Nghiên cứu về ĐNCT-XH ở nông thôn đồng bằng sông Hồng

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thực tiễn ở nước ta trong gần 20 năm đổi mới vừa qua chứng tỏ đường lối đúng đắn của Đảng và những bước đi thích hợp đã tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội... mang lại những thành tựu rất to lớn, tạo cho Việt Nam thế và lực mới để bước vào thế kỷ 21. Cùng với những thành quả đã đạt được thì trong quá trình đổi mới cũng xuất hiện nhiều yếu tố tiêu cực, phức tạp. Một trong những vấn đề gay cấn nổi lên là

doc134 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 09/12/2013 | Lượt xem: 2437 | Lượt tải: 14download
Tóm tắt tài liệu Nghiên cứu về ĐNCT-XH ở nông thôn đồng bằng sông Hồng, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
tình hình tranh chấp khiếu kiện có đông người tham gia, hình thành các điểm phức tạp về an ninh, các "điểm nóng" (ĐN), "điểm nóng chính trị - xã hội" (ĐNCT-XH) ở nhiều địa phương trong cả nước. Điều này đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động lãnh đạo, quản lý của tổ chức Đảng, chính quyền cơ sở, đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Địa bàn nông thôn vốn thanh bình, đáng lẽ là nơi ít xảy ra xung đột xã hội trong quá trình phát triển, nhưng đã xuất hiện nhiều ĐN và ĐNCT-XH. Đó là nơi đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn trong toàn xã hội. Có những ĐNCT-XH xảy ra đã được giải quyết ổn thỏa, thiết lập trở lại tình trạng ổn định bình thường. Có những ĐNCT-XH đang diễn ra và cũng không ít những điểm có nguy cơ bùng phát hoặc tái phát. Các ĐNCT-XH đó có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên, quy mô, tính chất và mức độ hậu quả cũng không giống nhau nhưng đều cảnh báo về sự yếu kém trong quản lý xã hội, về sự mất dân chủ trầm trọng ở một số vùng nông thôn. Đời sống của người nông dân tuy đã có nhiều cải thiện, song nhìn chung vẫn còn nghèo túng, lạc hậu, khoảng cách về mức sống giữa nông thôn và thành thị ngày càng rộng. Do vậy, nếu không ngăn ngừa có hiệu quả và giải quyết tốt các ĐN, ĐNCT-XH ở nông thôn thì không thể đảm bảo được an ninh nông thôn. Nước ta là một nước nông nghiệp, nông dân chiếm gần 80% dân số và 75% lao động xã hội thì sự ổn định của nông thôn có ảnh hưởng quyết định đối với sự ổn định của quốc gia. Vì thế, vấn đề giải quyết xử lý những bất ổn, xung đột, những ĐN, ĐNCT-XH trong cả nước nói chung và ở nông thôn nói riêng đang đặt ra cho chúng ta một yêu cầu cần phải nghiên cứu một cách nghiêm túc về nó. Nông thôn đồng bằng sông Hồng mang những nét tiêu biểu cho nông thôn Việt Nam, trong những năm qua đã có nhiều bước tiến về xây dựng kết cấu hạ tầng, xóa đói giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa mới... Nhưng so với các vùng nông thôn khác trong cả nước, ở đây lại có số lượng các ĐN, ĐNCT-XH nhiều nhất và có khả năng lây lan rất nhanh. Trong đó có thể nói, không ít những ĐN nảy sinh bởi tệ quan liêu tham nhũng, mất dân chủ, bởi phương pháp làm việc, cách thức xử lý các vụ việc của cán bộ cấp cơ sở. Do đó, để góp phần ổn định nông thôn đồng bằng sông Hồng nói riêng và nông thôn trong cả nước nói chung rất cần có sự nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để rút ra những bài học kinh nghiệm. Đó không chỉ là những bài học kinh nghiệm trong giải quyết xử lý khi đã có ĐN xảy ra mà quan trọng hơn là rút ra những bài học kinh nghiệm để loại bỏ được nguyên nhân phát sinh ĐN, phòng ngừa không cho ĐN xuất hiện hoặc tái phát. Trên cơ sở đó cần tìm ra hệ thống những giải pháp thiết thực để ổn định và phát triển nông thôn, tạo cơ sở cho sự ổn định và phát triển chung trong cả nước. Với những lý do đó, chúng tôi cho rằng, nghiên cứu về ĐNCT-XH ở nông thôn đồng bằng sông Hồng nhằm xác định đặc điểm, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm thực sự là một vấn đề có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Xử lý tình huống chính trị - trong đó có vấn đề về xử lý ĐNCT-XH - là một nội dung của chính trị học ứng dụng. Đây là một trong những vấn đề cần thiết phải trang bị cho người cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân - đặc biệt là ở cấp cơ sở để có thể ứng xử kịp thời nhạy bén trước các tình huống phức tạp và tế nhị xảy ra trong cuộc sống, tránh được những lúng túng, thậm chí là sai lầm trong khi xử lý. Sau sự kiện Thái Bình, năm 1998 đoàn công tác của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đi thực tế và tổng kết tình hình đã viết đề tài khoa học tiềm lực có tên: "Tổng kết thực tiễn về xử lý điểm nóng chính trị - xã hội" do GS.TS Lê Hữu Nghĩa làm chủ nhiệm, GS.TS Lưu Văn Sùng làm phó chủ nhiệm đề tài. Trong đề tài này các tác giả đã trình bày tóm tắt diễn biến một số ĐNCT-XH ở Thái Bình, ĐN tôn giáo ở Thừa Thiên - Huế, ĐN liên quan đến tôn giáo ở ấp Trà Cổ xã Bình Minh, huyện Thống Nhất tỉnh Đồng Nai và đưa ra những nhận xét khái quát, rút ra nguyên nhân, những bài học kinh nghiệm từ quá trình xử lý ở từng nơi. Thông qua những vấn đề đã đúc rút được trong quá trình nghiên cứu thực tiễn ở các vùng, miền, qua nhiều góc nhìn của các tác giả tham gia đề tài, PGS.TS Hoàng Chí Bảo đã có bài viết bước đầu khái quát lý luận về ĐN, ĐNCT-XH, đưa ra định nghĩa, xác định yêu cầu, nhiệm vụ xử lý và quy trình xử lý các ĐNCT-XH. Từ năm 1998, trong khuôn khổ chuẩn bị giáo trình môn học xử lý tình huống chính trị, Viện Khoa học Chính trị đã hoàn thành tập bài giảng về học phần xử lý tình huống chính trị (chương trình dành cho cử nhân chính trị do GS.TS Lưu Văn Sùng và PGS.TS Hoàng Chí Bảo là tác giả). Ngoài những phần lý luận chung như khái niệm, phương pháp tiếp cận, quy trình và giải pháp xử lý ĐN, ĐNCT-XH thì tập bài giảng này còn đi sâu vào các khía cạnh như: - Xử lý tình huống chính trị khi bộ máy cầm quyền có nạn quan liêu tham nhũng. - Xử lý tình huống chính trị khi chuyển giao quyền lãnh đạo giữa các thế hệ trong nội bộ Đảng Cộng sản cầm quyền. Năm 2001 tập bài giảng này đã được chỉnh lý bổ sung hoàn thiện thêm về mặt lý luận để phục vụ giảng dạy ở các lớp cao học. Năm 2002 giáo trình về môn học này đã được đề nghị xuất bản. Ban Nội chính Trung ương Đảng trên cơ sở khảo sát các ĐN ở nông thôn trong toàn quốc đã cho xuất bản cuốn sách: "Một số tình hình và giải pháp phòng ngừa giải quyết điểm nóng ở cơ sở nông thôn nước ta". Đây là cuốn sách đầu tiên có sự nghiên cứu mang tính chuyên sâu về ĐN ở địa bàn nông thôn. Các tác giả đánh giá chung về tình hình ĐN ở nông thôn nước ta từ khi đổi mới, xác định nguyên nhân và đưa ra các giải pháp cơ bản nhằm ổn định tình hình. Trên các báo, tạp chí, nội dung về ĐN, ĐNCT-XH và quá trình xử lý nó mặc dù được coi là một vấn đề rất nhạy cảm nhưng cũng đã ít nhiều được đề cập một cách trực tiếp hay gián tiếp ở các mức độ khác nhau. Tác giả Trần Hồng Châu - Chánh thanh tra của tỉnh Nghệ An có bài viết "Thử bàn về điểm nóng và các biện pháp hạn chế phát sinh điểm nóng" đăng trên Tạp chí Cộng sản, số 7 (4/1999). Thông qua kinh nghiệm công tác của mình, tác giả đã khái quát rút ra khái niệm về ĐN và nêu một số giải pháp góp phần làm cho ĐN không xảy ra. Tác giả Nhị Lê có bài: "Việc giải quyết "điểm nóng" ở Thanh Hóa" đăng trên Tạp chí Cộng sản, 3/1994 lại là một cách tiếp cận khác. Qua việc xác định quy mô, dạng thức, tính chất của các ĐN mà tác giả đã rút ra những nguyên nhân và bài học kinh nghiệm giải quyết ĐN. GS.TS Lưu Văn Sùng liên tiếp trên hai số 3 (10) 2001 và 4(11) 2001 của Thông tin chính trị học đã có bài đăng về "Xử lý điểm nóng chính trị - xã hội". Những bài viết này có nội dung khái quát lý luận về xử lý ĐNCT-XH. Ở Học viện Hành chính Quốc gia có môn học xử lý tình huống, xử lý ĐN song những bài giảng, những tài liệu nghiên cứu phục vụ cho giảng dạy ở đây được viết theo góc độ của quản lý hành chính nhà nước. Ở Học viện An ninh nhân dân cũng có nhiều đề tài nghiên cứu về ĐN, về đảm bảo an ninh nông thôn nhưng chủ yếu dưới góc độ chuyên môn, nghiệp vụ xử lý của ngành. Một số luận văn cử nhân chính trị đã viết về vấn đề xử lý tình huống chính trị khi tại địa phương có xảy ra ĐN như: - Luận văn của Nguyễn Văn Thiện về "Biện pháp hạn chế khiếu tố vượt cấp ở Hà Nam" (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2000). - Luận văn của Lê Xuân Thủy về "Thực trạng và giải pháp cơ bản giải quyết dứt điểm tình trạng khiếu nại tố cáo đông người ở Giao Thủy Nam Định" (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2001). - Luận văn của Nguyễn Công Chuyên về "Điểm nóng huyện Xuân Trường nguyên nhân và giải pháp" (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2001), v.v... Các luận văn này thường đi vào phạm vi địa bàn cụ thể của một huyện, một tỉnh nơi tác giả đang công tác hoặc đã tham gia chỉ đạo trực tiếp giải quyết ĐN. Những bài viết đó có nhiều giá trị thực tiễn, có nhiều kinh nghiệm xử lý rất sinh động, sáng tạo. Trong số các luận án tiến sĩ và thạc sĩ thuộc chuyên ngành chính trị học thì chưa có luận án, luận văn nào viết về vấn đề ĐN, ĐNCT-XH. Điểm qua tình hình nghiên cứu trên đây, chúng ta thấy rằng, ĐNCT-XH đã thu hút được sự chú ý nhất định của các nhà nghiên cứu, của các cơ quan nghiên cứu ở Trung ương và địa phương, nhưng chưa có tác giả, bài viết nào đi sâu vào nghiên cứu đặc điểm nguyên nhân và bài học kinh nghiệm của ĐNCT-XH ở nông thôn đồng bằng sông Hồng. 3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài 3.1. Mục đích nghiên cứu Khái quát đặc điểm của ĐNCT-XH ở nông thôn đồng bằng sông Hồng (ĐBSH). Chỉ rõ các nguyên nhân hình thành nên những ĐNCT-XH đó và rút ra những bài học kinh nghiệm, trên cơ sở đó nêu ra những dự báo và kiến nghị nhằm ổn định và phát triển nông nghiệp nông thôn. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Khái quát về các ĐN, ĐNCT-XH đã và đang xảy ra ở vùng nông thôn ĐBSH để xác định quy mô, mức độ, tính chất của chúng. - Thông qua diễn biến của một số ĐNCT-XH tiêu biểu mà rút ra đặc điểm các ĐNCT-XH ở nông thôn ĐBSH. - Xác định rõ những nguyên nhân làm nảy sinh các ĐNCT-XH ở nông thôn ĐBSH. - Nêu ra những bài học kinh nghiệm xử lý khi ĐNCT-XH đã xảy ra và kinh nghiệm khắc phục hậu quả sau ĐN, kinh nghiệm ổn định kinh tế - xã hội làm cho ĐNCT-XH không phát sinh. 3.3. Phạm vi nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu một số ĐN, ĐNCT-XH điển hình đã và đang xảy ra ở nông thôn ĐBSH từ 1986 đến nay. Phân tích dưới góc độ của hai chủ thể tác động là những người nông dân và những người cán bộ lãnh đạo xã để thấy rõ thực trạng tính chất mâu thuẫn của đời sống xã hội nông thôn hiện nay. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý luận - Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền lực chính trị, về giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị, về vai trò và quyền lực của nhân dân lao động trong thời kỳ quá độ lên CNXH. - Dựa trên quan điểm phân tích mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn trong xung đột xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin. - Dựa trên quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xã hội nói chung và về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói riêng. 4.2. Phương pháp nghiên cứu Sử dụng phương pháp nghiên cứu chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp khảo sát thực tế, phân tích, so sánh và phương pháp phân tích các phương án giải quyết (của các địa phương) trong những tình huống khác nhau đã diễn ra trong thực tế. 5. Đóng góp mới về khoa học của đề tài - Đây là luận văn thạc sĩ đầu tiên phân tích khái quát một cách có hệ thống các ĐNCT-XH trên địa bàn nông thôn ở ĐBSH trong những năm đổi mới vừa qua và hiện nay. - Rút ra đặc điểm, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm của các ĐNCT-XH ở nông thôn ĐBSH, để từ đó có một cách nhìn khái quát về ĐN trong cả nước. Nêu ra những điểm chung, những điểm khác biệt của ĐNCT-XH ở nông thôn ĐBSH với các vùng nông thôn khác trong cả nước. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 6.1. Ý nghĩa lý luận Kết quả nghiên cứu của đề tài ở mức độ nhất định có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình giảng dạy môn Xử lý tình huống chính trị và bước đầu làm cơ sở để phân loại các ĐN ở nước ta. - Cung cấp những dữ liệu cho việc xây dựng lý thuyết về xung đột xã hội và giải tỏa xung đột xã hội. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu đề tài có thể được các cán bộ lãnh đạo chính trị, nhất là ở địa phương tham khảo trong quá trình xử lý các tình huống cụ thể. Trên cơ sở có cái nhìn tổng thể về các ĐNCT-XH ở nông thôn ĐBSH mà đưa ra các giải pháp hữu hiệu nhằm ổn định và phát triển kinh tế - chính trị ở nông thôn ĐBSH nói riêng và nông thôn trong cả nước nói chung. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 2 chương, 6 tiết. Chương 1 ĐIỂM NÓNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU 1.1. NHỮNG QUAN NIỆM VỀ ĐIỂM NÓNG XÃ HỘI VÀ ĐIỂM NÓNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI 1.1.1. Khái niệm điểm nóng xã hội "Điểm nóng" là một khái niệm được dùng trong cả lĩnh vực tự nhiên và xã hội, nhưng ở phạm vi bài viết này chỉ đề cập và tìm hiểu ĐN trong lĩnh vực xã hội. "Điểm nóng" đã từng xuất hiện ở nước ta trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế - xã hội và đang tiếp tục diễn ra trong giai đoạn thực hiện công cuộc đổi mới. Khi tình hình thực tế ở một số địa phương có sự khiếu nại tố cáo đông người, vượt cấp, phức tạp, có những xung đột căng thẳng giữa dân với dân, giữa dân với cán bộ chính quyền địa phương thì khái niệm ĐN bắt đầu được dùng khá rộng rãi trong đời sống và xuất hiện trong một số văn bản của các cơ quan nhà nước mà chủ yếu là các văn bản của thanh tra, viện kiểm sát, công an, tòa án. Tuy nhiên, thuật ngữ này cũng gây ra nhiều ý kiến tranh luận. Có nơi, có người không dùng từ ĐN mặc dù tình hình ở đó cũng rất phức tạp. Thậm chí còn có địa phương ra nghị quyết khẳng định ở địa bàn mình không có ĐN, không được gọi ĐN. Vậy hiểu thế nào cho đúng thực chất của vấn đề? Cách gọi tên là một hình thức để chỉ ra cái cốt lõi của sự việc, mà có hiểu được cái cốt lõi thì mới đưa ra được những biện pháp xử lý hiệu quả. Có quan điểm cho rằng, ĐN trong lĩnh vực xã hội có nghĩa là: "Nơi tập trung mâu thuẫn cao độ cần được giải quyết, hoặc nơi diễn ra tình hình xung đột căng thẳng" [47, tr. 307]. Với cách định nghĩa này, xét theo phạm vi rộng ĐN có thể xảy ra ở những nơi, những vùng đang có mâu thuẫn xung đột gay gắt giữa các lực lượng chính trị, quân sự trong một hay giữa nhiều quốc gia. Xét theo phạm vi hẹp, ĐN có thể diễn ra ở một lĩnh vực kinh tế - xã hội hay một địa bàn dân cư nhất định. Các tài liệu phổ biến trong thời gian gần đây ở nước ta khi đề cập tới khái niệm ĐN thường tiếp cận ở góc độ nghiên cứu theo phạm vi hẹp. Qua quan sát nhiều vụ việc khác nhau tác giả Nhị Lê đã đưa ra một quan điểm: "Điểm nóng" là một khái niệm chỉ nơi xảy ra đấu tranh trong nội bộ nhân dân ở mức cao, thậm chí gay gắt về một vấn đề nào đó, trên một địa bàn nhất định (từ quy mô thôn xóm, bản trở lên...) vượt quá giới hạn giải quyết tại chỗ, đòi hỏi cấp bách phải có sự tham gia giải quyết, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền và sự can thiệp của các cơ quan pháp luật từ cấp cơ sở trở lên [33, tr. 49]. Dưới góc độ của công tác thanh tra, tác giả Trần Hồng Châu xác định: "Điểm nóng" là nơi xảy ra khiếu kiện có đông người tham gia với nội dung khiếu kiện phức tạp, khó giải quyết, mâu thuẫn trong nội bộ đến mức gay gắt, diễn biến tình hình căng thẳng làm mất ổn định đời sống cộng đồng, làm rối loạn, vô hiệu sự lãnh đạo, điều hành của các tổ chức chính trị - xã hội và chính quyền sở tại [12, tr. 48]. TS. Nguyễn Văn Tài sau khi nghiên cứu tình hình Thái Bình (1998) cho rằng: "Điểm nóng" là sự kiện xã hội có số đông người tham gia việc tranh chấp về lợi ích kinh tế xã hội trong một địa bàn dân cư, làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất, kỷ cương, nếp sống văn hóa của đời sống xã hội cộng đồng" [44, tr. 92]. GS.TS Lưu Văn Sùng đã đưa ra một khái niệm: "Điểm nóng" xã hội là đời sống xã hội trong trạng thái không bình thường, bất ổn định, rối loạn, diễn ra sự xung đột, chống đối giữa các lực lượng với hành vi không còn tự kiềm chế được đã vượt ra ngoài khuôn khổ của pháp luật và chuẩn mực văn hóa đạo đức, diễn ra tại một điểm, trong một thời gian nhất định và có khả năng lan tỏa sang nơi khác [50, tr. 25]. Có thể thấy đây là một khái niệm đã khái quát được những đặc tính chung nhất của ĐN xã hội do vậy nó được đưa vào giáo trình "Xử lý tình huống chính trị" của Viện Khoa học Chính trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Ban Nội chính Trung ương Đảng khi nghiên cứu tình hình giải quyết ĐN ở cơ sở nông thôn nước ta đã viết: Điểm nóng ở cơ sở nông thôn là hiện tượng chính trị - xã hội xảy ra ở địa bàn thôn xã, bắt nguồn từ những mâu thuẫn nội bộ kéo dài dẫn đến tranh chấp xung đột gay gắt, lôi cuốn đông người tham gia, có nhiều hành vi cực đoan, quá khích, vi phạm pháp luật nghiêm trọng; hoạt động của tổ chức Đảng, chính quyền cơ sở giảm sút hoặc tê liệt, gây mất ổn định về an ninh, trật tự xã hội và đời sống nhân dân địa phương [5, tr. 15]. Nhìn chung, trong thực tế các ĐN xã hội thường được thể hiện qua các hình thức như khiếu nại, tố cáo đông người, vượt cấp, biểu tình bãi công, bãi khóa..., có khi có những hành vi bạo lực, phá phách, chống đối người thi hành công vụ..., vượt quá khuôn khổ quy định của pháp luật hiện hành. Xét về bản chất và từ thực tiễn, ĐN suy cho đến cùng cũng chỉ là việc khiếu nại tố cáo. Mà khiếu nại, tố cáo vốn là một hiện tượng có tính phổ biến trong bất kỳ nhà nước nào, cho nên ĐN cũng không phải là một cái gì đó quá cá biệt. Đây chỉ là phản ánh sự trục trặc của mối quan hệ giữa công dân, tổ chức với cơ quan nhà nước hoặc cán bộ công chức nhà nước; là biểu hiện của quá trình hướng tới sự hoàn thiện đối với mọi công dân, cũng như với các cơ quan tổ chức, với chế độ chính sách, pháp luật nhằm bảo đảm một xã hội thực sự dân chủ. Chính vì vậy, chúng ta không nên lảng tránh, không nên sợ ĐN mà cần phải làm quen với nó, tìm hiểu về nó để có khả năng giải quyết một cách tốt nhất khi nó xảy ra. Ở đây chúng ta cần thống nhất với nhau về nội dung của một số cách gọi tên: "Khiếu kiện đông người, vượt cấp", "khiếu kiện của nhân dân trên diện rộng", "khiếu kiện đông người phức tạp" v.v... Các vụ khiếu kiện được gọi tên như trên đều là những vụ không bình thường, có tính chất đặc biệt. Nếu các vụ này mang các dấu hiệu như sau thì có thể gọi đó là ĐN. - Số lượng người tham gia đông với ý đồ gây áp lực cho các cơ quan nhà nước. Trong đó có những người trực tiếp khiếu kiện về các lợi ích của mình; có những người chỉ a dua đi theo; có những phần tử quá khích, lợi dụng khiếu kiện để trả thù cá nhân, hoặc do bất mãn công thần, số này thường gây ra những hành vi vượt quá giới hạn pháp luật và chuẩn mực đạo đức; thậm chí còn có một số đi khiếu kiện thuê - đó thường là các đối tượng bất hảo. Nhìn vào thành phần này chúng ta đã có thể hình dung được tình hình khiếu kiện sẽ ngày một phức tạp thêm, sẽ "nóng" dần lên. - Tính gay gắt của hoạt động khiếu kiện: + Khiếu kiện vượt cấp, khiếu kiện không đúng thẩm quyền giải quyết, đưa đơn, thư hoặc kéo đông người tới tất cả các cấp ở Trung ương, đến nhà riêng các đồng chí lãnh đạo cấp cao đòi gặp và đưa yêu sách. + Vi phạm nội quy, quy chế tiếp dân, xúc phạm cán bộ, thậm chí còn đe dọa hành hung bắt giữ cán bộ đang thi hành công vụ. + Đưa ra các yêu sách phi lý hoặc không có căn cứ pháp luật buộc phải thực hiện ngay. - Tính phức tạp của hoạt động khiếu kiện: + Đụng chạm đến nhiều vấn đề bức xúc trong xã hội, kể cả vấn đề về sự lãnh đạo, quản lý của các cấp bộ Đảng, chính quyền. + Nội dung khiếu kiện trên diện rộng, có nhiều việc rất khó xử lý vì lý do hậu quả của lịch sử để lại. + Đụng chạm đến những vấn đề hết sức nhạy cảm trong chính trị như tôn giáo, nhân quyền, chính sách xã hội thương binh gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng, bà mẹ Việt Nam anh hùng. Như vậy, vấn đề là ở chỗ không phải cách gọi tên như thế nào mà bản chất và nguy cơ của sự việc đó ra sao? Điểm qua những quan niệm trên chúng ta thấy dù là "khiếu kiện đông người vượt cấp" "khiếu kiện của nhân dân trên diện rộng" hay ĐN đều là những sự việc hiện tượng phản ánh sự bất ổn trong đời sống xã hội đến mức có nguy cơ phá vỡ trật tự an toàn xã hội, đều chứa đựng khả năng chuyển hóa thành vấn đề chính trị. 1.1.2. Điểm nóng chính trị - xã hội Giữa công dân với các hoạt động của hệ thống chính trị bao giờ cũng có mối quan hệ qua lại. Mối quan hệ này trở nên phức tạp, có tính chất đặc biệt hơn khi xảy ra ĐN. Sự đối diện trực tiếp giữa dân với Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội khác ở thời điểm có ĐN sẽ xảy ra một trong hai trường hợp sau đây: Một là, các ĐN xã hội dù do bất cứ nguyên nhân nào, hình thức biểu hiện ra sao, nhưng nếu chính quyền không có cách xử lý đúng thì đều có thể làm tăng thêm những bất bình và gây nên những phản ứng chống lại chính quyền. Hai là, các mâu thuẫn xã hội nảy sinh khi người dân không hài lòng, không đồng ý với cá nhân những cán bộ lãnh đạo của Đảng và Nhà nước do họ có sai phạm trong quá trình công tác của mình như: quan liêu, thiếu trách nhiệm, tham ô tham nhũng, trù úm, đe dọa, thách đố dân... hoặc là sự không hài lòng với chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của công dân với Nhà nước. Lúc đó sự phản ứng quyết liệt của dân chúng sẽ tập trung vào đối tượng chủ yếu là bộ máy tổ chức Đảng và Nhà nước, một số cán bộ đương chức đương quyền. Như vậy ĐN xã hội rất có thể phát triển lên ở mức cao hơn trở thành ĐNCT-XH. PGS.TS Hoàng Chí Bảo nhận thấy trong những ĐN xã hội "tâm trạng bất bình của đa số" cùng với những "hành vi phản ứng chính thức, công khai để đòi hỏi lợi ích và thỏa mãn một nhu cầu nào đó". Qua những dấu hiệu này thì: Điểm nóng được hình dung như một tình huống có vấn đề của đời sống xã hội, của cộng đồng dân cư. Tình huống đó chung quy lại là phản ứng của một nhóm hay một số đông nhất định của công dân về một chủ trương chính sách nào đó, hoặc việc thực hiện chủ trương chính sách đó vi phạm các chuẩn mực công bằng, dân chủ làm thiệt hại tới lợi ích của họ, buộc họ phải biểu thị hành vi phản ứng với chính quyền, đòi hỏi sự điều chỉnh, sự giải quyết nhằm cải thiện tình hình [44, tr. 45]. Nói một cách chung nhất: Điểm nóng chính trị - xã hội là điểm nóng xã hội diễn ra trong lĩnh vực chính trị - xã hội khi mà sự chống đối của đám đông quần chúng, của các lực lượng đối lập đã hướng trực tiếp vào những người nắm quyền lực chính trị, cơ quan quyền lực và thể chế chính sách của chính quyền nhà nước [50, tr. 25]. Quan sát các dấu hiệu đặc trưng chủ yếu ta có thể thấy ĐN xã hội và ĐNCT-XH có những điểm giống nhau là: - Đều là sự phản ứng có tính tập thể của nhân dân, tham gia với số lượng tương đối đông có tổ chức dưới những hình thức và mức độ nhất định. - Đều thể hiện sự bực bội, bất mãn bị dồn nén lâu ngày nên phản ứng có tính gay gắt. Tâm lý chung của đám đông lúc này rất bức xúc, thiếu khả năng kiềm chế, không bình tĩnh sáng suốt và có những hành vi quá khích, hành động dễ bị quá đà, vượt khỏi giới hạn pháp luật và xa rời các chuẩn mực văn hóa, đạo đức. - Nhiều người do trình độ học vấn, dân trí thấp lại chịu chi phối bởi tính thực dụng vì những lợi ích trước mắt nên bị lôi kéo, tham gia một cách thụ động. Số này khi được tuyên truyền vận động họ sẽ hiểu ra hoặc khi những người cầm đầu quá khích bị bắt họ sẽ tự giải tán. ĐNCT-XH là sự phát triển gay gắt hơn, phức tạp hơn ĐN xã hội, ta có thể thấy những điểm khác biệt từ những đặc trưng của ĐNCT-XH là: - Hình thành tổ chức có lực lượng cầm đầu, định ra mục tiêu, nội dung, phương pháp đấu tranh (thường lực lượng này ít khi lộ diện mà chủ yếu chỉ đạo, giật dây phía sau). - Có lực lượng "cốt cán" chịu trách nhiệm vận động, chỉ huy, điều hành lôi kéo quần chúng tham gia, cổ vũ, bảo vệ. - Có tính chất phức tạp và quyết liệt hơn vì ngoài sự phản ứng công khai đối diện trực tiếp với chính quyền còn có những biểu hiện vô chính phủ như: tự do hội họp, bầu thủ lĩnh, tự phát hành động bất chấp pháp luật, tự đặt ra các quy định, quy ước để ràng buộc, cưỡng chế nhân dân đi theo. - Sự phản ứng không chỉ nhằm mục tiêu đòi hỏi về các lợi ích kinh tế mà còn có cả nội dung về mặt chính trị. Dùng số đông gây sức ép, đặt điều kiện, ra yêu sách đòi hỏi thay đổi một số vị trí của cá nhân cán bộ lãnh đạo, đòi hỏi phải có sự thay đổi về một khâu nào đó của chế độ, chính sách. Tuy nhiên khi xem xét ĐNCT-XH cần phải phân biệt rõ hai loại: Một là, ĐNCT-XH có sự can thiệp của lực lượng phản động trong hoặc ngoài nước. Lợi dụng những sơ hở trong cơ chế, đường lối chính sách mà chúng kích động dân đấu tranh. Về hình thức là đòi quyền dân chủ, đòi quyền lợi kinh tế nhưng thực chất là gây rối loạn xã hội, làm mất ổn định an ninh chính trị và cao hơn là nhằm lật đổ chính quyền. Hai là, ĐNCT-XH xuất phát từ mâu thuẫn nội bộ nhân dân, là sự không đồng tình của dân đối với những biểu hiện sai trái của đội ngũ cán bộ hay với chất lượng của tổ chức bộ máy. Mục tiêu của cuộc đấu tranh này là đòi phải có sự chỉnh sửa những sai lầm làm cho hệ thống chính trị được tốt hơn, hoàn thiện hơn, đúng bản chất của một xã hội mà nhân dân đang xây dựng và bảo vệ. Ở nước ta trong những năm qua, phần lớn các ĐN và ĐNCT-XH xảy ra đều thuộc vào loại thứ hai. Ở đó chỉ có mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân chứ không có mâu thuẫn đối kháng. 1.1.3. Điểm nóng chính trị - xã hội - một tình huống chính trị Tình huống chính trị là những sự kiện, biến cố không bình thường diễn ra trong đời sống chính trị - xã hội, gây nên sự bất ổn định hoặc có khả năng gián tiếp gây nên sự bất ổn định chính trị - xã hội, đòi hỏi con người phải áp dụng những giải pháp đặc biệt để giải quyết [49, tr. 3]. Do đó, ĐNCT-XH với sự bất ổn, rối loạn, có những xung đột trong xã hội, có sự chống đối của quần chúng hoặc các lực lượng đối lập hướng trực tiếp vào những người nắm quyền lực, cơ quan quyền lực... chính là một tình huống chính trị. ĐNCT-XH là một tình huống chính trị rất phức tạp, ở đó có thể vừa có mâu thuẫn ngay trong nội bộ những người cầm quyền, mâu thuẫn giữa quần chúng nhân dân với cán bộ đảng viên trong hệ thống chính trị, có tệ quan liêu tham nhũng, lại vừa có thể có mâu thuẫn với các thế lực phản động trong và ngoài nước. Vì vậy, khi xử lý ĐNCT-XH phải giải quyết nhiều mối quan hệ, nhiều loại mâu thuẫn, đặt ra nhiều mục tiêu, nhiệm vụ và quy trình giải quyết khác nhau. Về mặt nhận thức, chúng ta phải thấy rằng, sự tồn tại các ĐNCT-XH ở Việt Nam trong những năm vừa qua là một thực tế. Trong mọi hoạt động của xã hội và công tác quản lý điều hành các hoạt động ấy thường xuyên có những mâu thuẫn nảy sinh, đụng chạm đến lợi ích của một số cá nhân, tổ chức... Nếu giải quyết tốt các mâu thuẫn đó sẽ tạo ra lực đẩy cho xã hội phát triển. Có điều không phải lúc nào trong thực tế việc giải quyết các mâu thuẫn đều phù hợp, đúng quy luật cho nên có những mâu thuẫn cứ tích tụ dần từ đơn giản thành phức tạp, từ diện hẹp phát triển thành diện rộng và trong những môi trường thích hợp nó sẽ phát sinh ĐN. Do vậy ĐNCT-XH vốn là những mâu thuẫn căng thẳng bùng phát thành xung đột trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta cũng không có gì là xa lạ khó hiểu. Bản thân mỗi chúng ta cũng như Đảng và Nhà nước không hề muốn có ĐN, ĐNCT-XH, song dù không được mong đợi thì nó vẫn xuất hiện, nhưng nó được coi như "cơn sốt vỡ da" trong quá trình sinh trưởng của xã hội. Dĩ nhiên để không có "cơn sốt" hoặc "sốt nhẹ" thì vẫn tốt hơn, bởi lẽ ĐNCT-XH không phải là cách duy nhất, tốt nhất để mở đường cho sự phát triển. Xét ở góc độ tâm lý, khi các "điểm nóng" xảy ra (với điều kiện chỉ trong một thời gian ngắn, mức độ không quá căng thẳng) sẽ giúp cho những người tham gia gây nên "điểm nóng" được giải tỏa những bức bối, xua đi cảm giác bị đè nén, thiệt thòi. Xét ở góc độ thể chế, trong một phạm vi nhất định các ĐNCT-XH là sự cảnh báo về những biểu hiện bất công, bất bình đẳng hoặc thiếu dân chủ trong xã hội. Nó thể hiện những nhu cầu bức xúc đến cao độ của quần chúng, phản ánh sự yếu kém của hệ thống chính trị cơ sở, sự suy thoái đạo đức của một số cán bộ, đảng viên... Các ĐN đã tạo nên sức ép buộc Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương phải xem xét lại một số chính sách và các biện pháp quản lý xã hội để từ đó mà điều chỉnh sửa đổi cho phù hợp. Đối với một vấn đề phức tạp như ĐNCT-XH cần phải có một cách nhìn khách quan, toàn diện và linh hoạt. Muốn giải quyết được ĐNCT-XH một cách triệt để cần nhận thức đúng cội nguồn sâu xa của nó đó chính là xung đột lợi ích. Lợi ích là vấn đề xuyên suốt, luôn luôn chi phối các hành vi của con người. Lợi ích ở đây bao gồm cả lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị hoặc lợi ích tinh thần như danh dự, uy tín... Khi lợi ích của cá nhân, nhóm, hay cộng đồng bị tổn hại bởi sự xâm phạm của lực lượng khác tất sẽ nảy sinh mâu thuẫn, và mâu thuẫn này ngày càng cao độ hơn được thể hiện bằng sự đối lập về nhận thức, thái độ, xúc cảm và đôi lúc bằng cả những hành vi thù địch. Song dù ở cấp độ nào thì bản chất của dạng tình huống chính trị này vẫn là sự phân hóa xã hội, sự bất bình đẳng, sự mâu thuẫn xung đột về lợi ích. Có thể nói xung đột lợi ích chính là vấn đề mấu chốt của mọi ĐNCT-XH. Trong xã hội có giai cấp đối kháng sự xung đột các quyền lợi xã hội bắt nguồn từ sự phân chia giữa người sở hữu và không sở hữu tài sản, đi cùng với tư hữu đó là lòng tham của con người. Ở nước ta, đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mâu thuẫn này cũng chưa hoàn toàn được khắc phục, nếu không có cơ chế ngăn ngừa thì có thể phát triển thành xung đột. Thực tế cho thấy, nếu không có cơ chế ngăn chặn thì lòng tham cá nhân của những cán bộ có chức có quyền tất sẽ thành tham nhũng, lâu dần nó trở thành căn bệnh nan y. Nạn tham nhũng trầm trọng bao nhiêu thì xâm hại đến lợi ích của dân lớn lên bấy nhiêu. Do vậy, nếu Đảng và Nhà nước không kịp thời tạo ra một thể chế ngăn ngừa tham nhũng, một phong trào xã hội đấu tranh chống tham nhũng thì đến một lúc nào đó người dân sẽ phải tự đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của mình. Đa số các ĐNCT-XH xảy ra những năm qua đều vì mục tiêu đấu tranh chống quan liêu tham nhũng. Do đó không chỉ xác định đúng nguồn gốc mà còn phải xác định đúng cơ chế nảy sinh các ĐNCT-XH thì mới có cách giải quyết thích hợp. Bất cứ một ĐNCT-XH nào cũng bắt đầu từ những mâu thuẫn, lợi ích tuy nhiên không phải mâu thuẫn lợi ích nào cũng trở thành ĐNCT-XH. Để những mâu thuẫn về lợi ích trong đời sống cộng đồng dân cư dẫn đến ĐN thì mâu thuẫn đó phải đạt đến một mức độ nhất định, nó phải gay gắt; và như thế thì từ khi nó xuất hiện mâu thuẫn đến khi thành ĐN phải có một quá trình chuyển hóa nhất định. Quá trình đó chịu sự tác động thường xuyên liên tục của nhiều nhân tố, làm cho mâu thuẫn gay gắt giữa các lực lượng xã hội cứ thế tăng dần lên. Lúc này chỉ cần có một điều kiện thích hợp hay một nhân tố tác động làm cho một hay các bên gia tăng cường độ hoạt động thì mâu thuẫn vốn đã được tích tụ, dồn nén sẽ nổ ra xung đột quyết liệt và phát sinh ĐN hay._. ĐNCT-XH. Những điều kiện và tác động ấy đóng vai trò nguyên cớ, là mồi lửa châm ngòi làm bùng phát ĐN. Vì thế người cán bộ lãnh đạo khi giải quyết ĐN phải luôn xác định rõ đâu là nguyên nhân sâu xa tiềm ẩn - là "ngòi nổ" của những mâu thuẫn với cái lý do là "mồi lửa châm ngòi". Nếu chỉ giải quyết cái lý do, cái vụ việc tạo cớ cho xung đột xảy ra thì ĐN không bao giờ được dập tắt mà phải giải quyết đến tận cùng các nguyên nhân của nó nhằm đảm bảo lợi ích cho nhân dân. Về quy trình giải pháp xử lý ĐNCT-XH. Xử lý ĐNCT-XH là xử lý một tình huống chính trị, nó cần phải đảm bảo các quy trình, giải pháp chung. Bước 1: Khi quần chúng nhân dân tụ tập đông người hướng sự phản ứng vào chính quyền thì những người có trách nhiệm giải quyết ngay lập tức phải tìm mọi cách nắm vững tình hình, biết số lượng, thành phần lực lượng tham gia, người đứng đầu và những yêu sách của quần chúng. Phân tích rõ nguyên nhân và nhận dạng đúng mâu thuẫn để có cơ sở đưa ra phương châm chỉ đạo sát thực, phương thức giải quyết và tổ chức lực lượng thực hiện có hiệu quả. Bước 2: Trong lúc "nước sôi lửa bỏng" tình hình phức tạp, rối ren phải nhanh chóng thiết lập sự lãnh đạo chỉ huy thống nhất. Quan trọng nhất là chọn được người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, nghệ thuật chính trị mềm dẻo, thống nhất được các quan điểm, tập hợp được lực lượng, kịp thời đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm "rút ngòi nổ", "hạ nhiệt độ" ĐN và hạn chế sự lan tỏa sang các nơi khác. ĐNCT-XH nổ ra, tình huống chính trị lúc này đặt ra vấn đề mất - còn của quyền lực chính trị ở những phạm vi và mức độ khác nhau. Thường ở các cơ sở khi có ĐNCT-XH thì hệ thống chính trị ở đó trở nên rệu rã, suy giảm khả năng lãnh đạo thậm chí còn bị tê liệt hoàn toàn. Trong thời gian này mọi sự cố gắng là để giảm cường độ căng thẳng. Hệ thống chính trị cấp cơ sở bị mất khả năng giải quyết, cán bộ cơ sở không đủ uy tín phải có sự hỗ trợ của cấp địa phương, nếu cấp địa phương cũng không đủ khả năng giải quyết phải có sự hỗ trợ của Trung ương. Nếu ĐN là cuộc đấu tranh của nhân dân có mục đích chống quan liêu tham nhũng hoặc phản đối những sai sót của cơ chế, thể chế chính trị thì cần phải trực tiếp đối thoại với dân, sẵn sàng nhận khuyết điểm, có phương án sửa chữa, chấp nhận và giải quyết kịp thời những yêu sách chính đáng của quần chúng. Nếu ĐN là cuộc đấu tranh của nhân dân bị lợi dụng, kích động, có mục đích lật đổ nhau để tranh giành địa vị, trả thù những hiềm khích cá nhân, hoặc có sự can thiệp của từ thế lực phản động từ bên ngoài v.v... thì cách thức giải quyết phải mềm dẻo linh hoạt hơn nhiều nhưng bao giờ cũng phải dựa trên nguyên tắc: Đảm bảo tốt đoàn kết nội bộ. Có người đại diện đủ khả năng đối thoại với dân, vừa trả lời những chất vấn của dân, vừa giải thích tuyên truyền vận động nhân dân. Tập trung sức mạnh của tổ chức Đảng, chính quyền các đoàn thể xã hội để mở cuộc tuyên truyền vận động nhằm phân hóa lực lượng, cô lập những kẻ cầm đầu quá khích, lôi kéo những người dân đang lưỡng lự về phía mình, khuyến khích những người tích cực và giáo dục cảm hóa những người tiêu cực gây mất trật tự xã hội, răn đe và trừng trị những người có hành vi quá khích. Khi tình hình căng thẳng, xung đột đang diễn ra những kẻ xấu thường tranh thủ khoét sâu thêm sự hiểu lầm, tăng thêm sự bất đồng, kích động quần chúng nói xấu cán bộ, lôi kéo nhân dân tham gia khiếu kiện tập thể. Trong điều kiện nhân dân thiếu thông tin, trình độ học vấn của dân còn thấp thì sự ngộ nhận là khó tránh khỏi. Do đó cần phải hơn bao giờ hết đưa công tác tư tưởng lên trước một bước, dùng mọi lực lượng mọi biện pháp để dân vận, đưa đến cho nhân dân những thông tin chính thống làm rõ cho dân hiểu cán bộ sai đến đâu, mức độ xử lý nghiêm minh như thế nào, những khó khăn tồn đọng chưa giải quyết được vì sao, phương án giải quyết sắp tới là gì. Phương châm xử lý luôn phải là mềm dẻo linh hoạt, kiên trì, nhẫn nại. Đặc biệt tránh dùng cách giải quyết hạ sách, sử dụng quân đội, cảnh sát để tạo sức mạnh bạo lực, trấn áp. Dùng cách này có thể bắt ngay được số cầm đầu quá khích, giải tán được đám đông, nhưng không dập tắt được ĐN, tình hình chỉ yên mà không ổn. Bởi vì chủ yếu mâu thuẫn của các ĐNCT-XH là mâu thuẫn trong nội bộ, lực lượng đấu tranh là nhân dân, là chủ thể của quyền lực, là người ủy quyền cho cán bộ, cho hệ thống chính trị làm việc với mục đích vì dân. Cách tốt nhất khi xử lý tình huống ở các ĐNCT-XH cần phân hóa được đối tượng, tách những kẻ cầm đầu quá khích ra khỏi lực lượng dân chúng. Đối với số đông quần chúng không được phép đối đầu mà chỉ tuyên truyền giáo dục, vận động để thu hút họ về phía mình. Điều đó sẽ được quyết định bởi công tác dân vận. Dân vận chỉ có thể thành công khi đáp ứng được các nhu cầu chính đáng của người dân. Người cán bộ phải hiểu dân, tin dân, lo cái lo của dân, mừng cái mừng của dân, mọi động tác xử lý các tình huống chính trị cũng đều vì dân thì mới tìm ra được điểm gặp chung, tiếng nói chung. Chính trị là số phận của triệu triệu quần chúng, cho nên cách giải quyết theo lợi ích của số đông, được bàn bạc dân chủ công khai thì bao giờ cũng đưa lại hiệu quả cao nhất. Bước 3: Khắc phục hậu quả khi ĐN được dập tắt. Khi ĐN được dập tắt phải nhanh chóng đưa mọi hoạt động trở lại bình thường; giải quyết những hậu quả của ĐN để lại, khắc phục những thiệt hại về người và của; tiến hành xử lý nghiêm minh những cán bộ có sai phạm và những người quá khích vi phạm pháp luật. Tổ chức lại sản xuất, đảm bảo ổn định đời sống kinh tế, nâng cao mức sống cho nông dân, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn. Không ngừng nâng cao trình độ dân trí, trình độ hiểu biết pháp luật, tạo dựng thói quen sống và làm việc theo luật. Tích cực sửa chữa thiếu sót đi đôi với đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương và nhiệm vụ kinh tế - xã hội theo hướng phát triển để ổn định, ổn định để phát triển tốt hơn. Bước 4: Rút kinh nghiệm, dự báo tình hình và áp dụng những giải pháp để ĐN không tái phát. Sau khi xử lý ĐN cần tiến hành đánh giá rút kinh nghiệm về tất cả các mặt: vai trò cán bộ lãnh đạo, phương thức lãnh đạo chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, tổ chức quyền lực trong hệ thống chính trị, chính sách, thể chế và pháp luật của Nhà nước. Việc giữ vững quyền lực chính trị không phải chỉ cần đến những thủ thuật nhất thời trước mắt mà cần tính đến sự bền vững lâu dài. Xử lý tình huống chính trị tốt nhất là biết lường trước các khả năng của tình huống sẽ xảy ra và có những biện pháp phòng ngừa. Sự ngăn ngừa phải được tiến hành từ tất cả các phía tham gia. Sự ngăn ngừa sẽ đạt hiệu quả cao hơn khi mâu thuẫn mới vừa phát sinh đang còn ở mức độ thấp. Chẳng hạn, để có một hệ thống chính trị đủ mạnh trước hết cần xây dựng một đội ngũ cán bộ đủ năng lực chuyên môn và trong sạch về đạo đức. Muốn có một đội ngũ cán bộ đáp ứng được yêu cầu phải xây dựng được cơ chế giám sát chặt chẽ cùng với các điều kiện đảm bảo để cán bộ không được tham nhũng, không thể tham nhũng, không cần tham nhũng. Dự báo tình hình ĐN có tái phát không? Mức độ và xu hướng như thế nào sẽ quyết định đến việc áp dụng các giải pháp nào là phù hợp nhất. Xử lý ĐNCT-XH về nguyên tắc cần đảm bảo các quy trình và giải pháp chung, song ở mỗi địa bàn, mỗi tình huống khác nhau lại cần phải có sự linh hoạt, nhạy bén, "dĩ bất biến, ứng vạn biến" để phù hợp với từng điều kiện cụ thể. Biện pháp sách lược ở từng ĐN có "ứng vạn biến" thế nào đi chăng nữa thì vẫn phải dựa trên cơ sở an dân với tổng thể các giải pháp về kinh tế, chính trị, xã hội, trong đó cơ bản nhất vẫn là phát triển kinh tế và tạo dựng cơ sở chính trị trong nhân dân. 1.2. THỰC TRẠNG VỀ ĐIỂM NÓNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 1.2.1. Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của nông thôn đồng bằng sông Hồng ảnh hưởng đến việc phát sinh "điểm nóng" Địa giới hành chính vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) gồm có 11 tỉnh và thành phố là: Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Bắc Ninh, Thái Bình và Vĩnh Phúc. Tổng diện tích của vùng là 1.478.800 ha chiếm hơn 4,5% diện tích toàn quốc (2000). Ở phía Đông và Đông Nam giáp với biển Đông tạo thế mạnh trong khai thác nuôi trồng thủy hải sản và thuận tiện trong việc thông thương kinh tế bằng đường biển nhờ một số hải cảng lớn. Đất đai của vùng ĐBSH tương đối màu mỡ do quá trình bồi đắp của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, thuận tiện cho việc phát triển ngành nông nghiệp. Đây là một vùng mà dân cư tập trung đông đúc nhất cả nước. Dân số của ĐBSH tính đến năm 2000 là 17.017.700 người. Mật độ dân số trung bình lên tới 1.200 người/km2. Mật độ này cao gấp 5 lần mật độ trung bình của toàn quốc, gấp 3 lần so với đồng bằng sông Cửu Long, gấp 10 lần so với khu vực miền núi và trung du Bắc Bộ, gấp 17,6 lần so với Tây Nguyên. Những nơi dân cư đông nhất là Hà Nội (2.883 người/km2), Thái Bình (1.183 người/km2), Hải Phòng (1.113 người/km2), Hưng Yên (1.204 người/km2). Ở các nơi khác, chủ yếu thuộc khu vực rìa phía Bắc và Đông Bắc của châu thổ, dân cư có thưa hơn. Đồng bằng sông Hồng chứa đựng tam giác tăng trưởng: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, đã và đang được sự chú ý của các nhà đầu tư quốc tế, do vậy đây là một vùng kinh tế có nhiều tiềm năng. Hiện tại nền kinh tế ở ĐBSH tương đối phát triển nhưng đang phải chịu áp lực rất lớn của dân số. Hàng loạt các vấn đề xã hội như việc làm, nhà ở, y tế, văn hóa, giáo dục vẫn đang được đặt ra rất bức xúc. Về đất đai nông nghiệp Nông thôn ĐBSH có tổng diện tích đất sử dụng cho nông nghiệp là 857.600 ha (chiếm 58% tổng diện tích của vùng), diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 119.000 ha (chiếm 8%), diện tích đất chuyên dùng là 223.000 ha (chiếm 15,8%) và diện tích đất ở là 91.300 ha (chiếm 6,2%). (Số liệu so sánh: Diện tích đất dùng cho nông nghiệp năm 1940 là 1.100.000 ha, năm 1994 là 900.000 ha). Một phần do nhu cầu phát triển của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nói chung và tam giác tăng trưởng nói riêng của vùng mà nhu cầu lấy đất phục vụ cho việc xây dựng đường sá giao thông, các khu công nghiệp, các khu đô thị hóa ngày càng tăng. Một phần do dân số tăng nhanh nhu cầu đất ở ngày một nhiều nên đất canh tác cho nông nghiệp ngày càng thu hẹp lại như "miếng da lừa". Mức giảm trung bình từ chỗ 1.000 ha/năm (tính trong 10 năm từ 1980 - 1990) [55, tr. 218] đến mức giảm trung bình là 4.000ha/năm (tính từ năm 1992 - 1999) [55, tr. 321]. Điều này báo động cho một không gian nông nghiệp "tấc đất tấc vàng" đang đi đến ngưỡng giới hạn về mặt diện tích. Trong cơ chế thị trường đất đai càng trở nên có giá, người nông dân lại càng quý đất hơn bao giờ hết. Việc giải tỏa lấy đất để làm đường, làm khu công nghiệp..., cắt đất giữa hợp tác xã (HTX) này với HTX khác nếu giải quyết không khéo, không thỏa đáng đều dễ đụng chạm đến quyền lợi thiết thân của người nông dân. Do vậy vấn đề bức xúc trong dân xoay quanh chuyện đất đai ngày một tăng thêm. Về sản xuất nông nghiệp Đồng bằng sông Hồng là vựa lúa thứ hai của cả nước (sau đồng bằng sông Cửu Long). Người nông dân từ bao đời nay chủ yếu sinh sống bằng nghề trồng lúa. Hàng năm ĐBSH có hơn 1 triệu ha đất gieo lúa chiếm 88% diện tích cây lương thực của cả vùng và chiếm khoảng 14% diện tích lúa gieo trồng của cả nước (số liệu năm 1999). Cây lúa có mặt ở hầu hết các nơi, nhưng tập trung nhất và đạt năng suất cao nhất là ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên, Ninh Bình và Hà Tây. Thái Bình trở thành tỉnh dẫn đầu cả nước về năng suất lúa, trung bình trên 6 tấn/ha (1999), nhiều huyện, nhiều HTX năng suất đạt 8 đến 10 tấn/ha, cá biệt có nơi đạt 11 tấn/ha. Về mức thu nhập của người nông dân Dân số hiện nay sống ở nông thôn ĐBSH là: 13.591.000 người (2000). Bình quân ruộng đất cho một hộ chưa đến 2.800m2 và mỗi khẩu chỉ được 577m2. Theo số liệu thống kê năm 1999 thì giá trị sản xuất nông nghiệp của nông thôn ĐBSH là 19.603,9 tỷ đồng. Trong đó Thái Bình là tỉnh đạt giá trị sản lượng nông nghiệp lớn nhất với 3.239,1 tỷ đồng, tiếp theo là Hà Tây với 2.787 tỷ đồng và thấp nhất là Hà Nội: 1.071,2 tỷ đồng. Tính thu nhập bình quân đầu người một tháng ở ĐBSH là 280.000đ. Thu nhập bình quân đầu người một tháng của nhóm 20% số hộ có thu nhập thấp nhất là 99.500đ; của 20% số hộ có thu nhập cao nhất là 696.300đ. Qua các số liệu về diện tích canh tác, dân số, giá trị sản xuất nông nghiệp và mức sống của nông dân ĐBSH chúng ta thấy một số vấn đề nổi cộm đó là đất chật người đông, quy mô ruộng đất sản xuất của các hộ nói chung rất thấp, đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn thiếu thốn, sự phân hóa giàu nghèo, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn không những không được xóa bỏ mà còn có nguy cơ tăng thêm. Thành tựu về xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn Hiện nay ở nông thôn ĐBSH hệ thống công trình thủy lợi và thủy nông được xây dựng khá hoàn chỉnh, đảm bảo tưới cho trên 70% và tiêu cho gần 70% diện tích cây trồng. Điện khí hóa nông thôn: Đã căn bản hoàn thành với tỷ lệ 99,8% (là một trong ba vùng hoàn thành tốt, đồng bằng sông Cửu Long 98,7%, Đông Nam Bộ 97,5%). Toàn quốc có 26 tỉnh đạt tỷ lệ 100% xã có điện thì ĐBSH có 10 tỉnh (trừ Hải Phòng - theo số liệu thống kê năm 2001. Đến 2002 đảo Cát Bà - Hải Phòng đã có điện lưới quốc gia, tỷ lệ của toàn vùng về điện khí hóa là 11/11 tỉnh). Hệ thống đường giao thông: Cả nước có 94,5% số xã có đường ôtô đến UBND xã. Các vùng có tỷ lệ cao là ĐBSH 99,9%, Đông Nam bộ 99,7%. Cả nước có 23 tỉnh, thành phố đạt 100% số xã có đường ôtô đến UBND xã, trong đó ĐBSH có 10/11 tỉnh. Cả nước có 16% số xã có đường liên thôn được nhựa hoặc bê tông hóa trên 50%, thì ĐBSH vẫn là vùng có tỷ lệ khá nhất. (Hà Tây 23%, riêng huyện Thạch Thất 52,6%; Ninh Bình 30% trong đó Hoa Lư 56%, Yên Khánh 68,4%...). Hệ thống trường học: Hệ thống trường học ở nông thôn phát triển toàn diện. Đến nay có 99,9% số xã có trường tiểu học, 84,5% số xã có trường trung học cơ sở, 8,7% số xã có trường trung học phổ thông và 85,6% số xã có lớp mẫu giáo. Hệ thống y tế: Trong 8 vùng của cả nước thì ĐBSH là một trong hai vùng đạt 100% xã có trạm y tế. Hệ thống thông tin liên lạc: Điểm bưu điện văn hóa xã một mô hình thông tin văn hóa nông thôn mới hình thành trong những năm đổi mới đến nay đã mở rộng trên 61 tỉnh thành phố, chiếm 54,8% số xã của cả nước. Riêng ĐBSH tỷ lệ đó là 70% cao nhất trong cả nước. (Bắc Trung bộ 61,3%, Nam Trung bộ 55,2%, đồng bằng sông Cửu Long 50,3%, thấp nhất là Tây Bắc 36,6%). Số máy điện thoại ở các xã tăng nhanh, có 83,8% xã có điện thoại. Trong đó cao nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long 99,7%, thứ hai là ĐBSH 98,6%. Hệ thống loa truyền thanh trong thôn xóm đã được mở rộng và nâng cấp, nhiều xã đã có hệ thống loa truyền thanh đến từng hộ gia đình góp phần tích cực vào việc tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, phổ biến kiến thức khuyến nông đến người sản xuất. Hệ thống cơ sở văn hóa ở nông thôn tiếp tục được hoàn thiện trong đó vùng ĐBSH chiếm tỷ lệ cao nhất cả về nhà văn hóa (26%) và thư viện 10,7% [63, tr. 2]. Những tiến bộ về kết cấu hạ tầng ở nông thôn ĐBSH trên đây đã khẳng định sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước vào khu vực nông thôn, đồng thời đó cũng là kết quả của phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm". Tuy nhiên do cách thực hiện phương châm này còn nhiều thiếu sót như thu cao quá sức dân, thu chi không công khai, không bàn bạc dân chủ, nhiều cán bộ lợi dụng tham ô gây nên sự bất bình trong dân và là nguyên nhân của các vụ khiếu nại tố cáo đông người, vượt cấp. Những nơi xử lý không kịp thời, không nghiêm minh thì nảy sinh ĐN. Tâm lý làng xã của người nông dân đồng bằng sông Hồng - Hiện tại ĐBSH có 1914 xã. Mỗi xã là một đơn vị cơ bản trong tổ chức xã hội. Theo tập quán địa phương xã còn được gọi là làng. Làng là "một tổ chức chặt chẽ, ít nhiều mang tính tự quản ("phép vua thua lệ làng") trong đó dân làng được gắn kết với nhau qua quan hệ dòng họ, quan hệ lễ nghi, quan hệ cộng đồng" [55, tr. 321]. Do đặc điểm tự nhiên mà các làng xã của ĐBSH thường quần tụ tập trung (khác với đồng bằng sông Cửu Long các xóm ấp thường trải dài theo kênh rạch). Bao đời qua người nông dân cần cù chịu khó gắn bó với bờ tre ruộng lúa và hình thành trong mình tâm lý làng xã. Những tâm lý này dù đã có nhiều thay đổi trong giai đoạn đổi mới hiện nay nhưng vẫn còn những ảnh hưởng không nhỏ trong phong cách sống, cách xử sự, cách nghĩ, cách làm. Tâm lý tư hữu là đặc trưng của người tiểu nông. Chỉ quen với kiểu sản xuất nhỏ, chủ yếu là tự cung tự cấp người nông dân hay quan tâm đến những lợi ích nhỏ nhặt, lợi ích trước mắt. Chính vì thế mà họ dễ bị lợi dụng khi những kẻ xấu lôi kéo với một vài lời hứa hẹn về vật chất như giảm thuế, cho tiền đi khiếu kiện, được trả lại những phần đã đóng góp trước đây... Tâm lý cố kết cộng đồng bắt nguồn từ thực tế đấu tranh chống thiên tai địch họa, rất có ưu điểm trong cuộc sống hàng ngày, bà con giúp nhau khi khó khăn hoạn nạn, lúc tắt lửa tối đèn. Tuy nhiên, đây cũng là một tâm lý có ảnh hưởng ít nhiều đến việc hình thành ĐN ở nông thôn. Chỉ cần một lý do nào đó, việc của một ai đó chưa rõ đúng sai nhưng sẽ có đông người tham gia do sự lôi kéo anh em họ hàng cùng bênh vực cho người của nhà mình, họ mình, làng mình. Tâm lý cục bộ địa phương hình thành do tính chất biệt lập và khép kín của nông thôn ĐBSH từ xa xưa đến nay vẫn được thể hiện ra ở quan niệm ấn định đất của làng này làng kia, làng mình làng nó. Đã không ít những làng đã xô xát, đánh nhau chỉ vì tranh chấp thửa ruộng hàng cây, khi bên nào cũng cho rằng mình bị xâm lấn lợi ích. Có những làng tranh giành nhau về một ngôi chùa, về thứ bậc thắp hương dâng lễ mà đã thành ĐN chỉ vì quan niệm "trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ" hoặc có nơi lại tranh chấp mâu thuẫn vì quyền lợi của dân ngụ cư với cư dân trong làng... Đặc biệt với điều kiện cơ chế thị trường như hiện nay tâm lý bình quân trong truyền thống làng quê Việt Nam không còn phù hợp nữa. Người nông dân quen cách tính bình quân trong hương ước lệ làng, chia đều nghĩa vụ và quyền lợi cho mỗi thành viên trong dòng tộc, họ hàng từ lao động công ích, đến đóng góp thờ cúng, nhận phần oản lộc... Tâm lý này lại được củng cố thêm do sự phân chia theo định suất của thời bao cấp. Sang thời mở cửa của kinh tế thị trường sự phân hóa giàu nghèo diễn ra nhanh, người nông dân khó chấp nhận sự vượt trội của một ai đó. Đây cũng là một cản trở trong quá trình phát triển kinh tế mới. So với các lĩnh vực khác, ở những địa bàn khác thì số lượng tiền của mà các cán bộ xã, thôn tham ô, tham nhũng không phải là lớn, song nó lại gặp phải sự phản ứng quyết liệt của dân bởi so với mức thu nhập, mức sống của người nông dân, những con số đó không thể chấp nhận được. Người nông dân vốn đã mang tâm lý bình quân nay lại cộng thêm sự "chướng tai gai mắt" do đời sống của những cán bộ xã giàu lên nhanh chóng không bằng sức lực lao động của mình nên họ sẵn sàng tham gia khiếu kiện đông người, dài ngày, vượt cấp để đòi hỏi lẽ công bằng. 1.2.2. Thực trạng về điểm nóng chính trị - xã hội ở nông thôn đồng bằng sông Hồng từ 1986 đến nay Đảng ta xác định dân chủ là mục tiêu và động lực của đổi mới, của sự nghiệp xây dựng XHCN ở nước ta do vậy từ sau năm 1986 dân chủ hóa đã được thực hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tư tưởng cơ bản xuyên suốt của dân chủ là thực sự đưa người dân lên vị trí làm chủ, xác định quyền dân chủ của họ. Trong các quyền dân chủ thì khiếu nại tố cáo là một trong những quyền dân chủ cơ bản đảm bảo cho công dân có khả năng bảo vệ quyền lợi hợp pháp và chính đáng của mình. Đồng thời qua khiếu nại tố cáo mà phát hiện ra những vi phạm trong hoạt động của cá nhân, cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội, giúp cho việc chỉnh đốn, củng cố tổ chức và cải tiến hoạt động của các cơ quan này. Hiến pháp của nước ta từ năm 1946 đến 1992 đều có quy định về quyền khiếu nại, tố cáo. Năm 1998 Luật Khiếu nại Tố cáo được ban hành. Song điều đáng quan tâm là những năm gần đây tình hình khiếu nại tố cáo có chiều hướng diễn biến phức tạp, nhiều vụ khiếu kiện đông người, vượt cấp xuất hiện, nhiều vụ kéo dài phức tạp, có tính gay gắt gây ra những ĐN, ĐNCT-XH. 1.2.2.1. Số lượng, quy mô và phạm vi các điểm nóng chính trị - xã hội ở nông thôn đồng bằng sông Hồng Nông thôn ĐBSH vốn từ một địa bàn thuần nông nay chuyển sang sản xuất hàng hóa, phát triển ngành nghề, dịch vụ... quá trình vận động trong cơ chế thị trường không thể tránh khỏi sự nảy sinh nhiều vấn đề bức xúc. Trước năm 1997 có những ĐN xảy ra rải rác ở một số địa phương nhưng đã được tập trung giải quyết tạm ổn định. Từ 1997 trở lại nay các vấn đề nổi cộm ở nông thôn ĐBSH diễn ra rất phức tạp. Nhiều điểm trước đây đã giải quyết nay "nóng" trở lại, nhiều điểm mới nảy sinh và không ít điểm đang tiềm ẩn có nguy cơ bùng phát. Các ĐN phát sinh liên tiếp, nổ ra đồng loạt ở nhiều địa phương, gây nên sự đặc biệt lo ngại cho Đảng, cho Nhà nước và nhân dân ta. Nhìn chung cả vùng ĐBSH từ 1986 đến nay 100% số tỉnh (11/11) đều có ĐN xảy ra. Các tỉnh có nhiều ĐN xảy ra là: Thái Bình, Hải Phòng, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc. Các tỉnh có nhiều ĐN xảy ra kéo dài phức tạp là Nam Định, Hà Tây. Chỉ tính riêng ở Thái Bình từ những năm 1994, 1995 đã xuất hiện vấn đề khiếu kiện, tranh chấp, mâu thuẫn nội bộ, đến cuối năm 1996 thì có khiếu kiện đông người. Bắt đầu từ xóm Dân chủ xã Quỳnh Xá, Quỳnh Phụ, ĐN lan rộng ra (5/1997). Tình hình diễn biến ngày một phức tạp trên diện rộng gây mất ổn định về chính trị - xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và đã trở thành vấn đề chính trị nghiêm trọng. Ngay trong tháng 5/1997 khiếu kiện đông người đã xảy ra ở 237/285 xã. Đến tháng 12/1998 con số này lên đến 264/285 xã, trong đó có 78 xã ở mức phức tạp, 55 xã trở thành ĐNCT-XH. Được sự quan tâm lãnh đạo của Bộ Chính trị, cùng với sự cố gắng sửa chữa sai lầm, kiện toàn tổ chức cán bộ của Đảng bộ Thái Bình, giải quyết thỏa đáng những yêu cầu của nhân dân, sau hơn 1 năm tỉnh Thái Bình mới lập lại được kỷ cương, dần dần ổn định được tình hình (theo báo cáo của Ban Nội chính tỉnh Thái Bình). Sau Thái Bình, tỉnh Nam Định cũng là một tỉnh tập trung tương đối nhiều ĐNCT-XH. Ngoài điểm ở xã Mỹ Lộc, huyện Mỹ Thắng khá gay gắt thì huyện Xuân Trường, huyện Giao Thủy (được tách ra từ huyện Xuân Thủy vào 4/7/1997) đã xuất hiện các ĐN và ĐNCT-XH với số lượng đáng chú ý. Tại huyện Xuân Trường từ cuối năm 1997 có khiếu nại tố cáo đông người, bắt đầu từ xã Xuân Đài, sau đó tình hình căng thẳng lan ra các xã Xuân Tân (cuối 1998 đầu 1999), Xuân Châu (2/1999) Xuân Phong (giữa năm 1999). Các nơi khác như Thọ Nghiệp, Xuân Hùng, Xuân Hòa, Xuân Phú tuy mức độ phức tạp có khác nhau nhưng đều gây ra không khí nóng bỏng. Ở huyện Xuân Trường các ĐNCT-XH không đồng loạt nổ ra một lần mà xảy ra liên tiếp trong khoảng thời gian từ 1998 đến 2001. Huyện Giao Thủy, các ĐNCT-XH xuất hiện muộn hơn (5/1998) nhưng tốc độ lan rộng hơn, số lượng nhiều hơn so với Xuân Trường. Lúc đầu chỉ là một số công dân xóm 17, 18 của xã Giao An khiếu kiện về chính sách kinh tế mới, kinh tế xóm đội sau đó lan sang các xã Giao Xuân, Hồng Thuận và hàng loạt các xã khác. Tính đến tháng 9/2001 ở huyện Giao Thủy có 19/22 xã, thị trấn trở thành ĐN. Ba xã Hồng Thuận, Giao Xuân, Giao Lạc là những ĐNCT-XH phức tạp nhất của huyện Giao Thủy. Khác với Xuân Trường, các ĐN chính trị xã hội ở Giao Thủy diễn ra tương đối đồng loạt, thời gian tồn tại kéo dài, có nhiều xã tình hình phức tạp xảy ra từ tháng 5/1998 mà đến tháng 5/2002 mới tạm thời giải quyết được. Hà Tây, một tỉnh cửa ngõ của Thủ đô Hà Nội cũng rất được chú ý vì đã có không ít ĐNCT-XH xảy ra, một số điểm có mức độ rất căng thẳng, tính chất rất phức tạp như: xã Song Phượng, huyện Hoài Đức (1992); xã Đại Xuyên - Phú Xuyên (1995) xã Đại Thắng - Phú Xuyên (1996), thôn Hà Vĩ xã Lê Lợi - Thường Tín (từ 1998 đến 5/2002). Các tỉnh Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh có một số ĐNCT-XH xảy ra nhưng thời gian giải quyết các vụ không quá dài, nhưng về mặt tính chất gay gắt phức tạp thì cũng rất đáng kể như ở thôn Dương Tiền xã Trấn Dương - Vĩnh Bảo - Hải Phòng, xã Tiền Phong - Mê Linh - Vĩnh Phúc và thôn Dương Lôi, Tân Hồng - Từ Sơn - Bắc Ninh. Các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình, Hải Dương, Hưng Yên cũng có ĐNCT-XH nhưng số lượng ít, quy mô nhỏ, hẹp. Riêng Hà Nội, các điểm phức tạp mới chỉ ở mức ĐN, nội dung chủ yếu là về giải tỏa đất đai, tôn giáo tín ngưỡng. Tuy nhiên, một số ĐN có dấu hiệu chính trị nhưng chưa đến mức gay gắt nghiêm trọng (thường là các ĐN về tôn giáo). Do có sự tập trung lực lượng và chỉ đạo sát sao của cấp trên nên các ĐN ở đây thường được giải quyết tương đối nhanh. Mặc dù ở nông thôn ĐBSH những năm gần đây ĐN đã phát triển thành cao trào, có tính lan rộng trên phạm vi toàn huyện (như Giao Thủy - Nam Định) thậm chí trên phạm vi toàn tỉnh (như Thái Bình) nhưng các ĐNCT-XH cũng chỉ mới tách tiêng ở từng địa bàn cơ sở - cấp thôn, xã, chưa thực sự có sự liên kết trên phạm vi huyện, tỉnh, thành. Nhìn vào số lượng, quy mô, phạm vi của các ĐNCT-XH xảy ra trong thời gian từ 1986 đến nay ở nông thôn ĐBSH chúng ta thấy đây là một khu vực tập trung nhiều ĐN nhất trong cả nước. Một số ĐNCT-XH còn nổ ra ngay tại những xã từng đạt danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân hoặc những xã nhiều năm đạt danh hiệu Đảng bộ và chính quyền trong sạch vững mạnh. Vậy thực chất của sự trong sạch, vững mạnh đó là gì? Tại sao nhân dân đã từng không tiếc mồ hôi công sức, của cải, thậm chí cả máu xương cho việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà nay lại đấu tranh phản ứng lại chính quyền? Đó không chỉ là dấu hiệu của những bất cập trong quá trình chuyển đổi cơ chế tại một vùng thuần nông vốn đã có một thời gian dài xây dựng mô hình HTX kiểu cũ mà còn chứng tỏ tệ quan liêu, tham nhũng, mất dân chủ trong bộ máy Đảng và Nhà nước đã "làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và điều hành của Nhà nước. Nó đang phá hoại nghiêm trọng mối liên hệ ruột thịt giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, nguồn gốc sức mạnh vô địch của chế độ ta" [43, tr. 12]. 1.2.2.2. Mục tiêu đấu tranh của nhân dân trong các điểm nóng chính trị - xã hội ở nông thôn đồng bằng sông Hồng Đấu tranh chống quan liêu tham nhũng và những việc làm trái pháp luật của chính quyền, đòi hỏi công bằng và dân chủ Đây là mục tiêu chính và xuất phát điểm của các ĐNCT-XH. Người dân đã quá bất bình trước những hiện tượng tham nhũng ngày càng gia tăng của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên những người đã lợi dụng chức quyền làm giàu bất chính, sống xa hoa, lãng phí. Bằng cách gửi đơn thư khiếu nại, tố cáo, người dân thấy các cấp chính quyền các cơ quan hữu quan dường như không quan tâm xem xét hoặc có giải quyết trả lời thì lại là những kết luận sai lệch, không phản ánh đúng thực trạng. Không ít trường hợp những người đầu đơn bị trù dập. Những đảng viên trong sạch gương mẫu không đấu tranh nổi trong nội bộ Đảng vì bị sức ép của bè cánh có thế lực hơn. Do vậy bằng cách phản ứng tập thể, với áp lực của số đông, dân chúng mới đạt được mục đích của mình buộc Đảng và chính quyền phải phân định rõ đúng sai, xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên đã trở thành "sâu mọt" đục khoét của dân. Nội dung khiếu kiện của dân ở hầu hết các ĐNCT-XH vùng nông thôn ĐBSH có liên quan những vấn đề sau: + Việc cấp bán đất đai trái thẩm quyền, sử dụng số tiền thu được từ bán đất đó không rõ ràng. + Để lại đất dự phòng (quỹ đất 2) quá 5%. Các xã dùng diện tích để lại vượt quá đó cho đấu thầu số tiền thu được từ đây có thể đưa vào chi tiêu cho xã hoặc bị cá nhân lợi dụng. + Các khoản thu của dân không được công khai, nhiều dấu hiệu cho thấy cán bộ xã, thôn, HTX tham ô, tham nhũng. + Vi phạm nguyên tắc quản lý tài chính, ngân sách xã, hợp tác xã. Trong quản lý thu chi ngân sách xã hầu như là vi phạm Pháp lệnh kế toán thống kê, sổ sách chứng từ lập không đầy đủ, một số nơi để mất sổ sách chứng từ do quản lý lỏng lẻo; lập chứng từ khống, chứng từ giả để tham ô tư lợi. Tình trạng chi phí cho hội nghị, giao dịch lãng phí. + Sai phạm trong xây dựng cơ bản về trình tự, thủ tục và quy định kỹ thuật, nâng khống khối lượng vật tư, đơn giá. Thường thường các công trình có mức sai phạm phải loại khỏi quyết toán hai bên A-B khoảng từ 14 - 15%. Cá biệt như ở xã Đồng Lâm (Tiền Hải - Thái Bình) sai phạm này đến 52,4% [36, tr. 203]. Ngoài ra ở một số ĐNCT-XH có những sai phạm và tham nhũng về các nội dung khác như: bớt xén tiền hỗ trợ đi kinh tế mới; khai khống kinh phí xây dựng và quy tập nghĩa trang liệt sĩ. Tất cả những việc làm sai trái của cán bộ, chính quyền địa phương như đã điểm qua ở trên đều có tác động ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người nông dân, lợi ích của họ không được đảm bảo. Nếu những khiếu nại tố cáo của dân về những vấn đề này được thanh tra, kết luận chính xác, khách quan, giải trình công khai ngay từ đầu thì đã không có gì phức tạp xảy ra. Diễn biến chỉ xấu đi khi rơi vào một trong những trường hợp sau: Thứ nhất, chính quyền thiếu trách nhiệm, chủ quan, coi thường ý kiến của dân, không quan tâm đến việc trả lời đơn thư khiếu nại tố cáo, để buộc người dân phải chờ đợi với tâm lý căng thẳng và cho rằng hoặc là chính quyền sai nên không dám trả lời hoặc có ý thách đố dân, từ đó mà dẫn đến khiếu kiện vượt cấp như ở xã Trấn Dương (Vĩnh Bảo, Hải Phòng), xã Giao Xuân, Giao Lạc (Giao Thủy - Nam Định) xã Võ Cường (Thị xã Bắc Ninh) xã Đại Xuyên (Phú Xuyên - Hà Tây) xã Cồn Thoi (Kim Sơn, Ninh Bình), xã Văn Xuân (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc). Thứ hai, chính quyền xã có giải quyết, có tổ chức thanh tra nhưng không thỏa mãn được nhu cầu của dân. Có những xã đã tiến hành giải quyết đơn thư khiếu nại - tố cáo của dân nhưng do thái độ làm việc của cán bộ xã khi trả lời dân không đúng mức đã làm những người đầu đơn thêm cay cú (thôn Đông An, xã Xuân Tân, huyện Xuân Trường, Nam Định). Phần nhiều là do công tác thanh tra chưa tốt. Lý do để kết quả thanh tra đưa ra chưa chính xác thì có nhiều: do trình độ cán bộ làm thanh tra chưa đáp ứng được yêu cầu (thường ở cấp xã); do nội dung thanh tra nhiều, thời gian vụ việc yêu cầu phải thanh tra dài mà thời gian tiến hành thanh tra ít chưa đảm bảo hoàn thành công việc; do sự bao che vị nể lẫn nhau giữa các cấp các ngành, giữa cá nhân với cá nhân v.v... mà không làm rõ hết mọi vấn đề._.g chủ trương, chính sách, pháp luật thì bài học kinh nghiệm để ổn định và phát triển xã hội nói chung và nông thôn nói riêng là phải kịp thời sửa đổi hoàn thiện những bất cập đó. Văn bản pháp luật hiện nay có tình trạng không đồng bộ, vừa thừa, vừa thiếu, vừa chồng chéo, vừa bỏ trống. Vậy nên để ổn định kinh tế, chính trị, xã hội cần phải rà soát loại bỏ những văn bản, qui định không còn phù hợp, đảm bảo luật ban hành ra phải thực hiện được ngay. Loại bỏ các văn bản qui định tạo sơ hở cho các hành vi tiêu cực, phát triển tệ nạn quan liêu tham nhũng. Xét ở tầm vĩ mô cần có sự cải tiến về phương thức xây dựng hệ thống pháp luật làm sao phải tập hợp được trí tuệ của các nhà khoa học, các chuyên gia và đông đảo ý kiến đóng góp của nhân dân, nâng cao chất lượng thẩm định và dự án pháp luật. Ở các ngành và địa phương khi ban hành các quyết sách cần phát huy vai trò làm chủ của nhân dân. Việc Quốc hội ban hành luật khiếu nại - tố cáo thay cho pháp lệnh khiếu nại - tố cáo trước đây là một bước tiến thể hiện tính pháp quyền có tác dụng hết sức quan trọng đến mối quan hệ giữa nhà nước với công dân. Tuy nhiên sau gần 4 năm thực hiện cũng đã bộc lộ một số vấn đề bất cập, để có thể góp phần ngăn ngừa, hạn chế ĐN cần phải có một số sửa đổi bổ sung. Chẳng hạn như: Cần có qui định về kiếu kiện đông người, qui định về quyền và nghĩa vụ của người đại diện (đầu đơn); về thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết để hạn chế khiếu kiện đông người, vượt cấp gây những ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự. Kiện toàn hệ thống thanh tra đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính yêu cầu phát triển dân chủ, phù hợp với các chức năng nhiệm vụ của luật khiếu nại - tố cáo, đảm bảo cho thanh tra hoạt động độc lập chỉ tuân theo pháp luật. Có sửa đổi bổ sung về vấn đề thanh tra nhân dân để công tác thanh tra thật sự nghiêm minh, có tác dụng thúc đẩy sự tiến bộ Luật đất đai sau một thời gian áp dụng cũng đã nảy sinh một số điểm chưa hợp lý, chưa rõ nên đã gây ra nhiều vấn đề bức xúc ở cơ sở. Tháng 5/2002 Tổng cục Địa chính đã có văn bản số 496/TCĐC - PL yêu cầu các đơn vị thuộc tổng cục, sở địa chính các tỉnh trong cả nước hệ thống lại những vấn đề vướng mắc và đề xuất ý kiến về quản lý, sử dụng đất đai cho phù hợp với qui hoạch phát triển, sự nghiệp CNH,HĐH đất nước theo từng thời kỳ và tiến trình hội nhập quốc tế. Trên cơ sở các đơn vị đánh giá việc quản lý, sử dụng đất về 9 vấn đề thì Nhà nước có căn cứ để hoàn thiện về qui định phân loại đất, về đền bù giải phóng mặt bằng, về dùng quỹ đất để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ... Bổ sung hoàn thiện chính sách đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, đảm bảo quyền lợi cho nông dân trước hết phải xóa bỏ cơ chế "xin - cho" trong việc thực hiện các dự án ở lĩnh vực nông nghiệp nông thôn. Nhà nước phải tiếp tục xây dựng thêm các công trình cho nông nghiệp, nông thôn với cơ chế phân bổ hợp lý, công bằng. Thường xuyên kiểm tra đôn đốc việc thực hiện các dự án đã có như: xóa đói giảm nghèo, trồng rừng, cấp nước sạch, các dự án trong lĩnh vực y tế, giáo dục để đảm bảo hiệu quả thiết thực. Thực hiện chủ trương "Nhà nước và nhân dân cùng làm" với một tỷ lệ đầu tư của nhà nước nhất định không để nhân dân tự lo hoàn toàn. Có kế hoạch chi trả tiền về xây dựng đường điện cao thế do nông dân đóng những năm qua, ưu tiên giá điện cho sản xuất nông nghiệp; có chính sách giá cả nông sản thực phẩm đảm bảo quyền lợi cho người nông dân cho họ yên tâm sản xuất. Nhà nước tổ chức thu mua nông sản không để tư nhân ép giá. Mặt khác, cần tăng cường hỗ trợ, phân cấp quản lý cho chính quyền xã về tài chính, cán bộ để xã có đủ khả năng chủ động giải quyết nhiệm vụ được giao. Mở rộng các nguồn thu cho ngân sách xã, tăng cường tỷ lệ mức thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế chuyển quyền sử dụng đất để lại cho xã. 2.3. MỘT SỐ DỰ BÁO VÀ KIẾN NGHỊ 2.3.1. Dự báo tình hình ĐN và ĐNCT-XH trong thời gian tới Nhìn chung ở nông thôn ĐBSH các ĐNCT-XH cho đến nay đã được giải quyết tạm ổn, tình hình an ninh nông thôn trên địa bàn đang dần đi vào ổn định. Tuy nhiên hiện nay và trong thời gian tới nông thôn ĐBSH vẫn đang còn tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp chưa thể giải quyết ngay được. Các vấn đề đó chủ yếu là: 1- Ở những nơi đã có ĐN và ĐNCT-XH xảy ra tình hình chưa thật ổn định bởi nhân dân vẫn đang tiếp tục khiếu kiện về các vấn đề xử lý hậu thanh tra như: thu hồi kinh tế sai phạm đã ký kết trong kết luận thanh tra; xử lý cán bộ sai phạm chưa thật triệt để; kiện toàn đội ngũ cán bộ chủ chốt ở xã chưa đảm bảo có đủ uy tín với dân; các vướng mắc về vốn, tài sản của HTX nông nghiệp trước khi chuyển đổi... 2- Ở những xã chưa xảy ra ĐN, ĐNCT-XH cũng có nhiều vấn đề nhân dân khiếu kiện yêu cầu giải quyết như: việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi UBND xã làm chưa dân chủ và đúng luật; các gian lận trong việc thực hiện chế độ chính sách thương binh xã hội, vốn quỹ HTX, quỹ của các chương trình hoạt động (chương trình 135, hội chữ thập đỏ...), việc phân hạng đất, hoàn chỉnh sổ bộ thuế... 3- Một số nơi vẫn còn bị dân tố cáo là các đoàn thanh tra làm việc không công minh, còn có ý ô dù che chắn cho cán bộ xã, không dám đối thoại với đầu đơn sẽ dễ tạo ra ngòi nổ cho một ĐN. Nhiều nơi việc triển khai Quy chế dân chủ ở cơ sở không triệt để dẫn đến dân hiểu dân chủ không đầy đủ nên có những hành vi dân chủ quá trớn, cán bộ lợi dụng thiếu dân chủ để có những việc làm tiêu cực. 4- Vấn đề nổi cộm nhất hiện nay vẫn đang là đất đai. Có cái là hậu quả để lại như một số đất cấp bán trái thẩm quyền trước đây nay có quyết định thu hồi nhưng các hộ đã làm nhà kiên cố nên rất khó giải quyết. Hoặc khi thực hiện Nghị định 64/CP, đất đai được chia hết một lần cho những người trực tiếp sản xuất nông nghiệp có mặt tại thời điểm chia, lúc chết không rút đất ra, người mới sinh thêm không được chia đất, thì nay nhiều trường hợp mới phát sinh rất cần có đất canh tác lại không có đất để chia. 5- Xu hướng CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn đòi hỏi phải có sự tích tụ đất đai ngày càng lớn và cần thiết có sự tháo gỡ cơ chế kinh tế, lực lượng sản xuất phải phát triển thì sự tháo gỡ mới có kết quả. Trong khi đó tình trạng hiện nay đất đai quá manh mún, sử dụng kém hiệu quả và không đúng quy định thì kinh tế hộ không thể khá lên được. Do vậy, để đảm bảo lợi ích của kinh tế hộ, nông dân trong cơ chế thị trường phải có sự liên kết với nhau để sản xuất và kinh doanh có năng suất cao hơn, hay nói cách khác là các hộ phải tham gia vào HTX. 6- Dồn điền, dồn thửa đang là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, nhưng việc hình thành các HTX mới theo luật gặp rất nhiều khó khăn về giải quyết tài sản, vốn quỹ. Điều này làm không tốt lại sẽ là nguyên nhân cho các ĐNCT-XH ở nông thôn. Không ít các HTX ra đời đã không đáp ứng được yêu cầu do cách thức quản lý yếu kém, chậm đổi mới làm cho hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp bị chững lại, thậm chí nảy sinh nhiều bức xúc. 7- Đất đai nông nghiệp còn tiếp tục bị thu hẹp do nhu cầu xây dựng nhà ở, khu đô thị, khu công nghiệp, cầu cống, đường xá... ngày một tăng. Trong khi đó phương án giải quyết việc làm cho nông dân sau khi bị thu hồi đất không cụ thể, ít khả thi. Các chính sách về đền bù giải tỏa mặt bằng vẫn chưa thống nhất, pháp luật xử lý những trường hợp lấn chiếm, tái lấn chiếm mốc lộ giới vẫn chưa nghiêm. 8- Lực lượng lao động đang dư thừa, đất canh tác ít ỏi, nông dân thiếu việc làm. Cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp có sự chuyển dịch tích cực, nông sản thực phẩm sản xuất ra ngày càng nhiều nhưng thị trường tiêu thụ lại hạn hẹp, giá cả nông sản thấp, trong khi đó các khoản chi phí cho thủy lợi, phân bón, thuốc trừ sâu xăng dầu... lại rất cao làm cho sản xuất nông nghiệp không có lãi. Đời sống của nông dân ít được cải thiện, thu nhập thấp, thiếu vốn đầu tư mở rộng sản xuất. Khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp khác trong xã hội và nông dân ngày một tăng. 9- Hệ thống chính trị cấp xã đang từng bước được củng cố và hoàn thiện, song chưa thể đáp ứng ngay được các yêu cầu của thực tiễn. Việc đào tạo đội ngũ cán bộ cần phải có thời gian. Hiện tượng tiêu cực tham ô, tham nhũng không suy giảm vẫn đang là một tệ nạn đe dọa sự sống còn của chế độ. Tình trạng lãng phí quan liêu vẫn còn phổ biến. Tuy nhiên có thể khẳng định không thể có những ĐNCT-XH gay gắt phức tạp nghiêm trọng xảy ra và không xảy ra nhiều ĐNCT-XH cùng một lúc như những năm trước đây vì: 1- Kinh nghiệm của những nơi đã xảy ra ĐN đã buộc tổ chức cơ sở đảng và chính quyền các xã phải xem xét lại cách làm việc của mình. Các cấp chính quyền, đặc biệt cấp xã đã chú ý nhiều hơn đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo ngay từ cơ sở, không để tình trạng phức tạp dây dưa kéo dài. Tổ chức tốt công tác thanh tra kiểm tra, chủ động tìm ra sai phạm và giải quyết trước khi có ĐN. 2- Cấp trên cũng rút được những kinh nghiệm tăng cường kiểm tra, kiểm soát thường xuyên nhắc nhở, chỉnh đốn cơ sở để không mắc sai phạm, thận trọng hơn trong việc phát động các phong trào, phải tính toán trước sau cụ thể và quy định phương pháp tiến hành chu đáo hơn. 3- Quy chế dân chủ ở cơ sở đã và đang được triển khai, góp phần làm bớt đi hiện tượng mất dân chủ trước đây ở một số địa phương. Khi dân được biết, được bàn, được kiểm tra, kinh tế tài chính minh bạch rõ ràng hơn thì các mâu thuẫn sẽ giảm đi, quan hệ giữa dân với Đảng với chính quyền được cải thiện. 4- Trung ương đang tập trung để ổn định và phát triển cơ sở - đặc biệt là cấp xã thông qua các nghị quyết của Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) như: Đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở; Phát triển kinh tế tập thể... Tiến hành từng bước tổng kết kinh nghiệm xử lý ĐNCT-XH, đưa ra nhiều giải pháp quan trọng để phát huy dân chủ, nâng cao chất lượng tuyên truyền giáo dục chủ trương chính sách và pháp luật cho nhân dân, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thôn, xã... 5- Có một số sửa đổi chính sách, pháp luật thích hợp với điều kiện tình hình mới. Ngoài ra, cần hết sức tỉnh táo đề phòng "diễn biến hòa bình". Mặc dù các ĐNCT-XH ở nông thôn ĐBSH trong thời gian qua không có sự can thiệp của các tổ chức phản động nước ngoài song các tổ chức này vẫn thường xuyên theo dõi sát tình hình, chỉ chờ cơ hội để nhảy vào. Tham vọng của các thế lực thù địch vẫn đang ráo riết thực hiện diễn biến hòa bình nhằm xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó có hoạt động phá hoại nội bộ, làm cho mâu thuẫn trong nội bộ Đảng, chính quyền, mâu thuẫn giữa dân với Đảng với chính quyền nảy sinh và tăng dần lên từ đó dẫn đến nội bộ của ta "tự diễn biến", "sự chuyển hóa", "tự đổi màu". Với thủ đoạn chia rẽ nội bộ của ta bằng cách "ủng hộ những người đổi mới triệt để", phản đối kê kích "những người bảo thủ", lôi kéo khuyến khích ủng hộ bằng nhiều cách kể cả vật chất lẫn tinh thần. Do đó nếu chúng ta không chủ động nâng cao tinh thần cảnh giác, nâng cao công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân thì dễ bị rơi vào cái bẫy của chúng mà tạo ra sự rối ren trong nội bộ, sự "sự tan rã' từ bên trong của Việt Nam. Để tránh được những tác động của diễn biến hòa bình nhằm chuyển hóa chính trị Việt Nam một cách êm dịu, phi quân sự chúng ta cần phải làm chủ tình hình, nhanh chóng giải quyết những mâu thuẫn ngay từ cơ sở không thể nó bùng phát thành ĐN, ĐNCT-XH và nhất là không để nó lây lan. Bởi không gì nguy hại hơn là sự mục ruỗng từ bên trong. Ổn định an ninh nông thôn có ý nghĩa vô cùng to lớn vì an ninh nông thôn là bộ phận quan trọng của an ninh quốc gia. "Nếu nông thôn ổn định, nhân dân phấn khởi làm ăn thì dù khó khăn gì đi nữa, đất nước ta vẫn đảm bảo sự ổn định" [31, tr. 5]. 3.3.2. Một số kiến nghị Để nông thôn ĐBSH nói riêng, các vùng trên cả nước nói chung hạn chế và không có ĐNCT-XH, qua quá trình nghiên cứu khảo sát về diễn biến và xử lý các ĐNCT-XH, chúng tôi có một số kiến nghị với Đảng và Nhà nước như sau. 1- Tăng cường quản lý nhà nước về đất đai, bổ sung hoàn thiện các văn bản pháp quy về quản lý ruộng đất trên cơ sở quy hoạch dài hạn ở từng vùng, từng địa phương và chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn. Cần có chính sách cụ thể hợp lý, có cơ chế đảm bảo khi thu hồi quyền sử dụng và chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất chuyên dùng. 2- Để Quy chế dân chủ ở xã thực sự đi vào cuộc sống, cần tăng cường cơ chế đảm bảo thực thi các quyền dân chủ cho người dân ở cơ sở. Cần có quy định cụ thể nghĩa vụ của chính quyền cơ sở trong việc tổ chức cho dân thực hiện các quyền dân chủ; quy định trách nhiệm pháp lý mà chính quyền cơ sở phải chịu nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ nói trên. 3- Luật Khiếu nại - Tố cáo không qui định thời hiệu giải quyết tố cáo, cấp giải quyết tố cáo cuối cùng do đó có một số công dân cố tình tố cáo vượt cấp tới trung ương mặc dù đó là những vụ việc nhỏ ở cơ sở hoặc những vụ việc cách đây đã quá lâu hồ sơ lưu trữ không còn đầy đủ gây khó khăn cho việc giải quyết. Đề nghị Nhà nước xem xét bổ sung Luật Khiếu nại - Tố cáo cho phù hợp để tránh hiện tượng khiếu nại - tố cáo vượt cấp. Thực tế có nhiều đơn tố cáo nội dung cách đây đã lâu (trên 10 năm) hoặc những nội dung liên tục trong hàng chục năm nên đòi hỏi thời gian điều tra, xác minh tương đối lâu. Trong khi đó qui định của Nhà nước về thời gian giải quyết các đơn tố cáo là 60 ngày, phức tạp thì không quá 90 ngày nên không làm kịp. Đề nghị Nhà nước cần có hướng dẫn cụ thể đối với loại đơn thư tố cáo có nội dung nhiều như trên để các cơ sở vẫn giải quyết được mà không trái với luật khiếu nại - tố cáo, không bị người đầu đơn lấy lý do quá ngày để gây thêm rắc rối. - Đề nghị cần hoàn thiện pháp luật khiếu nại - tố cáo theo hướng; qui định về khiếu kiện đông người, cụ thể hóa chế tài xử lý những người lợi dụng dân chủ khiếu kiện làm phương hại đến lợi ích công cộng, những kẻ kích động, kẻ "kiện thuê", kẻ tổ chức chỉ huy với dụng ý xấu, những kẻ phản động... 4- Nhà nước cần ban hành văn bản pháp luật về biểu tình nhằm cụ thể hóa một quyền cơ bản của công dân đã được Hiến pháp ghi nhận, văn bản này cũng là một cơ sở để các cơ quan nhà nước so sánh đối chiếu giữa ĐN với biểu tình, từ đó xác định chính xác thẩm quyền, quy trình xử lý phù hợp với pháp luật. 5- Hiện nay có một số qui định của các luật như Luật HTX, Luật Đất đai, Luật Thuế có những nội dung liên quan đến khiếu nại - tố cáo nhưng lại mâu thuẫn với luật khiếu nại (chủ yếu là về thẩm quyền giải quyết) dẫn đến tình trạng cùng một vụ việc có nơi áp dụng luật đất đai, có nơi lại áp dụng Luật Khiếu nại - Tố cáo để giải quyết. Đề nghị khi ra thông tư hướng dẫn, Nhà nước cần qui định thật cụ thể và đầy đủ. 6- Hiện nay vấn đề ngân sách xã, vốn quỹ HTX nông nghiệp ở địa phương gặp rất nhiều khó khăn do quá trình lịch sử để lại, cơ chế chính sách thay đổi, cộng với sự tùy tiện của một số cán bộ cũ đã để lại hậu quả xấu trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn nên hiện nay xã nợ chồng chất, nhiều khoản không có khả năng thanh toán, ngân sách thu không đủ chi, do vậy đề nghị Nhà nước cần có chính sách thích hợp đối với cấp xã để giảm bớt khó khăn cho cơ sở, hạn chế đơn thư khiếu nại - tố cáo. 7- Đề nghị Quốc hội nghiên cứu soạn thảo để xây dựng bộ Luật chống tham nhũng. KẾT LUẬN 1- Nông thôn ĐBSH mang đậm nét bản sắc nông thôn Việt Nam, có một truyền thống cách mạng vẻ vang trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc những người nông dân của ĐBSH đã chịu đựng biết bao gian khổ, hy sinh trong lao động sản xuất và chiến đấu. Nông thôn ĐBSH là một trong những vùng đất đi đầu năng động trong sự nghiệp đổi mới, những năm qua ĐBHS có thành tích cao trong sản xuất nông nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn. Song, sự nghiệp đổi mới ở nước ta càng đi vào chiều sâu càng bộc lộ rõ nhiều vấn đề bất cập về thể chế, những vướng mắc do chậm hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách. Kinh tế thị trường càng phát triển càng khai thác và phát huy được nhiều tiềm năng sản xuất trong xã hội khơi dậy sức sáng tạo to lớn của hàng chục triệu người lao động là nền tảng đảm bảo thực hiện quyền làm chủ của người lao động cả về mặt kinh tế cũng như chính trị. Mặt khác, kinh tế thị trường cũng đẩy mạnh xu thế phân hóa giàu nghèo quá mức, thương mại hóa các quan hệ xã hội, xuất hiện nhiều tệ nạn xã hội mà trong đó quan liêu, tham nhũng đã trở thành "quốc nạn". Cùng với nó lại là sự chậm trễ trong việc đổi mới hệ thống chính trị, sự thiếu đồng bộ trong hệ thống pháp luật và chính sách. 2- ĐN, ĐNCT-XH đã xuất hiện trên một số địa bàn trong cả nước nói chung cũng như ở nông thôn ĐBSH nói riêng. Ngoài nhiều điểm giống với ĐN ở các vùng, miền khác thì các ĐNCT-XH ở nông thôn ĐBSH có những đặc điểm riêng biệt do điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng quy định. Từ đó trong xử lý cũng có phương cách khác nhau và những bài học kinh nghiệm được rút ra cũng không hoàn toàn giống với các nơi khác. Nếu chỉ xét trong giai đoạn từ 1986 đến nay thì thời điểm ở nông thôn ĐBSH xuất hiện nhiều ĐN nhất vào khoảng từ 1997 đến 2000. Hiện nay cơ bản các ĐNCT-XH ở các địa phương đã giải quyết xong nhưng không có nghĩa là sẽ không còn ĐNCT-XH xảy ra nữa. Bởi không thể ngày một ngày hai chúng ta có thể giải quyết, chỉnh sửa tất cả những gì còn đang khiếm khuyết của HTCT, của chủ trương đường lối, chính sách, pháp luật và cũng không thể ngay lập tức đẩy lùi được tệ quan liêu, nạn tham nhũng. 3- Những năm tới nguyên nhân cho sự hình thành các ĐNCT-XH vẫn còn tiềm ẩn. Vấn đề là ở chỗ chúng ta phải biết chủ động tiến hành các giải pháp để ngăn ngừa không cho các ĐN, ĐNCT-XH xảy ra. Đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn một cách hợp lý, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nông dân, rút bớt khoảng cách giàu nghèo với các tầng lớp khác trong xã hội là giải pháp có tính trọng tâm, lâu dài và nền tảng. Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh với đội ngũ cán bộ có đủ năng lực và phẩm chất đạo đức là giải pháp cơ bản. Thường xuyên làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết kịp thời đơn thư khiếu nại - tố cáo ngay từ cấp cơ sở là giải pháp quan trọng. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở đồng thời với việc nâng cao dân trí và ý thức pháp luật cho quần chúng nhân dân là giải pháp có tính quyết định. Muốn tăng cường củng cố mối quan hệ giữa Đảng - Nhà nước với nhân dân, muốn ngăn ngừa ĐN phải thực hành dân chủ. Dân chủ là của quý báu nhất, là chìa khóa vạn năng để giải quyết khó khăn, dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực cách mạng. Giải pháp có tính then chốt nhất là Đảng phải nêu gương về dân chủ và lãnh đạo chặt chẽ quá trình phát huy dân chủ. Với vai trò là một Đảng cầm quyền, lãnh đạo toàn bộ xã hội muốn có cán bộ tốt, chính quyền mạnh, dân chủ trong xã hội được phát huy thì việc đầu tiên Đảng phải nêu gương về dân chủ. Trong sinh hoạt Đảng, từ sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt cấp ủy, trong công tác cán bộ cũng như trong việc xây dựng, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng cần thể hiện đầy đủ tinh thần phát huy dân chủ, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, đấu tranh kiên quyết với những hiện tượng độc đoán, chuyên quyền cũng như hiện tượng dân chủ hình thức, vô tổ chức, vô kỷ luật gây mất đoàn kết nội bộ. Thực hành dân chủ trong sinh hoạt đảng đi liền với việc nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong Đảng, đồng thời vận động nhân dân tham gia phê bình xây dựng Đảng. Đó là cách tốt nhất để ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức trong Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. 4- Bài học lớn nhất mà Đảng rút ra được qua các ĐN, ĐNCT-XH đó là nếu xa dân, mất chỗ dựa ở dân thì tình hình sẽ bất ổn, nguy cơ đổ vỡ là khó tránh khỏi, do vậy để củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân không thể không thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đảng phải gần dân, tin dân, trọng dân, học dân để lãnh đạo dân. Chính thực tiễn sinh động từ khi Đảng ra đời cho đến nay đã chứng minh một chân lý: Có dân là có tất cả, mất dân là mất tất cả. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Nguyễn Hoàng Anh (2002), "Văn bản pháp luật không rõ dễ dẫn tới vi phạm quyền dân chủ của công dân", Dân chủ và Pháp luật, (3), tr. 10-13; 20. Ban Dân vận Trung ương (2000), Một số vấn đề công tác vận động nông dân ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Ban giải phóng mặt bằng khu công nghiệp Dương Lôi - Tân Hồng (2002), Các bản cam kết giải phóng mặt bằng khu công nghiệp Dương Lôi. Ban Nội chính - Tỉnh ủy Thái Bình (1998), Báo cáo tình hình, nguyên nhân và những biện pháp, bài học về giải quyết điểm nóng tại Thái Bình, số 85/CB/NC ngày 19/10. Ban Nội chính Trung ương Đảng (2000), Một số tình hình và giải pháp phòng ngừa, giải quyết điểm nóng ở cơ sở nông thôn nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. PGS.TS Hoàng Chí Bảo (2001), "Một số vấn đề xử lý nạn quan liêu, tham nhũng như một tình huống chính trị", Thông tin Chính trị học, (2), tr. 2-7. Hoàng Chí Bảo (2002), "Quan điểm và giải pháp để củng cố và tăng cường, hệ thống chính trị ở cơ sở", Dân vận, (1 + 2), tr. 16-18. Nguyễn Anh Bình (1997), "Vì sao ở Thái Bình xảy ra những sự việc phức tạp", Báo Nhân dân, ngày 8 và 9. Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Thái Bình, Quân khu 3 (1998), số 240/BC-BCH, ngày 25/3, Báo cáo thực trạng tình hình ở cơ sở. Bộ trưởng Bộ Nội vụ (1998), Chỉ thị 08/1998- CT/BNV (A11) ngày 18/4, Về công tác Công an góp phần đảm bảo an ninh nông thôn trong tình hình mới. Bộ trưởng Bộ Nội vụ (1998), Quyết định 205/1998-QĐ/BNV (A11) ngày 18/4, Quy định về công tác Công an góp phần đảm bảo an ninh nông thôn và quy trình công tác công an tham gia giải quyết "điểm nóng". Trần Hồng Châu (1999), "Thử bàn về điểm nóng và các biện pháp hạn chế phát sinh điểm nóng", Tạp chí Cộng sản, (7), tr. 48-50. Chính phủ (1993), Nghị định số 64/CP ngày 27/10, Về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân, sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất đất nông nghiệp. Chính phủ (1999), Nghị định số 67/NĐ-CP ngày 7/8, Về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật khiếu nại tố cáo. Công an tỉnh Hà Tây (2002), số 131 CAT (PV11) ngày 12/4, Báo cáo tổng hợp tình hình phức tạp tại thôn Hà Vĩ, xã Lê Lợi, huyện Thường Tín và những chủ trương biện pháp giải quyết. Công an tỉnh Thái Bình (1999), Báo cáo tổng kết công tác công an góp phần bảo đảm an ninh nông thôn từ 1987 - 1999, số 709, (PV11), ngày 1/9. Công an tỉnh Thái Bình, Công an huyện Tiền Hải (2000), Báo cáo số 412/BC ngày 26/12, Về tình hình an ninh nông thôn trên địa bàn Tiền Hải, thực trạng và giải pháp. Công an tỉnh Thái Bình, Phòng PA38 (2001), Báo cáo ngày 14/6, Về tình hình khiếu tố của một số quần chúng nhân dân ở 53 xã thuộc tỉnh Thái Bình. Phan Đại Doãn (1996), Quản lý xã hội nông thôn ở nước ta hiện nay. Một số vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nguyễn Quang Du (1994), Ý thức nông dân trong cán bộ đảng viên nông thôn miền Bắc Việt Nam. Những đặc trưng chủ yếu, Luận án tiến sĩ triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Nguyễn Tiến Dũng (1999), "Bài học Thái Bình về xây dựng Đảng", Tư tưởng văn hóa, (7), tr. 16-18. Thái Duy (1998), "Cán bộ nhà nước cũng là cán bộ dân vận", Dân vận, (6), tr. 24-25. Đảng bộ tỉnh Hà Tây, Huyện ủy Quốc Oai (2002), Báo cáo số 10-BC/HU ngày 29/7, Về kết quả việc lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân. Đảng bộ tỉnh Nam Định, Huyện ủy Giao Thủy (2000), Nghị quyết của Ban chấp hành đảng bộ huyện số 10/NQ-HU ngày 29/7, Về một số chủ trương, giải pháp ổn định tình hình an ninh nông thôn trong huyện. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Chỉ thị số 21/CT-TW ngày 10/10 của Bộ chính trị, Về một số công việc cấp bách ở nông thôn hiện nay. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Chỉ thị số 29/CT-TW ngày 14/2 của Bộ Chính trị, Về tăng cường công tác kiểm tra Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Chỉ thị số 30/CT-TW ngày 18/2 của Bộ Chính trị, Về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Nghị quyết 06/NQ-TW ngày 10/11 của Bộ Chính trị, Về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn hiện nay. Phan Chu Đức (1999), Những kinh nghiệm trong việc giải quyết vấn đề mất đoàn kết ở Đảng bộ xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai - Hà Tây, Luận văn cử nhân chính trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Huyện ủy Xuân Trường, Ủy ban kiểm tra (2001), số 12BC/KT, ngày 20/7, Báo cáo tình hình thực hiện "Quy định những điều đảng viên không được làm". Thủ tướng Phan Văn Khải (1998), Phát biểu tại hội nghị cán bộ chủ chốt của Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh toàn quốc. Nguyễn Linh Khiếu (1999), Lợi ích động lực phát triển xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Nhị Lê (1994), "Việc giải quyết điểm nóng ở Thanh Hóa", Tạp chí Cộng sản, (3), tr. 49-52. Chủ tịch nước Trần Đức Lương (2002), "Đổi mới sự lựa chọn cách mạng nhằm mục tiêu phát triển của Việt Nam", Tạp chí Cộng sản, (4+5), tr. 3-13. Đỗ Thị Thanh Mai (2001), Tâm lý nông dân miền Bắc Việt Nam khi chuyển sang kinh tế thị trường - đặc trưng và xu hướng biến đổi, Luận án tiến sĩ triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. TS. Nguyễn Văn Mạnh (1998), Bài học kinh nghiệm giải quyết khiếu kiện diện rộng đông người tính chất gay gắt phức tạp ở Thái Bình, Đề tài khoa học của Khoa Nhà nước và pháp luật, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (2002), "Muốn phát huy dân chủ xã hội Đảng phải nêu gương về dân chủ và lãnh đạo chặt chẽ quá trình phát huy dân chủ", Dân vận, (3), tr. 4-5. Hồ Chí Minh (1999), Di chúc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nguyễn Đức Minh (1998), "Mấy vấn đề về an ninh nông thôn hiện nay", Tạp chí Cộng sản, (3), tr. 45-48. Lưu Hồng Minh (2001), Thực trạng phân tầng xã hội theo mức sống ở nông thôn đồng bằng sông Hồng, dự báo và những kiến nghị, Luận án tiến sĩ xã hội học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Đỗ Mười (1998), "Phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở", Tạp chí Cộng sản, (20), tr, 3-8. Đỗ Mười (1999), "Bài học từ sự kiện Thái Bình", Tạp chí Cộng sản, (4), tr. 11-16. GS.TS Lê Hữu Nghĩa (chủ biên) (1998), Tổng kết thực tiễn về xử lý điểm nóng chính trị, xã hội, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,. PGS.TS Trần Quang Nhiếp (1998), "Thực hiện dân chủ ở cơ sở", Tạp chí Cộng sản, (13), tr. 19-24. PGS.TS Trần Quang Nhiếp (2002), "Mấy vấn đề về tham nhũng và đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta hiện nay", Kinh tế và phát triển, (3), tr. 48-49. Hoàng Phê (chủ biên) (1997), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng. TSKH Phan Xuân Sơn (2002), "Đảng Cộng sản Việt Nam với việc giải quyết vấn đề dân chủ trong tiến trình cách mạng nước ta", Sinh hoạt lý luận, (1), tr. 8-13. GS.TS Lưu Văn Sùng (Chủ biên) (2001), Tập bài giảng xử lý tình huống chính trị, (Tài liệu lưu hành nội bộ), Viện Khoa học Chính trị, Hà Nội. GS.TS Lưu Văn Sùng (2001), "Xử lý điểm nóng chính trị xã hội", Thông tin chính trị học, (3), tr. 25-26. GS.TS Lưu Văn Sùng (2001), "Xử lý điểm nóng chính trị - xã hội", Thông tin Chính trị học, (4), tr. 15-21. Đan Tâm (1998), "Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động vấn đề cấp bách và cơ bản của các đoàn thể nhân dân", Xây dựng Đảng, tr. 24-25. Thanh tra tỉnh Thái Bình (1997), Báo cáo số 202-BC/KLTTr ngày 11/11, Về kết luận thanh tra giải quyết thắc mắc, khiếu kiện của nhân dân xã Quỳnh Hoa - huyện Quỳnh Phụ. Thanh tra tỉnh Thái Bình (1998), Hướng dẫn số 81/TTr, ngày 5/5, Quy trình kết luận thanh tra, tổ chức công bố, công khai kết quả thanh tra giải quyết khiếu nại tố cáo ở các xã trong tỉnh. Lê Bá Thảo (2001), Việt Nam lãnh thổ và các vùng địa lý, Nxb Thế giới, Hà Nội. Thủ tướng Chính phủ (1997), Chỉ thị 763/TTg, ngày 15/9, Về phát huy dân chủ, giải quyết tốt khiếu nại tố cáo có đông người tham gia, thu và quản lý sử dụng đúng mục đích các khoản đóng góp của công dân. Thủ tướng Chính phủ (1998), Chỉ thị 35/TTg ngày 9/10, Về tăng cường hiệu lực giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân tại các cơ quan Trung ương và nhà riêng của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Bùi Sỹ Tiếu (2002), "Quy chế dân chủ với việc ổn định chính trị phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh Thái Bình", Tạp chí Cộng sản, (1), tr. 45-49. Tỉnh ủy Nam Định (2001), Chỉ thị số 02/CT-TW ngày 31/5, Về việc tập trung giải quyết ổn định tình hình an ninh nông thôn huyện Giao Thủy. Tỉnh ủy Thái Bình (1998), Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh số 06/NQ-TW ngày 12/1, Về những chủ trương giải pháp ổn định tình hình trong tỉnh. Tổ chức phi chính phủ (1999), "Việt Nam tấn công nghèo đói", Báo cáo chung của nhóm công tác chuyên gia chính phủ. Tổng cục Thống kê (2000), Niên giám thống kê, Nxb Thống kê, Hà Nội. Tổng cục Thống kê (2001), kết quả điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản. UBND huyện Tiền Hải (1999), Kế hoạch số 05/KH-UB ngày 3/6, Về triển khai thu hồi kinh tế sai phạm sau thanh tra, kiểm tra ở các xã trong toàn huyện. UBND huyện Từ Sơn (2002), Quyết định của Chủ tịch UBND huyện số 60/QĐ-CT, ngày 28/1, Về việc thành lập ban giải phóng mặt bằng khu công nghiệp Dương Lôi. UBND huyện Từ Sơn - Thanh tra huyện (2002), số 06/BC-KL ngày 21/4, Báo cáo kết luận về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Đình Hòa, bà Ngô Thị Nghiêm và một số công dân thôn Dương Lôi xã Tân Hồng - Từ Sơn. UBND huyện Từ Sơn - Thanh tra huyện (2002), số 08/BC-KL ngày 4/6, Kết luận thanh tra. UBND huyện Từ Sơn (2002), Quyết định của Chủ tịch UBND huyện số 299/QĐ-CT ngày 10/6, Về việc xử lý sau thanh tra giải quyết đơn khiếu tố của một số công dân thôn Dương Lôi xã Tân Hồng. UBND tỉnh Bắc Ninh (2002), Quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh số 19/QĐ-CT ngày 9/01, Về việc phê duyệt dự án quy hoạch chi tiết cụm công nghiệp Tân Hồng - Hoàn Sơn. UBND tỉnh Hà Tây, Thanh tra tỉnh (2001), Báo cáo số 92/BC-TTr ngày 10/12, Kết quả giải quyết các khiếu nại tố cáo phức tạp đông người. Lê Kim Việt (2001), "Hồ Chí Minh với vấn đề "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra"", Khoa học chính trị, (1), tr. 6-9, 13. TS. Lê Hữu Xanh (chủ biên) (2001), Tác động của tâm lý làng xã trong việc xây dựng đời sống kinh tế, xã hội ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. PHẦN PHỤ LỤC ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLUANVA~2.DOC
  • docMOTVAI~1.DOC
Tài liệu liên quan