Một số giải pháp huy động vốn cho kế hoạch Đầu tư phát triển sản Xuất giai đoạn 2006 - 2010 của Tổng Công ty Cơ khí xây dựng (90tr)

Lời mở đầu Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, sản xuất cơ khí và xây dựng được coi là những lĩnh vực nền tảng, tạo ra các sản phẩm thiết yếu cho nên kinh tế. Do đó hai lĩnh vực này luôn được Nhà nước quan tâm đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển. Tổng Công ty Cơ khí xây dựng là doanh nghiệp Nhà nước quy mô lớn, được thành lập với nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh về cơ khí xây dựng theo quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành xây dựng của Nhà nước và theo

doc91 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 23/11/2013 | Lượt xem: 454 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Một số giải pháp huy động vốn cho kế hoạch Đầu tư phát triển sản Xuất giai đoạn 2006 - 2010 của Tổng Công ty Cơ khí xây dựng (90tr), để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
yêu cầu của thị trường, bao gồm các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh máy móc, thiết bị, công cụ, phụ tùng, phụ kiện và các sản phẩm khác phục vụ xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng, phục vụ phát triển đô thị và các ngành kinh tế - kỹ thuật khác; sản xuẩt kinh doanh dịch vụ về các phương tiện vận tải, xếp dỡ; thi công, lắp đặt thiết bị, xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, công trình kỹ thuật hạ tầng đô thị và khu công nghiệp, tư vấn kính kế kỹ thuật về công nghệ, thiết bị cho các dự án sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí .... Để hoàn thành nhiệm vụ được giao cũng như đáp ứng nhu cầu thị trường, Tổng Công ty Cơ khí xây dựng đã xây dựng chiến lược phát triển giai đoạn 2001 - 2010 với chủ trương hoạt động kinh doanh đa ngành trên các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh dịch vụ kỹ thuật cho các ngành sản xuất vật liệu xây dựng, điện, giao thông, công nghiệp, xây dựng dân dụng, cấp thoát nước với mục tiêu chính là phát triển sản xuất các sản phẩm cơ khí. Kết quả là Tổng Công ty đã có những bước phát triển cơ bản về trình độ chế tạo cơ khí, có khả năng tham gia thiết kế, xây dựng, chế tạo, lắp đặt thiết bị đồng bộ cho nhiều công trình trọng điểm của Nhà nước với năng suất, chất lượng đáp ứng yêu cầu thực tế về chất lượng và tiến độ. Các lĩnh vực này hàng năm đã mang lại lợi nhuận hàng tỉ đồng, gia tăng đáng kể các khoản nộp ngân sách. Tổng Công ty đã từng bước hòa nhập, đứng vững và phát triển trong cơ chế thị trường, khẳng định vai trò chủ đạo trong lĩnh vực chế tạo cơ khí, củng cố và tăng cường năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập khu vực. Đạt được kết quả trên có phần đóng góp không nhỏ của hoạt động đầu tư. Bước vào hoạt động trong cơ chế thị trường, Tổng Công ty cũng như nhiều doanh nghiệp Nhà nước khác gặp rất nhiều khó khăn ảnh hưởng tới năng lực sản xuất và cạnh tranh của sản phẩm cũng như doanh nghiệp, đó là quy mô sản xuất nhỏ bé, thiết bị, máy móc, công nghệ lạc hậu ...Để khắc phục những khó khăn trên Tổng Công ty đã chỉ đạo đầu tư chiều sâu tăng năng lực sản xuất trên cơ sở thiết bị công nghệ hiện có của Tổng Công ty và đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, đa dạng hóa, hiện đại hóa sản phẩm. Những kết quả do hoạt động đầu tư là rất to lớn nhưng cũng phải thừa nhận rằng chưa đạt được mục tiêu, kế hoạch đề ra. Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên khó khăn trong việc huy động vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất. Đây sẽ vẫn là vấn đề mà Ban lãnh đạo Tổng Công ty phải nỗ lực giải quyết, nhất là định hướng đầu tư trong giai đoạn tới của Tổng Công ty đều là những dự án có mức đầu tư lớn như dự án nhà máy chế tạo thiết bị nâng chuyển, nhà máy chế tạo thiết bị cho công nghiệp xi măng, nhà máy chế tạo thiết bị xử lý rác thải, nhà máy điện, xây dựng nhà ở ... với tổng nguồn vốn đầu tư cho giai đoạn 2006 - 2010 lên tới trên 5000 tỉ đồng. Có đầu tư thì mới có phát triển, muốn phát triển thì phải đầu tư. Xét trong điều kiện hiện nay, nếu không huy động được vốn thì các dự án đầu tư cũng không còn mang tính khả thi nữa, điều đó cũng có nghĩa là doanh nghiệp khó có thể phát triển nếu không có vốn đầu tư. Vì vậy để trở thành một tập đoàn kinh tế mạnh trong tương lai, Tổng Công ty cần nhìn nhận và coi trọng đúng mức các hoạt động đầu tư cũng như các biện pháp để huy động vốn, một nguồn lực không thể thiếu để tiến hành các hoạt động đầu tư. Qua thực tế tìm hiểu tại Tổng Công ty Cơ khí xây dựng, kết hợp với những kiến thức đã được trang bị trong nhà trường, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài : "Một số giải pháp huy động vốn cho kế hoạch đầu tư phát triển sản xuất giai đoạn 2006 - 2010 của Tổng Công ty Cơ khí xây dựng" cho chuyên đề thực tập với mục đích đưa ra một cái nhìn khái quát về thực trạng huy động vốn đầu tư tại Tổng Công ty, đánh giá những kết quả đạt được, cũng như xem xét một số khó khăn còn tồn tại, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường khả năng huy động vốn đầu tư cho Tổng Công ty, đảm bảo khả năng thực hiện các dự án đầu tư cũng như các mục tiêu phát triển. Nội dung của chuyên đề thực tập gồm ba chương ; Chương 1 : Lý luận chung về vốn đầu tư sản xuất và các hình thức huy động. Chương 2 : Thực trạng thu hút vốn đầu tư phát triển sản xuất ở Tổng Công ty Cơ khí xây dựng. Chương 3 : Một số giải pháp huy động vốn cho kế hoạch đầu tư phát triển sản xuất giai đoạn 2006 - 2010 của Tổng Công ty Cơ khí xây dựng. CHƯƠNG 1 Lý luận CHUNG Về vốn ĐầU TƯ SảN XUấT Và CáC HìNH THứC HUY ĐộNG I.lý luận chung về vốn đầu tư sản xuất . 1.Khái niệm và đặc trưng của vốn đầu tư sản xuất. 1.1.Khái niệm vốn đầu tư sản xuất. Để hiểu được khái niệm vốn đầu tư sản xuất phải xuất phát từ khái niệm vốn. Xét về bản chất, vốn chính là phần tiết kiệm hay tích lũy mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội. Điều này đã được cả kinh tế học cổ điển, kinh tế chính trị Mac-Lênin và kinh tế học hiện đại chứng minh. Trong bộ Tư bản, Mac đã khái quát hóa phạm trù vốn thông qua phạm trù tư bản. Theo Mac, tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư qua quá trình vận động của nó.Đặc biệt Mac chỉ ra nguồn lực của vốn tích lũy là lao động thặng dư do những người lao động tạo ra và nguồn vốn đó được đem dùng vào việc mở rộng và phát triển sản xuất, cái mà các nhà tư bản gọi là vốn đầu tư. Quan điểm về vốn lại tiếp tục được các nhà kinh tế học hiện đại đề cập đến trong các công trình nghiên cứu của mình. Trong cuốn "Kinh tế học" của mình, Pual A.Samuelson đã viết:"Hàng tư bản do bản thân hệ thống kinh tế sản xuất ra để được sử dụng làm đầu vào của sản xuất để làm ra hàng hóa và dịch vụ ". Theo Samuelson thì vốn chính là của cải do nền kinh tế sản xuất ra mà không tiêu dùng ở hiện tại mà để tăng tiêu dùng ở tương lai. Như vậy xã hội đầu tư hay nhịn tiêu dùng ở hiện tại để thu được kết quả hay lợi ích của đầu tư trong tương lai. Vốn là một phạm trù kinh tế đã được đề cập tới dưới nhiều góc độ khác nhau trong các lý thuyết kinh tế. Tuy nhiên trong điều kiện kinh tế thị trường ngày nay vốn được hiều là giá trị tài sản xã hội được hình thành từ các nguồn lực vật chất và phi vật chất của xã hội gồm tài sản tích lũy, tài nguyên thiên nhiên, nhân lực, trí lực, giá trị văn hóa tinh thần và các lợi thế khác được sử dụng trong sản xuất kinh doanh nhằm thu được hiệu quả kinh tế xã hội. Vốn đầu tư được phân biệt với vốn thông thường ở một số điểm sau: vốn đầu tư được phục vụ cho mục tiêu đầu tư phát triển, được sử dụng cho các mục tiêu đã hoạch định, chủ yếu được sử dụng để hình thành các cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, kỹ thuật và các tài sản cố định cho nền kinh tế. Tùy theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội của các kết quả đầu tư, có thể phân chia vốn đầu tư thành vốn đầu tư phát triển khoa học - kỹ thuật, vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển hạ tầng... Qua phần phân tích trên có thể khái quát lại khái niệm về vốn đầu tư sản xuất như sau: Vốn đầu tư sản xuất là một lượng giá trị tài sản (tài sản hữu hình và vô hình) được dùng đầu tư vào hoạt động sản xuất nhằm mang lại lợi nhuận cho chủ đầu tư. 1.2.Đặc điểm của vốn đầu tư sản xuất. Vốn đầu tư sản xuất có các đặc trưng sau đây : - Vốn được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản, điều này có nghĩa là vốn phải đại diện cho một lượng giá trị đích thực của các tài sản hữu hình hoặc vô hình như: tư liệu sản xuất, nhà xưởng, đất đai, nguyên vật liệu, bằng sáng chế, quyền sở hữu trí tuệ,... - Vốn là tài sản vận động được.Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng không có nghĩa có tiền là có vốn. Tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn, để trở thành tiền phải vận động và sinh lời. Vì vậy, hàng hóa, vật tư tồn kho ứ đọng, tài sản cố định không dùng, tài nguyên, sức lao động không sử dụng, tiền vàng cất trữ, các khoản nợ khó đòi chỉ là vốn chết. - Vốn phải được tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy được tác dụng. Để đầu tư sản xuất, vốn phải được gom lại thành những món tiền đủ lớn, do đó các nhà đầu tư không chỉ khai thác mọi tiềm năng vốn của doanh nghiệp mà còn phải tìm cách góp vốn, hùn vốn liên doanh, phát hành cổ phiếu... - Trong nền kinh tế thị trường, vốn luôn gắn liền với quyền sở hữu, đồng thời vốn có khả năng tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng. Tùy theo hình thức đầu tư mà vốn đầu tư có thể thuộc sở hữu của chủ đầu tư hoặc không - Vốn đầu tư sản xuất thường phục vụ cho những mục tiêu đã được hoạch định cụ thể, có sự chuẩn bị kỹ lưỡng từ khâu chuẩn bị dự án đến triển khai thực hiện dự án và khai thác kết quả đầu tư. 2.Phân loại vốn đầu tư sản xuất. 2.1.Phân loại theo nội dung của vốn. Theo nội dung, vốn đầu tư bao gồm các yếu tố chi phí sau đây : - Chi phí xây lắp, bao gồm: + Chi phí phá và tháo dỡ các vật kiến trúc cũ. + Chi phí san lấp mặt bằng xây dựng. + Chi phí xây dựng công trình tạm, công trình phụ trợ, phục vụ thi công, nhà tạm tại hiện trường thi công. + Chi phí xây dựng các hạng mục công trình. + Chi phí lắp đặt thiết bị. + Chi phí di chuyển lớn thiết bị thi công và lực lượng xây dựng. - Chi phí thiết bị, bao gồm : + Chi phí mua sắm thiết bị công nghệ . + Chi phí vận chuyển từ cảng và nơi mua đến công trình, chi phí lưu kho, lưu bãi, lưu Container tại cảng Việt Nam, chi phí bảo quản, bảo dưỡng tại kho bãi tại hiện trường. + Thuế và chi phí bảo hiểm thiết bị công trình. - Chi phí khác : Do đặc điểm riêng biệt của khoản chi phí này nên nội dung của từng loại chí phí được phân chia theo các giai đoạn của quá trình đầu tư và xây dựng.Cụ thể là : + Chi phí khác ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư + Chi phí khác ở giai đoạn thực hiện đầu tư + Chi phí khác ở giai đoạn kết thúc xây dựng đưa vào công trình vào sử dụng 2.2.Phân loại theo bản chất của các đối tượng đầu tư. Vốn đầu tư bao gồm : - Vốn đầu tư cho các đối tượng vật chất (đầu tư tài sản vật chất như nhà xưởng, máy móc, thiết bị...). - Vốn đầu tư cho các đối tượng phi vật chất (đầu tư tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực như đào tạo, nghiên cứu khoa học, đầu tư phát triển thương hiệu,...). Trong các loại đầu tư trên đây, đầu tư đối tượng vật chất là điều kiên tiên quyết, cơ bản làm tăng tiềm lực của nền kinh tế, còn đầu tư tài sản trí tuệ và các nguồn lực khác là điều kiện tất yếu để đảm bảo cho đầu tư các đối tượng vật chất tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả kinh tế cao. 2.3.Phân loại theo cơ cấu tái sản xuất. Vốn đầu tư gồm vốn đầu tư theo chiều rộng và vốn đầu tư theo chiều sâu. - Vốn đầu tư chiều rộng có đặc điểm là vốn lớn để khê đọng lâu, thời gian thực hiện đầu tư và thời gian cần hoạt động để thu hồi vốn lâu, tính chất kỹ thuật phức tạp, độ mạo hiểm cao. - Vốn đầu tư chiều sâu đòi hỏi khối lượng vốn ít hơn, thời gian thực hiện đầu tư không lâu, độ mạo hiểm thấp hơn so với đầu tư theo chiều rộng. 2.4.Phân loại theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư. Vốn đầu tư được chia thành : - Vốn đầu tư ngắn hạn. - Vốn đầu tư dài hạn. 2.5.Phân loại theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư. Vốn đầu tư được chia thành : - Vốn đầu tư gián tiếp : người bỏ vốn không trực tiếp tham gia điều hành quản lý quá trình thực hiện và vận hành các kết quả đầu tư. - Vốn đầu tư trực tiếp : người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư. 2.6.Phân loại theo nguồn vốn. Vốn đầu tư được chia thành : - Vốn huy động từ nội bộ doanh nghiệp. - Vốn huy động từ ngoài doanh nghiệp. 2.7.Phân loại theo tính chất luân chuyển của vốn. Vốn đầu tư được chia thành : - Vốn cố định : Đây là nguồn vốn có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài, chủ yếu nguồn vốn này được sử dụng để mua sắm, xây dựng nhằm hình thành nên cơ sở vật chất kỹ thuật của một doanh nghiệp. Đặc điểm cơ bản của loại vốn này là có thể tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu của nó. - Vốn lưu động : Giá trị nhỏ, thời gian sử dụng thường dưới 1 năm, giá trị của nó dịch chuyển một lần vào giá thành sản phẩm. II. các hình thức huy động Vốn đầu tư sản xuất cho doanh nghiệp. 1. Các hình thức huy động vốn đầu tư sản xuất. 1.1.Nguồn cung ứng từ nội bộ doanh nghiệp. 1.1.1.Khấu hao tài sản cố định. Tài sản cố định là những tư liệu lao động tham gia vào nhiều quá trình sản xuất. Trong quá trình sử dụng, tài sản cố định bị hao mòn dần và chuyển dần giá trị của nó vào giá thành sản phẩm. Hao mòn tài sản cố định là một quá trình mang tính khách quan, phụ thuộc vào nhiều nhân tố như chất lượng của bản thân tài sản cố định, các yếu tố tự nhiên, cường độ sử dụng tài sản cố định ....Trong quá trình sử dụng tài sản cố định doanh nghiệp phải xác định mức độ hao mòn của chúng để chuyển dần giá trị hao mòn vào giá trị sản phẩm được gọi là trích khấu hao tài sản cố định. Việc xác định mức khấu hao cụ thể phụ thuộc vào thực tiễn sử dụng tài sản cố định cũng như ý muốn chủ quan của nhà quản trị. Đối với các doanh nghiệp Nhà nước trong chừng mực nhất định quá trình xác định khấu hao chịu ảnh hưởng của ý đồ của Nhà nước thông qua các quy định, chính sách cụ thể của cơ quan tài chính trong từng thời kỳ. Các doanh nghiệp khác có thể lựa chọn thời hạn sử dụng và phương pháp tính khấu hao cụ thể. Trong chính sách tài chính cụ thể ở từng thời kỳ, doanh nghiệp có thể lựa chọn khấu hao và điều chỉnh khấu hao tài sản cố định và coi đây như một công cụ điều chỉnh nguồn cung ứng vốn bên trong của mình. Tuy nhiên, cần chú ý rằng việc điều chỉnh khấu hao không thể diễn ra một cách tùy tiện, không có kế hoạch mà phải trên cơ sở các kế hoạch tài chính dài hạn và ngắn hạn đã được xác định. Mặt khác, cần chú ý rằng điều chỉnh tăng khấu hao tài sản cố định sẽ dẫn đến tăng chi phí kinh doanh khấu hao tài sản cố định trong giá thành sản phẩm nên luôn luôn bị khống chế bởi giá thành sản phẩm. 2.1.2.Tích lũy tái đầu tư. Tích lũy tái đầu tư luôn được các doanh nghiệp coi là nguồn cung ứng tài chính quan trọng vì có các ưu điểm cơ bản sau: - Doanh nghiệp hoàn toàn chủ động sử dụng nguồn vốn này. - Giảm sự phụ thuộc vào các nhà cung ứng vốn. - Giúp doanh nghiệp tăng tiềm lực tài chính nhờ giảm tỉ lệ nợ/vốn. - Càng có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong điều kiện chưa tạo được tín nhiệm với các nhà cung ứng tài chính. Quy mô tự cung ứng vốn từ tích lũy tái đầu tư tùy thuộc vào hai nhân tố chủ yếu là lợi nhuận thu được trong từng kỳ kinh doanh cụ thể và chính sách phân phối lợi nhuận sau thuế của các doanh nghiệp. Tổng số lợi nhuận cụ thể thu được trong từng thời kỳ phụ thuộc vào quy mô kinh doanh, chất lượng hoạt động kinh doanh của toàn doanh nghiệp trong thời kỳ đó. Chính sách phân phối lợi nhuận cũng tùy thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp Nhà nước, lợi nhuận thu được sẽ phải được sử dụng vào các khoản sau: nộp tiền sử dụng vốn ngân sách Nhà nước theo quy định, trả các khoản phạt quy định không được tính vào chi phí kinh doanh, lập các quỹ đặc biệt, chia lãi cho các đối tác liên doanh. Phần còn lại dùng để lập các quỹ doanh nghiệp gồm: quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính(10%), quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm(5%), quỹ khen thưởng và phúc lợi(nhỏ hơn từ 2 - 3 tháng lương). Như vậy tích lũy tái đầu tư chủ yếu được lấy từ quỹ đầu tư phát triển,quỹ dự phòng tài chính, thường nguồn vốn từ quỹ này chẳng còn lại là bao nhiêu sau khi trích nộp các khoản và các quỹ theo quy định . Đối với công ty cổ phần, toàn bộ lợi nhuận sau thuế sẽ được dùng để trích lập quỹ dự trữ bắt buộc (5% lợi nhuận) cho đến khi số dư quỹ bằng 10% vốn điều lệ. Số còn lại phân phối vào các quỹ tái đầu tư phát triển, quỹ nghiên cứu phát triển và đào tạo, quỹ dự phòng rủi ro, quỹ khen thưởng và phúc lợi, chia cổ tức. Thường tỉ lệ trích lập quỹ tái đầu tư phát triển của các công ty cổ phần cao hơn so với doanh nghiệp Nhà nước. 2.1.3.Điều chỉnh cơ cấu tài sản. Do môi trường kinh doanh nhiều biến động, nhiệm vụ kinh doanh thay đổi nên trong kinh doanh luôn diễn ra hiện tượng thừa loại tài sản này nhưng lại thiếu loại tài sản khác. Điều chỉnh cơ cấu tài sản chính là việc kịp thời có giải pháp bán các tài sản cố định dư thừa, không sử dụng đến; mặt khác, trên cơ sở thường xuyên kiểm tra, tính toán và xác định lại mức dự trữ tài sản lưu động, ứng dụng mô hình dự trữ tối ưu nhằm giảm lượng lưu kho tài sản lưu động không cần thiết, đảm bảo lượng lưu kho mỗi loại tài sản lưu động hợp lý. Phương thức này tuy không làm tăng tổng số vốn sản xuất kinh doanh nhưng lại có tác dụng rất lớn trong việc tăng vốn cho các hoạt động cần thiết trên cơ sở giảm vốn ở những nơi không cần thiết. Phương thức này có ưu điểm rất lớn là hoàn toàn do doanh nghiệp chủ động, không bị phụ thuộc vào bên ngoài; doanh nghiệp có toàn quyền sử dụng trong dài hạn với chi phí sử dụng vốn thấp. Mặt khác, sự nỗ lực tự cung ứng luôn được coi là một yếu tố để người cấp vốn bên ngoài xem xét khả năng cho vay vốn. Tuy nhiên phương thức này cũng có hạn chế cơ bản là quy mô cung ứng vốn nhỏ và nguồn bổ sung luôn có giới hạn. 2.2.Nguồn cung ứng từ bên ngoài doanh nghiệp. 2.2.1. Nguồn vốn Ngân sách Nhà nước. - Nguồn vốn ngân sách Nhà nước. Với hình thức cung ứng từ ngân sách Nhà nước doanh nghiệp sẽ nhận được lượng vốn xác định từ ngân sách Nhà nước cấp. Thông thường hình thức này không đòi hỏi nhiều điều kiện ngặt nghèo đối với doanh nghiệp được cấp vốn như các hình thức huy động vôn khác. Tuy nhiên, càng ngày hình thức cung ứng vốn từ ngân sách Nhà nước càng bị thu hẹp cả về quy mô và phạm vi được cấp vốn. Hiện nay, đối tượng được cung ứng theo hình thức này thường phải là doanh nghiệp Nhà nước được Nhà nước xác định duy trì để đóng vai trò chủ đạo; các dự án đầu tư ở những lĩnh vực sản xuất hàng hóa công cộng, hoạt động công ích mà tư nhân không muốn hoặc không có khả năng đầu tư; các dự án lớn có tầm quan trọng đặc biệt do Nhà nước trực tiếp đầu tư. 2.2.2. Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước. Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ngày càng đóng vai trò đáng kể trong giải quyết vấn đề vốn cho các dự án phát triển sản xuất quy mô lớn. Mục đích của đầu tư tín dụng phát triển Nhà nước là hỗ trợ các dự án đầu tư phát triển của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực quan trọng, chương trình kinh tế lớn có tác động trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể sự bao cấp vốn trực tiếp của Nhà nước. Với cơ chế tín dụng, các đơn vị sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay. Chủ đầu tư là người vay vốn phải tính kỹ hiệu quả đầu tư, sử dụng tiết kiệm hơn. Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từ phương thức cấp phát ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn. Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước được thực hiện dưới ba hình thức : + Cho vay đầu tư phát triển với lãi suất ưu đãi. + Hỗ trợ lãi suất sau đầu tư. + Bảo lãnh tín dụng đầu tư. Nguyên tắc tín dụng đầu tư phát triển Nhà nước : + Hỗ trợ cho những dự án đầu tư có khả năng thu hồi vốn trực tiếp thuộc một số ngành, lĩnh vực quan trọng, chương trình kinh tê lớn có hiệu quả kinh tế - xã hội, bảo đảm hoàn trả được vốn vay. + Một dự án có thể đồng thời được hỗ trợ theo hình thức cho vay đầu tư một phần và hỗ trợ lãi suất sau đầu tư; hoặc đồng thời được cho vay đầu tư một phần và bảo lãnh tín dụng đầu tư. + Tổng mức hỗ trợ theo các hình thức không quá 85% vốn đầu tư của dự án. + Dự án vay vốn đầu tư hoặc bảo lãnh tín dụng đầu tư phải được Quỹ hỗ trợ phát triển thẩm định phương án tài chính, phương án trả nợ vốn vay trước khi quyết định đầu tư. + Chủ đầu tư phải sử dụng vốn vay đúng mục đích; trả nợ gốc và lãi vay theo hợp đồng tín dụng đã ký. Đây là một nguồn vốn cực kỳ quan trọng đối với các dự án phát triển sản xuất quy mô lớn của các doanh nghiệp trong điều kiện khả năng huy động vốn nội bộ thấp, tín dụng thương mại ngày càng khó khăn do lãi suất cao, mức tín dụng thấp và điều kiện vay chặt chẽ. Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước có ưu điểm là khối lượng tín dụng cấp lớn và luôn đi kèm các điều khoản ưu đãi. Nhưng cũng có hạn chế là đối tượng vay phải nằm trong danh mục ưu tiên cấp tín dụng đầu tư phát triển do Chính phủ quyết định cho từng thời kỳ và khối lượng tín dụng được cấp bị khống chế. 2.2.3.Gọi vốn góp qua phát hành cổ phiếu. Gọi vốn góp qua phát hành cổ phiếu là hình thức doanh nghiệp được cung ứng vốn trực tiếp từ thị trường chứng khoán. Khi có nhu cầu về vốn và lựa chọn hình thức này,doanh nghiệp tính toán và phát hành cổ phiếu, bán trên thị trường chứng khoán. Hình thức cung ứng vốn này có đặc trưng cơ bản là tăng vốn mà không làm tăng nợ của doanh nghiệp bởi những người sở hữu cổ phiếu trở thành cổ đông của doanh nghiệp. Vì lẽ đó nhiều người coi hình thức này là nguồn cung ứng nội bộ. Tuy nhiên, không phải mọi doanh nghiệp được phép khai thác nguồn vốn này mà chỉ những doanh nghiệp được phép phát hành cổ phiếu theo quy định của pháp luật (công ty cổ phần, doanh nghiệp Nhà nước quy mô lớn) và doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả. Hình thức huy động vốn bằng việc phát hành cổ phiếu có ưu điểm là tập hợp được lượng vốn lớn ban đầu và dễ tăng vốn trong quá trình kinh doanh, quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng vốn một cách tương đối nên bộ máy quản trị doanh nghiệp được toàn quyền chủ động sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này. Việc tài trợ bằng vốn cổ phần không phải trả lãi cho vốn cổ phần đã huy động được mà sẽ chia cổ tức cổ phần cho các chủ sở hữu nếu doanh nghiệp có lợi nhuận, lợi tức cổ phần chia cho các cổ đông tùy thuộc vào quyết định của Hội đồng quản trị và nó thay đổi theo mức lợi nhuận mà công ty đạt được.Doanh nghiệp không thế chấp tài sản hay nhờ bảo lãnh, bởi vốn huy động là của các chủ sở hữu. Bên cạnh đó, hình thức gọi hùn vốn qua phát hành cổ phiếu cũng có hạn chế là doanh nghiệp phải có nghĩa vụ công khai hóa thông tin tài chính theo Luật doanh nghiệp; khi thừa vốn không hoặc chưa sử dụng đến doanh nghiệp không thể hoàn trả lại được, vì vậy khi có nhu cầu gọi vốn qua phát hành cổ phiếu đòi hỏi doanh nghiệp phải cẩn trọng tính toán, cân nhắc và doanh nghiệp có thể mất quyền kiểm soát nếu không quản lý được số lượng cổ phiếu mình phát hành. Mặt khác, hình thức huy động này cũng bị khống chế về số lượng dựa trên năng lực tài chính và kết quả kinh doanh của công ty, đồng thời do có thể làm giảm cổ tức nên doanh nghiệp phải có quy mô lớn, hứa hẹn lợi nhuận cao mới dễ bán được cổ phiếu phát hành trên thị trường. 2.2.4.Huy động vốn từ nội bộ cán bộ công nhân viên. Đây là hình thức huy động vốn mới được sử dụng rông rãi trong các doanh nghiệp. Trước đây các doanh nghiệp thường ít quan tâm tới nguồn vốn này vì nghĩ lượng vốn huy động không đáng kể, nhưng do những khó khăn trong vấn đề huy động vốn nên nguồn vốn này đang được khuyến khích sử dụng. Căn cứ vào nhu cầu vốn của doanh nghiệp, căn cứ vào vị trí chức vụ của cán bộ công nhân viên, doanh nghiệp đề ra chính sách huy động vốn từ cán bộ công nhân viên với mức quy định tối thiểu cho từng đối tượng. Nguồn vốn này có ưu điểm là huy động vốn nhàn rỗi trong CBCNV nên chi phí vốn thấp, thường vốn huy động theo hình thức này được trả lãi suất theo tỉ lệ lãi suất tiền gửi tiết kiệm, tránh được những thủ tục phức tạp cũng như chi phí khi huy động vốn từ các nguồn khác. Nhưng nguồn vốn này cũng luôn mang đặc điểm là khối lượng vốn huy động được hạn chế. 2.2.5.Vay vốn bằng phát hành trái phiếu trên thị trường vốn. Hình thức vay vốn bằng phát hành trái phiếu trên thị trường vốn là hình thức cung ứng vốn trực tiếp từ công chúng: doanh nghiệp phát hành lượng vốn cần thiết dưới hình thức trái phiếu thường là có kỳ hạn xác định và bán cho công chúng. Khác với hình thức phát hành cổ phiếu, hình thức huy động vốn từ trái phiếu mang đặc trưng rất cơ bản là tăng vốn gắn với tăng nợ của doanh nghiệp. Vay vốn bằng cách này có những ưu điểm chủ yếu là : có thể thu hút được một số lượng vốn lớn cần thiết, chi phí kinh doanh vốn thấp hơn so với vay ngân hàng, không bị người cung ứng kiểm soát chặt chẽ như vay ngân hàng và doanh nghiệp có thể lựa chọn loại trái phiếu thích hợp với yêu cầu của mình. Tuy nhiên, hình thức huy động vốn từ phát hành trái phiếu cũng có những hạn chế nhất định. Hình thức này đòi hỏi doanh nghiệp phải nắm chắc các kỹ thuật tài chính để tránh áp lực nợ đến hạn và vẫn có lợi nhuận, đặc biệt khi kinh tế suy thoái, làm phát cao. Chi phí kinh doanh phát hành trái phiếu khá cao vì doanh nghiệp cần có sự trợ giúp của một số ngân hàng thương mại. Doanh nghiệp phải tính toán thỏa mãn điều kiện: tài sản cố định phải lớn hơn tổng số vốn và nợ dài hạn của doanh nghiệp. Mặt khác, không phải mọi doanh nghiệp mà chỉ những doanh nghiệp nào thỏa mãn các điều kiện theo luật định mới được phép phát hành trái phiếu. 2.2.6.Vay vốn của các ngân hàng thương mại. Vay vốn từ ngân hàng thương mại là hình thức doanh nghiệp vay vốn dưới các hình thức cụ thể ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn từ các ngân hàng thương mại. Đây là mối quan hệ tín dụng giữa một bên đi vay và một bên đi vay. Có thể nói vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất, không chỉ đối với sự phát triển của bản thân các doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế. Sự hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp đều gắn liền với các dịch vụ tài chính do các ngân hàng thương mại cung cấp, trong đó có cung ứng các nguồn vốn. Không một doanh nghiệp nào là không sử dụng kênh huy động vốn này nếu muốn tồn tại vững chắc trên thương trường. Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp thường vay ngân hàng để đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp. Với hình thức vay vốn từ ngân hàng thương mại doanh nghiệp có thể huy động được lượng vốn lớn, đúng hạn và có thể mời các ngân hàng cùng tham gia thẩm định dự án nếu có nhu cầu vay đầu tư lớn. Nguồn vốn còn có ưu điểm là do phần lãi vay được khấu trừ làm giảm thu nhập chịu thuế, nên doanh nghiệp được hưởng phần tiết kiệm nhờ thuế, cũng có nghĩa là chi phí sử dụng nợ thường thấp hơn chi phí vốn chủ sở hữu; hơn nữa doanh nghiệp lại không chịu nguy cơ mất quyền kiểm soát doanh nghiệp như phát hành cổ phiếu. Bên cạnh đó để thực hiện được hình thức vay vốn từ các ngân hàng thương mại đòi hỏi doanh nghiệp phải có uy tín lớn, kiên trì đàm phán, chấp nhận các thủ tục thẩm định ngặt nghèo. Trong quá trình sử dụng vốn, doanh nghiệp phải tính toán trả nợ ngân hàng theo đúng tiến độ kế hoạch. Việc sử dụng nhiều nợ có thể làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Khi tình hình tài chính không lành mạnh, doanh nghiệp vẫn phải chi trả chi phí lãi vay, điều này có thể làm cho tình trạng khó khăn về tài chính trầm trọng hơn, thậm chí có thể khiến doanh nghiệp phá sản nên việc xác định và duy trì kết cấu vốn tối ưu là hết sức quan trọng. Mặt khác, khi doanh nghiệp vay vốn ở các ngân hàng thương mại có thể bị ngân hàng thương mại đòi hỏi quyền kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp trong thời gian vay như : doanh nghiệp phải thế chấp bằng tài sản hình thành sau đầu tư, doanh nghiệp sẽ không được vay thêm dài hạn nếu không có sự đồng ý của ngân hàng cho vay, doanh nghiệp không thể đem thế chấp tài sản nếu không có sự đồng ý của ngân hàng cho vay, ngân hàng cho vay áp đặt cơ chế kiểm soát chi phối hoạt động đầu tư để phòng ngừa doanh nghiệp sử dụng vốn không đúng mục đích, ngân hàng cho vay có thể đòi hỏi doanh nghiệp thay đổi ban lãnh đạo của doanh nghiệp... Vốn vay từ ngân hàng thương mại là một nguồn vốn không thể thiếu trong các kênh huy động vốn của doanh nghiệp nhưng để đảm bảo an toàn cho các doanh nghiệp, trong quá trình hoạt động các doanh nghiệp cần cân nhắc thận trọng khi quyết định vay vốn và sử dụng vốn hiệu quả sau khi huy động được. 2.2.7.Tín dụng thương mại từ các nhà cung cấp. Trong quá trình kinh doanh do đặc điểm quá trình cung ứng hàng hóa và thanh toán không thể khi nào cũng phải diễn ra đồng thời nên tín dụng thương mại xuất hiện và tồn tại như một tất yếu khách quan. Thực chất, luôn diễn ra đồng thời quá trình doanh nghiệp nợ khách hàng tiền và chiếm dụng tiền của khách hàng. Nếu số tiền doanh nghiệp chiếm dụng của khách hàng lớn hơn số tiền doanh nghiệp bị chiếm dụng thì số tiền dư ra sẽ mang bản chất tín dụng thương mại. Có các hình thức tín dụng thương mại chủ yếu sau : - Doanh nghiệp mua máy móc, thiết bị theo phương thức trả chậm. Sẽ chỉ có được hình thức tín dụng này nếu được ghi rõ trong hợp đồng mua bán về giá cả, số lần trả và số tiền trả mỗi lần, khoảng cách giữa các lần trả tiền. Như thế, doanh nghiệp có thể sử dụng máy móc, thiết bị ngay nhưng tiền lại chưa phải trả ngay, số tiền chưa phải trả là số tiền doanh nghiệp chiếm dụng của người cung ứng. Trong môi trường hiện nay, với nhiều mặt hàng thì mua bán chưa phải trả ngay được coi là một chiến lược marketing của người bán cho nên doanh nghiệp dễ dàng tìm được nguồn vốn tín dụng loại này. Đặc biệt, khi thị trường có nhiều nhà cung ứng cạnh tranh với nhau doanh nghiệp càng có lợi thế về giá cả, kỳ hạn trả,...Khi quá trình này diễn ra một cách thường xuyên thì nguồn tín dụng này đóng vai trò như một nguồn tín dụng trung và dài hạn. Với phương thức tín dụng này doanh nghiệp có thể đầu tư chiều sâu với vốn ít mà không ảnh hưởng đến tình hình tài chính của mình. Hình thức tín dụng mua máy móc thiết bị theo phương thức trả chậm càng có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thiếu các điều kiện cần thiết để vay vốn từ các nguồn khác. Bên cạnh đó, hình thức mua máy móc thiết bị theo phương thức trả chậm cũng có những hạn chế nhất định chẳng hạn như doanh nghiệp phải chịu chi phí kinh doanh sử dụng vốn khá cao. Mặt khác, sẽ chỉ mua theo phương thức trả chậm được nếu doanh nghiệp có uy tín, có truyền thống tín dụng sòng phẳng cũng như tình hình tài chính lành mạnh. - Vốn khách hàng ứng trước. Trong quá trình kinh doanh, khi ký kết hợp đồng đặt hàng khách hàng thường phải đặt cọc trước một số tiền nhất định, số tiền đặt cọc này doanh nghiệp được sử dụng mặc dù chưa sản xuất và cung ứng sản phẩm cho khách hàng. Tùy ._.theo lượng mua hàng của khách, thông thường doanh nghiệp chiếm dụng được từ hai nguồn : + Vốn ứng trước của khách hàng lớn . + Vốn ứng trước của người tiêu dùng. Thông thường số vốn chiếm dụng này là không lớn. Mặt khác, để sản xuất sản phẩm doanh nghiệp phải đặt hàng (nguyên vật liệu...) nên bị người cấp hàng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp cũng theo hình thức này nên các quá trình kinh doanh diễn ra bình thường thì số dư vốn chiếm dụng hình thức này là không lớn. Bên cạnh đó cũng tồn tại lượng tiền khách hàng chiếm dụng lại khi mua hàng của doanh nghiệp nhiều khi là rất lớn. 2.2.8.Tín dụng thuê mua. Tín dụng thuê mua là một hình thức tài trợ tín dụng thông qua các loại tài sản, máy móc thiết bị. Đây là hình thức giao dịch có lịch sử lâu đời ở các quốc gia phát triển và đã bắt đầu phát triển ở Việt Nam. Khi hình thức tín dụng thuê mua được sử dụng, một thỏa thuận thuê mua có thể được xác lập giữa hai hay nhiều bên liên quan đến một hay nhiều tài sản. Người cho thuê (chủ tài sản) chuyển giao tài sản cho người đi thuê ( người sử dụng tài sản). Người đi thuê được độc quyền sử dụng tài sản đó trong một thời gian nhất định, đổi lại người đi thuê phải trả một số tiền cho chủ tài sản tương ứng với quyền sử dụng và quyền hưởng dụng mà họ phải hy sinh. Trong quá trình thuê, người cho thuê là người sở hữu tài sản, còn người đi thuê là người sử dụng tài sản đó. Kết thúc hợp đồng, người cho thuê thu hồi lại tài sản hoặc bán lại. Tín dụng thuê mua có hai phương thức cơ bản sau : - Thuê vận hành là phương thức thuê tài sản trong đó chủ tài sản bỏ tiền ra mua tài sản rồi cho người khác thuê để sử dụng với các đặc điểm sau : + Thời hạn thuê thường rất ngắn so với toàn bộ đời sống hữu ích của tài sản, điều kiện chấm dứt hợp đồng chỉ cần báo trước trong một khoảng thời gian rất ngắn. + Người cho thuê phải chịu mọi chi phí vận hành của tài sản như chi phí bảo trì, bảo hiểm, thuế sử dụng tài sản, ...cùng với mọi loại rủi ro và sự giảm sút giá trị của tài sản. + Người cho thuê được hưởng tiền thuê do người đi thuê trả theo thỏa thuận và mọi lợi ích gia tăng khác do bản thân của việc sở hữu tài sản đem lại. + Số tiền mà người đi thuê trả cho người cho thuê thường là rất thấp so với giá trị thật sự của tài sản đi thuê. - Thuê tài chính : Đây là phương thức tài trợ tín dụng trung và dài hạn không thể hủy ngang. Theo phương thức này, người cho thuê thường mua tài sản, thiết bị mà người đi thuê cần và đã có thương lượng từ trước các điều kiện mua tài sản đó với người cần thuê. Tùy theo quy định của từng quốc gia, các giao dịch được coi là thuê tài chính khi thời hạn thuê mua chiếm phần lớn đời sống hữu ích của tài sản và hiện giá thuần của toàn bộ các khoản tiền thuê phải đủ để bù đắp những chi phí mua tài sản tại thời điểm bắt đầu hợp đồng ( theo quy định hiện nay của Việt Nam, thời hạn đi thuê phải lớn hơn 60% thời hạn sử dụng hữu ích của tài sản mới được xem là thuê tài chính). Thường thì hợp đồng tài chính được chia làm 3 phần : + Thời hạn thuê cơ bản + Thời hạn gia hạn tùy chọn + Phần giá trị còn lại Các loại chi phí bảo trì, vận hành, phí bảo hiểm, thuế tài sản và mọi rủi ro thường do người thuê chịu và tổng số tiền mà người thuê phải trả cho người cho thuê trong suốt thời gian thuê thường là đủ đề bù đắp lại toàn bộ giá gốc của tài sản. Trong suốt thời gian diễn ra hoạt động thuê tài sản, quyền sở hữu pháp lý đối với tài sản thuộc về người cho thuê và quyền sử dụng tài sản thuộc về người thuê. Xét ở góc độ người thuê, hợp đồng thuê tài chính là một hình thức tài trợ tín dụng cho họ. Sự khác biệt cơ bản của thuê tài chính với một khoản nợ vay đó là người cho thuê vẫn nắm giữ quyền sở hữu tài sản nên có quyền thu hồi ngay nếu thấy có sự mất an toàn đối với tài sản của mình. Nhờ hình thức tín dụng thuê mua, doanh nghiệp có thể gia tăng năng lực sản xuất trong điều kiện hạn chế vốn đầu tư, có thể hiện đại hóa trang thiết bị theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ mới, rút ngắn thời gian đầu tư để đáp ứng kịp thời các cơ hội kinh doanh. Hình thức tín dụng thuê mua có ưu điểm rất cơ bản là giúp cho doanh nghiệp sử dụng đúng mục đích, khi nào doanh nghiệp có cầu về sử dụng máy móc, thiết bị cụ thể mới đặt vấn đề thuê mua và chỉ ký hợp đồng thuê mua trong khoảng thời gian sử dụng thích hợp. Doanh nghiệp không chỉ nhận được máy móc thiết bị mà còn nhận được tư vấn đào tạo và hướng dẫn kỹ thuật cần thiết từ doanh nghiệp thực hiện chức năng thuê mua. Doanh nghiệp sử dụng máy móc, thiết bị có thể tránh được những tổn thất do mua máy móc,thiết bị không đúng yêu cầu hoặc do mua nhầm. Doanh nghiệp sử dụng có được máy móc.thiết bị cần thiết mà không phải đầu tư một lần với vốn lớn. Mặt khác, doanh nghiệp có thể giảm được tỉ lệ nợ/vốn vì tránh phải vay ngân hàng thương mại. Trong quá trình sử dụng máy móc, thiết bị doanh nghiệp có thể thỏa thuận tái thuê với doanh nghiệp có chức năng thuê mua; tức là doanh nghiệp sử dụng bán một phần tài sản thiết bị cho doanh nghiệp thuê mua rồi lại thuê lại để tiếp tục sử dụng tài sản thiết bị đó. Với phương thức thuê mua doanh nghiệp sử dụng có thể nhanh chóng đổi mới tài sản cố định, nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. Hạn chế cơ bản của phương thức thuê mua đối với doanh nghiệp có cầu sử dụng máy móc, thiết bị là chi phí kinh doanh sử dụng vốn cao và hợp đồng tương đối phức tạp. Chi phí tài trợ thông qua tín dụng thuê mua thường cao hơn lãi suất cho vay của các hình thức tài trợ vốn khác trên cùng thị trường vốn; vào giai đoạn cuối của thỏa thuận thuê mua, dù đã trả hết tiền thuê, doanh nghiệp đi thuê vẫn chưa được quyền sử dụng tài sản vào mục đích khác. 2.2.9.Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Trong cơ chế kinh tế mở, từ khi có Luật đầu tư nước ngoài ban hành các doanh nghiệp đã có thêm một nguồn cung ứng vốn từ các doanh nghiệp nước ngoài trực tiếp đầu tư vào doanh nghiệp mình dưới hình thức liên doanh, liên kết. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có đặc điểm cơ bản là không gây nợ cho các doanh nghiệp tiếp nhận. Thay vì nhận lãi trên suất trên vốn đầu tư, nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi dự án đầu tư hoạt động có hiệu quả. Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang theo toàn bộ tài nguyên kinh doanh của doanh nghiệp nước ngoài vào doanh nghiệp trong nước nên hình thức đầu tư này có tác dụng thúc đẩy phát triển những lĩnh vực sản xuất mới, đặc biệt là những lĩnh vực đòi hỏi cao về kỹ thuât, công nghệ hay nhiều vốn. Vì thế nguồn vốn này có rất ý nghĩa đối với doanh nghiệp trong nước muốn mở rộng sản xuất ở những lĩnh vực mà công nghệ sản xuất trong nước chưa đáp ứng được, cho phép các doanh nghiệp trong nước có thể tiếp cận nhanh chóng kỹ thuật - công nghệ cũng như phương thức quản trị tiên tiến. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phần lớn được phía đối tác nước ngoài đóng góp dưới dạng máy móc, thiết bị trong dây chuyền sản xuất, bí quyết công nghệ. Do đó đòi hỏi phía doanh nghiệp Việt Nam phải hiểu biết về những yếu tố trên để đánh giá đúng giá trị của vốn đầu tư tránh thiệt thòi khi tham gia liên doanh, liên kết. 2.2.10.Nguồn vốn ODA. Đối tác mà doanh nghiệp có thể tìm kiếm và nhận được nguồn vốn này là các chương trình hợp tác của Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ hoặc các tổ chức quốc tế khác. Hình thức cấp vốn ODA có thể là hình thức viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện ưu đãi về lãi suất và thời hạn thanh toán. Nếu các doanh nghiệp được vay từ nguồn vốn ODA có thể chịu các mức lãi suất thường trong khoảng 1->1.5%/năm, phí ngân hàng thường là 0.2->0.3%/năm trong thời hạn có thể từ 10->20 năm và có thể được gia hạn thêm. Ngoài các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay dài khối lượng vốn vay tương đối lớn, bao giờ trong ODA cũng có yếu tố không hoàn lại (còn gọi là thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất 25%. Hình thức huy động vốn từ nguồn vốn ODA có chi phí kinh doanh sử dụng vốn thấp. Tuy nhiên, để nhận được nguồn vốn này doanh nghiệp phải chấp nhận các điều kiện và ràng buộc tương đối khắt khe về thủ tục chuyển giao vốn, tiến độ thực hiện và tính hiệu quả của dự án đầu tư...Đồng thời doanh nghiệp phải có trình độ quản trị dự án đầu tư cũng như trình độ phối hợp làm việc với các cơ quan Chính phủ và chuyên gia nước ngoài. 2.Những nhân tố ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn của doanh nghiệp. 2.1.Những nhân tố khách quan. -Tình hính chính trị đất nước và tăng trưởng của nền kinh tế. Tình hình chính trị của đất nước và sức khỏe của nền kinh tế luôn có ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư cũng như khả năng huy động vốn của doanh nghiệp. Nếu chính trị ổn định, ít xung đột, nền kinh tế tăng trưởng cao, đều đặn, Nhà nước thực hiện chính sách mở cửa, kêu gọi đầu tư nước ngoài sẽ có tác động tích cực, tạo sự hấp dẫn, yên tâm cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước khi đầu tư vào các lĩnh vực, đặc biệt là các dự án trung và dài hạn từ đó tạo cơ hội để các doanh nghiệp trong nước thu hút đầu tư, tạo được nhiều kênh huy động, đáp ứng kịp thời cho nhu cầu đầu tư, sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó kinh tế tăng trưởng sẽ làm thu nhập quốc dân mở rộng, lợi nhuận của doanh nghiệp và thu nhập người dân tăng, tạo ra nguồn tích lũy, tiết kiệm từ các doanh nghiệp và dân cư sẽ làm tổng cung về vốn cho toàn nền kinh tế tăng, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong vấn đề huy động vốn. -.Tỉ lệ lạm phát. Tỉ lệ lạm phát ở mức vừa phải có tác động tích cực tới sự ổn định và kích thích tăng trưởng kinh tế. Nếu lạm phát tăng cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế sẽ làm cho đồng tiền mất giá, điều này làm mất lòng tin của các nhà đầu tư nhất là các nhà đầu tư nước ngoài. Đồng thời, khi các doanh nghiệp không có một thước đo ổn định giá trị đồng tiền thì các dự án đầu tư khi thực hiện sẽ không phản ánh chính xác từ đó hiệu quả kinh doanh thấp, các nguồn vốn đầu tư sẽ hạn chế nhằm ngăn ngừa rủi ro. - Chính sách thuế. Hiện nay Nhà nước thực hiện chính sách thuế khuyến khích đầu tư với nhiều ưu đãi về thuế cho cả đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước do đó thu hút được nhiều nhà đầu tư mạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực mới có nhiều tiềm năng. - Chính sách lãi suất. Lãi suất luôn là mối quan tâm đặc biệt của các tổ chức tín dụng cũng như của doanh nghiệp. Đối với các ngân hàng cũng như các tổ chức tài chính khác, lãi suất là mục tiêu kinh doanh, là cơ sở cho việc giảm các chi phí khác cho các tổ chức này. Hiện nay Nhà nước thực hiện chính sách quản lý lãi suất gián tiếp, chỉ quy định lãi suất trần, cho các tổ chức tín dụng tự quyết định lãi suất tiết kiệm cũng như lãi suất cho vay của mình dựa trên lãi suất trần. Quy định này cho phép các tổ chức tín dụng đưa ra lãi suất hợp lý để huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội, đồng thời đưa ra lãi suất cho vay phù hợp nhằm khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn. Như vậy chính sách lãi suất của Nhà nước có ảnh hưởng lớn tới chi phí vốn của doanh nghiệp do đó sẽ hạn chế hoặc tăng khả năng vay vốn của doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra là Nhà nước xây dựng chính sách lãi suất trong từng giai đoạn như thế nào để tạo sự cạnh tranh lành mạnh trong các tổ chức tín dụng, thu hút được nhiều vốn nhàn rỗi trong xã hội và các doanh nghiệp có thể vay vốn với lãi suất đảm bảo hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp, tránh tình trạng các tổ chức tín dụng thì thừa vốn mà các doanh nghiệp thiếu vốn để sản xuất kinh doanh. - Chính sách về tỷ giá. Tỷ giá thay đổi ảnh hưởng trực tiếp đến giá đồng ngoại tệ, ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Nếu tỷ giá đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ cao sẽ có lợi cho nhà đầu tư nước ngoài do giá trị tỉ lệ vốn góp tăng do đó sẽ thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài. -Môi trường pháp lý. Môi trường pháp lý là điều kiện hết sức cần thiết đề tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, đảm bảo các điều kiện về lâu dài cho các nhà đầu tư hoạt động. Các nhà đầu tư sẽ không thể bỏ vốn đầu tư mà chủ yếu là vốn đầu tư trung hạn và dài hạn nếu thiếu sự bảo đảm lâu dài của pháp luật. 2.2.Những nhân tố chủ quan. 2.2.1.Dự án đầu tư huy động vốn. Trước hết phải nói tới lĩnh vực đầu tư của doanh nghiệp, đó phải là lĩnh vực mang lại lợi nhuận cao, có tiềm năng phát triển, có nhu cầu thị trường lớn hoặc nằm trong danh mục ưu tiên phát triển của Nhà nước.... Những yếu tố này sẽ có khả năng hấp dẫn các nhà tài trợ. Tiếp đó, dự án đầu tư của doanh nghiệp phải khả thi về mặt thị trường, công nghệ, hiệu quả tài chính.... Đó là các dự án đầu tư có thể triẻn khai thực hiện và theo tính toán khi cho vay nếu dự án hoàn thành đưa vào sản xuất, kinh doanh sẽ đem lại lợi nhuận cao cho chủ đầu tư, có đủ nguồn trả nợ và thời gian trả nợ phù hợp với thời gian cho vay hoặc doanh nghiệp có nguồn vốn khác có khả năng thanh toán nợ theo đúng thời hạn cho vay. 2.2.2.Năng lực tài chính của doanh nghiệp. Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh. Do vậy sẽ có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính doanh nghiệp như : chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng, các cơ quan Nhà nước..., mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên góc độ khác nhau. Đối với chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâm hàng đầu là khả năng phát triển, tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá trị doanh nghiệp, do đó họ quan tâm trước hết tới lĩnh vực đầu tư và tài trợ. Đối với chủ ngân hàng và các chủ nợ khác, mối quan tâm chủ yếu của họ là đánh giá khả năng thanh toán, khả năng trả nợ hiện tại và tương lai của doanh nghiệp. Đối với các nhà đầu tư khác, họ quan tâm tới các yếu tố rủi ro, lãi suất, khả năng thanh toán... Như vậy để có thể huy động vốn từ bất kỳ kênh nào bên ngoài, doanh nghiệp cũng phải có tình hình tài chính lành mạnh, kinh doanh hiệu quả. Trước khi quyết định có tài trợ vốn cho các hoạt động đầu tư của doanh nghiệp hay không, các nhà đầu tư, ngân hàng và các chủ nợ khác thường phân tích tình hình tài chính thông qua các chỉ tiêu và tỉ lệ tài chính chủ yếu. Dưới góc độ nhà tài trợ vốn thì đây là những chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp và cũng là căn cứ để đưa ra các quyết định tài trợ. Các chỉ tiêu và tỉ lệ tài chính chủ yếu bao gồm : - Nhóm chỉ tiêu về tình hình và khả năng thanh toán. Tình hình tài chính của doanh nghiệp được thể hiện khá rõ nét qua các chỉ tiêu về khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ảnh mối quan hệ tài chính giữa các khoản có khả năng thanh toán trong kỳ với các khoản phải thanh toán trong kỳ. Nhóm chỉ tiêu này gồm các chỉ tiêu chủ yếu sau : TSLĐ + Hệ số thanh toán ngắn hạn = ------------------ Nợ ngắn hạn Hệ số thanh toán ngắn hạn là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp, nó cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một giai đoạn tương đương với thời hạn của các khoản nợ. Hệ số này xấp xỉ bằng một thì doanh nghiệp có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính doanh nghiệp là bình thường. Ngược lại nếu hệ số này nhỏ hơn một thì khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp gặp khó khăn. Vốn bằng tiền + Các khoản phải thu + Hệ số thanh toán nhanh = -------------------------------------------- Nợ ngắn hạn Hệ số này là tỉ số giữa các tài sản quay vòng nhanh với nợ ngắn hạn, nó cho biết khả năng thanh toán nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ. Nếu hệ số này > 0.5 thì tình hình tương đối khả quan, ngược lại doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc thanh toán công nợ và do đó có thể phải bán gấp hàng hoá, sản phẩm để trả nợ vì không đủ phương tiện thanh toán. Tuy nhiên nếu hệ số này quá cao, vốn bằng tiền nhiều, vòng quay vốn chậm làm giảm mạnh hiệu quả sử dụng vốn. - Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính. ∑ Nợ phải trả + Hệ số nợ tổng tài sản = ---------------------- ∑ Tài sản Tỉ số này dùng để xác định nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp đối với các chủ nợ. Về mặt lý thuyết, chỉ số này nằm trong khoảng 0 ữ 1 nhưng thông thường nó dao động quanh giá trị 0,5. Bởi lẽ nó tự điều chỉnh từ phía chủ nợ và con nợ. Thông thường các chủ nợ thích tỉ số nợ vừa phải vì tỉ số này càng thấp thì khoản nợ càng được càng được đảm bảo trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản. Nếu chỉ số này càng cao, chủ nợ sẽ rất chặt chẽ khi quyết định cho vay thêm, mặt khác về phía con nợ, nếu vay quá nhiều sẽ ảnh hưởng đến quyền kiểm soát, đồng thời bị chia phần lợi nhuận quá nhiều cho vốn vay ( trong thời kỳ kinh doanh ) và rất dễ bị phá sản ( trong thời kỳ kinh doanh đình đốn ). ∑ Vốn chủ sở hữu + Hệ số tự tài trợ = --------------------------------- ∑ Nguồn vốn Hệ số này phản ánh mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp, nó cho biết vốn chủ sở hữu chiếm tỉ trọng bao nhiêu trong tổng nguồn vốn. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp mức độ độc lập tài chính càng cao vì hầu hết tài sản của doanh nghiệp đều được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu. Tỉ số này rất quan trọng trong phân tích tài chính khi doanh nghiệp đi vay bởi lẽ chủ nợ nhìn vào tỉ lệ vốn của chủ sở hữu để thấy mức độ tin tưởng vào sự bảo đảm an toàn cho các món nợ. Nếu chủ sở hữu chỉ đóng góp một tỉ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn thì rủi ro trong sản xuất kinh doanh chủ yếu do chủ nợ gánh chịu. ∑ Nợ phải trả + Hệ số nợ vốn chủ sở hữu = -------------------------- ∑ Vốn chủ sỡ hữu Hệ số này đo lường mức độ tương đối giữa các khoản nợ và vốn chủ sở hữu trong việc tài trợ cho toàn bộ tài sản có của công ty. Hệ số này cho biết trạng thái rủi ro tương đối của doanh nghiệp, khẳ năng vay thêm, mức độ bảo về các chủ nợ trong trường hợp thanh lý doanh nghiệp. Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu càng cao thì áp lực trong việc doanh nghiệp phải đạt được mức thu nhập, lợi nhuận và lưu chuyển tiền mặt sao cho đáp ứng được việc trả nợ càng lớn. Trong trường hợp thanh lý giải thể doanh nghiệp các chủ nợ có thế biết mức độ thu hồi các khoản cho vay của mình. Lợi nhuận trước thuế + lãi vay + Hệ số khả năng thanh toán lãi vay = ----------------------------------------- Lãi vay Hệ số này cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo khả năng trả lãi hàng năm như thế nào. Việc không trả được các khoản nợ này có sẽ thể hiện nguy cơ phá sản của doanh nghiệp. Chỉ số này là kết quả chính sách mắc nợ và giá vốn trên thị trường. Một doanh nghiệp hoạt động tốt thường có chỉ số này từ 8 trở lên. TSLĐ hoặc TSCĐ + Hệ số cơ cấu tài sản = -------------------------------- ∑ Tài sản Hệ số này phản ánh tình hình trang bị cơ sở vật chất kĩ thuật nói chung và máy móc thiết bị nói riêng của doanh nghiệp, cho biết tỉ trọng các loại tài sản trong doanh nghiệp. - Nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động. Doanh thu thuần + Hiệu suất sử dụng TSCĐ = -------------------------- TSCĐ Hệ số này phản ánh một đồng vốn đầu tư vào TSCĐ sẽ tạo ra bao nhiêu đơn vị doanh thu. Doanh thu thuần + Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = ---------------------------- ∑ Tài sản Hệ số này cho biết một đơn vị tài sản của doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu đơn vị doanh thu. - Nhóm chỉ tiêu về doanh lợi. Lợi nhuận sau thuế + Hệ số sinh lợi doanh thu = ----------------------------- Doanh thu tiêu thụ Hệ số này phản ánh một đơn vị doanh thu đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận. Nếu doanh thu của một doanh nghiệp lớn nhưng giá vốn của sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra chiếm phần lớn doanh thu thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp có vấn đề, doanh nghiệp nên xem xét lại từng khâu của quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nhằm làm giảm giá thành. Giá trị của chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ khả năng sinh lợi càng cao và hiệu quả kinh doanh càng lớn. Chỉ số này được đánh giá là tốt nếu nó đạt từ 5% trở lên. Lợi nhuận sau thuế + Tiền lãi vay + Hệ số sinh lợi của vốn = ------------------------------------------ ∑ Tài sản Chỉ số này còn được gọi là chỉ số sinh lợi của vốn đầu tư ROI ( Return of Investment). Cũng có thể coi chỉ số này như một hệ số đánh giá năng lực sử dụng vốn của các nhà quản trị doanh nghiệp, những nhà quản trị giỏi là những người phải biết cách làm cho đồng vốn trong tay mình sinh lời với một tỉ lệ thích đáng. Các nhà tài trợ sẽ an tâm nếu giao vốn vào tay những người có khả năng làm cho đồng vốn đó sinh lợi, điều đó được coi như là một sự đảm bảo an toàn của vốn đầu tư. Lợi nhuận sau thuế + Hệ số sinh lợi vốn chủ sở hữu = ------------------------------- Vốn chủ sở hữu Hệ số này phản ảnh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu và hệ số này được đặc biệt quan tâm khi những nhà đầu tư cũng chính là chủ sở hữu doanh nghiệp như cổ đông, những nhà đầu tư dưới hình thức liên doanh, liên kết. Sau khi tổng hợp và phân tích các hệ thống chỉ tiêu trên đây các nhà tài trợ có thể có một cái nhìn tương đối tổng quan về năng lực tài chính của doanh nghiệp và có những cơ sở nhất định để quyết định có nên cho doanh nghiệp vay vốn không. 2.2.3.Uy tín của doanh nghiệp. Một yếu tố không nhỏ ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn của doanh nghiệp và có thế coi như giá trị tài sản vô hình là mức độ tín nhiệm của khách hàng, nhà cung cấp và các tổ chức tín dụng đối với doanh nghiệp. Yếu tố cơ bản của tiêu chí này là mối quan hệ dài hạn, uy tín, thương hiệu của khách hàng trên thị trường, năng lực và trình độ quản lý, sự am hiểu trong lĩnh vực kinh doanh...Về phía khách hàng, uy tín doanh nghiệp sẽ có tác dụng ít nhiều tới mức độ sẵn sàng trả trước cho những sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp. Khách hàng luôn muốn giao dịch với những doanh nghiệp có uy tín, có năng lực, làm việc có nguyên tắc, có hiệu quả do đó họ sẵn sàng trả trước một tỉ lệ nhất định trên hợp đồng giao dịch như một khoản đặt cọc và cũng đồng thời tạo thuận lợi cho doanh nghiệp về vốn để cung cấp cho mình những sản phẩm chất lượng. Xây dựng uy tín với khách hàng cũng là một yếu tố cơ sở để doanh nghiệp đam phán khi chiếm dụng vốn của khách bằng cách yêu cầu khách hàng ứng trước. Đối với nhà cung cấp, uy tín của doanh nghiệp sẽ giúp cho doanh nghiệp mua sắm nguyên vật liệu, cũng như máy móc thiết bị dưới hình thức trả chậm. Còn đối với các tổ chức tín dụng, nhà tài trợ vốn lớn nhất cho các hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, thì uy tín của doanh nghiệp đóng một vai trò quan trọng nhất là khi doanh nghiệp mong muốn nhận được các khoản tín dụng dưới hình thức tín chấp hay bất kì phương thức cấp tín dụng nào. Mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp được đánh giá qua uy tín của doanh nghiệp trên thương trường, chất lượng quan hệ tín dụng đã có giữa doanh nghiệp và tổ chức tín dụng và loại hình doanh nghiệp. Chất lượng quan hệ giữa doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng được xây dựng qua quá trình giao dịch giữa hai bên, trong đó yếu tố quan trọng nhất là mức độ thực hiện đúng các cam kết trong hợp đồng tín dụng của doanh nghiệp về các điều kiện đảm bảo an toàn vốn vay, trả nợ đúng số lượng và thời hạn, đây là cơ sở hình thành nên một quan hệ lâu dài và mức độ sẵn lòng cho vay các khoản vay có và không có bảo đảm của ngân hàng đối với doanh nghiệp. Như vậy uy tín của doanh nghiệp không chỉ có tác dụng nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp mà còn có vai trò không nhỏ nâng cao vị thế và hình ảnh của doanh nghiệp khi doanh nghiệp quyết động huy động vốn từ các nguồn khác nhau. 2.2.4.Chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Để xác định phương hướng phát triển trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp đều phải xây dựng cho mình một chiến lược phát triển với những mục tiêu về sản xuất kinh doanh, đầu tư, mở rộng và lựa chọn thị trường, đào tạo nguồn nhân lực... với những phương hướng cơ bản để đạt được những mục tiêu đó. Việc xây dựng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp không chỉ có ý nghĩa xác định hướng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp mà còn có tác dụng gây dựng lòng tin cho các nhà đầu tư, các tổ chức tín dụng về những mục tiêu cụ thể cũng như giải pháp để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. 4.Những căn cứ xác định nhu cầu vốn đầu tư cần huy động. Nhu cầu vốn đầu tư trong một thời kì của doanh nghiệp được xác định dựa trên kế hoạch đầu tư của doanh nghiệp đó, hay nói cách khác nó được tổng hợp từ nhu cầu vốn của các dự án đầu tư trong cùng thời kì. Các dự án đầu tư phát triển sản xuất của doanh nghiệp bao gồm các dự án đầu tư mở rộng hoặc hiện đại hoá, hoặc đầu tư mới các cơ sở sản xuất, nhà máy. Đối với các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu các cơ sở sản xuất hiện có, chủ doanh nghiệp thường căn cứ trên nhu cầu thị trường về chủng loại và số lượng sản phẩm trong thời kỳ kế hoạch trên cơ sở dự báo thị trường, sau dó xác định mức độ đầu tư hợp lý vừa đạt hiệu quả tài chính vừa phù hợp với năng lực hiện có của doanh nghiệp. Đối với các dự án đầu tư mới với quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp, vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn lâu nhưng các dự án này nếu đầu tư thành công và đi vào hoạt động thường cải thiện đáng kể trình độ và năng lực sản xuất của doanh nghiệp thì phải qua nhiều bước nghiên cứu kỹ hơn để xác định nhu cầu vốn đầu tư một cách chính xác. Trước hết các dự án đầu tư loại này thường xuất phát từ việc nghiên cứu cơ hội đầu tư căn cứ vào các yếu tố sau : + Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của vùng, của đất nước, hoặc chiến lược phát triển của ngành, của chính doanh nghiệp. Đây chính là định hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp. + Nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế về các mặt hàng mà doanh nghiệp nhận thấy có khả năng cung cấp hiện tại hoặc tương lai. + Hiện trạng và dự báo tương lai tình hình sản xuất và cung cấp các mặt hàng đó trong nước cũng như nhập khẩu. + Năng lực sẵn có của doanh nghiệp về sản xuất, thi công, lao động, tài chính....có khả năng khai thác để thực hiện đầu tư, sản xuất kinh doanh chiếm lĩnh chỗ trống trên thị trường hoặc có khả năng cạnh tranh tốt đối với các nhà cung cấp sản phẩm cùng loại hiện có trên thị trường. + Những kết quả tài chính, kinh tế-xã hội sẽ đạt được nếu thực hiện đầu tư. Sau khi nghiên kỹ các cơ hội đầu tư, doanh nghiệp có thể xác định một cách nhanh chóng và ít tốn kém nhưng lại dễ nhận thấy về các khả năng đầu tư trên cơ sở những thông tin cơ bản đưa ra đủ để làm cho người có khả năng đầu tư phải cần nhắc, xem xét và đi đến quyết định có thể triển khai nghiên cứu sâu hơn. Việc xác định đầu vào, đầu ra và hiệu quả tài chính, kinh tế-xã hội của cơ hội đầu tư thường được dựa vào các ước tính tổng hợp, hoặc các dự án tương tự đang hoạt động ở trong nước hoặc ở nước ngoài. Do đó việc xác định quy mô đầu tư và nhu cầu vốn đầu tư mới chỉ mang tính ước lượng một cách tương đối chính xác. Nếu cơ hội đầu tư được đánh giá là triển vọng và được thông qua thì dự án sơ bộ sẽ được nghiên cứu sâu hơn thông qua nghiên cứu tiền khả thi và khả thi, lúc này số lượng cũng như tiến độ cung cấp vốn đầu tư cần thiết cho dự án sẽ được xác định một cách cụ thể và chính xác hơn. Tổng hợp vốn đầu tư cho từng dự án theo từng giai đoạn ta doanh nghiệp sẽ có kết quả tổng hợp nhu cầu vốn cần huy động trong một thời kỳ cũng như tiến độ vốn cung cấp cho các dự án theo từng năm. Chương 2 Thực trạng thu hút vốn đầu tư sản xuất của tổng công ty cơ khí xây dựng I.Giới thiệu tổng quan về Tổng Công ty Cơ khí xây dựng. 1.Lịch sử hình thành và nhiệm vụ của Tổng Công ty 1.1.Lịch sử hình thành. Tổng công ty cơ khí xây dựng tiền thân là Nhà máy cơ khí Gia Lâm được thành lập từ năm 1958. Đến năm 1975,được Bộ Xây Dựng thành lập và lấy tên là Liên hiệp xí nghiệp cơ khí xây dựng. Năm 1995, Bộ Xây dựng thành lập lại trên cơ sở sắp xếp lại các xí nghiệp thành viên của Liên hiệp các xí nghiệp cơ khí xây dựng và lấy tên là Tổng công ty Cơ khí Xây dựng (tên giao dịch là COMA). Tổng công ty Cơ khí Xây dựng là doanh nghiệp Nhà nước được thành lập theo quyết định số 993/BXD-TCLĐ ngày 20/11/1995 của Bộ trưởng Bộ xây dựng, trên cơ sở Liên hiệp các xí nghiệp cơ khí xây dựng thành lập từ năm 1995. Hiện nay Tổng công ty đang đặt trụ sở chính tại 813 đường Giải Phóng ,quận Hai Bà Trưng. Tổng công ty Cơ khí Xây dựng là Tổng công ty Nhà nước hoạt động kinh doanh bao gồm các đơn vị thành viên là các doanh nghiệp Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp và các đơn vị phụ thuộc; Tổng công ty có tư cách pháp nhân có các quyền và nghĩa vụ dân sự theo luật định, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong số vốn do Tổng công ty quản lý; có con dấu , có tài sản và các quỹ tập trung, được mở tài khoản tại ngân hàng trong nước và nước ngoài theo quy định của Nhà nước; được tổ chức và hoạt động theo Điều lệ Tổng công ty. Tổng công ty Cơ khí xây dựng chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng và của các cơ quan quản lý Nhà nước khác theo pháp luật. Tổng công ty Cơ khí xây dựng có tên giao dịch quốc tế là Construction Machinery Corporation viết tắt là COMA. 1.2.Nhiệm vụ của Tổng Công ty. Tổng công ty Cơ khí xây dựng có các nhiệm vụ chính sau đây : - Thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh về cơ khí xây dựng theo quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành Xây dựng của Nhà nước và theo yêu cầu của thị trường, bao gồm các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh máy móc, trang thiết bị, công cụ, phụ tùng, phụ kiện và các sản phẩm khác phục vụ xây dựng , phục vụ sản xuất VLXD, phục vụ quản lý ,phát triển đô thị và các ngành kinh tế kỹ thuật khác; sản xuất, kinh doanh, dịch vụ về các phương tiện vận tải, xếp dỡ; thi công lắp đặt thiết bị, thi công xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, công trình kỹ thuật hạ tầng đô thị và khu công nghiệp; tư vấn kinh tế kỹ thuật về công nghệ, thiết bị cho các dự án sản xuất VLXD, cơ khí; xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị, phụ tùng, công nghệ cơ khí xây dựng và các ngành nghề kinh doanh khác theo quy định của pháp luật; liên doanh liên kết với các tổ chức kinh tế trong nước và nước ngoài phù hợp với luật pháp và chính sách của Nhà nước. -Nhận và sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn do Nhà nước giao bao gồm cả phần vốn đầu tư vào doanh nghiệp khá; nhận và sử dụng có hiệu quả tài nguyên, đất đai và các nguồn lực khác được giao. - Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và công tác đào tạo, b._. ở độ tuổi dưới 35 tuổi .Chú trọng đào tạo ngoại ngữ cho cán bộ quản lý, kỹ sư kỹ thuật ở độ tuổi dưới 50 tuổi, đào tạo 100% cán bộ lãnh đạo có trình độ quản lý công nghiệp và xây lắp, đồng thời có kế hoạch đón đầu, tiếp thu những vấn đề mới, thành tựu mới ở trong nước ,thế giới phục vụ sản xuất kinh doanh .Củng cố và tạo điều kiện phát triển dịch vụ thiết kế ,tư vấn, giám sát công trình cơ khí,điện tự động,lắp đặt và xây dựng... - Chú trọng phát triển khoa học - công nghệ bám sát nhiệm vụ phát triển của Tổng công ty,đưa những đề tài khoa học công nghệ áp dụng vào thực tế sản xuất (chế tạo thang máy ,cần trục tháp,lọc bụi ....). Đẩy mạnh phong trào sáng kiến cải tiến kỹ thuật ;thực hiện quản lý chất lượng theo tíêu chuẩn quốc tế ISO 9001/2000 trong toàn Tổng công ty. Thực hiện chuyên môn hóa ,định hướng đi sâu vào từng nhóm ,loại sản phẩm cơ khí cho các đơn vị thành viên để nâng cao chất lượng ,hạ giá thành sản phẩm và là tiền đề để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm ,hàng hóa, dịch vụ khi hội nhập AFTA. Chú trọng đặc biệt đến việc đăng ký bản quyền một số sản phẩm có thị phần lớn trên thị trường như : + Dây chuyền thiết bị sản xuất gạch tuy nen ,gạch không nung ,các loại khóa, phụ tùng cửa. + Các thiết bị cho các nhà máy xi măng ,thủy điện,các sản phẩm cơ khí mang thương hiệu COMA khác. - Thực hiện các dự án đầu tư phát triển ,ưu tiên các dự án đầu tư về cơ khí chế tạo,các dự án đầu tư về năng lượng ,vật liệu xây dựng,đồng thời tạo điều kiện giúp đỡ ,hỗ trợ các công ty thành viên trong công tác đầu tư chiều sâu, nâng cao năng lực thiết bị ,đảm bảo tính hiện đại đáp ứng tiến trình hội nhập khu vực và thế giới.Đầu tư cho công nghiệp Cơ khí xây lăp Thái Bình chế tạo nhiều máy móc thiết bị phục vụ nông nghiệp thực hiện CNH- HĐH nông nghiệp nông thôn thay thế hàng nhập ngoại. + Đầu tư thiết bị, công nghệ để chế tạo thiết bị cho các ngành công nghiệp : xi măng,thủy điện ,phong điện, nhiệt điện ,mỏ ,đóng tàu, giao thông, giấy... + Đầu tư hoàn thiện dây chuyền công nghệ chế tạo các mặt hàng truyền thống của Tổng công ty như chế tạo thiết bị xi măng ,trạm trộn bê tông ,máy trộn bê tông, thiết bị vận chuyển liên tục, thiết bị nâng chuyển ,thiết bị đồng bộ cho sản xuất gạch tuy-nen ,thiết bị dây chuyền sản xuât gạch không nung , thiết bị công nghệ phục vụ ngành môi trường (thiết bị xử lý rác thải, xử lý chất thải rắn ,xử lý nước sạch,thiết bị lọc bụi), cột viba, cột điện ,cốp pha tôn, giàn giáo, cột chống ,ngành trang trí nội thất : khóa, phụ kiện cửa ,sơn trên khung nhôm, sơn tĩnh điện. Mở rộng đầu tư sản xuất phụ tùng cho ngành cấp thoát nước: đường ống, phụ kiện đường ống, van nước, máy bơm, chế tạo lắp đặt các nhà máy thủy điện có công suất vừa và nhỏ phục vụ cho các vùng nông thôn, miền núi. Triển khai xây dựng khu chung cư La Khê - Hà Đông ,khu nhà ở tai 125 D Minh Khai , CKXD Đại Mỗ , CK và XL số 7 .các khu chung cư tại thị xã Hà Đông, Hà Tây. - Khai thác các nguồn lực để tạo vốn và định hướng sử dụng vốn có hiệu quả : Bên cạnh nguồn lực con người là động lực phát triển ,Tổng công ty còn có tiềm năng về đất đai ,nhà xưởng nằm trong thành phố Hà Nội và vùng lân cận. Đây là nguồn vốn cần quy hoạch phát triển trước mắt và lâu dài nhằm khai thác hiệu quả để phát triển Tổng công ty. Xây dựng quy chế, chính sách thích hợp nhằm huy động vốn nhàn rỗi trong CBCNV để vừa mang lại lợi ích cho CBCNV vừa góp phần tăng vốn cho sản xuất -kinh doanh. Thực hành tiết kiệm luôn là một chính sách chiến lược để hạ giá thành ,tăng sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa.Mọi lúc ,mọi nơi phải quản lý ,kiểm tra ,giám sát chặt chẽ ,kiên quyết chống tham ô , lãng phí ,tăng cường kiểm soát tài chính và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tận dụng mọi khả năng liên doanh , liên kết, đầu tư, thuê mua tài chính nhằm tạo mọi nguồn vốn , công nghệ thiết bị phục vụ cho phương hướng phát triển . Dưới đây là các chỉ tiêu cụ thể nằm trong kế hoạch định hướng 2006 - 2010 : Bảng 3.1: Những chỉ tiêu tổng hợp chủ yếu giai đoạn 2006 - 2010. STT Các chỉ tiêu chủ yếu Đơn vị tính KH năm 2006 Kh năm 2007 KH năm 2008 KH năm 2009 Kh năm 2010 Tổng giai đoạn 2006 -2010 I Giá trị SXKD tỉ đồng 1847 2137 2489 2923 3464 12862 1 Giá trị SX xây lắp tỉ đồng 993 1092 1201 1321 1454 6063 2 Giá trị SX công nghiệp tỉ đồng 585 672 773 889 1023 3944 3 Giá trị khăo sát, thiết kế, QHXD tỉ đồng 11 12 13 14 16 68 4 Giá trị SXKD khác tỉ đồng 258 359 500 696 970 2785 II Tổng giá trị kim ngạch XNK 1000USD 8965 9862 10848 11932 13126 54732 1 Nhập khẩu 1000USD 7319 8051 8856 9742 10716 44686 2 Xuất khẩu 1000USD 1646 1810 1991 2190 2409 10047 Trong đó : Xuất khẩu lao động 1000USD 1344 1613 1935 2322 2787 10002 III Tổng doanh thu tỉ đồng 1555 1789 2057 2366 2721 10489 IV Nộp ngân sách tỉ đồng 34 35 37 39 41 188 V Tổng lợi nhuận trước thuế tỉ đồng 16 17 19 21 23 97 VI Tồng số vốn đầu tư phát triển tỉ đồng 1131 1245 1104 1099 1153 5734 1 Đầu tư XDCB tỉ đồng 1126 1240 1094 1059 1113 5634 2 Đầu tư mua sắm TSCĐ tỉ đồng 5 5 10 40 40 100 VII Lao động và thu nhập 1 Lao động bình quân (kể cả HĐ) người 11 12 13 14 14 68 2 Thu nhập bình quân triệu đồng 1410 1494 1584 1679 1780 1602 VIII Đào tạo, nghiên cứu 1 Đào tạo học sinh 500 510 520 531 541 2602 2 Nghiên cứu đề tài 2 2 3 3 3 13 1.1.2.Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020. Sau đây là một số nội dung tóm tắt trong chiến lược phát triển ngành cơ khí có liên quan đến định hướng đầu tư giai đoạn 2006-2010. Định hướng phát triển ngành cơ khí : Thị trường thế giới và trong nước: là nước đông dân thứ 12 trên thế giới, Việt Nam là một thị trường nội địa đủ lớn mạnh và triển vọng cho ngành cơ khí Việt Nam trong tương lai.Riêng thiết bị đồng bộ năm 2000 ta nhập khẩu hơn 3tỉ USD. Hiện nay ngành cơ khí cả nước mới đáp ứng được 33% nhu cầu của nền kinh tế quốc dân. Như vậy, thị trường trong nước cho ngành cơ khí Việt Nam còn rất lớn, thị trường nước ngoài khi hội nhập lại càng lớn hơn. Kim ngạch xuất khẩu hàng cơ khí thế giới đạt đến hàng ngàn tỉ USD và tăng bình quân 10%/năm. Như vậy thị trường cơ khí trong nước và thế giới đều là những tín hiệu đáng mừng cho sự phát triển cuả ngành cơ khí. Định hướng phát triển một số ngành cơ khí quan trọng đến năm 2010. - Thiết bị toàn bộ : phương hướng phát triển chung của ngành là nâng cao năng lực chế tạo thiết bị toàn bộ, thiết bị có tính chất toàn bộ với công nghệ mới tiên tiến. Đảm bảo sản xuất được thiết bị có độ phức tạp cao, thay thế dần nhập khẩu, tiến tới xuất khẩu được sản phẩm ra thị trường khu vực và thế giới. Nâng cao năng lực thiết kế thiết bị toàn bộ, gắn kết có hiệu quả với công nghệ của từng ngành công nghiệp. Mở rộng giao lưu quốc tế để có thể làm chủ được khả năng cung cấp tài liệu thiết kế dây chuyền công nghệ hoặc thiết bị. Đầu tư có trọng điểm thiết bị và công nghệ vào các khâu cơ bản mà lâu nay ta còn yếu kém như đúc, rèn, tạo phôi để đồng bộ về thiết bị và công nghệ đáp ứng được yêu cầu chế tạo chi tiết, cụm chi tiết lớn trong dây chuyền. Tận dụng năng lực thiết bị của Tổng công ty cơ khí, các công ty và xí nghiệp, phối hợp chặt chẽ trong việc phân công và hợp tác sản xuất thiết bị toàn bộ. Mở rộng hợp tác sản xuất không chỉ ở trong nước mà cả phạm vi toàn cầu. Liên kết chặt chẽ về tổ chức và tài chính giữa các Tổng công ty sản xuất và công ty nhập khẩu máy, vật tư thiết bị toàn bộ. Ngành thiết bị toàn bộ phấn đấu đáp ứng được 35-40% nhu cầu thiết bị toàn bộ, tương đương 1.0-1.2 tỉ USD/năm ở giai đoạn 2001-2005 và 50-65%, tương đương 3.0-3.5tỉ USD/năm ở giai đoạn 2006-2010. - Máy động lực. - Máy kéo và máy nông nghiệp. - Máy công cụ. - Cơ khí xây dựng : tổ chức sắp xếp, liên kết với các cơ sở sản xuất trong và ngoài ngành, với các địa phương để mở rộng hợp tác, chuyên môn hoá sản xuất, khắc phục hạn chế sản xuất manh mún và phân tán. Đầu tư chiều sâu, đầu tư mới các cơ sở chế tạo máy xây dựng với trang thiết bị và công nghệ hiện đại, đáp ứng cơ bản nhu cầu của các lĩnh vực : Vật liệu xây dựng, thi công xây lắp, xây dựng phát triển đô thị, nông thôn, tranh thủ cơ hội xuất khẩu sản phẩm sang các nước khu vực và thế giới. Phát huy lợi thế đối với lĩnh vực sản xuất cung cấp kết cấu kim loại trong xây dựng và các dự án công nghiệp, vẫn phải tập trung kết hợp, chế tạo các thiết bị máy xây dựng có phức tạp cao, hiện đại mà thị trường trong nước và nước ngoài có nhu cầu. Liên doanh, liên kết với nước ngoài một, một mặt giải quyết nhu cầu vốn đầu tư, mặt khác tranh thủ tiếp nhận được công nghệ tiên tiến, tiếp nhận được các phương pháp quản lý mới, tiến bộ hớn. - Tàu thuỷ - Thiết bị điện. - Ô tô - xe máy. Đi kèm với định hướng phát triển một số chuyên ngành cơ khí, ngành cơ khí cũng có các chính sách và giải pháp hỗ trợ ngành cơ khí phát triển.như chính sách thị trường, chính sách tạo vốn cho ngành cơ khí, chính sách thuế, chính sách đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, chính sách về đào tạo. 1.2.Kế hoạch đầu tư và tổng hợp nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2006 - 2010. Căn cứ vào nhiệm vụ của Tổng Công ty Cơ khí xây dựng, mục tiêu sản xuất kinh doanh giai đoạn 2006 - 2010, các dự án chuyển tiếp từ giai đoạn trước và nghiên cứu các cơ hội đầu tư trong tương lai, Tổng Công ty đã xây dựng danh mục các dự án nằm trong kế hoạch định hướng đầu tư. Bảng 3.3 : Danh mục các dự án đầu tư giai đoạn 2006 - 2010. (Đơn vị : tỉ đồng) STT Tên dự án Thời gian thực hiện Tổng mức đầu tư Ước thực hiện vốn đầu tư các năm Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 I Các dự án SX CN 1 NM chế tạo thiết bị nâng chuyển 2003-2007 154.9 68 60 2 NM chế tạo thiết bị công nghiệp xi măng 2004-2007 374.9 100 272.9 3 NM chế tạo thiết bị nâng chuyển (giai đoạn 2) 2009-2010 100 60 40 4 NM chế tạo thiết bị công nghiệp xi măng, thủy điện, phong điện, nhiệt điện (giai đoạn 2) 2009-2010 100 80 20 II Các dự án khu đô thị, phát triển nhà 1 Khu chung cư và nhà ở gia đình 2003-2006 60 33.1 2 Nhà ở để bán cho CBCNV và kinh doanh 2003-2007 250 128.75 110 3 Khu chung cư và dịch vụ Thanh Oai, Hà Tây 2005-2007 250 120 129.5 4 Khu chung cư và nhà liền kề Kiến Hưng 2005-2007 100 55 44.5 5 Khu chung cư và nhà liền kế Văn Mỗ, Hà Đông 2005-2007 200 100 99 6 Khu đô thị Kiến Hưng, Hà Tây 2008-2010 500 100 180 220 7 Nhà điều hành SX, VP cho thuê 2005-2007 90 40 50 III Các dự án phát triển cơ khí 1 Xưởng chế tạo thiết bị cơ điện 2005-2006 10 9 2 Xưởng chế tạo thiết bị môi trường 2005-2006 10 9 3 Xưởng thực nghiệm 2005-2006 5 4 4 Xưởng đúc gang dẻo 2009-2010 100 50 50 5 NM lắp ráp máy thi công xây dựng 2008-2010 260 20 110 130 6 NM chế tạo thiết bị xử lý chất thải 2009-2010 100 50 50 7 NM chế tạo thiết bị xử lý 2008-2010 180 10 60 110 IV Các dự án thủy điện 1 Thủy điện Nậm Kim 2008-2010 160 70 90 2 Thủy điện Phiềng Bàng 2008-2010 184 94 90 3 Thủy điện Nậm La 2009-2010 28 10 18 4 Thủy điện Nậm Đích 2008-2010 295.6 5 145 145.6 V Các dự án đầu tư tăng năng lực SX 1 Đầu tư mua máy thi công 2006-2010 100 5 5 10 40 40 VI Các dự án góp vốn cổ phần 1 NM xi măng Đồng Bành 2004-2008 1225 270 270 675.1 2 NM phong điện Phương Mai 2004-2007 217 100 114.5 3 NM thủy điện Hương Sơn-Hà Tĩnh(giai đoạn 1) 2004-2008 537.9 90 90 284.44 4 NM thủy điện Hương Sơn-Hà Tĩnh(giai đoạn 2) 2009-2010 300 150 150 Tổng cộng 5892.3 1131.85 1245.4 1104.54 1099 1153.6 Tổng hợp nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2006 - 2010: Bảng 3.2 : Bảng tổng hợp tổng nhu cầu vốn đầu tư và vốn đầu tư theo đối tượng giai đoạn . (Đon vị : tỉ đồng ) STT Các chỉ tiêu KH 2006 KH 2007 KH 2008 KH 2009 KH 2010 Tổng 2006 -2010 Tổng số vốn đầu tư phát triển 1131.85 1245.4 1104.54 1099 1153.6 5734.39 1 Đâu tư XDCB 1126.85 1240.4 1094.54 1059 1113.6 5634.39 2 Đầu tư mua sắm TSCĐ không qua XDCB 5 5 10 40 40 100 II.Các giải pháp tăng cường khả năng huy động vốn đầu tư cho giai đoạn 2006-2010. 1.Đa dạng hoá hơn nữa các kênh huy động vốn. Kể từ năm 2004, cơ cấu vốn đầu tư Tổng công ty đã xuất hiện những dấu hiệu mới chứng tỏ nỗ lực của Tổng công ty trong việc tìm kiếm các nguồn vốn mới. Kênh hoạt động vốn của Tổng công ty không còn bó hẹp vào tín dụng ngân hàng, tuy nhiên những kênh vốn mới của Tổng công ty gặp phải hạn chế là khả năng cung cấp vốn thấp. Ngoài các nguồn vốn đã huy động Tổng công ty có thể huy động vốn từ các nguồn sau : 1.1.Vận động vốn ODA. Trong các lĩnh vực đầu tư của Tổng công ty có hai lĩnh vực có khả năng vận động vốn ODA là các dự án sản xuất cơ khí và dự án thủy điện. Theo thống kê của World Bank thì năng lượng và công nghiệp luôn là hai nhóm nằm trong 10 nhóm thu hút ODA nhiều nhất tại Việt Nam. Đây là một cơ sở để Tổng công ty nỗ lực hơn nữa trong việc tiếp cận nguồn vốn này. Vận động ODA được tiến hành theo các hình thức sau : - Dự án nằm trong danh mục các dự án, chương trình yêu tiên vận động ODA tại Hội nghị thường niên Nhóm tư vấn các nhà tài trợ (Hội nghị CG). Trong tuần thứ nhất tháng 8 hàng năm, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có văn bản hướng dẫn các cơ quan chủ quản chuẩn bị danh mục các chương trình, dự án để lựa chọn đưa vào hàng năm các cơ quan chủ quản gửi cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư danh mục các chương trình, dự án ưu tiên vận động ODA tại Hội nghị CG. Các chương trình, dự án đều phải lập đề cương sơ bộ. Tổng công ty cần nắm bắt lịch hoạt động này để chủ động làm việc với cơ quan chủ quản để kiến nghị đưa dự án của mình vào danh mục các chương trình ưu tiên vận động ODA. - Hội nghị điều phối ODA theo ngành : Hội nghị được tổ chức nhằm tăng cường vận động và bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA theo cách tiếp cận ngành, lĩnh vực. - Danh mục dự án ODA đối với nhà tài trợ tương ứng. Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp và sắp xếp Danh mục dự án ODA yêu cầu tài trợ để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt dựa vào Danh mục các dự án ưu tiên vận động ODA tại các Hội nghị CG, các dự án do cơ quan chủ quản đề xuất, các dự án do nhà tài trợ đề xuất. - Các khoản ODA do nhà tài trợ cung cấp theo dự án riêng lẻ theo hình thức sau : các khoản ODA được nhà tài trợ đồng ý cung cấp nhưng không nằm trong Danh mục các chương trình, dự án ODA đối với nhà tài trợ tương ứng đã được Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt; các khoản ODA được sự đồng ý cung cấp của các nhà tài trợ không có tập quán cam kết với Việt Nam bằng Điều ước quốc tế khung. Tóm lại để các nhà tài trợ vốn ODa xem xét việc tài trợ vốn cho dự án của mình, Tổng công ty cần có sự chuẩn bị kĩ lưỡng đề cương sơ bộ của dự án theo mẫu do Bộ Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành, tìm kiếm kĩ thông tin về tập quán cũng như những thay đổi trong hình thức cung cấp ODA của các nhà tài trợ kể cả các nhà tài trợ là đại diện chính phủ các nước hoặc các tổ chức quốc tế. Tổng công ty có thể trực tiếp tiếp xúc và làm việc với đại diện của các nhà tài trợ thông qua văn phòng đại diện của các tổ chức, Đại sứ quán các nước hiện có tại Việt Nam. Biện pháp phổ biến nhất là yêu cầu sự hỗ trợ trong việc cung cấp thông tin, kinh nghiệm trong việc tiếp xúc và thuyết phục các nhà tài trợ, hỗ trợ việc thực hiện các thủ tục cần thiết cho việc vận động ODA. 1.2.Thu hút FDI vào các dự án sản xuất cơ khí. Tổng công ty có thể kêu gọi các nhà đâu tư nước ngoài cùng góp vốn đầu tư theo hai hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc thành lập doanh nghiệp liên doanh. Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản kí kết giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam, trong đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mơí. Doanh nghiệp liên doanh là hình thức đầu tư mà một doanh nghiệp mới được thành lập trên cơ sở góp vốn của hai bên hoặc nhiều bên Việt Nam và nước ngoài. Tổng công ty có thể tìm kiếm đối tác đầu tư qua các thông tin sau : Hiệp hội các nhà đầu tư ở nước sở tại, Sứ quán và lãnh sự quán, Phòng thương mại và công nghiệp, Danh mục các nhà đầu tư đang hoạt động tại Việt Nam ở các cơ quan Nhà nước cấp trung ương và địa phương, qua các đối tác kinh doanh, qua các Website của doanh nghiệp, tập đoàn lớn ... Các nhà đầu tư nước ngoài bao giờ cũng khó tính hơn các nhà đầu tư trong nước do đó khi muốn kêu gọi đầu tư doanh nghiệp nên có sự chuẩn bị kỹ lưỡng. Cơ sở của quyết định có cùng hợp tác đầu tư hay không của các nhà đầu tư nước ngoài thường dựa trên sự tìm hiểu những thông tin về đối tác phía Việt Nam như năng lực tài chính, uy tín trên thương trường... và những kết quả trong báo cáo nghiên cứu khả thi về dự án mà doanh nghiệp Việt Nam mời đầu tư. Trong các yếu tố trên Tổng công ty nên đầu tư thích đáng cho chất lượng của báo cáo khả thi nhằm san sẻ cho những hạn chế về năng lực tài chính. Để lựa chọn được nhà đầu tư tốt, Tổng công ty nên giới thiệu dự án cho nhiều đối tác, đánh giá các thông tin sơ bộ về đối tác mà Tổng công ty muốn mời tham gia đầu tư. Một đối tác tốt phải có sở trường kinh doanh phù hợp với mục tiêu của dự án (tạo khả năng khai thác kỹ thuật và công nghệ cũng như kinh nghiệm kinh doanh), có năn lực tài chính, có nhu cầu hợp tác đầu tư. Khi đàm phán với đối tác,Tổng công ty nên chú ý những vấn đề sau : năng lực tài chính của phía nước ngoài, nhờ các tổ chức đánh giá đúng giá trị của máy móc, thiết bị do bên nước ngoài đóng góp, chỉ chấp nhận máy móc, thiết bị tiên tiến và hiện đại.... 1.3.Phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Trái phiếu doanh nghiệp là chứng chỉ vay nơ có kỳ hạn và có lãi do doanh nghiệp Nhà nước phát hành nhằm vay vốn để đầu tư mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, và đổi mới thiết bị công nghệ của dn và đổi mới thiết bị công nghệ của doanh nghiệp. Các điều kiện để doanh nghiệp Nhà nước được phát hành trái phiếu : - Đã được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh. - Có dự án đầu tư có hiệu quả được cấp có thẩm quyền phê duyệt. - Có tổng giá trị tài sản cố định và lưu động tối thiểu là 20 tỉ đồng và tổng giá trị phát hành trái phiếu không vượt quá 50% tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp. - Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 3 năm trước khi phát hành trái phiếu có lãi, có triển vọng phát triển. - Không vi phạm pháp luật Nhà nước và kỷ luật tài chính. - Được Bộ tài chính hoặc tổ chức tín dụng trung gian tài chính có uy tín bảo lãnh phát hành và phải nộp phí bảo lãnh bằng 1% trên tổng mức dự kiến phát hành cho cơ quan bảo lãnh. Qua các điều kiện trên, về phía Tổng công ty hiện nay có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật để được phát hành trái phiếu.Trên thực tế thị trường trái phiếu doanh nghiệp cũng đang đi vào hoạt động và những dấu hiệu đáng mừng. Thời gian qua, các doanh nghiệp đã có sự điều chỉnh và hướng vốn huy động trung và dài hạn thông qua việc phát hành trái phiếu. Ngay từ năm 1994, một số doanh nghiệp Nhà nước có nhu cầu đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp trong ngành điện và ngành xi măng đã được Bộ Tài chính phê duyệt phương án phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Hiện nay, nhiều Tổng công ty Nhà nước đã quan tâm đến việc huy động nguồn vốn bằng phát hành trái phiếu trên thị trường, mở ra kênh huy động vốn mới bên cạnh kênh huy động vốn truyền thống từ các tổ chức tín dụng. Các giao dịch trái phiếu được thực hiện song song với giao dịch cổ phiếu trên cùng một hệ thống giao dịch thông qua hai phương thức : khớp lệnh và thoả thuận. Hiện nay thị trường trái phiếu doanh nghiệp cũng hoạt động khá sôi động và Tổng công ty đang đáp ứng đủ các điều kiện để phát hành trái phiếu, vì vậy Tổng công ty nên xây dựng kế hoạch phát hành trái phiếu trình Bộ Tài chính, đàm phán với Bộ Tài chính hoặc một tổ chức có uy tín bảo lãnh phát hành trái phiếu cho Tổng công ty. Nếu phát hành trái phiếu thành công, Tổng công ty có thể huy động khoảng 100 từ thị trường vốn. 1.4.Nguồn vốn uỷ thác cho vay quốc tế tại các ngân hàng thương mại trong nước. Nguồn vốn tín dụng của SIDA (Thuỵ Điển), cho vay với mức tương đương từ 10000 USD đến 100000 USD, thời gian cho vay từ 2-5 năm thông qua ngân hàng Thương mại cổ phần Đông á. Nguồn vốn tín dụng của Quỹ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ SMEDF (EU), với mức vay tương đương từ 25000 USD đến 500000 USD, thời hạn đến 5 năm thông qua Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Đầu tư phát triển, Ngân hàng Ngoại thương và Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng hải. 2.Thành lập Ban tài chính Tổng Công ty. Hiện nay phân cấp trách nhiệm huy động vốn cho hoạt động đầu tư được thực hiện như sau : - Tổng Công ty chịu trách nhiệm huy động vốn cho các dự án cho Tổng Công ty làm chủ đầu tư và các dự án Tổng Công ty phân công các đơn vị thành viên thực hiện. - Doanh nghiệp thành viên tự đầu tư những công trình, dự án không nằm trong các dự án do Tổng Công ty trực tiếp điều hành, trường hợp này doanh nghiệp phải tự huy động vốn, tự chịu trách nhiệm tài chính. Công tác huy động vốn tại Tổng Công ty do Tổng giám đốc và phòng tài chính-kế toán Tổng Công ty chịu trách nhiệm, công tác huy động vốn ở các đơn vị thành viên do Giám đôc và phòng tài chính tại doanh nghiệp thành viên thực hiện. Phòng tài chính-kế toán vừa thực hiện nhiệm vụ tài chính và nhiệm vụ kế toán, trong đó nhiệm vụ tài chính bao gồm :lập kế hoạch tài chính hàng năm, khai thác các quỹ và huy động vốn cho các hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh, theo dõi tình hình sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn, là đầu mối công tac cổ phần hoá, phân tích hiệu quả kinh tế, tài chính . hiệu quả vốn đầu tư . Có thể thấy chức năng huy động vốn đầu tư chỉ là một trong các chức năng của phòng tài chính-kế toán. Mặt khác từ trước đến nay, các cán bộ tài chính chỉ quen làm việc với ngân hàng do đó sẽ rất hạn chế về nguồn lực cũng như chuyên môn khi phải làm việc với các nhà tài trợ khác. Tổng Công ty nên thành lập Ban Tài chính tại Cơ quan tổng công ty chuyên môn hoá hoạt động tìm kiếm và hoạt động các nguồn vốn như ODA, FDI không bị những thủ tục phát hành trái phiếu. Ban Tài chính được tổ chức gọn nhẹ gồm 1đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính có tính chuyên nghiệp cao, năng động trong việc tiếp xúc và lam việc với các cơ quan quản lý các kênh hoạt động vốn trên cũng như các đối tác chính trị khác. Thủ tục để được xem xét tài trợ, đồng ý tài trợ và giải ngân của các nguồn vốn mới này rất rườm rà, phức tạp, chính vì vậy, doanh nghiệp sẽ tố rất nhiều thời gian, chi phí và công sức. Do đó, Tổng Công ty nên tiến hành chuyên môn hoá công tác này bằng cách thành lập Ban Tài chính tại Cơ quan Tổng công ty với chức năng tìm hiểu, tiếp cận và đưa ra những giải pháp hữu hiệu để có thể nâng cao khả năng huy động các nguồn vốn trên. Ban Tài chính vừa chịu trách nhiệm huy động cho các dự án do Tổng công ty làm chủ đầu tư vừa hỗ trợ các đơn vị thành viên khi cần thiết. Lợi thế về quy mô, uy tín của Tổng công ty và tính công nghiệp trong hoạt động của Ban Tài chính sẽ phát huy tác dụng bảo đảm nguồn vốn cho các hoạt động đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. 3.Nâng cao chất lượng thương hiệu COMA. Tổng Công ty đã xây dựng và phát triển được thương hiệu của mình trong suốt quá trình hoạt động từ năm 1995 đến nay. Thương hiệu COMA là một thương hiệu được nhiều khách hàng trong hai lĩnh vực xây lắp và cơ khí nhắc đến. Tuy nhiên thương hiệu này chỉ phát triển chậm chạp qua hình ảnh, chất lượng những công trình, những sản phẩm do Tổng Công ty, thiếu một chiến lược đầu tư dài hạn. Có được thương hiệu đã khó, duy trì và phát triển được giá trị thương hiệu lại càng khó hơn. Doanh nghiệp cần mạnh dạn bỏ chi phí cho hoạt động xây dựng, duy trì và củng cố thương hiệu. - Đầu tư xây dựng thương hiệu Xây dựng thương hiệu là một quá trình, đòi hỏi nhiều chi phí. Đó là những chi phí thuê tư vấn, thiết kế nhãn hiệu, lôgô, bao bì hàng hoá, lệ phí đăng ký cấp văn bằng bảo hộ, xác lập quyền sở hữu... chi phí đầu tư vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm, đưa sản phẩm tiếp cận thị trường và chiếm lòng tin của người tiêu dùng. Do vậy, khi đã xác định xây dựng thương hiệu cho sản phẩm dịch vụ của mình, doanh nghiệp phải bố trí nguồn nhân lực, vật lực và tài lực phù hợp, sử dụng hợp lý, trên cơ sở cân đối giữa nguyên tắc tiết kiệm và nguyên tắc hiệu quả nhằm đạt được lợi ích cao nhất. Hiện tại phần lớn các doanh nghiệp đều tự mình đứng ra thực hiện các thủ tục đăng ký nhãn hiệu, khuếch trương sản phẩm nhằm tiết kiệm chi phí cũng như đảm bảo yếu tố bảo mật. Cách làm này đôi khi không đạt hiệu quả như mong muốn, khiến doanh nghiệp tốn kém nhiều thời gian và chi phí hơn do thiếu tính chuyên nghiệp. Cách tốt hơn là doanh nghiệp nên áp dụng hình thức "thuê trọn gói" ; thuê các công ty tư vấn luật tiến hành các thủ tục pháp lý về đăng ký bảo hộ ; thuê các công ty quảng cáo thiết kế lôgô, soạn slogant, xây dựng và thực hiện các chiến dịch quảng cáo, các chương trình tiếp thị trực tiếp, khuyến mại... Hình thức này có thể làm tăng chi phí của doanh nghiệp nhưng thường mang lai hiệu quả cao hơn. - Tổ chức công tác quản trị thương hiệu +Hình thành đội ngũ chuyên viên quản trị thương hiệu với mức lương phù hợp: Hiện nay hầu hết các doanh nghiệp đều chưa có chuyên viên quản trị thương hiệu. Từ tầm quan trọng của việc xây dựng và nâng cao giá trị thương hiệu, mỗi doanh nghiệp nên bố trí nhân sự cho vị trí quản trị thương hiệu, có thể là chuyên trách hoặc kiêm nhiệm. Cần tuyển chọn những người có năng lực vào vị trí này. Công tác quản trị thương hiệu doanh nghiệp sẽ phải đảm nhiệm rất nhiều công việc, từ tiến hành các chiến dịch quảng cáo cho thương hiệu, các hoạt động nhằm nâng cao giá trị thương hiệu cho tới theo dõi việc sử dụng thương hiệu của các đối thủ cạnh tranh, phát hiện các dấu hiệu vi phạm để kịp thời xử lý. Khi thương hiệu đã được định vị và có một giá trị nhất định, người quản trị thương hiệu sẽ phải nghĩ đến việc mở rộng và phát triển nó thông qua các hoạt động chuyển giao, cho thuê thương hiệu, cấp quyền sử dụng thương hiệu... +Xây dựng một chiến lược dài hạn về quản lý thương hiệu: Mục tiêu của quản trị thương hiệu là đảm bảo duy trì và nâng cao giá trị thương hiệu nhằm phát huy tối đa vai trò của thương hiệu trong việc củng cố uy tín doanh nghiệp, sản phẩm dịch vụ và hơn hết là mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp phải có một chiến lược quản trị thương hiệu hoàn hảo và dài hạn bao gồm rất nhiều vấn đề: cách thức, thời điểm, quy mô của các chiến dịch quảng cáo, khuyến mại, chính sách marketing, quan hệ cộng động... Các hoạt động trên phải được duy trì thường xuyên, phải được kế hoạch hoá và đòi hỏi doanh nghiệp phải bố trí ngân sách hàng năm. Cùng với việc dự tính và bố trí ngân sách cho việc thực hiện chiến lược quản trị thương hiệu, tài chính doanh nghiệp đo lường, tính toán xác định giá trị thương hiệu một cách thường xuyên, phân tích đánh giá sự biến động, chỉ ra nguyên nhân, dự báo xu hướng vận động. Căn cứ vào kết quả phân tích đánh giá được hiểu quả của chiến lược marketing nói chung và các hoạt động đầu tư cho thương hiệu nói riêng, từ đó có những quyết định quản lý kịp thời và phù hợp. Tóm lại, doanh nghiệp phải xác định được những hoạt động về thương hiệu cần tiến hành, đo lường hiệu quả và đưa ra quyết định về thương hiệu. Một số kiến nghị Nhà nước cần thiết phải tạo ra môi trường Kinh tế-Xã hội, chính trị ổn định và thuận lợi cho sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp, hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, không nên có sự điều chỉnh lớn các thể chế trong thời gian ngắn hạn, để không gây ảnh hưởng đến tâm lý và hiểu quả hoạt động của doanh nghiệp. Những hoạt động này nhằm tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Nhà nước cần ưu tiên hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp cơ khí trong các dịch vụ kĩ thuật như thuê chuyên gia mua thiết kế, mua công nghệ hoặc thuê tư vấn thiết kế. Đồng thời Nhà nước cũng cần có chính sách đầu tư thích hợp đối với các nhà đầu tư nước ngoài để thu hút vốn FDI vào ngành cơ khí. Nhà nước cần cải thiện và nâng cao nguồn lực cho ngành ngân hàng để huy động tốt nhất các khoản tiền nhàn rỗi trong dân, có chính sách lãi suất hợp lý tạo điều kiện cho doanh nghiệp có được khoản vốn lớn đầu tư mà không phải chịu sức ép quá lớn về lãi suất. Nhà nước cần có những biến pháp hoàn thiện cơ chế hoạt động của thị trường trái phiếu doanh nghiệp và ban hành những quy định khuyến khích hơn nữa doanh nghiệp phát hành trái phiếu. Trong mục tiêu phát triển ngành điện lực, nhà nước khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi doanh nghiệp có khả năng tham gia, vì vậy, nhà nước không nên tập trung vốn ODA ngành điện cho Tổng công ty Điện lực, nên tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khác đầu tư vào ngành điện cùng có cơ hội được vay nguồn vốn này. Bộ công nghiêp, Bộ xây dựng xem xét đưa các dự án cơ khí của thuỷ điện của Tổng công ty vào danh mục các dự án ưu tiên vận động ODA trong hội nghị CG. Ngành cơ khí tổ chức hội nghị vận đông ODA theo ngành hàng năm, hỗ trợ Tổng công ty về thông tin, thủ tục, điều kiện cần có đối với đề cương sơ bộ trình cho các nhà tài trợ. Các ngân hàng cần tạo điệu kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận những nguồn vốn tín dụng như cải tiến quy trình, đơn giản hoá thủ tục, hồ sơ cho vay, rút ngắn thời gian xem xét về cấp tín dụng, thẩm định tính khả thi của dự án theo đúng điều kiện thực tế. Danh mục các tài liệu tham khảo 1. Giáo trình quản trị Dự án đầu tư. NXB Thống kê 2. Giáo trình Kinh tế xây dựng- Đại học Kiến trúc. NXB Xây dựng 3. Giáo trình Kinh tế đầu tư- Đại học Kinh tế Quốc dân. NXB Thống kê 4. Giáo trình Tài chính Doanh nghiệp- Đại học Kinh tế Quốc dân. NXB Lao động 5. NĐ 199/2004/ NĐ-CP ngày 03/12/2004. 6.NĐ 106/2004/NĐ-CP ngày 01/04/2004. 7.NĐ 51/1999/NĐ-CP ngày 08/07/1999. 8.NQ 11/2000/NQ-CP ngày 31/07/2000. 9.Tạp chí Tài chính doanh nghiệp các số năm 2004, 2005 10.Tạp chí Thị trường Tài chính-tiền tệ các số năm 2004. 11.Tạp chí Ngân hàng các số năm 2004. 12.Tạp chí Chứng khoán các sốnăm 2003.2004. 13.Tạp chí Công nghiệp các số năm2001,2003. mục lục ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNKT423.doc
Tài liệu liên quan