Lựa chọn các loại hình sử dụng đất thích hợp phục vụ quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng

Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO TRƯờNG ĐạI HọC NÔNG NGHIệP Hà NộI ---------------------------- nông thanh tùng BáO CáO TIếN Độ LUậN VĂN THạC Sĩ NÔNG NGHIệP Lựa chọn các loại hình sử dụng đất thích hợp phục vụ quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng Chuyên ngành : QUảN Lý ĐấT ĐAI Mã Số : 60.62.16 Người hướng dẫn khoa học : ts. đoàn công quỳ Hà NộI - 2009 mở đầu 1. 1. Tính cấp thiết của đề tài: Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuấ

doc34 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 09/12/2013 | Lượt xem: 1068 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Lựa chọn các loại hình sử dụng đất thích hợp phục vụ quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
t đặc biệt, là nguồn nội lực, nguồn vốn to lớn của đất nước, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng. Do sự gia tăng dân số nhanh, nhu cầu phát triển ngày càng nhiều, con người đã khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên đất đai dẫn đến nguy cơ giảm về số lượng và chất lượng của nguồn tài nguyên này. Trong nông nghiệp, đất đai không những là đối tượng lao động mà còn là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được. Nông nghiệp là một ngành sản xuất đặc biệt, con người khai thác các nguồn lợi tự nhiên từ đất để đảm bảo các nhu cầu về lương thực và vật dụng của xã hội. Vì vậy sản xuất nông nghiệp là một hệ thống có vai trò quan trọng trong mối quan hệ của tự nhiên với kinh tế - xã hội. Quan điểm phát triển nông nghiệp bền vững đã định hướng những đề tài nghiên cứu cùng những ứng dụng quan trọng và cấp bách trong sản xuất nông nghiệp của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Đối với các địa phương miền núi, điều kiện giao thông vận tải khó khăn, việc lưu thông hàng hoá với các địa phương khác không thuận lợi thì việc sản xuất ra lương thực tại chỗ để đảm bảo an ninh lương thực là vấn đề luôn được đề cao; do vậy đất nông nghiệp, đặc biệt là đất sản xuất nông nghiệp càng có vai trò quan trọng. Mặt khác đất nông nghiệp của các huyện miền núi thường chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng diện tích tự nhiên, khả năng mở rộng cũng rất hạn chế, nên việc tìm ra hướng sử dụng hợp lý, hiệu quả, phát huy được tiềm năng đất đai và phát triển bền vững cho nông nghiệp miền núi là việc làm có ý nghĩa thực tiễn rất lớn đối với các địa phương miền núi. Nguyên Bình là một huyện nằm ở phía tây của tỉnh Cao Bằng, tổng diện tích tự nhiên của huyện thuộc diện lớn trong tỉnh (84.101,21ha- 18 xã và 2 thị trấn), địa hình chia cắt mạnh, diện tích đất sản xuất nông nghiệp không lớn, nhưng diện tích đất đồi núi lớn- tiềm năng quan trọng để triển sản xuất lâm nghiệp. Trong huyện có vùng đất và tiểu khí hậu rất thích hợp cho trồng cây ôn đới, cây dược liệu và phát triển du lịch sinh thái. Thời gian qua huyện đã thực hiện một số biện pháp để nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất như: Đưa các loại giống mới vào sản xuất nông nghiệp, giao quyền sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ổn định lâu dài, giao đất giao rừng đến từng hộ gia đình và cá nhân để khoanh nuôi bảo vệ tái sinh rừng và trồng rừng... Tuy nhiên do trình độ dân trí còn thấp, khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất còn nhiều hạn chế nên năng suất cây trồng chưa cao, quỹ đất nông nghiệp chưa được khai thác có hiệu quả, chưa xây dựng được các loại hình sử dụng đất thực sự thích hợp với tiềm năng đất đai và điều kiện kinh tế- xã hội cụ thể của địa phương. Xuất phát từ những vấn đề trên, dưới sự hướng dẫn của Tiến sỹ Đoàn Công Quỳ, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: "Lựa chọn các loại hình sử dụng đất thích hợp phục vụ quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng". 1.2. Mục đích, yêu cầu của đề tài: 1.2.1. Mục đích của đề tài: - Điều tra đánh giá tiềm năng nguồn tài nguyên đất của huyện. - Xác định các loại hình sử dụng đất phù hợp cho địa bàn vùng nghiên cứu nhằm và đề xuất các giải pháp sử dụng đất hợp lý phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. 1.2.2. Yêu cầu của đề tài: - Đánh giá những mặt lợi thế và hạn chế của điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội tác động đến sản xuất nông nghiệp của huyện. - Xác định được yêu cầu và hiệu quả của các loại hình sử dụng đất (LUT) trên địa bàn nghiên cứu. - Xác định các giải pháp có tính khả thi để đưa được các loại hình sử dụng đất (LUT) thích hợp vào sản xuất cho vùng nghiên cứu, phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất huyện Nguyên Bình. 1.3 Đối tượng nghiên cứu: - Toàn bộ các loại đất (thổ nhưỡng), các điều kiện kinh tế- xã hội liên quan đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện. - Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện Nguyên Bình 1.4. Phạm vi nghiên cứu: - Quỹ đất nông nghiệp và đất chưa sử dụng có khả năng nông nghiệp của huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng 1.5. Nội dung nghiên cứu: - Điều tra, thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của huyện có liên đến sử dụng đất đai vùng nghiên cứu - Điều tra tình hình quản lý sử dụng đất của huyện - Xác định các loại hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện - Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất - Đánh giá thích hợp cho các loại hình sử dụng đất: - Đưa ra các loại hình sử dụng đất khuyến cáo cho địa bàn vùng nghiên cứu - Các giải pháp: 1.6. Phương pháp nghiên cứu: 1.6.1. Phương pháp điều tra thu thập số liệu + Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp: Thu thập các tài liệu, số liệu đã có tại các cơ quan trong tỉnh và huyện: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, phòng Tài nguyên và Môi trường. - Thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội - Thu thập các số liệu, tài liệu về địa chất, địa hình, đất đai, phân loại đất và các loại hình sử dụng đất của huyện - Thu thập số liệu về tình hình sử dụng đất + Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp: Điều tra tình hình sử dụng đất, tình hình sản xuất, mức độ đầu tư thâm canh, kết quả sản xuất … trên các loại hình sử dụng đất khác nhau bằng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có người dân tham gia (Participatory rural appraisal, PRA). 1.6.2. Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực có liên quan đến sử dụng đất, cây trồng, kinh tế 1.6.3. Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Các số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel 1.6.4. Phương pháp đánh giá thích hợp theo đất theo quy trình của FAO - Nghiên cứu lựa chọn các loại hình sử dụng đất dựa trên cơ sở đặc tính của các loại hình sử dụng đất và theo yêu cầu sử dụng đất. - Phân hạng thích hợp đất đai theo cấu trúc phân hạng đất của FAO. 1.6.5. Phương pháp xây dựng bản đồ - Sử dụng phần mềm tin học Mapinfo và Microstation, Công nghệ GIS 1.6.6. Phương pháp tính hiệu quả sử dụng đất * Hiệu quả kinh tế: Theo một số tiêu chỉ tiêu sau: - Tổng chi phí: Bao gồm các khoản chi phí được sử dụng trong quá trình sản xuất (chi phí vật chất và chi công lao động) - Tổng thu nhập = Sản lượng x Đơn giá. - Thu nhập hỗn hợp (TNHH) = Tổng thu nhập - Chi phí vật chất - Thu nhập thuần = Tổng thu nhập – Tổng chi phí. - Hiệu quả kinh tế của ngày công lao động = Thu nhập hỗn hợp/ số công lao động. - Hiệu suất đồng vốn = Thu nhập hỗn hợp/ Tổng chi phí. * Hiệu quả xã hội: Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, do thời gian có hạn, chúng tôi chỉ đề cập đến một số chỉ tiêu sau: - Khả năng phù hợp với hướng thị trường tiêu thụ của các LUT ở thời điểm hiện tại và tương lai. - Khả năng thu hút lao động, giải quyết việc làm cho người sản xuất. - Mối quan hệ cộng đồng của nông dân trong quá trình sản xuất. - Mức độ chấp nhận của người dân thể hiện ở mức độ đầu tư, ý định chuyển đổi cây trồng của hộ. * Hiệu quả môi trường: - Thích hợp với đặc điểm, tính chất đất và nguồn nước của vùng đồi núi dốc. - Khả năng duy trì và cải thiện độ phì đất (như khả năng che phủ đất, giữ ẩm, trả lại cho đất tàn dư cây trồng có chất lượng, …) - Chế độ luân canh ảnh hưởng đến khả năng cân đối về dinh dưỡng và cải tạo đất (như khả năng cố định đạm, khả năng hút dinh dưỡng của cây…) - Mức độ sử dụng phân bón và các loại thuốc BVTV TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN Cứu Căn cứ kế hoạch thực hiện các nội dung công việc của đề tài, từ tháng 12/2008 đến tháng 3/2009, Học viên đã thực hiện được một số công việc như sau: I. Tổng quan: Viết được 50 % (30 trang) theo những ý chớnh sau: 1.1. Khái quát chung về tình hình đánh giá đất: 1.1.1. Nghiên cứu tình hình đánh giá đất trên thế giới 1.1.1.1. Khái niệm đất đai : + Theo học thuyết sinh thái học cảnh quan (landscape ecology) + Theo Fao + Theo đơn giản : Đất đai là một vùng lãnh thổ có ranh giới, vị trí cụ thể và có các thuộc tính tổng hợp về các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội như: thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, con người và các hoạt động sử dụng đất của con người đối với đất đai. 1.1.1.2. Một số phương pháp đánh giá đất trên thế giới . * Đánh giá đất ở Liên Xô (cũ): gồm 3 bước: + Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng (so sánh các loại thổ nhưỡng theo tính chất tự nhiên). + Đánh giá khả năng sản xuất của đất đai (yếu tố được xem xét kết hợp với khí hậu, độ ẩm, địa hình). + Đánh giá kinh tế đất (chủ yếu đánh giá khả năng sản xuất hiện tại của đất đai). * Đánh giá đất ở Mỹ: ở Mỹ việc đánh giá đất được áp dụng rộng rãi theo 2 phương pháp: + Phương pháp đánh giá đất tổng hợp: + Phương pháp đánh giá đất theo từng yếu tố: * Đánh giá đất ở Canada. Canada đánh giá đất theo các tính chất tự nhiên của đất và năng suất ngũ cốc nhiều năm. Phẩm chất đất đai được đánh giá bằng thang điểm 100 theo tiêu chuẩn trồng lúa mì. * ở ấn Độ và các nước vùng nhiệt đới ẩm châu Phi. Thường áp dụng phương pháp tham biến, có tính đến sự phụ thuộc của một số tính chất đất đai với sức sản xuất. Các đặc tính, các mối quan hệ của các yếu tố được thể hiện dưới dạng phương trình toán học. Kết quả phân hạng đánh giá đất được thể hiện dưới dạng % hoặc cho điểm. * Đánh giá đất đai ở Anh: 1.1.1.3. Nghiên cứu tình hình đánh giá đất ở Việt Nam. + Thời kỳ phong kiến: + Thời kỳ thống trị của thực dân Pháp + Thời kỳ hoà bình lập lại ở miền Bắc (năm 1954): Trong giai đoạn này Bùi Quang Toản, 1986 đã đề ra quy trình kỹ thuật phân hạng đất áp dụng cho các hợp tác xã và các vùng chuyên canh. Nội dung quy trình gồm 4 bước: 1. Thu thập tài liệu 2. Vạch khoảnh đất (với hợp tác xã) hoặc khoanh đất (với các vùng chuyên canh). 3. Đánh giá phân hạng chất lượng đất đai. 4. Xây dựng các bản đồ phân hạng đất. + Năm 1992, Tổng cục Quản lý ruộng đất đã ban hành "Dự thảo phương pháp phân hạng đất lúa nước cấp huyện" với 5 nguyên tắc cơ bản như sau: - Phân hạng đất chỉ dựa vào vùng địa lý thổ nhưỡng. - Phân hạng đất tuỳ thuộc vào loại, nhóm cây trồng. - Phân hạng đất phải mang tính đặc thù của địa phương. - Phân hạng đất tuỳ thuộc vào trình độ thâm canh. - Phân hạng đất và năng suất cây trồng có tương quan chặt chẽ. + Quy trình đánh giá đất của FAO được vận dụng trong đánh giá đất đai ở Việt Nam từ các địa phương đến các vùng, miền của toàn quốc. 1.2. Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 1.2.1. Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất Đánh giá đất cho các vùng sinh thái hoặc các vùng lãnh thổ khác nhau là nhằm tạo ra một sức sản xuất mới, ổn định, bền vững và hợp lý. trong đó đánh giá hiệu quả sử dụng đất là một nội dung hết sức quan trọng. Vậy hiệu quả sử dụng đất là gì?Theo các nhà khoa học kinh tế Smuel-Norhuas; “Hiệu quả không có nghĩa là lãng phí. Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội. Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng số lượng một loại hàng hoá này mà không cắt giảm số lượng một loại hàng hoá khác”.(Dẫn theo Vũ Phương Thuỵ) * Hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó cần xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa 2 đại lượng đó. * Hiệu quả xã hội Theo Nguyễn Thị Vòng và các cộng sự thì hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra. Hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp. * Hiệu quả môi trường Hiệu quả môi trường là môi trường được sản sinh do tác động của hoá học, sinh học, vật lý... chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường của các loại vật chất trong môi trường. Hiệu quả môi trường phân theo nguyên nhân gây nên gồm: hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh vật môi trường. Hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài. Hiệu quả môi trường vừa đảm bảo lợi ích trước mắt vì phải gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng đất vừa đảm bảo lợi ích lâu dài là bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái. Khi hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của một loại hình sử dụng đất nào đó được đảm bảo thì hiệu quả môi trường càng cần được quan tâm. 1.2.2. Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 1.2.2.1. Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp ở khu vực miền núi do đặc điểm về địa hình khí hậu thời tiết và tập quán sản xuất. Khi tính toán hiệu quả kinh tế sản xuất nông lâm nghiệp cần chú ý đến đặc điểm này để đảm bảo việc tính đúng, đủ, toàn diện. 1.2.2.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Các nhân tố ảnh hưởng có thể chia ra làm 3 nhóm sau đây: * Điều kiện tự nhiên: - Đặc điểm lý, hoá tính của đất: - Nguồn nước và chế độ nước - Địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng: - Vị trí địa lý: * Điều kiện kinh tế, xã hội: bao gồm rất nhiều nhân tố như chế độ xã hội, dân số, cơ sở hạ tầng, môi trường chính sách: - Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp. - Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông lâm sản - Trình độ kiến thức, khả năng và tập quán sản xuất của chủ sử dụng đất - Hệ thống chính sách: * Yếu tố tổ chức, kỹ thuật: 1.2.3. Những xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới Các vấn đề chung như sau: - Không ngừng nâng cao năng suất chất lượng, nông sản, nâng cao năng suất lao động nông nghiệp, nâng cao hiệu quả đầu tư. - Mức độ đầu tư vốn, lao động, khoa học vào các quá trình phát triển của nông nghiệp. Chiều hướng chung là giảm lao động chân tay, đầu tư nhiều lao động trí óc, tăng cường hiệu quả của lao động quản lý và tổ chức. - Mối quan hệ giữa nông nghiệp và môi trường. Từ những vấn đề chung đã nêu trên đây mỗi nước lại có chiến lược phát triển khác nhau, có thể chia thành hai nhóm chính sau: + Nông nghiệp công nghiệp hoá: + Nông nghiệp sinh thái: 1.2.4. Phương hướng phát triển nông nghiệp Việt nam trong những năm tới Xu hướng phát triển của nền nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm tới tập trung ở các vấn đề sau đây: - Tập trung vào sản xuất nông sản hàng hoá theo nhóm ngành hàng, nhóm sản phẩm dựa trên cơ sở dự báo cung cầu của thị trường nông sản trong nước và trên thế giới, đồng thời khai thác tốt lợi thế so sánh giữa các vùng . - Xác định cơ cấu sản phẩm dựa trên cơ sở của các tiềm năng tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng, lấy hiệu quả kinh tế xã hội tổng hợp làm thước đo để xác định cơ cấu và tỷ lệ sản phẩm phù hợp với các chỉ tiêu, kế hoạch phát triển nông sản hàng hoá . - Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, cây công nghiệp, rau hoa quả so với cây lương thực. Giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp xuống còn 50%. Mặt khác, cần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, phát triển ngành nghề công nghiệp và dịch vụ ngoài nông nghiệp. - Để khuyến khích sản xuất nông sản hàng hoá, khuyến khích các sản phẩm xuất khẩu cần tiếp tục tạo ra sự đồng bộ giữa các yếu tố của kinh tế thị trường, từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng xã hộic hủ nghĩa, đặc biệt là thị trường ruộng đất, tạo ra sự lưu chuyển mạnh mẽ đất nông nghiệp để hình thành các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp hàng hoá với quy mô thích hợp . - Đẩy mạnh việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp . Trong sản xuất hàng hoá cần ứng dụng khoa học công nghệ một cách đồng bộ, nâng cao trình độ khoa học công nghệ trong sản xuất và lưu thông hàng hoá. Sản phẩm làm ra phải chứa đựng một lượng tri thức khoa học-kỹ thuật và tổ chức quản lý cao để không ngừng nâng cao năng xuất, chất lượng và hạ giá thành sản phẩm . 1.2.3. Sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững 1.2.3.1. Vấn đề suy thoái đất nông nghiệp Hiện tượng suy thoái đất, suy kiệt dinh dưỡng có liên quan chặt chẽ đến chất lượng đất và môi trường. Để đáp ứng được lương thực, thực phẩm cho con người trong hiện tại và tương lai, con đường duy nhất là thâm canh tăng năng suất cây trồng trong điều kiện hầu hết đất canh tác trong khu vực đều bị nghèo về độ phì, đòi hỏi phải bổ sung một lượng chất dinh dưỡng cần thiết qua con đường sử dụng phân bón. 1.2.3.2. Sử dụng đất theo quan điểm sinh thái Hệ sinh thái bao gồm hai thành phần chủ yếu: - Các quần thể sống (thực vật, động vật, vi sinh vật) với các mối quan hệ dinh dưỡng và vị trí của chúng. - Các nhân tố ngoại cảnh: khí hậu, đất , nước. * Hệ sinh thái nông nghiệp * Hệ sinh thái nhân văn 1.2.3.3. Quan điểm sử dụng đất bền vững FAO đã đưa ra những chỉ tiêu cụ thể cho nông nghiệp bền vững là: - Thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của thế hệ hiện tại và tương lai về số lượng và chất lượng các sản phẩm nông nghiệp khác. - Cung cấp lâu dài việc làm, đủ thu nhập và các điều kiện sống, làm việc tốt cho mọi người trực tiếp làm nông nghiệp. - Duy trì và chỗ nào có thể tăng cường khả năng sản xuất của các cơ sở tài nguyên thiên nhiên và khả năng tái sản xuất của các nguồn tài nguyên tái tạo được mà không phá vỡ chức năng của các chu kỳ sinh thái cơ sở và cân bằng tự nhiên, không phá vỡ bản sắc văn hoá xã hội của các cộng đồng sống ở nông thôn hoặc không gây ô nhiễm môi trường. - Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng tin trong nhân dân . * Các nguyên tắc sử dụng đất bền vững Theo Smyth và Dumanski [25] sử dụng đất bền vững được xác định theo 5 nguyên tắc: - Duy trì và nâng cao các hoạt động sản xuất ( năng suất). - Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất (an toàn). - Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự thoái hoá chất lượng đất và nước (bảo vệ). - Khả thi về mặt kinh tế ( tính khả thi). - Được xã hội chấp nhận (sự chấp nhận). Mục tiêu của nông nghiệp bền vững là xây dựng một hệ thống ổn định về mặt sinh thái, có tiềm lực kinh tế, có khả năng thoả mãn những nhu cầu của con người mà không bóc lột đất, không gây ô nhiễm môi trường. 1.2.3.4. Nghiên cứu đánh giá sử dụng đất nông nghiệp bền vững ở Việt Nam Xét về lâu dài quỹ đất nông nghiệp nước ta rất hạn chế, chỉ có khoảng 10 triệu ha trong đó có 4,2 - 4,3 triệu ha đất trồng lúa, do vậy cần có sự ưu tiên hợp lý để khai thác thêm đất nông nghiệp và bảo vệ quỹ đất nông nghiệp hiện có, nhằm giảm bớt mâu thuẫn giữa đất đai và lao động. Bảo vệ quỹ đất nông nghiệp cũng chính là đảm báo nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội [19]. 1.2.4. Nghiên cứu tình hình sử dụng đất nông lâm nghiệp vùng đồi núi 1.2.4.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng đất nông lâm nghiệp vùng đồi núi trên thế giới Tài nguyên đất trên thế giới có khoảng 13.500 triệu ha, trong đó 1.000 triệu ha (chiếm 14,7%) đất đồi núi có khả năng sản xuất nông lâm nghiệp. Diện tích đất đồi núi ở khu vực Đông Nam á được phân bổ ở tất cả các nước trong khu vực, ở Việt Nam chiếm một tỷ lệ khá cao (khoảng 75% diện tích tự nhiên của cả nước) và ở Lào (chiếm 73%) và trên nửa diện tích lãnh thổ quốc gia của nhiều nước trong khu vực. Phần lớn diện tích đất đồi núi được sử dụng cho lâm nghiệp (bảo tồn rừng tự nhiên hoặc trồng rừng sản xuất, rừng sinh thái...) cũng như được khai thác trồng các loại cây công nghiệp, cây ăn quả và các loại cây lâu năm khác Đất đồi núi nói chung là có độ phì cao nếu được khai phá và sử dụng hợp lý. Tuy nhiên, độ phì của đất đồi núi phụ thuộc nhiều vào thành phần đá mẹ, độ dốc, địa hình, thảm thực vật rừng che phủ hoặc vào dòng chảy của nước mưa. Những năm gần đây có nhiều nghiên cứu về đất đồi trung du ở Đông Nam á. Đây là một trong những vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới. Đất đồi trung du ở Đông Nam á nói chung chưa được sử dụng hợp lý mặc dù tiềm năng cũng như lợi ích đem lại của nó là rất lớn. 1.2.4.2. Tình hình sử dụng đất nông lâm nghiệp vùng đồi núi Việt Nam ở Việt Nam đất đồi núi chiếm 3/4 diện tích đất tự nhiên. Nhìn chung đây là những loại đất khó khai thác sử dụng và kém hiệu quả, đặc biệt khi đất đã mất thảm thực vật che phủ. Trong những năm 40 của thế kỷ XX, diện tích che phủ rừng ở nước ta khoảng 45%; đến những năm 80 chỉ còn khoảng 25%. Hiện nay, diện tích che phủ rừng ở nước ta đã tăng lên khoảng 32%. Tuy nhiên diện tích đất trống đồi núi trọc vẫn còn khoảng 10 triệu ha. Đất dốc phân bố ở tất cả 9 vùng sinh thái của cả nước, nhưng chủ yếu tập trung ở vùng núi phía Bắc, Tây Trung bộ và Tây Nguyên [5]. Tổng diện tích đất đồi núi ở Việt Nam là 23.969.600 ha (72,8% diện tích tự nhiên toàn quốc), trong đó sử dụng cho mục đích nông nghiệp là 4.413.700 ha (18,4%) và cho lâm nghiệp là 11.802.700 ha (49,3%). Khả năng mở rộng diện tích đất canh tác cho cây lâu năm trên đất đồi núi là 561.300 ha [3]. Phần lớn diện tích đất có độ dốc dưới 15% (chiếm 21,9%) đã được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp hoặc nông lâm kết hợp. Diện tích đất có độ dốc từ 150 đến 250 chiếm khoảng 14,6%, còn lại là đất có độ dốc lớn hơn 250 (chiếm 61,7%). Do thiếu đất sản xuất nên nông dân miền núi vẫn phải canh tác trên đất có độ dốc lớn hơn 250 chịu xói mòn rất mạnh và thời gian canh tác bị rút ngắn, thường chỉ trồng được 2 - 3 vụ cây lương thực ngắn ngày, sau đó trồng sắn và bỏ hoá [5]. Đặc điểm thuận lợi của vùng đồi núi Việt Nam là rất đa dạng về các loại hình thổ nhưỡng và phong phú về khả năng sử dụng, đa dạng hoá cây trồng. Nhưng trở ngại nổi bật là do địa hình chia cắt, độ dốc lớn nên dễ bị xói mòn, rửa trôi. Do đó đã kéo theo hàng loạt các vấn đề như: kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn (Nguyễn Thế Đặng, Đào Châu Thu, Đặng Văn Minh (2003) [6]. Canh tác bền vững trên đất dốc trong điều kiện nước ta hiện nay là rất khó, song chúng ta cần thiết phải làm rõ nguyên nhân và tìm mọi biện pháp để từng bước thực hiện góp phần phát triển nông nghiệp bền vững. Về sử dụng đất đồi núi, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (1996) [29], (2001) [30] đã phân cấp độ dày tầng đất và độ dốc của các loại đất phục vụ cho công tác quy hoạch sử dụng đất có hiệu quả và lâu bền. Viện đã có những công trình nghiên cứu tập trung vào xây dựng bản đồ đất, đánh giá đất, đánh giá hiện trạng, đề xuất, định hướng phát triển, quy hoạch và phân vùng sinh thái cho các loại cây trồng hàng hoá vùng đồi và cây đặc sản vùng đồi, đặc biệt là đánh giá và đề xuất các giải pháp cải tạo, sử dụng đất trống đồi núi trọc trên phạm vi cả nước. Từ khi có luật đất đai 1993 ra đời, đất đồi núi đã từng bước được bảo vệ và khai thác hợp lý, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quản lý và sử dụng đất vùng đồi núi. Người dân ở nhiều vùng đã được giao đất giao rừng, được đảm bảo quyền sử dụng đất. Do đó, ở những vùng này người dân có ý thức bảo vệ đất tốt hơn, đầu tư cho đất cao hơn. II. Nội dung nghiên cứu 2.1. Điều tra thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên của huyện Nguyên Bình: Học viên đã điều tra được các số liệu về: + Vị trí địa lý: Nguyên Bình là huyện vùng cao của tỉnh Cao Bằng, - Phía Bắc giáp huyện Thông Nông. - Phía Đông giáp Huyện Hoà An. - Phía Nam giáp tỉnh Bắc Kạn và huyện Thạch An. - Phía Tây giáp huyện Bảo Lạc (tỉnh Cao Bằng) và huyện Pác Nặm (tỉnh Bắc Kạn). Huyện có tổng diện tích tự nhiên theo địa giới hành chính là 84.101,21 ha được chia thành 20 đơn vị hành chính, trong đó có 18 xã và 2 thị trấn + Địa hình, địa mạo: Địa hình huyện Nguyên Bình khá phức tạp, điểm cao nhất 1.931 m, điểm thấp nhất 100m, độ cao trung bình 1.100 m so với mặt nước biển. Đất có độ dốc trên 25o chiếm 83,54% tổng diện tích, độ dốc dưới 8o chiếm diện tích rất ít khoảng 3,12%. Địa hình được chia thành 2 khu vực chính như sau: - Vùng núi đất gồm 12 xã - Vùng núi đá gồm 8 xã + Khí hậu: Nguyên Bình có khí hậu mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa đông lạnh, khô, ít mưa có sương muối, sương mù kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau; sương muối xuất hiện nhiều vào tháng 12 và tháng 1 ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và chăn nuôi. Mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm. - Nhiệt độ trung bình năm 20,20C; - Lượng mưa trung bình năm 1.736,9 mm, - Độ ẩm không khí trung bình 82%/ năm. - Lượng bốc hơi bình quân trong năm 831,6 mm, - Gió bão: Gió Đông nam và Đông bắc là 2 hướng gió chủ đạo + Thuỷ văn, nguồn nước: Do đặc điểm của cấu trúc địa hình, đa số sông suối của Huyện bắt nguồn từ những dãy núi cao trên 1.000m. Mùa mưa lượng nước dồn nhanh vào sông chính tạo nên dòng chảy lớn và siết đã cuốn trôi một lượng phù sa khá lớn, ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân, Đặc trưng nhất của hệ thống thuỷ văn trong huyện là sông Hiến, ngoài ra còn có 2 con sông chảy qua địa phận đó là Sông Năng và sông Nguyên Bình. + Điều kiện thổ nhưỡng: Theo kết quả điều tra khảo sát, xây dựng bản đồ đất huyện Nguyên Bình của Hội Khoa học đất Việt Nam năm 2008, đất đai huyện Nguyên Bình được chia thành các nhóm đất chính sau: a/ Đất phù sa (P) Fluvisols (FL) Diện tích 1.726,59 ha chiếm 2,05 % diện tích tự nhiên của huyện, được hình thành do sự bồi đắp của sông Hiến, sông Năng, sông Nhiên và ven các suối. Phân bố ở các xã Thế Dục, Minh Thanh, Tam Kim, Hưng Đạo, Mai Long, Lang Môn, Bắc Hợp và các Thị trấn Tĩnh Túc, Nguyên Bình, Thành Công. b/ Đất glây (GL) gleysols (gL) Diện tích 199 ha, chiếm 0,23% diện tích tự nhiên của huyện, được hình thành và phát triển ở địa hình thung lũng khó thoát nước, nhóm đất này phân bố ở xã Tam Kim. c/ Đất nâu (N) Phaeozems (PH) Diện tích 3.621,96 ha, chiếm 4,30% diện tích tự nhiên của huyện, được hình thành trên sản phẩm phong hoá của đá vôi, trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm có 2 mùa mưa, khô rõ rệt. Đất hình thành do các sản phẩm sườn tích, xung tích hoặc lũ tích, thành phần cơ giới nặng, giàu bazơ, ở địa hình dốc, bậc thềm hoặc thung lũng. Nhóm đất này phân bố tập trung ở các xã phía Bắc và Tây Bắc huyện Nguyên Bình: Ca Thành, Yên Lạc, Triệu Nguyên, Vũ Nông, Thế Dục, Thái Học, Bắc Hợp, Lang Môn, Mai Long, Thị trấn Tĩnh Túc, Thị trấn Nguyên Bình, Phan Thanh, Quang Thành, Minh Tâm. d/ Đất đỏ (F) ferralsols (FR) Diện tích 5.687,77 ha, chiếm 6,76% diện tích tự nhiên của huyện, được hình thành và phát triển trên sản phẩm phong hoá của đá vôi, đá macma bazơ và trung tính. Nhóm đất này phân bố tập trung ở các xã: Yên Lạc, Thị trấn Nguyên Bình, Bắc Hợp, Minh Thanh, Thái Học, Minh Tâm, Vũ Nông, Thế Dục, Lang Môn, Triệu Nguyên, Phan Thanh, Quang Thành, Ca Thành. đ/ Đất xám (X) Acrisols (AC) Diện tích 55061,7ha, chiếm 65,47% diện tích tự nhiên của huyện, được hình thành chủ yếu do sản phẩm phong hoá của phiến sa thạch. Nhóm đất này phân bố tập trung ở tất cả các xã, thị trấn trong huyện. e/ Đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá (E) Leptosols (LP) Diện tích 1.005 ha, chiếm 1,19% diện tích tự nhiên của huyện, được hình thành và phát triển trên sản phẩm phong hoá của đá vôi, đá phiến thạch (phấn sa). Đất nằm ở địa hình đồi, núi dốc chia cắt, chịu tác động rửa trôi xói mòn mạnh. Đất có tầng mỏng (thường <10cm). Loại đất này phân bố ở các xã Lang Môn, Tam Kim, Phan Thanh, Yên Lạc. g/ Đất mùn alit trên núi cao (A) Alisols (AL) Diện tích 89 ha, chiếm 0,11% diện tích tự nhiên của huyện, được hình thành trên các sản phẩm phong hoá của đá granit ở địa hình cao hơn 1800m, nơi có nền nhiệt độ thấp, độ ẩm cao, thực vật phát triển mạnh, quá trình phong hoá yếu. Loại đất này phân bố ở các xã Phan Thanh và Quang Thành. 2.2. Số liệu về điều kiện kinh tế- xã hội của huyện Nguyên Bình: Học viên đã thu thập được các số liệu sau: + Dân số và lao động: Theo số liệu thống kê dân số của huyện đến 31/12/2008 có 39.850 người, bao gồm 7 dân tộc. Mật độ dân số bình quân chung của huyện là 46 người/km2, Nơi có mật độ đông dân nhất là xã Minh Tâm với mật độ 89 người/km2. Nơi có mật độ thấp nhất là xã Thịnh Vượng với mật độ 13 người/km2. Tỷ lệ tăng dân số 2008 là 1,3%, tỷ lệ tăng giai đoạn 2003- 2008 là 0,7% Tổng số lao động trong huyện là 17.896 người, + Thực trạng phát triển kinh tế * Sản xuất nông - lâm nghiệp - Trồng trọt: Trong giai đoạn 2005 - 2008 huyện đã chỉ đạo đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn. Diện tích lúa gieo trồng năm 2008 đạt 2.318,91 ha. Tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt 14.463 tấn. Bình quân lương thực đạt 372,4 kg/người. - Chăn nuôi: Vị trí ngành chăn nuôi của huyện mặc dù còn phát triển mang tính tự phát, song bước đầu đã khẳng định được vai trò trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Tổng đàn gia súc, gia cầm đều tăng qua các năm, năm 2008 có 167.324 con gia súc, gia cầm. - Thuỷ sản: Diện tích nuôi trồng thuỷ sản (chủ yếu là cá) hiện có 34,99 ha, - Lâm nghiệp: Thực hiện chương trình mục tiêu phủ xanh đất trống đồi núi trọc, trong những năm qua huyện tập trung triển khai công tác giao đất giao rừng, khoán khoanh nuôi bảo vệ và trồng rừng. năm 2007 độ che phủ đạt 75,5%. * Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và xây dựng: Nhìn chung, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của huyện chưa phát triển đúng tiềm năng sẵn có, giá trị sản lượng chiếm tỷ trọng nhỏ không đáng kể. * Dịch vụ, thương mại: Mạng lưới các cơ sở dịch vụ, thương mại không ngừng được mở rộng, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của sản xuất và đời sống nhân dân trong huyện. Kinh tế hộ gia đình là bộ phận chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế, song tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu vẫn còn chậm và không đều giữa các ngành, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp thuần tuý chưa có sức cạnh tranh cao. + Tình hình về cơ sở hạ tầng và công trình văn hoá phúc lợi: * Giao thông Đến nay đã có 20/20 xã, thị trấn có đường ô tô đến trung tâm xã và một số xã đã có đường nhưng còn khó khăn về mùa mưa. Hiện trạng hệ thống đường giao thông của huyện bao gồm: Đường Quốc lộ 3 dài 11 km, Đường Quốc lộ 34 dài 65 km, Tỉnh lộ 212 dài 33 km, Tỉnh lộ 202 dài 18 km. * Thuỷ lợi Trong huyện có 5 hồ chứa, 132 km kênh mương, 51 đập dâng. Tuy nhiên trên địa bàn huyện vẫn còn một số khu vực bị khô hạn trong năm với diện tích là 453,83 ha Thực hi._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCHQL09061.doc
Tài liệu liên quan