Một số vấn đề về phương pháp tính khấu hao tài sản cố định

Lời mở đầu: Tài sản cố định (TSCĐ) là cơ sở vật chất không thể thiếu trong nền kinh tế quốc dân cũng như trong hoạt động sản xuất của bất kỳ doanh nghiệp nào. Trong môi trường kinh doanh cạnh tranh ngày càng gay gắt và những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, công tác quản lý tài sản cố định nói chung và kế toán TSCĐ nói riêng ngày càng được các doanh nghiệp quan tâm . Việc kế toán tài sản cố định được thể hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau : Tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ, xác định nguyên giá tài sản c

doc26 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 06/09/2013 | Lượt xem: 173 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Một số vấn đề về phương pháp tính khấu hao tài sản cố định, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ố định, phương pháp tính khấu hao tài sản cố định và trình bày thông tin trên báo cáo tài chính.Bất kể nghiệp vụ hạch toán nào cũng phải xem xét trên nhiều khía cạnh khác nhau đặc biệt là các nghiệp vụ liên quan đến việc báo cáo kết quả kinh doanh vì nó liên quan đến thuế mà doanh nghiệp phải nộp cho nhà nước, khấu hao tài sản cố định là một trong những chi phí được đưa vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy việc hạch toán TSCĐ cũng là một trong những vấn đề được nhiều doanh nghiệp quan tâm.Khấu hao tài sản cố định thì mang tính khách quan nhưng việc kế toán trích khấu hao thì lại là vấn đề mang tính khách quan . Doanh nghiệp phải biết áp dụng phương pháp nào cho có lợi cho mình nhiều nhất mà vẫn đảm boả tính hợp lý của chi phí sản xuất kinh doanh và vẫn có thể cạnh tranh được với thị trường đầy biến động của nền kinh tế thị trường.Vì vậy em chọn đề tài: “ Các vấn đề về phương pháp hạch toán khấu hao tài sản cố định” trong doanh nghiệp làm đề án môn học của mình .Em rất mong nhận được sự giúp đỡ của thầy giáo để đề tài của em được hoàn thiện. Sinh viên thực hiện. Danh mục từ viết tắt : Tài sản cố định:TSCĐ Tài sản cố định hữu hình:TSCĐHH Tài sản cố định vô hình: TSCĐVH Phần I: Những vấn đề chung về tài sản cố định và khấu hao tài sản cố định I .Tài sản cố định 1.Tiêu chuẩn nhận biết TSCĐHH Tư liệu lao động là những tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định mà nếu thiếu một trong những bộ phận đó thì cả hệ thống không thể hoạt động được, nếu thoả mãn đồng thời bốn tiêu chuẩn dưới đây thì được coi là TSCĐHH: - Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy Có thời gian sử dụng từ một năm trở lên; Có giá trị từ 10.000.000 (mười triệu đồng) trở lên Trường hợp một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau và nếu thiếu một bộ phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt đọng chính của nó nhưng do yêu cầu quản lý sử dụng TSCĐ đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận tài sản thì nếu mỗi bộ phận của tài sản đó cùng thoả mãn đòng thời bố tiêu chuẩn của TSCĐ được coi là một TSCĐHH độc lập. Đối với súc vật làm việc và cho sản phẩm , thì từng con súc vật thoả mãn đồng thời bốn tiêu chuẩn của TSCĐ được coi là TSCĐHH. Đối với vườn cây lâu năm thì từng mảnh vườn cây , hoặc cây thoả mãn đồng thời bốn tiêu chuẩn của TSCĐ được coi là TSCĐHH. 2. Tiêu chuẩn nhân biết TSCĐVH hiện nay. Mọi khoản chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra thoả mãn đòng thời bốn tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 điều này , mà không hình thành TSCĐHH thì được coi là TSCĐVH . Những khoản chi phí không đồng thời thoả mãn cả bốn tiêu chuẩn trên thì được hạch toán trực tiếp hoặc được phân bổ vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp. Riêng các chi phí phát sinh trong giai đoạn triển khai ghi nhận là TSCĐVH được tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp nếu thoả mãn bảy điều kiện sau: Tính khả thi về mặt kỹ thuật đảm bảo cho việc hoàn thành và đưa tài sản vô hình và sử dụng theo dự tính hoặc để bán; Doanh nghiệp dự định hoàn thành tài sản vô hình để sử dụng hoặc để bán; Doanh nghiệp có khả năng sử dụng hoặc để bán tài sản vô hình đó; Tài sản vô hình đó phải tạo ra được lợi ích trong tương lai; Có đầy đủ các nguồn lực về kỹ thuật, tài chính và các nguồn lực khác để hoàn thành các giai đoạn triển khai, bán hoặc sử dụng tài sản vô hình đó ; Ước tính có đủ điều kiện về thời gian sử dụng và giá trị theo quy định cho TSCĐVH; Chi phí thành lập doanh nghiệp , chi phí đào tạo nhân viên , chi phí quảng cáo phát sinh trước khi thành lập doanh nghiệp , chi phí giai đoạn nghiên cứu, chi phí chuyển dịch địa điểm, lợi thế thương mại không phải là TSCĐVH mà được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh trong thời gian tố đa không quá ba năm kể từ khi doanh nghiệp bắt đầu hoạt động. II. Khấu hao tài sản cố định 1.Các khái niệm Trong quá trình sử dụng, TSCĐ bị hao mòn. Có hai loại hao mòn : + Hao mòn hữu hình + Hao mòn vô hình 1.1Hao mòn hữu hình Hao mòn hữu hình là sự hao mòn vật lý trong quá trình sử dụng do bị cọ sát , bị ăn mòn , bị hư hỏng từng bộ phận. Hao mòn hữu hình của tài sản có thể diễn ra dưới hai hình thức dưới đây: + Hao mòn dưới dạng kỹ thuật xảy ra trong quá trình sử dụng + Hao mòn do tác động của thiên nhiên(độ ẩm, hơi nước, không khí…) không phụ thuộc vào việc sử dụng Do sự hao mòn hữu hình nên TSCĐ mất dần giá trị và giá trị sử dụng lúc ban đầu, cuối cùng phải thay thế bằng một TSCĐ khác. 1.2Hao mòn vô hình Là sự giảm giá trị của TSCĐ do tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Do ảnh hưởng của khoa học kỹ thuật ngày càng có nhiều TSCĐ được sản xuất với chi phí thấp hơn và có nhiều tính năng hơn. Việc sản xuất ra các TSCĐ có nhiều tính năng hơn , giá rẻ hơn đã làm cho các TSCĐ sản xuất trước đây mất dần giá trị. Trong hai loại hao mòn trên, hao mòn hữu hình là yếu tố chủ quan. Loại hao mòn này phụ thuộc nhiều vào việc sử dụng và điều kiện bảo quản TSCĐ . Các doanh nghiệp cần chú ý và sử dụng, bảo quản TSCĐ hợp lý theo các yêu cầu kỹ thuật của từng loại TSCĐ để giảm bớt sự hao mòn hữu hình. Ngược lại hao mòn vô hình là yếu tố khách quan không phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của doanh nghiệp. Đặc điểm này đòi hỏi doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ khi có kế hoạch mua sắm TSCĐ . Một nguyên tắc đặt ra là chỉ mua sắm TSCĐ khi cần thiết với phương án sử dụng hợp lý, hiệu quả để tránh bị giảm giá trị do hao mòn vô hình của chúng, hoặc khi phải tính đến hao mòn vô hình thì chi phí cho hợp lý. 1.3 Khấu hao Trong quá trình sử dụng TSCĐ kể cả TSCĐHH & TSCĐVH bị hao mòn dần về giá trị và hiện vật, phần giá trị hao mòn được chuyển dịch vào giá trị sản phẩm làm ra dưới dạng hình thức trích khấu hao. Như vậy khấu hao TSCĐ kể cả TSCĐHH & TSCĐVH chính là sự biểu hiện bằng tiền của phần giá trị đã hao mòn. Phần chi phí khấu hao này được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 2.Cơ sở phương pháp luận của việc tính khấu hao 2.1 Bản chất của khấu hao TSCĐ Vì TSCĐ cố định được mua để sử dụng nên TSCĐ như một lượng hữudụng được phân phối cho các hoạt động của doanh nghiệp trong suốt thời gian hữu ích của nó. Tuy nhiên, vì thời gian hữu ích của TSCĐ ( ngoại trừ đất đai) là có hạn nên lương hữu dụng này của TSCĐ thường được mô tả như sự giảm giá, và trong kế toán, thuật ngữ này được dùng để mô tả quá trình phân bổ và tính chi phí của tính hữu dụng này cho các kỳ kế toán có sử dụng TSCĐ đó. Thí dụ, khi công ty mua một chiếc xe để sử dụng trong kinh doanh, cũng có nghĩa là công ty mua một lượng hữu dụng , một lượng chuyên chở. Chi phí sẽ tiêu hoa trong suốt thời gian hữu dụng của chiếc xe là chi phí của chiếc xe trừ đi số tiền thu được do bán hoặc đổi khi hết thời gian hữu dụng. Chi phí sẽ tiêu hao trong thời gian hữu dụng của chiếc xe phải được phân bổ cho các kỳ kế toán đã sử dụng xe, nói một cách khác , nó phải được khấu hao. Quá trình khấu hao không đánh giá sự giảm giá thị trường của xe mỗi kỳ và cũng không đánh giá sự hư hỏng vật chất của xe, mỗi kỳ khấu hao chỉ là sự phân bổ chi phí. 2.1.1Thời gian hữu dụng của TSCĐ Thời gian hữu dụng của TSCĐ là độ dài thời gian mà TSCĐ đã được sử dụng trong các hoạt động của doanh nghiệp . Điều này có thể không giống như thời gian khả dụng của TSCĐ . Thí dụ, mặc dù máy đánh chữ có thời gian khả dụng từ 6 đến 8 năm, công ty có thể có kế hoach đổi máy đánh chữ cũ lấy máy đánh máy mới sau 3 năm. Trong trường hợp này, máy đánh chữ có thời gian hữu dụng là 3 năm. Hơn nữa trong công ty này, chi phí của máy đánh chữ, trừ đi giá trị trao đổi dự định, sễ được tính cho phí tổ khấu hao trong 3 năm. Thời gian hữu dụng của tài sản thường khó mà dự đoán vì một số nhân tố. Sự hao mòn và hư hỏng quyết định thời gian hữu dụng của rất nhiều TSCĐ . Tuy nhiên hai nhân tố khác không tương xứng và lỗi thời cũng cần phải quan tâm xem xét. Thông thường khi doanh nghiệp mua TSCĐ , doanh nghiệp cố gắng mà dự đoán khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp và rồi sau đó mua TSCĐ với quy mô và khả năng có thể đáp ứng được mhu cầu tăng trưởng sau này. Tuy nhiên nếu donh nghiệp tăng trưởng với tốc độ nhanh hơn dự đoán thì năng lực của TSCĐ sẽ trở nên quá nhỏ đối với nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp. Khi điều này xảy ra TSCĐ trở nên không còn tương xứng nữa. Tính lỗi thời giống như sự không tương xứng, rất khó mà dự đoán vì thông thường có thể tuyên đoán trước các phát minh mới, thế nhưng các phát minh mới thường làm cho TSCĐ trở nên lỗi thời mà khiến nó bị loại bỏ rất sớm trước khi nó hoàn toàn hư hỏng. Nhiều lúc công ty cũng có khả năng ước tính thời gian hữu dụng của TSCĐ mới căn cứ trên kinh nghiệm đã qua về một TSCĐ cùng loại. Trong các trường hợp khác, khi doanh nghiệp không có kinh nghiệm về một loại TSCĐ riêng biệt nào thì công ty phải phụ thuộc vào nơi khác hoặc qua kinh nghiệm và đánh giá. 2.1.2Giá trị tận dung. Tổng mức khấu hao phải tínhcho thời gian hữu dụng của một TSCĐ là chi phí của TSCĐ trừ đi giá trị tận dụng ước tính của TSCĐ đó. Giá tri tận dụng của TSCĐ là số tiền sẽ thu hồi khi TSCĐ hết thời hạn sử dụng. Nếu như dự định trao đổi TSCĐ cũ lấy TSCĐ mới thì giá trị ước tính là giá trị tận dụng. Khi việc chuyển nhượng TSCĐ liên quan đến một số chi phí nhất định như chi phí tháo dỡ thì giá trị tận dụng là giá trị thuần tuý thực hiện được từ việc bán TSCĐ . Giá trị thuần tuý thực hiện được là số tiền thu từ bán TSCĐ trừ đi chi phí chuyển nhượng. 3. Sự cần thiết phải tính khấu hao Ngày nay, với sự phát triển chóng mặt của khao học kỹ thuật, đạt được nhiều thành tựu. Nền kinh tế thị trường phát triển với nhiều thành phần đa dạng phức tạp. Các doanh nghiệp muốn tồn tại trên thị trường, để có thể cạnh tranh được với doanh nghiệp khác thì phải có năng xuất lao động cao hoặc tạo được những sản phẩm có tính năng vợt trội xuất ra thị trường. Điều ấy trước tiên được thực hiện thông qua việc đầu tư trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại và khấu hao máy móc thiết bị của những TSCĐ đang được sử dụng là tiền đề cho việc mua sắm TSCĐ mới đầu tư cho kinh doanh. Chúng ta có thể đưa ra bốn lý do chủ yếu là: + Hao mòn vật chất +Tác nhân kinh tế + Tác nhân thời gian + Sự hao cạn 4. Những quy định chung về trích khấu hao và sử dụng tiền trích khấu hao TSCĐ Căn cứ luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 09/2003/QH11 ngày 17/6/2003. Căn cứ nghị định số 86/2002/NĐ- CP ngày 5/11/2002 của Chính Phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Bộ Tài Chính. Để tăng cường công tác quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ trong các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trích đúng , trích đủ số khấu hao TSCĐ vào chi phí kinh doanh, thay thế đổi mới máy móc, thiết bị theo hướng áp dụng công nghệ tiên tiến, kỹ thuật hiện đại phù hợp với yêu cầu kinh doanh của doanh nghiệp và của nền kinh tế Những quy định đó được thể hiện trong điều 9 mục III Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài Chính số 206/2003/QĐ- BTC ngày 12/12/2003 về ban hành chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ . 4.1Nguyên tắc trích khấu hao TSCĐ . Mọi tài sản của doanh nghiệp có liên quan đến hoạt động kinh doanh đều phải trích khấu hao. Mức trích khấu hao TSCĐ được hạch toán vào chi phí sản suất kinh doanh trong kỳ. Doanh nghiệp không được trích khấu hao với những TSCĐ đã khấu hao hết nhưng vẫn tính sử dụng vào hoạt động kinh doanh. Đổi với những TSCĐ chưa khấu hao hết đã hỏng doanh nghiệp phải xác định nguyên nhân quy trách nhiệm đền bù, bồi thường thiệt hại…và tính vào chi phí khác Những TSCĐ không tham gia vào hoạt động kinh doanh thì không phải trích khấu hao bao gồm: + TSCĐ thuộc dự trữ nhà nước giao cho doanh nghiệp giữ hộ , quản lý hộ. + Những TSCĐ phục vụ các hoạt động phúc lợi trong doanh nghiệp như nhà trẻ, câu lạc bộ, nhà truyền thống,nhà ăn…được đầu tư bằng quỹ phúc lợi. Những TSCĐ phục vụ nhu cầu chung toàn xã hội, không phục vụ cho hoạt động kinh doanh riêng của doanh nghiệp như đê đập, cầu cống, đường xá…mà nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý. + TSCĐ không tham gia vào hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp thực hiện việc quản lý theo dõi TSCĐ đây như dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tính khấu hao của TSCĐ (nếu có ) mức hao mòn hàng năm được xác định bằng cách lấy nguyên giá chia cho thời gian sử dụng của TSCĐ . Xác định theo quy định ban hành theo quy định ban hành theo Quyết Định 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính. Nếu các TSCĐ có tham gia vào hoạt động kinh doanh thì trong thời gian TSCĐ tham gia vào hoạt động kinh daonh , doanh nghiệp thực hiện tính khấu hao và trích khấu hao vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cho thuê TSCĐ phải thực hiện trích khấu hao đối với TSCĐ cho thuê. Doanh nghiệp đi thuê TSCĐ tài chính phải trích TSCĐ với TSCĐ thuê tài chính như TSCĐ thuộc sở hữu của doanh nghiệp theo quy định hiện hành. Trường hợp ngay tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản doanh nghiệp đi thuê TSCĐ tài chính cam kết không mua tài sản thuê trong suốt hợp đồng thuê tài chính, thì doanh nghiệp đi thuê được tính khấu hao TSCĐ thuê tài chính theo thời hạn thuê trong hợp đồng. Việc trích hoặc thôi trích khấu hao TSCĐ được thực hiện bắt đầu từ ngày( theo số ngày của tháng) mà TSCĐ tăng giảm hoặc ngừng tham gia vào hoạt động kinh doanh. Quyền sử dụng đất lâu dài là TSCĐVH đặc biệt, doanh nghiệp ghi nhận là TSCĐVH theo nguyên giá nhưng không được tính khấu hao. 4.2 Quy định về phương pháp trích khấu hao TSCĐ (theo điều 13) Căn cứ khả năng đáp ứng các điều kiện áp dụng quy định cho từng phương pháp tính khấu hao TSCĐ , doanh nghiệp được lựa chọn các phương pháp tính khấu hao phù hợp với từng loại TSCĐ của doanh nghiệp: + Phương pháp khấu hao đường thẳng: Tài sản cố định tham gia vào hoạt động kinh doanh được trích khấu hao theo phương pháp đường thẳng. Các doanh nghiệp có hiệu quả kinh tế cao được khấu hao nhanh nhưng tối đa không quá hai lần mức khấu hao xác định theo phương pháp đường thẳng để nhanh chóng đổi mới công nghệ. TSCĐ tham gia và hoạt động kinh doanh trích khấu hao nhanh là máy móc, thiết bị , dụng cụ làm việc, đo lường, thí nghiệm, thiết bị và phương tiện vận tải, dụng cụ quản lý, súc vật, vườn cây lâu năm. Khi thực hiện trích khấu hao nhanh, doanh nghiệp phải đảm bảo kinh doanh có lãi. + Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh TSCĐ tham gia vào hoạt động kinh doanh được trích khấu hao theo phương pháp số dư giảm dần có điều chỉnh thoả mãn các điều kiện sau: Là TSCĐ đầu tư mới( Chưa qua sử dụng) Là các loại máy móc, thiết bị , dụng cụ đo lường , thí nghiệm; Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh áp dụng đối với các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực có công nghệ đòi hỏi phải thay đổi phát triển nhanh. + Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm. TSCĐ tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh được trích khấu hao theo phương pháp này là các loại máy móc thiết bị thoả mãn đồng thời các điều kiện sau: Trực tiếp liên quan đến sản xuất sản phẩm; Xác định được tổng số lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất theo công suất thiết kế của TSCĐ Công suất sử dụng bình quân tháng trong năm tài chính không thấp hơn 50% công suất thiết kế Doanh nghiệp phải đăng ký phương pháp trích khấu hao TSCĐ mà doanh nghiệp lựa chọn áp dụng với cơ quan thuế trực tiếp quản lý khi thực hiện trích khấu hao. Trường hợp lựa chọn của doanh nghiệp không trên cơ sở có đủ các điều kiện quy định thì cơ quan thuế có trách nhiệm thông báo cho doanh nghiệp biết thay đổi phương pháp khấu hao cho phù hợp. Phương pháp khấu hao áp dụng cho từng loại tài sản mà doanh nghiệp đã lựa chọn và đăng ký phải thực hiện nhất quán trong suốt thời gian sử dụng của TSCĐ đó. 4.3 Quy định thời gian sử dụng TSCĐ -Khái niệm: Là thời gian doanh nghiệp dự tính sử dụng TSCĐ vào hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc xác định theo số lượng, khối lượng sản phẩm dự kiến sản xuất được từ việc sử dụng TSCĐ theo quy định hiện hành, ở điều kiện bình thường, phù hợp với các thông số kinh tế, kỹ thuật của TSCĐ và các yếu tố khác có liên quan đến sự hoạt động của TSCĐ . 4.3.1 Xác định thời gian sử dụng TSCĐHH. Đối với TSCĐHH còn mới chưa qua sử dụng, doanh nghiệp phải căn cứ vào khung thời gian sử dụng TSCĐ quy định ban hành kèm theo quyết định số 206/2003 QĐ-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính Đối với TSCĐ đã qua sử dụng, thời gian sử dụng của TSCĐ được xác định: Giá trị hợp lý của TSCĐ Thời gian sử dụng của TSCĐ mới cùng loại = * Thời gian sử dụng của TSCĐ Giá trị của TSCĐ mới cùng loại( hoặc của TSCĐ tương đương trên thị trường) Trong đó: Giá trị hợp lý của tài sản là giá trị mua hoặc trao đổi thực tế ( trong trường hợp mua bán trao đổi) giá trị còn lại của TSCĐ ( trong trường hợp được cấp được điều chuyển) giá trị theo đánh giá của hợp đồng giao nhận(trong trường hợp được cho được biếu tặng, nhận vốn góp). Trường hợp doanh nghiệp muốn xác định thời gian sử dụng của TSCĐ khác với khung thời gian như trên thì doanh nghiệp phải giải trình rõ các căn cứ để xác định thời gian sử dụng của TSCĐ đó để Bộ Tài Chính quyết định theo 3 tiêu chuẩn sau: + Tuổi thọ của TSCĐ theo thiết kế. + Hiện trạng TSCĐ (thời gian TSCĐ đã qua sử dụng, thiết kế , tình trạng thực tế của TSCĐ ). + Tuổi thọ kinh tế của TSCĐ Trường hợp các yếu tố tác động như việc nâng cấp hay tháo dỡ một hay một số bộ phận của TSCĐ … nhằm kéo dài hoặc rút ngắn thời gian sử dụng đã xác định trước thì doanh nghiệp tiến hành xác định lại thời gian sử dụng của TSCĐ . 4.3.2 Xác định thời gian sử dụng của TSCĐVH. Doanh nghiệp tự xác định thời gian sử dụng của TSCĐVH nhưng tối đa không quá 20 năm. Riêng thời gian sử dụng của quyền sử dụng đất có thời hạn là thời hạn được phép sử dụng đất theo quy định. 5. Những ưu điểm, nhược điểm về quy định mới trong chế độ áp dụng cho việc tính khấu hao TSCĐ hiện nay. Với mục đích tăng cường công tác quản lý sử dụng và trích khấu hao TSCĐ . quy định trong chế độ mới có tính ưu việt hơn hẳn: + Thứ nhất thống nhất giữa chế độ và chuẩn mực kế toán hiện nay. Về phương pháp tính khấu hao TSCĐ , trước kia chế độ quy định các doanh nghiệp tính khấu hao TSCĐ theo phương pháp đường thẳng trái với chuẩn mực số 03 về TSCĐ cho phép áp dụng 3 phương pháp tính khấu hao là : phương pháp đường thẳng, phương pháp số dư giảm dần và phương pháp theo số lượng khối lượng sản phẩm. Hiện nay chế độ cho phép áp dụng 3 phương pháp tính khấu hao như vậy phù hợp với chuẩn mực hế toán. + Thứ hai : Tính chính xác trong việc tính khấu hao Trong chế độ trước kia việc trích hoặc thôi trích khấu hao được tính theo phương pháp tròn tháng tức là mức khấu hao tháng này được tính theo công thức: Mức khấu hao tháng này=Mức khấu hao tháng trước + Mức khấu hao tăng trong tháng – Mức khấu hao giảm trong tháng Như vậy có nghĩa là TSCĐ dù được đưa vào sử dụng hay thôi không sử dụng TSCĐ đầu tháng hoặc cuối tháng thì vẫn trích hoặc thôi trích khấu hao cho cả tháng. Hiện nay trong chế độ quy định việc trích hoặc thôi trích khấu hao TSCĐ được thực hiện bắt đầu từ ngày ( theo số ngày của tháng) mà TSCĐ tăng giảm hoặc ngừng tham gia vào hoạt động kinh doanh. Nhược điểm: Trong việc xác định thời gian sử dụng của TSCĐVH thì việc tính thời gian sử dụng lại tuỳ thuộc vào doanh nghiệp . Điều này liên qua đến giá trị trích khấu hao và liên quan đến chi phí kinh doanh của toàn doanh nghiệp. Quy định cho phép doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp tính khấu hao cho riêng mình cho phù hợp miễn nhưng phải công khai việc lựa chọn . Mà trong một doanh nghiệp có rất nhiều loại tài sản với tính năng khác nhau cho nên rất khó kiểm soát việc tính khấu hao trong toàn doanh nghiệp. 6. Các phương pháp tính khấu hao: 6.1 Phương pháp khấu hao đường thẳng Nội dung phương pháp: TSCĐ trong doanh nghiệp được trích khấu hao theo phương pháp khấu hao đường thẳng như sau: + Căn cứ các quy định trong chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ ban hành kèm theo quyết định, doanh nghiệp xác định thời gian sử dụng của TSCĐ Mức trích khấu hao trung bình hàng năm của TSCĐ Nguyên giá TSCĐ Thời gian sử dụng + Xác định mức trích khấu hao cho TSCĐ trung bình hàng năm theo công thức sau: = Mức khấu hao trung bình hàng tháng băng số khấu hao phải tính cả năm chia cho 12 tháng Trường hợp thời gian sử dụng hay nguyên giá TSCĐ thay đổi, doanh nghiệp phải xác định lại mức khấu hao trung bình của TSCĐ bằng cách lấy giá trị còn lại trên sổ sách kế toán chia cho thời gian xác định lại hoặc thời gian sử dụng còn lại( được xác định là chênh lệch giữa thời gian sử dụng đã đăng ký trừ đi thời gian đã sử dụng )của TSCĐ Mức khấu hao cho năm cuối cùng của TSCĐ được xác định là hiệu số giữa nguyên giá TSCĐ và số khấu hao luỹ kế đã thực hiện đến trước năm cuối cùng của TSCĐ đó 6.2 Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh Nội dung của phương pháp: Mức trích khấu hao TSCĐ theo phương pháp số dư giảm dần điều chỉnh được xác định như sau: + Xác định thời gian sử dụng TSCĐ + Xác định mức trích khấu hao năm của TSCĐ trong các năm đầu tiên theo công thức dưới đây: Tỷ lệ khấu hao nhanh Giá trị còn lại TSCĐ Mức trích khấu hao hàng năm của TSCĐ * = Trong đó : Tỷ lệ khấu hao nhanh được xác định theo công thức: Hệ số điều chỉnh Tỷ lệ khấu hao theo phương pháp đường thẳng Tỷ lệ khấu hao nhanh(%) * = Tỷ lệ khấu hao theo phương pháp đường thẳng được xác định như sau: Hệ số điều chỉnh 1 Thời gian sử dụng của TSCĐ Tỷ lệ khấu hao theo phương pháp đường thẳng = * Hệ số điều chỉnh xác định theo thời gian sử dụng của TSCĐ quy định tại bảng dưới đây: Thời gian sử dụng của TSCĐ(t) Hệ số điều chỉnh(lần) Đến 4 năm(t<= 4 năm) 1.5 Trên 4 đến 6 năm(4<t<=6) 2.0 Trên 6 năm(t>6) 2.5 Những năm cuối, khi mức khấu hao năm xác định theo phương pháp số dư giảm dần nói trên bằng(hoặc thấp hơn) mức khấu hao tính bình quân giữa giá trị còn lại và số năn sử dụng còn lại , thì kể từ năm đó mức khấu hao được tính bằng giá trị còn lại của TSCĐ chia cho số năm sử dụng còn lại của TSCĐ Mức khấu hao hàng tháng bằng số khấu hao phải trích chia cho 12 tháng. 6.3 Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm. Nội dung phương pháp: TSCĐ trong doanh nghiệp được trích khấu hao theo phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm như sau: + Căn cứ vào hồ sơ kinh tế kỹ thuật của TSCĐ , doanh nghiệp xác định tổng số lượng, khối lượng sản phẩm theo công thức thiết kế của TSCĐ , gọi tắt là sản lượng theo công suất thiết kế + Căn cứ tình hình thực tế sản xuất, doanh nghiệp xác định số lượng, khối lượng sản phẩm thực tế sản xuất hàng tháng, hàng năm của TSCĐ + Xác định mức trích khấu hao TSCĐ trong tháng theo công thức sau: Số lượng sản phẩm sản xuất trong tháng Mức trích khấu hao bình quân tính cho đơn vị sản phẩm Mức trích khấu hao trong tháng của TSCĐ * = Trong đó: Nguyên giá của TSCĐ Sản lượng theo công suất thiết kế = Mức khấu hao bình quân tính cho 1 đơn vị sản phẩm Mức trích khấu hao bình quân tính cho1 đơn vị sản phẩm + Mức trích khấu hao năm của TSCĐ bằng tổng mức khấu hao của 12 tháng trong năm, hoặc tính theo công thức: Số lượng sản phẩm sản xuất trong năm Mức khấu hao năm của TSCĐ * = Trường hợp công suất thiết kế hoặc nguyên giá của TSCĐ thay đổi doanh nghiệp phải xác định lại mức trích khấu hao của TSCĐ 7. Những ưu diểm và tồn tại trong việc áp dụng các phương pháp tính khấu hao TSCĐ 7.1 Phương pháp khấu hao đường thẳng 7.1.1 Ưu điểm: Sử dụng phương pháp tính khấu hao theo phương pháp đường thẳng cho TSCĐ có những ưu điểm sau: + Đơn giản dễ tính:Chỉ cần ước tính được số năm sử dụng của TSCĐ và căn cứ vào nguyên giá khi mua + Phương pháp này sẽ chính xác hơn nếu việc trích hoặc thôi trích khấu hao được tính bắt đầu từ ngày + Giảm nhẹ công tác kế toán khi hạch toán TSCĐ về mức khấu hao, giá trị còn lại. + Thích hợp với những tài sản cố định được dùng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp một cách đều đặn trong năm 7.1.2 Nhược điểm Bên cạnh những ưu điểm thì phương pháp này còn chứa đựng những nhược điểm: + Phương pháp này mang tính chủ quan Khấu hao TSCĐ là yếu tố khách quan nhưng việc trích khấu hao TSCĐ do việc lựa chọn số năm lại là yếu tố chủ quan + Chỉ chính xác một cách tương đối khi tính tròn năm hoặc tròn tháng +Việc xác định giá trị còn lại và thời gian sử dụng sau khi nâng cấp là rất khó có thể kiểm soát được + Phương pháp này chỉ nên áp dụng với những TSCĐ mà tài sản đó được sử dụng một cách đều đặn giữa các tháng trong năm tài chính + Không thích hợp với những doanh nghiệp sản xuất những mặt hàng theo mùa vụ 7.2 Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh 7.2.1 Ưu điểm Trong thực tế, nhiều loại tài sản phát huy được năng lực và hiệu quả sản xuất khi còn mới và giảm dần năng lực sản xuất trong giai đoạn sau nên phương pháp này phù hợp thực trạng tồn tại của TSCĐ áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực có công nghệ đòi hỏi phải thay đổi, phát triển nhanh Tăng chi phí trong giai đoạn đầu nên được sử dụng để giảm bớt gánh nặng về thuế trong giai đoạn này 7.2.2 Nhược điểm + Phương pháp này không điều hoà chi phí sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp + Phạm vi áp dụng hẹp Là những tài sản đầu tư mới( chưa qua sử dụng) hoặc là các loại máy móc, thiết bị , dụng cụ làm việc đo lường thí nghiệm + Chỉ thích hợp với doanh nghiệp có công nghệ cao + Cách tính toán phức tạp , phụ thuộc nhiều yếu tố 7.3 Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm 7.3.1 Ưu điểm + Gắn liền việc sản xuất sản phẩm nghĩa là có sự tương xứng giữa chi phí và doanh thu + Tính đúng giá trị TSCĐ tham gia vào sản xuất kinh doanh +Chính xác khi TSCĐ được sử dụng theo công suất thiết kế 7.3.2 Nhược điểm + Phạm vi áp dụng: Chỉ tính cho những TSCĐ dùng trực tiếp cho sản xuất sản phẩm +Những loại hình sản xuất mà tính được tổng số lượng , khối lượng sản phẩm sản xuất theo công suất thiết kế của TSCĐ + Những TSCĐ phải có công suất sử dụng thực tế bình quân tháng trong năm tài chính không thấp hơn 50% +Không chính xác khi TSCĐ không hết công suất 8. ảnh hưởng của phương pháp tính khấu hao đến chi phí sản xuất kinh doanh 8.1 Sự khác biệt giữa khấu hao và chi phí Khấu hao là một loại chi phí đặc biệt. Khác với chi phí thông thường khấu hao không gắn liền với các khoản thanh toán tại thời điểm phát sinh chi phí .Bởi vậy khấu hao là một khoản chi phí “phi tiền tệ” (“Non- cash” expense) . Như vậy khấu hao là một biện pháp để doanh nghiệp thu hồi lại số tiền đầu tư mua sắm TSCĐ trước đây. Khấu hao không liên quan đến các khoản chi tiền mặt. Bút toán kép với khấu hao không ảnh hưởng gì đến TSCĐ và các khoản phải trả. Trong sổ sách các chi phí khác làm giảm tiền mặt còn chi phí khấu hao làm giảm giá trị TSCĐ ghi trong sổ sách. 8.2 Sự ảnh hưởng của khấu hao đến chi phí Như mục trên ta biết khấu hao không liên quan gì đến khoản chi tiền mặt hay khoản phải trả tại thời điểm phát sinh nhưng nó vẫn là một loại chi phí. Có điều chi phí này được hạch toán và phân bổ dần vào các kỳ sản xuất kinh doanh trong kỳ. Được hạch toán thông qua bút toán: Nợ TK “Chi phí” Có TK “214” Điều đó có nghĩa là khấu hao làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ . Tuỳ thuộc vào loại tài sản và phương pháp tính khấu hao nhất định mà doanh nghiệp lựa chọn khi mua sắm hay sửa chữa nâng cấp …giá trị khấu hao được tính cụ thẻ chi từng kỳ và được tính cho đến hết thời gian khấu hao của TSCĐ Chính vì điều này mà việc tính khấu hao TSCĐ trong doanh nghiệp cũng cực kỳ quan trọng . Phải biết chắc chắn loại TSCĐ cần khấu hao, phương pháp khấu hao và cuối cùng là giá trị khấu hao. Điều này làm tăng hoặc giảm chi phí và liên quan đến việc nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho nhà nước. Phần II : Phương pháp tính khấu hao TSCĐ trong chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực kế toán việt nam I . Trong chuẩn mực kế toán quốc tế 1.Quy định chung Với xu hướng toàn cầu hoá hiện nay, xuất hiện các nhu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn hoá và hài hoà hoá các nội dung , nguyên tắc kế toán giữa các quốc gia với nhau, đặc biệt là hài hoà và thống nhất trong việc lập và trình bày các báo cáo tài chính . Vì vậy có rất nhiều quốc gia quan tâm đến việc nghiên cứu , xây dựng và công bố các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) xu hướng vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế để xây dựng chuẩn mực kế toán quốc tế. Chuẩn mực kế toán quốc tế về khấu hao được quy định trong IAS 4 :Kế toán khấu hao Chuẩn mực này được áp dụng trong kế toán khấu hao TSCĐ , nó được áp dụng cho tất cả các TSCĐ có thể khấu hao. Các tài sản có thể khấu hao chiếm một phần quan trọng trong các tài sản của doanh nghiệp. Khấu hao có thể là một ảnh hưởng quan trọng trong việc xác định và thể hiện vị trí tài chính, kết quả các hoạt động của các doanh nghiệp này. Chuẩn mực này xác định thời gian sử dụng của TSCĐ , giá trị thu hồi và các phương pháp khấu hao Quy định về khấu hao nhà xưởng, máy móc, thiết bị: Theo luật của một số nước thì phí khấu hao hàng năm cho một khoản mục nhà xưởng,máy móc , thiết bị sẽ khác với khấu hao được cơ quan thuế cho phép. Điều này dẫn đến chênh lệch giữa giá trị ghi sổ kế toán và giá trị cơ sở cho tính thuế khoản mục được trích khấu hao + Số khấu hao được phân bổ một cách hệ thống trong suốt thời gian sử dụng của TSCĐ . + Phương pháp khấu hao phản ánh cách thức tiêu dùng dự tính bao gồm các phương pháp: Khấu hao đường thẳng Khấu hao theo số dư giảm dần Tổng đơn vị sản phẩm + Đất đai nhà cửa là những tài sản có thể tách biệt được. Nhà cửa lànhững tài sản có thể tính khấu hao + Phương pháp khấu hao và tỷ lệ khấu hao cho từng loại tài sản Chuẩn mực kế toán quốc tế chỉ mang tính định hướng chung cho kế toán để làm sao có tính hài hoà các nội dung nguyên tắc kế toán giữa các quốc gia khác nhau Việc lựa chọn phương pháp khấu hao nào là tuỳ thuộc vào cách chọn lựa của các doanh nghệp khác nhau trong các quốc gia khác nhau làm sao cho phù hợp đảm bảo không vi phạm vào chuẩm mực chung. Trên đây là một số quy định chung về kế toán TSCĐ và phương pháp tính khấu hao TSCĐ . Đi vào nghiên cứu cụ thể về việc tính k._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc33787.doc
Tài liệu liên quan