Nghiên cứu thống kê về tình hình phát triển công nghiệp ngoài quốc doanh ở nước ta

Lời nói đầu.. Kinh tế ngoài quốc doanh nói chung và công nghiệp ngoài quốc doanh nói riêng ở nước ta đã tồn tại từ rất lâu, nhưng nó mới thực sự được nhìn nhận và phát triển từ khi có chính sách khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế của Đảng đề ra tại đại hội VI (12-1986). Trong những năm qua nhất là từ khi có Nghị quyết 16 của Bộ chính trị (15-8-1988) và các Nghị quyết 27/HĐBT, 28/HĐBT, 29/HĐBT. Công nghiệp ngoài quốc doanh ở nước ta đã được thúc đẩy và phát triển mạnh mẽ, góp phần k

doc90 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 22/10/2013 | Lượt xem: 623 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Nghiên cứu thống kê về tình hình phát triển công nghiệp ngoài quốc doanh ở nước ta, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hông nhỏ cho sự tăng trưởng của nền kinh tế nước ta. Không những thế nó có những đóng góp rất cụ thể trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội của đất nước: Tạo việc làm cho người lao động, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước mà còn vươn ra cả thị trường quốc tế…. Từ đó dần thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đúng với mục tiêu của Đảng và Nhà nước đề ra là quyết tâm đến năm 2020 sẽ đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp. Thế nhưng không phải sự phát triển của công nghiệp ngoài quốc doanh ở nước ta trong thời gian qua diễn ra suôn sẻ mà còn rất nhiều vướng mắc làm kìm hãm sự phát triển phần nào của khu vực này. Sự vư ớng mặc ấy không chỉ do nguyên nhân chủ quan từ phía các doanh nghiệp ngoài quốc doanh mà còn do các nguyên nhân khách quan khác. Trong đó cũng phải kể đến các nguyên nhân từ phía chính quyền các cấp …. Vì thế em muốn chọn đề tài "nghiên cứu thống kê về tình hình phát triển công nghiệp ngoài quốc doanh ở nước ta giai đoạn 1996-2000" . Để đi sâu vào tìm hiểu và cũng là để hiểu rõ hơn vai trò của công nghiệp ngoài quốc doanh, cũng như những vướng mắc và hướng tháo gỡ giải quyết nhằm thúc đẩy sự phát triển của nó trong thời gian tới. Tuy nhiên do đây là một lĩnh vực nghiên cứu rộng cùng với sự hiểu biết thực tế chưa nhiều, kiến thức lý luận cũng như thời gian nghiên cứu và điều kiện tài liệu còn hạn chế, nên chuyên đề không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy em rất mong nhận được sự chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo, các cán bộ, chuyên viên Vụ Tổng Hợp Thông Tin- Tổng Cục Thống Kê và các bạn đọc để chuyên đề được hoàn chỉnh hơn. Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo T.S. Trần Ngọc Phác đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo để em có thể hoàn thành chuyên đề này. Em cũng xin chân cảm ơn ác cô chú phòng tổng hợp thông tin đã nhiệt tình giúp đỡ và có những ý kiến đóng góp để em hoàn thành tốtchuyên đề này. chương i khái quát về tình hình phát triển và vai trò của công nghiệp ngoài quốc doanh ở nước ta i>tổng quan về tình hình phát triển công nghiệp ngoài quốc ở nước ta. Sau ngày giải phóng miền nam để thực hiện mục tiêu tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội chúng ta đã quyết định áp dụng chính sách cải tạo công thương nghiệp đối với tư sản miền nam. Vì vậy giá trị sản lượng công nghiệp của kinh tế tư nhân cá thể liên tục giảm từ 1406,4 triệu đồng (năm 1976) xuống còn 1014,3 triệu đồng (năm 1979), tỷ trọng công nghiệp cá thể, tư nhân giảm từ 17% (1976) xuống còn 12,6% (1980) nguyên nhân cơ bản là do nhiều cơ sở công nghiệp tư nhân, cá thể buộc phải chuyển hình thức sở hữu thành các tổ hợp hoặc hợp tác xã trước yêu cầu của chính sách cải tạo công thương nghiệp. Đứng trước tình hình kinh tế trì trệ, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Đảng và Nhà nước đã quyết định dần cho phép các cơ sản xuất cá thể tư nhân dần tồn tại và phát triển mhờ đó mà công nhiệp tư nhân, cá thể dần phục hồi và phát triển, đồng thời nó đánh dấu sự bắt đầu khởi sắc của công nghiệp ngoài quốc doanh. Tuy nhiên trong thời gian này công nghiệp ngoài quốc doanh không được tôn trọng về mặt xã hội. Bởi một tâm lý chung là thành kiến, khinh ghét đối với những người làm việc trong khu vực ngoài quốc doanh. Ngoài ra quyền bình đẳng giữa công nghiệp ngoài quốc doanh và quốc doanh chưa được pháp luật thừa nhận. Các chính sách của nhà nước như: Tài chính, tiền tệ, thuế ...vẫn còn có sự phân biệt đối sử giữa hai khu vực. Phải đến đại hội đảng lần thứ VI (12/1986), VII (1991) và lần VIII (1996) nhà nước mới thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, không phân biệt đối sử, không tước tài sản hợp pháp, không áp đặt hình thức kinh doanh khuyến khích các thành kinh tế phát triển. Trên cơ sở quan điểm đổi mới của đảng, nhà nước đã thể chế hoá thành luật và các chính sách như : Luật đầu tư nước ngoài luật công ty, doanh nghiệp luật lao động luật hợp tác xã ...Qua sự ra đờicủa các bộ luật và chính sách do nhà nước ban hành,một môi trường vừa cạnh tranh vừa hợp tác đang được hình thành trong quá trình chuyển đổi kinh tế ở nước ta. Cho đến nay thực tế cho thấy công nghiệp ngoài quốc doanh đã và đang có vị trí bình đẳng đối với các thành phần kinh tế khác trong cơ cấu nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đặc biệt từ sau khi Quốc hội thông qua luật doanh ngiệp tư nhân, luật công ty và hiến pháp năm 1992, doanh nghiệp ngoài quốc doanh không chỉ phát triển về số lượng, về vốn mà cả về hình thức. Nếu như năm 1991cả nước mới có 126 doanh nghiệp ngoài quốc doanh với tổng số vốn 38,041tỷ đồng thì đến cuối năm 1993, đầu năm 1994 đã có tới 10393 doanh nghiệp với tổng số vốn 3479,889tỷ đồng và đến năm 1998 có 559706 cơ sở sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh với tổng số vốn đầu tư lên đến 21209,643tỷ đồng. Điều này chứng tỏ những chính sách mới của nhà nước đã thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp ngoài quốc doanh một cách mạnh mẽ, nó thể hiện rõ qua tình hình phát triển về số lượng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh qua các năm như sau : Biểu 1 : Số lượng các cơ sở sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh. năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 Số lượng 612977 623710 615296 590246 615453 617869 Qua nghiên cứu ta thấy số lượng các doanh ngiệp ngoài quốc doanh phát triển ngày càng mạnh và phân bố tập trung nhiều nhất ở các thành phố và vùng đồng bằng nam bộ, theo số liệu điều tra năm 1999 cả nước có 615453 các cơ sở công nghiệp ngoài quốc doanh thì Hà Nội có 153390 cơ sở, Hải Phòng 10190 cở sở, vùng đồng bằng Đông nam bộ 53541cơ sở, trong đó thành phố Hồ Chí Minh chiếm 25983 cơ sở, sự phát triển mạnh của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã huy động nguồn vốn và tiềm năng trong nhân dân, phát huy dược tinh thần cần cù sáng tạo yêu lao động của người Việt Nam, duy trì và phát triển được nhiều ngành ngề truyền thống, mở mang một số ngành mới có công nghệ hiện đại, khai thác tận dụng được nguồn nguyên liệu thừa ... Sự phát triển của các loại hình kinh tế ngoài quốc doanh cũng khá đa dạng, nếu như trước đây công nghiệp ngoài quốc doanh chỉ bao gồm công nghiệp tập thể, công nghiệp cá thể, thì hiện nay đã có nhiều hình thức mới như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần,doanh nghiệp tư nhân liên doanh tư bản nhà nuớc...Hiện nay ở tất cả các tỉnh ,thành phố trong cả nước đều có các doanh nghiệp tư nhân, 52 tỉnh thành phố có công ty trách nhiệm hữu hạn 46 tỉnh thành phố có công ty cổ phần.Về kết quả sản xuất,hoạt động, tuy mới được khôi phục và phát triển song công nghiệp ngoài quốc doanh đã có những đóng góp không nhỏ trong sự phát triển công nghiệp nước ta nói riêng và nền kinh tế nói chung. Giá trị tổng sản lượng công nghiệp tạo ra ngày càng lớn và tăng liên tục năm 1990 4535,3 tỷ đồng, năm 1994 đạt 6451 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân hàng năm 10,5% mức tăng khá cao và ổn định. Điều này được thể hiện qua tình hình phát triển về giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh theo các năm như sau: Biểu 2: Giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh 96-2000 Tỷ đồng-Bill. dongs Năm T/p kinh tế 1996 1997 1998 1999 2000 Tổng số 25451 31068 33402 37027 43809,3 Tập thể 650 751,2 858,8 1075,6 ắ Tư nhân 2277,1 3223,9 3382,7 3718,0 ắ Cá thể 18190,9 19703,7 20826,8 21983,0 ắ Hỗn hợp 4333,0 7389,2 8334,0 10250,4 ắ Tuy nhiên không phải doanh ngiệp công nhiệp ngoài quốc doanh nào cũng làm ăn phát triển tốt mà cũng còn nhiều doanh nghiệp làm ăn lúng túng, cầm chừng, chưa có kinh nghiệm trong kinh doanh, sản xuất mang tính chụp dật chưa chịu đầu tư phát triển công nghệ mới mở rộng sản xuất kinh doanh.Có rất nhiều chủ doanh nghiệp kinh doanh bằng vốn của mình thì ít, bằng vốn đi vay, huy động, chiếm dụng thì nhiều. Luật doanh nghiệp tư nhân và luật công ty chưa có nhữnh điều khoản ràng buộc các doanh ngiệp ngoài quốc doanh khai rõ nguồn vốn điều lệ sản xuất kinh doanh, nộp các báo cáo tài chính hàng tháng, quý theo quy định cho nên dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp hoạt động ngoài vòng kiểm soát của nhà nước. Nhiều doanh nghiệp tìm đủ mọi cách để trốn lậu thuế, lừa đảo, cố ý làm trái pháp luật gây ra những tổn thất không nhỏ cho nhà nước. Do vậy mà điều này đòi hỏi nhà nước cần phải có những chính sách và biện pháp thích hợp ngăn chặn các tình trạng trên tạo lên một môi trường trong sạch lành mạnh cho tất cả các thành phần kinh tế phát triển và cũng là tạo điều kiện để thúc đẩy nềnkinh tế phát triển vững mạnh, toàn diện. II>Quan niệm, các hình thức kinh tế và những đặc điểm cơ bản của công nghiệp ngoài quốc doanh. 1) Quan niệm về công nghiệp ngoài quốc doanh. Trong quá trình đổi mới phát triển đất nước thì phạm trù công nghiệp ngoài quốc doanh ngày càng được nhiều người nhắc đến. Để hiểu thế nào là công nghiệp ngoài quốc doanh chúng ta phải bắt đầu từ phạm trù công nghiệp và tìm hiểu quá trình phát triển của công nghiệp gắn với những điều kiện đặc thù của chúng ta. Cho đến nay hầu hết các nhà kinh tế, các tài liệu từ lý luận đến thực tiễn đều thống nhất cho rằng: Công nghiệp là một ngành sản xuất quan trọng của nền kin tế quốc dân. Để tìm hiểu kỹ về công nghiệp, người ta có thể phân chia công nghiệp thành nhiều tiêu thức khác nhau. * Nếu phân theo trình độ phát triển cả lực lượng sản xuất, công nghiệp được chia thành: Công nghiệp hiện đại và tiểu thủ công nghiệp * Nếu phân theo cấp quản lý thì công nghiệp được chia thành hai bộ phận cơ bản: Công nghiệp trung ương và công nghiệp địa phương. * Nếu phân theo hình thức sở hữu thì người ta chia thành hai loại chính là: Công nghiệp quốc doanh và công nghiệp ngoài quốc doanh. Quan niệm về công nghiệp ngoai quốc doanh được hình thành gắn liền với quá trình đổi mới nhận thức về các thành phần kinh tế ở nước ta. Trước năm 1988 trong lý luận quản lý kinh tế hầu như chúng ta không dùng đến khái niệm “ngoài quốc doanh”. Thuật ngữ “công nghiệp ngoài quốc doanh” chính thức bắt đầu được sử dụng rộng rãi từ khi ban hành nghị quyết của Bộ chính trị ngày 15-7-1988 về đổi mới chính sách quản lý đối với các cơ sở sản xuất thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Trong nghị quyết này công nghiệp ngoài quốc doanh được hiểu là “công nghiệp thuộc kinh tế tập thể, kinh tế gia đình công tư doanh sản xuất cá thể, tiểu thủ và các cơ sở sản xuất của các nhà tư sản dân tộc”. Hiện nay trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta có 5 thành phần kinh tế chủ yếu là :quốc doanh, tập thể, cá thể, tư bản tư nhân và tư bản nhà nước (kinh tế hỗn hợp). Trong thời gian ngắn bốn trong năm thành phần kinh tế nêu trên là tập thể, cá thể tư bản tư nhân và tư bản nhà nước (kinh tế hỗn hợp) được xếp vào loại hình kinh tế ngoài quốc doanh. Ngày nay ai cũng biết rằng đối với nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường thì trong một doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp ai nắm phần vốn khống chế thì toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị người đó chi phối. Chính vì vậy doanh nghiệp nào do nhà nước khống chế về vốn và quản lý với tư cách chủ sở hữu sẽ thuộc thành phần kinh tế quốc doanh, còn nhữnh doanh nghiệp có sở hữu hỗn hợp nhưng nhà nước không giữ phần vốn khống chế sẽ thuộc thành phần tư bản tư nhân. Điều này được thể hiện rõ trong luật doanh nghiệp nhà nước (được Quốc hội ban hành năm 1995). Những doanh nghiệp có sở hữu hỗn hợp mà nhà nước nắm phần vốn khống chế hoặc doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước đều thuộc thành phần kinh tế quốc doanh. Tuy nhiên cũng với những doanh nghiệp loại trên nhà nước không trực tiếp quản lý với tư cách chủ sở hữu sẽ thuộc phần kinh tế tư bản nhà nước. Như vậy doanh nghiệp công nghiệp quốc doanh được hình thành chủ yếu dựa vào cách thức phân chia công nghiệp theo hình thức sở hữu, ngoài ra còn xét đến yếu tố quản lý và các hình thức tổ chức doanh nghiệp. Với sự kết hợp các tiêu thức này chúng ta có thể hình dung một cách tương đối cụ thể hơn về công nghiệp ngoài quốc doanh theo sơ đồ sau. Công nghiệp Ngoài quốc doanh Quốc doanh Cá thể Tập thể Tư bản Tư nhân Tư bản nhà nước Hộ T.T.C.N Nhóm KD Cá nhân Hợp tác Tổ hợp XN tập thể Doanh nghiệp Cty Công ty Xí nghiệp quốc doanh công ty Việc xác định phạm vi công nghiệp ngoài quốc doanh như nêu ở trên vừa có tác dụng làm cơ sở cho việc hạch toán thống kê đựơc thống nhất trong cả nước, vừa xác định rõ giới hạn trách nhiệm của nhà nước đối với mỗi loại hình thức tổ chức doanh nghiệp. 2>Các hình thức tổ chức kinh doanh của công nghiệp ngoài quốc doanh ở nước ta hiện nay. a)Kinh tế tập thể. Kinh tế tập thể (kinh tế hợp tác) là sự liên kết tự nguyện của các chủ thể kinh tế với các hình thức đa dạng, linh hoạt phù hợp với nhu cầu, khả năng và lợi ích của các bên tham gia có thể dẫn tới hoặc không dẫn tới pháp nhân. Hình thức quan trọng của kinh tế hợp tác là hợp tác xã. Kinh tế hợp tác xã là hình thức liên kết có pháp nhân, tuân thủ các nguyên tắc, có tổ chức chặt chẽ và điều lệ hoạt động rõ ràng. Kinh tế hợp tác xã được phát triển dưới nhiều hình thức từ thấp đến cao, từ nhóm, tổ, đến hợp tác xã theo nguyên tắc bình đẳng tự nguyện cùng có lợi. Nếu về quá trình lịch sử có thể nói rằng các hợp tác xã được tổ chức trước đây có phần giống các xí nghiệp quốc doamh nhiều hơn là các hợp tác xã thực sự. Các hợp tác xã này được thành lập không theo sự tự nguyện hoàn toàn mà phần lớn là do sự ép buộc. Như vậy các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp trước đây không phải là hợp tác xã theo đúng bản chất của nó. Cơ chế quản lý của hợp tác xã nặng tính chất tập trung, quan liêu, bao cấp. Chính vì vậy khi xoá bỏ chế độ bao cấp, kế hoạch hoá tập trung, phần lớn các hợp tác xã bị đình đốn tan rã hàng loạt. Cho đến nay phần lớn các hợp tác xã kiểu cũ đều bị tan rã và nó hoặc bị chuyển thành các doanh nghiệp tư nhân hoặc vẫn gữ nguyên tên cũ nhưng việc tổ chức và chỉ đạo hoạt động sản xuất kinh doanh thì như một doanh nghiệp tư nhân. Một số hợp tác xã đã trở lại đúng bản chất của nó là các tổ chức trong đó các cá nhân có cùng mụcc đích chung nào đó sẽ tự nguyện góp vốn, góp sức nhằm tương trợ lẫn nhau. ở một số địa phương đã xuất hiện một số hình thức hợp tác giữa các hộ tư nhân, trong đó mỗi người vẫn giữ nguyên quyền sở hữu tư nhân của mình nhưng đã bắt đầu hình thành quỹ tài sản chung. Trong những năm đổi mới gần đây kinh tế hợp tác xã đã có những biến đổi căn bản: Hộ nông dân được coi là đơn vị kinh tế tự chủ, ruộng đất được giao sử dụng lâu dài. Thực tế đã xuất hiện những hình thức hợp tác xã giản đơn, hợp tác xã cổ phần, hợp tác xã dịch vụ đầu vào, đầu ra phục vụ cho kinh tế hộ và kinh tế trang trại phát triển. Trong tương lai để phát triển nền kinh tế nói chung và nền sản xuất nói riêng ở nứơc ta thì nhà nước cần phải xây dựng và thực hiện có hiệu lực các chính sách kinh tế vĩ mô đối với nông nghiệp và nông thôn. Trong đó chính sách đầu tư trang bị kỹ thuật và ứng dụng công nghệ mới trong nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng cho sản xuất và đời sống phải được đặt lên hàng đầu. Cùng với nó thì chính về sách thị trường, xuất khẩu, chế biến, giá cả, tín dụng, đào tạo cán bộ cũng phải được quan tâm và quản lý chặt chẽ. Để nông nghiệp dần chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với phân công lao động xã hội, tạo việc làm và thu nhập. Khuyến khích người dân làm giàu chính đáng đi đôi với xoá đói giảm nghèo, từng bước để kinh tế hợp tác xã cùng với kinh tế nhà nước dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. b)Kinh tế tư nhân. Là các đơn vị kinh tế mà vốn do một hoặc một số người trong và ngoài nước đầu tư để sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Nét nổi bật của thành phần kinh tế này là sở hữu tư nhân hoặc sở hữu hỗn hợp, thuê và sử dụng lao động làm thuê một cách có hiệu quả nhất. Đặc điểm của nó là thường đầu tư vào những ngành vốn ít lãi cao. Kinh tế tư nhân được tổ chức dưới nhiều hình thức như : doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân, công ty cổ phần...Trong đó loại hình doanh nghiệp tư nhân là loại hình kinh doanh phổ biến nhất ở nước ta. Đây cũng là một hình thức sở hữu tương ứng với hình thức sở hữu một chủ trên thế giới. Theo luật doanh nghiệp tư nhân hiện nay thì doanh nghiệp tư nhân nước ta là một đơn vị kinh doanh có mức vốn không thấp hơn mức vốn pháp định do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Như vậy giữa doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam và các doanh nghiệp sở hữu một chủ ở cac nước có những điểm khác nhau. Các doanh nghiệp sở hữu một chủ ở các nước được thành lập dễ dàng không phải có mức vốn trên mức quy định nào đó vì các doanh nghiệp sở hữu một chủ chịu trách nhiệm vô hạn về hoạt động kinh doanh của mình. Đối với loại hình công ty, hiện nay ở Việt Nam có hai loại công ty được pháp lý thừa nhận là công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Trong hai loại công ty này thì các doanh nhân Việt Nam thích loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hơn,bởi vì các chủ đầu tư thường không muốn chia sẻ quyền lực. Một điều dễ thấy là các công ty trách nhiệm hữu hạn ở nước ta được tổ chức và hoạt động giống như những doanh nghiệp sở hữu nhóm hữu hạn hơn là sở hữu công ty vì trong hầu hết các công ty trách nhiệm hữu hạn ở nước ta có một người tham gia chính và một hoặc nhiều người tham gia hữu hạn. Những người tham gia hữu hạn này thường không tham gia quản lý công ty và trách nhiệm nợ của họ chỉ hạn chế trong phạm vi tài chính của họ đối với công ty. c>Kinh tế hỗn hợp. Trong một thời gian dài danh từ kinh tế hỗn hợp đã được hiểu một cách hạn hẹp theo cách định nghĩa về mặt kinh tế vĩ mô. Nó nhằm để chỉ một tổng thể đặc biệt gồm các cơ sở mà ở đó Nhà nước hợp tác theo phương thức có thể chế với tư nhân.Với hiệu quả của cái đạt được coi là lợi ích tư mà đồng thời vẫn đảm bảo sự phụ thuộc tất yếu của khu vực tư nhân vào khu vực nhà nước. Theo quan điểm thống kê thì một nền kinh tế hỗn hợp trước hết là một nền kinh tế mà các con số chỉ ra Nhà nước đóng một vai trò quan trọng đối với thị trường, bất kể cách làm cụ thể của nhà nước như thế nào. Sở dĩ người ta có thể định nghĩa được nền kinh tế hỗn hợp bằng các con số thống kê vì nó không hẳn là một hệ thống đã được dự tính trước mà đúng hơn nó là sản phẩm lịch sử tiến triển của xã hội công nghiệp và những biến đổi của hệ thống tư bản chủ nghĩa. Hiện nay theo quan điểm của các nhà kinh tế học thì kinh tế hỗn hợp là sản phẩm của sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động của các tổ chức, đơn vị kinh tế tư bản trong và ngoài nước. Theo quan điểm này thì kinh tế hỗn hợp bao gồm tất cả các hình thức hợp tác, liên doanh sản xuất kinh doanh giữa kinh tế Nhà nước với kinh tế tư bản trong và ngoài nước nhằm sử dụng, khai thác, phát huy thế mạnh của mỗi bên tham gia đặt dưới sự kiểm soát giúp đỡ của Nhà nước. Đối với hình thức này luật doanh nghiệp Nhà nước được Quốc hội ban hành năm 1995 đã quy định rõ: Công ty, xí nghiệp hợp danh (hỗn hợp) chỉ được xếp vào khu vực quốc doanh khi nhà nước nắm tỷ trọng vốn góp lớn nhất và do đó giữ quyền tổ chức chỉ đạo kinh doanh của công ty xí nghiệp đó, nếu không thì sẽ được xếp vào khu vực kinh tế tư nhân (ngoài quốc doanh). Kinh tế hỗn hợp có vai trò quan trọng trong việc huy động, sử dụng vốn, kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của các nhà tư bản. Lênin chỉ rõ: “trong một nước tiểu nông...phải đi qua chủ nghĩa tư bản nhà nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Từ khi có luật đầu tư nước ngoài kinh tế hỗn hợp đã phát triển mạnh mẽ, góp phần phát triển kinh tế xã hội nước ta. Tuy nhiên trong quá trình hình thành và phát triển đã nảy sinh nhiều vấn đề cần giải quyết. Đó là cần phải đa dạng hoá các hình thức liên doanh liên kết vơí các tổ chức và công ty nước ngoài nâng dần tỉ lệ đầu tư của phía Việt Nạm. Đồng thời áp dụng phương thức góp vốn kinh doanh giữa nhà nước với các doanh nhân trong nước dươí nhiều hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn...nhằm tạo thế, tạo lực cho các doanh nghiệp trong nước phát triển tăng sức mạnh cạnh tranh và hợp tác với bên ngoài. d>Kinh tế cá thể. Là thành phần kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh dựa vào vốn và sức lao động của bản thân mình là chính. Bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ của nông dân, thợ thủ công, những người buôn bán dịch vụ cá thể. Đặc điểm của thành phần kinh tế này là sở hữu tư nhân, sản xuất kinh doanh phân tán, manh mún, trình độ kỹ thuật công nghệ thủ công, mục đích kinh doanh chủ yếu là nuôi sống mình, còn tiểu chủ bản thân vừa lao động trực tiếp vừa thuê một số ít lao động. Thế mạnh của thành phần kinh tế cá thể là phát huy nhanh, có hiệu quả tiền vốn, sức lao động, tay nghề, sản phẩm truyền thống. Vì thế nó có vai trò quan trọng trong nền kinh tế và có khả năng đóng góp tíc cực cho phát triển kinh tế xã hội. Mặc dù quy mô nhỏ bé nhưng có số lượng lớn nên kinh tế cá thể giữ vị trí rất quan trọng trong khu vực kinh tế quốc doanh. Do những ưu thế riêng của mình mà nhà nước và các thành phần kinh tế khác không thể không tạo điều kiện giúp đỡ, hướng dẫn thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ về vốn, kỹ thuật, công nghệ, tài chính, tiêu thụ sản phẩm…để nó từng bước tham gia kinh tế hợp tác một cách tự nguyện hoặc làm vệ tinh cho các doanh của nền kinh tế. Bởi vì để phát triển và phát huy hết thế mạnh của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần thì chúng ta không thể xem thường một thành phần kinh tế nào. 3>Những đặc điểm cơ bản của công nghiệp ngoài quốc doanh hiện nay. Do những nguyên nhân về lịch sử kinh tế ngoài quốc doanh nói chung và công nghiệp ngoài quốc doanh nói riêng mới được thừa nhận về mặt pháp lý và mới đuợc khôi phục phát triển trong những năm gần đây. Do vậy bên cạnh những đặc điểm chung của nền kinh tế ngoài quốc doanh, công nghiệp ngoài quốc doanh ở nước ta còn có những đặc điểm riêng sau đây: ã Thứ nhất: Công nghiệp ngoài quốc doanh ở nước ta là một bộ phận cấu thành trong hệ thống công nghiệp thống nhất cả nước. Hệ thống nghiệp này được cấu thành từ những phân hệ khác nhau và công nghiệp ngoài quốc doanh là một phân hệ cấu thành của hệ thống ấy. Việc xác định công nghiệp ngoài quốc doanh là một bộ phận cấu thành của hệ thống công nghiệp thống nhất có nghĩa rất quan trọng đối với công tác quản lý, điều hành. Điều này thể hiện trên một số mặt chủ yếu sau. ÿ) Các bộ phận cấu thành lên hệ thống tuy có tính độc lập tương đối, nhưng lại có mối quan hệ tương hỗ với nhau. Điều đó có nghĩa là giữa công nghiệp quốc doanh và công nghiệp ngoài quốc doanh, giữa các bộ phận hợp thành công nghiệp ngoài quốc doanh có mối quan hệ qua lại trong môi trường hợp tác, cạnh tranh với nhau. Nếu thiếu những mối quan hệ này hoặc tổ chức không tốt mối quan hệ này sẽ dẫn tới toàn bộ hệ thống công nghiệp và các bộ phận hợp thành không phát triển có hiệu quả được. ÿ) Các bộ phận hợp thành hệ thống có những mục tiêu cụ thể khác nhau. Các mục tiêu này có thể tương đồng cũng có thể mâu thuẫn với nhau, nhưng tất cả các mục tiêu ấy đều bị chi phối bởi mục tiêu chung của cả hệ thống, vì rằng mục tiêu của cả hệ thống mà các bộ phận hợp thành, cũng như kết quả của việc thực hiện mục tiêu chung lại phụ thuộc vào kết quả hoạt động và sự đóng góp của các bộ phận hợp thành. ÿ) Trong công tác quản lý tuy không dùng mệnh lệnh để áp đặt mọi thứ cho các doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh. Song các doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh không thể thoát ly khỏi mục tiêu chung của cả hệ thống. ã Thứ hai : Công nghiệp ngoài quốc doanh ở nước ta có sự đa dạng về tư liệu sản xuất và các loại hình doanh nghiệp. Như đã phân tích ở trên trong công nghiệp ngoài quốc doanh của ta, còn tồn tại nhiều loại hình sở hữu khác nhau như : sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu hỗn hợp mà mỗi hình thức sở hữu lại có bản chất và quy luất vận động riêng của nó. Nên các quan hệ về quyền sở hữu, quyền sử dụng và quyền quản lý về tư liệu sản xuất cũng rất đa dạng. ở những thành phần kinh tế mà người trực tiếp lao động cũng là người chủ tư liệu sản xuất thì quyền sở hữu, quyền quản lý và quyền sử dụng tư liệu sản xuất về cơ bản là đồng nhất nhau. Ngược lại ở những thành phần kinh tế mà quyền sở hữu tư liệu sản xuất thuộc về cá nhân hoặc một nhóm người thì ba quyền nói trên là tách rời nhau. Tính đa dạng của sở hữu tư liệu sản xuất trong doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh là nhân tố cơ bản chi phối sự đa dạng về quan hệ quản lý và phân phối cho tất cả các hình thức sở hữu là sai lầm cả về mặt lý luận và thực tiễn. Bên cạnh đó thì các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất đa dạng nói trên nó cũng trực tiếp chi phối việc hình thành các loại hình doanh nghiệp trong công nghiệp ngoài quốc doanh ở ta hiện nay. ã Thứ 3: Công nghiệp ngoài quốc doanh chủ yếu là sản xuất nhỏ, cơ sở vật chất, trình độ công nghệ kỹ thuật lạc hậu. Trên thực tế chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần mới được thực hiện mạnh mẽ từ năm 1988 đến nay. Công nghiệp ngoài quốc doanh tuy mới được khôi phục nhưng đă có những bước phát triển đáng kể. Mặc dù vậy tính chất sản xuất nhỏ vẫn mang tính phổ biến trong khu vực kinh tế này. Điều đó thể hiện qua một số nét chủ yếu sau. ÿ) Môi trường kinh doanh ở nước ta chưa ổn định đã làm phát sinh tư tưởng vừa làm vừa chờ đợi. Quy mô sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh còn quá nhỏ bé, hiện tại mới chỉ làm vai trò bổ xung, hỗ trợ cho công nghiệp quốc doanh. ÿ) Vốn của các cơ sở sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh hiện nay rất nhỏ. Năm 1989 là 32 triệu đồng cho mỗi doanh nghiệp tư nhân, cho đến những năm gần đây tình hình có được cải thiện song mức độ vốn còn thấp so với khu vực quốc doanh và tình hình phát triển kinh tế trên thế giới và khu vực. Cụ thể năm 1998 mới chỉ đạt được 666,2 triệu đồng bình quân cho mỗi doanh nghiệp tư nhân. Các doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh tại các trung tâm đô thị lớn như Hà nội và Thành Phố Hồ Chí Minh quy mô vốn có lớn hơn, nhưng theo kết quả điều tra của viện quản lý kinh tế trung ương năm 1992 tại Hà nội có 85 % doanh nghiệp có mức vốn dưới 500 triệu đồng trong đó khoảng 70% doanh nghiệp có mức vốn dưới 100 triệu đồng. Tại Thành Phố Hồ Chí quy mô vốn có lớn hơn nhưng phổ biến vẫn là 100-500 triệu đồng. Đến đầu năm 2000 theo kết quả điều tra sơ bộ thì có 75% doanh nghiệp có mức vốn dưới 1,5 tỷ đồng ở thành phố Hà nội. ở Thành Phố Hồ Chí Minh có khá hơn nhưng vẫn có tới hơn 60% doanh nghiệp có mức vốn dưới 5 tỷ đồng. Phần lớn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ sử dụng vốn tự có (Hà nội: 85%. Thành Phố Hồ Chí Minh 69,5%). vốn tự có của các doanh nghiệp tư nhân có được là do nhiều nguồn khác nhau. Như do thừa kế gia đình, do tích luỹ từ thương nghiệp, từ quá trình học tập và đi công tác ở nước ngoài, hoặc cả do tham nhũng buôn lậu. Để bổ xung thêm vốn tự có của mình các chủ doanh nghiệp có thể huy động từ bạn bè, người quen (60% doanh nghiệp được khảo sát có áp dụng phương thức huy động vốn này). Nhìn chung các doanh nghiệp đều muốn huy động vốn từ bạn bè dưới dạng vốn vay mà không muốp dưới dạng cổ phần vì họ không muốn chia sẻ quyền lực quản lý, không thích các kiểu quản lý hội đồng cổ đông. ÿ) Về kỹ thuật công nghệ: Hầu hết các thiết bị đều rất cũ kỹ lạc hậu. phần lớn là máy cũ sửa hoặc tân trang lại. Về công nghệ cũng rất lạc hậu so với khu vực và thế giới. Đặc điểm nổi bật của công nghiệp ngoài quốc doanh là sản xuất mang nặng thính thủ công và công nghệ truyền thống. Do vậy sức cạnh tranh về giá cả và chất lượng rất thấp. ÿ) Về thị trường đầu ra của sản phẩm: Một khó khăn rất lớn của doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh là thị trường tiêu thu nhỏ hẹp. Mặc dù thị trường trong nước đă hoàn toàn tự do nhưng lại bị cạnh tranh khốc liệt bởi hàng ngoại nhập tràn lan, hàng lậu với giá rẻ do trốn thuế và chất lượng lại cao hơn. Bên cạnh đó thì hiệu quả xuất khẩu ra thị trường thế giới là rất thấp. Bởi vì việc xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh chủ yếu là suất khẩu thông qua sự uỷ thác cho các cơ quan ngoại thương nhà nước. Mà xuất khẩu bằng con đường này khối tư nhân gặp rất nhiều bất lợi do bị ép giá, thanh toán chậm. Ngoài ra hình thức xuất khẩu kém còn do mặt hàng đơn điệu, chất lượng thấp, khả năng tiếp thị kém. Cùng với nó các doanh còn ít sự giao lưu trên thị trường quốc tế, thiếu hiểu biết về công nghệ mới, về kiến thức kinh doanh và luật pháp quốc tế. ÿ) Về lao động: Nét đặc chưng của các cơ sở công nghiệp ngoài quốc doanh là quy mô về lao động nhỏ. Tính bình quân trong khối hợp tác xă, doanh nghiệp tư nhân và các công ty trong công nghiệp ngoài quốc doanh chỉ khoảng 50-60 lao động. Tính ra số lượng lao động trong mỗi đơn vị công nghiệp ngoài quốc doanh nhỏ hơn một cơ sở công nghiệp quốc doanh bình quân 16 lần. Tuy nhiên do số lượng các cơ sở công nghiệp ngoài quốc doanh nhiều nên lực lương lao động trong khu vực này lại chiếm tỷ trọng đáng kể so với toàn bộ lao động trong khu vực công nghiệp bình quân hiện nay là trên 50%. Do thành phần lao động rất đa dạng, bên cạnh đó trình độ chuyên môn chưa cao, lại ít được đào tạo, nên nhìn chung họ thiếu nhiều điều kiện để trở thành người lao động theo đúng nghĩa của nó. III> Vai trò của công nghiệp ngoài quốc doanh hiện ở nước ta. Công nghiệp ngoài quốc doanh là một bộ phận cấu thành không thể thiếu trông sản xuất công nghiệp ở hầu hết các nước trên thế giới. Về bản chất công nghiệp ngoài quốc doanh ở nước ta là một bộ phận của hệ thống công nghiệp thống nhất. Việc phân chia công nghiệp thành công nghiệp trong và ngoài quốc doanh chỉ mang thính chất tương đối và chủ yếu dựa trên hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất mà thôi. Tuy nhiên trước đây trong một thời gian khá dài chúng ta đã không công nhận sự tồn tại của khu vực kinh tế này làm cho có phải hoạt động dưới nhiều hình thức không chính thức khác nhau hoặcdưới dạng kinh tế tập thể. Do quan điểm công nghiệp ngoài quốc doanh và kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế xã hội phi chủ nghĩa và để tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội thì cần phải cải tạo nhanh thành phần kinh tế xã hội phi chủ nghĩa này, điều đó đã dẫn đến tình trạng gần như xoá sổ toàn bộ khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh. Trong điều kiện hiện nay của nước ta: Kinh tế kém phát triển, ngân sách nhà nước bội chi, chúng ta lại tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá trong điều kiện phải chịu nhiều áp lực lớn. Đó là phải công nghiệp hoá hiện đại hoá nhanh để trán._.h nghuy cơ tụt hậu về kinh tế trong khi nguồn vốn hạn chế và tình trạng thất nghiệp đang là một gánh nặng cho toàn xă hội...Trong điều kiện đó thì vai trò của công nghiệp ngoài quốc doanh càng trở lên quan trọng do nó có những ưu điểm trong hoạt động ở khu vực công nghiệp của nước ta. ¿ Phát triển công nghiệp ngoài quốc doanh là giải pháp hết sức quan trọng nhằm huy động tối đa mọi nguồn vốn, sức lao động, sáng tạo trong dân vào hoạt động sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Phát triển công nghiệp ngoài quốc doanh cũng là cơ sở để tạo ra nhiều việc làm cho dân cư và giúp họ sử dụng đồng vốn của mình một cách có hiệu quả. (Hiện nay trong khu vực công nghệp này đang giải quyết viêc làm cho gần 2/3 lực lượng loa động công nghiệp ). Mặt khác các doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh do thường được thành lập bằng lượng vốn ban đầu không lớn và chủ yếu là của dân còn sự tài trợ của nhà nước hầu như không đáng kể. Hiện nay ở nước ta do phát triển công nghiệp ngoài quốc doanh đã thu hút một lượng vốn ước tính khoảng 27000 tỷ đồng, đó là một con số thực sự có ý nghĩa nhất là trong điều kiện nguồn tính lũy từ nội bộ để phát triển kinh tế còn rất thấp. ¿ Công nghiệp ngoài quốc doanh còn có vai trò rất to lớn trong việc tăng thêm nguồn thu cho ngân sách, tăng thu nhập cho người lao động để cải thiện điều kiện sống dân cư. Hiện nay công nghiệp ngoài quốc doanh nói riêng và kinh tế ngoài quốc doanh nói chung đã và đang đóng góp một phần rất lớn vào nguồn thu của ngáan sách nhà nước: trong năm 2000 riêng các loại hình công ty, doanh ngiệp tư nhân, hợp tác xã đã nộp cho ngân sách nhà nước khoảng 4380,93 tỷ đông còn trong toàn khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh nộp gần 50% tông ngân sách nhà nước. Không chỉ như vậy công nghiệp ngoài quốc doanh còn có vai trò tích cực trong việc đa dạng hoá các nguồn thu nhập, nâng cao mức sống của nhân dân. Thực tế đã cho thấy thu nhập bình quân người lao động trong các doanh nghiệp tư nhân bao giờ cũng cao hơn mức thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp quốc doanh. ¿ Do đặc điểm của các doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh thường là các cơ sở sản xuất thuộc loại vừa và nhỏ, ít nhân công, dây truyền thiết bị giản đơn, có mối quan hệ sẵn có về cung ứng nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm. Thêm vào đó các nhà sản xuất lại có kinh nghiệm trong quản lý. Vì vạy tổ chức của nó thường gọn nhẹ, có những ưu điểm nổi bật là rất năng động, linh hoạt, thay đổi nhanh mặt hàng và phương thức kinh doanh. Do vậy đã đáp ứng khá nhanh nhậy các nhu cầu phong phú đa dạng hay thay đổi của thị trường, tạo ra sự sống động trong phát triển kinh tế. Và đây cũng là một trong những cơ sở để tạo ra một nền kinh tế thị trường năng động và có hiệu quả. ¿ Công nghiệp ngoài quốc doanh có vai trò to lớn trong việc chống lại những xu thế độc quyền đang tác động như những yếu tố làm trì trệ, cản trở nền kinh tế phát triển. Việc phát triển khu vực kinh tế này tạo ra một sức ép lớn đối với các doanh nghiệp quốc doanh trên cơ sở tạo ra nhiều hàng hoá, dịch vụ ngày càng phong phú, khi đó khách hàng sẽ có điều kiện lựa chọn và giám sát các cơ sở sản xuất kinh doanh. Và như vậy bắt buộc các cơ sở quốc doanh phải tham gia cạnh tranh để giành dật thị trường, khách hàng. Điều đó dẫn đến bắt buộc các cơ sở quốc doanh phải quan tâm hơn đến hiệu quả và chất lượng của công tác sản xuất kinh doanh. Khi đó người tiêu dùng sẽ có cơ hội lựa chọn những mặt hàng mà mình yêu thích, nhưng lại có thể yên tâm về chất lượng và giá cả hơn. Bên cạnh đó việc phát triển công nghiệp ngoài quốc doanh còn là một giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển dich cơ cấu kinh tế đi đến thành công. Mặc dù có vai trò không nhỏ trong nền kinh tế quốc dân nhưng trong quá trình phát triển của mình công nghiệp ngoài quốc doanh vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế. ăThứ nhất: Công nghiệp ngoài quốc doanh ẩn chứa trong mình nhiều nguy cơ tiềm tàng dẫn đến tình trạng vô chính phủ trong sản xuất kinh doanh. nguyên nhân là đại bộ phận doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động vì mục đích tối đa hoá lợi nhuận. Chính vì vậy nên các chủ doanh nghiệp tư nhân thường có xu hướng đổ sô vào sản xuất kinh doanh những lĩnh vực mang lại nhiều lợi nhuận, dẫn đến tình trạng kinh doanh chồng chéo, mất cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa cung và cầu gay lãng phí các nguồn lực xã hội. ăThứ hai: Phát triển công nghiệp ngoài cũng là một nhân tố góp phần làm phân hoá giàu nghèo trong xã hội. Bởi vì sự tồn rtại và phát triển của công nghiệp ngoài quốc doanh tất yếu dẫn đến tồn tại của những bộ phận thu nhập hợp pháp về lao động, về năng lực quản lý, năng lực kinh doanh và vốn. Trong khi đó ở một xã hội thì bao giờ cũng có sự chênh lệch về khả năng lao động, năng lực quản lý kinh doanh, năng lực về vốn là không tránh khỏi, nên sự chênh lệch nhau về thu nhập cũng là điều tất yếu. Như vậy kinh tế ngoài quốc doanh nói chung cũng như công nghiệp ngoài quốc doanh nói riêng phát triển thì sự chênh lệch đó càng lớn và sự phân hoá giầu nghèo càng trở nên sâu sắc hơn. ăThứ ba: Công nghiệp ngoài quốc doanh do mục đích theo đuổi lợi nhuận tối đa nên bị lôi cuốn vào nhiều hoạt động vi phạm pháp luật như: Đầu cơ tích trữ, làm hàng giả, nâng giá, trốn lậu thuế... Những việc làm đó sẽ gây lên những khó khăn cho việc ổn định kinh tế vĩ mô, cũng như sự thất thu cho ngân sách nhà nước. ăThứ tư: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh thì bên cạnh các doanh nhân làm ăn chân chính, cũng còn không ít những người sử dụng các thủ đoạn hối lộ tiếp tay cho các cán bộ trong khu vực kinh tế nhà nước làm ăn bất chính. Đây cũng là một trong những nhân tố gây lên tình trạng tham ô, tham nhũng, hối lộ trong khu vực nhà nước. Do đó trong công cuộc thực hiện phát triển công nghiệp ngoài quốc doanh bên cạnh việc khai thác triệt để nhữnh ưu điểm thì chúng ta cũng không được bỏ qua những nhược điểm của nó. Để hạn chế các nhược điểm, dẫn dắt các doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm đạt được hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất thì các chính sách điều tiết của nhà nước và sự tác động của các doanh nghiệp công nghiệp quốc doanh sẽ trở nên vô cùng quan trọng. Bởi vì công nghiệp quốc doanh không chỉ là những nghành kinh tế mũi nhọn mà còn công cụ vật chất quan trọng cùng với hệ thống công cụ chính sách đòn bẩy khác của nhà nước thực hiện sự điều tiết, chi phối quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện được điều này các doanh nghiệp công nghệp quốc doanh phải nắm giữ các khâu then chốt của nền kinh tế, phải là đầu tầu trong việc phát triển những nghành nghề mới, phải nâng đỡ, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác đầu tư vào các nghành nghề đó khi có điều kiện. Bằng nhiều hình thức và biện pháp tổng hợp công nghiệp quốc doanh có vai trò trung tâm thu hút lôi kéo các thành phần kinh tế khác hình thành những công ty, tập đoàn sản xuất lớn, phát huy ưu thế trong cạnh tranh nhất là trên thị trường quốc tế. Ngoài ra còn phải phát triển, hình thành nên các hình thức liên doanh, liên kết, tham gia hùn vốn hoặc tổ chức sản xuất giữa các doanh nghiệp công nghiệp quốc doanh và công nghiệp ngoài quốc doanh trong đó các doanh nghiệp công nghiệp ngopài quốc doanh sẽ trở thành các vệ tinh... Đây cũng là một biện pháp quan trọng để khắc phục những nhược điểm của công nghiệp ngoài quốc doanh. Tóm lại công nghiệp ngoài quốc doanh có những ưu thế lớn trong việc huy động các nguồn vốn, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Song bản thân nó cũng chứa đựng những nguy cơ tiềm ẩn dẫn đến tình trạng vô chính phủ trong sản xuất kinh doanh góp phần vào sự phân hoá giầu nghèo, chạy theo các hoạt động phi pháp. Vì thế trong tiến trình phát triển kinh tế luôn cần phải có vai trò của nhà nước cũng như công nghiệp quốc doanh làm công tác chủ đạo trong việc chế ngự các nhược điểm cũng như thúc đẩy, tác động làm cho công nghiệp ngoài quốc doanh phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhà nước đã đề ra. chương II thực trạng và một số chỉ tiêu, phương pháp lựa chọn để phân tích tình hình phát triển công nghiệp ngoài quốc doanh I>Thực trạng của công nghiệp ngoài quốc doanh ở nước ta. Thực trạng. a>Những thành tựu chính. Sau một thời gian dài khôi phục và phát triển đến nay, sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh ở nước ta đã có những tiến bộ khá lớn. Công bằng mà nói, trước đây chúng ta đã khẳng địng sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế là khách quan trong thơì kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Song thực tế chúng ta đã không làm như vậy mà đã tạo ra một bức tường ngăn cách giữa kinh tế công hữu xã hội chủ nghĩa với các thành phần kinh tế tư nhân, cá thể dẫn đến tiêu cực, lực lượng xã hội bị kìm hãm, nền sản xuất xã hội chậm phát triển. Nhưng sau hơn 10 năm thực hiện đổi mới kinh tế ngoài quốc doanh nói chung và công nghiệp ngoài quốc doanh nói riêng có sự biến đổi cả về chất và lượng, đã trở thành một trong những yếu tố cấu thành không thể thiếu của lượng sản xuất xã hội ở nước ta trong bước quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Từ chỗ đóng góp rất nhỏ bé, đến nay kinh tế ngoài quốc doanh hàng năm đã tạo ra cho nền kinh tế khoảng 60% tổng sản phẩm trong nước (GDP). Nếu như năm 1995 công nghiệp ngoài quốc doanh mới đóng góp vào tổng sản phẩm trong nước (GDP) 139,9 nghìn tỷ đồng (59,8%) thì đến năm 2000 mức đóng góp đã tăng lên 271 nghìn tỷ đồng (61%), trong đó kinh tế tập thể (HTX) từ 23 nghìn tỷ đồng (10,06%) tăng lên 37,9 nghìn tỷ đồng (8,53%).. Điều này được thể hiện qua biểu đồ sau: Qua biểu trên ta thấy mức đóng góp của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh vào nền kinh tế chung của cả nước là khá lớn đặc biệt là hai thành phần kinh cá thể và tập thể tuy tính chất sản xuất vẫn mang tính thủ công với công nghệ truyền thống nhưng lại có mức đóng rất đáng kể cho nền kinh tế quốc dân ( 32% và 9% ). Trong công nghiệp tuy chỉ chiếm 22% giá trị sản xuất cả nước, song lại có mặt ở hầu hết các mặt hàng sản xuất, trong đó có nhiều sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số sản xuất ra của cả nước như : năm 2000 muối đạt 500 nghìn tấn/635 nghìn tấn của nước, nước mắm là 138 triệu lít/180 triệu lít, xay xát ngô 2,1 triệu tấn/2,2 triệu tấn, rượu mùi và rượu trắng100 triệu lít/113,6 triệu lít, gỗ xẻ 2400 nghìn /2950 nghìn ... Quan trọng hơn là các thành phần kinh tế của công nghiệp ngoài quốc doanh không những chỉ khơi dậy các tiềm năng kinh tế của đất nước mà tạo ra được ngày càng nhiều việc làm, góp phần quan trọng trong việc giải quyết tình trạng thất nghiệp đang là vấn đề bức xúc của xã hội. Số lao động làm việc trong khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh thời kỳ 1995-2000 thu hút tới 60% tổng số lao động của công nghiệp cả nước. Năm 2000 trong tổng số lao động trên 36,5 triệu người đang làm việc trong nền kinh tế thì có tới 29,7 triệu người làm việc trong các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, riêng khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh chiếm gần 15,6 triệu người. Nhờ sự thu hút lao động của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, nên tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi lao động ở thành thị năm 1995 giảm từ trên 7% xuống còn 6,44% năm 2000. Thời gian lao động được sử dụng của lao động nông thôn từ 72,1% tăng lên 73,9%, do nhiều nơi đã phát huy được nhiều ngành nghề thủ công truyền thống. Bên cạnh đó thì các doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh chiếm ưu thế lớn và có hiệu quả cao hơn trong việc sản xuất các sản phẩm từ lợi thế về lao động, nguyên liệu của khu vực nông nghiệp, nông thôn như các sản phẩm: vôi, nông cụ cầm tay, máy tuốt lúa có động cơ, thảm đay chiếu cói, đồ dùng bằng sắt tây... Sự phát triển của công nghiệp ngoài quốc doanh những năm qua đã góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng của khu vực nông nghiệp. Năm 1995 trong lĩnh vực công nghiệp xây dựng cơ bản mới chiếm 27,8% tổng sản phẩm trong nước thì đến năm 2000 đã tăng lên 30,6%. Ngược lại trong lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản giảm từ 27,2% xuống còn 24,3%. Điều này được thể hiện qua biểu đồ dưới đây. Về kết quả sản xuất giá trị tổng sản lượng của công nghiệp ngoài quốc doanh tăng liên tục năm1994 là 6451 tỷ đồng thì đến năm 2000 là 25786 tỷ đồng, từ đó kéo theo tỷ trọng giá trị tổng sản lượng công nghiệp ngoài quốc doanh trong toàn bộ ngành công nghiệp cũng tăng năm 1994 là 27,6%, năm 2000 là 46,7%. Ngoài ra với sự phát triển của công nghiệp ngoài quốc doanh nó đã thu hút được một lượng vốn nhàn rỗi trong dân khá lớn khoảng 27000 tỷ đồng. Nhờ đó mà nó mở ra khả năng to lớn trong việc giải quyết việc làm và thu nhập cho người lao động, giảm bớt gánh nặng cho xã hội. Phát triển công nghiệp ngoài quốc doanh cũng đã góp phần làm khôi phục lại các ngành nghề truyền thống tưởng đã mai một. Nó còn góp phần làm tăng cường mối quan hệ kinh tế giữa thành thị và nông thôn, đây cũng là một hướng đi đúng, một nội dung quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay ở nông thôn. Công nghiệp ngoài quốc doanh với quy mô nhỏ bé nhưng lại rất linh hoạt, nhạy bén, thích ứng nhanh với sự biến động của thị trường nên đã cung cấp một lượng hàng hoá đáng kể cho địa phương và còn đóng góp một phần không nhỏ vào thu ngân sách cho nhà nước. Những hạn chế và nguyên nhân cơ bản. Mặc dù đã đạt được rất nhiều thành tựu song trong quá trình phát triển của mình công nghiệp ngoài quốc doanh vẫn còn tồn tại, bộc lộ khá nhiều những hạn chế và nó cũng chính là những nguyên nhân cơ bản làm chậm quá trình phát triển của công nghiệp ngoài quốc doanh. Qua tìm hiểu thì ta thấy có sáu loại tồn tại chính sau là nguyên nhân làm chậm tiến trình phát triển của công nghiệp ngoài quốc doanh. ứThứ nhất: Hầu các doanh nghiệp quy mô vốn đều thấp, thiếu vốn trầm trọng. Lượng vốn đầu tư cho sản xuất công nghiệp tỷ trọng nhỏ hơn rất nhiều so với xây dựng nhà ở và phương tiện phục vụ sinh hoạt cũng như đầu tư vào lĩnh vực thương mại, dịch vụ. Năm 1995 thu hút được 9408,8 tỷ đồng thì đến năm 2000 theo kết quả điều tra sơ bộ mới thu hút được 22000 tỷ đồng. Bình quân vốn trên một cơ sở doanh nghiệp tư nhân năm 1995 là 144 triệu đồng và công ty cổ phần là 7573 triệu đồng thì đến năm 2000 con số này mới là 520,6 triệu đồng cho mỗi doanh nghiệp tư nhân và gần 15,48 tỷ đồng cho mỗi công ty cổ phần. Nguồn vốn chủ yếu lấy từ gia đình bạn bè. Khả năng huy động từ các nguồn vốn tín dụng khác là rất thấp. Nguyên nhân do cả hai phía, hiệu quả thấp trong các doanh nghiệp làm cho ngân hàng và các tổ chức tài chính không dám mạnh dạn đầu tư cho vay. Thủ tục phức tạp, hàng loạt các khó khăn khác làm cho các doanh nghiệp nản lòng không đến với các ngân hàng. Nguồn vốn thấp không cho phép các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, mở rộng mặt hàng kinh doanh, thực hiện đầu tư vào công nghệ kỹ thuật mới, nhiều trường hợp phải bỏ dở các hợp đồng, các cơ hội kinh doanh tốt. Theo kết quả điều tra vốn đầu tư phát triển của Tổng cục Thống kê trong số các doanh nghiệp ngoài quốc doanh năm 2001 không đầu tư hoặc đầu tư ít năm 2000 thì có tới 30,5% do thiếu thị trường tiêu thụ, 27% do hiệu quả đầu tư thấp, 19% do khó khăn huy động vốn, 10,1% do hành lang pháp lý không thuận lợi và 30,9% do các nguyên nhân khác. ứThứ hai: Hiện tại năng suất lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh khá thấp. Nguyên nhân có nhiều nhưng quan trọng nhất là sự lạc hậu về công nghệ, kỹ thuật tại các doanh nghiệp. Hầu hết các thiết bị sử dụng đều thuộc các thế hệ những năm 60 và70, phần lớn là máy móc thanh lý của các doanh nghiệp nhà nước, hoặc tự trang tự chế. Do vậy chất lượng sản phẩm thấp không đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm từ các địa phương khác cũng như sản phẩm từ nước ngoài. Số các doanh nghiệp có công nghệ và thiết bị hiện đại còn quá ít. ứThứ ba: Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh gặp nhiều khó khăn trong việc mở rộng thị trường và tiêu thụ sản phẩm. Hầu hết các quá trình tiêu thụ đều thực hiện tại địa phương. Việc mở rộng thị trường ra ngoài tỉnh, ngoài khu vực rất khó khăn do khả năng cạnh tranh của các sản phẩm còn quá thấp. Các doanh nghiệp gần như đứng ngoài các quá trình trao đổi kinh tế đối ngoại đang diễn ra. Việc mở rộng thị trường ra nước ngoài chưa có đủ điều kiện và hầu như chưa đặt ra trong các doanh nghiệp. ứThứ tư: Trong khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh hiện nay lực lượng lao động tuy chiếm tới 80% tổng số lao động toàn xã hội song về trình độ văn hoá, về chuyên môn, nghiệp vụ của cả đội ngũ lao động bao gồm cả lao động quản lý và lao động sản xuất còn rất thấp. Hầu hết là lao động chưa được đào tạo, hoặc đào tạo theo kiểu cha truyền con nối. Những chủ doanh nghiệp có thiện chí, có quyết tâm thì lại thiếu kiến thức, thiếu kinh nghiệm quản lý. Theo kết quả điều tra dân số 1/4/1999, tỷ lệ lao động được đào tạo của kinh tế ngoài quốc doanh chỉ được 3,2%, trong đó kinh tế tập thể 2,1%, doanh nghiệp tư nhân 18%, các thành phần kinh tế hỗn hợp 24,3%. Tỷ lệ này ở các doanh nghiệp nhà nước 38%, ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 78,5%. Trong số 826,9 nghìn người có trình độ đại học đang làm việc trong nền kinh tế thì chỉ có 101,8 nghìn người làm việc trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, bằng 12,3% tổng số. Số người có trình độ tiến sỹ làm việc trong khu vực này lại càng ít, chỉ có 210 trong tổng số 2911 người chiếm 7,2%. Vấn đề đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công nhân lao động cho khu vực này được đặt ra hết sức gay gắt. ứThứ năm: Tình trạng không chấp hành hoặc chấp hành không nghiêm pháp luật của nhà nước đang là một nhược điểm rất lớn trong khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh hiện nay. Một số hình thức vi phạm pháp luật phổ biến ở Việt Nam là: Nhiều doanh nghiệp không thực hiện đúng nguồn vốn vào sổ sách kế toán, việc tăng giảm vốn còn tuỳ tiện, khai báo doanh thu không đúng. Một số hợp tác xã chuyển thành doanh nghiệp thì nguồn vốn chưa được làm rõ về sở hữu. Việc trốn lậu thuế còn khá phổ biến. Đối với các doanh nghiệp lớn, tỷ lệ trốn lậu thuế khoảng 30%, đối với các hộ kinh doanh cá thể tỷ lệ này khoảng 50-60%. Việc này làm thất thu một khoản khá lớn về cho ngân sách. Doanh nghiệp càng phát triển thì hình thức trốn lậu thuế càng tinh vi. Tệ làm hàng giả, hàng kém phẩm chất vẫn còn tồn tại. II. một số chỉ tiêu phân tích tình hình phát triển công nghiệp ngoài quốc doanh. Cơ sở sản xuất: Cơ sở sản xuất là một đơn vị kinh tế, đăng ký dưới một hình thức sở hữu, có một hay nhiều hoạt động kinh tế được đặt trong một hay nhiều địa điểm khác nhau, có tư cách pháp nhân và hạch toán kinh tế đầy đủ. Cơ sở sản xuất được thể hiện dưới các loại hình thuộc mọi thành phần kinh tế như: doanh nghiệp Nhà nước trung ương quản lý, doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, các loại hình khác liên hoanh với nước ngoài và hợp đồng hợp tác kinh doanh. 2. Lao động. Lao động của doanh nghiệp là số lao động do doanh nghiệp quản lý, sử dụng và trả công, trả lương. Với khái niệm trên lao động của doanh nghiệp sẽ bao gồm: *Những người nhận vật liệu về làm tại gia đình họ (lao động gia đình). *Những người đang học nghề của các trung tâm gửi đến. *những Những người là phạm nhân đi lao động cải tạo… Tuỳ theo mục đích nghiên cưú, lao động của doanh nghiệp được chia theo nam, nữ, lao động trực tiếp, lao động gián tiếp; lao động kỹ thuật và lao động phân tổ khác. 3. Giá trị sản xuất công nghiệp. Giá trị sản xuất công nghiệp là toàn bộ kết quả của hoạt động sản xuất công nghiệp tạo ra trong thời kỳ báo cáo. Giá trị sản xuất bao gồm các yếu tố sau Doanh thu tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ. B Doanh thu tiêu thụ sản phẩm (những sản phẩm được sản xuất bằng nguyên vật liệu của doanh nghiệp, những sản phẩm do doanh nghiệp đưa nguyên vật liệu đi gia công tại các đơn vị khác). B Doanh thu tiêu thụ các phụ phẩm, phế phẩm, phế liệu. B Giá trị tài sản cố định tự chế tự trang bị lại: giá trị sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra đem góp vốn liên doanh với các đơn vị khác. B Doanh thu dịch vụ làm cho bên ngoài như doanh thu gia công làm cho bên ngoài, doanh thu từ sửa chữa máy móc, thiết bị và công việc có tính chất làm cho bên ngoài, lãi gộp của hàng hoá mua vào rồi bán ra không qua chế biến. b.Giá trị chênh lệch : giữa đầu kỳ và cuối kỳ, chi phí sản xuất dở dang, bán thành phẩm, tồn kho thành phẩm, giá trị hàng hoá đang trên đường đi tiêu thụ chưa thu được tiền. 4. Giá trị tăng thêm: Là phần giá trị mới sáng tạo ra của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Giá trị tăng thêm bao gồm các yếu tố sau: * Chi phí nhân công. * Khấu hao tài sản cố định: là giá trị khấu hao tài sản cố định đã trích trong kỳ như: khấu hao thiết bị máy móc, nhà xưởng… * Thuế sản xuất phải nộp cho nhà nước bao gồm thuế giá trị gia tăng, thuế môn bài, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu. Không bao gồm thuế lợi tức(thuế thu trên thu nhập của doanh nghiệp), thuế thu nhập của người lao động. * Giá trị thặng dư: là phần thu được của doanh nghiệp sau khi đã trừ đi các chi phí vật chất, chi phí dịch vụ, chi phí nhân công, khấu hao tài sản cố định và thuế phải nộp cho Nhà nước. Giá trị thặng dư gồm lợi nhuận trước thuế, lãi trả tiền vay và một số khoản khác. 5. Chỉ tiêu tài sản cố định. Tài sản cố định của doanh nghiệp bao gồm: 1Tài sản cố định hữu hình: là tư liệu lao động có hình thái vật chất, có đủ tiêu chuẩn theo quy định hiện hành nhà nước ( thời gian sử dụng trên một năm và giá trị tối thiểu là 5 triệu ): đất , nhà cửa vất kiến trúc, phương tiện vận tải truyền dẫn, thiết bị máy móc… 1Tài sản cố định thuê tài chính: là tài sản cố định đi thuê, thuê vốn dưới dạng thuê tài sản cố định, số tài sản cố định này chưa thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp có nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý về quản lý, sử dụng, bảo quản như tài sản cố định của mình. 1Tài sản cố định vô hình: Là loại tài sản cố định không có hình thái hiện vật thể hiện một giá trị đầu tư chi trả dần được tính vào giá trị thành phẩm. Giá trị của chúng xuất phát từ bản quyền sản phẩm, bằng phát minh sáng chế… chi phí trong quá trình đầu tư không đưa vào giá trị tài sản cố định hữu hình. Việc hạch toán tài sản cố định hàng năm được thực hiện theo giá trị còn lại tức là sau khi đã trừ đi khấu hao và đánh giá lại giá trị theo giá thời điểm. III. Lựa chọn một số một số phương pháp thống kê để phân tích tình hình sản xuất doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Lý luận chung về phân tích thống kê. 1.1Khái niệm về phân tích thống kê. Phân tích thống kê là quá trình xem xét đánh giá một cách sâu sắc toàn diện các biểu hiện số lượng của các hiện tượng kinh tế xã hội nhằm tìm ra bản chất và tính quy luật, cũng như phát hiện các mối quan hệ ‘tiềm ẩn’ trong những số liệu đã được thu thập, xử lý và tổng hợp. Phân tích thống kê có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu thống kê. Đây là khâu cuối cùng của quá trình nghiên cứu. Trên thực tế, phân tíchvà dự đoán thống kê không chỉ có ý nghĩa nhận thức hiện tượng kinh tế xã hội mà trong chừng mực nhất định còn góp phần cải tạo hiện tượng kinh tế xã hội. Để thực hiện được đầy đủ các nhiệm vụ nói trên thì phân tích và dự đoán thống kê phải bảo đảm các yêu cầu sau: Phải tiến hành trên cơ sở phân tích và lý luận kinh tế xã hội. Do các hiện tượng kinh tế xã hội có tính chất và xu hướng phát triển khác nhau nên thông qua phân tích lý luận ta hiểu được tính chất phát triển của hiện tượng. Trên cơ sở đó mới dùng số liệu và các phương pháp phân tích khẳng định bản chất của nó. Phải căn cứ vào toàn bộ sự kiện và đặt chúng trong mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau. Đối với những hiện tượng có tính chất và hình thức phát triển khác nhau phải áp dụng các phương pháp khác nhau. 1.2 Những vấn đề chủ yếu của phân tích thống kê. Phấn tích thống kê là sử dụng các phương pháp thống kê tính toán hàng loạt các chỉ tiêu và rút ra kết luận về bản chất hiện tượng, do đó khi phân tích thống kê phải xem xét đến các vấn đề sau: ũ Xác định nhiệm vụ cụ thể của phân tích thống kê là xem xét đọc phân tích đó nhằm giải quyết nhiệm vụ gì. Vì một hiện tượng có nhiều hiện tượng khác nhau do đó mỗi lần phân tích ta chỉ giải quyết một số vấn đề. Khi xác định nhiệm vụ cụ thể của phân tích thống kê phải dựa vào sự cần thiết, cấp bách của từng nhiệm vụ, từng vấn đề. ũ Lựa chọn đánh giá tài liệu: khi phân tích và dự đoán thống kê có nhiều nguồn số liệu, nhiều hình thức thu thập thông tin. Để đảm bảo yêu cầu của phân tích phải lựa chọn tài liệu. Khi lựa chọn tài liệu thì phải tiến hành đánh giá xem tài liệu có đủ độ tin cậy hay không, nguồn số liệu có đầy đủ để đáp ứng kịp thời yêu cầu phân tích, số liệu có hợp lôgic không. Lựa chọn, đánh giá tài liệu là một vấn đề quan trọng để phân tích và dự đoán. Mỗi số liệu cho ta một khía cạnh của hiện tượng, một tính chất và quy luật của sự phát triển. ũ Lựa chọn các phương pháp và chỉ tiêu dùng để phân tích: sự lựa chọn các phương pháp phân tích là cần thiết vì thống kê có rất nhiều các phương pháp phân tích như: phân tổ, chỉ sốm, hồi quy tương quan, dãy số thời gian đều có tác dụng và đặc điểm riêng. Vì vậy chọn phương pháp phân tích là phải dựa vào yêu cầu, mục đích và nguồn số liệu thu thập, tác dụng của mỗi phương pháp. ũ So sánh, đối chiếu các chỉ tiêu với nhau: Sau lựa chọn các phương pháp và các chỉ tiêu phân tích thì ta phải so sánh đối chiếu các chỉ tiêu đó với nhau. ũ Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ta phải dự đoán các mức độ có thể xảy ra trong tương lai là dự đoán khả năng về số lượng, bản chất hoặc các vấn đề khác có thể xảy ra trong tương lai và muốn dự đoán được phải căn cứ vào các số liệu ban đầu để dự đoán khả năng. Việc phân tích và dự đoán nhằm mục đích rút ra kết luận về bản chất, tính quy luất, đặc điểm, khó khăn thuận lợi mà ta nghiên cứu sau đó đề ra các quyết định về quản lý. Lựa chọn các phương pháp phân tích thống kê. 2.1. phương pháp phân tích so sánh. Các sư vật được chúng ta nhận thức đúng đắn đều thông qua so sánh. Đó là một chân lý cổ xưa không phải là trừu tượng mà rất cụ thể. Bất kỳ một thông tin kinh tế nào biểu hiện bằng số mà đứng riêng rẽ tự nó không so sánh với những con số khác về thông tin kinh tế cùng loại thì vẫn không có tính chất tiêu biểu, nghèo nàn về nội dung. Nhưng nếu đem so sánh với những con số cùng loại, nó sẽ trở nên sáng rõ hơn, tiêu biểu hơn, nội dung phản ánh của nó phong phú hơn. Tuy nhiên, việc so sánh, đánh giá, nhận định tình hình phải đảm bảo theo các nguyên tắc sau: ả Các đại lượng đối chiếu phải cùng loại. ã Các đại lượng đem so sánh phải cùng phạm vi, cùng đơn vị tính thậm chí phải cùng phương pháp để đưa đại lượng nghiên cứu về cùng một đơn vị tính. á Phạm vi đối tượng đem so sánh trước sau phải thống nhất. ạ Thời gian so sánh trong không gian phải đảm bảo thống nhất giữa các đối tượng đem so sánh với cùng một lượng thời gian. Để tiến hành đánh giá so sánh, ngoài việc phải tuân thủ các nguyên tắc nêu trên, cần thiết và bao giờ cũng bắt đầu từ việc xắp xếp, hệ thống hoá và tính toán các chỉ tiêu đem so sánh như chỉ tiêu số tương đối, số tuyệt đối, số bình quân và các chỉ tiêu phân tích dãy số thời gian. Trên nền tảng đó ta có thể áp dụng các cách so sánh sau: ' So sánh kết quả thực hiện với các nhiệm vụ, mục tiêu trong kỳ (đánh giá mức độ đạt được trong kỳ). ' so sánh giữa các đơn vị, bộ phận trong cùng một tổng thể, cùng một thời gian nhằm đánh giá tình hình diễn biến của hiện tượng đem so sánh tiên tiến hay lạc hậu, phát hiện khả năng tiềm tàng của các bộ phận, các đơn vị trong tổng thể. ' So sánh giữa các chỉ tiêu có liên quan như so sánh giữa kết quả sản xuất với số lao động bình quân trong kỳ,… nhằm đánh giá mức độ phổ biến của hiện tượng nghiên cứu nhiều hay ít. 2.2. Phương pháp phân tổ. Sau điều tra báo cáo thống kê định kỳ, sẽ thu thập được nhiều loại thông tin, để những thông tin đó nói lên một điều gì đó, cần phải xắp xếp chúng theo một trật tự nhất định, sau đó tiến hành tổng hợp, phân tích và đưa ra những quyết định đúng đắn. Một trong những phương pháp phân tổ đúng đắn nhất để xắp xếp các loại thông tin nói chung và thông tin liên quan đến công nghiệp ngoài quốc doanh nói riêng là phương pháp phân tổ thống kê. Phân tổ thống kê là căn cứ vào một hay nhiều tiêu thức nào đó để tiến hành phân chia các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu thành các tổ và các tiểu tổ có tính chất khác nhau. Sau khi phân tổ các đơn vị trong cùng một tổ sẽ chỉ giống nhau về tiêu thức phân tổ. Phân tổ thống kê là phương pháp được dùng phổ biến trong cả quá trình nghiên cứu thống kê. Nó là phương pháp cơ bản để xắp xếp số liệu. Phân tổ thống kê thực hiện việc nghiên cứu cái chung và cái riêng một cách kết hợp. Tổng thể nghiên cứu được chia thành các tổ có quy mô, đặc điểm khác nhau. Mặt lượng và mối quan hệ số lượng của các tổ phản ánh mức độ kết cấu của hiện tượng và mối liên hệ giữa các tiêu thức. Trong thống kê người ta thường sử dụng hai loại phân tổ chủ yếu đó là: phân tổ một tiêu thức(phân tổ giản đơn) và phân tổ kết hợp. ] Phân tổ theo một tiêu thức: thực chất là xây dưng tần số phân tổ của một tập hợp theo một tiêu thức. Đây là cách phân tổ đơn giản nhất và thường hay được sử dụng nhất. Điều quan trọng trong việc phân tổ này là phải chọn tiêu thức phân tổ, tiếp đến là phải chú trọng đến khoảng cách của tổ, nếu phạm vi biến động càng lớn thì càng phải phân làm nhiều tổ và ngược lại. Trong phân tổ theo một tiêu thức ta có thể căn cứ vào tiêu thức thuộc tính hoặc số lượng để phân tổ. ] Phân tổ theo nhiều tiêu thức hay còn gọi là phân tổ kết hợp: Cách phân tổ kết hợp này cũng giống như ở phần trên. Trước hết phải xác định xem cần phân tổ theo tiêu thức nào. Muốn chọn tiêu thức phân tổ phải căn cứ vào mục đích nghiên cứu, vào bản chất hiện tượng, vào mối liên hệ giữa các tiêu thức, có thể phân tổ theo 2, 3, 4 hay nhiều tiêu thức. Sau khi xác định các tiêu thức phân tổ phải xác định xem mỗi tiêu thức sẽ phân thành bao nhiêu tổ. Khi đã xác định được số tổ của mỗi tiêu thức thì ta tiến hành phân chia tổng thể tài liệu theo tiêu thức thứ nhất, sau đó mỗi tổ lại phân chia thành các tiểu tổ theo tiêu thức thứ ha._.o ra mấy triêu kết quả sản xuất (doanh thu). Phương pháp tính. : Hiệu năng sử dụng TSCĐ= Kết quả sản xuất/giá trị TSCĐ BQ trong kỳ. Hay . Trong đó :giá trị tài sản cố định bình quân trong kỳ. : là tổng giá trị sản xuất trong kỳ. Dựa vào công thức trên và số liệu ở biểu số 4, biểu 13 ta có. Biểu 22: Hiệu quả sử dụng tài sản cố định qua hai năm 1999-2000. Chỉ tiêu Khu vực (tỷđ/tỷđ) (%) (tỷđ/tỷđ) 1999 2000 Toàn ngành 1,85 1,64 86,5 -13,5 -0,21 Tập thể 1,78 2,3 129,21 29,21 0,52 Tư nhân 1,94 1,77 91,24 -8,76 -0,17 Cá thể 2,28 2,1 92,11 -7,89 -0,18 Hỗn hợp 1,3 1,13 86,92 -13,08 -0,17 Kết quả tính toán cho thấy: Hiệu năng sử dụng tài sản cố định toàn ngành công nghiệp ngoài quốc doanh năm nay so với năm trước giảm 0,21 đơn vị tương ứng với giảm 13,5% là do việc sử dụng kém hiệu quả tài sản cố định ở ba khu vực kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân và kinh tế hỗn hợp. Nhất là khu vực kinh tế hỗn hợp hiệu năng sử dụng TSCĐ năm 2000 giảm 13,08% so với năm 1999. Mặc dù khu vực kinh tế tập có hiệu năng sử dụng TSCĐ tăng khá cao 29,21% nhưng do tỷ trọng tài sản cố định cũng như sô lượng lao động trong khu vực này thấp nên dẫn đến hiệu năng sử dụng TSCĐ trong toàn ngành công nghiệp ngoài quốc doanh vẫn bị giảm. Bên cạnh đó cũng phải kể đến một số nguyên nhân khác đó là do phần lớn máy móc thiết bị kỹ thuật, công nghệ sử dụng trong ngành công nghiệp ngoài quốc doanh đã quá lâu, lại chủ yếu là sửa và nâng cấp chứ ít được thay thế hoặc thay thế nhưng thay thế không đồng bộ. Do đó dẫn đến không phát huy hết công suất, năng lực của thiết bị cũng như người sử dụng. 5. Dự báo giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh năm 2002 và 2003. Việc đưa ra những nhận xét mang tính quy luật nhằm phản ánh xu thế biến đổi của hiện tượng và từ có thể dự báo được sự phát triển của hiện tượng trong tương lai là rất cần thiết sau mỗi quá trình phân tích thống kê. Qua những phân tích ở trên và dựa vào dãy số thời gian về giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh thời kỳ 1996-2001. Ta có thể dự báo cho giá trị sản xuất công nghiệp của Việt Nam năm 2002 và 2003 như sau. Biểu 23: Giá trị sản xuất CNNQD thời kỳ 96-2001. Năm Giá trị sản xuất (tỷ đồng) Lượng tăng tuyệt đối LH (tỷ đồng) Tốc độ phát triển liên hoàn (%) 1996 25451 2918 111,4 1997 31068 2699 109,5 1998 33402 2324 107,5 1999 37027 3624 110,8 2000 43809 6782 118,3 2001 53109 9299 136,1 Bình quân 37779 4609 115,6 5.1. Dự báo dựa vào lượng tăng giảm tuyệt đối bình quân. Ta có mô hình dự đoán. . với và n=6 ta có ồ Dự đoán cho năm 2002 (tỷ đồng). ồ Dự đoán cho năm 2003. (tỷ đồng). 5.2.Dư đoán dựa vào tốc độ phát triển trung bình. Ta có mô hình dự doán có dạng: với từ số liệu bảng trên ta có n=6 và , do đó ta có ồ Dự đoán cho năm 2002. (tỷ đồng) . ồ Dự đoán cho năm 2003. (tỷ đồng). Như vậy hai mô hình dự đoán trên cho kết quả khá chênh lệch nhau. Nguyên nhân do sai số giữa hai mô hình là khác nhau. II> Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường phát triển công nghiệp ngoài quốc doanh ở nước ta. Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội ở nước ta trong những năm tới là tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá, thúc đẩy tăng trưởng, phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Vì vậy phát triển công nghiệp ngoài quốc doanh là một vấn đề chiến lược cho phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ tiếp theo của đất nước, nhất là trong công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá công nghiệp hiện nay. Tuy nhiên xuất phát điểm của công nghiệp ngoài quốc doanh ở mức thấp, qui mô nhỏ bé, công nghệ lạc hậu còn mang nặng tính thủ công, ngành nghề sản xuất còn đơn điệu, phần lớn tập trung vào một số ngành nghề truyền thống. Các ngành nghề đòi hỏi công nghệ tiến, sản phẩm có kỹ thuật cao thì phát triển rất hạn chế. Từ đó việc phát triển công nghiệp ngoài quốc doanh cần có những giải pháp trước mắt và lâu dài như sau. 1) Tích cực huy động vốn trong dân kết hợp với các chính sách hỗ trợ của Nhà nước để phát triển các cơ sở sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh. Một khó khăn nổi bật của khối công nghiệp ngoài quốc doanh là thiếu vốn. Hầu hết các doanh nghiệp đều rơi vào vòng luẩn quẩn: Không có vốn để đổi mới kỹ thụt và công nghệ do vậy tính cạnh tranh của sản phẩm thấp. Do tính cạnh tranh của sản phấm thấp nên không có thị trường, không có thị trường nên không có nhu cầu đầu tư. Tự bản thân doanh nghiệp khó có thể thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn này. Do vậy bên cạnh nỗ lực của các doanh nghiệp cần có sự tác động của nhà nước. Để huy động được ngày càng nhiều vốn trong dân đầu tư vào hoạt động sản xuất công nghiệp cần chú trọng giải quyết một số vấn đề sau đây: l Một mặt cần xác định được tiềm năng vốn trong dân hiện nay. Đây là một vấn đề khá phức tạp có nguồn gốc từ những hậu quả của các chính sách trước đó. ; Về biện pháp tâm lý: Cần xoá bỏ tâm lý giàu, sợ mang tiếng giàu đang hết sức phổ biến trong dân cư. ; Về biện pháp chính trị: Nhà nước cần có chính sách khuyến khích dân chúng làm giàu. Bảo vệ người giàu, không tịch thu, trưng thu tài sản chính đáng của họ. ; Về biện pháp kỹ thuật: Phải thật đơn giản, không gò bó, phức tạp. Đó là tờ khai hoặc gửi tài khoản tại ngân hàng ... ; Tạo vốn trong điều kiện nền kinh tế mở kinh tế mở không tách dời quá trình liên doanh với các công ty, các cơ sở kinh tế ở các địa phương khác, các công ty nước ngoài, quá trình liên doanh liên kết giữa các thành phần kinh tế. Đây là lĩnh vực các doanh nghiệp ngoài quốc doanh bộc lộ sự non yếu gay gắt. Trừ một vài doanh nghiệp làm đại lý phân phối, số các doanh nghiệp liên doanh được với nước ngoài rất ít. Do vậy cần hết sức chú trọng hướng tạo vốn này. Cần tạo điều kiện tiếp xúc các đối tác ở các địa phương khác, các đối tác nước ngoài, tìm kiếm các cơ hội liên doanh liên kết. ; Phát triển quan hệ liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu là doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các doanh nghiệp lớn chủ yếu là các doanh nghiệp công nghiệp quốc doanh trong đó doanh nghiệp lớn đống vai trò trung tâm, đầu mối chỉ đạo trong quan hệ liên kết này. Các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng nhau chế tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh, trong đó doanh nghiệp lớn sản xuất những chi tiết, bộ phận khó, công nghệ phức tạp và tiến hành lắp ráp, tiêu thụ sản phẩm còn các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ trở thành các vệ tinh gia công, sản xuất các chi tiết bộ phận đơn giản cho các doanh nghiệp lớn. -Các doanh nghiệp vừa và nhỏ sơ chế, tiếp đó các doanh nghiệp lớn tinh chế vàg sử dụng tổng hợp nguyên liệu. -Các doanh nghiệp lớn làm một số dịch vụ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ như: Bao tiêu sản phẩm, tư vấn đầu tư và chuyển giao công nghệ, đào tạo .... ; Bên cạnh phát triển các quan hệ liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp trong địa phương, trong nước cần hết sức chú trọng thực hiện các quan hệ liên kết, liên doanh giưa công nghiệp ngoài quốc doanh với nước ngoài. Nên thành lập nhiều " câu lạc bộ các nhà đầu tư "để tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước có thể gập gỡ, trao đổi và học tập kinh nghiệm quản lý kinh doanh của nhau. l Mặt khác đi đôi nvới việc huy động tốt mọi nguồn vốn trong đân vào đầu tư phát triển sản xuất, các doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh phải thật sự năng động, tìm cách quay vòng vốn nhanh, nâng cao năng lực nghiệp vụ trong việc tìm nguồn vốn, đồng thời đảm bảo các thủ tục trong việc lập các luận chứng khả thi để các cơ sở ngân hàng có cơ sở làm các thủ tục giải ngân. ; Ngoài các biện pháp thu hút thêm nguồn vốn, các doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh cần quan tâm nhiều hơn đến việc sử dụng có hiệu quả những đồng vốn ít ỏi hiện đang có. Rất nhiều các doanh nghiệp đang thiếu vốn nhưng bản thân họ lại sử dụng rất lãng phí, trong các doanh nghiệp hiện nay vốn thường nằm đọng tại nhiều khâu: -Dự chữ vật tư quá lớn. -Sản phẩm dở dang nhiều. -Vốn nằm trong kho thành phẩm do không tiêu thụ được sản phẩm. ; Để bổ sung nguồn vốn cho địa phương cần lưu ý một thực tế là việc phân bổ các nguồn vốn hỗ trợ từ các chính phủ và các tổ chức phi chính phủ nước ngoài thông qua các nghị định thư. Nguồn vốn này hầu như được tập trung ở Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh, còn các tỉnh khác ít được các khoản tín dụng này và có cũng quy mô rất nhỏ. ở đây vai trò của uỷ ban nhân dân tỉnh và thành phố cũng như các cơ quan chức năng trong việc tìm kiém và tạo sự công bằng và công khai giữa các địa phương là rất quan trọng và cần thiết. ; Song song với việc thu hút thêm nguồn vốn cần có những tác động hỗ trợ vốn một cách tích cực từ phía nhà nước. Việc hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh cầc thực hiện tốt một số vấn đề sau đây: -Cái thiếu nhất của các doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh hiện nay là thiếu vốn cơ bản, nhưng việc cho vay trung và dài hạn của các ngân hàng đối với họ bị hạn chế. Cho vay trung và dài hạn lãi suất thấp (chỉ bằng 1/2 lãi suất cho vay ngắn hạn) do đó thường chỉ ưu tiên cho các doanh nghiệp nhà nước. Để có được các khoản vay này ý kiến chung của các doanh nghiệp là chế độ vay, thủ tục vay của các ngân hàng chưa thục sự bình đẳng. -Cần có sự ưu tiên hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp đầu tư vào các công nghệ mới, kỹ thuật mới, sản xuất sản phẩm mới ... nên điều chỉnh thời hạn vay từ 3 năm hiện nay lên 5 năm và thay đổi định mức cho mỗi lần vay. Với thời hạn vay và định mức vay cũ không đủ cho các doanh nghiệp mà có hiệu quả sản xuất kinh doanh dang rất thấp kịp thu hồi được vốn để trả nợ vay và duy trì tái sản xuất bình thường. -Thực hiện lãi suất ưu đãi vay vốn; một mặt cần phân biệt theo nghành, mặt khác cần chú trọng các doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh trong các nghành truyền thống. Hiện nay các doanh nghiệp loai này chiếm tỷ trọng khá cao trong các doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh và cần dược khuyến khích phát triển. -Cần giảm bớt các thủ tục phiền phức (đôi chõ còn phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh), đơn giản hoá các thủ tục, các quy chế về xây dựng các dự án, thẩm định, bảo lãnh và xét duyệt cho vay vốn. Cùng với đó là việc thay đổi quy chế thế chấp cho vay vốn sang tăng cường kiểm soát các nguồn vốn vay tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vay vốn. Thực tế đã chứng tỏ rằng quy chế thế chấp hiện tại là một biện pháp để bảo toàn các nguồn vốn vay của ngân hàng nhưng là một rào cản khó vượt qua đối với các doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh. 2. Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp công nghệp ngoài quốc doanh áp dụng công nghệ tiên tiến, kỹ thuật hiện đại. Cho đến nay, gần 100% máy móc thiết bị thuộc các cơ sở công nghiệp ngoài quốc doanh đều do các doanh nghiệp nhà nước thải ra hoặc là máy móc tự tạo. Giá trị máy móc thiết bị chỉ chiếm khoảng từ 10-20% giá trị tài sản các cơ sở. Chính vì vậy, chất lượng sản phẩm thấp, giá thành sản phẩm cao đã dẫn đến sản phẩm khó có khả năng cạnh tranh trên thị trường. Để tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm thông qua việc áp dụng kỹ thuật tiên tiến, cần có những chủ trương hỗ trợ cơ sở vật chất rất lớn từ phía chính quyền các cấp. Các nội dung hỗ trợ bao gồm: ả Thứ nhất, sự hỗ trợ của nhà nước về áp dụng kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Nhìn chung sự hỗ trợ này không chỉ xuất phát từ lợi ích của giới chủ doanh nghiệp mà còn là lợi ích chung của nền kinh tế quốc gia. ở những nước phát triển, nhà nước có luật quy định bắt buộc các doanh nghiệp sau một thời gian 9 theo quy định ) phải đầu tư để đổi mới thiết bị kỹ thuật, công nghệ. ậ Việt nam chưa có điều kiện để áp dụng những quy định như vậy, song điều hết sức cần thiết là nhà nước phải có những biện pháp thật cụ thể để hỗ trợ các doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh thực hiện việc đầu tư đổi mới công nghệ và kỹ thuật. Một số biện pháp sau đây cần thực hiện càng sớm càng tốt: -Thực hiện chính sách ưu đãi về thuế và tín dụng đối với những tư nhân vay vốn cho mục đích đầu tư đổi mới thiết bị và công nghệ. - Thực hiện ưu tiên miễn giảm thuế cho các sản phẩm có hàm lượng khoa học- kỹ thuật cao, các sản phẩm mới do các doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh sản xuất ra. - Miễn thuế trong 3 năm đầu và giảm 50% cho hai năm tiếp theo như đè nghị của bộ khoa học công nghệ và môi trường đã đề xuất. ã Thứ hai, cần xây dựng quỹ hỗ trợ phát triển công nghệ, tổ chức bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp công nghệp ngoài quốc doanh, áp dụng lãi suất thấp cho các doanh nghiệp vay vốn để đổi mới kỹ thuật- công nghệ hoặc áp dụng ác phương pháp quản lý sản xuất, quản lý chất lượng sản phẩm tiên tiến. á Thứ ba, xây dựng các trung tâm hỗ trợ kỹ thuật tại thành phố để trực tiép giúp đỡ các doanh nghiệp về các mặt như: chế thử sản phẩm, đảm bảo các hoạt động đo lường, thử nghiệm chất lượng sản phẩm, dào tạo... ạ Thư tư, bảo đảm cho các doanh nghiệp những thông tin về công nghệ tiên tiến, tình hình thị trường và các quá trình chuyển giao bằng việc quan hệ chặt ch, cung cấp thông tin công nghệ thường xuyên dưới nhiều hình thức phong phú như bản tin, hội thảo, thăm quan, triển lãm... Điều đó sẽ giúp cho các doanh nghiệp tự xác định được những công nghệ hiện đại phù hợp. º Thứ năm, tạo môi trường thông thoáng trong kinh doanh, trong giao dịch với nước ngoài, đặc biệt trong việc tiếp nhận vốn, vật tư của thân nhân là Việt kiều nhằm thúc đẩy tư nhân nhanh chóng thay đổi thiết bị công nghệ rút ngắn khoảng cách về mặt bằng công nghệ của nước ta với mặt bằng công nghệ thế giới. ằ Thứ sáu: song song với việc hỗ trợ cơ sở vật chất một cách trực tiếp, nhà nước cần tiến hành các hoạt động hỗ trợ gián tiếp thông qua việc thực hiện các chương trình đầu tư công cộng nhằm cung cấp các dịch vụ cơ sở hạ tầng về kinh tế và xã hội cho các doanh nghiệp mà trước hết là: cung cấp đầy đủ nước sạch cho sản xuất và sinh hoạt, cải thiện chất lượng giao thông đô thị, cung cấp đầy đủ điện năng cho sản xuất. 3. Phát triển thị trường đồng bộ, tích cực tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh. a Ngững hạn chế lớn về thị trường, đặc biệt là thị trường tiêu thụ sản phẩm, đang là nguyen nhân quan trọng làm chậm tốc độ phát triển công nghiệp ngoài quốc doanh hiện nay. a Cơ chế kế hoạch hoá tập chung cao độ trước đây đã để lại những hậu quả khá nghiêm trọng; thị trường bị phân tán, chia cắt theo từng yếu tố, từng khu vực địa giới hành chính, từng nghành kinh tế- kỹ thuật, từng hình thức sở hữu. Điều đó ảnh hưởng xấu đến việc phát triển của lực lượng sản xuất. Do vậy để phát triển thị trường trước hết cần xây dựng một thị trường đồng bộ và thống nhất, tạo điều kiện để phát huy sức mạnh tổng hợp của các thị trường vùng và cả nước, từng bước hội nhập vào thị trường quốc tế. Việc xây dựng thị trường đồng bộ và thống nhất phải bao gồm cả thị trường của các yếu tố và thị trường hành hoá, cả thị trường của các khu vực. a Trong việc hình thành và phát triển các thị trường đồng bộ và thống nhất, chính quyền các cấp và các cơ quan quản lý cấp ngành có vị trí vô cùng quan trọng. Hiện nay có mâu thuẫn lớn giữa nhu cầu lao động trong các doanh nghiệp, đặc biệt là lao động có tay nghề cao, với nguồn cung về lao động đang thừa số lượng nhưng chất lượng lao động còn rất thấp, không đáp ứng được nhu cầu. Để giải quyết mâu thuẫn này, các cơ quan lao động, tài chính phải có giải pháp hỗ trợ các doanh nghiệp, giải quyết các chính sách chế độ đối với lao động dôi dư, đồng thời giới thiệu việc làm, thực hiện các biện phaps tích cực trong giáo dục nhằm nâng cao trình độ văn hoá, thực hiện đào tạo tay nghề và đào tạo lại nhằm làmg tăng chất lượng lao động để đáp ứng nhu cầu thị trường. Đó cũng chính là biện pháp khá quan trọng nhằm làm giảm sự mất cân đối trên thị trường lao động hiện nay. a Quá trình phát huy đầy đủ chức năng quản lý kinh tế của nhà nước sẽ có tác dụng tích cực trong việc tạo lập và kích thích phát triển thị trường đồng bộ và đầy đủ. Các kế hoạch nhà nước cấp chung ương và địa phương cũng như kế hoạch của các doanh nghiệp phải đi đến mục đích chung là tạo được một thị trường đồng bộ, trong đó các kế hoạch nhà nước trung ương và địa phương đóng vai trò định hướng, điều tiết vĩ mô. Ngược lại thị trường có tác động tích cực đến hoạt động sản xuất-kinh doanh của các doanh nghiệp. Như vậy tác động quản lý kinh tế của nhà nước, của các cơ quan quản lý nghành có tác động chỉ đạo thị trường phát triển đồng bộ và thống nhất theo chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nhà nước cũng như của từng địa phương. Đến lượt nó thị trường lại tác động điều tiết khách quan hoạt động kinh tế diễn ra trong các doanh nghiệp. a Hiện nay khi các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng thông thường, các nghành có thế mạnh về truyền thống sản xuất, khai thác nguyên liệu dồi dào tại địa phương phát triển, thì tất yếu nó sẽ kéo theo sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng của nguyên, vật liệu, phụ tùng và các phương tiện kỹ thuật khác. Lúc này các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng là động lại là động lực thúc đẩy các doanh nghiẹep sản xuất tư liệu sản xuất để cung ứng cho nó hoạt động đều đặn. Điều đó tác động mạnh đến sự hình thành hệ thống các doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh. Vấn đề là các doanh nghệp có phát hiện chính xác nhu cầu về tiêu thụ sản phẩm mà xã hội và từng đơn vị đang đòi hỏi hay không? a Phát triển thị trường trong nước và hướng các doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh phát triển theo định hướng này rất quan trọng song sẽ không đầy đủ nếu không đề cập đến việc hướng các doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh phát triển theo định hướng đáp ứng nhu cầu thị trường nước ngoài, thực hiện một nền kinh tế mở cửa cho mọi thành phần kinh tế. a Ngày nay, do xu hướng liên kết trên thế giới ngày càng tăng, việc Việt nam trở thành thành viên chính thức của khối ASEAN đã kéo theo sự giao lưu kinh tế giưã Việt nam và các nước trong khu vực ngày càng phát triển mạnh mẽ. Hàng hoá có kỹ thuật cao đã xâm nhập vào mọi ngõ ngách của thị trường thế giới, tạo ra sự thách thức rất lớn đối với nền sản xuất truyền thống của các nước. Việc xây dựng và phát triển kinhtế nhiều thành phần cũng phải tính tới xu hướng và những sự tác động này. Trước hết cần định hướng các doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh tập trung vào các mặt hàng có xu hướng gia tăng nhanh về mức tiêu dùng như: sản phẩm công nghiệp nhẹ trước hết là: giày, dép, may mặc, giấy vệ sinh, dụng cụ gia đình, hàng công nghiệp thực phẩm ... Đây chính là thị trường rộng lớn, nhưng đòi hỏi cao về chất lượng, kiểu dáng, đa dạng hoá về chủng loại, Chỉ có những nghiên cứu, thăm dò khoa học chính xác và sự hiểu biết tâm lý, sở thích của người tiêu dùng mới có thể xâm nhập, chiếm kĩnh được nhanh chóng và đủ sức thắng thế trong cạnh tranh lâu dài. a Phát triển công nghiệp ngoài quốc doanh hướng ra thị trường nước ngoài cần chú trọng những lợi thế sau: - Lực lượng lao động đông đúc, giá nhân công rẻ. - Nguồn tài nguyên phong phú và chưa dược khai thác nhiều. Lợi thế này tạo ra khả năng hợp tác trong lĩnh vực khai thác chế biến. - Lợi thế về địa lý. Nước ta đang nằm trong khu vực năng động của châu á - Thái Bình Dương. Để khai thác những lợi thế trên đay, Việt nam phải chủ động tham gia vào quá trình phân công lao động và hợp tác quốc tế, đặc biệt là khu vực châu á- Thái Bình Dương. Việc thu hút tất csr các thành phần kinh tế tham gia vào lĩnh vực kinh tế đối ngoại có ý nghĩa cực kì quan trọng, bởi vì ác lợi thế về lao động, về tài nguyên, về địa lý v.v.. nằm rải rác ở các địa phương, các vùng của đất nước. Kinh nghiệm khai thác và phát huy thế mạnh của chúng lại nằm rải rác ở các tầng lớp dân cư. Mỗi thành phần kinh tế với quy mô vốn và trình độ công nghệ khác nhau sẽ có khả năng thu hút đươc các tầng các tầng lớp dân cư vào việc khai thác lợi thế đó một cách hiệu quả nhất. Trong những năm vừa qua, hầu như tất cả các nước trên thế giới đèu theo cơ chế thị trường, tư nhân dược trực tiếp tham gia vào các hoạt động kinh tế đối ngoại, bao gồm trực tiếp xuất nhập khẩu, trực tiếp liên doanh, đầu tư với cước ngoài. Do vậy nước ta và mỗi địa phương muốn giao dịch với nền kinh tế thế giới thì tư nhân cần được khuyến khích. Để làm được điều đó nên thành lập các mô hình tổ chức thích hợp như: hiệp hội xuất khẩu, liên đoàn nhập khẩu, các tổ chức liên doanh, liên kết giữa các cơ sở sản xuất ngoài quốc doanh và các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất truyền thống nhằm tạo điều kiện cho tư nhân tham gia một chách có hiệu quả và đúng pháp luật vào thị trường quốc tế. Cũng cần xoá bỏ việc cấp giấy phép xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp và các công ty tư nhân căn cứ vào định mức doanh thu. Do hạn chế về mức doanh thu mà nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh có khả năng xuất khẩu mà không xin được giấy phép. Hơn nữa một doanh nghiệp muốn xuất khẩu được, ngoài gấy phép còn phải được thị trường bên ngoài chấp nhận, thường đáp ứng được 3 yêu cầu cơ bản sau: Uy tín sản phẩm 9tức là chất lưọng sản phẩm). Uy tín của chủ hàng. Uy tín của cơ sở sản xuất (tức tên hãng và quy mô, mặt bằng, vốn liếng, công nghệ ...) Nên chăng chúng ta cũng sử dụng thêm các chỉ tiêu này làm căn cứ để quyết định khi cấp giấy phép xuất khẩu. Ngoài ra nhà nước cũng cần cải tiến việc cấp hạn ngạch và các hình thức uỷ thác, mua bán thanh toán ... Đối với chế độ cấp quản lý và sử dụng hạn ngạch chỉ nên áp dụng đối với những mặt hàng hạn chế. Nhà nước cũng nên cho phép các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế quyền bình đẳng, tự chịu trách nhiệm thực hiện và hoạch toán lỗ lãi trong hoạt đỗng xuất nhập khẩu. Bên cạnh các hạot động xuất khẩu nói trên với các hàng hoá thông thường, đẻ phats triển nhanh cần tận dụng triệt để các ưu thế về vốn, thị trường, lao động, công nghệ... của nhiều nước chứ không phải chỉ của nước mình. Do vậy bên cạnh hoạt động thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng cần phải tính đến hoạt động xuất khẩu vốn đâù tư ra bên ngoài để bảo đảm cho hàng hoá của chúng ta bám chắc và có hiệu quả ở thị trường bên ngoài. Hiện nay việc đầu tư vốn ra bên ngoài là một hiẹn tượng còn rất hiếm ở Việt nam, song Công ty Biti's- một công ty tư nhân sản xuất giầy dép- đã mở được văn phòng đại diện và ký được các hợp đồng sản xuất và tiêu thụ tại Mỹ. Nhật bản và một số nước khác. Đây là một ví dụ điển hình về sự năng động, nhậy bén của kinh tế ngoài quốc doanh trong lĩnh vực này. b Để mở rộng thị trường, bên cạnh các định hướng phát triển thị trường, bản thân các daonh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh phải có những nỗ lực rất lớn để khắc phục những nhược điểm trong hoạt động hiện nay của mình. Một số vấn đề đặt ra mà các doanh nghiệp phải giải quyết như sau: À Các doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh phải xác định đúng đắn chiến lược sản phẩm, nghiên cứu và lựa chọn thị trường, kết cấu tài chính và vốn, về con người, sức lao động, áp dụng tiến bộ khoa học- kỹ thuật để chủ động thâm nhập thi trường trong địa phương, trong khu vực , trong và ngoài nước. Á Các doanh nghệp áp dụng maketing trong điều tra nắm bắt nhu cầu và diễn biến của thị trườngđể tìm kiếm, khai thác và chọn đúng thị trường mà doanh nghiệp có nhu cầu và có khả năng hoà nhập. Kinh nghiệm của nhiều doanh nghiệp đã chứng minh rằng doanh nghiệp nào làm chủ được thị trường thì doanh nghiệp đó tôn tại và phát triển. Việc điều tra thị trường có thể tiến hành bằng nhiều phương pháp khác nhau. Mỗi doanh nghiệp cần có một nhóm hoặc một chuyên gia chuyên lo việc điều tra phân tích thị trường. Â Các doanh nghiệp cần phải nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá dịch vụ của doanh nghiệp của mình để có thể cạnh tránh và phát triển kinh doanh trên thị trường. Đồng thời tạo những nguồn lực hoặc những giải pháp thu hút các chủ đầu tư và khách hàng đến gắn bó với doanh nghiệp. Ã Các doanh nghiệp cần phải chủ động và tích cực tham gia các tổ chức liên doanh, hợp tác trong sản xuất kinh doanh với các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Phải sem đó cũng là một nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động của mình. Ä Trong mỗi doanh nghiệp cần xem trọng và tăng cường công tác thông tin kinh tế, kiện toàn bộ máy quản lý, tăng cường trang bị các phương tiện nhằm hỗ trợ cho việc cung cấp và sử lý những thông tin dược nhanh tróng kịp thời. 4. Hỗ trợ đào tạo các chủ doanh nghiệp, cán bộ quản lý và lao động có tay nghề cao. L Một trong những khó khăn hạn chế sự phát triển của các doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh là trình độ quản lý của đội ngũ chủ doanh nghiệp và cán bộ quản lý còn hạn chế. Đội ngũ lao động có tay nghề cao, cán bộ kỹ thuật... vừa ít về số lượng vừa thấp về chất lượng. B Hiện nay lao động lành nghề chiếm tỷ lệ rất nhỏ, chủ yếu là các cơ sở tự đào tạo, hoặc do cha truyền con nối. Lao động thu hút trong khu vực này phần đông là thanh niên mới lớn chưa có nghề nghiệp, chưa có việc làm. B Đội ngũ các chủ doanh nghiệp trình độ quản lý còn hạn chế, không được đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức quản lý doanh nghiệp, chưa có đủ kiến thức và điều kiện để áp dụng các phương pháp quản lý sản xuất, quản lý chất lượng tiên tiến. Do đó năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm chưa cao, không đồng đều và không ổn định. n Để khắc phục tình trạng trên các cấp chính quyền cần phải có những biện pháp mang tính hệ thống và đồng bộ nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp. ỹNgoài các tổ chức, các trung tâm dạy nghề, các cơ sở dào tạo hiện có, cần sớm tổ chứ các trung tâm dào tạo riêng cho các doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh, đồng thời đẩy mạnh hoạt động của các trung tâm hiện có. Thông qua các tổ chức đào tạo dành riêng cho doanh nghiệp ngoài quốc doanh, nhà nước có thể thực hiện sự tài trợ về tài chính cho việc đào tạo, tài trợ đội ngũ cán bộ giảng dạy và các chương trình giảng dạy. ỹThường xuyên bồi dưỡng các kiến thức quản lý, kiến thức kinh tế thị trường cho đội ngũ cán bộ quản lý. Tiến hành đào tạo lại đội ngũ các cán bộ đã có, cung cấp cho họ những thông tin, những kiến thức mới, những phương thức quản lý tiên tiến, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường. ỹKết hợp với các trường, các viện nghiên cứu tại các trung tâm khoá học lớn của đất nước tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng chủ doanh nghệp, tiến đến chỉ cấp giấy phép hoạt động cho các cơ sở có chủ doanh nghiệp đã được đào tạo. ỹĐối với các nghệ nhân, lao động có kỹ thuật cao trong các nghề truyền thống cần có chính sách để một mặt hộ đống góp phát triển nghề, mặt khác dạy nghề và truyền nghề cho lớp công nhân trẻ. ỹThành lập các trung tâm tư vấn về quản lý với đối tượng phục vụ chủ yếu là các doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh. ỹXem xét lại các chương trình đào tạo hiện có, đồng thời tăng cường các mối liên hệ, hợp tác trao đổi giưa các cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp trong việc xây dựng chương trình, mục tiêu đào tạo để nâng cao chất lượng của công tác đào tạo và phục vụ có hiệu quả hơn, trực tiếp hơn cho các doanh nghiệp. L Ngoài ra hiện nay việc thực hiện chính sách mở cửa ở nước ta đã làm cho nền kinh tế nước ta có xu hướng toàn cầu hoá hơn, công nghệ trong các nghành thay đổi nhanh tróng hơn, việc kinh doanh trở nên phức tạp hơn, mang tính cạnh tranh hơn. Các nhà quản lý kinh doanh nước ta cũng phải trở nên quốc tế hơn, đa chức năng hơn với các kỹ năng quản lý thích ứng với môi trường kinh doanh như vậy, do đó nhu cầu đào tạo cho các quản lý kinh doanh càng trở nên cấp thiết và cũng phải tính đến xu hướng này trong chiến đào tạo. L Chỉ tiêu cơ sở trình độ văn hoá, chuyên môn nghiệp vụ của chủ doanh nghiệp và người lao động dược nâng cao, công nghiệp ngoài quốc doanh mới có thể tham gia một cách có hiệu quả vào quá trình tăng trưởng và phát triển chung của nền kinh tế, vào quá trình hội nhập của nền kinh tế, vào nền kinh tế khu vực và thế giới, đồng thời đáp ứng đòi hỏi yêu cầu ngày càng khắt khe của nền kinh tế thị trường hiện đại. 5. Tăng cường quản lý nhà nước đối vớid công nghiệp ngoài quốc doanh. h Trước hết đẻ tránh tình trạng trùng lắp, chồng chéo và bỏ sót các chức năng quản lý, cần phải có một sự xem xét lại việc bố trí các chức năng quản lý về mặt hành chính. h Việc khảo sát các hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước các cấp đối với doanh nghiệp, đơn vị kinh tế tư nhân và các văn bản pháp quy cho phép hệ thống hoá các nội dung quản lý nhà nước như: @ Thành lập, chuyển hình thức sở hữu, giải thể các doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh. @ Quy hoạch- kế hoạch- định hướng phát triển. @ Thống kê- thông tin kinh tế. @ Các chính sách điều tiết. @ Tổ chức thực hiện pháp luật. @ Kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. @ Xử lý vi phạm pháp luật đối với các doanh nghiệp, các đơn vị kinh tế. Mục lục Phụ lục Trang Biểu 3: Kết quả sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh thời kỳ………….43 Biểu 4: Giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh phân theo…………45 Biểu 5: Tốc độ tăng liên hoàn giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc 45 doanh phân theo thành phần kinh tế thời kỳ 96-2000 . 45 Biểu 6: Chỉ số phát triển của công nghiệp phân theo thành phần kinh tế……….48 Biểu 7: Số lượng các cơ sở sản xuất CNNQD phân theo thành phần k.tế…50 Biểu 8: Tốc độ phát triển liên hoàn các cơ sở sản xuất thời kỳ 96-99……..50 Biểu 9: Cơ cấu số lượng các cơ sở sản xuất phân theo TPKT……………...50 Biểu 10: Số lượng các cơ sở sản xuất CNNQD phân theo TPKT…………..51 Biểu 11: Cơ cấu các cơ sở sản xuất phân theo vùng kinh tế 96-99…………52 Biểu 12: Số lượng lao động công nghiệp ngoài quốc doanh thời kỳ 96-99 53 Biểu 13:Lao động phân theo thành phần và ngành kinh tế thời kỳ 95 -99 54 Biểu 14: Chỉ số phát triển lao động phân theo ngành và thành phần kinh tế. 55 Biểu 15: Tình hình biến động nguồn vốn thời kỳ 1997-2000. 57 Biểu 16: Tình hình biến động tài sản cố định theo khu vựcthời kỳ 59 Biểu 17: Giá trị TSCĐ bình quân cho một cơ sở sản xuất thời kỳ 97-2000.. Biểu 18: Cơ cấu giá trị sản xuất CNNQD phân theo thành phần kinh tế…...61 Biểu 19: Cơ cấu của một số chỉ tiêu phân theo khu vực kinh tế 96-2000. 62 Biểu 20: Năng suất lao động phân theo thành phần kinh tế 1996-1999. 65 Biểu 21: Mức trang bị tài sản cố định bình quân một lao động phân theo khu vực thời kỳ 1997-2000 ……………………………………………………..67 Biểu 22: Hiệu quả sử dụng tài sản cố định qua hai năm 1999-2000……….68 Biểu 23: Giá trị sản xuất CNNQD thời kỳ 96-2001………………………...69 ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc4117.doc
Tài liệu liên quan