp trong lãnh đạo, quản lý kinh tế, kinh doanh, du lịch , sư phạm…. Có công trình của Mai Hữu Khuê, Nguyễn Thạc – Hoàng Anh, Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Văn Đính… Như vậy, vấn đề giao tiếp đã được nhiều nhà xã hội học, tâm lý học nghiên cứu trên bình diện lý luận và thực tiễn. + Về mặt lý luận: Nhìn chung các công trình đã được đề cập đến những vấn đề lý luận về giao tiếp trong tâm lý học như quan niệm về giao tiếp, vai trò, ý nghĩa của giao tiếp đối với sự hình thành và phát triển nhân cách con người nói chung, SV sư phạm nói riêng. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm không thống nhất về giao tiếp. + Về mặt thực tiễn: Công trình, các đề tài nghiên cứu về giao tiếp rất nhiều. Nhiều công trình đã đề cập đến những vấn đề rèn luyện kỹ năng giao tiếp, những tác động nhằm nâng cao hiệu quả giao tiếp cho nhiều đối tượng nghiên cứu trong đó có SV Sư phạm. Những người nghiên cứu về giao tiếp rất quan tâm đến đối tượng là SV Sư phạm. Bởi lẽ SV Sư phạm là những người thầy trong tương lai sẽ đào tạo và giáo dục nên những thế hệ tiếp theo cho đất nước. Trong hoạt động nghề nghiệp của người làm nghề dạy học thì ở đâu cũng có hoạt động giao tiếp tham gia vào. Chính vì lý do đó mà vấn đề về giao tiếp của SV luôn được nghiên cứu. Những công trình nghiên cứu ngày càng đi sâu vào những đối tượng nghiên cứu cụ thể như SV Sư phạm của một trường nào đó. Tác giả Hoàng Anh có nghiên cứu về Vấn đề giao tiếp sư phạm trong cấu trúc năng lực sư phạm [2]. Theo tác giả, giao tiếp sư phạm là bộ phận cấu thành nên năng lực sư phạm của người giáo viên. Trong cấu trúc nhân cách của người thầy, xét về mặt năng lực, một trong những năng lực người giáo viên cần phải có đó là năng lực giao tiếp với học sinh và phụ huynh. Theo ông, giao tiếp nói chung có nhiều chức năng, trong hoạt động sư phạm cũng vậy, giao tiếp sư phạm có nhiều chức năng, nó có thể là phương tiện phục vụ công việc giảng dạy , có thể là phương thức tổ chức các mối quan hệ qua lại giữa thầy và trò. Nếu coi hoạt động sư phạm phục vụ 3 mục đích: giảng dạy, giáo dục và phát triển thì có thể xem giao tiếp sư phạm phục vụ cho việc thực hiện các mục đích này như thế nào. Tác giả khẳng định, đào tạo giáo viên tương lai, ngoài chương trình cung cấp cho SV những tri thức khoa học cơ bản còn phải cung cấp cho họ những kiến thức về giao tiếp nói chung và giao tiếp sư phạm nói riêng. Có như vậy mới góp phần vào triển khai thực hiện nó như là một phương hướng đổi mới đào tạo sư phạm ở nước ta. Tác giả Nguyễn Văn Đồng nghiên cứu về Văn hoá giao tiếp của Sinh viên [12], cụ thể ông nghiên cứu về phong cách giao tiếp của SV và những tác động của văn hoá truyền thống đối với phong cách giao tiếp của SV. Trong giao tiếp, mỗi người chọn cho mình một phong cách giao tiếp. Theo ông, những phong cách đặc trưng cho phái nữ là: dịu dàng, ý tứ, mềm mỏng, hài hước, ít nói, vui vẻ, sôi nổi, hoạt bát, vô tư, năng động; phong cách đặc trưng cho phái nam là: mạnh mẽ, hoạt bát, vô tư, vui vẻ, hài hước, năng động, điềm đạm, chín chắn. Kết quả nghiên cứu cho thấy người mẹ là người hay uốn nắn cách ăn nói cho SV nhất, phần lớn SV cho biết: cần tiếp thu lời khuyên bảo của gia đình một cách có chọn lọc. Thời đại hiện nay là thời đại bùng nổ thông tin, thời đại hội nhập nên quan niệm “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” dần bị bỏ quên, không được số đông lớp trẻ đồng tình ủng hộ. Trong công trình nghiên cứu Một số đặc điểm giao tiếp của học viên tham gia các lớp đào tạo Giáo viên khoa học Xã hội nhân văn quân sự cấp phân đội [21], tác giả Trương Quang Học đã đề cập đến thực trạng giao tiếp như: nội dung giao tiếp, đối tượng giao tiếp, phạm vi giao tiếp. Từ kết quả nghiên cứu tác giả kiến nghị một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng giao tiếp cho học viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Tác giả Lò Thị Mai Thoan nghiên cứu về Thực trạng khả năng giao tiếp của Sinh viên Sư phạm tỉnh Sơn La [35] đã khẳng định khả năng giao tiếp là một khả năng rất quan trọng đối với người làm nghề dạy học và có ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động mà người giáo viên tiến hành như: dạy học và giáo dục. Vì vậy phải chú trọng rèn luyện, nâng cao khả năng giao tiếp của SV Sư phạm. Trong quá trình nghiên cứu, Lò Thị Mai Thoan sử dụng trắc nghiệm đo khả năng giao tiếp của V.P. Dakharop. Tuy nhiên, chưa có một đề tài nào nghiên cứu về KNGT của SV Sư phạm trường CĐCT. 1.2. VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIAO TIẾP 1.2.1. Một số quan niệm chung về giao tiếp: Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về giao tiếp. Mỗi quan niệm có những cơ sở khoa học riêng của nó. * Các quan niệm về giao tiếp của các nhà tâm lý học Tư sản [7, 37]: +M.Ac Gain (Anh) xem giao tiếp như là một quá trình hai mặt của sự thông báo, thiết lập, sự tiếp xúc và trao đổi thông tin. + T.Stecren (Pháp) quan niệm giao tiếp là sự trao đổi ý nghĩ, tình cảm, cảm xúc giữa con người với nhau. + T.Chuc Con (Mỹ) quan niệm giao tiếp là sự tác động qua lại trực tiếp lên nhân cách và dẫn đến việc hình thành những ý nghĩa, biểu tượng, chuẩn mực và mục đích hành động. * Các quan niệm về giao tiếp của các nhà tâm lý học Liên Xô + L.X.Vưgôtxki, X.L.Rubinstêin, A.G.Côvaliôp, K.K.Platônôp, G.G.Gôlubép…đã quan niệm giao tiếp là sự tiếp xúc giữa người và người để trao đổi thông tin, tác động lẫn nhau trên cơ sở phản ánh tâm lý của nhau. Quan niệm này có xu hướng thu hẹp khái niệm giao tiếp. + B.V.Xôcôlov, xem giao tiếp như là một yếu tố chung có cả người và động vật, ông cho rằng: “Giao tiếp là sự tác động lẫn nhau giữa những con người với nhau và những động vật có tâm lý với nhau, nếu thu hẹp hơn thì có thể coi giao tiếp là mối quan hệ giữa con người và những động vật nuôi trong nhà” [45, tr.103]. Quan niệm này có xu hướng mở rộng khái niệm giao tiếp. + A.A Leonchiev định nghĩa giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa con người với con người, trong đó con người trao đổi thông tin, trao đổi cảm xúc, tri giác lẫn nhau, đưa đến ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau và ông đã mở rộng khái niệm chủ thể giao tiếp đến toàn xã hội. Tuy nhiên, ông chưa phân biệt rõ trong quan hệ giao tiếp ai là chủ thể, ai là khách thể. Ông cho rằng giao tiếp là dạng hoạt động hoặc là phương thức, điều kiện của hoạt động. + B.Ph.Lômôv cho giao tiếp là sự tác động qua lại của những con người tham gia vào đó như những chủ thể và luôn có sự chuyển hoá giữa chủ thể và khách thể. Với sự tác động qua lại như vậy thì giao tiếp tối thiểu phải từ hai người trở lên.. B.Ph.Lômôv cho rằng giao tiếp là hoạt động là hai phạm trù tương đối độc lập của quá trình thống nhất của đời sống con người. Phạm trù “hoạt động” phản ánh mối quan hệ chủ thể, khách thể, còn phạm trù “giao tiếp” phản ánh mối quan hệ chủ thể - chủ thể. Quan niệm về giao tiếp của A.A.Leonchiev và B.Ph.Lômôv đều có điểm hợp lý và chưa hợp lý. Leonchiev khi bảo vệ quan điểm cho rằng giao tiếp là một dạng đặc biệt của hoạt động có đối tượng đã lý giải chưa thoả đáng về đối tượng, động cơ, chủ thể của hoạt động này. Còn Lômôv lại quá nhấn mạnh đến phạm trù giao tiếp cũng đi đến chỗ khó giải thích một số trường hợp giao tiếp tham gia vào hoạt động có đối tượng như là điều kiện thiết yếu của hoạt động. Từ đó nhiều nhà tâm lý học cho rằng, hoạt động là quy luật chung nhất của tâm lý người. Giao tiếp là một dạng hoạt động phản ánh mối quan hệ chủ thể - chủ thể. Hoạt động có đối tượng phản ánh mối quan hệ chủ thể - khách thể. Hai khái niệm này ngang bằng nhau và có mối quan hệ gắn bó khắng khít với nhau trong phạm trù hoạt động, là hai mặt thống nhất của cuộc sống con người, của sự phát triển tâm lý, có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau: Hoạt động có đối tượng Hoạt động Hoạt động giao tiếp * Các quan niệm về giao tiếp của các tác giả Việt Nam: + Hai tác giả Diệp Quang Ban, Đinh Trọng Lạc (1991), mở rộng khái niệm giao tiếp, cho rằng động vật cũng có giao tiếp. Hai ông quan niệm: “Giao tiếp là sự tiếp xúc với nhau giữa cá thể này với cá thể khác trong cộng đồng xã hội. Loài động vật cũng có thể làm thành những xã hội vì chúng sống có giao tiếp với nhau như xã hội loài ong, xã hội loài kiến” [26, tr.5]. + Tác giả Trần Trọng Thủy và tác giả Nguyễn Sinh Huy trong quyển: “Nhập môn khoa học giao tiếp” đã viết: “Giao tiếp của con người là một quá trình chủ đích hay không có chủ đích, có ý thức hay không có ý thức mà trong đó các cảm xúc và tư tưởng được diễn đạt trong các thông điệp bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ” [39, tr.1-2] + Hai tác giả Nguyễn Thạc và Hoàng Anh quan niệm: “Giao tiếp là hình thức đặc biệt cho mối quan hệ giữa con người với con người mà qua đó nảy sinh sự tiếp xúc tâm lý và được biểu hiện ở các quá trình thông tin, hiểu biết, rung cảm, ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau” [37, tr.1- 18] + Tác giả Nguyễn Ngọc Bích trong giáo trình “Tâm lý xã hội” viết: “Giao tiếp là sự tiếp xúc giữa hai người hay nhiều người thông qua phương tiện ngôn ngữ nhằm trao đổi thông tin, tình cảm, hiểu biết tác động qua lại và điều chỉnh lẫn nhau” [20, tr.53]. + Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người và người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau. Hay nói khác đi, giao tiếp xác lập và vận hành các quan hệ người - người, hiện thực hoá các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác” [30,tr.49-51] Trong luận văn chúng tôi sử dụng khái niệm giao tiếp của tác giả Nguyễn Quang Uẩn làm cơ sở lý luận cho nghiên cứư thực tiễn vì nó nêu được những dấu hiệu cơ bản của giao tiếp như: Giao tiếp là hiện tượng đặc thù của con người, nghĩa là con người mới có giao tiếp thật sự. Giao tiếp được thể hiện ở sự trao đổi thông tin, tâm tư, tình cảm kinh nghiệm… Qua tiếp xúc con người nhận thức được người khác, hiểu biết về bản thân mình, nói cách khác giao tiếp dựa trên sự hiểu biết, rung cảm ảnh hưởng lẫn nhau. Nhìn chung, trong những khái niệm về giao tiếp của các tác giả Việt Nam đều công nhận bản chất tâm lý học của giao tiếp là sự tiếp xúc về tâm lý giữa hai hay nhiều người. Trong giao tiếp diễn ra sự tác động lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, có sự trao đổi thông tin, tình cảm, thế giới quan… của những người tham gia vào quá trình giao tiếp. Phương tiện giao tiếp là ngôn ngữ, phi ngôn ngữ. Con người vừa là chủ thể, vừa là khách thể của quá trình giao tiếp. 1.2.2. Phân biệt giao tiếp với các khái niệm khác có liên quan * Giao tiếp và Quan hệ xã hội: Quan hệ xã hội là quan hệ khách quan, con người quan hệ với nhau trên cơ sở vị trí của mỗi người trong hệ thống xã hội. Quan hệ xã hội gồm có: quan hệ sản xuất, quan hệ chính trị, quan hệ đạo đức, quan hệ pháp quyền… Còn giao tiếp là sự tiếp xúc, quan hệ giữa các nhân cách cụ thể, là sự hiện thực hoá các quan hệ xã hội. * Giao tiếp và Thông tin: Khái niệm giao tiếp rộng hơn khái niệm thông tin. Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý có biểu hiện ở thông tin, thông báo hay nói cách khác thông tin, thông báo là một mặt cơ bản không thể thiếu được của giao tiếp. Nếu căn cứ vào tính chất của mối quan hệ cơ bản tham gia vào hệ thống tác động qua lại thì thông tin là mối quan hệ thông báo của chủ thể với đối tượng khác. Còn giao tiếp chỉ quan hệ chủ thể - chủ thể, trong đó có sự tác động lẫn nhau, điều khiển lẫn nhau. * Giao tiếp và Ứng xử: Ứng xử thuộc về lĩnh vực giao tiếp nên nó cũng mang những dấu hiệu chung của giao tiếp, tuy nhiên trong giao tiếp chú ý đến nội dung công việc, thước đo của giao tiếp là hiệu quả công việc. Còn ứng xử chú ý đến nội dung tâm lý và thước đo ứng xử là thái độ của cá nhân và cách biểu hiện hành vi, cử chỉ… cứ có sự tiếp xúc giữa con người với con người là có giao tiếp nhưng trong sự tiếp xúc ấy phải có tình huống tác động mới có ứng xử. Trong ứng xử có sự diễn ra trạng thái tâm lý căng thẳng ở con người, buộc con người phải tư duy để giải quyết. 1.2.3. Chức năng của giao tiếp Có nhiều cách phân loại chức năng giao tiếp. * Xét dưới gốc độ cá nhân, theo B.Ph.Lômôv giao tiếp có 3 chức năng sau: + Chức năng thông tin: Con người trao đổi thông tin cho nhau qua giao tiếp. Nội dung thông tin có thể là hiện tượng, vấn đề trong đời sống sinh hoạt hằng ngày, những suy nghĩ, tâm tư, tri thức… + Chức năng điều chỉnh: Qua giao tiếp con người có thể điều chỉnh thái độ, hành vi, nhận thức của bản thân, của đối tượng giao tiếp. sự điều chỉnh hành vi lẫn nhau là nhân tố quan trọng trong các chủ thể tham gia giao tiếp thành chủ thể hoạt động chung. + Chức năng cảm xúc: Con người biểu lộ tình cảm, thái độ, tác động đến trạng thái cảm xúc của nhau, nhờ đó mà con người ta có thể thay đổi trạng thái tình cảm của mình, hiểu thái độ của người khác làm cho hiệu quả giao tiếp tốt hơn. * Xét dưới góc độ nhóm, giao tiếp có những chức năng: + Chức năng nhận thức: Thông qua giao tiếp con người nhận thức lẫn nhau, so sánh, đối chiếu mình với người khác, do đó biết được mình là người thế nào. + Chức năng tổ chức hoạt động chung: giao tiếp có ảnh hưởng đến việc lựa chọn mục đích, hình thành kế hoạch chung, phân công, phân nhiệm cụ thể cho từng người. Trong quá trình hoạt động chung có sự trao đổi thông tin, khích lệ, kiểm tra, uốn nắn hành động của nhau. + Chức năng thiết lập quan hệ: Trong giao tiếp có thể hình thành các quan hệ đồng chí, bạn bè, hay quan hệ thù địch… các mối quan hệ này có ảnh hưởng tới sự phát triển cá nhân. * Xét dưới góc độ tâm lí học xã hội, giao tiếp có hai chức năng: + Chức năng liên kết: Nhờ chức năng này con người hiểu được nhau, liên hệ, xây dựng mối quan hệ với nhau. + Chức năng đồng nhất: Thực hiện sự hoà hợp của cá nhân vào trong nhóm xã hội. * Xét dưới góc độ giao tiếp là một phạm trù của tâm lý học hiện đại, giao tiếp có các chức năng sau: + Chức năng định hướng hoạt động con người, bao gồm cả việc xác định mục đích, nhu cầu, động cơ giao tiếp. + Chức năng điều khiển, điều chỉnh hành vi: Chủ thể giao tiếp điều chỉnh nhu cầu, tình cảm… cho phù hợp với mục đích, nhiệm vụ giao tiếp. + Chức năng truyền đạt tri thức, kỹ năng trong hoạt động,… Qua các cách phân loại các chức năng giao tiếp như trên chứng tỏ giao tiếp rất đa chức năng, nhưng tất cả đều thực hiện chức năng chung đó là giao tiếp làm diễn ra các hoạt động qua lại một cách hợp lý của con người. Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm khác nhau trong cách phân loại chức năng giao tiếp, chúng tôi rút ra một số chức năng cơ bản của giao tiếp như sau: + Chức năng phối hợp các hoạt động: trong giao tiếp con người cùng đối tượng giao tiếp của mình có thể trao đổi, phối hợp hoạt động với nhau để giải quyết một nhiệm vụ nào đó, đạt tới mục đích đã định. + Chức năng thông tin: Trong quá trình giao tiếp mỗi cá nhân có thể vừa là nguồn phát thông tin tới đối tượng giao tiếp nhưng đồng thời cũng là nơi tiếp nhận thông tin từ đối tượng giao tiếp. + Chức năng cảm xúc: Trong giao tiếp chủ thể bộc lộ quan điểm của mình đối với một vấn đề, hiện tượng nào đó, đồng thời biểu lộ rung cảm, thái độ, tâm trạng cuả mình đối với chủ thể khác. + Chức năng nhận thức, đánh giá lẫn nhau: Trong giao tiếp mỗi cá nhân tự bộc lộ nhận thức, tình cảm, tư tưởng, quan điểm của mình, đó là cơ sở để đối tượng giao tiếp đánh giá, nhận xét và ngược lại đối phương cũng đánh giá, nhận xét lại chính bản thân. + Chức năng điều chỉnh hành vi: Trong giao tiếp con người có thể điều chỉnh hành vi của mình và tác động đến động cơ, quá trình ra quyết định, hành động của đối tượng giao tiếp nên đối tượng giao tiếp cũng phải điều chỉnh hành vi của họ cho phù hợp với mục đích giao tiếp. 1.2.4. Phương tiện trong giao tiếp 1.2.4.1 Phương tiện ngôn ngữ * Ngôn ngữ là gì ? Trong giáo trình Tâm lý học đại cương do Nguyễn Quang Uẩn chủ biên (1996) định nghĩa: ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu từ ngữ. Ký hiệu từ ngữ tác động vào hoạt động, làm thay đổi hoạt động nhưng là hoạt động tinh thần, hoạt động trí tuệ, hoạt động bên trong con người, nó hướng vào và làm trung gian hóa cho các hoạt động tâm lý cấp cao của con người như tri giác, trí nhớ, tưởng tượng, tư duy…Ký hiệu từ ngữ làm được điều đó là nhờ vào đặc tính bên trong nội dung từ ngữ của từ - một đặc tính ngay từ đầu chỉ là do qui ước, võ đoán với hình thức âm thanh bên ngoài của từ mà thôi. Những nghĩa này mang tính khái quát, chỉ cả một lớp sự vật, hiện tượng của hiện thực. Ký hiệu từ ngữ là một hệ thống, mỗi ký hiệu chỉ có ý nghĩa và thực hiện một chức năng nhất định trong hệ thống của mình. Ngôn ngữ gồm 3 bộ phận là ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp. Các đơn vị của ngôn ngữ là âm vị, hình vị, từ, câu, ngữ đoạn, văn bản… Bất cứ thứ ngôn ngữ nào cũng chứa đựng hai phạm trù là phạm trù ngữ ._.pháp và phạm trù logic. Phạm trù ngữ pháp là một hệ thống qui định việc thành lập từ, câu, cách phát âm, phạm trù này ở các ngôn ngữ khác nhau là khác nhau. Phạm trù logic là qui luật, phương pháp tư duy đúng đắn của con người, nó chung cho cả loài người vì vậy tuy dùng các thứ ngôn ngữ khác nhau nhưng các dân tộc khác nhau vẫn hiểu được nhau. Trong tâm lý học ngôn ngữ được chia làm hai loại là: ngôn ngữ bên ngoài và ngôn ngữ bên trong. Ngôn ngữ bên ngoài là ngôn ngữ nhằm hướng vào người khác, phát đi hay thu nhận thông tin. Ngôn ngữ bên ngoài gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Ngôn ngữ nói biểu hiện bằng âm thanh, được tiếp nhận bằng thính giác và gồm ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ độc thoại. Ngôn ngữ viết được biểu đạt bằng chữ viết, được thu nhận bằng thị giác cũng bao gồm ngôn ngữ đối thoại (viết thư trao đổi) và ngôn ngữ độc thoại (đọc sách báo). Ngôn ngữ bên trong là ngôn ngữ cho mình, hướng vào mình và nhờ đó ta mới có thể tư duy được. Ngôn ngữ bên trong không phát lên thành tiếng, bao giờ cũng ở dạng rút gọn. Ngôn ngữ bên trong là phương tiện để hoạt động nhận thức, điều chỉnh tình cảm, ý chí của con người. Ngôn ngữ bên ngoài và ngôn ngữ bên trong có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Ngôn ngữ của mỗi người được hình thành trong quá trình sống và hoạt động trong môi trường lịch sử văn hóa nhất định, phụ thuộc vào môi trường sống, do đó có sự khác biệt cá nhân về ngôn ngữ. * Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người Phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người chính là ngôn ngữ. Hiệu quả giao tiếp ở chừng mực nào đó là do trình độ của người sử dụng ngôn ngữ. Nếu việc diễn đạt ngôn ngữ rõ ràng, dễ hiểu, thích hợp với trình độ người nghe, diễn tả đứng được tình cảm, thái độ mà mình muốn thể hiện thì đạt mục đích giao tiếp. Ngôn ngữ cá nhân thể hiện thành phong cách ngôn ngữ từng người. Phong cách ngôn ngữ mang dấu ấn của đặc điểm nghề nghiệp, tuổi tác, giới tính, vị thế xã hội của từng cá nhân. Việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp của cá nhân nói lên những thông tin chính về tính cách, trạng thái, đặc điểm tâm lý của cá nhân đó. Hai loại ngôn ngữ thường dùng làm phương tiện giao tiếp đó là ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói. Với ngôn ngữ viết, là ngôn ngữ nhìn thấy, ngôn ngữ sơ đồ được thể hiện ở ngữ pháp của câu, mệnh đề, một từ và được sử dụng trong các ngữ cảnh, văn cảnh khác nhau, cấu trúc câu khác nhau mang một ý nghĩa khác nhau, thậm chí đối lập nhau về nghĩa. Do đó ngôn ngữ viết sẽ trở thành một phương tiện giao tiếp hiệu quả nếu người giao tiếp chuẩn về ngữ pháp, dừng từ thể hiện được sự trong sáng, tế nhị, thanh tao, dễ đọc, dễ hiểu. Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ âm thanh cũng chứa đựng nghĩa xã hội, chính là nội hàm của khái niệm từ, thực hiện chức năng nhận thức. Phương tiện giao tiếp là ngôn ngữ nói có hiệu quả khi các ý trong từ thể hiện thái độ thiện cảm, phù hợp với không gian giao tiếp. Đặc điểm rõ nhất của ngôn ngữ nói là giọng điệu. Giọng điệu tự nó phản ánh chân thật tình cảm, giọng điệu có thể khuyến khích, động viên, răn đe, ngăn cấm, kích thích tính tích cực hoạt động nhận thức hoặc ngược lại làm đối tượng giao tiếp buồn tẻ, thụ động… Trong cuốn “Tâm lý học xã hội” A.G.Covaliov đã khẳng định nếu như nội dung của lời nói tác động vào ý thức, thì ngữ điệu của nó tác động vào tình cảm con người. Cũng vấn đề này V.A.Xukhomlinxki nhấn mạnh: “Bằng lời nói con người có thể giết chết hoặc làm sống lại, có thể gây tổn thương hoặc làm lành bệnh, có thể gieo rắc sự bất ngờ và thất vọng…có thể tạo ra nụ cười sung sướng hoặc làm rơi những giọt nước mắt đau khổ…có thể động viên con người làm việc hoặc kiềm hãm sức mạnh tinh thần…”. Vì thế cần rèn luyện ngôn ngữ để giao tiếp. 1.2.4.2. Phương tiện phi ngôn ngữ Phương tiện phi ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp ngoài ngôn ngữ. Trong giao tiếp bên cạnh tín hiệu ngôn ngữ thì tín hiệu phi ngôn ngữ giúp cho đối tượng giao tiếp cho đi rất nhiều thông điệp có ý nghĩa. Tín hiệu phi ngôn ngữ đó là những cử chỉ, điệu bộ (nhún vai, vẩy tay, chỉ tay); cái bắt tay; thái độ (ân cần, thân thiện, cởi mở, hồ hởi, lạnh lùng, thờ ơ, lãnh đạm, nhạt nhẽo); nụ cười; ánh mắt, nheo mắt; ngôn ngữ không gian; ngôn ngữ thời gian. Mặc dù những cử chỉ điệu bộ của con người có thể luyện tập và che đậy được, nhưng nhìn từ một góc độ nào đó khi đã tham gia vào cuộc giao tiếp thì cử chỉ, điệu bộ của con người được điều khiển bởi thói quen và vô thức. Chính vì vậy cử chỉ, điệu bộ …của con người trong lúc nói chuyện, giao tiếp đã nói lên một phần bản chất thật của người tạo ra nó. Ví dụ, một người đang dùng lời để thuyết phục mọi người tin rằng mình không ăn cắp nhưng qua giọng nói run, da mặt tái nhợt, ánh mắt cố tình tránh ánh mắt mọi người đã nói lên rằng người đó đã ăn cấp. Trong giao tiếp, cử chỉ, điệu bộ mang lại ý nghĩa rất lớn. Khi lắng nghe đối tượng giao tiếp ta phải lắng nghe cả ngôn ngữ có lời và ngôn ngữ không lời (tín hiệu phi ngôn ngữ); còn khi nói chúng ta nên tranh thủ sử dụng cử chỉ, điệu bộ bổ trợ cho lời nói. Cử chỉ, điệu bộ giúp ta diễn đạt vấn đề sinh động hơn, thuyết phục hơn. Các nhà nghiên cứu ở Mỹ gần đây cho rằng: “ Trong giao tiếp, thông qua hình thức nói, tác động của từ ngữ chỉ chiếm 30 đến 40%, phần còn lại là giao tiếp của phi ngôn ngữ”[8, tr.126] Vì vậy, khi giao tiếp, người giao tiếp phải có kiến thức về tín hiệu phi ngôn ngữ để giao tiếp hiệu quả hơn. Ví dụ như: Không gian giao tiếp [8, tr.150-151]: Không gian giao tiếp cũng là phương tiện để bộc lộ mối quan hệ, tình cảm giữa các cá nhân với nhau. Về cơ bản chúng ta thường xích lại gần những người chúng ta thích và tin tưởng, nhưng lại tránh xa những người chúng ta sợ hoặc không có cảm tình. Thông thường, người ta chỉ ra bốn vùng xung quanh mỗi cá nhân . - Vùng mật thiết: có bán kính từ 0 đến 0,5 m. Vùng này chỉ tồn tại khi có mối quan hệ thân tình với người khác hoặc khi hai người đang đánh nhau. Lúc này khứu giác và khứu giác là phương tiện quan trọng, lời nói có thể chỉ thì thầm. - Vùng riêng tư: có bán kính từ 0,5 đến 1,5 m. Hai người phải rất quen nhau đến mức thấy thoải mái, mặc dù họ chưa đến mức mật thiết. - Vùng xã giao: có bán kính từ 1,5 dến 3,5 m, đây là vùng tiến hành phần lớn các hoạt động kinh doanh, vì nó phù hợp với mối quan hệ riêng tư, ví dụ như giao tiếp giữa người bán hàng và khách hàng. - Vùng công cộng: có bán kính từ 3,5m trở lên. Đây là phạm vi tiếp xúc với những người lạ vì mục đích công việc, là phạm vi được các chính khách ưa thích. Cách bắt tay thường gặp trong giao tiếp [8, tr.126-129]: - Hãy giữ khoảng cách : Đây là cách bắt tay cổ điển, nghi thức, rất thích hợp trong lần gặp gỡ đầu tiên. + Giữ cánh tay dùng để bắt của bạn (luôn là tay phải) duỗi ra nhưng đừng quá cao, tư thế đứng thẳng, tay được giữ ở tư thế nằm ngang (bàn tay vuông góc với mặt đất), với lòng bàn tay quay về bên trái. + Một cái nắm tay vừa phải: Nắm tay quá chặt sẽ bị lộ ra là mình quá mạnh mẽ, quyết đoán; Nắm tay quá lỏng lẻo, bạn sẽ bị đánh giá là người quá hờ hững , vô tình hoặc kém cỏi, thiếu tự tin, thụ động; nắm hết bàn tay của đối tác- nắm lòng bàn tay (tư cách ngang bằng). - Chi phối: Những người có tước vị, quyền lực mạnh mẽ, thích kẻ cả, bề trên, thích ban ơn thường chọn cách bắt tay “chi phối”. Người muốn chi phối đưa tay ra với lòng bàn tay hướng xuống. Nếu đối tác ở thế yếu, chấp nhận mối quan hệ, thì tay đối tác sẽ nằm dưới, lòng bàn tay hướng lên trên. Nếu đối tác mạnh, tự tin, biết ứng xử thì trong quá trình bắt tay sẽ khéo léo xoay dần tay chuyển thành thế ngang bằng, hoặc xoay tay của người muốn chi phối phải ngửa lòng bàn tay lên. - Bạn được chào đón vào không gian của tôi: cũng như cách bắt tay giữ khoảng cách, nhưng các bên tỏ ra thân thiện hơn bằng cách tiến lại gần nhau hơn. Trong cách bắt tay này, cánh tay cong ở khuỷ tay, bàn tay có thể cong ở phần cổ tay để giữ nó song song với mặt đất. - Bạn được tin tưởng: Cũng như cách bắt tay bạn được chào đón vào không gian của tôi, nhưng trong kiểu này, thời gian bắt tay kéo dài hơn, người ta thường nắm tay rung rung tỏ vẻ thân thiện. Kiểu bắt tay này thường được dùng một cách vô thức bởi những đối tác thân thiết hoặc những người được tin cậy. - Những người bạn thật sự: Tương tự kiểu bắt tay bạn được tin tưởng, nhưng bạn tiến gần hơn nữa về phía đối tác. Kiểu bắt tay này dành riêng cho những người bạn và đối tác thân thiết. Nét mặt [8,tr.149]: Trong giao tiếp, nét mặt biểu lộ thái độ, cảm xúc của con người. Các công trình nghiên cứu thống nhất rằng nét mặt của con người biểu lộ sáu cảm xúc: vui, mừng, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi, tức giận, ghê tởm. Ngoài tính biểu cảm, nét mặt còn cho ta biết ít nhiều về cá tính con người. Nụ cười [8,tr.149-150]: Trong giao tiếp chúng ta có thể dùng nụ cười để biểu lộ tình cảm, thái độ của mình. Con người có bao nhiêu kiểu cười thì có bấy nhiêu cá tính. Mỗi điệu cười biểu hiện một thái độ nào đó, cho nên trong giao tiếp chúng ta phải tinh nhạy, quan sát nụ cười của đối tượng giao tiếp để biết được cảm xúc thật sự của họ. Ánh mắt [8,150]: Ánh mắt phản ánh trạng thái cảm xúc, bộc lộ tình cảm, tâm trạng và ước nguyện của con người ra bên ngoài. Trong giao tiếp, ánh mắt còn đóng vai trò “đồng bộ hoá” câu chuyện, biểu hiện sự chú ý, tôn trọng, sự đồng tình hay phản đối. Ánh mắt trong giao tiếp cũng phụ thuộc vào vị trí xã hội mỗi bên. Ánh mắt của con người thể hiện cá tính của người đó. 1.2.5. Vai trò của giao tiếp trong sự hình thành và phát triển nhân cách * Vai trò của giao tiếp trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người. Khi nói đến con người các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin đề cập đến bản chất xã hội của con người. bản chất đó được Các- Mác phát biểu trong một luận đề nổi tiếng: “ Bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội” [ 9, tr.492]. Thật vậy, không có quan hệ với người khác “ Con người” không có dáng đi thẳng đứng, một đặc trưng chỉ có ở con người. Chỉ thông qua quan hệ với người khác “ Con người” mới biết phát âm tiếng người, biết nói, hiểu được ngôn ngữ người và biết sử dụng ngôn ngữ để đạt mục đích. Qua quan hệ với người khác con người học cách nhìn, cách nghe, cách nghĩ, cách hành động, ứng xử phù hợp với quy luật tự nhiên, quy luật xã hội. có quan hệ với người khác mà con người mới liện kết, phối hợp, điều hoà các cá nhân trong phân công lao động xã hội, nhờ lao động mà “ Con người” thành người. Kế tục những tư tưởng của Mác về bản chất xã hội của con người, nhà tâm lý học Mác- Xít đã đi sâu vào việc khám phá bản chất con người và tìm hiểu cơ chế hình thành nên bản chất đó. Theo các nhà tâm lý học Mác- Xít, bản chất con người xét về mặt tâm lý học nằm trong quan hệ khăng khít với hoạt động và giao tiếp. Theo nhà tâm lý học L.X Vưgôtxki giao tiếp có vai trò quan trọng không chỉ trong việc làm phong phú thêm nội dung ý thức của trẻ, trong việc giúp trẻ tiếp thu những tri thức, KN mới mà nó còn quy định cấu tạo trung gian của các quá trình tâm lý cao cấp đặc trưng cho con người. Ông còn cho rằng giao tiếp là một nhu cầu hữu cơ của con người, “ Bất kỳ một nhu cầu nào trẻ sơ sinh, không kể đó là nhu cầu gì, đều dần dần trong quá trình phát triển trở thành nhu cầu của nó về người khác, về sự tiếp xúc với người, về sự giao tiếp đối với họ”. Thật vậy nếu như động vật có thể duy trì sự tồn tại và phát triển của nó không phụ thuộc vào mối quan hệ với những động vật khác thì trái lại ở con người luôn luôn cần sự giúp đỡ, cưu mang, đùm bọc của những người xung quanh. Mỗi cá nhân không thể sống một cách riêng rẽ, mà phải hợp tác dựa vào người khác. Con người trở thành “người” khi con người tích cực tham gia vào các hoạt động như là một chủ thể trong các mối quan hệ xã hội. Gia nhập vào các mối quan hệ xã hội như quan hệ với người thân trong gia đình, quan hệ đồng nghiệp… cá nhân có dịp gặp gỡ, tiếp xúc với người khác qua đó cá nhân hình thành được cách đánh giá về người khác, biết giá trị xã hội của họ, đồng thời cũng biết đánh giá mình về mọi mặt, tự khẳng định mình qua sự đối chiếu, so sánh mình với người khác cũng như tiếp thu những chuẩn mực, giá trị xã hội, trên cơ sở đó tự điều chỉnh, điều khiển bản thân theo các chuẩn mực xã hội. Với các vị trí trong các mối quan hệ, giao tiếp còn có thể hình thành những nét tính cách khác nhau ở từng con người như độc lập, tự tin hay e dè, nhút nhát, khiêm tốn hay hợm mình, tham lam, ích kỷ hay biết mình vì mọi người… Sự thành công hay thất bại trong giao tiếp ảnh hưởng đến tính cách con người. Lênin đã từng nói: “Giao tiếp còn quan trọng hơn cả ánh sáng”. Quả thật không giao tiếp với người khác thì con người sẽ cô đơn kinh khủng và trở thành bệnh hoạn vì nhu cầu của con người trước hết là nhu cầu về người khác…Giao tiếp chính là cơ chế của sự hình thành, phát triển nhân cách cá nhân. * Vai trò của giao tiếp trong sự hình thành, phát triển nhân cách SV Sư phạm: - Đặc điểm tâm lý lứa tuổi SV Theo tác giả Vũ Thị Nho, ở lứa tuổi SV con người đã bước vào giai đoạn trưởng thành ( người trưởng thành trẻ tuổi có tuổi từ 19, 20 đến 40). [29] Người trưởng thành là một khái niệm tổng hợp được xem xét trên cả bình diện sinh học, tâm lý, xã hội. Theo nghiên cứu của nhiều nhà tâm lý học, xã hội học, khái niệm tuổi trưởng thành được xác định dựa theo một tổ hợp các tiêu chí sau: - S ự chín muồi về mặt sinh lý, thể chất - Có đầy đủ quyền hạn và nghĩa vụ của người công dân - Đã kết thúc việc học tập ở những mức độ khác nhau - Có nghề nghiệp ổn định - Có lao động để nuôi sống bản thân và gia đình - Đã xây dựng gia đình riêng - Có cuộc sống kinh tế độc lập, không phụ thuộc vào cha mẹ hoặc người đỡ đầu. Khái niệm tuổi trưởng thành còn tuỳ thuộc vào thời gian đào tạo và trình độ học vấn. Đó cũng chính là lý do giai đoạn “ người trưởng thành trẻ tuổi” thường lấy mốc từ 20 trở lên, chậm hơn chút ít so với tuổi công dân (18 tuổi). SV là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt đang chuẩn bị cho hoạt động sản xuất vật chất hay tinh thần của xã hội. Thanh niên SV có những chức năng chủ yếu là bổ sung cho đội ngủ trí thức, là tầng lớp có trình độ nghề nghiệp cao trong xã hội. Họ thực hiện tích cực vai trò là nguồn dự trữ để bổ sung cho đội ngủ những chuyên gia theo các nhóm nghề khác nhau trong cấu trúc của tầng lớp tri thức. Một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng nhất ở tuổi thanh niên SV là tự ý thức phát triển mạnh. Qua quá trình tự ý thức, SV điều chỉnh hành vi và cử chỉ của mình. Đó là điều kiện để phát triển ý thức và hoàn thiện nhân cách, để xây dựng lại và tổ chứclại toàn bộ thế giới nội tâm của nhân cách đó. Tự ý thức là một hình thức của ý thức giúp cho SV có những hiểu biết và những thái độ đối với mình để chủ động hướng nhân cách theo các yêu cầu của xã hội. Theo kết quả nghiên cứu của B.G.Ananhev cho thấy rằng: lứa tuổi SV là thời kỳ phát triển tích cực nhất về tình cảm đạo đức và thẩm mĩ, là giai đoạn hình thành và ổn định tính cách. Đặc biệt là họ có vai xã hội của người lớn. Trong giai đoạn lứa tuổi SV, con người có sự biến đổi mạnh mẽ về động cơ, thang giá trị xã hội có liên quan đến nghề nghiệp. Họ xác định con đường sống tương lai tích cực, nắm vững nghề nghiệp và bắt đầu thể nghiệm mình trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. SV có thể đạt đỉnh cao về thể thao, bắt đầu thành đạt trong khoa học và nghệ thuật. Niềm tin, xu hướng nghề nghiệp và các năng lực cần thiết được củng cố và phát triển. Các quá trình tâm lý, đặc biệt là quá trình nhận thức được nghề nghiệp hoá. Tình cảm nghĩa vụ, tinh thần trách nhiệm, tính độc lập được nâng cao, cá tính và lập trường sống của SV được bộc lộ rõ rệt. Kỳ vọng đối với nghề nghiệp tương lai của SV được phát triển. Sự trưởng thành về mặt xã hội, tinh thần và đạo đức việc hình thành những phẩm chất nghề nghiệp và sự ổn định chung về nhân cách của SV được phát triển. Khả năng tự giáo dục của SV được nâng cao. Tính độc lập và sẵn sàng đối với hoạt động nghề nghiệp tương lai được củng cố. Định hướng giá trị là những giá trị được chủ thể nhận thức, ý thức và đánh giá cao, có ý nghĩa định hướng, điều chỉnh thái độ, hành vi, lối sống của chủ thể nhằm vươn tới những giá trị đó. Định hướng giá trị phát triển mạnh vào lúc thanh niên phải đứng trước việc chọn nghề, chọn các chuyên ngành khác nhau trong việc thi vào các trường Đại học – Cao đẳng – Trung học chuyên nghiệp. SV Việt Nam đánh giá cao các giá trị: hoà bình, tự do, tình yêu, công lý, việc làm, niếm tin, gia đình, nghề nghiệp, tình nghĩa, sống có mục đích, tự trọng. (Kết quả nghiên cứu về định hướng giá trị của chương trình KHCN cấp nhà nước, với đề tài KX – 07 – 04 của Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Mạc Văn Trang (1995) ) Định hướng giá trị của người trưởng thành trẻ tuổi liên quan mật thiết với xu hướng nhân cách và kế hoặch đường đời của họ. - Vai trò của giao tiếp trong sự hình thành, phát triển nhân cách sinh viên Sư phạm Giao tiếp là một phần cơ bản của hoạt động sư phạm. Trong mỗi nghề nghiệp đều có những yêu cầu giao tiếp đặc trưng. Một yếu tố quan trọng làm nên thành công của người làm nghề dạy học đó là năng lực giao tiếp sư phạm. Chính năng lực giao tiếp sư phạm của người giáo viên nói lên nhân cách của họ. Đồng thời, thông qua hoạt động dạy học, giao tiếp sư phạm nhân cách người giáo viên được bồi dưỡng và hoàn thiện. Giao tiếp trong môi trường nhà trường, nơi các em được đào tạo nghề nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến nhân cách nói chung và năng lực giao tiếp sư phạm nói riêng của các em sau này. SV là đối tượng các em đang được đào tạo chuyên môn, nghề nghiệp. Đại đa số các em có ý thức để chuẩn bị những hành trang như tri thức và một số KN cần thiết phục vụ cho công việc sau này của mình. Nếu nhà trường có sự tổ chức quản lý, giảng dạy càng coi trọng sự tiến bộ cho SV thì càng được các em ủng hộ. Điều này sẽ thôi thúc lòng nhiệt tình của tuổi trẻ, giúp các em ngày càng yêu đời và yêu nghề hơn. Khi nói về vai trò của giao tiếp đối với việc hình thành nhân cách SV T.V.Pêteria đã viết: “Nhân cách sinh viên không chỉ biểu hiện trong giao tiếp mà trong một mức độ nhất định nó còn được hình thành dưới ảnh hưởng của giao tiếp. Trong quá trình giao tiếp và học tập ở trường đại học, giao tiếp đóng vai trò là người điều chỉnh hoạt động của Giáo viên và là phương tiện hình thành tiêu chuẩn đạo đức, hạnh kiểm, thẩm mỹ, giá trị tư tưởng của Sinh viên…” [31] Ở trường học, năng lực chuyên biệt giao tiếp sư phạm của người SV được hình thành thông qua hoạt động giao tiếp của người SV Sư phạm với thầy cô giáo, bạn bè trong trường, lớp, các cán bộ phòng khoa…những người đang làm công tác giáo dục, giảng dạy, với các cơ quan ban ngành có liên quan và cả với cộng đồng trong công tác xã hội hoá giáo dục. Chính Ban giám hiệu; toàn thể GV, Cán bộ, Công nhân viên trong nhà trường là những người chịu trách nhiệm tạo ra một môi trường sống và giao tiếp mô phạm. Được sống và học tập trong môi trường giao tiếp như thế là điều kiện tiên quyết để hình thành, bồi dưỡng nhân cách cho SV - những người thầy trong tương lai. Trong quá trình học tập, khi tham gia vào các loại hình hoạt động khác nhau, SV thể hiện và xây dựng các mối quan hệ phong phú với mọi người. Trong các mối quan hệ đó SV học hỏi những tri thức, KN , kinh nghiệm nghề nghiệp chuyên môn cũng như kinh nghiệm sống. Soi mình vào người khác SV sẽ nhận ra những ưu điểm bản thân để phát huy, nhược điểm bản thân để khắc phục. Chính cách giao tiếp, ứng xử trong hoạt động sư phạm sẽ thiết lập được những mối quan hệ cần thiết, qua đó SV tự điều chỉnh, điều khiển thái độ, phong cách giao tiếp của mình, cũng như điều chỉnh, điều khiển hành vi đối tượng giao tiếp cho phù hợp với mục đích, nhiệm vụ của nhà trường Sư phạm và từ đó tự hoàn thiện nhân cách. Theo tác giả Nguyễn Văn Lê, giao tiếp sư phạm là thành phần cấu trúc cơ bản của các phương pháp giảng dạy, giáo dục. Mọi yêu cầu về cải tiến phương pháp giảng dạy, giáo dục sẽ kéo theo sự cải tiến phương pháp giao tiếp sư phạm. [24, tr.55] 1.3. KỸ NĂNG GIAO TIẾP: 1.3.1. Một số khái niệm * Kỹ năng Theo Từ điển Tiếng Việt 2000, Nhà Xuất bản Thanh Niên, Viện Ngôn ngữ học Việt Nam thì KN là năng lực làm việc khéo léo. Trong tâm lý học nhiều tác giả đưa ra những định nghĩa về KN khác nhau như: Trần Trọng Thủy quan niệm KN là mặt kỹ thuật của hoạt động, con người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật hành động, có KN. Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết, Ngô Công Hoàn, Trần Quốc Thành…quan niệm KN là năng lực của con người khi thực hiện một công việc có kết quả trong những điều kiện nhất định, trong một khoản thời gian tương ứng. Như vậy có hai quan niệm khác nhau về KN. + Quan niệm thứ nhất: Xem xét KN nghiêng về mặt kỹ thuật của hành động, người có KN là người nắm vững trí thức về hành động và thực hiện hành động theo đúng yêu cầu của nó mà không cần tính đến kết quả hành động. + Quan niệm thứ hai: Xem xét KN là một biểu hiện năng lực con người chứ không phải đơn thuần là mặt kỹ thuật của hành động. Coi KN là năng lực thực hiện một công việc kết quả với chất lượng cần thiết trong một thời gian nhất định. Trong đề tài của mình, chúng tôi chọn quan niệm thứ hai về KN. * Kỹ năng giao tiếp. KNGT là hệ thống những thao tác, cử chỉ, điệu bộ, hành vi được con người phối hợp hài hòa, hợp lý nhằm đảm bảo kết quả cao trong hoạt động có sự tiếp xúc giữa con người với con người. Trong KNGT bao gồm cả tri thức và logic các thao tác, hành động và hướng tới thực hiện mục đích của hoạt động giao tiếp. Khi thực hiện KNGT, con người phải sử dụng các phương tiện giao tiếp (ngôn ngữ và phi ngôn ngữ) phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh giao tiếp. Tham khảo các khái niệm về KNGT, chúng tôi nêu một định nghĩa về KNGT như sau: KNGT là sự thực hiện có hiệu quả một hành động trong đó hoạt động giao tiếp bằng cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để tác động đến đối tượng, điều khiển bản thân, tổ chức quá trình giao tiếp nhằm đạt được mục đích đề ra. 1.3.2. Phân loại kỹ năng giao tiếp: - A.A.Bôđalov, N.V.Cuđơmia, A.N.Leonchiev… cho rằng giao tiếp có ba giai đoạn: giai đoạn điều khiển, điều chỉnh và phát triển quá trình giao tiếp, giai đoạn phân tích hệ thống giao tiếp đã được thực hiện và giai đoạn xây dựng mô hình giao tiếp cho hoạt động tiếp theo. Dựa vào căn cứ này người ta chia KNGT thành ba nhóm KN chính là: * Nhóm KN định hướng: KN dựa vào biểu lộ bên ngoài như sắc thái biểu cảm, ngữ điệu, thanh điệu lời nói, nội dung cử chỉ, điệu bộ, động tác, thời gian, không gian giao tiếp mà phán đoán chính xác về nhân cách cũng như mối quan hệ giữa chủ thể với đối tượng giao tiếp. * Nhóm KN định vị: Biểu thị kỹ năng biết xác định vị trí giao tiếp, biết đặt vị trí mình vào vị trí của đối tượng và biết tạo ra điều kiện để đối tượng chủ động giao tiếp với mình. * Nhóm KN điều khiển quá trình giao tiếp: Thể hiện KN thu hút đối tượng, tìm ra đề tài giao tiếp, duy trì nó, xác định được nguyện vọng hứng thú của đối tượng và biết sử dụng toàn bộ các phương tiện giao tiếp, làm chủ các trạng thái cảm xúc bản thân. - A.Cubanora và M.Rakkmatulina thì chia KNGT thành ba nhóm lớn: * Nhóm các KN định hướng trước khi giao tiếp * Nhóm các KN tiếp xúc xảy ra trong quá trình giao tiếp * Nhóm các KN độc đáo hướng quá trình giao tiếp theo các định hướng giá trị Thành phần KN trong ba nhóm KN này là KN nghe thấy, KN nhìn thấy, KN tiếp xúc, KN hiểu biết lẫn nhau, KN tổ chức điều khiển quá trình GT. - V.P.Dakharop đã chia các kỹ năng giao tiếp thành bốn nhóm cơ bản: * Nhóm KN đóng vai tích cực chủ động trong giao tiếp * Nhóm KN thể hiện sự thụ động trong giao tiếp * Nhóm KN điều chỉnh sự phù hợp cân bằng trong giao tiếp * Nhóm KN diễn đạt cụ thể, dễ hiểu Ông cho rằng bốn nhóm KNGT trên có thể phân chia thành 10 KNGT. Dưới đây chúng tôi xin trình bày ra 10 KNGT cụ thể của V.P.Dakharop. Qua bảng trắc nghiệm Tâm lý của ông chúng tôi rút ra được các năng lực cần có để có một KNGT. Dưới đây xin đưa ra các năng lực cụ thể và có phân tích nhỏ. * KN thiết lập mối quan hệ trong giao tiếp - Biết cách làm quen với người lạ; biết làm cho người lạ gần gũi mình - Biết cách mở đầu câu chuyện đối với đối tượng giao tiếp - Có khả năng tiếp xúc đám đông - Có khả năng thích nghi với môi trường mới - Tiếp xúc với mọi người dễ dàng và tự nhiên Cổ nhân có nói rằng ” Sự ăn cho ta cái lực, sự ở cho ta cái chí, sự bang giao cho ta cái sự nghiệp”. Để có thể bang giao với người khác con người cần qua giai đoạn đầu tiên đó là thiết lập mối quan hệ. Trong cuộc sống, trong giao tiếp rất nhiều người gặp khó khăn ở giai đoạn đầu tiên này. Thiết lập mối quan hệ hay nói đơn giản hơn đó là làm quen. Để làm quen với một người nào đó, trước tiên ta phải tìm hiểu về họ như: giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, sở thích, hoàn cảnh gia đình…Tất cả những cứ liệu này sẽ giúp ta tìm ra chủ đề chung để mở đầu câu chuyện, gợi chuyện, dẫn dắt câu chuyện giao tiếp .Mỗi đối tượng khác nhau, với những mục đích thiết lập mối quan hệ khác nhau sẽ có nghệ thuật thiết lập mối quan hệ riêng. Thực tế có những người muốn làm quen với người lạ, người mới gặp nhưng không biết nói về chuyện gì, hoặc trò chuyện được ít phút thì không biết sẽ nói gì nữa. Thường thì những chủ đề dùng để làm quen là những chủ đề tránh những vấn đề nhạy cảm, riêng tư. * KN biết cân bằng nhu cầu của chủ thể và đối tượng GT. - Biết kết hợp hài hòa nhu cầu, sở thích của mình với mọi người khi giao tiếp - Biết quan tâm tới nhu cầu, sở thích của họ - Thường cố gắng tìm hiểu nhu cầu của người khác * KN nghe đối tượng GT. - Trong lúc nghe đối tượng giao tiếp thì không suy nghĩ việc riêng. - Nhắc lại được bằng lời những gì đối tượng giao tiếp đã nói - Diễn đạt chính xác ý đồ trong lời nói của đối tượng giao tiếp - Nhận biết được ý nghĩa giọng điệu của lời nói - Nhận ra ngụ ý trong lời nói của đối tượng giao tiếp - Tập trung lắng nghe - Nhận biết đối tượng giao tiếp lạc đề Tâm lý học phân biệt giữa nghe và lắng nghe. Nghe thấy là sóng âm tác động vào màng nhĩ và tín hiệu truyền lên não. Lắng nghe là từ tín hiệu não nhận được con người hiểu nghĩa của lời nói. Lắng nghe để hiểu bao gồm: sự tập trung chú ý - hiểu - hồi đáp – ghi nhớ. Thực tế, có mắt không đồng nghĩa với nhìn thấy, có trí não không đồng nghĩa với biết nghĩ, có tai không đồng nghĩa với biết lắng nghe. Ngạn ngữ Nga có câu: “Ba tuổi đủ để học nói, nhưng cả cuộc đời không đủ để biết lắng nghe”. Lắng nghe không phải bản năng mà là nghệ thuật, kỹ năng cần phải rèn luyện lâu dài. Lắng nghe chính là hùng biện nhất nhưng ít ai biết được điều này. Trong giao tiếp với nhau chúng ta thường tranh nhau thể hiện mà ít có ai tranh nhau để lắng nghe. Để có kỹ năng lắng nghe tốt cần tuân thủ các bước sau đây của quy trình lắng nghe: - Tập trung: yếu tố đầu tiên để lắng nghe hiệu quả là tập trung. Tập trung có nghĩa là trong một thời điểm chỉ làm một việc. Nhiều người giao tiếp không thành công vì trong khi lắng nghe người khác truyền tải thông điệp thì để các công việc khác xen vào. Kết quả là thông điệp được truyền tải từ ngươì nói đến người nghe không có một cách hiểu như nhau. Tập trung lắng nghe cũng là biểu hiện tôn trọng người nói, giúp người nói có thêm sự tin tưởng để giao tiếp cởi mở hơn. - Tham dự: Có người nói phải có người nghe, người gửi phải có người nhận. Tham dự trong lắng nghe được biểu hiện bằng sự chú ý của đôi mắt, những cái gật đầu của người nghe; về ngôn từ là những từ đệm: dạ, vâng, ạ, thế à, thật không? - Hiểu: Nhiều cuộc giao tiếp diễn ra theo kiểu “Ông nói gà, bà nói vịt” vì không hiểu được thông điệp của giao tiếp. Để hiểu được thông điệp của người gửi, yêu cầu người nghe phải xác định lại thông điệp bằng cách trình bày lại nội dung của người nói theo ý hiểu của mình hoặc bằng cách đặt câu hỏi để xác định như: tôi hiểu như thế này có đúng không?, hoặc ý anh là…? - Ghi nhớ: Ghi nhớ thông điệp chính. - Hồi đáp: Giao tiếp là quá trình tương tác 2 chiều giữa người gửi và người nhận. Sau khi nhận thông điệp, bước tiếp theo cần có sự hồi đáp với người gửi. Có đi có lại mới toại lòng nhau, mới có thể hoàn chỉnh quá trình giao tiếp cũng như lắng nghe. - Phát triển: Giao tiếp không phải là một thời điểm mà là một quá trình. Quá trình hồi đáp là sự chấm dứt cho một chu trình mới. Chu trình lắng nghe vừa miêu tả là một mô hình khép kín và diễn ra theo chiều xoáy trôn ốc đi lên. Lắng nghe một cách hiệu quả là lắng nghe như thể bạn là người Bác sỹ đang chẩn đoán triệu chứng của bệnh nhân, hoặc là một phi công đang tiếp xúc với đài kiểm soát trong một cơn bão. Người biết lắng nghe là người biết tiếp nhận những thông tin mới, những ý kiến mới và lợi điểm là nắm được thông tin, cập nhật hoá thông tin, và giải quyết được vấn đề. * KN tự chủ cảm xúc hành vi. - Kiềm chế được trêu chọc, khích bác, nói xấu. - Giữ được bình tĩnh khi người tiếp xúc có định kiến, chụp mũ mình. - Tự chủ cảm xúc, hành vi của mình khi tranh luận. - Không bị mất cân bằng cảm giác. * KN tự kiềm chế kiểm tra đối tượng GT. - Áy náy khi xen vào chuyện người khác. - Biết hay khuyên bảo, chỉ dẫn người khác trong giao tiếp là không tốt. - Biết cách an ủi những người đang có điều gì lo lắng, buồn phiền. - Biết ngăn cản người hay nói. - Biết cách tác động vào người đang lung túng, bối rối. - Biết làm cho người nói chuyện bị xúc động chi phối ngừng lời. * KN diễn đạt cụ thể, dễ hiểu. - Nói chuyện hấp dẫn, có duyên. - Diễn đạt ngắn gọn ý kiến của mình. - Biết nhiều lời trong giao tiếp là không tốt. - Nhận ra người khác nói chuyện rời rạc. Khi trao đổi thông tin với ai đó, để đạt được mục đích giao tiếp ta phải trải qua quá trình truyền thông. Tuy nhiên, làm thế nào để thông điệp bạn muốn gửi cho người nhận đến “đích” và đạt hiệu quả cao, bạn phải hiểu được quá trình truyền._.ng phong phú hơn về kiến thức KNGT các em càng có nhu cầu mạnh mẽ trong việc rèn luyện KNGT cho bản thân. Biện pháp 2: Trang bị hệ thống tri thức lý thuyết về giao tiếp cho SV hiệu quả Mục tiêu: Nhằm giúp SV được lĩnh hội tri thức về giao tiếp hiệu quả nhất. Nội dung: Nội dung tri thức SV cần đạt: nội dung của các môn học thuộc về giao tiếp. GV sử dụng thông thạo các phương pháp tổ chức giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực cho người học. Cách thực hiện: Có thể nói rằng hình thành nhu cầu, động cơ, hứng thú, rèn luyện giao tiếp được tiến hành song song với việc hình thành tri thức lý thuyết về giao tiếp. Trong quá trình hình thành tri thức về giao tiếp, nhu cầu, động cơ, hứng thú về giao tiếp của các em sẽ được hình thành và nâng cao. Thông qua các môn học thuộc về giao tiếp GV truyền thụ cho các em nội dung cũng như cách thức luyện tập các KNGT. Tri thức về giao tiếp thì rất nhiều. Những tài liệu từ cổ chí kim đều có những bài học về KN sống rất hay. Trang bị tri thức đúng, đủ, phong phú cho SV là trách nhiệm của người thầy. Ở biện pháp trang bị tri thức về KNGT cho SV chúng tôi muốn nhấn mạnh đến cách thức truyền đạt tri thức của GV. Kiến thức về KNGT rất gần gũi trong cuộc sống, SV có thể nhìn thấy ở mọi nơi trong xã hội loài người. Đây là điều kiện rất thuận lợi cho GV giảng dạy các môn thuộc về giao tiếp. GV nên tổ chức những buổi học lý thuyết sinh động bằng cách sử dụng các phương pháp dạy học như: Thảo luận nhóm, xemina, làm bài tập lớn.; bên cạnh đó, trong bài giảng của thầy, mỗi đơn vị kiến thức phải có những ví dụ cụ thể, sinh động, thú vị từ cuộc sống. GV nên đầu tư để có giáo án điện tử tốt. Trong việc soạn giáo án điện tử GV nên lồng ghép đoạn phim, hình ảnh để minh hoạ cho kiến thức KNGT. Đồng thời GV chọn ra những đoạn phim mà diễn viên diễn xuất thành công để làm bài tập rèn luyện KNGT cho SV. Những bài tập cụ thể đó là: đọc ngôn ngữ tiếng cười, kiểu cười; ngôn ngữ của giọng nói, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ của nhân vật. Ngoài ra GV cần trang bị thêm cho SV những kiến thức về cuộc sống, những tri thức về con người được các nhà Tâm lý học, xã hội học, nhân chủng học …tổng kết qua quan sát hàng ngàn người. Song song với cung cấp tri thức GV cần phải dạy cho người học cách tự học. Trong vài chục tiết lên lớp GV chỉ có thể truyền đạt những tri thúc cơ bản về giao tiếp. Được hướng dẫn cách thức tự học, tự nghiên cứu qua sách vở sẽ giúp các em có KN học tập suốt đời, tự bồi dưỡng, rèn luyện KNGT cho bản thân. Cách học quan trọng mà GV cần hướng dẫn cho SV đó là cách đọc sách sao cho hiệu quả nhất. Trong đề tài này chúng tôi xin đưa ra cách đọc sách sau: Việc đọc quyển sách nên theo quy trình sau: - Tìm hiểu sơ bộ cuốn sách, nắm mục lục để hình dung được nội dung sơ lược. - Xem lời giới thiệu, lời mở đầu để hiểu được ý đồ tác giả hình dung được các vấn đề cơ bản một cách khái quát. - Tìm hiểu lời kết luận và tóm tắc của SV nắm được nội dung cô đọng nhất, các kết luận chính của tác giả. - Đọc sơ một vài đoạn nhằm tạo hứng thú đọc sách. - Đọc sâu để khai thác nội dung cuốn sách theo mục đích đã định. GV cũng có thể đề nghị SV viết thu hoạch về những điều đã đọc có như thế thì việc trang bị kiến thức về giao tiếp cho SV sẽ có hiệu quả cao. Biện pháp 3: Tổ chức cho SV thực hành những bài tập để rèn luyện KNGT Mục tiêu: Giúp SV hình thành, rèn luyện được một số KNGT cơ bản. Nội dung: - KN định hướng trong giao tiếp - KN tự chủ cảm xúc, hành vi - KN thành lập mối quan hệ trong giao tiếp - KN tự kiềm chế kiểm tra người khác - KN chủ động điều khiển quá trình giao tiếp - KN diễn đạt ngôn ngữ cụ thể, dễ hiểu Cách thực hiện: - Bài tập rèn luyện KN định hướng trong giao tiếp + Bài tập 1: Cho SV quan sát nhân vật nào đó trong phim (5 đền 10 phút), sau đó dựa vào nét mặt, cử chỉ, hành vi, lời nói của nhân vật; tập đoán về tích cách nhân vật ( tốt xấu, thiện ác…). Cho SV quan sát nhân vật trong phim câm (tắt âm thanh); yêu cầu SV phán đoán tâm trạng nhân vật thông qua cử chỉ, điệu bộ… + Bài tập 2: Cho SV thể hiện các cách nói đặc trưng cho các tâm trạng khác nhau (buồn, vui, giận dữ, sợ hãi…). + Bài tập 3: Cho SV dự giờ ở một lớp học hay buổi sinh hoạt tập thể. Yêu cầu SV quan sát kỹ và trả lời các câu hỏi: Ai là người có uy tín trong lớp, được bạn bè yêu mến, không yêu mến? Tại sao? Rút ra kết luận? - Bài tập rèn luyện KN tự chủ cảm xúc, hành vi. Lúc nóng giận thở ra thật mạnh, hít vào thật sâu ít nhất 5 lần, lấy tay vuốt ngực và làm dịu cơn bực tức tự hỏi:” Nóng giận hậu quả sẽ ra sao?” và nhớ rằng : “ánh nắng mặt trời làm người ta cởi áo nhanh hơn một trận cuồng phong.” Qua thực tế giảng dạy của bản thân và tìm hiểu từ nhiều GV trong trường cho thấy khả năng kiềm hế cảm xúc của SV còn thấp. Khi nói một vấn đề gì đó về quan điểm cá nhân có đề cập đến sự không hài lòng các em tỏ ra rất bực tức. Điều này thể hiện qua giọng nói run, vấn đề được nói không rõ ràng và lưu loát. Có trường hợp, trong giờ sinh hoạt lớp, hai SV tranh cãi nhau sinh tử, đến lúc quay lại không thấy Chủ nhiệm lớp đâu. Thì ra Chủ nhiệm lớp đã bỏ ra ngoài đứng. Trong bài tập này, GV nên để từng cá nhân SV chia sẽ kinh nghiệm bản thân về việc kiềm chế được và không kiềm chế được cảm xúc khi tức giận của mình; các em cho biết các em đã rút ra được bài học kinh nghiệm gì từ những việc đó. - Bài tập rèn luyện KN thành lập mối quan hệ trong giao tiếp. Tập nở một nụ cười thân thiện trước khi tiếp xúc với một ai đó. Cho SV thực hành bài tập này khoảng 1 tuần, sau đó yêu cầu SV báo cáo kết quả về tác dụng của nụ cười thân thiện của mình đối với đối tượng giao tiếp. Dale Carnegie từng viết: “ Nụ cười bồi dưỡng kẻ mệt nhọc, là hình ảnh bình minh cho kẻ nhã lòng, là nắng xuân cho kẻ buồn rầu và là thuốc nhiệm mầu của tạo hóa để chữa lo âu”. - Bài tập rèn luyện KN tự kiềm chế kiểm tra người khác. Yêu cầu SV chia sẽ kinh nghiệm về việc đánh giá người mới của mình để xem nhận định ban đầu của các em về người khác chính xác đến mức độ nào. Sau đó GV và SV cùng nhau phân tích xem lý do tại sao lại có kết quả đó. GV khẳng định nên tập thói quen không nhận xét về ai hay khẳng định bất cứ điều gì về người khác khi chưa có đủ thông tin, trước những lời nói khó nghe không nên phản ứng mà hãy suy xét kỹ trước khi có tác động vào đối tượng giao tiếp. - Bài tập rèn luyện KN chủ động, điều khiển quá trình giao tiếp. Yêu cầu SV bất kỳ thông báo cho cả lớp biết một thông báo mới của trường để cùng thực hiện. Để trình bày một thông báo thành công SV đó phải làm cho lớp chú ý lắng nghe. SV này có thể làm được hay không làm được, GV phân tích và rút ra kinh nghiệm. Yêu cầu một SV bất kì đóng vai lớp trưởng hoặc bí thư chi đoàn điều khiển buổi sinh hoạt lớp hay sinh hoạt chi đoàn. Sau đó GV phân tích những yếu tố làm nên sự thất bại hay thành công của SV và rút ra kinh nghiệm cho SV. - Bài tập rèn luyện KN diễn đạt ngôn ngữ cụ thể, dễ hiểu Yêu cầu SV tập đọc văn bản phù hợp nội dung, kết cấu ngữ pháp; chú trọng cách phát âm, ngữ điệu, âm sắc của giọng nói. Chọn một bài văn, mẫu chuyện có nhân vật và yêu cầu SV đọc diễn cảm, thay đổi giọng điệu theo tính cách nhân vật. Tổ chức các cuộc thi kể chuyện; thuyết trình; bày tỏ ý muốn, nguyện vọng của bản thân… với quy mô khoa, toàn trường để SV tham gia. Thực tế cho thấy, trong giao tiếp các em chưa chú trọng trau chuốt và lựa chọn ngôn ngữ đẹp, còn sử dụng nhiều từ địa phương trong hoàn cảnh giao tiếp chính thức, phát âm sai, khả năng sắp xếp ý trước khi nói còn thấp, vốn từ còn nghèo nàn. Trong những bài tập rèn luyện, GV cần đưa ra những bài tập giải quyết tình huống Sư phạm. Trong đề tài này chúng tôi đưa ra một số tình huống sư phạm sau: GV có thể khéo léo sắp xếp, bố trí thời gian hợp lý cho SV tập xử lý tình huống sư phạm (giả định và thực tế). Cần phân tích các dữ kiện, yêu cầu SV vận dụng các KNGT để đưa ra cách giải quyết tối ưu và tiến hành xử lý tình huống theo đúng quy trình. Sau đây là cách Biện pháp 4: Tổ chức các hoạt động dạy học tích cực góp phần rèn luyện KNGT. Mục tiêu: Biện pháp này giúp tạo ra một môi trường thuận lợi để SV thực hành KNGT. Nội dung: Trong giảng dạy, GV toàn Khoa Sư phạm tổ chức hoạt động dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của SV. Cụ thể là GV sử dụng các phương pháp dạy học như: thảo luận nhóm, xemina, đàm thoại… Cách thực hiện: - Tổ chức dạy học bằng phương pháp hoạt động theo nhóm Tổ chức lớp học hoạt động theo nhóm nhỏ từ 2 đến 6 thành viên có trình độ khác nhau. Các thành viên có thể đảm nhận những vai khác nhau như nhóm trưởng (điều khiển chung), thư ký (ghi chép, tóm tắt, biên tập ý kiến), người điều phối (theo dõi thời gian cho cả nhóm), người báo cáo (thay mặt nhóm báo cáo kết quả)…yêu cầu mỗi thành viên trong nhóm độc lập thực hiện nhiệm vụ của mình và cùng hợp tác với người khác để giải quyết nhiệm vụ chung. Các thành viên phải theo dõi ý kiến, thái độ của những thành viên khác, từ đó rèn kỹ năng quan sát, lắng nghe, diễn đạt ngôn ngữ… và hình thành tinh thần đoàn kết. - Sử dụng hình thức Xemina trong dạy học: Xemina là phương pháp tranh luận theo chủ đề khoa học do đó giúp SV phát huy tích cực, độc lập, tìm tòi vận dụng tri thức, SV sẽ rèn luyện KN diễn đạt ngôn ngữ cụ thể, dễ hiểu, để tranh luận có hiệu quả. GV có thể cho điểm kèm nhận xét, đánh giá những SV tham dự Xemina để kích thích SV rèn luyện KNGT. Thực tế cho thấy khi GV đưa ra chủ đề cùng tranh luận trong giờ học, có vấn đề gì cần tranh luận khi sinh hoạt lớp các em chưa biết lắng nghe và nhường lời nhau. Các em quá quan tâm đến điều mình muốn nói và quyền lợi được nói. - Sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học Phương pháp đàm thoại là phương pháp hỏi – đáp, sử dụng phương pháp này tạo điều kiện cho SV rèn luyện KN nghe đối tượng giao tiếp, KN diễn đạt cụ thể dễ hiểu. Có thể tổ chức hình thức thi vấn đáp đặc biệt là với phần : “Giao tiếp sư phạm” và các học phần khác của môn tâm lý học, giáo dục học. Thực tế kinh nghiệm giảng dạy của bản thân và qua sự tìm hiểu qua các GV trong trường cho thấy KN lắng nghe của SV chưa cao. Khi GV đặt câu hỏi, có SV giơ tay phát biểu nhưng khi đứng lên các em yêu cầu GV lặp lại câu hỏi hoặc vừa nghe xong câu hỏi thì hiểu, nhưng khi đứng lên trả lời thì đã quên mất. 3.3. THỬ NGHIỆM BIỆN PHÁP TÁC ĐỘNG ĐỂ NÂNG CAO MỨC ĐỘ KNGT CHO SV SƯ PHẠM TRƯỜNG CĐCT 3.3.1. Mục đích thử nghiệm: Chúng tôi tiến hành thử nghiệm một vài biện pháp tác động nhằm nâng cao KN diễn đạt ngôn ngữ của SV. 3.3.2. Lý do chọn KN diễn đạt ngôn ngữ để thử nghiệm: KN diễn đạt ngôn ngữ là một trong những KN quan trọng, rất cần thiết cho người giáo viên khi tham gia vào hoạt động nghề nghiệp. Trong lao động nghề nghiệp của người giáo viên từ giảng dạy, giáo dục đến tổ chức hoạt động tập thể …đều rất cần đến KN diễn đạt ngôn ngữ. Kết quả nghiên cứu thực trạng ở chương 2 cho thấy: Tuy KN diễn đạt ngôn ngữ nằm ở thứ bậc thứ 2 trong tổng số 10 thứ bậc, nhưng về mức độ KN thì KN này vẫn nằm trong tình hình chung là ở mức trung bình. Thực tế cho thấy rằng, nhiều SV mới ra trường có mức độ yếu về KN diễn đạt ngôn ngữ. Nhiều trường hợp học sinh ngơ ngác, bị rối trước sự giảng giải, đặt câu hỏi của giáo viên trẻ…Hơn nữa, do điều kiện về mặt thời gian và kinh phí, nên chúng tôi chỉ chọn một KN để tác động thử nghiệm. 3.3.3. Thời gian thử nghiệm: Từ 24/05/2010 đến 20/06/2010 3.3.4. Khách thể thử nghiệm: 15 SV Sư phạm trường CĐCT. Chúng tôi tiến hành thử nghiệm vào giai đoạn SV chuẩn bị bước vào mùa thi. Rất nhiều SV được nghỉ ở nhà ôn bài, những lớp còn lại chúng tôi đã đi từng lớp để phổ biến cuộc thi. Nhưng quan sát tình hình chung hầu hết các em đều ngán ngại. Các em nói rằng bài học nhiều nên không có thời gian để luyện tập. Nhiều em từ chối quyết liệt vì thấy mình không đủ tự tin để tham gia cuộc thi. Vì vậy, để đảm bảo cuộc thi được diễn ra thành công tốt đẹp chúng tôi chỉ chọn 15 SV hăng hái, nhiệt tình tham gia. 3.3.5. Các biện pháp tác động + Biện pháp 1: Hình thành nhận thức, nhu cầu, động cơ rèn luyện KNGT Gặp gỡ SV thử nghiệm, chúng tôi nêu tầm quan trọng của giao tiếp trong cuộc sống, học tập và công tác sau này của các em; giúp các em hiểu ý nghĩa việc làm, tạo động cơ kích thích tính tích cực tự giác rèn luyện KNGT của mình và yêu cầu tinh thần hợp tác ở các em trong cuộc thi. + Biện pháp 2: Cung cấp bài tập rèn luyện KNGT Trong điều kiện và thời gian cho phép chúng tôi cung cấp 3 bài tập rèn luyện KN diễn đạt ngôn ngữ: Thi kể chuyện; thuyết trình sách; bày tỏ, diễn đạt ý muốn nguyện vọng, suy nghĩ của bản thân. Bài tập 1: Thi kể chuyện Gặp gỡ SV phổ biến tiêu chí chấm điểm cuộc thi kể chuyện, gợi ý một số câu chuyện. Gợi ý các em kể những câu chuyện mà các em có thể thể hiện càng nhiều khả năng diễn đạt ngôn ngữ càng tốt. Đặc biệt những câu chuyện đó các em có thể ứng dụng vào công việc giảng dạy sau này. Các câu chuyện do SV tự chọn. Sau một tuần phổ biến và tập luyện thì cuộc thi được tổ chức. Bài tập 2: Thi bày tỏ, diễn đạt ý muốn, nguyện vọng, suy nghĩ của bản thân. Gặp gỡ SV phổ biến tiêu chí chấm điểm cuộc thi. Gợi ý cách tập luyện cho SV: các thành viên trong nhóm tự đặt ra nội dung cho nhau và tự trình bày với nhau. Sau một tuần phổ biến cuộc thi được diễn ra. Trong cuộc thi mỗi đội được nhận 3 nội dung, có thời gian thảo luận ngắn, sau đó Ban giám khảo chỉ định thành viên của nhóm trình bày. Bài tập 3: Thi thuyết trình sách Gặp gỡ SV phổ biến tiêu chí chấm điểm cuộc thi. Sau một tuần tập luyện cuộc thi được diễn ra.Tất cả các thành viên của nhóm cùng nhau thuyết trình nội dung một quyển sách. Sách do Ban giám khảo cung cấp trước. 3.3.6. Quy trình thử nghiệm * Chuẩn bị thử nghiệm Bước 1: Đưa ra biện pháp tác động Bước 2: Chọn khách thể thử nghiệm, thời gian và địa điểm tổ chức thử nghiệm Bước 3: Soạn thảo đơn xin tiến hành cuộc thi Kỹ năng diễn đạt ngôn ngữ gửi Ban giám hiệu trường CĐCT, thư mời SV, tiêu chí đánh giá cuộc thi. Bước 4: Gửi đơn xin tổ chức cuộc thi Kỹ năng diễn đạt ngôn ngữ lên Ban giám hiệu trường CĐCT Bước 5: Mời Ban giám khảo cuộc thi Bước 6: Chọn sách cho SV dự thi thuyết trình; soạn nội dung, yêu cầu cho phần thi Trình bày, diễn đạt ý định, suy nghĩ của mình với đối tượng giao tiếp. * Tiến hành thực nghiệm - Ngày 24 / 05 / 2010 : + Gặp gỡ sinh viên thử nghiệm, chúng tôi nêu tầm quan trọng của giao tiếp trong cuộc sống, học tập và công tác sau này của các em; giúp các em hiểu ý nghĩa việc làm, tạo động cơ kích thích tính tích cực tự giác rèn luyện KNGT của mình và yêu cầu tinh thần hợp tác ở các em trong cuộc thi. + Chọn ra 15 SV để tham gia thử nghiệm. Chỉ chọn theo tinh thần xung phong, nhiệt tình tham gia. + Chia 15 SV được chọn làm ba đội. + Cho 15 SVviên làm phiếu trắc nghiệm tâm lý. + Phổ biến nội dung thi, cung cấp sách cho mục thi thuyết trình sách, tiêu chí chấm điểm cuộc thi, hướng dẫn cách luyện tập cho cuộc thi, thông báo giải thưởng cuộc thi. - Ngày 30/05/2010: Tổ chức cuộc thi (bắt đầu từ 7h30). Địa điểm tại giảng đường 2, trường Cao đẳng Cần Thơ. Ban giám khảo gồm có Ths Tâm lý học Nguyễn Thị Ánh Mai, Ths Giáo dục học Nguyễn Thị Bích Phượng, CN Tâm lý giáo dục Châu Thúy Kiều. Phần thi 1: Kể một câu chuyện mà nhóm đã chuẩn bị. Câu chuyện nhóm 1: Cuộc gọi lúc 0 giờ. Nhóm cử một người lên kể chuyện. Câu chuyện nhóm 2: Thời niên thiếu của V ô - l ô - đi - a. Cả nhóm cùng kể chuyện. Một thành viên dẫn lời truyện, tất cả các thành viên còn lại hành động minh hoạ. Câu chuyện nhóm 3: Tích Chu. Nhóm đã cử một người đứng kể chuyện, các thành viên còn lại hoạt cảnh, minh hoạ. Phần thi 2: Thuyết trình quyển sách nhận được từ Ban tổ chức cuộc thi. Mỗi nhóm đã cử đại diện một người lên thuyết trình quyển sách của nhóm. Sách của nhóm 1: Kính Nghiệp (2007), Thuật dò xét lòng người, NXB Văn hoá - Thông tin Sách của nhóm 2: Vương Trang (2009), Làm gì khi trẻ gặp trở ngại về tâm lý, NXB Văn hoá - Thông tin Sách của nhóm 3: Dale Carnegie (2001), Quẳng gánh lo đi và vui sống, NXB Văn hoá. Phần thi 3: Ban giám khảo đưa ra nội dung, yêu cầu để SV bày tỏ, diễn đạt ý muốn, nguyện vọng, suy nghĩ của mình. - Ngày 20/6/2010: Cho SV làm phiếu trắc nghiệm tâm lý lần 2 và tiến hành phỏng vấn sâu SV 3.3.7. Kết quả thử nghiệm Kết quả thử nghiệm được rút ra sau một tuần tiến hành luyện tập và thi như sau: Vốn từ vựng của các em rất ít. Đây là một trong những nguyên nhân làm hạn chế khả năng diễn đạt trong giao tiếp của các em. Sử dụng vốn từ vựng ít ỏi của mình các em diễn đạt ý dài dòng, ý sau lặp lại ý trước; không súc tích, cô đọng. Khả năng phát âm chuẩn còn yếu. Tuy nhiên, ở các em có khả năng phát âm chuẩn, chịu khó rèn luyện sẽ phát âm tốt. Khả năng nắm bắt vấn đề, yêu cầu của Ban tổ chức, Ban giám khảo còn yếu. Nguyên nhân này làm các em lạc đề ở phần thi thứ 2, và thứ 3. Hạn chế về vốn từ, thiếu tự tin, khả năng ngôn ngữ cơ thể kém làm các em nói chuyện chưa được hấp dẫn và có duyên. Qua cuộc thi, các em ý thức sâu sắc tầm quan trọng của KN diễn đạt ngôn ngữ. Nhận ra những ưu điểm và hạn chế của bản thân cũng như của người khác. Các em cho biết đã học hỏi được rất nhiều điều như: rèn luyện KN diễn đạt ngôn ngữ cụ thể là rèn luyện gì và cách thức rèn luyện ra sao. Tất cả các em đều công nhận cuộc thi rất bổ ích, mong muốn được tổ chức thường xuyên với quy mô toàn khoa, toàn trường. Các em đều mong muốn được tham gia lần nữa và khẳng định nếu được dự thi lần nữa các em sẽ làm tốt hơn, tất cả đều thể hiện sự quyết tâm rèn luyện khả năng diễn đạt ngôn ngữ của mình. Các em đều cho rằng sau cuộc thi khả năng diễn đạt ngôn ngữ có tăng lên. tuy nhiên mức độ không nhiều. Lý do mức độ KNGT của sinh viên tăng lên ít là vì thời gian luyện tập ngắn, cuộc thi chỉ diễn ra một vòng, các em không có cơ hội rút kinh nghiệm, hoàn thiện. Tuy nhiên các em học hỏi được rất nhiều từ nhận xét của Ban giám khảo, đó là bài học quý báu cho việc rèn luyện ngôn ngữ của các em sau này. Kết quả thực nghiệm góp phần làm sáng tỏ hơn cho kết quả điều tra về thực trạng KNGT trong SV của chúng tôi. Từ kết quả điều tra qua bảng trắc nghiệm và kết quả thực nghiệm giúp chúng tôi tự tin khẳng định rằng: KNGT của SV Sư phạm trường CĐCT chỉ đạt mức trung bình. Sau khi cuộc thử nghiệm hoàn tất, chúng tôi tiến hành phát phiếu trắc nghiệm tâm lý lần hai cho SV. Kết quả được trình bày ở bảng sau: Bảng 3.2: KN diễn đạt ngôn ngữ của SV Sư phạm trường CĐCT trước và sau thử nghiệm TT Họ Và Tên Điểm trước thực nghiện Điểm sau thực nghiệm 01 Tô Thị Sơn Ca 6 7 02 Đỗ Kim Châu 10 11 03 Nhan Thị Mỹ Dung 5 9 04 Mai Thị Bình Đẳng 6 8 05 Trương Thị Hồng Hạnh 8 12 06 Võ Thị Bé Hằng 7 7 07 Nguyễn Thị Hiền 9 10 08 Nguyễn Thị Hiển 7 8 09 Nguyễn Hoàng Hơn 7 11 10 Tạ Thùy Nhung 9 10 11 Nguyễn Thị Tố Quyên 8 12 12 Bùi Thị Huệ Thanh 10 12 13 Võ Thị Thanh Thúy 5 9 14 Huỳnh Thị Thoa 7 9 15 Phan Thị Thùy Trang 11 12 Điểm trung bình chung của 15 SV 7,7 9,8 Chúng tôi thấy KN diễn đạt ngôn ngữ của SV có sự tiến bộ. Biểu hiện qua ĐTB kỹ năng này của 15 SV được thử nghiệm tăng lên. Trước thử nghiệm có tới 8 em có KN diễn đạt ngôn ngữ yếu, chỉ có 1 em ở mức khá (11điểm), còn lại các em khác thì đạt ở mức trung bình. Kết quả sau thực nghiệm cho thấy chỉ còn 2 SV có KN diễn đạt ngôn ngữ yếu, có đến 6 SV đạt mức độ khá. Từ kết quả này chúng tôi thấy nếu có biện pháp sư phạm thích hợp tác động có thể nâng cao KN diễn đạt ngôn ngữ nói riêng và KN giao tiếp nói chung cho SV. Tuy nhiên, ĐTB chung về KN diễn đạt ngôn ngữ của 15 SV là 9,8; con số này chỉ đạt mức độ trung bình. Kết quả này phần nhiều do ảnh hưởng của thời gian tổ chức thử nghiệm. Cuộc thử nghiệm chỉ diễn ra trong vòng 3 tuần, trong đó SV chỉ có một tuần chuẩn bị cho cuộc thi.Cuộc thi không được diễn ra theo trình tự: vòng sơ khảo, chung kết nên các em không có cơ hội rút kinh nghiệm và hoàn thiện khả năng diễn đạt ngôn ngữ của mình. Tổng kết lại, KN diễn đạt ngôn ngữ của SV có tiến bộ qua cuộc thử nghiệm nhưng không nhiều. Cuộc thi chủ yếu tác động vào nhận thức của các em; hình thành ở các em nhu cầu, động cơ mạnh mẽ rèn luyện KN diễn đạt ngôn ngữ; cung cấp những kiến thức cơ bản nhất về KN diễn đạt ngôn ngữ. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3: Qua việc nghiên cứu vận dụng thử nghiệm biện pháp tác động nhằm nâng cao mức độ KN diễn đạt ngôn ngữ cho SV Sư phạm trường CĐCT chúng tôi khẳng định rằng: - Việc đề xuất cần tiến hành một số biện pháp tác động thích hợp nhằm nâng cao KNGT cho SV là hoàn toàn có cơ sở về mặt lý luận và thực tiễn. - Tuy qua việc tiến hành thực nghiệm mức độ về KN diễn đạt ngôn ngữ của SV tăng lên không nhiều, nhưng kết quả cho thấy có sự tiến bộ về KN này trong SV. Đồng thời, việc tiến hành biện pháp tác động thích hợp đã mang lại hiệu quả cao trong việc hình thành ở các em những hiểu biết cụ thể về KN diễn đạt ngôn ngữ và nhu cầu, động cơ mạnh mẽ quyết tâm rèn luyện khả năng diễn đạt ngôn ngữ của mình. - Việc tổ chức thực hiện được các biện pháp tác động nhằm nâng cao mức độ KNGT cho SV là việc làm không phải đơn giản. Để tiến hành có hiệu quả cao đòi hỏi Ban giám hiệu nhà trường, khoa phải hỗ trợ mạnh mẽ về bố trí quỹ thời gian, không gian, tài chính để tổ chức cuộc thi. Đồng thời phải có sự đầu tư chu đáo về mặt nôi dung của những GV có chuyên môn về KNGT. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ * KẾT LUẬN Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, chúng tôi rút ra một số kết luận sau: 1. Ngay từ lúc mới ra đời, nhờ có tiếp xúc với người khác, với xã hội mà nhân cách con người được hình thành và phát triển. Khi con người đã trưởng thành, vai trò của giao tiếp trong sự phát triển nhân cách không hề giảm đi. Thông qua giao tiếp con người có thể điều chỉnh hành vi của mình cũng như hành vi người khác theo mục tiêu nhất định. 2. Những KNGT có thể hình thành một cách tự phát nhưng những KN đó không thể phát triển cao nếu không có những tác động tự giác. KNGT của mỗi người rất khác nhau, chúng phụ thuộc vào môi trường sống; đặc điểm giới tính, nghề nghiệp, văn hoá vùng miền. 3. Tác động sư phạm có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành và phát triển KNGT của con người. Muốn có được KNGT tốt, mỗi người phải học tập, rèn luyện tích cực. 4. KNGT của SV Sư phạm trường CĐCT đạt mức trung bình. Kết quả này phù hợp với giả thuyết đưa ra, những con số thống kê nêu trong kết quả về KNGT của SV cho thấy những SV này chưa đáp ứng được yêu cầu học tập và công tác sau này của họ. Chúng tôi đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng giao tiếp của sinh viên như sau: - Hình thành nhận thức, nhu cầu, động cơ rèn luyện KNGT. - Trang bị tri thức lý thuyết về giao tiếp. - Cung cấp những bài tập rèn luyện KNGT. - Tổ chức các hoạt động dạy học tích cực. - Tổ chức hướng dẫn cho SV tập xử lý tình huống sư phạm. - Bồi dưỡng khả năng tự đánh giá kỹ năng giao tiếp trong SV. - Xây dựng mối quan hệ bình đẳng, đoàn kết giữa các SV, tạo sự tự tin trong giao tiếp cho SV. * KIẾN NGHỊ 1.Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo Bộ Giáo dục và Đào tạo cần đưa vào chương trình khung của các ngành học ở Cao đẳng, Đại học học phần KNGT. KNGT là kỹ năng mà xã hội ngày nay gọi là kỹ năng mềm. Bất kỳ SV nào ra trường, ngoài kiến thức giỏi cần có KNGT tốt. Đây là hai yếu tố quyết định sự thành bại của một SV khi ra đời. 2. Đối với Ban giám hiệu trường CĐCT - Ban giám hiệu cần mạnh dạn yêu cầu cao hơn nữa về việc GV đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của người học. - Bam giám hiệu nên ủng hộ và tạo điều kiện hơn nữa cho những hoạt động tổ chức để rèn luyện KNGT cho SV. - Nhà trường cần đưa ra những quy định chung về văn hoá giao tiếp trong trường học, tạo ra môi trường giao tiếp lịch thiệp giữa con người với nhau. Chính điều này giúp SV có ý thức hơn trong việc tự rèn luyện KNGT. 3. Đối với GV của trường CĐCT - Đối với GV dạy môn Giao tiếp sư phạm + GV cần khai thác sâu và mở rộng hơn nữa kiến thức về KNGT cho SV. + Cần xây dựng lại đề cương chi tiết môn học sao cho đi sát với yêu cầu của cuộc sống hơn. + GV nên bỏ đi phương pháp thầy đọc, trò ghi; hướng các em vào hoạt động tự học, tự nghiên cứu trên cơ sở hướng dẫn của thầy. Chính lối học này các em mới có thể tích luỹ được nhiều kiến thức về KNGT. Để tích luỹ kiến thức về KNGT GV cần giới thiệu nhiều sách để SV tự đọc, tự nghiên cứu. + Trong quá trình giảng dạy, GV nên cố gắng đưa ra những tình huống có thực để minh hoạ cho việc vận dụng KNGT mang lại thành công trong cuộc sống, đồng thời SV lấy hứng thú học tập về giao tiếp từ thành công và kinh nghiệm sống dày dặn của người thầy. - Đối với GV toàn trường nói chung GV nên xoá bỏ hoàn toàn phương pháp dạy học truyền thụ một chiều. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học. Học theo phương pháp này SV có nhiều cơ hội được rèn luyện KNGT. Sự tưong tác giữa thầy và trò, giữa bạn bè với nhau…là điều kiện tốt để SV thực hành KNGT. Kết hợp với học tri thức SV học được kỹ năng sống. 4. Đối với SV - Rèn luyện kỹ năng giao tiếp ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, không được nghĩ rằng việc giao tiếp có kỹ năng khi ra trường đi làm mới cần thiết và lúc ấy sẽ rèn luyện. - Các em phải chủ động trong giao tiếp. Có nghĩa là chủ động thiết lập mối quan hệ, gợi chuyện, bắt chuyện, làm quen. - Trong quá trình giao tiếp luôn ý thức rút ra những bài học thực tiễn về giao tiếp để hoàn thiện KNGT của bản thân. - Đặt ra mục tiêu cần đạt trong giao tiếp, xem mục tiêu đã đạt được là thành công của mình. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Hoàng Anh, Vũ Kim Thanh (1995), Giao tiếp sư phạm, trường Đại học Sư phạm Hà Nội I, Hà Nội. 2. Hoàng Anh (2001), “ Vấn đề giao tiếp sư phạm trong cấu trúc năng lực sư phạm”, Tạp chí Tâm lý học, (2), (15-16-17). 3. Nguyễn Ngọc Bích (1998), Tâm lý học nhân cách - Một số vấn đề lý luận, NXB Giáo Dục Hà Nội. 4. Hồ Thanh Bình - Phạm Minh Hạc (1978), Tâm lý học Liên Xô, NXB Tiến Bộ, Mac-cơ-va. 5. Lê Thị Bừng (1997), Tâm lý học ứng xử, NXB Giáo Dục Hà Nội. 6. Dale Carnegie (1995), Đắc nhân tâm, NXB Đà Nẵng (Nguyễn Hiến Lê dịch) 7. Nguyễn Liên Châu (1999), Đặc điểm giao tiếp của hiệu trưởng trường Tiểu học, Luận án Tiến sĩ khoa học Sư phạm tâm lý. 8. Nguyễn Thị Chính (2008), Nhập môn khoa học giao tiếp, Tài liệu lưu hành nội bộ 9. Các-Mac (1854), Luận cương về Phoi-ơ-bắc tuyển tập 10. Các-Mác (1971), Bản thảo kinh tế triết học, NXB Sự thật Hà Nội 11. Phạm Vũ Dũng (1996), Văn hoá giao tiếp, NXB Văn hoá thông tin Hà nội. 12. Nguyễn Văn Đồng (2005), “ Văn hoá giao tiếp của sinh viên ”, Tạp chí Tâm lý học, (5), ( 34-35-36 ). 13. Nguyễn Văn Đồng (2005), “Mức độ và sự phát triển kỹ năng giao tiếp cho sinh viên”, Tạp chí tâm lý học, (6), ( 36-37-38-39-40). 14. AGAPIRKIN (1972), Ý thức và tự ý thức, NXB Tài liệu chính trị. 15. Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thuỷ (1998), Tâm lý học, NXB Giáo dục Hà Nội. 16. Phạm Minh Hạc chủ biên (1998), Văn hoá và giáo dục – Giáo dục và văn hoá, NXB Giáo dục Hà Nội. 17. Trần Hiệp (1991), Tâm lý học xã hội - Mấy vấn đề lý luận, NXB Khoa học Xã hội, Hà Hội. 18. Ngô Công Hoàn (1992), Một số vấn đề về giao tiếp Sư phạm, Vụ giáo viên, Hà Nội. 19. Ngô Công Hoàn (1997), Giao tiếp và ứng xử Sư phạm, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội. 20. Bùi Văn Huệ, Đỗ Mộng Tuấn, Nguyễn Ngọc Bích (1995), Tâm lý học Xã hội, Bộ giáo dục đào tạo Hà Nội. 21. Trương Quang Học (2006), “Một số kỹ năng giao tiếp của học viên tham gia các lớp đào tạo giáo viên khoa học Xã hội nhân văn quân sự cấp phân đội”, Tạp chí Tâm lý học, (12), (41-42-43-44) 22. Ray Mond De Saint Laurent (1998), Nghệ thuật nói trước công chúng, NXB Văn hóa Thông tin. 23. AM.Leon chiev (1987), Hoạt động ý thức, nhân cách, NXB Giáo dục. 24. Nguyễn Văn Lê (1995), Giao tiếp Sư phạm , NXB Giáo dục. 25. Nguyễn Văn Lê (1996), Giao tiếp nhân sự - Giao tiếp phi ngôn ngữ, NXB Tr ẻ. 26. Nguyễn Văn Lê (1992), Vấn đề giao tiếp, NXB Giáo dục. 27. B.Lomov (1978), Phạm trù giao tiếp và hoạt động trong tâm lý học, Bản dịch của Viện Khoa học Giáo dục, Hà Nội. 28. Trần Tuấn Lộ (1994), Tâm lý học giao tiếp, NXB Giao tiếp, NXB Giáo dục, Tp.HCM. 29. Vũ Thị Nho (2005), Tâm lý học phát triển, NXB Hà Nội 30. Kim Oanh (1998), Nhìn thấu lòng người, NXB Thanh Niên. 31. Nguyễn Thị Oanh (1995), Tâm lý học truyền thông và giao tiếp, NXB Khoa học Phụ nữ, Tp.HCM 32. Phan Thị Lan Phương (2009), Rèn luyện Kỹ năng giao tiếp và tiếp nhận thông tin học tập cho sinh viên trường Cao đẳng Cần Thơ trong điều kiện hiện nay, Đề tài cấp trường. 33. T.V.Pêteria (1970), Vai trò của giao tiếp trong việc hình thành nhân cách của sinh viên, NXB Thanh Niên. 34. Allan Pease (1994), Ngôn ngữ của cử chỉ - Ý nghĩa của cử chỉ trong giao tiếp, NXB Đà Nẳng. 35. Lò Thị Mai Thoan (2005) “Thực trạng khả năng giao tiếp của sinh viên Sư phạm tỉnh Sơn La ”, Tạp chí Tâm lý học, (2), (59-60-61). 36. Từ điển tiếng Việt (1995) , NXB Khoa học Xã hội Hà Nội. 37. Nguyễn Thạc, Hoàng Anh (1991), Luyện giao tiếp Sư phạm, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I, Hà Nội. 38. Chu Khắc Thuật, Nguyễn Văn Thủ (chủ biên) (1998), Văn hoá lối sống với môi trường, NXB Văn hoá Thông tin. 39. Trần Trọng Thủy, Nguyễn Sinh Huy (1996), Nhập môn khoa học giao tiếp, NXB Giáo dục. 40. Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn (1998), Tâm lý học đại cương, NXB Giáo dục, Hà Nội. 41. Hoàng Văn Tuấn (1996), Các quy tắc hay trong giao tiếp, NXB Thanh niên, Hà Nội. 42. Nguyễn Quang Uẩn (Chủ biên) (1997), Tâm lý học đại cương, NXB đại học quốc gia, Hà Nội. 43. Viện Khoa học giáo dục (2002), Hoạt động, giao tiếp và chất lượng giáo dục, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội. 44. Nguyễn Văn Tuấn, Phạm Phương Trang (2005), Tâm lý và nghệ thuật giao tiếp trong thương mại, NXB Thống kê 45. B.V.Xôlôcôv (1972), Văn hoá và Nhân cách, NXB Khoa học ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLA5503.pdf
Tài liệu liên quan