Nâng cao năng lực của cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng hiện nay

BỘ GIÁO DỤC HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA VÀ ĐÀO TẠO PHẠM HẢI HƯNG NÂNG CAO NĂNG LỰC CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TRONG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG HÀ NỘI - 2007 Nội dung Trang Mở đầu 5 Chương 1. Một số cơ sở lý luận về nâng cao năng lực của cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện pháp luật ưu đãi 9 1.1. Một số khái niệm cơ bản của đề tài nghiên cứu 9 1.2. Các cơ quan hành chính Nhà

doc91 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 09/12/2013 | Lượt xem: 1125 | Lượt tải: 3download
Tóm tắt tài liệu Nâng cao năng lực của cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
nước trong việc thực hiện pháp luật ưu đãi 19 1.3. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực của cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện pháp luật ưu đãi người có công. 21 1.4. Kinh nghiệm quốc tế về giải quyết vấn đề ưu đãi người có công với cách mạng. 23 Chương 2. Thực trạng năng lực của cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện pháp luật ưu đãi người có công 26 2.1. Khái quát quá trình ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng từ năm 1945 tới nay 26 2.2. Khái quát về pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng hiện nay 31 2.3. Thực trạng năng lực của cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng 45 2.4. Một số vấn đề rút ra từ phân tích thực trạng 69 Chương 3. Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực của cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng hiện nay 70 3.1. Những định hướng chung 70 3.2. Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng của cơ quan hành chính Nhà nước 73 Kết luận chung 84 Tài liệu tham khảo 86 LỜI CẢM ƠN Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: - Hội đồng khoa học thuộc Học viện Hành chính Quốc gia; - Các thầy, cô giáo, các Giáo sư, Tiến sĩ đã tham gia giảng dạy và giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Luận văn; - Phó giáo sư, tiến sĩ Phạm Kiên Cường – Khoa Quản lý nhà nước về xã hội – Học viện Hành chính Quốc gia, người hướng dẫn khoa học tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành Luận văn này; - Lãnh đạo, cán bộ, chuyên viên Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, các Sở, Ban, ngành đã nhiệt tình cung cấp số liệu, tài liệu tạo mọi điều kiên thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu của Luận văn; - Những người thân trong gia đình và đồng nghiệp đã động viên, chia sẻ, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, công tác, nghiên cứu khóa học và hoàn thành Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn./. Hà Nội, ngày 04 tháng 12 năm 2007 Tác giả: Phạm Hải Hưng MỞ ĐẦU I. LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI Trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, có biết bao người đã hiến dâng tính mạng, xương máu, sức lực, trí tuệ và tuổi trẻ của mình cho Tổ quốc. Tổ quốc và nhân dân đời đời ghi nhớ công ơn to lớn của những người anh dũng ấy. Bởi vậy, ngay sau khi giành được chính quyền, từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác Hồ đã ký Sắc lệnh số 20/SL ngày 16/2/1947 về “ưu đãi người có công”. Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương khóa VIII trình đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cũng đã xác định nhiệm vụ “Thực hiện chính sách ưu đãi xã hội và vận động toàn dân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với các lão thành cách mạng, những người có công với nước, bà mẹ Việt Nam anh hùng, thương binh và cha mẹ, vợ con liệt sỹ, gia đình chính sách”. Căn cứ vào nhiệm vụ chính trị và dựa trên sự phát triển nền kinh tế xã hội, chính sách ưu đãi người có công của Đảng và Nhà nước ta luôn hướng tới mục tiêu ghi nhận công lao, sự đóng góp, sự hy sinh cao cả của những người có công, tạo mọi điều kiện, khả năng đền đáp, bù đắp phần nào về đời sống vật chất, văn hoá tinh thần đối với người có công. Đến nay, đã có nhiều văn bản đã được ban hành, từng bước đáp ứng chế độ ưu đãi đối với người có công trong lịch sử đất nước. Hiện nay, một mặt hệ thống các văn bản pháp luật đối với người có công vẫn chưa hoàn chỉnh, còn nhiều bất cập; mặt khác là trong quá trình thực hiện pháp lụât đưa pháp luật vào đời sống xã hội còn nhiều hạn chế bởi nhiều nguyên nhân. Vì vậy, xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật về ưu đãi với người có công đầy đủ hoàn thiện, phù hợp với sự pháp triển của đất nước, đồng thời phải nâng cao năng lực của cơ quan hành chính Nhà nước trong thực thực hiện pháp luật, giúp công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này được tốt hơn. Chính vì vậy, lựa chọn đề tài “Nâng cao năng lực của cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng ở nước ta trong hiện nay ” làm đề tài nghiên cứu. Đề tài sẽ làm rõ một số vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng và đề ra những giải pháp cho việc nâng cao năng lực của cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện pháp luật ưu đãi với người có công. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Trên cơ sở và thực trạng thực hiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật ưu đãi đối với người có công hiện nay, Luận văn đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực của cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện pháp luật đối với người có công ở nước ta hiện nay. III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU - Đối tượng nghiên cứu: Các cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện pháp luật ưu đãi đối với người có công. Trên cơ sở xem xét: + Các văn bản pháp luật ưu đãi đối với người có công. + Tài liệu tham khảo. + Báo cáo tổng kết của ngành. + Các giáo trình, bài giảng. - Khách thể nghiên cứu: Giải pháp nâng cao năng lực của các cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện pháp luật đối với người có công với cách mạng. IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU - Các cơ quan hành chính Nhà nước thuộc lĩnh vực tổ chức triển khai pháp luật ưu đãi người có công - Các văn bản pháp luật ưu đãi về người có công. - Thực trạng thực hiện pháp luật ưu đãi đối với người có công ở Việt Nam hiện nay. V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Phương pháp luận Luận văn nghiên cứu giải pháp nâng cao năng lực của các cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện pháp luật ưu đãi đối với người có công. Vì vậy, phải sử dụng phương pháp duy vật biện chứng để xem xét, nghiên cứu tính hệ thống và mối liên hệ phổ biến của các yếu tố đó với nhau. 2. Phương pháp phân tích và tổng hợp Xử lý các thông tin, số liệu, đánh giá các khía cạnh, các bình diện. Từ thực trạng và số liệu đó đưa ra các luận điểm, quan điểm. 3. Phương pháp so sánh Trong quá trình nghiên cứu, sử dụng phương pháp so sánh để thấy được thực trạng, các số liệu, thông tin việc thực hiện. 4. Phương pháp chuyên gia Trong quá trình nghiên cứu, lấy ý kiến các chuyên gia đầu ngành, các cán bộ quản lý Nhà nước có trình độ và kinh nghiệm trong lĩnh vực nhằm tìm ra các giải pháp nâng cáo năng lực của cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện pháp luật ưu đãi đối với người có công ở Việt Nam hiện nay. VI. NỘI DUNG: Chương I. Cơ sở lý luận về năng lực của các cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện pháp luật ưu đãi đối với người có công. Chương II. Thực trạng về năng lực của các cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện pháp luật ưu đãi đối với người có công ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Chương III. Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực của các cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện pháp luật đối với người có công ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH TRONG VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG 1.1. Một số khái niệm cơ bản của đề tài nghiên cứu 1.1.1 Khái niệm năng lực và năng lực của cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện pháp luật ưu đãi người có công. - Theo từ điển Tiếng Việt thì năng lực là khả năng làm việc tốt, nhờ có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn. Có sức để hoàn thành các công việc. - Năng lực của cơ quan hành chính Nhà nước là khả năng hoàn thành các chức năng mà pháp luật quy định cho các cơ quan hành chính. Chức năng nào thì năng lực ấy, chức năng phức tạp thì năng lực càng phải cao, tức là phải có năng lực tương ứng. Năng lực là một cái rất trừu tượng. Nó được thể hiện thông qua quy trình, thủ tục thực hiện công việc và kiến thức, kỹ năng của con người. Nếu quy trình, thủ tục tốt thì việc thực hiện các công việc được thực hiện tối ưu. Tuy nhiên, con người là yếu tố quan trọng nhất, thiếu những người có kiến thức kỹ năng thì năng lực cũng bị giảm xuống. - Xuất phát từ cách hiểu về năng lực của cơ quan hành chính Nhà nước như trên ta có thể hiểu: Năng lực của cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện pháp luật ưu đãi người có công là khả năng hoàn thành các chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật quy định cho các cơ quan này để thực thi pháp luật ưu đãi người có công. Như vậy, năng lực của cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện pháp luật ưu đãi người có công bao gồm: năng lực tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động; năng lực về nguồn nhân lực; năng lực tổ chức thực hiện chính sách; năng lực về thanh tra, kiểm tra; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực này. 1.1.2. Khái niệm người có công Do đặc điểm của lịch sử dân tộc và với truyền thống uống nước nhớ nguồn nên trong chính sách của Nhà nước ta qua các thời kỳ luôn có những ghi nhận và ưu đãi với một lớp người có những cống hiến, hy sinh hoặc có những thành tích, đóng góp đặc biệt xuất sắc cho đất nước. Những ưu tiên, ưu đãi đó đã được thể chế hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật và đã được thực hiện từ lâu. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào nêu rõ khái niệm người có công. Do đó, khái niệm này trước đây thường được hiểu theo nghĩa hẹp mà theo đó, người có công chỉ là người có công với cách mạng. Đó là những người có đóng góp trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận theo qui định của pháp luật. Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, căn cứ vào các tiêu chuẩn đối với từng đối tượng là người có công mà nhà nước ta đã quy định thì có thể hiểu người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã tự nguyện cống hiến sức lực, tài năng trí tuệ, có người hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp của dân tộc. Họ là những người có thành tích hoặc cống hiến xuất sắc phục vụ cho lợi ích của dân tộc được cơ quan có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật. Những đóng góp, cống hiến của họ có thể là trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc và cũng có thể là trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trên các lĩnh vực khoa học, công nghệ, văn hóa, nghệ thuật, thể thao... Theo cách hiểu này thì người có công với nước là một khái niệm rộng đồng thời là một phạm trù lịch sử, bao gồm không chỉ là người có công với cách mạng mà còn có cả các đối tượng khác như anh hùng lao động, nghệ sĩ nhân dân, nhà giáo nhân dân, thầy thuốc nhân dân... Theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng của Ủy Ban Thường Vụ Quốc hội số 26/2005/ PL – UBTVQH11 ngày 29/6/2005 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh ưu đãi người có công) thì khái niệm người có công cũng được hiểu theo nghĩa rộng này, bao gồm: - Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; - Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng Tám năm 1945; - Liệt sỹ; - Bà mẹ Việt Nam anh hùng; - Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động; - Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; - Bệnh binh; - Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học; - Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị bắt tù đày; - Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; - Người có công giúp đỡ cách mạng. Cần lưu ý rằng trong số các đối tượng được hưởng ưu đãi theo quy định của Pháp lệnh không bao gồm anh hùng lao động trong thời kỳ xây dựng đất nước, nghệ sĩ nhân dân, nhà giáo nhân dân, thầy thuốc nhân dân...dù những đối tượng này cũng có nhiều đóng góp cho đất nước. Theo quy định của Pháp lệnh thì đối tượng được hưởng ưu đãi không chỉ bao gồm những người có công kể trên mà còn có thể có cả thân nhân của họ. Đó là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng với người có công. Mặc dù đây không phải là đối tượng người có công theo đúng nghĩa nhưng sự ưu đãi của nhà nước và xã hội đối với thân nhân người có công là hết sức cần thiết bởi họ cũng là những người chịu thiệt thòi về tinh thần, tình cảm và khó khăn do sự cống hiến, hy sinh của người thân cho đất nước, dân tộc. Việc ưu đãi hợp lý đối với thân nhân người có công cũng chủ yếu trên cơ sở những đóng góp của người có công và nhu cầu của chính họ. Do đó, ưu đãi thân nhân người có công suy cho cùng cũng là ưu đãi người có công. Đó là đạo lý, là truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc đồng thời cũng nhằm hướng tới an sinh xã hội nói chung. 1.1.3. Khái niệm pháp luật ưu đãi người có công Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng hệ thống pháp luật và thực hiện pháp luật ưu đãi đối với người có công. Pháp luật ưu đãi đối với người có công bao gồm tổng thể những quy phạm pháp luật, điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong quá trình tổ chức và thực hiện chế độ ưu đãi đối với người có công trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Pháp luật ưu đãi đối với người có công quy định những nguyên tắc, hình thức và phương pháp thực hiện chế độ ưu đãi người có công, xác định quy chế pháp lý của các chủ thể trong hoạt động quản lý Nhà nước nhằm điều chỉnh mọi hoạt động của đời sống ưu đãi xã hội đối với người có công. 1.1.4. Khái niệm thực hiện pháp luật ưu đãi người có công Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật là mong muốn sử dụng chúng để điều chỉnh các quan hệ xã nhằm phục vụ lợi ích và mục đích của nhân dân lao động. Điều đó chỉ có thể đạt được khi các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành được thực hiện một cách chính xác và đầy đủ. Do vậy không chỉ ban hành thật nhiều các văn bản pháp luật, điều quan trọng là phải thực hiện pháp luật, làm cho những quy định của chúng trở thành hiện thực. Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Xuất phát từ khái niệm thực hiện pháp luật như trên ta có thể hiểu: Thực hiện pháp luật ưu đãi đối với người có công là làm cho những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội đối với người có công hình thành trong quá trình tổ chức và thực hiện chế độ ưu đãi trên các lĩnh vực đời sống. 1.1.5. Khái niệm cơ quan hành chính Nhà nước Để hiểu được cơ quan hành chính Nhà nước trước tiên ta cần phải tìm hiểu về bộ máy Nhà nước: Bộ máy Nhà nước là tổng thể các cơ quan từ Trung ương tới địa phương được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung thống nhất tạo thành một cơ chế đông bộ để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam chia ra thành các hệ thống sau: - Chủ tịch nước - Các cơ quan quyền lực Nhà nước - Các cơ quan hành chính Nhà nước - Các cơ quan xét xử - Viện kiểm sát nhân dân các cấp Vậy cơ quan hành chính Nhà nước là một bộ phận cấu thành của bộ máy Nhà nước được tổ chức theo luật định để thực hiện chức năng hành pháp và hành chính. a. Các đặc điểm của cơ quan hành chính Nhà nước: Cơ quan hành chính Nhà nước là một bộ phận của bộ máy Nhà nước, bởi vậy nó mang các đặc điểm chung của cơ quan Nhà nước: - Là một tổ chức có tính độc lập tương đối về cơ cấu tổ chức, được thành lập để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Cơ quan hành chính Nhà nước cũng là một hệ thống các cơ quan được tổ chức thống nhất từ cấp Trung ương cho tới địa phương hoạt động theo những nguyên tắc chung của bộ máy Nhà nước. Nó vừa là một hệ thống cơ quan hoàn chỉnh nhằm thực hiện một nhóm các chức năng của Nhà nước, vừa là một bộ phận cấu thành nên bộ máy của Nhà nước nói chung. Chính vì vậy nó phải được tổ chức theo cách thức đảm bảo được việc tiến hành các hoạt động độc lập, đồng thời có quan hệ chặt chẽ và chịu sự chi phối ở mức độ cần thiết từ phía các cơ quan khác của bộ máy Nhà nước để cùng hoàn thành nhiệm vụ và các mục tiêu chung, đảm bảo quan hệ tương hỗ và giám sát giữa các cơ quan này trong quá trình hoạt động. - Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan hành chính Nhà nước do Hiến pháp, luật, pháp lệnh và những văn bản khác dưới luật, hay nói chung là do các văn bản pháp luật thuộc ngành luật Nhà nước quy định. Trong số các thiết chế trong xã hội nói chung, trong hệ thống chính trị nói riêng, Nhà nước có vai trò đặc biệt và chiếm vị trí trung tâm. Nó là chủ thể mang quyền lực của nhân dân, do nhân dân tổ chức ra và thay mặt nhân dân tiến hành các hoạt động quản lý kiểm soát các hoạt động trong toàn xã hội. Bởi vậy việc tổ chức và hoạt động của bộ máy này cần được quy định và giám sát chặt chẽ. Một hệ thống các quy định riêng (các quy phạm pháp luật của ngành luật Nhà nước) được xây dựng để điều chỉnh các quan hệ về thiết lập và thực hiện quyền lực Nhà nước. Cơ quan hành chính Nhà nước là một bộ phận hữu cơ của bộ máy Nhà nước. Tổ chức và hoạt động của nó cũng được điều chỉnh bởi một bộ phận trong nhóm quy phạm pháp luật loại này. - Cơ quan hành chính Nhà nước hoạt động trong khuôn khổ thẩm quyền của mình. Mỗi cơ quan đảm nhận một phần công việc của Nhà nước và để thực hiện được phần công việc đó nó được trao những thẩm quyền tiến hành các công việc nhất định: được ban hành những văn bản pháp luật nhất định (cả văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp dụng pháp luật), giải quyết những loại vụ việc nhất định, tác động đến những đối tượng nhất định... Việc phân định rành mạch thẩm quyền của các cơ quan và của việc thực hiện chính xác thẩm quyền đó có tầm quan trọng đặc biệt vì nó đảm bảo tính đồng bộ và sự phối kết hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính cũng như trong tổ chức bộ máy Nhà nước nói chung. Các cơ quan hành chính Nhà nước cần xác định rõ phạm vi các công việc thuộc quyền hạn giải quyết của mình và tôn trọng những công việc thuộc thẩm quyền của các cơ quan khác để tránh hiện tượng thực hiện nhiệm vụ sai, thực hiện chồng chéo, hoặc ngược lại, bỏ sót các nhiệm vụ. Bên cạnh đó, cơ quan hành chính Nhà nước còn có những đặc điểm riêng của mình. - Là cơ quan thực hiện chức năng quản lý hành chính Nhà nước, tức là thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành. - Cơ quan hành chính Nhà nước là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực Nhà nước. Các cơ quan đầu não của bộ máy hành chính Nhà nước do các cơ quan quyền lực thành lập. Do đó, như một hệ quả tất nhiên, chúng chịu sự kiểm tra, giám sát của những cơ quan này. Tuy nhiên lý do chính để các cơ quan hành chính Nhà nước có nhiệm vụ chấp hành cơ quan quyền lực chính là ở chỗ, nằm trong một chỉnh thể của bộ máy Nhà nước, cơ quan hành chính Nhà nước có vị trí vai trò riêng biệt, đảm nhận những chức năng và nhiệm vụ riêng biệt và là một bộ phận không thể tách rời trong chỉnh thể đó để cùng thực hiện chức năng Nhà nước. Trong sự phân định chức năng quyền hạn của các nhóm cơ quan quyền lực - hành chính - tư pháp thì cơ quan hành chính Nhà nước có nhiệm vụ triển khai thực hiện các quyết định của cơ quan quyền lực (không kể cơ quan quyền lực đó có phải là cơ quan thành lập ra nó hay không). Theo quy định của pháp luật, các cơ quan hành chính Nhà nước cụ thể sẽ chịu sự lãnh đạo và giám sát của cơ quan quyền lực tương ứng. - Thẩm quyền của cơ quan hành chính chỉ giới hạn trong phạm vi chấp hành và điều hành. Đây là nét đặc thù để phân biệt cơ quan hành chính Nhà nước với các loại cơ quan khác trong bộ máy Nhà nước. Cơ quan hành chính Nhà nước, như trên vừa phân tích, là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực, nghĩa là nó có nhiệm vụ triển khai thực hiện tất cả các quyết định (thể hiện dưới dạng các văn bản quy phạm pháp luật) của cơ quan này. Tuy nhiên, đây chỉ là một mặt trong nhiệm vụ (và cũng là thẩm quyền) cơ quan hành chính Nhà nước. Thẩm quyền của cơ quan hành chính Nhà nước còn thể hiện ở cả mặt thứ hai: điều hành nền hành chính Nhà nước. Do vậy không thể hiểu về cơ quan hành chính Nhà nước như một loại cơ quan thụ động, hoạt động hoàn toàn lệ thuộc vào sự chỉ đạo của cơ quan quyền lực Nhà nước mà cần phải thấy hết vai trò năng động của nó trong thực hiện chức năng Nhà nước nói chung. Cụ thể, đó là quyền tổ chức triển khai các quyết định đó như thế nào, cách thức, biện pháp, kế hoạch, mục tiêu cụ thể ra sao, làm thế nào để thu hút được các nguồn lực cần thiết cũng như hạn chế các trở ngại từ mọi phương diện…và trong quá trình đó, nó cũng được ban hành các văn bản pháp lý cần thiết để xử lý điều hành công việc. - Các cơ quan hành chính Nhà nước có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một hệ thống. Tính hệ thống của cơ quan hành chính Nhà nước được quyết định bởi hai lý do: Thứ nhất, do yêu cầu của thực tiễn giải quyết công việc cần phải trải qua nhiều bước, từ bắt đầu là việc thụ lý cho đến giai đoạn cuối là ban hành ra các quyết định cần thiết cho đến những việc như xử lý các sự cố, các vụ việc ngoại lệ cũng như xử lý các hành vi vi phạm pháp luật xảy ra trong quá trình tiến hành công việc (nếu vi phạm đó là từ phía cơ quan Nhà nước) hay trong quá trình thực hiện quyết định có hiệu lực pháp luật đã được cơ quan có thẩm quyền ban hành. Mỗi công đoạn đó, do có tính chất và những nội dung công việc khác nhau cần có những cơ quan chuyên môn nhất định đảm trách. Do vậy, có nhiều cơ quan cùng tồn tại trong bộ máy hành chính. Thêm vào đó, tính hệ thống cũng còn xuất phát từ nhu cầu khách quan là chúng cần phải liên kết và phối hợp với nhau một cách chặt chẽ để giải quyết công vụ một cách hiệu quả và triệt để. Thứ hai, cơ quan hành chính Nhà nước có nhiệm vụ quản lý mọi mặt của đời sống xã hội. Như vậy phạm vi công việc mà nó đảm đương bao trùm lên mọi lĩnh vực của đời sống dân sự: kinh tế, lao động, xã hội, văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ… Mỗi mảng công việc đó cũng cần có một hệ thống cơ quan chuyên môn khác nhau giải quyết. Giữa những cơ quan đó cũng có mối quan hệ mật thiết để trong quá trình cùng tồn tại và hoạt động chúng không làm hạn chế hay gây ra những trở lực cho nhau mà phải trên nguyên tắc hỗ trợ và cùng hoàn thành nhiệm vụ. Như vậy, xem xét ở cấp độ vi mô (giải quyết một công việc) hay vĩ mô (điều hành cả một nền hành chính) thì hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước đều cần phải có tính tổ chức ở mức cao do cần điều hoà hoạt động của các công việc cụ thể hay các nhóm công việc với nhau. Số lượng các cơ quan tham gia vào các hoạt động hành chính rất lớn được kiểm soát theo ngành, lĩnh vực và theo đơn vị lãnh thổ. Từng cấp quản lý (theo ngành, lĩnh vực hay theo lãnh thổ) đều có những cơ quan đầu mối để nắm công việc, điều phối hoạt động, đôn đốc và chịu trách nhiệm… Nếu theo ngành, thì đó chính là cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền chuyên môn (thẩm quyền riêng). Nếu theo lãnh thổ thì đó là các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền chung. Các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền chung này, một lần nữa lại là đầu mối của tất cả các cơ quan quản lý Nhà nước theo ngành trên địa bàn. Như vậy, những cơ quan này sẽ được xem là cơ quan cấp trên của tất cả các cơ quan quản lý chuyên môn trên địa bàn đó. Cơ quan trung tâm của toàn bộ hệ thống và là cơ quan có thẩm quyền quản lý hành chính cao nhất trên phạm vi toàn lãnh thổ là Chính phủ và Chính phủ phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động chấp hành, điều hành trước Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân. b. Cơ cấu, chức năng cơ quan hành chính Nhà nước - Ở Trung ương: + Chính phủ là cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền chung, thực hiện chức năng quản lý tổng hợp. + Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ là cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền riêng, thực hiện chức năng quản lý theo ngành hoặc theo lĩnh vực. - Ở địa phương: + Uỷ ban nhân dân các cấp là cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền chung ở địa phương, thực hiện chức năng quản lý tổng hợp tại địa phương. + Các cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân là cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền riêng, thực hiện chức năng quản lý theo ngành hoặc theo lĩnh vực. 1.2. Các cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện pháp luật về người có công với cách mạng hiện nay Cơ quan hành chính Nhà nước trong việc thực hiện pháp luật ưu đãi người có công là một bộ phận cấu thành cơ quan hành chính Nhà nước và nằm trong hệ thống hành chính Nhà nước. Nó cũng có đặc điểm, cơ cấu tổ chức và các chức năng như những cơ quan hành chính Nhà nước khác trong hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước. Song nó có đặc điểm đặc thù là cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của nó là thay mặt Nhà nước thường trực giải quyết những vấn đề trong mối quan hệ xã hội đối với lĩnh vực ưu đãi người có công. 1.2.1. Cơ cấu cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng hiện nay - Chính phủ thống nhất quản lý tổ chức thực hiện các chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng trên phạm vi cả nước. - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện chức năng quản lý tổ chức các chế độ ưu đãi theo quy định của Pháp lệnh ưu đãi người có công. Các Bộ, ngành có liên quan trong phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý về ưu đãi người có công. Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội ở địa phương và các cơ quan cùng cấp có liên quan: thực hiện quản lý về các chế độ ưu đãi trong phạm vi địa phương, ngành mình. Cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý về chế độ ưu đãi người có công với cách mạng theo phân cấp của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. 1.2.2. Nội dung thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng của cơ quan hành chính Nhà nước - Thống kê số lượng, sự biến động của các đối tượng ưu đãi. - Ban hành văn bản pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng - Tổ chức sơ kết, tổng kết, nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các văn bản cho phù hợp. - Tổ chức thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng - Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tổ chức, thực hiện phong trào toàn dân chăm sóc người có công với nước. - Giải quyết khiếu nại, tố cáo, thanh tra và xử lý vi phạm trong việc thực hiện chế độ ưu đãi và các quy định có liên quan khác của pháp luật. 1.3. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực của cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện pháp luật ưu đãi người có công Sự cần thiết phải nâng cao năng lực của cơ quan hành chính Nhà nước xuất phát từ các lý do sau: a. Xuất phát từ nhu cầu khách quan - Xã hội luôn luôn vân động và phát triển, các quan hệ xã hội không ngừng vận động, biến đổi và ngày càng phức tạp, từ đó đòi hỏi Nhà nước nói chung cũng như cơ quan hành chính Nhà nước luôn không ngừng củng cố và nâng cao năng lực của mình để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước. Trong điều kiện tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là tiến bộ của khoa học quản lý, việc áp dụng những tiến bộ công nghệ quản lý là một tất yếu khách quan và vì thế việc nâng cao năng lực quản lý của cơ quan hành chính Nhà nước trong việc thực hiện pháp luật ưu đãi người có công bao gồm cả việc trang bị kỹ thuật công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực để sử dụng những thiết bị kỹ thuật công nghệ vào lĩnh vực quản lý hồ sơ, quản lý chi trả trợ cấp, theo dõi sự biến động của đối tượng... theo xu hướng hiện đại hóa nền hành chính nói chung và hiện đại hóa việc quản lý Nhà nước đối với việc thực hiện pháp luật ưu đãi người có công là hết sức cần thiết khách quan. Việc nâng cao năng lực này nó không những đảm bảo việc tổ chức quản lý chặt chẽ, chính xác và khoa học mà còn đảm bảo việc thực thi chính sách đúng đối tượng, giảm thiểu những phiền hà cho đối tượng và làm trong sạch bộ máy thực thi pháp luật ưu đãi người có công. - Xuất phát từ điều kiện kinh tế và xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay: + Đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, từ nền hành chính cai trị sang nền hành chính phục vụ đòi hỏi mọi hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước phải có hiệu quả nhằm đáp ứng nền kinh tế thị trường. Cho nên, muốn hoạt động có hiệu quả đòi hỏi các cơ quan hành chính Nhà nước phải nâng cao năng lực của mình. + Xuất phát từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong xu thế toàn cầu hóa. Chúng ta cũng phải tranh thủ sự đóng góp, hợp tác quốc tế của cộng đồng quốc tế trong việc thực hiện chính sách người có công, từ đó đòi hỏi phải nâng cao năng lực hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước. + Xuất phát từ năng lực chung của bộ máy Nhà nước hoạt động còn chưa có hiệu quả, từ đó đòi hỏi chúng ta phải nâng cao hơn nữa năng lực của cả bộ máy Nhà nước, trong đó có cơ quan hành chính Nhà nước. b. Xuất phát từ thực trạng năng lực của cơ quan hành chính Nhà nước trong quá trình thực hiện pháp luật đối với người có công với cách mạng ở Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế; hệ thống trang thiết bị, công nghệ quản lý còn rất thủ công thô sơ, việc lưu giữ số liệu và hồ sơ đại bộ phận vẫn thực hiện theo nguyên tắc truyền thống là quản lý thực thể, như vậy không những vừa khó bảo quản, vừa lạc hậu lại vừa không thích hợp với khí hậu Việt Nam khí hậu ẩm, hay có thiên tai, lũ lụt; mặt khác phải huy động một lực lượng đáng kể nhân lực để thực hiện công việc vừa lãng phí vừa thiếu chặt chẽ, vì lực lượng này là yếu tố lịch sử để lại nên phần lớn là lực lượng bộ đội, thanh niên xung phong chuyển ngành, tuy họ có lòng nhiệt huyết cách mạng và bề dày thành tích nhưng lại hết sức hạn chế về kỹ thuật chuyên môn nghiệp vụ. 1.4. Kinh nghiệm quốc tế về giải quyết vấn đề ưu đãi người có công Ở các nước trên thế giới, dù chế độ chính trị có khác nhau nhưng dù ở bất cứ quốc gia nào cũng có một bộ phận dân cư là những người có công với Tổ quốc của họ. Chính vì vậy, ở các nước đều có những chính sách đối với người có công đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ đất nước. Tuy nhiên, tùy theo từng điều kiện chính trị – kinh tế – xã hội khác nhau của mỗi quốc gia mà có các chính sách khác nhau, đồng thời các nước có các cơ quan quản lý nhà nước để thực hiện các chính sách đó (như Bộ Chiến Tranh, Bộ Xã hội, Bộ phúc lợi xã hội, Bộ Lao động...). Ở các nước tư bản phát triển như Anh, Mỹ, Pháp, Úc... thực hiện pháp luật ưu đãi đối với quân nhân khi c._.òn đang tại ngũ thông qua chế độ vừa là nghĩa vụ vừa bắt buộc và áp dụng chế độ tiền lương cho quân nhân, cho sỹ quan khi tại ngũ; nếu bị thương thì tùy theo mức độ thương tật để hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng. Nếu bị tử trận thì được hưởng chế độ trợ cấp nuôi dưỡng thân nhân. Nếu lập thành tích xuất sắc trong chiến đấu thì được tôn vinh và thưởng “Mề đay”, đi đôi với nó là khoản tiền thưởng lớn. Chế độ ưu đãi này không chỉ áp dụng cho quân nhân của chính quốc mà còn tùy điều kiện áp dụng cho cả quân nhân các nước thuộc địa hay lính đánh thuê. Quân nhân khi hết tuổi phục vụ trong quân ngũ được hưởng chế độ hưu bổng tùy thuộc vào cấp bậc và thời gian làm việc trong quân ngũ. Những quân nhân tham gia chiến trận được tính thêm thêm hệ số hưởng phụ cấp. Một số nước còn có chế độ ưu tiên trong việc cung cấp nhà ở hoặc trong hoạt động phúc lợi công cộng khác. Những quân nhân mất khả năng lao động thì được hưởng chế độ phụ cấp suốt đời... Pháp luật bảo trợ của Liên Xô cũ có nhiều hình thức như: bảo hiểm tuổi già, bảo hiểm bệnh tật, bảo hiểm về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, nuôi dưỡng người tàn phế, v.v... Trong đó có các quy định đối với thương binh trong chiến tranh vệ quốc thì trợ cấp được nâng lên 10% so với những quân nhân bị tai nạn lao động trong khi thực hiện nhiệm vụ quân sự có cùng hạng thương tật. Các thương binh ở nhóm 1, nhóm 2 sống cùng gia đình được giảm 50% tiền nhà ở, tiền lò sưởi, chất đốt, tiền điện, nước. Tất cả các thương binh được miễn phí khi đi lại trên các phương tiện giao thông trong thành phố (trừ taxi). Gia đình liệt sĩ được hưởng trợ cấp đặt biệt. Ở Trung Quốc trong luật bảo hiểm xã hội có quy định chế độ ưu đãi đối với anh hùng có công trong chiến tranh và trong xây dựng đất nước. Họ được nhận trợ cấp ưu đãi cao hơn mức với những người bình thường khi nghỉ hưu khoảng 15%. Luật bảo trợ tàn tật của Trung Quốc cũng ghi nhận Nhà nước và xã hội thực hiện bảo đảm ưu đãi và trợ cấp đối với thương binh, nhân viên bị tàn tật vì lợi ích của Nhà nước và của nhân dân. Ở I rắc, sau chiến tranh vùng Vịnh, các quân nhân tham gia chiến tranh, khi giải ngũ được cấp một căn hộ và một khoản tiền 60 000 USD. Những người lính chết trận được ghi công và thân nhân của họ được trợ cấp suốt đời. Nói tóm lại, dù các nước, đối tượng có công khác nhau và mức độ thực hiện khác nhau tùy theo hoàn cảnh của mỗi nước nhưng đều thấy rõ những đặc điểm sau: - Thực hiện nhiệm vụ ưu đãi những người có công là nhiệm vụ chính trị, phục vụ các mục tiêu chính trị của các giai cấp cầm quyền. - Việc tổ chức thực hiện ưu đãi người có công là do nhà nước đảm nhiệm là chính. - Người có công được đảm bảo về các mặt như trợ cấp vật chất, chăm sóc sức khỏe, đảm bảo việc làm... sao cho mức sống vật chất và tinh thần của các đối tượng hưởng không được thấp hơn mức sống trung bình của công đồng. - Việc ban hành và thực hiện pháp luật ưu đãi được quy định chặt chẽ và được điều chỉnh tùy thuộc vào điều kiện kinh tế – xã hội của mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TRONG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1. Khái quát quá trình ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng ở nước ta từ năm 1945 tới nay Chính sách người có công là một vấn đề rộng lớn, mang ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc. Trên cơ sở chính sách người có công được ban hành, tổ chức thực hiện các chính sách đó thông qua các hoạt động cụ thể: thể chế nội dung chính sách thành các quy phạm pháp luật, quy định, hướng dẫn... và tổ chức hoạt động thực hiện trong đời sống xã hội. Vì thế, pháp luật ưu đãi người có công là sự thể chế hoá chủ trương của Đảng thành chính sách người có công trong đời sống xã hội, bao gồm tổng thể những quy phạm pháp luật, điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong quá trình tổ chức và thực hiện chế độ ưu đãi đối với người có công trên các lĩnh vực của đời sống: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội... 2.1.1. Giai đoạn 1945 - 1954 Sự hình thành và phát triển của pháp luật ưu đãi người có công và tổ chức thực hiện ở nước ta luôn gắn với các chặng đường của cách mạng. Ngay sau khi giành được chính quyền, ngày 16/2/1947 Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã ký Sắc lệnh số 20/SL (sau đó được sửa đổi, bổ sung bằng Sắc lệnh số 242/SL ngày 12/10/1948) quy định về “hưu bổng thương tật và tiền tuất cho thân nhân tử sỹ”, trong đó có quy định về tiêu chuẩn xác nhận là thương binh, tử sỹ và các chế độ ưu đãi đối với họ và thân nhân. Có thể coi đây là văn bản pháp luật về ưu đãi người có công đầu tiên ở nước ta. Sau khi hoà bình lập lại ở miền Bắc năm 1954, hàng loạt các văn bản pháp luật về ưu đãi người có công được ban hành như: Nghị định số 18/NĐ và số 19/NĐ ngày 17 /11/1954 của Liên Bộ Thương binh – Y tế – Quốc phòng – Tài chính; Điều lệ về ưu đãi thương binh, dân quân, du kích, thanh niên xung phong bị thương tật; Điều lệ ưu đãi bệnh binh; Điều lệ ưu đãi gia đình liệt sỹ ban hành kèm theo Nghị định 980/TTg ngày 27/7/1956... Với hàng loạt các văn bản này, phạm vi các đối tượng là người có công ngày càng được mở rộng và các tiêu chuẩn, chế độ đối với họ cũng được quy định chặt chẽ với nhiều nội dung ưu đãi hơn như: quy định về tiền tuất một lần và trợ cấp khó khăn cho gia đình liệt sỹ; quy định về cất bốc, quy tập mộ liệt sỹ, xây dựng nghĩa trang; quy định về ưu đãi việc làm, khám chữa bệnh, cung cấp phương tiện chuyên dùng, miễn, giảm vé tàu xe, xem văn công, chiếu bóng; quy định về hồ sơ thương binh, liệt sỹ và tổ chức bộ máy Bộ Thương binh – Cựu binh. Đặc biệt, chế độ hưu bổng thương tật theo Sắc lệnh 20/SL đã được thay thế bằng chế độ phụ cấp thương tật sáu hạng; khái niệm tử sỹ được thay thế bằng liệt sỹ; Bằng Tổ quốc ghi công do Thủ tướng Chính phủ cấp thay cho Bộ Thương binh, Cựu binh và Quốc phòng trước đây. Trong thời kỳ này, ở Trung ương cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất là Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý chung và để thực hiện pháp luật ưu đãi theo quyết định của Chính phủ ngày 19/7/1947, Bộ Thương binh – Cựu binh được thành lập, trước đó thì công tác Thương binh, liệt sỹ được giao cho Cục Chính trị, Bộ Quốc phòng. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Bộ quy định tại Sắc lệnh số 613/ SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký. Ở địa phương có các Ủy ban hành chính Nhà nước, thực hiện chức năng quản lý công tác hành chính ở địa phương, thi hành các nghị quyết của Hội đồng nhân dân địa phương mình sau khi được chuẩn y; thi hành các mệnh lệnh của cơ quan hành chính Nhà nước cấp trên; 2.1.2. Giai đoạn 1954 -1975 Giai đoạn kháng chiến chống Mỹ (từ 1954 đến tháng 4/1975) hết sức gian khổ nhưng các chế độ ưu đãi với người có công vẫn được quan tâm. Điều đó được thể hiện trong hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề này như: Nghị định 14/CP ngày 2/2/1962; Nghị định số 161/CP ngày 30/7/1964 về chế độ đãi ngộ đối với quân nhân, dân quân du kích; Chỉ thị số 71/TTg ngày 21/6/1965 về chế độ đối với thanh niên xung phong; Nghị định số 77/CP ngày 26/4/1966 về chế độ dân công thời chiến; Quyết định số 84/CP ngày 4/5/1966 về chế độ đối với lực lượng vận tải nhân dân; Nghị định số 111/CP ngày 20/7/1967 về chế độ đối với công nhân viên chức, cán bộ giữ chức vụ chủ chốt của xã, dân công phục vụ các chiến trường quan trọng; Nghị định số 111/CP ngày 28/6/1973 về chế độ đối với cán bộ y tế làm nhiệm vụ cấp cứu phòng không... Theo các văn bản này, chế độ trợ cấp thương tật đã bao gồm tám hạng đối với quân nhân, quân nhân dự bị, quân nhân tự vệ và công nhân viên chức bị thương trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc làm nhiệm vụ và được chia làm 2 loại: loại A (bị thương vì chiến đấu với địch, anh dũng làm nhiệm vụ xứng đáng nêu gương cho chiến sỹ học tập) và loại B (bị thương trong luyện tập quân sự, trong công tác, học tập, lao động, xây dựng, sản xuất). Thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến, lực lượng vận tải, cán bộ chủ chốt xã...cũng được bổ sung vào đối tượng được xác nhận là thương binh; các cơ quan, xí nghiệp có trách nhiệm tiếp nhận thương binh vào làm việc theo tỷ lệ 5% biên chế của mình... Có thể nói, pháp luật về ưu đãi người có công thời kỳ này đã góp phần to lớn để ổn định hậu phương, động viên cán bộ, chiến sỹ và nhân dân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong thời kỳ từ năm 1954, sau khi hoà bình được lập lại tại miền Bắc. Theo Hiến pháp mới, Hội đồng Chính phủ là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất thực hiện chức năng quản lý chung, Bộ Thương binh - Cựu binh chuyển từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội, chức năng của Bộ có những thay đổi cho phù hợp với tình hình mới. Tháng 4/1959, Bộ Thương binh – Cựu binh giải thể, toàn bộ công tác Thương binh, liệt sỹ được chuyển giao cho Bộ Nội Vụ phụ trách. Ngày 20/3/1965, Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 36/CP thành lập Vụ số 8 trực thuộc Bộ Nội Vụ để thống nhất quản lý chính sách, chế độ đối với gia đình những cán bộ đi “ công tác đặc biệt”; Quản lý mồ mả, hồ sơ, di sản của công nhân viên chức và đồng bào miền Nam ra Bắc. Ở địa phương có các Ủy ban hành chính Nhà nước, thực hiện chức năng quản lý công tác hành chính ở địa phương, chấp hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp mình và nghị quyết, mệnh lệnh của cơ quan hành chính Nhà nước cấp trên. 2.1.3. Giai đoạn 1975 - 1985 Sau khi hoà bình lập lại trên cả nước, Hội đồng Chính phủ đổi tên là Hội đồng Bộ trưởng, với chức năng quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hôi, an ninh quốc phòng và đối ngoại của Nhà nước. Quốc hội khoá V năm 1975 ra văn bản số 160/QH – HC thành lập Bộ Thương binh và Xã hội trên cơ sở bộ phận làm công tác Thương binh liệt sỹ của Bộ Nội Vụ cũ; sau đó một số đơn vị được thành lập như Cục quản lý Thương binh, Vụ phục hồi chức năng cho thương binh…, củng cố và phát triển bộ máy thuộc ngành. Ở địa phương, ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính Nhà nước, Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và trước Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp; Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và trước Hội đồng Bộ trưởng. Trong thời kỳ này, Nhà nước ta càng có điều kiện để thể chế hóa các chế độ ưu tiên, ưu đãi đối với người có công. Các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành ở thời gian này tập trung vào việc xác nhận thương binh, liệt sỹ và sửa đổi các chế độ ưu đãi cho phù hợp. Bên cạnh việc thực hiện tiếp các quy định đã ban hành, một số đối tượng mới được bổ sung vào diện hưởng ưu đãi như người có công giúp đỡ cách mạng (Quyết định số 208/CP ngày 20/7/1977), bệnh binh (Quyết định số 78/CP ngày 13/4/1978); cán bộ hoạt động cách mạng trước cách mạng tháng 8/1945. Quyết định số 301/CP ngày 20/9/1980 cũng bổ sung về tiêu chuẩn xác nhận thương binh, liệt sỹ và chế độ đối với họ trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế. Đặc biệt, Nghị định số 236/HĐBT ngày 18/9/1985 đã góp phần xóa bỏ tính tản mạn của các văn bản ưu đãi người có công bằng cách thống nhất một số chế độ trợ cấp, phụ cấp ưu đãi, thống nhất trợ cấp thương tật và cách xếp hạng... Chế độ ưu đãi trong thời kỳ này đã bước đầu cân đối với chế độ tiền lương của công nhân, viên chức lao động. 2.1.4. Giai đoạn 1986 đến nay Giai đoạn 1986 đến nay, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI về đổi mới cơ chế quản lý, tinh giảm và nâng cao hiệu lực quản lý bộ máy Nhà nước, ngày 16/2/1987 Hội đồng Nhà nước đã ra Quyết định số 782/HĐNN hợp nhất hai Bộ là Bộ Lao động và Bộ thương binh - xã hội thành Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Từ thời gian đó tới nay, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã nhiều lần xây dựng phương án sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy tham mưu cho Chính phủ thực hiện chức năng quản lý đối với người có công, thực hiện chức năng quản lý theo ngành, tổ chức tốt chính sách người có công. Ở địa phương, Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân. Đây là giai đoạn có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của pháp luật về ưu đãi ở nước ta. Trong vấn đề ưu đãi đối với người có công, hệ thống pháp luật đã có những thay đổi rất quan trọng để phù hợp với tình hình kinh tế- xã hội của thời kỳ đổi mới. Nhà nước đã đề ra nhiều văn bản luật pháp ưu đãi xã hội đối với người có công, trong đó nổi bật nhất là việc ban hành Pháp lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh...và Pháp lệnh quy định danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” được Chủ tịch nước công bố ngày 10 tháng 9 năm 1994. Đây là hai văn bản pháp luật nhằm thể chế hoá Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, đánh dấu sự tiến bộ trong hệ thống chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công. Hướng dẫn thực hiện hai pháp lệnh này là các nghị định, thông tư... tạo thành hệ thống pháp luật về ưu đãi người có công. Năm 1998 và năm 2000 Pháp lệnh ưu đãi người có công (1994) lại được sửa đổi cho phù hợp với điều kiện mới và quá trình cải cách hành chính. Điều đó chứng tỏ rằng Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến người có công, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển kinh tế của đất nước. Để thực hiện hai Pháp lênh trên cơ quan hành chính với tư cách là cơ quan hành pháp đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết và tổ chức thực hiện đưa pháp luật vào đời sống xã hội. Từ trước tới nay, pháp luật về ưu đãi người có công được quy định vào khoảng trên 100 văn bản của cơ quan hành chính Nhà nước, dưới các dạng nghị định, quyết định, thông tư... Với khối lượng văn bản lớn như vậy nên không tránh khỏi sự trùng lặp, tản mạn và mâu thuẫn lấn nhau... 2.2. Khái quát về pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng hiện nay Pháp luật ưu đãi người có công đã đi vào đời sống xã hội, đã giải quyết được các nhiệm vụ về chính trị, kinh tế… mặc dù trong điều kiện kinh tế nước ta còn nghèo nàn, lạc hậu lại trong bối cảnh chiến tranh liên miên, trong một thời gian bao cấp dài, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa cùng với tiến trình phát triển kinh tế xã hội mức trợ cấp hỗ trợ cho đời sống đối với người có công ngày một nâng phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Ngoài ra, người có công với cách mạng còn được hưởng những chế độ ưu đãi khác như ưu đãi về thuế trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ, việc làm... Nhà nước ta với trách nhiệm đối với những người đã có nhiều sự hy sinh cống hiến từng bước hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện nó. Hàng năm, Nhà nước dành kinh phí đáng kể chi về trợ cấp đối với người có công, đồng thời là sự kiên quyết áp dụng các các biện pháp nhằm xử lý đúng và kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật làm cơ sở cho việc thực hiện pháp luật được tốt. 2.2.1. Pháp luật quy định những đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng 1. Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đã tham gia tổ chức cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945. 2. Người hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19/8/1945 Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng Tám năm 1945 là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đứng đầu một tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã hoặc thoát ly hoạt động cách mạng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng Tám năm 1945. 3. Liệt sĩ Liệt sĩ là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của nhà nước, của nhân dân được Nhà nước truy tặng Bằng "Tổ quốc ghi công" thuộc một trong các trường hợp sau đây: - Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu (chiến đấu, tiễu phỉ, trừ gian, trấn áp phản cách mạng, lùng bắt gián điệp, biệt kích). - Trực tiếp đấu tranh chính trị, đấu tranh binh vận có tổ chức với địch (Trực tiếp phục vụ chiến đấu: tải đạn, cứu thương, tải thương, bảo đảm giao thông liên lạc, tiếp tế lương thực, thực phẩm, cứu chữa kho hàng, bảo vệ hàng hoá khi địch bắn phá). - Hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh hoặc thực hiện chủ trương vượt tù, vượt ngục mà hy sinh. - Làm nghĩa vụ quốc tế (Được tổ chức phân công đi làm nghĩa vụ quốc tế mà bị chết trong khi thực hiện nhiệm vụ hoặc bị thương, bị bệnh phải đưa về nước điều trị nhưng không cứu chữa được). Trường hợp bị chết do tự bản thân gây nên hoặc vi phạm pháp luật, vi phạm quy định của cơ quan, đơn vị hoặc trong khi học tập, tham quan, du lịch, an dưỡng, chữa bệnh, thăm viếng hữu nghị, làm việc theo hợp đồng kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá, giáo dục, lao động thì không thuộc diện xem xét xác nhận là liệt sĩ. - Đấu tranh chống tội phạm (Dũng cảm đấu tranh chống lại hoặc ngăn chặn các hành vi gây nguy hiểm cho xã hội là tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự). - Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của và nhân dân. - Do ốm đau, tai nạn khi đang làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn khi làm nhiệm vụ quy tập hài cốt liệt sĩ ở vùng rừng núi, hải đảo và ở nước ngoài. - Thương binh hoặc người hưởng chính sách như thương binh chết vì vết thương tái phát trong các trường hợp: + Suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên chết do vết thương tái phát. + Suy giảm khả năng lao động từ 21% đến 80% chết trong khi đang điều trị vết thương tái phát tại bệnh viện cấp tỉnh trở lên. Thân nhân liệt sĩ là những người thân thiết ruột thịt của liệt sĩ do quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, huyết thống, được cấp “Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ”. Thân nhân sau đây của liệt sĩ được hưởng chế độ ưu đãi: - Cha đẻ, mẹ đẻ của liệt sĩ. - Vợ hoặc chồng liệt sĩ: Là người có quan hệ hôn nhân hợp pháp hoặc hôn nhân thực tế được pháp luật công nhận. Trường hợp vợ hoặc chồng liệt sĩ đã lấy chồng hoặc lấy vợ khác nhưng đã nuôi con liệt sĩ đến tuổi trưởng thành hoặc chăm sóc bố mẹ liệt sĩ khi còn sống được ủy ban nhân dân cấp xã công nhận thì được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng. - Con liệt sĩ: Gồm con đẻ, con nuôi hợp pháp và con ngoài giá thú theo quy định của pháp luật. - Người có công nuôi dưỡng liệt sĩ: Là người đã thực sự nuôi dưỡng liệt sĩ khi còn dưới 16 tuổi, đối xử như con đẻ và thời gian nuôi từ mười năm trở lên. 4. Bà mẹ Việt Nam anh hùng Bà mẹ Việt Nam anh hùng là những bà mẹ có nhiều cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế thuộc một trong các trường hợp sau: - Có 2 con là liệt sĩ và có chồng hoặc bản thân là liệt sĩ - Có 2 con mà cả 2 con là liệt sĩ hoặc chỉ có 1 con mà con đó là liệt sĩ - Có 3 con trở lên là liệt sĩ - Có 1 con là liệt sĩ, chồng và bản thân là liệt sĩ 5. Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, anh hùng lao động Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, anh hùng lao động bao gồm: - Người được nhà nước tặng hoặc truy tặng danh hiệu "Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân" theo quy định của pháp luật; - Người được nhà nước tuyên dương Anh hùng Lao động vì có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, sản xuất phục vụ kháng chiến. Khi có bản sao giấy chứng nhận anh hùng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh hoặc Sở Lao động Thương binh và Xã hội (nếu được uỷ quyền) ra quyết định trợ cấp để làm thủ tục trợ cấp 6. Thương binh, người được hưởng chính sách như thương binh + Thương binh là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận thương binh" và "Huy hiệu thương binh" thuộc một trong các trường hợp sau đây: - Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; - Bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh, để lại thương tích thực thể; - Làm nghĩa vụ quốc tế; - Đấu tranh chống tội phạm; - Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân; - Làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. + Thương binh loại B là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên trong khi tập luyện, công tác đã được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền công nhận trước ngày 31 tháng 12 năm 1993. + Người hưởng chính sách như thương binh là người không phải là quân nhân, công an nhân dân, bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên thuộc một trong các trường hợp như thương binh được cơ quan có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận người hưởng chính sách như thương binh". Như vậy, thương binh và người hưởng chính sách như thương binh là đối tượng bị thương trong những trường hợp giống nhau, chỉ khác nhau ở chỗ họ có thuộc lực lượng vũ trang hay không. Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh và thương binh loại B được gọi chung là thương binh. Thương binh được kết luận thương tật tạm thời từ 21% trở lên, sau 3 năm được giám định lại để xác định tỷ lệ thương tật vĩnh viễn. Thời điểm thương binh được trợ cấp thương tật tính từ ngày hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền kết luận tỷ lệ mất sức do lao động. Nếu mất sức lao động từ 5% - 20% thì thương binh được trợ cấp thương tật một lần. 7. Bệnh binh Bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên khi xuất ngũ về gia đình được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận bệnh binh" thuộc một trong các trường hợp sau đây: - Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; - Hoạt động ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ ba năm trở lên; - Hoạt động ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn chưa đủ ba năm nhưng đã có đủ mười năm trở lên công tác trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân; - Đã công tác trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đủ mười lăm năm nhưng không đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí; - Làm nghĩa vụ quốc tế; - Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; - Mắc bệnh do một trong các trường hợp nêu trên, nay đã xuất ngũ nhưng chưa đủ ba năm mà bệnh cũ tái phát dẫn đến tâm thần. Ngoài ra, những đối tượng là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động từ 41% đến 60% đã được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền công nhận trước ngày 31 tháng 12 năm 1994 cũng được xác nhận là bệnh binh. Trợ cấp bệnh binh được thực hiện từ ngày quyết định xuất ngũ. Nếu bệnh binh chuyển công tác khác mà bệnh cũ tái phát thì trợ cấp bệnh binh được thực hiện từ ngày có kết luận giám định y khoa. 8. Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học là người được cơ quan có thẩm quyền công nhận đã tham gia công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu tại các vùng mà quân đội Mỹ đã sử dụng chất độc hoá học, bị mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động, sinh con dị dạng, dị tật hoặc vô sinh do hậu quả của chất độc hoá học gồm: - Cán bộ, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng thuộc quân đội nhân dân Việt Nam; - Cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên thuộc lực lượng Công an nhân dân; - Cán bộ, công nhân, viên chức trong các cơ quan , tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và các đoàn thể chính trị - xã hội khác; - Thanh niên xung phong tập trung; - Dân công; - Công an xã, dân quân, du kích, tự vệ, cán bộ thôn, ấp, xã, phường; Điều kiện để hưởng chế độ ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học: - Đã công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu từ tháng 8 năm 1961 đến 30 tháng 4 năm 1975 tại các vùng mà quân đội Mỹ đã sử dụng chất độc hoá học. - Bị mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động, sinh con dị dạng, dị tật hoặc vô sinh do hậu quả của chất độc hoá học. Trường hợp không có vợ hoặc chồng hoặc đã có con trước khi tham gia kháng chiến mà bị mắc bệnh suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên do hậu quả của chất độc hoá học. 9. Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày là người được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền công nhận trong thời gian bị tù, đày không khai báo có hại cho cách mạng, cho kháng chiến, không làm tay sai cho địch. 10. Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế là người tham gia kháng chiến được tặng Huân chương kháng chiến, Huy chương kháng chiến. Đối tượng phải tự làm bản khai cá nhân về số năm thực tế tham gia kháng chiến có chứng nhận mức khen thưởng tổng kết thành tích kháng chiến để cấp uỷ trực tiếp, thủ trưởng đơn vị hoặc uỷ ban nhân xã chứng nhận. Trên cơ sở đó phòng lao động thương binh xã hội tập hợp trình Uỷ ban nhân dân Tỉnh để ra quyết định hưởng trợ cấp. 11. Người có công giúp đỡ cách mạng Người có công giúp đỡ cách mạng là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm, bao gồm: - Người được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng "Có công với nước"; - Người trong gia đình được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng "Có công với nước" trước cách mạng tháng Tám năm 1945; - Người được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến; - Người trong gia đình được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến. Như vậy, khác với các đối tượng trên người có công giúp đỡ cách mạng là những người dân bất kỳ đã giúp đỡ cách mạng bằng của cải vật chất, nuôi giấu cán bộ trong lúc khó khăn nguy hiểm trước 19/8/1945 hoặc trong kháng chiến và được công nhận. 2.2.2. Pháp luật quy định chế độ ưu đãi 1. Chế độ trợ cấp, phụ cấp ưu đãi Ưu đãi trợ cấp là khoản tiền ưu đãi cho những người có công hoặc thân nhân của họ nhằm ổn định và nâng cao đời sống vật chất cho người được ưu đãi. Từ khi hình thành chế độ ưu đãi đến nay, vấn đề trợ cấp ưu đãi luôn là lĩnh vực trọng tâm trong chế độ ưu đãi xã hội ở nước ta. Đây là chế độ chính trong các chế độ ưu đãi xã hội bởi nó có ý nghĩa thiết thực với người được ưu đãi và còn được áp dụng hầu hết với các đối tượng ưu đãi. Bên cạnh giúp đỡ về vật chất (mang ý thực tế), sự trợ cấp, phụ cấp ưu đãi cũng thể hiện lòng biết ơn, trách nhiệm và tình cảm của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta với người được ưu đãi. Tuỳ từng trường hợp, chế độ trợ cấp phụ cấp đối với người có công được chi trả hàng tháng hay một lần. Đối tượng được trợ cấp phụ cấp không chỉ là người có công mà còn là thân nhân của họ. Mức trợ cấp ưu đãi căn cứ vào mức độ cống hiến, hi sinh và hoàn cảnh sống thực tế của đối tượng, cân đối với điều kiện kinh tế xã hội và tương quan mức sống trung bình của cộng đồng dân cư, ngoài ra, cũng tính đến sự phù hợp với chính sách tiền lương và trợ cấp cho các đối tượng khác. Như vậy, mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi có sự cao thấp khác nhau giữa các đối tượng và cũng thường xuyên được điều chỉnh để đảm bảo tính thực tế của các khoản trợ cấp, phụ cấp. Mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công và thân nhân của họ được quy định cụ thể trong các bảng được ban hành kèm Nghị định 32/NĐ-CP ngày 2007 về mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi với người có công với cách mạng. 2. Chế độ ưu đãi về y tế Ưu đãi về chăm sóc sức khoẻ là những ưu tiên, ưu đãi trong việc khám chữa bệnh, điều dưỡng phục hồi chức năng... nhằm đảm bảo và tăng cường sức khoẻ cho người có công. Bởi như đã phân tích ở trên, người có công hiện nay phần lớn tuổi đã cao cộng với thương tật, bệnh tật nên việc chăm sóc sức khoẻ cho họ trở thành một vấn đề lớn. Ngoài ra, thân nhân của họ (con thương binh nặng, bệnh binh nặng con liệt sĩ, con đẻ của người nhiễm chất độc hoá học,...) cũng rất cần được chăm sóc sức khoẻ. Nội dung chế độ chăm sóc sức khỏe người có công gồm: a. Chế độ bảo hiểm y tế: Người có công với cách mạng nếu không phải là người thuộc diện tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc thì được cấp thẻ bảo hiểm y tế. Nếu đồng thời là người hưởng lương, hưởng chế độ bảo hiểm xã hội thì vẫn được hưởng chế độ trợ cấp và các chế độ ưu đãi theo quy định của pháp luật ưu đãi đối với người có công. + Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng liệt sĩ; người có công nuôi dưỡng liệt sĩ và con của liệt sĩ đang hưởng trợ cấp hàng tháng; con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học; con của thương binh, bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên từ mười tám tuổi trở xuống hoặc trên mười tám tuổi nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị bệnh, tật nặng từ nhỏ khi hết thời hạn hưởng bảo hiểm y tế vẫn bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên; người phục vụ thương binh, bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên an dưỡng tại gia đình nếu không phải là người thuộc diện tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc thì được cấp thẻ Bảo hiểm y tế. + Thương binh, thương binh loại B, bệnh binh khi điều trị vết thương, bệnh tật tái phát tại các cơ sở khám, chữa bệnh Bảo hiểm y tế được Quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán toàn bộ chi phí. b. Chế độ điều trị hàng năm: Người có công với cách mạng đang được nuôi dưỡng tại cơ sở của ngành Lao động – Thương binh và Xã hội được hưởng chế độ điều trị hàng năm. c. Chế độ điều dưỡng: Người có công với cách mạng nếu sống ở gia đình thì được hưởng chế độ điều dưỡng hàng năm, bao gồm: + Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; + Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng Tám năm 1945; + Bà mẹ Việt Nam anh hùng; đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng + Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh (bao gồm cả những thương binh loại B được công nhận từ trước ngày 31 tháng 12 năm 1993 và bệnh binh có tỷ lệ do suy giảm khả năng lao động do thương tật, bệnh tật từ 81% trở lên đang an dưỡng tại gia đình. + Người có công giúp đỡ cách mạng trước cách mạng tháng Tám năm 1945 được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước”. Các đối tượng đ._. quản lý nhà nước, các cấp các ngành, mọi công dân thực hiện nghiêm chỉnh, trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật; chính vì vậy mà pháp luật ưu đãi người có công đã trở thành công cụ quản lý mọi mặt đời sống xã hội trong lĩnh vực ưu đãi người có công, góp phần đảm bảo sự công bằng xã hội, góp phần ổn định chính trị – xã hội, phát triển mọi mặt kinh tế – xã hội của đất nước. Mặt thứ hai, hạn chế của việc ban hành pháp luật ưu đãi người có công của cơ quan hành chính nhà nước là các văn bản ban hành còn chưa đồng bộ, thường xuyên thay đổi, đặc biệt là các văn bản hướng dẫn vẫn còn mâu thuận với nhau, thủ tục rườm rà. Bộ máy quản lý và thực hiện chính sách ưu đãi người có công từ Trung ương xuống địa phương từng bước được đổi mới về tổ chức và nâng cao năng lực hoạt động. Quy trình quản lý và tổ chức thực hiện chế độ trợ cấp và chế độ ưu đãi khác đã đi vào nề nếp, sát với thực tế và gắn với trách nhiệm. Tuy nhiên, cùng với sự hạn chế về năng lực chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ, về tổ chức điều hành của bộ máy nên pháp luật ưu đãi người có công còn chưa thực hiện một cách đầy đủ, thậm chí còn có những vi phạm gây hậu quả xấu về cả mặt kinh tế, chính trị và đời sống xã hội. Hoạt động thanh tra, kiểm tra còn chưa đồng bộ, thiếu tính thống nhất, cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra còn thiếu rất nhiều so với thực tế. Việc khiếu nại, tố cáo mạng dù đã giải quyết tương đối tốt nhưng vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập do khâu tổ chức thực hiện pháp luật còn hạn chế. CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TRONG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 3.1. Những định hướng chung Trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trước đây cũng như việc xây dựng CNXH và bảo vệ biên cương của Tổ quốc hiện nay nhằm duy trì thành quả đấu tranh giữ nước và xây dựng nước của dân tộc đã và tiếp tục còn có những người con của dân tộc hiến dâng tính mạng, xương máu, sức lực và tuổi trẻ của mình cho Tổ quốc. Bởi vậy Tổ quốc và nhân dân đời đời nghi nhớ công lao to lớn về sự hy sinh ấy đồng thời phải có chính sách, pháp luật thỏa đáng để không chỉ ghi nhận công lao to lớn về sự hy sinh mà còn phải bù đắp xứng đáng thông qua việc ưu đãi của Nhà nước và của nhân dân. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII trình đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định “thực hiện chính sách ưu đãi xã hội và vận động toàn dân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với các lão thành cách mạng, những người có công với nước, bà mẹ Việt Nam anh hùng, thương binh và cha mẹ, vợ con liệt sỹ, gia đình chính sách”. Với định hướng của Đảng nêu trên trong nhiệm vụ chính trị dựa trên sự phát triển nền kinh tế – xã hội. Chính sách, pháp luật ưu đãi người có công phải thể chế hóa định hướng của Đảng và hướng tới mục tiêu nghi nhận công lao, sự đóng góp, sự hy sinh cao cả của những người có công, tạo mọi khả năng, điều kiện đền đáp phần nào về đời sống vật chất và tinh thần đối với người có công sao cho đời sông vật chất và tinh thần của họ không được thấp hơn mức chung bình của cộng đồng. Để thực hiện được những mục tiêu trên, cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện pháp luật người có công cần phải: 1. Kiện toàn tổ chức bộ máy chuyên trách: - Phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn gắn liền với việc trách nhiệm của cán bộ, công chức thực hiện chức năng này, giữa các cơ quan thực hiện; thống nhất kế hoạch thực hiện giữa các địa phương trong quá trình thực hiện. Rà soát lại và sắp xếp những người có năng lực vào giải quyết công việc. - Đổi mới, ứng dụng các tiến bộ khoa học vào công tác quản lý Nhà nước với người có công nhằm đạt được hiệu quả cao nhất. - Nâng cao trình độ và năng lực của cán bộ, công chức thông qua nâng cao chất lượng đầu vào, đào tạo nghiệp vụ, đặc biệt là các cán bộ đầu ngành; nâng cao khả năng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực người có công với cách mạng. - Cải cách, đổi mới thủ tục hành chính trong thực hiện pháp luật đối với người có công với cách mạng. 2. Nâng cao năng lực hoạt động trên các mặt: - Nghiên cứu xây dựng, đề xuất chính sách. Trong đó cần tìm hiểu, đánh giá tính sát thực, tính đúng đắn của chính sách trong quan hệ thực tiễn, nhằm phát hiện những chỗ thiếu, chỗ lạc hậu trong chính sách, pháp luật để kịp thời có các biện pháp khắc phục. Hoàn thiện pháp luật về đối tượng người có công và gia đình người có công cả về nội dung và hình thức. Đặc biệt, các cơ quan hành chính cần nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về người và gia đình người có công với nước, trong đó quy định những vấn đề cơ bản như: các nguyên tắc chung, các khái niệm cơ bản và nội dung trong chính sách của Nhà nước đối với người có công với cách mạng; quyền lợi của người có công với nước; trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nước, xã hội đối với người có công với đất nước; chế độ khen thưởng đối với cơ quan, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân đã có thành tích xuất sắc trong thực hiện chính sách ưu đãi đối với người và gia đình có công với đất nước; xử lý vi phạm chính sách ưu đãi đối với người và gia đình có công với đất nước,... - Tổ chức thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng một cách có chiều sâu. - Tăng cường thanh tra, kiểm tra đối với việc thực hiện pháp luật ưu đãi người có công và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng. 3. Hoàn thiện hệ thống chính sách đảm bảo chế độ ưu đãi phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội. Chính sách ưu đãi người có công vốn là chính sách mang tính nhạy cảm chính trị – xã hội. Tuy nhiên, cần có nhận thức hoàn thiện hệ thống chính sách đảm bảo chế độ phải phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội. Đặc điểm có tính chất quy luật cơ bản là giữa các chính sách và sự phát triển kinh tế xã hội có biện chứng với nhau, phụ thuộc lẫn nhau. Việc nâng cao đời sống của dân cư nói chung và đời sống của các đối tượng nói riêng và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao là mục tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế. Hoặc nói theo cách khác phát triển kinh tế là cơ sở, điều kiện vật chất để hoàn thiện hệ thống chính sách ưu đãi đối với người có công. Trước đây trong thời kỳ chiến tranh mặc dù Nhà nước đã có những cố gắng nhưng trong điều kiện kinh tế còn nghèo nàn nên quy chế, chế độ ưu đãi còn nhiều hạn chế. Đến nay, do cơ chế quản lý, nền kinh tế nước ta tăng trưởng khá ổn định, chúng ta đã có điều kiện để chăm lo, nâng cao đời sống của những người có công lao đối với đất nước và thực tế cho thấy thực hiện tốt chính sách người có công có tác dụng tích cực, thúc đẩy thực hiện tốt các mục tiêu kinh tế, tạo cho đối tượng yên tâm, tin tưởng vào Nhà nước, xã hội, cộng đồng. Tuy nhiên, một vấn đề mà cơ quan hành chính Nhà nước phải nhận thức rằng, trong việc ban hành, sửa đổi, bổ sung thệ thống chính sách của mình đối với người có công với cách mạng không thể thoát ly khả năng kinh tế, nếu với khả năng nền kinh tế hạn chế mà muốn thực hiện những mục tiêu vượt khả năng sẽ dẫn tới tình trạng duy ý chí, không thực hiện được. 4. Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động chăm sóc người có công với cách mạng, trong đó cơ quan hành chính Nhà nước đóng vai trò trung tâm. 3.2. Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng Để thực hiện được những định hướng nêu trên, Luận văn đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực của cơ quan hành chính Nhà nước trong tổ chức thực thi pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng như sau: 3.2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật người có công Khi hệ thống pháp luật ưu đãi người có công được hoàn thiện thì cơ quan hành chính Nhà nước tổ chức thực thi đưa pháp luật đó vào đời sông xã hội cũng dề dàng và có hiệu quả kinh tế - xã hội cao. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật ưu đãi người có công hiện nay ở nước ta còn nhiều bất cập như: hệ thống văn bản pháp luật và quy phạm pháp luật chưa đồng bộ, thường xuyên thay đổi, điều chỉnh, đặc biệt là các văn bản hướng dẫn vẫn còn nhiều mâu thuẫn, đưa ra các thủ tục rườm rà, thậm chí Thông tư của Bộ trưởng còn xét lại cả Quyết định của Thủ tướng... (Như đã nêu ở phần thực trạng). Một số đối tượng chưa có danh hiệu được tôn vinh và chế độ của họ cũng bị thiệt thòi hơn... Do đó đã gây ra những thắc mắc, những tâm lý xã hội nhất định. Để thực hiện định hướng của Đảng đối với vấn đề người có công trong điều kiện mới, mặt khác để nâng cao năng lực của cơ quan hành chính Nhà nước trong lĩnh vực này giải pháp đầu tiên là phải hoàn thiện hệ thống pháp luật ưu đãi người có công trên các nguyên tắc của việc xây dựng hệ thống văn bản mà công cuộc cải cách nền hành chính đã xác định. 3.2.2. Giải pháp về đổi mới phương thức tổ chức và quản lý của cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng Để nâng cao năng lực của cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện tốt pháp luật ưu đãi người có công, dưới giác độ quản lý phải đổi mới phương thức tổ chức và quản lý của cơ quan hành chính Nhà nước trong lĩnh vực này. Trong suốt nhưng năm qua, ngành Lao động – Thương binh và Xã hội đã hình thành bộ máy từ Trung ương tới địa phương để thực hiện công tác người có công. Ở Trung ương, để thực hiện chức năng quản lý về người có công Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã thể chế hóa quyết định của Chính phủ bằng ban hành Quyết định số 727/ 1997/QĐ - LĐTBXH thành lập Cục Thương binh – Liệt sỹ và người có công trực thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội với nhiệm vụ và quyền hạn không chỉ quản lý (nghiên cứu, xây dựng trình Chính phủ và ban hành chính sách, chế độ và tổ chức hướng dẫn, kiểm tra thực hiện) mà còn trực tiếp tổ chức chỉ đạo hoạt động sự nghiệp (chăm sóc nuôi dưỡng, điều trị phục hồi sức khoẻ, nghĩa trang liệt sỹ, các công trình ghi công...). Ở cấp tỉnh, có một phòng vừa thực hiện chức năng quản lý vừa thực hiện chức năng sự nghiệp. Trong lĩnh vực hoạt động này, hàng năm, ngân sách Nhà nước chi tới hàng ngàn tỷ đồng và động viên đóng góp hàng trăm tỷ đồng của các tổ chức cá nhân mà ngành đã góp phần quản lý, chỉ đạo thực hiện đúng mục tiêu và có hiệu quả. Trong bối cảnh mở rộng của chính sách nên đối tượng có công ngày càng tăng lên về số lượng, vì vậy công tác quản lý trong lĩnh vực ưu đãi ngày càng trở nên nặng nề và phức tạp, đòi hỏi phải đổi mới phương thức tổ chức thực hiện và đổi mới phương thức quản lý cho phù hợp. Cụ thể: - Tiếp tục cải cách bộ máy quản lý theo chương trình tổng thể cải cách bộ máy hành chính nhằm làm cho bộ máy gọn nhẹ hiệu quả; quy định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong thực hiện pháp luật ưu đãi đối với người có công với cách mạng. - Áp dụng các tiến bộ khoa học – công nghệ vào quản lý, trang bị các điều kiện cần thiết cho các cơ quan quản lý hành chính các cấp có đủ điều kiện làm việc và phục vụ quản lý tốt. - Trả chế độ trợ cấp trực tiếp cho người và gia đình có công với cách mạng thông qua hệ thống tài khoản ngân hàng. Hiện nay, nguồn kinh phí chi trả chế độ trợ cấp cho người và gia đình có công với cách mạng là do ngân sách Trung ương đảm bảo. Cơ quan tài chính, kho bạc Nhà nước cấp phát đầy đủ, kịp thời kinh phí theo kế hoạch cho cơ quan Lao động – Thương binh và Xã hội. Ngành Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với ngành tài chính quản lý nguồn kinh phí ưu đãi đối với người có công và tổ chức thực hiện việc chi trả các chế độ ưu đãi thuộc phạm vi ngành quản lý. Nếu như trả qua hệ thống tài khoản ngân hàng sẽ có một số ưu điểm sau: + Trả chế độ cho người và gia đình có công với cách mạng đôi khi còn chậm trễ, vì phải mất thời gian qua nhiều cấp trung gian. Trả qua tài khoản ngân hàng sẽ nhanh chóng và chủ động hơn. + Hiện nay, cán bộ làm chính sách người có công thực hiện luôn việc chi trả chế độ trợ cấp, nếu trả trực tiếp chế độ thông qua hệ thống tài khoản ngân hàng sẽ giúp cho bộ máy gọn nhẹ hơn, tiết kiệm hơn. Cán bộ chỉ làm chính sách không phải làm nhiệm vụ trả chế độ trợ cấp, không phải tuyển thêm nhiều cán bộ, tiết kiệm cho các chi phí chi trả như tiền lương, các phương tiện làm việc... + Giảm được các tiêu cực phát sinh trong quá trình thực hiện. Hiện nay, có thực trạng là một sô cán bộ làm chính sách lợi dụng việc chi trả chế độ trợ cấp để bớt, xén tiền trợ cấp hoặc khi đối tượng không còn hưởng chế độ nhưng không báo cắt mà vẫn để hưởng chế độ cho bản thân, làm khống hồ sơ để hưởng lợi... + Hệ thống ngân hàng hiện nay cũng đang phát triển hệ thống dịch vụ chi trả qua tài khoản ngân hàng, như các dịch vụ thanh toán điện, nước, lương..., cho nên, việc chi trả chế độ trợ cấp trực tiếp thông qua tài khoản ngân hàng là điều kiện thuận lợi để phát triển. 3.2.3. Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý Tiếp tục triển khai ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý đối tượng và quản lý kinh phí chi trả trợ cấp ưu đãi người có công, đồng thời phối hợp với ngành chức năng triển khai ứng dụng phần mềm “Quản lý tài chính trợ cấp ưu đãi người có công”. Phần mềm này đã triển khai ở 16 tỉnh, thành phố. Tới đây tiếp tục phát triển phần mềm để phù hợp với chế độ, chính sách của Nhà nước. Tuy nhiên, hiện nay trình độ tin học của cán bộ còn thấp nên việc ứng dụng công nghệ thông tin còn hạn chế, do đó đòi hỏi Bộ ngành phải có định hướng đào tạo đội ngũ cán bộ nâng cao trình độ tin học để ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý toàn diện vào việc thực hiện pháp luật ưu đãi người có công đạt hiệu quả cao. - Thực hiện quản lý hồ sơ đối tượng và hồ sơ nghĩa trang liệt sĩ bằng hệ thống phần mềm. Cập nhật đầy đủ các dữ liệu phát sinh vào máy tính và tiến hành nối mạng từ Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đến các tỉnh. Giải pháp này vừa mang tính khoa học vừa đảm bảo được các nguyên tắc: + Khắc phục tình trạng sửa chữa, bổ sung thêm vào hồ sơ bất hợp pháp. + Khắc phục được yếu tố thiên tai tác động vào quản lý hồ sơ. + Ít tốn kém hơn việc xây dựng các cơ sở để lưu trữ hồ sơ. + Dễ bào quản, lưu trữ và tra cứu. 3.2.4. Giải pháp về cơ chế thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng Xuất phát từ những thực trạng như phân tích ở trên có thể thấy công tác tranh tra là hoạt động không thể thiếu, giúp phát hiện những hành vi vi phạm, những sơ hở trong hoạt động quản lý. Vì vậy, cơ chế thanh tra, kiểm tra thực hiện pháp luật ưu đãi người có công thực hiện theo một hệ thống thống nhất như sau: - Trước hết là sự kiểm tra, thanh tra của hệ thống cơ quan quyền lực đối với toàn bộ hoạt động thực hiện pháp luật ưu đãi người có công nhằm làm cho tổ chức và hoạt động của cơ quan, tổ chức và hành vi của cá nhân phù hợp với pháp luật và tuân theo pháp luật, chấp hành pháp luật. - Thanh tra, kiểm tra nội bộ trong ngành chức năng quản lý công tác người có công nhằm tổ chức thực hiện và bảo vệ có hiệu quả các quyền ưu đãi người có công theo quy định của pháp luật. - Tăng cường sự giám sát của nhân dân, các tổ chức trong việc giám sát thực hiện pháp luật ưu đãi người có công đối với cách mạng. - Thanh tra, kiểm tra thực hiện pháp luật người có công là phải tuân thủ pháp chế xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi phải xử lý kịp thời và công minh những hành vi vi phạm pháp luật. Có như vậy mới đảm bảo pháp luật ưu đãi có hiệu quả cao, có vai trò và ý nghĩa trong đời sống xã hội. - Hiện nay, nhiều đối tượng không đủ điều kiện hưởng chế độ. Vì vậy, giao cho các địa phương cần rà soát lại các hồ sơ, kết hợp kiểm tra “chứng thực” để thẩm định lại. - Việc kiểm soát về hồ sơ của các đối tượng còn nhiều bất cập do thủ tục xác nhân đối tượng tương đối phức tạp, do đó cần phải kiểm tra, kiểm soát chặt hơn nữa về công tác hồ sơ. - Tăng số lượng thanh tra viên có trình độ đáp ứng nhu cầu thực tế. 3.2.5. Giải pháp về cải cách, đổi mới thủ tục hành chính về người có công với cách mạng - Rà soát, bãi bỏ những thủ tục không cần thiết; bổ sung các thủ tục mới. Việc làm này cần tiến hành nhanh chóng, đồng bộ dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Cần chú trọng soát xét các thủ tục hành chính trong thực hiện chế độ ưu đãi về người có công trong thực hiện chế độ ưu đãi với người có công với nước mang tính bức xúc như thủ tục ưu đãi về thuế, nhà đất, vốn và tín dụng, giáo dục đào tạo... Một số thủ tục mang tính cấp thiết cần sớm được ban hành, như các thủ tục quản lý, sử dụng đền ơn đáp nghĩa; tặng cấp nhà tình nghĩa; ưu đãi bà mẹ Việt Nam anh hùng lúc từ trần; quản lý, sử dụng kinh phí cho nghĩa trang liệt sỹ, đài tưởng niệm liệt sỹ, nhà bia ghi công liệt sỹ; ưu đãi các loại thuế cho người có công với đất nước. - Quy định rõ ràng, cụ thể dứt khoát và hợp lý thẩm quyền ban hành thủ tục hành chính thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng với nội dung sau đây: cấp huyện, xã và nhà chức trách không có quyền ban hành thủ tục; cấp tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ương) chỉ được ban hành một số thủ tục theo quy định của pháp luật; Chính phủ và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội là những cơ quan chủ yếu ban hành thủ tục, trừ những vấn đề riêng biệt của mỗi địa phương thì có thể uỷ quyền cho Uỷ ban nhân dân của địa phương đó ban hành; những thủ tục thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ, ngành Trung ương nếu xét thấy hợp lý hơn, đơn giản hơn mà không trái với pháp luật; giao cho một cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc giải quyết các yêu cầu, kiến nghị của người có công với đất nước, không để phải trải qua nhiều cửa, nhiều cơ quan như hiện nay; cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết công việc thì cơ quan đó nhận hồ sơ, trả hồ sơ, lưu hồ sơ và có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan hữu quan để kiểm tra, thu thập, xác minh, giải quyết yêu cầu của người có công với nước. - Công khai hoá các quy định pháp luật về thủ tục giải quyết các vấn đề liên quan tới chế độ ưu đãi người có công liên quan tới chế độ ưu đãi người có công với nước để mọi người biết mà thực hiện cho đúng đắn và kiểm tra việc thực hiện của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết. 3.2.6. Giải pháp về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện pháp luật người có công Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác ưu đãi người có công với cách mạng trong các cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với người có công với cách mạng được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Đa số trong họ chưa được đào tạo để làm công tác ưu đãi người có công mà chủ yếu do nhu cầu công tác họ được thuyên chuyển, điều động sang làm công tác này. Vỡ vậy, việc tiến hành cụng việc hàng ngày chủ yếu họ dựa vào kinh nghiệm của bản thõn, kinh nghiệm của người đi trước. Trước yêu cầu của nhiệm vụ mới, không thể thực hiện công việc một cách bị động, không có quy hoạch kế hoạch. Một nhu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay là phải nhanh chóng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cụng chức ở cỏc cơ quan thực hiện chức năng này. Vì vậy, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện pháp luật ưu đãi phải thực hiện tốt một số nội dung sau: - Đảm bảo cho họ nắm vững được chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật và những quy định của Nhà nước đối với người có công với cách mạng; Nắm được những kiến thức, kỹ năng để tổ chức thực hiện pháp luật ưu đãi một cỏch cú hiệu quả. - Thực hiện một cách chặt chẽ công tác tuyển chọn, đây là khâu rất quan trọng, quyết định đầu vào và là điều kiện để bố trí, sử dụng, cải thiện chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng ngày càng cao sự phát triển của công tác ưu đãi người có công. Đối tượng tuyển dụng phải đáp ứng các yêu cầu về trình độ cho từng loại đơn vị và lĩnh vực được quy định tại Nghị định 117/2003/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 10/10/2003 và quy chế của cơ quan. - Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực là rất cần thiết do vậy phải có chương trỡnh đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ riêng cho các cán bộ, công chức làm công tác này, có chương trỡnh và nội dung cụ thể để không ngừng nâng cao trỡnh độ của cán bộ, công chức thực hiện pháp luật ưu đãi người có công. Tuy nhiên, trước tiên phải tiến hành thống kê, phân loại chất lượng từng chức danh, đối chiếu với tiêu chuẩn chức danh quy định để xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo từng năm, từng giai đoạn, sát với thực tiễn và gắn với yêu cầu công việc. - Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách. Hệ thống chính sách cán bộ trong các quy định của Nhà nước và được cụ thể hóa bằng nhiều quy trình, quy chế của từng cơ quan, bao gồm các chính sách về đào tạo, bồi dưỡng; sử dụng và quản lý cán bộ; chính sách bảo đảm lợi ích vật chất và động viên tinh thần... Tuy nhiên, hệ thống chính sách này cần phải sửa đổi, hoàn thiện phù hợp với cơ chế quản lý mới. Yêu cầu đặt ra là: + Hệ thống chính sách cán bộ phải rõ ràng, minh bạch, vừa đảm bào cho các cấp thực hiện, vừa khuyến khích được cán bộ phát huy hết khả năng ở từng vị trí công tác; đồng thời là căn cứ để kiểm tra, giám sát trong quá trình thực hiện. Đi liền với các nội dung chính sách cán bộ, phải có hệ thống các quy định chặt chẽ, khoa học, đơn giản hóa về trình tự, thủ tục, đảm bào yếu tố thống nhất tập trung nhưng đồng thời đảm bảo cho cấp dưới phát huy khả năng sáng tạo chủ động trong giải quyết công việc. + Đổi mới cơ chế, chính sách cán bộ phải phù hợp với đổi mới cơ chế, chính sách tài chính, đổi mới cơ chế quản lý hành chính công của Nhà nước và tình hình thực tiễn của từng cơ quan. Thực hiện phân cấp mạnh mẽ hơn về công tác quản lý cán bộ cho các cấp. 3.2.7. Giải pháp đẩy mạnh xã hội hoá chính sách ưu đãi người có công với cách mạng Đảng và Nhà nước ta coi việc quan tâm chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng vừa là trách nhiệm của Nhà nước, vừa là trách nhiệm của toàn xã hội. Xã hội hóa việc chính sách người có công và tổ chức thực hiện là vấn đề cùng với trách nhiệm chủ đạo của Nhà nước, toàn dân tham gia chăm sóc người có công, một công việc vừa là tình cảm vừa là trách nhiệm và phải biến nó là ý chí của toàn xã hội. Trong thực tiễn ở nước ta nhiều năm qua, do số lượng người có công lớn, điều kiện kinh tế còn nghèo; khả năng ưu đãi của Nhà nước với người có công còn chưa thỏa mãn nhu cầu đầy đủ, việc tổ chức thực hiện pháp luật còn những hạn chế nhất định. Tuy vậy, phát huy truyền thống đạo lý của dân tộc, động viên khuyến khích, phát động phong trào toàn dân chăm sóc người có công với cách mạng đã đạt được những kết quả to lớn. Xã hội hóa chính sách người có công bao gồm cả việc người dân tham gia giám sát, phối hợp cùng cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện pháp luật ưu đãi người có công. Đây chính là hiệu quả xã hội hóa chính sách người có công. Do hoàn cảnh lịch sử, địa phương (làng, xã) nào cũng có người có công, song tỷ lệ phân bố cũng không đồng đều, nếu không xã hội hóa thì Nhà nước không thể đầy đủ các điều kiện và nhân lực và vật lực để đảm bảo và tổ chức thực hiện tốt cho người có công với cách mạng. Đặc biệt là những nhu cầu trong đời sống thường ngày của các đối tượng chính sách. Tuy nhiên, xã hội hóa không phải là Nhà nước bỏ mặc cho cộng đồng, cho xã hội, trái lại càng xã hội hóa vai trò của Nhà nước càng quan trọng. Ở đây vai trò của Nhà nước được thể hiện thông qua các văn bản pháp luật để điều hành, định hướng cho các hoạt động của cộng đồng, xã hội có hiệu quả. Theo tôi, để thực hiện tốt được chính sách và pháp luật ưu đãi đạt hiệu quả tốt, phát huy được năng lực của cả cộng đồng, cần lưu ý một số vấn đề sau: - Phải tuyên truyền sâu, rộng về chính sách và pháp luật ưu đãi người có công để mọi người dân được biết. - Từng làng xóm phải nắm rõ số lượng, hoàn cảnh của từng loại đối tượng người có công (thông qua chính quyền và đoàn thể các cấp) để có kế hoạch giúp đỡ thiết thực và phản ánh đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền những vần đề cần được pháp luật quan tâm, đồng thời giám sát việc thực hiện pháp luật của cán bộ thực thi đối với từng đối tượng. - Ưu tiên giúp đỡ những đối tượng khó khăn, các bố mẹ liệt sỹ già cả, cô đơn, các gia đình liệt sỹ neo đơn theo hưỡng dẫn của của Nhà nước và phù hợp với tình hình của địa phương. - Chú trọng giúp đỡ về vật chất, tạo công ăn việc làm để đối tượng tự vươn lên. - Theo dõi, chăm sóc sức khỏe kịp thời khi họ ốm đau hoặc bệnh tật tái phát. KẾT LUẬN CHUNG 1. Chính sách và thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là hoạt động lớn mang tính chính trị, kinh tế, xã hội và nhân văn sâu sắc. Thực hiện chính sách người có công là thể hiện truyền thống đạo lý quý báu của dân tộc ta, truyền thống “ Uống nước nhớ nguồn” và ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Chính sách ưu đãi đối với người có công thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm và tình cảm của Nhà nước, cộng đồng đối với người có công. 2. Từ khi giành được độc lập năm 1945 cho tới nay, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật ưu đãi người có công và thực hiện phù hợp với điều kiện thực tế mỗi giai đoạn lịch sử. Trong quá trình thực hiện pháp luật ưu đãi thì vai trò của cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện pháp luật là hết sức quan trọng, với tư cách là cơ quan thực thi, cụ thể hóa và đưa pháp luật vào đời sống xã hội. Cho nên, năng lực của cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện pháp luật ưu đãi này đảm bảo thì phát huy được tính tích cực của chính sách người có công của Đảng và Nhà nước, và ngược lại năng lực yếu thì làm hạn chế tính tích cực này. 3. Xuất phát từ thực tiễn năng lực tổ chức thực hiện pháp luật của cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng ở nước ta hiện nay, bao gồm các hoạt đông cơ bản là ban hành các văn bản pháp luật; tổ chức thực hiện; thanh tra, kiểm tra; giải quyết khiếu nại, tố cáo đã toát lên được những thành tựu đạt được và những khó khăn vướng mắc, những vấn đề cần giải quyết trong tổ chức thực hiện pháp luật ưu đãi người có công. 4. Thông qua nghiên cứu thực trạng năng lực của cơ quan hành chính Nhà nước trong thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng, Luận văn đưa ra những giải pháp cơ bản cho việc nâng cao năng lực của cơ quan hành chính trong thực hiện pháp luật người có công. Đó là các giải pháp: giải pháp về đổi mới phương thức tổ chức và quản lý của cơ quan hành chính trong thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng; giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý; giải pháp về cơ chế thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng; giải pháp về cải cách, đổi mới thủ tục hành chính về người có công với cách mạng; giải pháp về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện pháp luật người có công; giải pháp đẩy mạnh xã hội hoá chính sách ưu đãi người có công với cách mạng. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Hiến pháp Việt Nam năm 1946, 1959, 1980, 1992. 2. Pháp lệnh ngày 29/8/1994 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định danh hiệu vinh dự “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. 3. Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng ngày 29 tháng 8 năm 1994. 4. Pháp lệnh sửa đổi Điều 21 của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng ngày 14 tháng 2 năm 2000; 5. Pháp lệnh sửa đổi Điều 22 và Điều 23 của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng ngày 04 tháng 10 năm 2002; 6. Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29/6/2005. 7. Nghị định số 176/NĐ- CP ngày 20/10/1994 về việc thi hành Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Bà mẹ Việt Nam anh hùng; 8. Nghị định số 147/2005/NĐ - CP ngày 30/11/2005 của Chính phủ quy định mức trợ cấp, phụ cấp đối với người có công với cách mạng; 9. Nghị định số 32/2007/NĐ - CP năm 2007 của Chính phủ quy định mức trợ cấp, phụ cấp đối với người có công với cách mạng; 10. Nghị định số 54/2006/NĐ- CP ngày 26/5/2006 hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng; - Nghị định số 210/2004/NĐ - CP của Chính phủ ngày 20 tháng 12 năm 2004 quy định về chế độ trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng. - Quyết định số 120/2004/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 05 tháng 7 năm 2004 về một số chế độ đối với người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị hậu quả do nhiễm chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam. 13. Quyết định số 290/2005/QĐ - TTg ngày 8/11/2006 của Thủ Tướng Chính phủ về chế độ đối với một số đối tượng tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước chưa được hưởng chính sách của Đảng và nhà nước. 14. Thông tư 33/2005/TT- LĐTBXH ngày 09/12/2005 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 147/2005/NĐ - CP ngày 30/11/2005 của Chính phủ quy định mức trợ cấp, phụ cấp đối với người có công với cách mạng; 15. Thông tư liên tịch số 17/2005/TTLT -BLĐTBXH-BTC ngày 09/5/2005 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội – Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện chế độ điều dưỡng đối với người có công với cách mạng; 16. Thông tư số 07/2006/TT-BLĐTBXH ngày 26/7/2006 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn về hồ sơ, lập hồ sơ thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng; 17. Thông tư số 10/2005/TT – BLĐTBXH ngày 05/01/2005 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 210/2004/NĐ-CP của Chính phủ. 18. Lý luận chung Nhà nước và pháp luật- Trường Đại học Luật Hà Nội 2000. 19. Quản lý nhà nước đối với ngành và lĩnh vực – Học viện Hành chính Quốc gia 2004. 21. Tìm hiểu về hành chính Nhà nước – NXB Lao động 2003 (PGS. TS. Nguyễn Hữu Khiển). 22. Một số suy nghĩ về hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công – NXB Chính trị Quốc gia 2000 (TS. Nguyễn Đình Liêu) 23. Giáo trình ưu đãi xã hội – Trường Đại học Lao động – Xã hội 2007. 24. Chính sách với thương binh, liệt sĩ và người có công - 4 tập, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội 1997. 25. Các báo cáo tổng kết thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng từ năm 1995 tới 2006 của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội. 26. Các báo cáo và các bảng thống kê của các tỉnh về thực hiện pháp luật người có công với cách mạng từ 2004 – 2006. ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLVTS009.doc
Tài liệu liên quan