Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới tại Công ty chứng khoán Habubank

Tài liệu Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới tại Công ty chứng khoán Habubank: LỜI MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài Trong thời gian qua, cùng với sự phát triển không ngừng về quy mô của thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam, là sự lớn mạnh của các tổ chức tài chính trung gian, đặc biệt là các công ty chứng khoán (CTCK). Sự trưởng thành của các công ty chứng khoán Việt Nam không chỉ thể hiện về sự tăng trưởng số lượng và quy mô vốn mà còn thể hiện rõ nét qua phương thức và cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Các CTCK cho thấy vai trò vô cùng quan trọng của mình đối với sự... Ebook Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới tại Công ty chứng khoán Habubank

doc83 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 05/08/2013 | Lượt xem: 581 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới tại Công ty chứng khoán Habubank, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
phát triển chung của nền kinh tế và của thị trường chứng khoán. Năm 2007 là một năm phát triển vượt bậc của thị trường chứng khoán. Điều này thể hiện trước hết ở quy mô của thị trường. Mục tiêu của Nhà nước là tới năm 2010, vốn hoá của thị trường chiếm 35% GDP. Nhưng riêng năm nay, tổng giá trị vốn hoá thị trường đã đạt trên 43% GDP. Sự trưởng thành vượt bậc của thị trường còn thể hiện ở sự gia tăng số lượng các công ty chứng khoán (hiện nay có khoảng trên 80 công ty chứng khoán hoạt động trên thị trường) và con số hơn 330.000 tài khoản so với hơn 100.000 tài khoản năm 2006. Mặc dù số lượng CTCK đi vào hoạt động năm 2007 tăng gấp 3-4 lần so với năm 2006, nhưng kết quả kinh doanh năm 2007 của nhiều công ty vẫn khá tốt. Sau quá trình tiếp thu kiến thức tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân, và một thời gian thực tập chuyên ngành tại Phòng Môi giới Công ty chứng khoán Ngân hàng TMCP nhà Hà Nội (CTCK Habubank), em đã có cơ hội tìm hiểu thực tiễn công việc, tổng quan về các phòng ban của CTCK Habubank nói chung và cụ thể về hoạt động của phòng môi giới của Công ty nói riêng. Sau hai năm đi vào hoạt động, hoạt động môi giới của CTCK Habubank đã dần khẳng định được vai trò của mình đối với hoạt động của toàn công ty và đã đạt được một số thành công nhất định. Cùng với sự phát triển ngày càng cao của thị trường chứng khoán và nhận thức của nhà đầu tư cũng dần được nâng cao thì việc nâng cao chất lượng của CTCK nói chung và hoạt động môi giới nói riêng là vô cùng quan trọng. Do đó em chọn nghiên cứu đề tài: “Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới tại Công ty chứng khoán Habubank” Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là những kiến thức cơ bản về hoạt động môi giới của công ty chứng khoán, bên cạnh đó là thực trạng chất lượng của hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán Habubank từ 1/1/2007 đến 31/12/2007. Mục đích nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề cơ bản sau: Hệ thống toàn bộ lý thuyết cơ bản về hoạt động môi giới của công ty chứng khoán. Tìm hiểu, đánh giá thực trạng chất lượng hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán Habubank. Từ những kết quả đánh giá hoạt động môi giới nói riêng và hoạt động của toàn công ty chứng khoán Habubank nói riêng để từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động môi giới của Công ty. Kết cấu đề tài Với phạm vi nghiên cứu và mục đích nghiên cứu như trên, do đó nội dung đề tài gồm các phần chính sau: Chương I: Hoạt động môi giới chứng khoán Chương II: Thực trạng chất lượng hoạt động môi giới cuả CTCK Habubank Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động môi giới của CTCK Habubank Do trình độ nhận thức của bản thân còn ở một mức độ nhất định, nên chuyên đề này không thể tránh khỏi những hạn chế trong quá trình đánh giá xem xét vấn đề, em rất kính mong các thầy cô giáo góp ý kiến để chuyên đề này có tính khả thi hơn. Em xin chân thành cảm ơn! CHƯƠNG I CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1.1 Khái quát về công ty chứng khoán Khái niệm, đặc điểm và mô hình tổ chức của công ty chứng khoán Khái niệm công ty chứng khoán Trong nền kinh tế thị trường, xã hội của sản xuất được phân chia thành hai cực: một cực có vốn tìm nơi đầu tư và một cực cần vốn để đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Thị trường chứng khoán (TTCK) ra đời là một kênh dẫn vốn trực tiếp từ cực có vốn này sang cực có vốn kia theo nguyên tắc đầu tư khi xã hội của sản xuất và lưu thông phát triển ở giai đoạn cao, và có đủ điều kiện về môi trường pháp lý, môi trường tài chính… Thị trường chứng khoán là một thị trường mà nơi đó diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các loại chứng khoán. Sản phẩm trên TTCK không giống với các hàng hoá thông thường khác mà chúng là những hàng hoá đặc biệt, là quyền sở hữu về tư bản gọi tắt là các chứng khoán. Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Một TTCK ra đời và hoạt động hiệu quả thì phải cần các chủ thể tham gia kinh doanh trên TTCK. Công ty chứng khoán ra đời là trung gian kết nối những người mua và bán chứng khoán với nhau nhằm đảm bảo TTCK hoạt động một cách có trật tự, công bằng và hiệu quả. Chính vì trung gian là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTCK nên phải có các nhà môi giới để đảm nhận khâu này. Ở giai đoạn đầu của TTCK, các nhà môi giới hoạt động cá nhân độc lập với nhau. Khi thị trường đã dần được hoàn thiện với sự tăng lên về khối lượng giao dịch, quy mô thì các nhà môi giới riêng lẻ có xu hướng tập hợp theo một tổ chức nhất định - chính là công ty chứng khoán. Ở Việt Nam, khái niệm về Công ty chứng khoán có thể tìm hiểu trong Luật chứng khoán số 70/2006/QH11 và được hiểu khái quát: Công ty chứng khoán là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn thành lập theo pháp luật Việt Nam để kinh doanh theo giấy phép kinh doanh do Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cấp. Mô hình tổ chức kinh doanh của CTCK có những đặc điểm khác nhau tuỳ vào sự phát triển khác nhau của từng khối thị trường. Có thể khái quát mô hình tổ chức kinh doanh của CTCK theo hai nhóm sau: Thứ nhất là mô hình CTCK đa năng: theo mô hình này, CTCK được tổ chức dưới hình thức một tổ hợp dịch vụ tài chính tổng hợp bao gồm kinh doanh chứng khoán, kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ tài chính. Theo đó các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ. Mô hình này được tổ chức dưới hai hình thức sau: Loại đa năng một phần: theo mô hình này các ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm phải thành lập công ty con hạch toán độc lập và hoạt động tách rời với hoạt động kinh doanh tiền tệ. Loại đa năng toàn phần: các ngân hàng được phép trực tiếp kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ cũng như các dịch vụ khác. Thứ hai là mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh: theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập và chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm trách, các ngân hàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán. Mỗi mô hình đều tồn tại những ưu, nhược điểm riêng của nó.Với mô hình thứ nhất, ưu điểm lớn nhất của nó là các ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh,nhờ đó giảm bớt rủi ro trong hoạt động kinh doanh bằng việc đa dạng hoá đầu tư. Ngoài ra, mô hình này còn có ưu điểm là tăng khả năng chịu đựng của ngân hàng trước những biến động trên thị trường tài chính. Nhưng cũng chính vì thế mà khả năng chuyên môn sẽ không sâu, là nguyên nhân dẫn đến thị trường chứng khoán kém phát triển vì các ngân hàng thường có xu hướng bảo thủ, thích hoạt động cho vay hơn là thực hiện các nghiệp vụ của thị trường chứng khoán. Đồng thời nó dễ gây nên tình trạng lũng đoạn thị trường khi điều kiện môi trường pháp luật không lành mạnh. Ưu điểm của mô hình CTCK chuyên doanh là hạn chế được rủi ro cho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho các CTCK đi vào chuyên môn hoá sâu trong lĩnh vực chứng khoán để thúc đẩy thị trường phát triển; tuy nhiên xu thế ngày nay lại chính là việc hình thành nên các tập đoàn tài chính khổng lồ. Đặc điểm công ty chứng khoán Hoạt động của công ty chứng khoán (CTCK) rất đa dạng và phức tạp với các hoạt động nghiệp vụ và phụ trợ như: môi giới, tự doanh, lưu ký chứng khoán, tư vấn tài đầu tư, quản lý danh mục... Do đó ở từng quốc gia khác nhau, thậm chí ngay cùng một nước, các CTCK mang những đặc trưng riêng bởi sản phẩm, dịch vụ…mà họ cung cấp. Ở Việt Nam, công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật doanh nghiệp. Luật chứng khoán ra đời năm 2006, và chính thức áp dụng từ 1/1/2007- là văn bản luật cao nhất quy định về chứng khoán và thị trường chứng khoán, quy định một số nghĩa vụ của một CTCK như: thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro và giám sát, ngăn ngừa những xung đột lợi ích trong nội bộ công ty và trong giao dịch với người có liên quan; quản lý tách biệt chứng khoán của từng nhà đầu tư, tách biệt tiền và chứng khoán của nhà đầu tư với tiền và chứng khoán của CTCK; ký hợp đồng bằng văn bản với khách hàng khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng, cung cấp đầy đủ thông tin cho khách hàng; thu thập tìm hiểu thông tin về tình hình tài chính, mục tiêu đầu tư, khả năng chấp nhận rủi ro của khách hàng… Các công ty chứng khoán ở các nước hay trong cùng một nước vẫn được tổ chức khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất công việc của mỗi công ty hay mức độ phát triển của thị trường. Tuy nhiên chúng vẫn có những đặc trưng cơ bản sau: Công ty chứng khoán đóng vai trò là một tổ chức trung gian tài chính, thể hiện ở các khía cạnh Trung gian về thanh toán: do CTCK là một thành viên của hệ thống thanh toán lưu ký nên nó là một trung gian thanh toán.Chức năng này được thể hiện thông qua việc thanh toán giữa người phát hành và nhà đầu tư, giữa người mua và người bán. Nếu người mua và người bán cùng mở tài khoản và cùng lưu ký tại một công ty chứng khoán thì việc thanh toán sau giao dịch của họ đơn giản hơn rất nhiều. Trung gian về rủi ro: trên TTCK luôn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Các chủ thể tham gia vào TTCK như: các CTCK, các nhà đầu tư… luôn phải đối mặt với các rủi ro đó. Nhà đầu tư khi thực hiện kinh doanh chứng khoán trên TTCK có những rủi ro như: rủi ro trong sự tăng giảm giá chứng khoán, rủi ro trong khi giao dịch.… CTCK đóng vai trò là là người đứmg giữa và thực hiện các giao dịch cho khách hàng sẽ giúp nhà đầu tư phân tán rủi ro bằng việc đầu tư vào các chứng chỉ quỹ và trong giao dịch cũng có người được lợi và người gặp rủi ro. Trung gian giao dịch: xuất phát từ nhu cầu của những chủ thể có điều kiện về vốn nhưng trình độ, khả năng phân tích còn hạn chế nên quỹ đầu tư chứng khoán ra đời. Để thu hút được nguồn vốn hoạt động thì các quỹ này phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư và chủ sở hữu của các chứng chỉ này là các chủ thể trên. Hình thức hoạt động của các quỹ này là dùng một số lượng lớn vốn đầu tư vào một số loại chứng khoán với kỳ hạn và mức rủi ro khác nhau để kiếm lời. Trung gian về thông tin: với chức năng này, CTCK phải thu thập,tìm hiểu thông tin về tình hình tài chính, mục tiêu đầu tư, khả năng chấp nhận rủi ro với khách hàng; đảm bảo các khuyến nghị, tư vấn đầu tư của công ty cho khách hàng phải phù hợp với khách hàng đó (theo Luật chứng khoán). Bên cạnh đó, các CTCK phải công bố thông tin định kỳ về báo cáo tài chính theo quy định. Trung gian tín dụng: đối với các CTCK thuộc ngân hàng mẹ thì vai trò này được thể hiện rõ nhất. Vốn mà ngân hàng cho các nhà đầu tư vay để tham gia vào thị trường chính là vốn huy động từ các nhà đầu tư trước đó. Họ là người gắn kết các nhu cầu cần vốn (người bán chứng khoán) và nhu cầu của người cần đầu tư (người mua chứng khoán). Chuyên môn hoá và phân cấp quản lý Các CTCK chuyên môn hoá ở mức độ cao trong từng bộ phận, từng phòng ban, từng đơn vị kinh doanh nhỏ. Một số bộ phận trong tổ chức công ty nhiều khi không phụ thuộc lẫn nhau (ví dụ như bộ phận môi giới và bộ phận tự doanh, hay bộ phận bảo lãnh phát hành…) Nhân tố con người Trong CTCK, quan hệ với khách hàng có tầm quan trọng hàng đầu. Sản phẩm càng trừu tượng thì nhân tố con người càng quan trọng. Việc CTCK tạo được niềm tin với các nhà đầu tư, đồng thời họ thích sử dụng các dịch vụ của công ty sẽ đem lại cho công ty một nguồn doanh thu vô cùng lớn. Ảnh hưởng của thị trường tài chính Thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng có ảnh hưởng lớn tới chuyên môn, sản phẩm, dịch vụ và khả năng thu lợi nhuận của các công ty chứng khoán. Với những mức độ phát triển khác nhau của thị trường, cơ cấu tổ chức và các sản phẩm cũng khác nhau để đáp ứng nhu cầu riêng. Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán Cơ cấu tổ chức của CTCK phụ thuộc vào loại hình nghiệp vụ chứng khoán mà công ty thực hiện cũng như quy mô hoạt động kinh doanh chứng khoán của nó. Tuy nhiên, chúng đều có đặc điểm chung là hệ thống các phòng ban chức năng được chia ra làm hai khối tương ứng với hai khối công việc mà CTCK đảm nhận: khối I và khối II. Trong đó,khối I là khối tư vấn và nghiên cứu- phân tích, khối II là khối dịch vụ và hỗ trợ. Hai khối này thực hiện các công việc yểm trợ cho nhau. Một số đặc điểm khác CTCK là một tổ chức trung gian đặc biệt hoạt động trên lĩnh vực khá nhạy cảm nên chịu sự kiểm soát song hành của Nhà nước và hiệp hội kinh doanh chứng khoán. Ở Việt Nam, CTCK chịu sự quản lý của Bộ tài chính và Uỷ ban chứng khoán Nhà nước. Nhà nước kiểm soát các CTCK bằng các văn bản quy phạm pháp luật như các Nghị định, Luật chứng khoán và các thông tư hướng dẫn như: CTCK phải đảm bảo các yêu cầu về vốn, cơ cấu vốn và nguyên tắc hạch toán, báo cáo theo quy định của UBCKNN; CTCK phải tách bạch tiền và chứng khoán của khách hàng với tài sản của mình, không được dùng chứng khoán của khách hàng làm vật thế chấp trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản; CTCK không được dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính để kinh doanhm ngoại trừ trường hợp số tiền đó phục vụ cho giao dịch của khách hàng… 1.1.1.3 Phân loại công ty chứng khoán Trên thị trường chứng khoán tồn tại rất nhiều loại hình công ty chứng khoán hoạt động. Tuỳ vào từng tiêu thức mà người ta có các các phân loại khác nhau. Nếu dựa trên tiêu thức lĩnh vực kinh doanh của CTCK , có quan điểm phân chia CTCK thành các loại sau: Công ty môi giới chứng khoán là CTCK chỉ thực hiện việc trung gian, mua bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng. Công ty bảo lãnh phát hành chứng khoán là CTCK có lĩnh vực hoạt động chủ yếu là thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh để hưởng phí hoặc chênh lệch giá. Công ty kinh doanh chứng khoán là CTCK chủ yếu thực hiện nghiệp vụ tự doanh, có nghĩa là bỏ vốn và tự và tự chịu trách nhiệm về hậu quả kinh doanh. Công ty trái phiếu là CTCK chuyên mua bán các loại trái phiếu. Công ty chứng khoán không tập trung là các CTCK hoạt động chủ yếu trên thị trường OTC và họ đóng vai trò là các nhà tạo thị trường. Nếu dựa trên tiêu thức là các loại hình tổ chức của CTCK thì hiện nay, có ba loại hình tổ chức cơ bản của CTCK, đó là: công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Công ty hợp danh là loại hình kinh doanh có từ 2 chủ sở hữu trở lên. Thành viên của CTCK hợp danh bao gồm: thành viên góp vốn và thành viên hợp danh. Các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của Công ty. Các thành viên góp vốn không tham gia điều hành công ty, họ chỉ phải chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp của mình đối với khoản nợ của công ty.Thông thường khả năng huy động vốn của công ty hợp danh Công ty cổ phần là một công ty pháp nhân độc lập với các chủ sở hữu công ty là các cổ đông. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán (cổ phiếu và trái phiếu) ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán hiện hành. Ưu điểm của công ty cổ phần là một loại hình tồn tại liên tục không phụ thuộc vào việc thay đổi cổ đông hoặc cổ đông nghỉ hưu hoặc qua đời. Rủi ro mà chủ sở hữu của công ty phải chịu được hạn chế ở mức nhất định. Công ty cổ phần là loại hình công ty có chế độ trách nhiệm cao nhất. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm trong phần vốn góp, ngoài ra họ không phải chịu bất cứ trách nhiệm nào về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Khi công ty bị phá sản, cổ đông là chủ sở hữu của công ty nên sẽ nhận tài sản sau cùng. Họ có thể không nhận được gì từ tài sản của công ty, song cũng không chịu trách nhiệm với công nợ của công ty. Chế độ trách nhiệm này tạo điều kiện cho sự tách biệt giữa sở hữu và quản lý. Với CTCK được tổ chức theo mô hình hình thức công ty cổ phần và được niêm yết tại sở giao dịch thì coi như họ đã được quảng cáo miễn phí. Công ty trách nhiệm hữu hạn: về cơ bản, công ty trách nhiệm hữu hạn giống với loại hình công ty hợp danh, chỉ khác với loại hình công ty này, trách nhiệm là hữu hạn với các thành viên. Ngoài trách nhiệm trên phần vốn góp, các thành viên chịu một phần trách nhiệm đối với một phần công nợ của công ty. Trách nhiệm này được ghi rõ trong điều lệ của công ty, được pháp luật bảo hộ. Cũng có loại công ty trách nhiệm hữu hạn một chủ, có nghĩa là, chỉ có một thành viên giữ vai trò điều hành công ty và chịu trách nhiệm vô hạn và đầy đủ đối với các hoạt động của công ty, còn các thành viên khác chỉ chịu hữu hạn trên phần vốn góp. Số lượng các thành viên của công ty bị giới hạn bởi pháp luật. Với công ty này, số vốn đóng góp của các thành viên phải được đóng đủ khi được thành lập và được ghi rõ trong điều lệ công ty. Công ty không được phép phát hành bất cứ một loại chứng khoán nào. Việc chuyển nhượng vốn góp giữa các thành viên được thực hiện tự do, còn đối với sự chuyển nhượng vốn góp cho người không phải là thành viên phải được sự nhất trí của đa số các thành viên theo luật định. Đây là loại hình công ty thích hợp với quy mô vừa và nhỏ. Các hoạt động cơ bản của công ty chứng khoán Theo nghị định 14 của Chính phủ số 14/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán quy định vốn pháp định cho các nghiệp vụ kinh doanh của CTCK, CTCK có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh CTCK nước ngoài tại Việt Nam là: Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng Việt Nam; Tự doanh chứng khoán: 100 tỷ đồng Việt Nam; Bảo lãnh phát hành chứng khoán : 165 tỷ đồng Việt Nam; Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng Việt Nam; Các CTCK phải có trụ sở, có trang thiết bị, thiết bị phục vụ cho kinh doanh chứng khoán, đối với nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán thì không phải đáp ứng các điều kiện về trang thiết bị. Sau đây là một số hoạt động cơ bản của CTCK: 1.1.2.1 Hoạt động nghiêp vụ Hoạt động môi giới chứng khoán Khi thị trường chứng khoán càng phát triển ở trình độ cao thì các sản phẩm và dịch vụ càng dồi dào về số lượng, đa dạng và phong phú về chủng loại, tinh tế và nhạy cảm trong vận hành chức năng. Theo đó, đòi hỏi về việc cung cấp cho người đầu tư những thông tin cần thiết những ý tưởng đầu tư, những lời khuyên mang tính thời điểm hay mang tính chiến lược, và giúp cho các nhà đầu tư thực hiện theo cách có lợi nhất, đòi hỏi phải có hoạt động môi giới chứng khoán phát triển mang tính chuyên nghiệp cao, hay nói cách khác, trở thành một nghề. Hoạt động môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian đại diện cho bên hay bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng. Theo đó, công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với kết quả giao dịch của mình. Với tư cách là khâu trung gian giúp thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá bằng cách rút ngắn khoảng thời gian tìm kiếm để gặp gỡ giữa người mua và người bán, hoạt động môi giới chứng khoán cho phép người mua trực tiếp thẩm định chất lượng bằng các giác quan của mình. Và trong những trường hợp nhất định, hoạt động môi giới sẽ trở thành người bạn, người chia sẻ những lo âu, căng thẳng và đưa ra những lời động viên kịp thời cho nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư có những quyết định tỉnh táo. b. Hoạt động tự doanh chứng khoán Tự doanh là việc các công ty chứng khoán tự tiến hành các hoạt động mua bán các chứng khoán cho chính mình. Hoạt động tự doanh của CTCK có thể được thực hiện trên các thị trường giao dịch tập trung hoặc trên thị trường OTC… Mục đích của hoạt động tự doanh của CTCK là thu lợi cho chính mình thông qua hành vi mua, bán chứng khoán với khách hàng. Nghiệp vụ này hoạt động song hành với nghiệp vụ môi giới, vừa phục vụ lệnh giao dịch cho khách hàng đồng thời cũng phục vụ cho chính mình. Vì vậy, trong quá trình hoạt động có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa thực hiện giao dịch cho khách hàng và cho bản thân công ty. Do đó, luật pháp của các nước đều yêu cầu tách biệt rõ ràng giữa các nghiệp vụ môi giới và tự doanh, CTCK phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh của mình. Tuy nhiên, để đảm bảo sự ổn định và tính minh bạch của thị trường, pháp luật của các nước đều yêu cầu các CTCK khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh phải đáp ứng một số yêu cầu nhất định như: Tách biệt quản lý: các CTCK phải có sự tách biệt giữa nghiệp vụ tự doanh và nghiệp vụ môi giới để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng trong hoạt động. Sự tách bạch này bao gồm cả yếu tố con người và các quy trình nghiệp vụ. Các CTCK phải có đội ngũ nhân viên riêng biệt để thực hiện nghiệp vụ tự doanh. Bên cạnh đó, các CTCK phải đảm bảo sự tách bạch giữa tài sản của khách hàng với tài sản của chính công ty. Ưu tiên khách hàng: pháp luật các nước nói chung cũng như pháp luật các nước nói riêng đều yêu cầu các CTCK phải tuân thủ nguyên tắc ưu tiên khách hàng khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh. Điều đó có nghĩa là lệnh giao dịch của khách hàng phải được xử lý trước lệnh tự doanh của công ty. Nguyên tắc này đảm bảo sự công bằng cho khách hàng trong quá trình giao dịch chứng khoán Bình ổn thị trường: bên cạnh hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán, các CTCK với khả năng chuyên môn và nguồn vốn lớn của mình có thể thông qua hoạt động tự doanh góp phần rất lớn trong việc điều tiết cung cầu, bình ổn giá cả của các loại chứng khoán trên thị trường. Các CTCK phải tuân thủ một số quy định như các giới hạn về đầu tư, lĩnh vực đầu tư… Mục đích của các quy định này là nhằm bảo đảm một độ an toàn nhất định cho các CTCK trong quá trình hoạt động, tránh sự đổ vỡ gây thiệt hại chung cho thị trường. Hoạt động tạo thị trường: các CTCK thông qua việc mua bán chứng khoán cho chính mình với các chứng khoán mới chưa có thị trường giao dịch để tạo thị trường cho các chứng khoán này, tạo tính thanh khoản cho chúng. Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán Muốn tiến hành các đợt chào bán chứng khoán ra công chúng một cách thành công thì các tổ chức phát hành phải cần đến các công ty chứng khoán tư vấn và thực hiện bảo lãnh, phân phối chứng khoán. Như vậy, hoạt động bảo lãnh phát hành là việc CTCK có chức năng bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu khi phát hành. Trên thị trường tài chính, ngoài công ty chứng khoán thực hiện bảo lãnh phát hành còn có các định chế tài chính khác cũng đảm nhiệm hoạt động này như ngân hàng đầu tư. Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán Do đặc điểm riêng trong ngành là giá cả chứng khoán luôn biến động nên hoạt động tư vấn chứng khoán rất khó khăn, đồng thời có thể xảy ra nhiều mâu thuẫn về lợi ích. Ở phần lớn các nước, người ta định nghĩa tư vấn chứng khoán là những hoạt động tư vấn về giá trị của chứng khoán nhằm mục đích thu phí. Đối với Việt Nam, việc quản lý các hoạt động tư vấn là cần thiết nhưng vô cùng khó khăn bởi trong điều kiện ban đầu của thị trường thì hệ thống pháp luật chưa thể chặt chẽ. Hoạt động chứng khoán được phân loại theo các tiêu chí sau: Theo hình thức của hoạt động tư vấn gồm tư vấn trực tiếp và tư vấn gián tiếp. Theo mức độ uỷ quyền của hoạt động tư vấn gồm tư vấn gợi ý và tư vấn uỷ quyền. Theo đối tượng của hoạt động tư vấn gồm tư vấn cho người phát hành và tư vấn đầu tư Nguyên tắc cơ bản của hoạt động đầu tư Không đảm bảo tính chắc chắn về giá trị chứng khoán: giá trị chứng khoán không phải một số cố định mà nó luôn luôn thay đổi theo các yếu tố kinh tế, tâm lý và diễn biến thực tế cuả thị trường. Luôn nhắc nhở khách hàng rằng những lời tư vấn của mình chỉ dựa trên cơ sở phân tích các yếu tố lý thuyết và những diễn biến quá khứ. Không dụ dỗ hoặc mời chào khách hàng mua, bán một loại chứng khoán nào đó… Hoạt động quản lý danh mục đầu tư chứng khoán Là nghiệp vụ quản lý vốn uỷ thác của khách hàng để đầu tư chứng khoán thông qua danh mục đầu tư nhằm sinh lợi mà vẫn bảo toàn vốn cho khách hàng. Danh mục đầu tư có thể do khách hàng yêu cầu hay có sự chấp thuận của khách hàng sau khi tư vấn.Lợi nhuận của công ty chứng khoán là từ quản lý danh mục đầu tư. Ở Việt nam thì nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư không phát triển như các nước khác trên thế giới. Luật chứng khoán ra đời đã tách nghiệpvụ này sang cho các quỹ đầu tư. Tuy nhiên, một số CTCK lớn vẫn hoạt động hiệu quả trong lĩnh vực này. Rất nhiều nhà đầu tư ở Việt Nam có vốn nhưng lại chưa có kiến thức chuyên sâu về thị trường chứng khoán nên họ tin tưởng giao phó tài sản của mình cho các CTCK và các quỹ đầu tư. Một danh mục đầu tư phải chứa nhiều chứng khoán với những mức độ rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng khác nhau nhằm đem lại sự an toàn cho nhà đầu tư. 1.1.2.2 Các hoạt động khác Hoạt động tín dụng: đây là hoạt động thông dụng tại các thị trường chứng khoán phát triển. Ở Việt Nam,hoạt động cho vay ký quỹ đã được áp dụng trong nhiều công ty chứng khoán. Lưu ký chứng khoán: CTCK thực hiện việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng thông qua các tài khoản lưu ký chứng khoán. Đây là quy định bắt buộc trong giao dịch chứng khoán, bởi vì giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung là hình thức giao dịch ghi sổ, khách hàng phải mở tài khoản lưu ký chứng khoán tại các CTCK. Thực hiện dịch vụ lưu ký chứng khoán cho khách hàng, CTCK sẽ nhận được các khoản phí lưu ký chứng khoán,phí gửi, phí rút và phí chuyển nhượng chứng khoán. SGDCK TP. HCM hiện nay có 20 thành viên lưu ký, trong đó có 17 thành viên lưu ký là các CTCK và 3 thành viên lưu ký là các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Quản lý thu nhập của khách hàng (quản lý cổ tức): Nghiệp vụ này của CTCK xuất phát từ nghiệp vụ quản lý hộ chứng khoán cho khách hàng. CTCK theo dõi tình hình thu lãi,cổ tức của chứng khoán khi đến hạn và đứng ra làm dịch vụ thu nhận và chi trả cổ tức cho khách hàng thông qua tài khoản của họ. Hoạt động của các CTCK trên thị trường chứng khoán vô cùng đa dạng, phụ thuộc vào sự phát triển của thị trường. Nghiệp vụ của CTCK thực hiện theo đó cũng phong phú, vừa có sự tách biệt đồng thời phải gắn kết, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển và hoàn thiện. Hoạt động môi giới đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự tồn tại của CTCK. Để hiểu rõ hơn về hoạt động môi giới, đề tài tiếp tục nghiên cứu ở phần sau đây. Chất lượng hoạt động môi giới của công ty chứng khoán 1.2.1 Hoạt động môi giới của công ty chứng khoán 1.2.1.1 Khái niệm, đặc điểm của hoạt động môi giới Theo Luật chứng khoán - văn bản luật cao nhất quy định về chứng khoán và thị trường chứng khoán thì “Môi giới chứng khoán là việc công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng.” Phân biệt hoạt động môi giới của CTCK và hoạt động của cá nhân nhà môi giới: Hoạt động môi giới của CTCK Một trong các nguyên tắc căn bản vận hành thị trường chứng khoán là nguyên tắc trung gian, thể hiện rõ nét nhất với vai trò và hoạt động của các công ty chứng khoán. Hoạt động môi giới của CTCK là một trong số các hoạt động mà một CTCK tiến hành nhằm kinh doanh trên TTCK, và nó đã chính thức trở thành một nghề. Dù hoạt động ở thị trường nào thì những nhà môi giới chuyên nghiệp này phải được chọn lọc, đáp ứng đủ yêu cầu, phải đăng ký và cấp phép hành nghề thì mới được tiến hành hoạt động môi giới. Do những đòi hỏi như vậy mà môi giới đã trở thành một nghề chính là hoạt động môi giới của các CTCK. Hoạt động của cá nhân nhà môi giới Cá nhân nhà môi giới hoạt động độc lập trên thị trường cũng có vai trò là những người tạo lập thị trường và góp phần vào sự vận hành tốt cho TTCK. Họ làm việc để hưởng phí từ khách hàng của họ hoặc ăn chia khoản phí thu được giữa CTCK với khách hàng. Theo Luật chứng khoán thì những người làm việc ngoài CTCK, công ty quản lý quỹ cũng được thi để lấy chứng chỉ hành nghề chứng khoán nếu có đủ chứng chỉ đào tạo. Tuy nhiên, hiện nay, quy chế về người hành nghề chứng khoán tại Việt Nam vẫn chưa được ban hành. Các loại hình môi giới chứng khoán Hoạt động môi giới trên sàn giao dịch Sàn giao dịch có thuận lợi thông tin về giá cả của các chứng khoán được phổ biến trên các phương tiện, dễ dàng có thể truy cập tìm hiểu. Khi giao dịch, các lệnh của các nhà đầu tư được các nhân viên môi giới của các CTCK tiếp nhận, kiểm tra và nhập vào hệ thống của sàn giao dịch. Tồn tại các loại hình môi giới sau: Môi giới thông thường: là các nhà môi giới thực hiện các chức năng là một đại diện cho khách hàng trong việc mua bán chứng khoán và hưởng phí môi giới. Môi giới lập giá: có chức năng là duy trì thị trường liên tục về loại chứng khoán mà họ phụ trách, do đó họ thực hiện hai hoạt động chính là môi giới và tự doanh. Do phải duy trì thị trường liên tục nên khi thị trường không có người mua thì họ phải đóng vai trò là người mua và khi không có người bán thì họ phải là người bán. Môi giới hai đô la: chính là những người môi giới làm việc cho chính họ và hưởng hoa hồng theo dịch vụ. Họ phải tự bỏ tiền ra thuê chỗ t ại sở giao dịch giống như các CTCK thành viên khác.Vì các sở giao dịch luôn nhộn nhịp, số lượng lệnh giao dịch của nhà đầu tư nhiều lúc quá tải mà các nhà môi giới của các công ty không thể làm xuể. Khi đó các CTCK sẽ hợp đồng với các nhà môi giới độc lập để thực hiện lệnh cho khách hàng của mình và trả cho những nhà môi giới này một khoản tiền nhất định. Đầu tiên các nhà môi giới này được trả hai đô la cho một lô chứng khoán, nên người ta gọi là môi giới hai đô la. Hoạt động tạo lập thị trường trên thị trường OTC Mục tiêu của các sở giao dịch là tạo lập một môi trường giao dịch chứng khoán an toàn và hiệu quả, trong đó các nhà đầu tư phải được đối xử công bằng, được cung cấp thông tin tương xứng nhằm hỗ trợ kịp thời cho các quyết định đầu tư. Đối với các chứng khoán không niêm yết và được giao dịch trên thị trường phi tập trung. Sau khi nhà đầu tư đặt lệnh mua, bán chứng khoán nào đó trên OTC, nhà môi giới sẽ chuyển lệnh này đến nhà kinh doanh (thuộc bộ phận kinh doanh của công ty môi giới). Nhà kinh doanh sẽ tìm kiếm người có thể bán hoặc mua số chứng khoán đó. Thực tế có rất nhiều nhà môi giới sẵn sàng đặt bán một loại chứng khoán trên thị trường OTC và như vậy, có thể có rất nhiều nhà tạo lập thị trường cho chứng kho._.án đó với mức thách giá là khác nhau. Nhà kinh doanh bắt đầu thương lượng về giá cả của chứng khoán đó với nhà tạo lập thị trường để có thể đạt mức giá tối ưu. Giao dịch sẽ được thực hiện khi nhà kinh doanh tìm được nhà tạo lập thị trường với mức giá thấp nhất. Vai trò của nhà tạo lập thị trường thể hiện thông qua các hoạt động như: duy trì tính linh hoạt của thị trường đối với một loại chứng khoán khi chứng khoán đó được phát hành; thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư tới một loại chứng khoán không niêm yết trên thị trường; tăng tính linh hoạt của thị trường đối với một loại chứng khoán khi tăng số lượng các nhà tạo lập thị trường… Đặc điểm hoạt động môi giới Hoạt động môi giới chứng khoán là một trong những hoạt động chủ chốt của CTCK. Quan hệ giữa CTCK và người môi giới thể hiện ở chỗ CTCK thực hiện hoạt động môi giới bởi vai trò chính của nó trên TTCK là trung gian giữa người mua và người bán, và chính những người môi giới thực hiện hoạt động này; đồng thời hoạt động môi giới cũng đem lại cho CTCK khoản doanh thu lớn từ phí môi giới của các nhà đầu tư. Quan hệ giữa người môi giới và khách hàng thể hiển ở việc họ cung cấp cho khách hàng những thông tin đầu tư, các sản phẩm dịch vụ về chăm sóc khách hàng, phân tích đầu tư… để hưởng phí; đồng thời nhà đầu tư tìm tới nhà môi giới để có các ý tưởng đầu tư, những thông tin cần thiết, những lời khuyên mang tính thời điểm… và trả tiền cho những lợi ích đó. Môi giới chứng khoán là một trong những hoạt động nghiệp vụ đặc trưng và cơ bản của CTCK. Khác với nghề môi giới trong các lĩnh vực khác, môi giới chứng khoán là loại hoạt động chuyên nghiệp mang tính nhà nghề cao, đòi hỏi một chất lượng đặc biệt về kỹ năng, nghiệp vụ. Người làm nghề môi giới phải lao động cật lực nhưng bù lại họ có một thù lao xứng đáng. Họ phải đáp ứng được những phẩm chất như kiên nhẫn, giỏi phân tích tâm lý và ứng xử. Những nỗ lực cá nhân là quyết định, đồng thời không thể thiếu sự hỗ trợ của công ty trong việc cung cấp thông tin và kết quả phân tích cũng như việc thực hiện các lệnh của khách hàng. 1.2.1.2 Các kỹ năng của người môi giới chứng khoán Xuất phát từ yêu cầu và đặc điểm của công việc đòi hỏi nghề môi giới phải có những phẩm chất, tư cách đạo đức, kỹ năng mẫn cán trong công việc và với thái độ công tâm, cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất. Chính vì thế mà nghề môi giới đòi hỏi phải nắm vững và sử dụng được thành thục bốn kỹ năng cơ bản. Những kỹ năng này không tách rời nhau mà gắn bó, hỗ trợ cho nhau trong toàn bộ quá trình hành nghề chứng khoán. Đó là: kỹ năng truyền đạt thông tin, kỹ năng tìm kiếm khách hàng, kỹ năng khai thác thông tin ở khách hàng và kỹ năng bán hàng. Thứ nhất về kỹ năng truyền đạt thông tin: khi tiếp xúc với khách hàng cũng như bản thân, thái độ hay phẩm chất của người môi giới được truyền đạt rõ ràng. Để thành công trong việc cung ứng các dịch vụ mua bán chứng khoán, người môi giới phải luôn đặt khách hàng kên trên hết và doanh thu của mình là yếu tố thứ yếu. Đây là điểm then chốt trong hoạt động dịch vụ tài chính và phải được thể hiện ngay từ khi tiếp xúc với khách hàng. Thứ hai là kỹ năng tìm kiếm khách hàng: mỗi người môi giới với các phong cách và tư duy làm việc khác nhau dẫn đến tồn tại nhiều cách để tìm kiếm khách hàng. Có thể khái quát thành 6 phương pháp cơ bản sau: những đầu mối gây dựng từ công ty hoặc các tài khoản chuyển nhượng lại, những lời giới thiệu khách hàng, mạng lưới kinh doanh, các chiến dịch viết thư, các cuộc hội thảo, gọi điện làm quen. Kỹ năng khai thác thông tin ở khách hàng: để nắm bắt được nhu cầu của các nhà đầu tư thì một trong những nguyên tắc trong hành nghề môi giới là phải tìm hiểu khách hàng để nắm bắt được khả năng tài chính, mức độ chấp nhận rủi ro của khách hàng. Kỹ năng bán hàng: người môi giới không chỉ cần chuẩn bị đầy đủ các kiến thức về thị trường mà họ còn phải hoàn thiện các kỹ năng giao tiếp của mình như: khả năng thuyết trình nắm bắt được tâm lý của người mua và bán chứng khoán, khả năng truyền đạt thông tin… để khách hàng tin tưởng và sử dụng sản phẩm mà công ty mình cung cấp. Ngoài ra các dịch vụ sau bán hàng cũng vô cùng quan trọng vì qua đó, người môi giới củng cố được mối quan hệ lâu dài với khách hàng. Vai trò của hoạt động môi giới Với tư cách là một thể chế bậc cao của nền kinh tế thị trường, một trong những đặc trưng của thị trường chứng khoán là nó hoạt động theo nguyên tắc trung gian. Theo nguyên tắc này, các giao dịch trên thị trường bắt buộc phải thực hiện qua các CTCK và nhân viên môi giới chứng khoán. Môi giới chứng khoán ở đây được hiểu như là hoạt động của hai yếu tố này, trong sự tương quan chặt chẽ với nhau và với một đối tác chung là khách hàng- người đầu tư, để tác động tới sự vận hành và phát triển của TTCK. Vai trò của môi giới chứng khoán được nghiên cứu dưới các khía cạnh sau: Với thị trường chứng khoán Phát triển các sản phẩm dịch vụ trên thị trường: hoạt động môi giới cung cấp đến cho khách hàng những hàng hoá, dịch vụ, và xem thị trường cần những loại hàng hoá với chất lượng như thế nào để từ đó cung cấp những ý tưởng thiết kế ra những sản phẩm và dịch vụ mới tới khách hàng. Nâng cao uy tín của thị trường chứng khoán trong nước đối với các chủ thể tham gia thị trường, đặc biệt là các CTCK và các nhà đầu tư nước ngoài. Hoạt động môi giới có hiệu quả và thực sự chuyên nghiệp sẽ khiến các nhà đầu tư nước ngoài tham gia nhiều hơn vào TTCK. Với công ty chứng khoán Hoạt động môi giới đóng vai trò quan trọng trong hoạt động chung của CTCK. Với chức năng chính là cung cấp dịch vụ với hai tư cách: nối liền khách hàng với bộ phận nghiên cứu đầu tư và nối liền giữa người bán với người mua để hưởng phí thì hoạt động môi giới đã tạo ra một khoản thu nhập rất lớn cho CTCK. Đồng thời góp phần đa dạng hoá các hoạt động của CTCK bằng việc thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư tới công ty. Bên cạnh đó, hoạt động môi giới còn góp phần giúp CTCK phát triển quan hệ với các tổ chức khác, các CTCK khác cũng thực hiện hoạt động này trên TTCK. Góp phần nâng cao uy tín của CTCK thể hiện ở việc khi chất lượng của hoạt động môi giới của công ty thực sự đem lại sự thoả mãn cho khách hàng thì uy tín của công ty cũng ngày một cao, được đánh giá cao trên TTCK chính là một ưu thế rất lớn khi mà TTCK ngày một khắc nghiệt với việc kinh doanh lớn với các CTCK. Góp phần phát triển các hoạt động khác của CTCK: hoạt động môi giới luôn gắn kết chặt chẽ với các hoạt động khác của công ty. Chúng hỗ trợ cho nhau để đem tới cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất. Do đó, khi chất lượng của hoạt động môi giới càng được nâng cao thì đòi hỏi các hoạt động khác cũng phải được hoàn thiện và nâng cao hơn để đem lại sự hoạt động hiệu quả nhất cho công ty. Với nhà đầu tư Thông qua các nhà môi giới chứng khoán, cả người mua và người bán không cần phải mất nhiều thời gian,tiền bạc, công sức để tìm được các đối tác và loại chứng khoán phù hợp với mục đích của mình. Mặt khác, đặc trưng của TTCK là lợi nhuận cao đi kèm với rủi ro cao, các chứng khoán có mức sinh lợi càng cao thì mức độ rủi ro của nó càng cao, đòi hỏi nhà đầu tư phải có kiến thức và sự thận trọng khi tham gia thị trường. Sự hiện diện của các nhà môi giới giúp cho họ có thêm một kênh để tư vấn, thẩm định chất lượng hàng hóa chứng khoán giúp họ để tìm ra loại chứng khoán nào phù hợp với yêu cầu. Mặt khác, với các nhà phát hành thì họ không phải mất quá nhiều thời gian và chi phí để tìm ra các nhà đầu tư muốn mua chứng khoán của mình. Các nhà môi giới còn thay mặt CTCK cung cấp thông tin liên quan đến thị trường, đến các loại chứng khoán niêm yết và các thông tin khác một cách có chọn lựa đến các nhà đầu tư. Dựa vào những thông tin này mà họ tiến hành phân tích và đưa ra các quyết định về mua hay giữ chứng khoán theo các giá phù hợp. Nhà đầu tư còn tìm đến các nhà môi giới để tìm hiểu về các dịch vụ của công ty mình mở tài khoản và từ đó tiến tới sử dụng các dịch vụ này một cách có hiệu quả nhất. Chất lượng hoạt động môi giới của công ty chứng khoán 1.2.2.1 Khái niệm chất lượng hoạt động môi giới của công ty chứng khoán Khi thị trường chứng khoán ra đời và ngày càng phát triển thì hoạt động môi giới cũng không ngừng được nâng cao. Hoạt động này ra đời xuất phát từ đòi hỏi khách quan của thị trường và có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của TTCK. Chất lượng của hoạt động môi giới được hiểu là những lợi ích và giá trị mà nó đã đem lại ở mức độ nào cho các chủ thể tham gia trên TTCK. Có thể đứng trên nhiều giác độ để xem xét chất lượng hoạt động môi giới của một CTCK như với các nhà đầu tư, với thị trường chứng khoán, và với chính công ty chứng khoán đó. Họ đứng trên những lợi ích và quan điểm khác nhau để đánh giá, xem xét. Do đó có thể hiểu chất lượng hoạt động môi giới ở các khía cạnh sau: Với các nhà đầu tư, hoạt động môi giới được xem là có chất lượng cao khi nhà môi giới cung cấp được cho họ những dịch vụ tốt nhất mà khoản hoa hồng phải trả lại thấp. Các nhà đầu tư sẽ có nhiều cơ hội để đầu tư một cách có hiệu quả với một thủ tục gọn nhẹ. Ngoài ra, họ có cơ hội được hưởng thêm nhiều dịch vụ đi kèm như được cầm cố chứng khoán, được hưởng các mức phí ưu đãi. Người môi giới phải đáp ứng được các nhu cầu của khách hàng khi cần thiết, trở thành người bạn, người chia sẻ những lo âu căng thẳng và đưa ra những lời khuyên kịp thời. Hoạt động môi giới có chất lượng đứng trên khía cạnh của một công ty chứng khoán phản ánh từ nguồn thu từ hoạt động này ổn định và tăng trưởng theo sự phát triển của thị trường. Dựa vào tính chất của hoạt động môi giới mà vị thế của CTCK ngày càng được nâng cao và các mối quan hệ ngày càng được mở rộng. Đối với các tiêu chí và kỹ năng của một người môi giới: trên cơ sở các kiến thức cơ bản để hành nghề môi giới, những nhân viên môi giới phải không ngừng trau dồi kiến thức để đem đến cho khách hàng những sản phẩm tốt nhất. Ngoài các phẩm chất cần có như kiên nhẫn, giỏi phân tích tâm lý và ứng xử zthì các kỹ năng khác như kỹ năng truyền đạt thông tin, kỹ năng tìm kiếm khách hàng, kỹ năng khai thác thông tin… cũng phải không ngừng được hoàn thiện và nâng cao. Với thị trường chứng khoán: hoạt động môi giới được xem là chất lượng khi nó không ngừng góp phần phát triển các dịch vụ trên thị trường chứng khoán. Khi nguồn vốn được điều hoà trên thị trường một cách ổn định dựa vào các nhà môi giới, đồng thời thêm nhiều tài sản tài chính được tăng thêm tính thanh khoản thì khi ấy hoạt động môi giới được coi là có hiệu quả và chất lượng. Như vậy, để chất lượng hoạt động môi giới của CTCK đạt tới tiêu chuẩn tốt nhất thì hoạt động này phải kết hợp được các yếu tố mà nhà đầu tư, CTCK, TTCK, người môi giới đòi hỏi để đạt tới một chất lượng tốt nhất, chuyên nghiệp nhất và tạo được uy tín trên thị trường. 1.2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động môi giới của công ty chứng khoán Chất lượng hoạt động môi giới của một công ty chứng khoán phản ánh dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Để đánh giá được nó thì đề tài đưa ra một số chỉ tiêu sau: Chỉ tiêu định tính Thứ nhất là dựa vào mức độ hài lòng của khách hàng. Khi hoạt động môi giới đem lại cho khách hàng sự thoả mãn từ các khâu mở tài khoản cho khách hàng, đến các khâu tiếp theo như nhận lệnh của khách hàng, thực hiện lệnh, xác nhận kết quả khớp lệnh, thanh toán… và các dịch vụ hỗ trợ đầu tư khác như cầm cố chứng khoán, ứng trước tiền bán, thông tin doanh nghiệp…thì khi đó chất lượng hoạt động môi giới của CTCK đã được khẳng định. Thứ hai là dựa vào mức độ tin tưởng, thân thiện của khách hàng. Khi hoạt động môi giới của CTCK hoạt động có hiệu quả và đem lại niềm tin cho khách hàng, đồng thời họ sẽ thân thiện đón nhận những sản phẩm và dịch vụ mới của công ty thì đó cũng chính là chỉ tiêu đánh giá được chất lượng của hoạt động môi giới. Những chỉ tiêu này mang tính cảm tính, được phản ánh qua thăm dò, điều tra, khảo sát, phỏng vấn các nhà đầu tư. Thông thường, các CTCK có bộ phận điều tra khảo sát hoặc sổ góp ý, hoặc phần trao đổi trên web để các nhà đầu tư phản ánh thông tin về chất lượng và thái độ phục vụ hoạt động môi giới của công ty. Bên cạnh đó, chất lượng của hoạt động môi giới có thể thông qua việc đánh giá của các nhà quản lý thị trường, của các chuyên gia, đánh giá của Hiệp hội… Chỉ tiêu định lượng Thứ nhất là doanh thu từ phí của hoạt động môi giới chứng khoán. Để đánh giá hoạt động của một CTCK có hiệu quả hay không thì yếu tố này là vô cùng quan trọng bởi vì doanh thu chủ yếu của các CTCK ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới là từ hoạt động môi giới đem lại. Phí giao dịch mà các nhà đầu tư phải trả nhiều hay ít phụ thuộc vào sự thành công của các giao dịch mà các nhà môi giới đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện. Vì vậy doanh thu lớn chứng tỏ hoạt động môi giới của công ty có hiệu quả. Doanh thu này càng lớn, càng tăng trưởng một cách đều đặn tức là chất lượng của hoạt động môi giới càng được nâng cao. Thứ hai, ta xét tới số lượng tài khoản mở tại công ty chứng khoán. Đây là chỉ tiêu phản ánh tổng quan nhất chất lượng của hoạt động môi giới đang ở mức độ nào. Một công ty chứng khoán không thể hoạt hoạt động ổn định nếu như số lượng tài khoản giao dịch quá ít, điều đó phản ánh hoạt động môi giới của công ty là không hiệu quả. Vì thế các CTCK luôn tìm mọi cách để thu hút các cá nhân đầu tư đến mở tài khoản và giao dịch tại công ty mình mà chất lượng của hoạt động mô giới chính là cầu nối giữa các dịch vụ của công ty và khách hàng. Thứ ba là vị thế của công ty trên thị trường mà thước đo là thị phần của công ty so với các công ty khác.Hiện nay ở Việt Nam, số lượng các nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán còn hạn chế. Các công ty chứng khoán để tồn tại thì không ngừng phải khẳng định vị thế của mình. Hoạt động môi giới của công ty đó chính là thước đo và ngược lại, công ty nào có thị phần nhiều hơn chứng tỏ chất lượng của hoạt động môi giới càng cao. Ở Việt Nam hiện nay, một số công ty có thị phần lớn như CTCK Sài Gòn, CTCK Bảo Việt… Thứ tư là biểu phí môi giới cạnh tranh để bắt đầu tìm đến CTCK nào để giao dịch thì yếu tố đầu tiên mà khách hàng xem xét chính là biểu phí môi giới. Một biểu phí cao hơn tương đối so với các CTCK khác sẽ làm giảm đáng kể tính cạnh tranh của nghiệp vụ môi giới chứngkhoán và điều đó sẽ làm giảm doanh thu từ hoạt động này cho CTCK. Các nhân tố ảnh hưởng tới việc nâng cao chất lượng hoạt động mô giới của công ty chứng khoán Các nhân tố chủ quan Đây là các xuất phát từ nội tại công ty, từ bản chất của hoạt động môi giới và công ty có thể tự điều chỉnh hay khắc phục bằng cách tác động trực tiếp. Các nhân tố này chỉ tác động tới một công ty cụ thể nào đó.Bao gồm các nhân tố: Mô hình tổ chức và cách thức quản lý Yếu tố này rất quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của công ty. Công ty tổ chức theo mô hình công ty cổ phần hay công ty trách nhiệm hữu hạn phải phù hợp với điều kiện của những người muốn thành lập, vào khả năng huy động vốn và hình thức sở hữu của công ty đó. Theo đó mà cách thức tổ chức và quản lý các phòng ban cũng khác nhau. Mô hình càng gọn nhẹ nhưng hoạt động có hiệu quả tức là các hoạt động của nó cũng đang phối hợp với nhau một cách nhịp nhàng. Hoạt động môi giới sẽ đem lại chất lượng cao khi cách thức quản lý và tổ chức của công ty chuyên nghiệp và chặt chẽ. Ngược lại, mô hình quản lý quá cồng kềnh sẽ là một bất lợi đối với việc quản lý, và có thể sẽ không đưa được ra những hướng giải quyết nhanh chóng để bộ máy vận hành một cách trôi chảy; và do đó ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động môi giới của công ty. Chiến lược kinh doanh của công ty Đó là những kế hoạch dài hạn mà trong năm, mười năm tới công ty sẽ thực hiện. Nó bao gồm những kế hoạch phát triển bộ phận chủ chốt nào, hướng tới những mục tiêu nào để vị thế của công ty ngày càng được nâng tầm. Hoạt động môi giới là một hoạt động quan trọng của bất kỳ một CTCK nào, như vậy chiến lược phát triển công ty trong tương lai chắc chắn không thể tách rời chiến lược phát triển hoạt động này. Những mục tiêu mà công ty hướng tới có sát với khả năng thực tế hay không, có phù hợp với hoàn cảnh và diễn biến thị trường không, có sát với khả năng hiện tại của công ty hay không… đều rất quan trọng với việc nâng cao chất lượng của hoạt động môi giới. Chính vì thế mà một CTCK không có những chiến lược cụ thể nhằm phát triển các hoạt động của mình sẽ dẫn đến tình trạng công ty đó sẽ mất vị thế trên thị trường và có thể phải sát nhập cùng công ty khác để có thể tiếp tục đứng trên TTCK. Trong chiến lược phát triển của CTCK Habubank thì khách hàng luôn được đặt ở vị trí hàng đầu. Điều này cho thấy công ty sẽ luôn cố gắng nỗ lực vì quyền lợi của khách hàng, và như vậy sẽ tạo uy tín với nhà đầu tư. Bên cạnh đó, CTCK Habubank sẽ liên tục mở rộng quy mô hoạt động để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng, phát triển đa dạng loại hình dịch vụ, hiện đại hóa phần mềm quản lý nhằm hỗ trợ các giao dịch tự động… Như vậy trong chiến lược phát triển của CTCK Habubank thì hoạt động môi giới cũng đóng vai trò quan trọng trong đó. Trình độ của đội ngũ nhân viên Bên cạnh các yếu tố trên thì nguồn nhân lực và trình độ của họ là vô cùng quan trọng trong hoạt động của công ty nói chung và hoạt động môi giới nói riêng. Nhân viên là những người trực tiếp vận hành công việc, và công việc có hiệu quả hay không phụ thuộc vào quá trình họ làm việc có hiệu quả hay không. Môi giới là một hoạt động mà trong đó yếu tố con người là vô cùng quan trọng. Trình độ hiểu biết và các kỹ năng làm việc, tư cách đạo đức nghề nghiệp, tuân thủ pháp luật là những yếu tố hình thành nên một người môi giới chuyên nghiệp.Việc nâng cao chất lượng của hoạt động môi giới cũng chính là nâng cao các yếu tố đó của một nhà môi giới. Trong chiến lược của CTCK Habubank thì yếu tố duy trì, phát triển nguồn nhân lực có chuyên môn cao là mục tiêu quan trọng thứ hai của Công ty. Nhân viên của Công ty sẽ không ngừng được đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn, phát triển kỹ năng đa dạng nhằm thích nghi với nhiều biến cố có thể xảy ra. Và nguồn nhân lực sẽ khoong ngừng được tuyển dụng và đào tạo nhằm đảm bảo nhu cầu phát triển của Công ty và của TTCK. Như vậy, trình độ của đội ngũ nhân viên CTCK Habubank là một trong những yếu tố quan trọng quyết định tới chất lượng hoạt động của toàn CTCK Habubank nói chung và của Phòng môi giới nói riêng. Cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật Thị trường chứng khoán ra đời và phát triển như ngày nay trải qua rất nhiều giai đoạn thăng trầm. Thông tin mà nhà đầu tư được cung cấp ngày nay vô cùng đa dạng nhờ tiến bộ của khoa học kỹ thuật, của công nghệ thông tin. Nhà môi giới không ngừng phải cập nhật thông tin để thực hiện các nghiệp vụ của mình một cách tốt nhất. Các CTCK có các máy móc, thiết bị càng hiện đại thì hỗ trợ càng hiệu quả cho hoạt động môi giới. Do đó chất lượng của hoạt động môi giới sẽ được nâng cao nếu như công ty đó không ngừng đổi mới phù hợp với trình độ phát triển của thị trường và nhận thức của nhà đầu tư. Bởi vậy mà những công ty chưa chú trọng đến vấn đề này sẽ là một thiệt thòi lớn trong việc thu hút ngày càng nhiều nhà đầu tư đến với mình. Hệ thống công nghệ thông tin của rất nhiều các CTCK khác vô cùng hiện đại như CTCK FPT, CTCK An Bình… Họ đầu tư hàng tỷ đô la vào việc nâng cao hệ thống nhằm đưa ra nhiều kênh mà nhà đầu tư có thể tiếp xúc với thông tin về TTCK và chứng khoán. CTCK Habubank lại chưa có những công nghệ hiện đại này, trang web chỉ là điểm tin trên thị trường, chưa có dịch vụ tra cứu và nhập lệnh qua mạng. Điều này cũng gây ra rất nhiều bất lợi cho Công ty so với các CTCK khác 1.3.1.5 Nhân tố nguồn vốn Hoạt động chứng khoán cũng như các hoạt động khác phải cần có nguồn vốn để duy trì hoạt động và có những điều chỉnh hợp lý với sự biến động của thị trường. Theo Luật chứng khoán, để thực hiện hoạt động môi giới thì một CTCK phải có vốn pháp định là 25 tỷ VNĐ. Bên cạnh đó, các hoạt động nhờ sự phát triển của mình cũng không ngừng nâng cao chất lượng để đem về những nguồn thu lớn cho công ty, bổ sung vào nguồn vốn, giúp công ty mở rộng quy mô, tăng vốn pháp định lên gấp hai, gấp ba... Nguồn vốn lớn phản ánh hoạt động đó có quy mô và hiệu quả. Do đó một công ty chứng khoán có nguồn vốn lớn có thể ngầm hiểu là quy mô và tính chuyên nghiệp của các hoạt động cao. Các công ty chứng khoán lớn như SSI, Công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt.. đều có số vốn điều lệ rất lớn như: SSI là 500 tỷ đồng, Bảo Việt là 450 tỷ đồng. Những con số này cũng phản ánh phần nào quy mô và hoạt động của toàn công ty cũng như các hoạt động nghiệp vụ. 1.3.1.6 Sự phát triển của các hoạt động khác Hoạt động phân tích, tư vấn: sẽ cung cấp cho hoạt động môi giới những thông tin cần thiết để họ truyền tải đến khách hàng, giúp khách hàng có những quyết định đầu tư hợp lý. Như vậy để nâng cao chất lượng của hoạt động môi giới thì nền tảng của nó phải được hoàn thiện trước, đó chính là các hoạt động phụ trợ cho nó. Hoạt động quảng cáo, tiếp thị: những thông tin về khuyến mại, về bốc thăm trúng thưởng… nhằm quảng bá hình ảnh của công ty đến các nhà đầu tư, để họ biết và đến với công ty nhiều hơn sẽ làm tăng khối lượng tài khoản cho hoạt động môi giới. Các nhân tố khách quan Đây là những nhân tố bên ngoài công ty, nó tác động đến toàn bộ các công ty tham gia trên thị trường chứng khoán và thị trường chứng khoán. Công ty không thể tự mình điều chỉnh được nó mà hoàn toàn bị động. Bao gồm các nhân tố sau: Sự phát triển của thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán phát triển thì các sản phẩm mà nó cũng đa dạng và phong phú. Thị trường chứng khoán phát triển và ổn định là môi trường lý tưởng cho hoạt động môi giới, giúp các nhà môi giới nâng cao trình độ của mình để phù hợp với thị trường.Các nhà môi giới sẽ cung cấp tới kkhách hàng những sản phẩm tốt nhất bởi trình độ hiểu biết và khả năng thuyết phục của mình. Nhà đầu tư phải cần đến những người môi giới để được tư vấn và có những quyết định đúng đắn là lựa chọn sản phẩm nào cho phù hợp. Môi trường pháp lý Hoạt động môi giới của công ty luôn tiềm ẩn những xung đột lợi ích giữa nhiều đối tượng, mâu thuẫn giữa nhà môi giới và khách hàng, giữa môi giới và công ty chứng khoán. Do đó, để hoạt động môi giới hoạt động trong một môi trường ổn định và ngày càng nâng cao chất lượng hoạt động thì cần một hệ thống pháp luật chặt chẽ, phù hợp, dung hoà được các mối quan hệ, giám sát được mọi hoạt động và giải quyết được các tranh chấp, bất đồng xảy ra. 1.3.2.3 Yếu tố cạnh tranh từ các công ty chứng khoán khác Mọi công ty chứng khoán khi tham gia thị trường chứng khoán đều thực hiện hoạt động môi giới. Công ty nào có các điều kiện và tiềm lực tốt hơn thì công ty đó chiếm ưu thế trên thị trường. Điều đó thể hiện ở các yếu tố như chi phí giao dịch hợp lý, sản phẩm dịch vụ đa dạng, chất lượng tư vấn… và ưu thế khi tham gia thị trường. Do đó các CTCK phải không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của mình để khẳng định vị thế của mình trên thị trường mà yếu tố quan trọng là chất lượng hoạt động môi giới. 1.3.2.4 Sự hiểu biết về chứng khoán của các nhà đầu tư Khi thị trường chứng khoán đi vào hoạt động và dần trở thành thói quen của các nhà đầu tư thì các nhà đầu tư từ tâm lý kinh doanh theo đám đông, dần họ sẽ có một kiến thức nhất định về thị trường chứng khoán. Họ có thể tự phân tích và ra các quyết định đầu tư của mình mà không phải nhờ đến các nhà môi giới. Khi đó, các nhà môi giới cũng phải không ngừng nâng cao trình độ của mình thì mới có thể đứng vững trên thị trường. Như vậy áp lực nâng cao chất lượng hoạt động môi giới ngày càng cao và chuyên nghiệp hơn để đáp ứng lại nhu cầu của các nhà đầu tư ngày một phong phú, đa dạng. 1.3.2.5 Chính sách của Nhà nước Sự hỗ trợ của Nhà nước đối với hoạt động của các CTCK là vô cùng quan trọng. Khi thị trường còn có nhiều sự biến động và tâm lý của nhà đầu tư còn chưa vững như hiện nay thì các chính sách nhằm khuyến khích nâng cao hơn nữa các hoạt động của CTCK là thiết yếu. Nhà nước có thể hỗ trợ về mặt thông tin, kỹ thuật, khuyến khích đầu tư… CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN HABUBANK Khái quát về công ty chứng khoán Habubank Sơ lược quá trình hình thành và phát triển CTCK Habubank 2.1.1.1 Giới thiệu chung Sau hơn 7 năm đi vào hoạt động, thị trường chứng khoán Việt Nam đã dần hình thành một kênh huy động và phân bổ các nguồn vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế. Năm 2007, xét về tổng thể thì TTCK Việt Nam phát triển tốt trên cả mọi mặt. Đặc biệt là quyết định chuyển Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (TTGDCK TP. HCM) lên thành Sở giao dịch chứng khoán TP. HCM (SGDCK TP. HCM- HOSE) được Thủ tướng chính phủ ký vào ngày 11/5/2007. SGDCK TP.HCM là pháp nhân thuộc sở hữu Nhà nước, được tổ chức theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên với vốn điều lệ là 1000 tỷ đồng và sẽ tiến tới cổ phần hoá vào năm 2010. Tính đến 28/12/2007, thị trường có thêm 32 loại cổ phiếu và 1 chứng chỉ quỹ mới được niêm yết mới, nâng tổng số cổ phiếu trên sàn HOSE là 138 cổ phiếu và 3 chứng chỉ quỹ; và thêm 17 loại trái phiếu. Riêng về số lượng cổ phiếu đã tăng trưởng gần 30% so với năm 2006. Nhìn chung, các công ty có cổ phiếu niêm yết mới trong năm đều là những công ty có vốn lớn, có tình hình quản trị công ty tốt và thực sự có nhu cầu huy động vốn qua TTCK, và đã góp phần nâng cao chất lượng hàng hoá giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán. Nói đến sự tăng trưởng của VN-index thì trong năm 2007 không hề sụt giảm. Nếu như trong phiên giao dịch đầu tiên của năm 2007, chỉ số VN- index dừng ở mức 741,27 điểm, thì đến ngày 28/12/2007 (phiên giao dịch cuối cùng của năm) đạt mức 927,02 điểm, tăng hơn 25% sau một năm. Con số phần trăm tăng thêm này chi thấy thị trường cổ phiếu không còn nóng sốt như năm trước nhưng vẫn chứng minh được sự tăng trưởng ổn định của thị trường. Trong quý I/2008 chỉ số VN- index liên tục giảm từ mức 900 điểm tới dưới mức 500 điểm (vào ngày 25.3 VN- index là 496,64 điểm). Uỷ ban chứng khoán Nhà nước đã có sự điều chỉnh mức biên độ giao dịch giá cổ phiếu của HOSE là 1% và HaSTC 2%, thị trường đã "xanh" trở lại nhưng nhà đầu tư và các CTCK đều không mấy vui vẻ. Quyết định thu hẹp biên độ giao dịch giá cổ phiếu của HOSE từ 5% xuống 1% và HaSTC từ 10% xuống 2% đã khiến nhà đầu tư không thể "lướt sóng" được các CTCK thì sụt giảm lợi nhuận. Dưới đây là biểu đồ về sự thay đổi chỉ số VN- Index: Biểu đồ 2.1 : Chỉ số VN- index Quý I năm 2008 Theo Vietstock 1/4/2008 Cùng với quá trình Việt Nam tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thì khả năng lây lan rủi ro và những ảnh hưởng của biến động tài chính do sự liên kết của các thị trường trên toàn cầu rất dễ xảy ra. TTCK đóng vai trò là kênh huy động vốn và là hàn thử biểu của toàn bộ nền kinh tế, đồng thời nó cũng có khả năng chịu rủi ro và những biến động khác của thị trường. Song hành với sự phát triển của TTCK, chức năng và giao dịch của thị trường tăng lên đòi hỏi sự ra đời của các CTCK. Thực tế cho thấy tính đến 30/8/2007, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã cấp phép hoạt động kinh doanh chứng khoán cho 61 công ty, với tổng số vốn điếu lệ đạt 5.735 tỷ đồng. Bên cạnh việc cho ra đời hàng loạt các CTCK thì việc nâng cao chất lượng hoạt động là một trong những định hướng phát triển thị trường của Chính phủ. Công ty chứng khoán NHTMCP nhà Hà Nội được thành lập trong thời kỳ mà TTCK Việt Nam đang trong giai đoạn sôi động nhất. Ra đời trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị hội nhập kinh tế quốc tế, CTCK Habubank nằm trong chiến lược phát triển và hội nhập của Ngân hàng mẹ Habubank – Ngân hàng TMCP đầu tiên tại Việt Nam, tạo cơ sở để Habubank mở rộng, phát triển các dịch vụ mới trong ngành tài chính, đó là lĩnh vực chứng khoán hay nói rộng hơn là phát triển dịch vụ Ngân hàng đầu tư. Tên đầy đủ : Công ty cổ phần chứng khoán ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội Tên giao dịch quốc tế : Habubank Securities Co.,Ltd (viết tắt là HBBS). Trụ sở chính : 2C Vạn Phúc, 302 Kim Mã, Quận Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.7262275 Fax : 04.7262305 Website : www.habubanksecurities.com.vn Email : hbbs@habubank.com.vn Các giai đoạn phát triển Giai đoạn từ năm 2005 – 2006 Công ty chứng khoán Habubank được thành lập ngày 03 tháng 11 năm 2005 và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 07 tháng 04 năm 2006, là công ty chứng khoán thứ 15 gia nhập vào TTCK. Ra đời trong bối cảnh TTCK Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ, HBBS thực hiện sứ mệnh là trở thành nơi các nhà đầu tư nhận được sự tư vấn và thông tin một cách chuyên nghiệp nhất, công bằng và hiệu quả nhất. Đồng thời công ty cũng đặt mục tiêu trở thành một trong ba công ty dẫn đầu thị trường Việt Nam thông qua việc cung cấp cho nhà đầu tư các sản phẩm, dịch vụ đa dạng nhiều tiện ích như: tư vấn tài chính và tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư, bảo lãnh phát hành, hỗ trợ đầu tư chứng khoán… Dù gia nhập thị trường muộn nhưng chỉ qua 8 tháng hoạt động (07/04/2006 đến 31/12/2006) lợi nhuận trước thuế của CTCK Habubank đã đạt 18.4 tỷ đồng, vượt 381% so với kế hoạch đặt ra. Cụ thể, chỉ tính trong hai tháng 10 và 11 đã tăng hơn 8% so với quý II năm 2006 và gần 23% so với quý III năm 2006; lợi nhuận sau thuế của hai tháng 10 và 11 tăng 9.68% so với quý 2/2006 và tăng 58.4% so với quý 3/2006. Trong năm này, HBBS còn tăng vốn điều lệ từ 20 tỷ đồng lên 50 tỷ đồng (31/12/2006). Trong chiến lược hoạt động của mình, ngoài các nhà đầu tư là cá nhân, CTCK Habubank đã thu hút được một lượng lớn khách hàng là các công ty uy tín như Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Vinashin, Tổng công ty lắp máy Việt Nam Lilama… Trong năm 2006, Habubank đã bảo lãnh phát hành thành công đợt I trái phiếu 2 năm cho Vinashin với tổng mệnh giá phát hành là 200 tỷ đồng. Giai đoạn từ năm 2007 - đến nay Từ cuối năm 2006 và năm 2007 chứng kiến sự trưởng thành vượt bậc của CTCK Habubank. Sự kiện đầu tiên đánh dấu bước trưởng thành cuả HBBS là tại Đại hội đồng cổ đông Habubank lần thứ XVI (3/2007) đã nhất trí thông qua việc tổ chức lại CTCK Habubank từ mô hình Công ty TNHH một thành viên thành Công ty Chứng khoán Cổ phần nhằm nâng cao hơn nữa năng lực trong bối cảnh hộ._. của nhà đầu tư. Các công ty FPTS, ABS có dịch vụ cung cấp thông tin về thị trường chứng khoán như giao dịch, thông tin về cổ phiếu… Bản tin Tại CTCK Habubank cũng như các CTCK khác đều phát miễn phí bản tin sàn Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Về bản tin nội bộ, nếu như SSI, Bảo Việt, Thăng Long… đều có các bản tin phân tích thị trường giao dịch, báo cáo phân tích ngành; bản tin của VNDS, SSI được trình bày bằng tiếng Việt và tiếng Anh thì hiện bản tin 24h hàng ngày của CTCK Habubank mới chỉ ở dạng điểm tin, chưa có những phân tích chuyên sâu và chỉ có bản tiếng Việt. Hướng dẫn giao dịch Cũng như hầu hết các công ty đối thủ, CTCK Habubank đều phát miễn phí hướng dẫn giao dịch cho nhà đầu tư ngay khi mở tài khoản. Không như VNDS in hướng dẫn giao dịch ngay tại mặt sau của giấy đăng ký mở tài khoản, tại FPTS có thêm hướng dẫn giao dịch trực tuyến, CTCK Habubank xây dựng được một quyển cẩm nang nhỏ, gọn nhẹ cung cấp cho khách hàng các thông tin về giao dịch tại công ty, kiến thức cơ bản về chứng khoán… Hội thảo CTCK Habubank đã tổ chức 1 chương trình giới thiệu kiến thức cơ bản về đầu tư chứng khoán tại đại lý nhận lệnh Hàng Trống, thu hút được gần 100 nhà đầu tư quan tâm tới dự và dự kiến sẽ tổ chức định kỳ hàng tháng theo từng chủ đề khác nhau. Trong khi đó, FPTS tổ chức các cuộc hội thảo theo sát tình hình thị trường như hướng dẫn giao dịch trực tuyến; SSI, Tân Việt tập trung vào tổ chức hội thảo định kỳ giới thiệu cơ hội đầu tư vào một số mã cổ phiếu sắp lên sàn, các ngành hàng… Như vậy việc tổ chức hội thảo tại CTCK Habubank chưa được tổ chức một cách thường xuyên để đem tới kiến thức cho nhà đầu tư đồng thời tạo thêm cơ hội cho họ gắn kết với công ty nhiều hơn. Đánh giá thực trạng chất lượng hoạt động môi giới của CTCK Habubank Kết quả Thị trường chứng khoán Việt Nam năm qua có nhiều biến động, chỉ số VN index từ quý III năm 2007, đầu năm 2008 có lúc giảm dưới tới 496.64 điểm cho thấy diễn biến phức tạp của thị trường và niềm tin của nhà đầu tư. Doanh thu và lợi nhuận của công ty chứng khoán Habubank do đó mà cũng bị ảnh hưởng. Tuy nhiên trong năm 2007, công ty đã đạt được một số thành tựu sau: Tổng giá trị giao dịch hoạt đôngh môi giới 2007: 17.584.050.200 VND Doanh thu từ phí hoạt động môi giới : 49.235.732.141 VND Doanh thu của toàn công ty năm 2007 là trên 120 tỷ VND Tăng trưởng lợi nhuận năm 2007 là 300% Số tài khoản giao dịch tại công ty đến hết năm 2007 là 8.135 tài khoản 2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 2.3.2.1 Hạn chế Mặc dù CTCK Habubank đã thu được những kết quả nhất định trong năm 2007 vừa qua nhưng chất lượng hoạt động của công ty nói chung và chất lượng hoạt động môi giới nói riêng chưa cao, cụ thể: Thứ nhất, doanh số từ hoạt động môi giới nhỏ thể hiện ở doanh thu và doanh số giao dịch còn thấp. Doanh thu từ hoạt động môi giới năm 2007 khoảng 49 tỷ và tổng giá trị giao dịch khoảng 17.000 tỷ- những con số này chưa phản ánh hết được tiềm lực của công ty. Bên cạnh đó, chủ yếu nguồn doanh thu của hoạt động môi giới là từ phí nhưng quy mô hoạt động chưa cao, chủ yếu là từ các nhà đầu tư nhỏ lẻ nên khi thị trường có những biến động thì doanh thu cũng bị ảnh hưởng theo tâm lý của họ. Bên cạnh đó, chi phí cho các hoạt động hỗ trợ hoạt động môi giới lại cao mà chưa đem lại nhiều hiệu quả. Thứ hai, số lượng tài khoản thấp, chất lượng tài khoản chưa cao. Nhìn vào biểu đồ 2.7 cho thấy số lượng tài khoản giao dịch nhiều nhất chủ yếu tập trung ở các mức giao dịch từ 100 – 300 triệu, còn giao dịch ở các mức cao như trên 5 tỷ là rất nhỏ. Điều này cho thấy công ty chưa chú trọng tới việc thu hút các khách hàng là các tổ chức lớn do chất hoạt động còn nhiều hạn chế. Thứ ba, thị phần của công ty trên thị trường còn thấp. Riêng với số lượng tài khoản chỉ chiếm khoảng 2.46% so với toàn thị trường trong khi số lượng tài khoản lại tập trung chủ yếu tại các CTCK lớn có tuổi đời trên thị trường như SSI, BVSC, VCBS, đã chiếm tới 65% thị phần môi giới, trong đó BVSC và SSI đã chiếm tới 40% thị phần. Thứ tư, các sản phẩm và dịch vụ mà hoạt động môi giới của CTCK Habubank cung cấp còn đơn điệu và chưa được khách hàng hài lòng ở một số khâu như tư vấn đầu tư, kinh nghiệm đầu tư. Ngoài các sản phẩm như các CTCK khác cũng cung cấp thì công ty không có thêm sản phẩm đặc trưng nào để sử dụng làm mặt mạnh của mình. Do đó, việc cạnh tranh thị phần môi giới của công ty với các CTCK khác trong tình hình thị trường hiện nay là vô cùng khó khăn. Thứ năm, khả năng tích hợp dịch vụ của hoạt động môi giới còn thấp. Đó là do các sản phẩm và dịch vụ của hoạt động môi giới chưa được chuyên sâu và chưa có tầm bao quát nên khả năng phối hợp với nhau một cách nhịp nhàng để đem lại hiệu quả cao nhất. 2.3.2.2 Nguyên nhân Nguyên nhân chủ quan Mô hình tổ chức của công ty là công ty trách nhiệm hữu hạn, có chủ sở hữu duy nhất là ngân hàng Habubank. Đây là mô hình có những hạn chế về cách thức huy động vốn, sự linh hoạt trong hoạt động và sự phụ thuộc vào chiến lược phát triển của ngân hàng mẹ. Việc thành lập CTCK Habubank sẽ tránh được tình trạng ngân hàng lợi dụng tiền gửi của khách hàng để thực hiện các hoạt động trên TTCK. Ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro trong hoạt động kinh doanh bằng việc đa dạng hoá đầu tư. Tuy nhiên, mô hình này cũng có những hạn chế, đó là do Ngân hàng TCMP Habubank vừa là tổ chức tín dụng vừa là tổ chức kinh doanh chứng khoán, do đó có thể làm cho khả năng chuyên môn hoá của CTCK không được chuyên sâu như mong muốn. Với nhu cầu phát triển của thị trường ngày càng cao, các CTCK không ngừng thay đổi về chính sách đối với cán bộ trong công ty mình nhằm giữ chân người tài thì chính sách cán bộ của CTCK Habubank còn nhiều hạn chế. Công việc mà bộ phận môi giới đảm nhiệm rất nhiều và đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao nhưng công ty lại chưa có những chính sách lương, thưởng hợp lý để tạo ra sự cạnh tranh trong công việc nhằm đưa lại hiệu quả cao nhất. Bên cạnh đó, năng lực cán bộ thấp, chưa có nhiều người có chuyên môn thực sự cao để tạo ra bước đột phá cho công ty trong các hoạt động, đặc biệt là phòng môi giới. Các cán bộ trong bộ phận môi giới chưa hoạt động đúng với năng lực của mình và còn dư thừa quá nhiều thời gian rảnh rỗi mà không sử dụng vào công việc chuyên môn. Cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật còn chưa hiện đại thể hiện ở việc CTCK Habubank chưa đầu tư vào việc nâng cấp các thiết bị hỗ trợ về công nghệ thông tin cho các nhân viên môi giới nên hiệu quả công việc chưa cao. Phòng IT của công ty hoạt động không mấy hiệu quả do đó mà trang web của công ty còn rất sơ sài và thiếu thốn các chức năng như tra cứu tài khoản, phân tích thông tin công ty, nhập lệnh qua internet… Chất lượng các hoạt động khác hỗ trợ cho hoạt động môi giới như phân tích tài chính doanh nghiệp, hoạt động quảng cáo tiếp thị… của công ty chưa cao nên chưa có sự phối hợp nhịp nhàng với nhau để đem lại cho hoạt động môi giới chất lượng cao nhất. Nguyên nhân khách quan Ra đời trong bối cảnh mà TTCK Việt Nam đang trong thời kỳ sôi động nhất nhưng hai năm trở lại đây cũng là thời kỳ mà thị trường cũng có nhiều biến động khôn lường. Cơ sở hạ tầng của TTCK nói chung còn khá lạc hậu, thiếu đồng bộ và có thể nói chưa an toàn đồng thời hàng hoá mà thị trường này tạo ra cũng chưa nhiều, chưa chất lượng…khiến các CTCK cũng chưa hoạt động đúng với những tiềm năng của mình. Sự cạnh tranh của các CTCK trên thị trường về nhân sự, về thị phần là rất khốc liệt. Chỉ tính riêng về vấn đề nhân sự, cả nước hiện chỉ có khoảng 300 nhà môi giới trong các CTCK nhưng phải phụ trách một số lượng vốn lớn. Bình quân mỗi nhà môi giới phụ trách tới 500 tỷ đồng và số lượng vốn không ngừng tăng lên nên họ làm không xuể. Mặt khác, các CTCK nhỏ như CTCK Habubank liên tục bị mất người do các nhân viên có tay nghề bỏ đi đầu quân nơi khác có thu nhập cao hơn. Các nhà đầu tư trong nước đang dần nâng cao kiến thức và bản lĩnh đầu tư sau một thời gian cọ sát liên tục với thị trường. Họ thường có tâm lý tìm đến những công ty lớn để được hưởng một phong cách làm việc chuyên nghiệp hơn là những công ty nhỏ, hoặc những nhà đầu tư mới thì tìm đến những công ty nào có mức phí ưu đãi… Như vậy trình độ của các nhà đầu tư đang dần được cải thiện đòi hỏi các CTCK cũng bị cuốn theo những yêu cầu ngày càng cao của khách hàng, ảnh hưởng rất lớn tới doanh thu và lợi nhuận của công ty. Có thể nói, hoạt động môi giới của CTCK Habubank còn có một số hạn chế nhất định, mà nguyên nhân là do cả yếu tố chủ quan lẫn yếu tố khách quan. Tuy nhiên trong xu thế cạnh tranh giữa các CTCK ngày càng trở nên gay gắt như hiện nay, đòi hỏi CTCK phải có những biện pháp nhằm khắc phục những hạn chế đó, nâng cao chất lượng của CTCK Habubank trong hoạt động môi giới. CHƯƠNG III GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN HABUBANK 3.1 Định hướng phát triển của CTCK Habubank Căn cứ vào chất lượng của hoạt động môi giới hiện nay của CTCK Habubank và sự phát triển của thị trường chứng khoán. CTCK đã đề ra một số chỉ tiêu phát triển trong thời gian tới như sau: Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay mới ở giai đoạn đầu của thời kỳ phát triển nhưng hứa hẹn nhiều tiềm năng. Môi trường đầu tư đang ngày càng hoàn thiện hơn nhờ có sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Chính phủ, khung pháp lý đang dần được cải thiện với sự góp mặt quan trọng của Luật chứng khoán có hiệu lực từ ngày 1/1/2007, hệ thống thanh tra, giám sát các hoạt động của thị trường được chú trọng. Cùng với việc thúc đẩy mạnh mẽ quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước, số lượng các công ty niêm yết sẽ nhanh chóng gia tăng tạo nguồn cung ứng lớn cho TTCK. Bên cạnh đó, các CTCK và các Công ty Quản lý Quỹ đang ngày càng phát triển. Các nhà đầu tư trong nước đang dần nâng cao kiến thức và bản lĩnh đầu tư sau một thời gian liên tục cọ xát với thị trường. Với môi trường đầu tư như vậy sẽ tạo điều kiện cho các CTCK thực hiện các chiến lược kinh doanh của mình. Mục tiêu chung của CTCK Habubank là trở thành một trong ba công ty chứng khoán hàng đầu thị trường trong các phân khúc khách hàng của mình. Nhưng mục tiêu trước mắt của Công ty là: hoàn thiện nâng cấp chất lượng dịch vụ; mở rộng mạng lưới hoạt động tại TPHCM và có thể cả Hải Phòng; nâng cao năng lực tài chính thông qua việc tăng vốn điều lệ và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh; hiện đại hoá phần mềm quản lý nhằm hỗ trợ các giao dịch tự động, cho phép khách hàng giao dịch qua website; thực hiện cổ phần hoá theo quyết định của Đại hội cổ đông của CTCK Habubank; tuyển dụng và đào tạo nhân lực nhằm đảm bảo nhu cầu phát triển của công ty. Công ty sẽ không ngừng sáng tạo và hành động nhằm tối đa hoá giá trị cho khách hàng, cổ động, cán bộ nhân viên của công ty, qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung. Với hoạt động môi giới: Đào tạo và bồi dưỡng để nâng cao hơn nữa năng lực cán bộ và có những chính sách cán bộ phù hợp nhằm hướng tới một đội ngũ nhân viên Phòng môi giới chuyên nghiệp, có uy tín trên thị trường. Nâng cao hơn nữa chất lượng của hoạt động môi giới và các dịch vụ hỗ trợ; chú trọng tới các nhà đầu tư nước ngoài và các nhà đầu tư tổ chức Hoạt động môi giới có hiệu quả, thị phần của doanh thu từ hoạt động môi giới đóng góp vào doanh thu của toàn công ty phải tăng và ổn định hơn. 3.2 Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động môi giới tại CTCK Haububank 3.2.1 Nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ Chất lượng dịch vụ của các CTCK là điều mà tất cả các nhà đầu tư quan tâm và là cốt lõi để mỗi CTCK thu hút khách hàng. Nhìn chung có 2 yếu tố tác động tới chất lượng dịch vụ của CTCK đó là yếu tố con người và công nghệ. Yếu tố con người đóng vai trò rất lớn vào chất lượng dịch vụ môi giới, bảo lãnh, tư vấn…nhưng phần lớn các CTCK chưa đáp ứng tốt được các yếu tố này cả về mặt số lượng và chất lượng. Khi tìm tới một CTCK, khách hàng luôn mong muốn được sử dụng những dịch vụ đầy đủ và tiện ích, dù là khách hàng cá nhân hay tổ chức, thế nhưng chất lượng nguồn nhân lực của các CTCK lại đang hạn chế trong vấn đề này mà CTCK Habubank không phải là một ngoại lệ. Do đó việc đầu tư hơn nữa kiến thức và trình độ cho các nhà môi giới là một giải pháp không thể thiếu được của mỗi công ty chứng khoán. Thị trường chứng khoán tập trung một khối lượng vốn và giao dịch khổng lồ, vì vậy vấn đề công nghệ đối với các định chế tài chính trung gian nhằm góp phần đảm bảo sự ổn định của thị trường đóng vai trò rất lớn. Hiện nay, nhiều CTCK chú trọng tới vấn đề công nghệ, chẳng hạn như CTCK Thăng Long đầu tư 600.000 USD cho phần mềm của Thái Lan, CTCK FPT đầu tư hàng triệu USD vào giải pháp Nova của Ấn Độ và Úc… Như vậy CTCK Habubank cũng phải đầu tư hơn nữa nhằm nâng cấp các phần mềm có phần lạc hậu của mình để phù hợp với sự phát triển không ngừng của thị trường. Để nâng cao chất lượng hoạt động môi giới của CTCK Habubank thì một trong những giải pháp là nâng cao chất lượng các sản phẩm và dịch vụ mà công ty cung cấp bởi các sản phẩm môi giới của công ty còn quá đơn điệu, chưa tìm ra được điểm nhấn trên thị trường. Cụ thể như sau: Phân tích: hoạt động phân tích của CTCK Habubank cần được chú trọng hơn nữa bởi mặc dù đội ngũ chuyên gia phân tích được đào tạo bài bản từ các nước phát triển trên thế giới nhưng khả năng phân tích và áp dụng thực tế trên thị trường chứng khoán Việt Nam còn non yếu và chưa sát với thực tế. Lưu ký chứng khoán: dịch vụ này của công ty được triển khai cung cấp miễn phí cho các khách hàng bao gồm lưu ký và bảo quản nhưng chất lượng và độ chính xác chưa cao, đặc biệt là việc cung cấp thông tin về quyền lợi chứng khoán mà khách hàng đang sở hữu còn chưa đầy đủ. Do đó, công ty cần phát triển các dịch vụ hỗ trợ thông tin cho hoạt động này từ việc cập nhật ngày nhà đầu tư được hưởng quyền, ngày nhận cổ tức… để nhân viên lưu ký đưa đến cho khách hàng sự hài lòng nhất Hỗ trợ tài chính: với các dịch vụ như Repo cổ phiếu OTC, ứng trước tiền bán chứng khoán, cầm cố chứng khoán đã được triển khai với những tiện ích nhất định nhưng các dịch vụ này chưa có nhiều nét đặc trưng mang tính thương hiệu cho công ty. Do đó, công ty cần phải chú trọng đầu tư hơn nữa để các dịch vụ này đem đến sự hài lòng cho khách hàng, vừa đúng với quy định của thị trường nhưng phải đáp ứng tốt nhất những nhu cầu của khách hàng. Hỗ trợ thông tin: nhằm cung cấp các dịch vụ tốt nhất, công ty nên kết hợp việc cung cấp thông tin tại sàn với việc triển khai dịch vụ cung cấp thông tin đầu tư qua hệ thống SMS hoặc tra cứu trên mạng, đặc biệt là việc nâng cấp trang web của công ty với nhiều chức năng hơn như : có bảng giá trực tuyến, có thông tin về thị trường, thông tin các doanh nghiệp, giới thiệu các chi tiết về công ty, lịch sự kiện…để từ đó đông đảo các nhà đầu tư có thể tìm hiểu, qua đó cũng chính là một khâu tiếp thị để nhiều nhà đầu tư tìm đến công ty hơn. 3.2.2 Xây dựng cơ chế phí linh hoạt Nguồn thu chủ yếu của một CTCK là phí giao dịch của các nhà đầu tư. Tuy nhiên để nhiều khách hàng đến với công ty thì không thể tăng phí giao dịch để tăng doanh thu một cách tuỳ ý. Với các đối tượng khách hàng khác nhau thì công ty nên có cơ chế phí linh hoạt để tạo ra niềm tin và sự phấn khích để nhà đầu tư đến với công ty và không mất niềm tin với thị trường. Như với các nhà đầu tư lớn, công ty nên có một mức phí ưu đãi áp dụng riêng; và áp dụng các mức phí khác nhau với các mức giá trị giao dịch khác nhau… Bên cạnh đó, để hút khách trên thị trường thì nhiều CTCK liên tục tham gia vào cuộc đua hạ phí. Theo quy định, phí giao dịch thu từ các nhà đầu tư là 0.5% trên giá trị giao dịch. Nhưng hiện nay đã có một số công ty hạ đến mức phí thấp nhất, thậm chí nhiều công ty còn không thu phí trong 3 tháng đầu hoạt động. Đặc biệt nhiều CTCK mới thành lập đã sử dụng chiêu khuyến mại bằng cách tặng tiền cho khách hàng mở tài khoản giao dịch tại công ty và trừ dần vào phí giao dịch. Trên thị trường, thông tin về việc giảm phí, miễn phí giao dịch của các CTCK liên tục công bố trên thị trường. Trong đó, tất cả các CTCK lớn nhỏ lần lượt vào cuộc, dù đây là nguồn thu đáng kể cho công ty từ hoạt động môi giới. Sự tham gia ồ ạt của hầu hết các CTCK vào cuộc đua giảm phí như vậy khiến cho các công ty nhỏ như CTCK Habubank sẽ tạo ra một gánh nặng lớn. Do đó, việc xây dựng một cơ chế phí linh hoạt và không bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của thị trường là một yếu tố không thể thiếu trong giải pháp của CTCK Habubank hiện nay. 3.2.3 Xây dựng hệ thống điều tra, khảo sát ý kiến khách hàng Để tìm hiểu được mức độ hài lòng của khách hàng với các sản phẩm và dịch vụ của phòng môi giới nói riêng và của toàn công ty nói chung thì CTCK cần xây dựng một bộ phận chuyên nghiệp hơn trong việc thăm dò, điều tra, khảo sát, phỏng vấn ý kiến các nhà đầu tư khi họ đang sử dụng dịch vụ của công ty để từ đó đưa ra những điều chỉnh kịp thời phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Hiện nay, phần trao đổi ý kiến của khách hàng qua trang web, qua sổ góp ý, phát phiếu thăm dò ý kiến để các nhà đầu tư phản ánh thông tin về chất lượng và thái độ của công ty chưa được triển khai. Do đó, CTCK Habubank cần xúc tiến hoạt động này để có thể đưa những sản phẩm, dịch vụ đến gần với khách hàng hơn, gắn với những lợi ích thiết thực của họ. Việc nhà đầu tư nêu ra được những yêu cầu của mình cũng chính là một cách tạo ra sự thân thiện giữa công ty với khách hàng, đồng thời góp phần hoàn thiện các sản phẩm và dịch vụ hỗ trợ một cách tốt nhất cho việc nâng cao chất lượng hoạt động môi giới của công ty. 3.2.4 Thúc đẩy quá trình cổ phần hoá công ty Hiện nay, CTCK Habubank được tổ chức theo mô hình đa năng một phần, là một công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội làm chủ sở hữu. Mô hình này cho nhiều lợi thế như: ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro trong hoạt động. CTCK thuộc mô hình này có thể tăng được khả năng chịu đựng trước những biến động trên thị trường tài chính nhờ sự hỗ trợ từ ngân hàng mẹ. Tuy nhiên trong xu thế hiện nay, các công ty liên tục tạo ra sự chủ động cho mình về nguồn vốn thì việc thúc đẩy quá trình cổ phần hoá của CTCK Habubank là cần thiết. Việc chuyển đổi loại hình công ty từ công ty trách nhiệm hữu hạn sang công ty cổ phần sẽ có nhiều ưu điểm hơn như: công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ea công chúng để huy động vốn. Theo đó, nó là một loại hình tồn tại liên tục không phụ thuộc vào việc thay đổi cổ đông. Rủi ro mà chủ sở hữu công ty phải chịu được hạn chế ở mức nhất định. Cổ đông của công ty chỉ chịu trách nhiệm trong phần vốn góp, ngoài ra họ không phải chịu bất cứ trách nhiệm nào về hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Và với các CTCK tổ chức theo mô hình hình thức công ty cổ phần và được niêm yết tại sở giao dịch thì coi như họ đã được quảng cáo miễn phí. Do những lợi thế như vậy mà CTCK Habubank đã được Đại hội đồng cổ đông Habubank chấp thuận chuyển đổi sang mô hình công ty cổ phần nhưng việc tiến hành vẫn chưa được xúc tiến và việc thúc đẩy hơn nữa quá trình này có ý nghĩa quan trọng tới hoạt động của CTCK Habubank nói chung và hoạt động môi giới nói riêng. 3.2.5 Đẩy mạnh hoạt động PR cho Công ty Số lượng CTCK trên TTCK ngày càng tăng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Số lượng các CTCK năm 2007 đang hoạt động, nhiều hơn số lượng CTCK của 3 năm 2004,2005 và 2006 cộng lại; đồng thời nhiều ước tính cho rằng số lượng và loại hình CTCK sẽ tiếp tục tăng nhanh. Nhà đầu tư có nhiều cơ hội để lựa chọn nhưng lại thiếu rất nhiều thông tin về các công ty. Do đó, việc tìm ra câu trả lời: vì sao khách hàng nên chọn chúng tôi là một vấn đề sống còn của mỗi công ty. Hoạt động marketing, PR của các CTCK trong nước hiện nay hầu như chưa được chú trọng vả về chất lượng và tính đa dạng. Các CTCK vẫn chưa ý thức được họ đã mất bao nhiêu khách hàng tiềm năng khi bỏ ngỏ khâu tiếp cận này và CTCK Habubank cũng không phải là một ngoại lệ. Do đó, CTCK Habubank cần chú trọng đến việc quảng bá hình ảnh của mình trên các phương tiện truyền thông hơn nữa bởi hoạt động này đem lại mức hiệu quả rất cao. Hai công cụ mà một số CTCK phổ biến sử dụng là quảng cáo và tài trợ trên các kênh truyền hình như VTV1, HTV với các chương trình như Bản tin tài chính, Bản tin chứng khoán VN index… với tính hữu ích và lượng người xem nhất định đã dần tạo ra sự sáng giá trong việc quảng bá hình ảnh của các công ty tài trợ. Bên cạnh đó, nhiều CTCK còn hợp tác với các tờ báo mạng có tên tuồi như CTCK Tân Việt hợp tác với trang www.vneconomy.vn để làm Bảng chứng khoán trực tuyến, Báo Tuổi Trẻ được đỡ đầu bởi CTCK Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín… Với những hình thức quảng bá khéo léo như vậy, dần dần thông tin về công ty sẽ đi vào tiềm thức của khách hàng, cũng như gây dựng lòng tin và phản xạ từ phía các nhà đầu tư. Với những tiện ích từ việc sử dụng internet, báo chí,.. để quảng bá thương hiệu như vậy, CTCK Habubank cần có những chiến lược phù hợp trong việc quảng bá hình ảnh của mình hơn nữa. 3.2.6 Đào tạo nguồn nhân lực, thu hút và giữ chân người tài Thị trường chứng khoán Việt Nam còn khá non trẻ so với thị trường các nước khác trên thế giới, lại phát triển với tốc độ quá lớn dẫn tới sự bùng nổ về nhu cầu nhân sự là điều tất yếu. Đây là bài toán khó với không chỉ CTCK Habubank trong giai đoạn hiện nay. CTCK Habubank luôn tận dụng lợi thế là nhận sự hỗ trợ và tiếp thu những kinh nghiệm chính sách nhân sự từ ngân hàng mẹ. Bên cạnh đó, công ty cần chủ động thu hút nhân tài bằng các chính sách đãi ngộ linh hoạt và sáng tạo. Những ứng viên chưa có nhiều kinh nghiệm nhưng bộc lộ khả năng, yêu thích công việc nên được tuyển dụng và đào tạo thêm, vì như vậy sẽ tạo ra sự hăng say trong công việc cho đội ngũ nhân viên. Ngoài ra, CTCK Habubank cần tiếp tục xây dựng một nền văn hoá công ty thân thiện, lành mạnh với môi trường làm việc lý tưởng có sự đãi ngộ hấp dẫn để mọi nhân viên tại công ty ngày càng gắn bó hơn. 3.2.7 Mở rộng diện tích sàn và phát triển nhiều chi nhánh, đại lý nhận lệnh Sàn giao dịch chính là bộ mặt của toàn công ty, là nơi tạo ấn tượng đầu tiên với khách hàng nên kết cấu của sàn giao dịch phải tạo ra sự giao lưu thân thiện giữa các nhà đầu tư với nhau, và giữa nhân viên của công ty với các khách hàng. Ngoài ra một sàn giao dịch thông thoáng, mát mẻ tạo tâm lý phấn chấn cho nhà đầu tư và nhất là vào mùa hè không khí rất nóng nực là rất quan trọng. Diện tích sàn hiện nay của CTCK Habubank là 80m2 với sức chứa là 100 khách hàng, 2 bảng điện tử nhỏ và 4 màn chiếu lớn. Tuy nhiên thì 2 quầy giao dịch ở hai bên sàn quá nhỏ và chật hẹp nên các nhân viên môi giới rất khó khăn trong việc di chuyển. Do đó việc tách riêng trụ sở của CTCK ra một nơi riêng với trụ sở ngân hàng mẹ cũng hết sức cần thiết. Bên cạnh đó, cũng cần phải có một không gian chuyên nghiệp cho các khách Vip vì hiện nay phòng dành cho họ còn quá nhỏ và bí bách. Việc mở thêm các đại lý giao dịch và các chi nhánh cũng chính là mở rộng quy mô của công ty đồng thời san đều lượng khách hàng, tránh tập trung vào một sàn ở trụ sở chính dẫn đến tình trạng ùn tắc trong nhận lệnh ở những thời điểm thị trường lên. 3.3 Kiến nghị 3.3.1 Với Bộ tài chính Những kiến nghị cụ thể với Bộ tài chính: Hoàn thiện khung pháp lý: Luật chứng khoán ra đời đã hạn chế được rất nhiều sai sót của các văn bản luật trước đó, đã bao quát mọi vấn đề trong hoạt động và tổ chức của TTCK và phù hợp với các thông lệ quốc tế. Nhưng Bộ tài chính cần phải đưa ra các thông tư, hướng dẫn cụ thể hơn nữa nhằm điều chỉnh hoạt động môi giới để đi đúng với yêu cầu của thị trường. Tăng hàng hoá cho thị trường: Bộ tài chính cần có nhiều chính sách để khuyến khích thị trường cho ra nhiều sản phẩm mới nhằm đa dạng hoá danh mục hàng hóa như khuyến khích thị trường chứng khoán phái sinh phát triển. Có như vậy, hoạt động của CTCK nói chung và hoạt động môi giới nói riêng mới có nhiều cơ hội nâng cao chất lượng. 3.3.2 Với Uỷ ban chứng khoán Nhà nước Uỷ ban chứng khoán Nhà nước là cơ quan điều chỉnh hành vi của các CTCK trên thị trường nên đề tài đưa ra một số kiến nghị với UBCKNN sau: Củng cố và hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động môi giới của CTCK nhằm hạn chế các hành vi làm tổn hại tới nhà đầu tư bởi luôn tiềm ẩn những mâu thuẫn giữa hai đối tượng này. UBCKNN cần tăng cường cơ sở vật chất như hoàn thiện trụ sở chính và các cơ sở vật chất kèm theo như hệ thống thông tin nội bộ, phát triển phần mềm tin học chuyên dùng, xử lý số liệu thống kê, thông tin, lưu trữ… Hoàn thiện hệ thống đào tạo, cấp phép hành nghề cho nhiều nhân viên môi giới hơn nữa và phổ biến kiến thức, nâng cao nhận thức cho công chúng đầu tư như xây dựng chương trình đào tạo theo sát đúng với thực tế Việt Nam có tính chuyên sâu và riêng biệt; xây dựng đội ngũ giảng viên tốt về phẩm chất, sâu về chuyên môn và giỏi về phương pháp sư phạm để cho ra các thế hệ nhà môi giới chất lượng hơn. Quản lý thanh tra các công ty chứng khoán: đối với các nhân viên của mình, các CTCK cần thường xuyên kiểm tra, phát hiện các sai sót để chắc chắn các nhân viên của mình thực hiện các hành vi môi giới đúng theo pháp luật và đạo đức của nhà môi giới. 3.3.3 Với Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội Công ty chứng khoán Habubank là công ty con của Ngân hàng Habubank, được xây dựng theo mô hình kinh doanh chứng khoán đa năng một phần nên công ty có hạch toán độc lập nhưng những hoạt động của CTCK không thể tách rời các hoạt động và giám sát của ngân hàng mẹ. Do đó đề tài đưa ra một số kiến nghị với ngân hàng mẹ: Ngân hàng Habubank nên có những dịch vụ giới thiệu kèm theo về CTCK Habubank khi khách hàng giao dịch tại ngân hàng; phối hợp với các chi nhánh khác để quảng bá hình ảnh về CTCK của mình nhiều hơn vì mạng lưới ngân hàng thường rộng lớn, trải đều khắp đất nước và trên các thành phố lớn. Với vị thế là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên, Habubank hoạt động rất hiệu quả nên ngân hàng có thể hỗ trợ cho CTCK Habubank tăng thêm vốn điều lệ để mở rộng hoạt động của mình; cung cấp cho CTCK một cơ sở vật chất hiện đại hơn nữa như về công nghệ, về cơ sở hạ tầng để nâng cao chất lượng hoạt động của mình trên thị trường chứng khoán Việt Nam. KẾT LUẬN Thị trường chứng khoán Việt Nam đang dần khẳng định tầm quan trọng của mình. Cùng với sự phát triển của thị trường ở các mảng như: tổng giá trị gia dịch, số lượng tài khoản, số lượg các công ty niêm yết ngày càng tăng… thì chất lượng của các công ty chứng khoán cũng ngày càng được nâng cao. Những kết quả của CTCK Habubank năm 2007 đã cho thấy Công ty ngày càng hoàn thiện các dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Nhằm đưa lại cho thị trường những dịch vụ tốt nhất, Công ty chủ trương tìm tòi, sáng tạo và nâng cao chất lượng các dịch vụ của mình, đặc biệt là chất lượng hoạt động môi giới. Điều đó đòi hỏi ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ công nhân viên phải hết sức nỗ lực. Với vị thế của đã tạo dựng được, Công ty chứng khoán Habubank sẽ ngày càng chứng tỏ được mình. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PGS.Ts. Nguyễn Văn Nam, PGS.Ts. Vương Trọng Nghĩa (2002), Giáo trình Thị trường Chứng khoán, Nxb Tài chính. Ts. Trần Thị Thái Hà (2001), Nghề môi giới chứng khoán, Nxb Chính trị quốc gia. TS. Đào Lê Minh (2002), Giáo trình những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. PGS. Ts. Lưu Thị Hương (2005), Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, Nxb Thống kê. TS. Trần Đăng Khâm (2007), Thị trường chứng khoán- phân tích cơ bản, Nxb ĐH Kinh tế Quốc dân, Hà Nội. Luật chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006. Nghị định số 14/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật chứng khoán Công ty chứng khoán Habubank (2007), Báo cáo tài chính đã kiểm toán. MỤC LỤC Trang DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT Ký hiệu Nội dung 1 TTCK Thị trường chứng khoán 2 CTCK Công ty chứng khoán 3 SGDCK Sở giao dịch chứng khoán 4 SGDCK HCM Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh 5 TTGDCK Trung tâm giao dịch chứng khoán 6 TTGDCK HN Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội 7 UBCKNN Uỷ ban chứng khoán Nhà Nước 8 TMCP Thương mại cổ phần 9 Habubank Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội 10 HĐQT Hội đồng quản trị DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU 1.BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 : Chỉ số VN- index Quý I năm 2008 30 Biểu đồ 2.2 Cơ cấu doanh thu của CTCK Habubank 43 Biểu đồ 2.3 Giá trị giao dịch mua qua các tháng năm 2007 54 Biểu đồ 2.4 Giá trị giao dịch bán qua các tháng năm 2007 54 Biểu đồ 2.5 Tổng giá trị giao dịch năm 2007 56 Biều đồ 2.6 Phí thu từ hoạt động môi giới qua các tháng 57 Biểu đồ 2.7 Số lượng tài khoản ở các mức giá trị giao dịch 8 tháng đầu năm 59 2. SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.2 Quy trình mở tài khoản của khách hàng tại CTCK Habubank 46 Sơ đồ 2.3 Quy trình giao dịch tại phòng môi giới của CTCK Habubank 46 Sơ đồ 2.4 Quy trình chi tiết mở tài khoản tại CTCK Habubank 47 Sơ đồ 2.5 Quy trình quản lý phiếu lệnh tại quầy 49 3. BẢNG Bảng 2.1 Nhân sự trong các phòng ban của CTCK Habubank 41 Bảng 2.2 Nhân sự theo trình độ 41 Bảng 2.4 So sánh chỉ tiêu về khả năng thanh toán nhanh 44 Bảng 2.5 So sánh chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận qua 2 năm 44 Bảng 2.6 Cơ cấu tài sản qua 2 năm 45 Bảng 2.7 Biểu phí áp dụng với khách hàng giao dịch chứng khoán tại CTCK Habubank từ ngày 19/03/2007 50 Bảng 2.8 Biểu phí áp dụng từ 17/11/2007 50 Bảng 2.9 Ứng trước tiền bán chứng khoán của CTCK năm 2007 52 Bảng 2.10 Cầm cố cổ phiếu niêm yết của CTCK Habubank năm 2007 52 Bảng 2.11 Cầm cố chứng khoán chưa niêm yết CTCK Habubank năm 2007 52 Bảng 2.12 Dịch vụ hỗ trợ thông tin khách hàng CTCK Habubank năm 2007 53 Bảng 2.13 So sánh dịch vụ ứng trước tiền bán của các công ty 60 Bảng 2.14 So sánh dịch vụ cầm cố cổ phiếu niêm yết của các CTCK 60 LỜI CẢM ƠN Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo, PGS.TS Trần Đăng Khâm và các thầy cô giáo khoa Ngân hàng - Tài chính đã hướng dẫn chỉ bảo em rất tận tình và giúp đỡ em hoàn thành tốt chuyên đề thực tập tốt nghiệp. Bên cạnh đó em cũng rất cảm ơn các anh chị trong Công ty chứng khoán Habubank, đặc biệt là các anh chị Phòng môi giới đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em thực tập và hoàn thành chuyên đề này. ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc20284.doc
Tài liệu liên quan