Nguồn gốc, bản chất của lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

Phần I: Lời nói đầu Kể từ năm 1986 khi dần chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực. Những thành tựu mà chúng ta đã đạt được trong hơn 15 năm qua là cơ bản và rất đáng khích lệ. Tuy nhiên, tư duy kinh tế cũ cùng những tàn tích của cơ chế kế hoạch hoá vẫn còn tồn tại, gây nhiều khó khăn cho công cuộc cải cách nền kinh tế. Do đó, việc nhận thức đầy đủ, đúng đắn lí luận của chủ nghĩa Mác

doc31 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 05/09/2013 | Lượt xem: 87 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Nguồn gốc, bản chất của lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
-Lênin trở nên hết sức quan trọng và cần thiết, giúp chúng ta có thể vận dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam. Trong nền kinh tế thị trường, động lực lớn nhất thúc đẩy các doanh nghiệp, các nhà hoạt động kinh tế là lợi nhuận. “Lợi nhuận là phần thưởng cho sự mạo hiểm của các doanh nhân”. Nếu không nhận thức rõ ràng về nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận, chúng ta không thể đưa ra những chính sách phát triển đúng đắn, phù hợp với qui luật của kinh tế hàng hoá và định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngoài ra, nắm vững lí luận về lợi nhuận còn cho phép các doanh nghiệp có một định hướng đúng đắn nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trong bối cảnh hội nhập. Đây là một vấn đề có ý nghĩa hết sức to lớn mà quá trình nghiên cứu nó phải bắt nguồn từ những tư tưởng kinh tế trước Mác kết hợp với lí luận kinh tế chính trị học Maxit và thực tiễn Việt Nam hiện nay. Hiểu rõ nguồn gốc, bản chất của lợi nhuận sẽ cho phép chúng ta giải đáp được nhiều câu hỏi đặt ra trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Bài viết về đề tài này mục đích là nhằm giải quyết một số vấn đề lí luận và thực tiễn đặt ra trong quá trình đổi mới. Tuy nhiên với kiến thức và khả năng khai thác còn hạn chế em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến và chỉ dẫn của các thầy cô nhằm hoàn thiện đề tài này. Phần II: nội dung Chương I: lí luận chung về nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận. I- Một số quan điểm về lợi nhuận: 1. Quan điểm của trường phái trọng thương về lợi nhuận: Chủ nghĩa trọng thương là tư tưởng kinh tế đầu tiên của giai cấp tư sản xuất hiện ở Anh, Pháp vào khoảng thế kỉ XV-XVI trong bối cảnh chế độ phong kiến đang trở nên suy tàn, các thành thị phong kiến phát triển mạnh về thương mại và giai cấp tư sản đang dần hình thành và có vai trò tích cực trong nền kinh tế. Kinh tế hàng hoá đã bước đầu phát triển nhằm thay thế nền kinh tế giản đơn. Mặc dù chưa phát hiện ra các qui luật kinh tế mà chủ yếu xây dựng lí thuyết từ nghiên cứu thực nghiệm, các nhà kinh tế học của chủ nghĩa trọng thương đã là những người đặt nền móng cho sự phát triển của kinh tế hàng hoá sau này với việc đề cao thương mại và vai trò của tiền. “Hạnh phúc của con người ta là ở trong sự giàu có” (Montchretien) và “không có phép lạ nào khác để kiếm tiền trừ thương mại” (Thomas Mun). Mục đích của thương mại là lợi nhuận mà lợi nhuận “là kết quả của việc mua ít bán nhiều, mua rẻ bán đắt”. Trong thời kì đầu hầu hết các nước đều tập trung giữ nhiều của cải ở trong nước, thực hiện nội thương là chính nhằm kiểm soát lượng của cải trong nước. Họ đề ra chính sách bắt các thương nhân nước ngoài phải tiêu hết tiền ở trong nước. Về sau các nước này lại đẩy mạnh xuất khẩu tiền tệ ra nước ngoài nhằm thực hiện việc “mua rẻ, bán đắt” để thu lợi nhuận. Các nhà tư tưởng kinh tế trong thời kì này coi ngoại là phương thức hữu hiệu nhằm tăng cường sự giàu có của quốc gia. “Nội thương là ống dẫn, ngoại thương là máy bơm. Ngoại thương nhập dần của cải vào trong nước thông qua nội thương” (Montchretien). Có thể thấy trong thời gian này, mặc dù đề cao vai trò của thương mại và lợi nhuận nhưng do nhiều yếu tố các nhà kinh tế trọng thương đã không xây dựng được những học thuyết kinh tế có tính chất khoa học, chặt chẽ. Do đó, nhận thức của họ về vấn đề lợi nhuận chỉ mang tính hình thức mà không thấy được nguồn gốc, bản chất bên trong của nó. Việc này đòi hỏi phải có sự phân tích nền kinh tế với tư cách như một tổng thể chứ không thể xuất phát từ phương pháp kinh nghiệm thuần tuý. 2. Quan điểm lợi nhuận của các nhà kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh: Trong thời kỳ chủ nghĩa trọng thương, sự hoạt động của tư bản chủ yếu là trong lĩnh vực lưu thông. Do quá trình phát triển của công trường thủ công, tư bản chuyển sang quá trình sản xuất. Lúc này các vấn đề kinh tế của sản xuất đã vượt quá khả năng giải thích của lý thuyết chủ nghĩa trọng thương và học thuyết kinh tế cổ điển xuất hiện. Các nhà kinh tế học của trường phái này lần đầu tiên chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất. Lần đầu tiên họ xây dựng một hệ thống các phạm trù và qui luật của nền kinh tế thị trường như phạm trù lợi nhuận, địa tô,lợi tức,...Về lợi nhuận, nổi bật có những quan điểm của W.Petty, A.Smith, D.Ricardo. Quan điểm lợi nhuận của William Petty: William Petty không trình bày lợi nhuận của các doanh nghiệp công nghiệp: ông trình bày hai hình thái giá trị thặng dư là địa tô và lợi tức. Theo ông, địa tô là số chênh lệch giữa thu nhập bán hàng và chi phí sản xuất. Chi phí sản xuất bao gồm tiền lương và giống má. Trong khái niệm về địa tô của William Petty, một mặt ông đã đồng nhất địa tô với lợi nhuận, mặt khác, ta có thể rút ra kết luận logic: Số chênh lệch giữa giá trị hàng hoá và chi phí và chi phí sản xuất là giá trị thặng dư. Từ luận điểm này, CMác cho rằng, công lao của William Petty là đã chỉ ra nguồn gốc giá trị thặng dư, mầm mống lý luận về bóc lột theo lối tư bản chủ nghĩa. William Petty đã nghiên cứu địa tô chênh lệch và địa tô tuyệt đối. Về lợi tức ông cho rằng, lợi tức là tô của tiền, mức lợi tức phụ thuộc vào mức địa tô. Như vậy William Petty đã cho rằng lợi nhuận là khoản dôi ra so với chi phí sản xuất và William Petty cho rằng phần lợi nhuận dôi ra phụ thuộc vào nhà tư bản là hợp lý. Đó là công lao về sự mạo hiểm của nhà tư bản ứng tiền ra sản xuất. Quan điểm về lợi nhuận của Adam Smith: A.Smith là nhà kinh tế chính trị học nổi tiếng của Anh. Ông nghiên cứu nền kinh tế trong giai đoạn công trường thủ công bắt đầu phát triển. A.Smith cho rằng lợi nhuận là khoản khấu trừ thứ hai vào sản phẩm của người lao động, chúng đều có nguồn gốc là lao động không được trả công của công nhân. Ông chỉ ra lợi tức là một bộ phận của lợi nhuận mà nhà tư bản hoạt động bằng tiền đi vay phải trả cho chủ nó để được sử dụng tư bản. Ông đã nhìn thấy xu hướng bình quân hoá tỉ suất lợi nhuận và xu hướng tỉ suất lợi nhuận giảm sút do khối lượng tư bản đầu tư tăng lên. Xuất phát từ sự phân tích giá trị hàng hoá do người công nhân tạo ra AdamSmith thấy một thực tế là công nhân chỉ nhận được một phần tiền lương, phần còn lại địa tô và lợi nhuận của tư bản. Theo ông địa tô là khoản khấu trừ đầu tiên vào sản phẩm lao động. Về mặt lương, nó là dôi ra ngoài tiền lương công nhân và lợi nhuận tư bản. Về mặt chất, nó phản ánh quan hệ bóc lột. Ông đã phân biệt địa tô và tiền tô. Theo ông địa tô cộng với lợi tức tư bản đầu tiên tự cải tạo đất bằng tiền tô. Điều này tiến bộ hơn các học thuyết trước đây. Tuy nhiên ông còn cho rằng sở dĩ nông nghiệp có địa tô, vì lao động nông nghiệp có năng suất lao động cao hơn công nghiệp và ông phủ nhận địa tô tuyệt đối. Ông cho rằng nếu thừa nhận địa tô tuyệt đối là vi phạm qui luật giá trị. Quan điểm lợi nhuận của David Ricardo: Nếu như AdamSmith nghiên cứu nền kinh tế trong thời kỳ công trường thủ công phát triển mạnh mẽ thì David Ricardo sống trong thời kỳ cách mạng công nghiệp. Đó là điều kiện khách quan để ông vượt được ngưỡng giới hạn mà AdamSmith dừng lại. Ông là người kế tục suất sắc của AdamSmith. Theo CMác, AdamSmith là nhà kinh tế của thời kỳ công trường thủ công còn David Ricardo là nhà tư tưởng của thời đại cách mạng công nghiệp. Ông còn sử dụng phương pháp khoa học tự nhiên, sử dụng công cụ trừu tượng hoá, đồng thời áp dụng các phương pháp khoa học chính xác, đặc biệt là phương pháp suy diễn để nghiên cứu kinh tế chính trị học. Về lợi nhuận, David Ricardo cho rằng: “Lợi nhuận là số còn lại ngoài tiền lương mà nhà tư bản trả cho công nhân”. ông đã thấy xu hướng giảm sút tỉ xuất lợi nhuận và giải thích nguyên nhân của sự giảm sút nằm trong sự vận động, biến đổi thu nhập giữa ba giai cấp: Địa chủ, công nhân và tư bản. Ông cho rằng do qui luật màu mỡ đất đai ngày càng giảm, giá cả nông phẩm tăng lên làm cho tiền lương công nhân tăng và địa tô tăng lên còn lợi nhuận không tăng. Như vậy theo ông địa chủ là người có lợi, công nhân không có lợi cũng không bị hại, còn phần nhà tư bản thì có hại vì tỉ suất lợi nhuận giảm xuống. Nhưng hạn chế của ông là không phân biệt được lợi nhuận và giá trị thặng dư. 3. Học thuyết giá trị thặng dư của kinh tế chính trị học Mác-Lênin: Mác viết: “Tôi là người đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động biểu hiện trong hàng hoá.” Sở dĩ hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị lao động vì lao động sản xuất hàng hoá có tính hai mặt là lao động cụ thể và lao động trừu tượng.Lao động của người sản xuất hàng hoá nếu coi là sự hao phí sức lực của con người nói chung, không kể hình thức cụ thể của nó như thể nào gọi là lao động trừu tượng. Lao động bao giờ cũng là sự hao phí sức óc, sức thần kinh và bắp thịt của con người. Nhưng bản thân sự hao phí lao động về mặt sinh lý đó chưa phải là lao động trừu tượng. Chỉ trong xã hội có sản xuất hàng hoá mới có sự cần thiết khách quan phải qui các lao động cụ thể khác nhau vốn không thể so sánh được với nhau thành một thứ lao động đồng nhất có thể so sánh với nhau được, tức là phải qui lao động cụ thể thành lao động trừu tượng. Vì vậy, lao động trừu tượng là một phạm trù lịch sử. Lao động trừu tượng nó tạo ra giá trị của hàng hoá. Mác và Anghen cũng là người đầu tiên xây dựng lý luận về giá trị thặng dư một cách hoàn chỉnh vì vậy, lý luận giá trị thặng dư được xem là hòn đá tảng to lớn nhất trong toàn bộ học thuyết kinh tế của Mác. Qua thực tế xã hội tư bản lúc bấy giờ Mác thấy rằng giai cấp tư bản thì ngày càng giàu thêm còn giai cấp vô sản thì ngày càng nghèo khổ và ông đã đi tìm hiểu nguyên nhân vì sao lại có hiện tượng này. Cuối cùng, ông đã phát hiện ra rằng nếu tư bản là T đưa vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá thì số tiền thu về lớn hơn số tiền ứng ra. Ta gọi là T’ (T’ > T ) hay: T’ = T + DT CMác gọi DT là giá trị thặng dư. Ông cũng thấy rằng mục đích của lưu thông tiền tệ với tư cách là tư bản không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị. mục đích lưu thông T - H - T’ là sự lớn lên của giá trị, là giá trị thặng dư lên sự vận động T - H - T’ là không có giới hạn. Công thức này được Mác gọi là công thức chung của tư bản. Vậy giá trị thặng dư (m) là phần giá trị mới dôi ra ngoài ra trị sức lao động do công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt. Qua đó chúng ta thấy tư bản là giá trị đem lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột công nhân làm thuê. Để nghiên cứu yếu tố cốt lõi tạo nên giá trị thặng dư trong quá trình sản xuất của tư bản, CMác đã chia tư bản ra làm hai bộ phận: tư bản bất biến và tư bản khả biến. Bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất mà giá trị được bảo tồn và chuyển vào sản phẩm, tức là giá trị không biến đổi về lượng trong quá trình sản xuất gọi là tư bản bất biến, ký hiệu là C. Còn bộ phận tư bản biểu hiện dưới hình thức giá trị sức lao động trong quá trình sản xuất đã tăng thêm về lượng gọi là tư bản khả biến, ký hiệu là V. Như vậy, muốn cho tư bản khả biến hoạt động được phải có một tư bản bất biến đã được ứng trước với tỉ lệ tương đương. Và qua sự phân chia này ta nhận thấy tư bản khả biến tạo ra giá trị thặng dư vì nó dùng để mua sức lao động. Còn tư bản bất biến thì có vai trò gián tiếp trong việc tạo ra giá trị thặng dư. Từ đây ta có thể kết luận: “Giá trị của một hàng hoá bằng giá trị tư bản bất biến mà nó chứa đựng, cộng với sự tăng thêm tư bản bất biến đó (tức là giá trị thặng dư đã được sản xuất ra). Nó được biểu hiện bằng công thức: Giá trị = C + V + m Giá trị tư liệu sản xuất chuyển vào sản phẩm C. Giá trị sức lao động của người công nhân (mà nhà tư bản trả cho người công nhân) là V. Giá trị mới do người công nhân sáng tạo ra: V + m. Như thế nhà tư bản bỏ ra một lượng tư bản để tạo ra giá trị là C + V. Nhưng giá trị mà tư bản thu vào là C + V + m. Phần m dôi ra là phần mà nhà tư bản bóc lột của người công nhân. ở trên chúng ta đã nghiên cứu nguồn gốc của giá trị thặng dư. Nhưng muốn hiểu hơn về nó ta cần phải nghiên cứu bóc lột tư bản về mặt lượng. Các phạm trù tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư mà ta nghiên cứu sau đây sẽ biểu hiện về mặt lượng của sự bóc lột. Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ số giữa giá trị thặng dư và tư bản khả biến. Ký hiệu là m’ ta có: Tỷ suất giá trị thặng dư=m/V Tỷ suất giá trị thặng dư nói lên lượng giá trị mà nhà tư bản chiếm đoạt của công nhân. Nếu gọi M là khối lượng giá trị thặng dư mà công nhân tạo ra, ta có: M=m’ x V M nói lên qui mô bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân. Nhà tư bản luôn tìm cách tạo ra giá trị thặng dư nhiều nhất bằng nhiều cách, bằng nhiều thủ đoạn. Trong đó Mác chỉ ra hai phương pháp mà chủ nghĩa tư bản sử dụng đó là sản xuất giá trị thặng dư tương đối và sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối. Ngoài ra còn có phương pháp sản xuất giá trị thặng dư siêu ngạch. Mác đã chỉ ra trong những giai đoạn phát triển siêu ngạch chủ nghĩa tư bản, khi kỹ thuật còn thấp hay tiến bộ chậm thì việc tăng giá trị thặng dư tuyệt đối bằng cách kéo daì tuyệt đối ngày lao động trong điều kiện thời gian lao động cần thiết hay không thay đổi. Nhưng phương pháp này còn có hạn chế về thời gian, về thể chất và tinh thần của người công nhân. Sự bóc lột này đã dẫn đến nhiều cuộc bãi công, đấu tranh của các nghiệp đoàn. Mặt khác đến giai đoạn phát triển sản xuất bằng cơ khí, khi mà kỹ thuật phát triển cao có thể làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, thì các nhà tư bản dựa vào tăng năng suất lao động để tăng giá trị thặng dư và nâng cao trình độ bóc lột. Nhà tư bản sản xuất ngày càng tăng giá trị thặng dư bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết do đó kéo dài tương ứng thời gian lao động thặng dư trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi. Phương pháp này gọi là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối, phương pháp này không có giới hạn. Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư chỉ là sự hiểu hiện qua sảu phẩm còn thực tế để thu được tiền thì sự chuyển hoá đó phải như thế nào. Vì công thức chung của chủ nghĩa tư bản là T - H - T’ nên mục đích cuối cùng của nhà tư bản là thu được T’ còn giá trị thặng dư chỉ là nền tảng để thu được T’ (T’ > T). Mác đã giúp ta giải quyếtvấn đề này vì ông đã tìm ra một đại lượng biểu hiện giá trị thặng dư đó là lợi nhuận (P). Do đó “các giá trị thặng dư khi được đem so sánh với tổng tư bản ứng trước thì mang hình thức biến tướng thành lợi nhuận”. Từ đó có thể thấy P chính là “con đẻ” của tổng tư bản ứng trước: C+V. chi phí thực tế xã hội và chi phí sản xuất tư bản chủ xuất phát từ giá trị hàng hoá: C+V+m. Muốn sản xuất hàng hoá phải chi phí một lao động nhất định bao gồm chi phí cho mua tư liệu sản xuất C gọi là lao động quá khứ và lao động tạo ra giá trị mới (V+m). Đứng trên quan điểm toàn xã hội, quan điểm của người lao động thì chi phí đó là chi phí thực tế để tạo ra giá trị hàng hoá (C+V+m). Nhưng đối với nhà tư bản thì họ không hao phí lao động để sản xuất ra hàng hoá nên là tư bản chỉ xem hết bao nhiêu tư bản chứ không tính xem chi phí hết bao nhiêu lao động cần thiết. Thực tế họ chỉ ứng ra sờ tư bản để mua tư liệu sản xuất (C) và mua sức lao động (V). Chi phí đó được Mác gọi là chi phí tư bản chủ nghĩa và ký hiệu là k(k= c + v). Giá trị hàng hoá và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa có sự chênh lệch nhau một lượng đúng bằng m. Do đó nhà tư bản bán hàng hoá sẽ thu về một phần lời đúng bằng giá trị thặng dư m, số tiền này gọi là lợi nhuận. Giá trị hàng hoá lúc này bằng chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa cộng với lợi nhuận. Giá trị = k + P Về mặt lượng P có nguồn gốc là kết quả lao động không công của công nhân làm thuê. Tỷ suất lợi nhuận (P’) là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư và toàn bộ tư bản ứng trước. P’ = m.100% C + V Tỷ suất lợi nhuận không phản ánh trình độ bóc lột của nhà tư bản mà nó nói lên mức lãi của việc đầu tư. Nó cho nhà tư bản biết họ đầu tư vào đâu thì có lợi. Do đó việc thu lợi nhuận - P và theo đuổi tỷ suất lợi nhuận - P’ là động lực thúc đẩy nhà tư bản, là mục tiêu cạnh tranh của các nhà tư bản. Do mục tiêu đạt được lợi nhuận cao nhất nên giữa các nhà tư bản luôn luôn diễn ra sự cạnh tranh gay gắt. Các quá trình cạnh tranh của nhà tư bản được Mác phân chia thành hai loại: Cạnh tranh nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành. Cạnh tranh trong nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá nhằm mục đích tiêu thụ hàng hoá có lợi hơn để thu lợi nhuận siêu ngạch. Cạnh tranh giữa các ngành là cạnh tranh giữa các nhà tư bản ở các ngành sản xuất khác nhau nhằm tìm nơi đầu tư có lợi hơn. ở các ngành khác nhau, sản xuất khác nhau do đó có những điều kiện khác nhau, tỷ suất lợi nhuận khác nhau. Các nhà sản xuất chọn những điều kiện sản xuất có lợi cho mình nhất để thu được nhiều lợi nhuận, các nhà tư bản thì tìm nơi để đầu tư thu được lợi nhuận cao nhất đối với họ. C.Mác viết: “Do ảnh hưởng của cạnh tranh những tỷ suất lợi nhuận khác nhau đó san bằng đi thành một tỷ suất lợi nhuận chung, đó là con số bình quân của tất cả những tỷ suất lợi nhuận khác nhau. Lợi nhuận của một tư bản có một lượng nhất định thu được, theo tỷ suất lợi nhuận chung đó, không kể cấu tạo hiện có như thế nào gọi là lợi nhuận bình quân”. Quá trình bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận là sự hoạt động của quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân trong xã hội tư bản. Sự hoạt động của quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân trong xã hội tư bản biểu hiện bởi sự hoạt động của quy luật giá trị thặng dư trong thời kỳ tự do cạnh tranh của chủ nghĩa tư bản. Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và lợi nhuận bình quân đã che dấu hơn nữa thực chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản. Sự hình thành P và P’ không làm chấm dứt quá trình cạnh tranh trong xã hội tư bản, trái lại cạnh tranh vẫn tiếp diễn. Cùng với sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân ta thấy một bộ phận hàng hoá được bán cao hơn giá trị của chúng, còn bộ phận khác lại bán thấp hơn giá trị của chúng cũng theo một tỷ lệ như thế. Chỉ có bán hàng hoá theo những giá cả đó thì tỷ suất lợi nhuận trong các công ty mới có thể đồng nhất và ngang với nhau, dù cấu thành hữu cơ của các nhà tư bản đều khác nhau. “Những giá cả có được bằng cách lấy chi phí sản xuất của hàng hoá cộng với lợi nhuận bình quân gọi là giá cả sản xuất”. Vậy: Giá cả sản xuất = k + Trước đây khi chưa xuất hiện phạm trù giá cả sản xuất thì giá cả xoay quanh giá trị hàng hoá. Giờ đây giá cả của hàng hoá xoay quanh giá cả sản xuất. Về mặt lượng, giá cả sản xuất và giá trị có thể không bằng nhau. Chính trong mối quan hệ này, giá trị vẫn là cơ sở, là nội dung bên trong của giá cả sản xuất, giá cả thị trường. Như vậy lợi nhuận được tạo ra từ sản xuất, giờ ta sẽ xét đến các hình thức chuyển hoá của lợi nhuận. II - Các hình thức chuyển hoá của lợi nhuận. Lợi nhuận được chuyển hoá thành: lợi nhuận công nghiệp, lợi nhuận thương nghiệp,lợi tức và tỷ suất lợi tức, lợi nhuận ngân hàng địa tô, lợi nhuận độc quyền. 1. Lợi nhuận công nghiệp Trong công nghiệp để cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho thị trường các nhà sản xuất phải bỏ tiền vốn trong quá trình sản xuất và kinh doanh, họ muốn chi phí cho các đầu vào ít nhất và bán hàng hoá với giá cao nhất để khi trừ đi các chi phí còn số dư dôi để không chỉ sản xuất giản đơn mà còn tài sản xuất mở rộng không ngừng tích luỹ phát triển, sản xuất, củng cố và tăng cường vị trí của mình trên thị trường. Lợi nhuận ở đây chính là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí. Cần tối đa hoá lợi nhuận hoặc cực tiểu hoá chi phí sản xuất là hành vi làm tăng lợi nhuận hoặc giảm chi phí sản xuất, tức là phải làm gì để đạt được lợi nhuận cực đại cho doanh nghiệp. Tổng doanh thu của doanh nghiệp là số tiền mà doanh nghiệp kiềm chế được nhờ bán hàng hoá,dịch vụ trong một thời kỳ nhất định. Trong tổng doanh thu đó có một phần lợi nhuận kiếm được. Và quá trình bán này cũng được tư bản công nghiệp chia một phần lợi nhuận đó, một phần này gọi là lợi nhuận thương nghiệp. 2. Lợi nhuận thương nghiệp Chúng ta đã đề cập đến quan điểm của chủ nghĩa trọng thương, ở đó họ cho rằng lợi nhuận là kết quả của sự trao đổi không ngang giá. Họ coi trọng thương nghiệp là sự lừa gạt “không một người nào thu được lợi mà không làm thiệt kẻ khác”. Quan điểm này hoàn toàn sai lầm và nguyên nhân của sự sai lầm này là do họ tách rời quá trình lưu thông và quá trình sản xuất ra khỏi nhau. Khác với tư bản thương nghiệp trước, chủ nghĩa tư bản thương nghiệp hiện đại thì tư bản thương nghiệp là một bộ phận của tư bản công nghiệp tách rời ra phục vụ quá trình lưu thông hàng hoá của tư bản công nghiệp. Tư bản thương nghiệp chỉ hạn chế ở chức năng mua và bán, nó không sáng tạo ra giá trị và giá trị thặng dư. Nó chỉ làm nhiệm vụ thực hiện giá trị và giá thặng dư. Nhìn bề ngoài lợi nhuận thương nghiệp là do mua rẻ, bán đắt do lưu thông tạo ra. Nhưng thực chất “lợi nhuận thương nghiệp là một phần giá trị thặng dư được sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất mà nhà tư bản công nghiệp nhường cho nhà tư bản thương nghiệp”. Nhà tư bản công nghiệp nhường cho nhà tư bản thương nghiệp một phần bởi vì tư bản thương nghiệp chỉ hoạt động trong lĩnh vực lưu thông đó là một khâu, một giai đoạn của quá trình sản xuất - tức là một khâu trong quá trình chu chuyển của tư bản, không có giai đoạn đó thì quá trình tái sản xuất không thể tiếp tục được. Và dĩ nhiên nhà tư bản thương nghiệp cũng không phải là hoạt động không công được mà họ cũng đòi hỏi phải có lợi nhuận. Điều này bắt buộc nhà tư bản công nghiệp phải nhường một phần lợi nhuận của mình cho tư bản thương nghiệp. Vậy: “lợi nhuận thương nghiệp là số chênh lệch giữa giá bán và giá mua hàng hoá.” Nhưng điều đó không có nghĩa là nhà tư bản thương nghiệp bán hàng hoá cao hơn giá trị của nó, mà là nhà tư bản thương nghiệp mua hàng hoá thấp hơn giá trị và khi bán thì anh ta bán đúng giá trị của nó. Và vì nhà tư bản thương nghiệp tham gia vào việc phân chia giá trị thặng dư (m) cho nên đời sống của xã hội tư bản hai loại giá sản xuất: Giá cả sản xuất công nghiệp và giá cả sản xuất thực tế. Sự hình thành lợi nhuận thương nghiệp đã che dấu thêm một bước quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa. Do việc phân phối lợi nhuận giữa tư banr công nghiệp và tư bản thương nghiệp diễn ra theo quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân thông qua cạnh tranh. 3. Lợi tức và tỉ suất lợi tức Trong quá trình tuần hoàn và chu chuyển của tư bản công nghiệp luôn có số tư bản tiền tệ ứng trước tạm thời nhàn rỗi ví dụ như tiền lương quỹ khấu hao của tư bản cố định, tiền dùng để mua nguyên vật liệu nhưng chưa đến kỳ mua và bộ phận giá trị thặng dư tích lũy (dưới dạng tiền T) để mở rộng sản xuất nhưng chưa sử dụng đến,... Số tiền nhàn rỗi như thế không đem lại một thu nhập nào cho nhà tư bản. Nhưng đối với nhà tư bản thì tiền phải đẻ ra tiền. Vì vậy nhà tư bản cho người khác vay để lấy lãi. Tổng số giá trị mà anh ta cho người khác vay là tư bản cho nên nó sẽ quay trở về tay anh ta. Nhưng nếu chỉ có việc tổng số giá trị ấy quay trở về tay anh ta thôi, thì đó không phải là sự quay trở về của một giá trị đã đem cho vay với tư cách là tư bản, mà chỉ là việc hoàn lại một giá trị đã cho vay. Muốn quay trở về với tư cách là tư bản, thì tổng số giá trị ứng ra không những phải vẫn giữ được nguyên vẹn, mà còn phải sinh sôi nảy nở và tăng thêm lên trong quá trình vận động. Tức là nó phải quay về kèm theo một giá trị thặng dư: T + DT, và ở đây, DT này là lợi tức hay là cái phần lợi nhuận trung bình không nằm lại ở trong tay nhà tư bản hoạt động, mà rơi vào tay nhà tư bản tiền tệ. Việc nhà tư bản tiền tệ cho các nhà tư bản vay tiền còn được gọi là Tư bản cho vay - Và nguồn gốc của lợi tức chính là một phần giá trị thặng dư do công nhân sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất. Nhưng việc nhà tư bản cho vay thu được lợi tức che dấu mất thực chất bóc lột tư bản chủ nghĩa. Dựa vào công thức vận động tư bản cho vay ở trên chúng ta hoàn toàn vạch trần được điều đó. Lợi tức vận động theo quy luật tỉ suất lợi tức. Tỷ suất lợi tức là tỉ lệ tính theo % giữa tổng số lợi tức và số tư bản tiền tệ cho vay. Tỷ suất lợi tức cao hay thấp phụ thuộc vào tỷ suất lợi nhuận bình quân, tỷ lệ phân chia lợi nhuận thành lợi tức và thu nhập của xí nghiệp mà nhà tư bản hoạt động, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu của tư bản cho vay. 4. Lợi nhuận ngân hàng Lợi nhuận ngân hàng là thu nhập của nhà tư bản ngân hàng khi kinh doanh nghiệp vụ ngân hàng. Trong CNTB, lợi nhuận ngân hàng là hình thái biến tướng riêng biệt của giá trị thặng dư. Nghiệp vụ chính của ngân hàng là thu nhận tiền gửi và cho vay. Lợi tức của việc cho vay của ngân hàng lớn hơn lợi tức tiền gửi, con số chênh lệch ấy là nguồn gốc của lợi nhuận ngân hàng. Tuy vậy không phải toàn bộ con số chênh lệch ấy đều là lợi nhuận ngân hàng mà là lợi nhuận ngân hàng chỉ là con số còn lại sau khi đã trừ đi một phần để bù vào chi phí nghiệp vụ ngân hàng (lương nhân viên, sổ sách,...). Ngân hàng cho các nhà trực tiếp kinh doanh vay. Nhà tư bản lấy số tiền đó để sản xuất ra giá trị thặng dư (tư bản công nghiệp) hoặc thực hiện giá trị thặng dư (tư bản thương nghiệp), sau đó đem một phần giá trị thặng dư thu được làm thành lợi tức trả cho ngân hàng. Do đó lợi nhuận ngân hàng cũng là giá trị thặng dư. Sự cạnh tranh giữa các ngành trong xã hội tư bản cũng là do lợi nhuận ngân hàng bằng lợi nhuận bình quân, nếu không chủ ngân hàng sẽ chuyển vốn sang kinh doanh ngành khác. 5. Địa tô: Nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải thuê ruộng đất và thuê công nhân để tiến hành sản xuất. Do đó tư bản phải tính ra một phần giá trị thặng dư do công nhân tạo ra để trả cho địa chủ dưới hình thức “địa tô”. Địa tô TBCN là phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã trừ đi phần lợi nhuận bình quân của nhà tư bản kinh doanh ruộng đất. Địa tô = m - chương ii: vai trò của lợi nhuận trong nền kinh tế việt nam hiện nay. I - Vai trò của lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường 1. Lợi nhuận thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Lợi nhuận đóng vai trò rất lớn trong nền kinh tế. Nó ảnh hưởng tới cả chính trị xã hội, văn hoá, nó len lỏi vào mọi mặt của đời sống xã hội trong mọi nền kinh tế thị trường. Mà ta vẫn biết rằng mọi sự vật hiện tượng đều có tính hai mặt của nó là tích cực và tiêu cực như thế nào đó để phát huy mọi tính ưu việt và vai trò của lợi nhuận. Với mục đích lợi nhuận các nhà tư bản tìm đủ mọi cách để có được nhiều lợi nhuận. Trước đây họ có thể tạo ra lợi nhuận bằng cách kéo dài ngày lao động của công nhân nhưng phương pháp đó đã gặp phải sự chống đối mãnh liệt của công nhân chính vì lẽ đó mà họ chuyển sang bóc lột một cách tinh vi hơn. Nhà tư bản áp dụng kỹ thuật mới vào quá trình sản xuất và bắt buộc người công nhân phải làm việc có năng suất cao hơn. Nhưng chính mục đích áp dụng kỹ thuật mới đã làm cho các nhà tư bản đầu tư ngày càng nhiều vào khoa học kỹ thuật đặc biệt là vấn đề nghiên cứu, cho nên nó đã khuyến khích các tài năng cá nhân phát triển do vậy mà những phát minh lần lượt được ra đời đặc biệt trong thế kỷ XIX đến XX. Nó đã đưa lực lượng sản xuất phát triển một cách nhanh chóng yếu tố này đã giúp cho nhà tư bản không chỉ thu được lợi nhuận đơn thuần mà còn thu được lợi nhuận siêu ngạch. Người công nhân chính là người trực tiếp sử dụng, vận hành công nghệ mới vì vậy để quá trình sử dụng được tiếp diễn với hiệu quả kinh tế cao thì người công nhân bắt buộc phải nâng cao trình độ, nâng cao tay nghề nếu không họ sẽ bị đào thải bởi quy luật phát triển. Còn về mặt nhà tư bản thì họ cũng hiểu rằng để đạt được hiệu quả cao, tận dụng được hết các chức năng của công nghệ tiên tiến thì họ phải có một đội ngũ công nhân lành nghề với trình độ kỹ thuật cao. Vì vậy quá trình đầu tư cho chiến lược nâng cao trình độ lao động của nhà tư bản và yêu cầu cấp thiết phải nâng cao trình độ của mình của người công nhân đã diễn ra. Qua đó trình độ của người công nhân từng bước được nâng cao trình độ trở thành yêu cầu tất yếu của các nước phát triển và các nước đang phát triển. Do nhận biết được vai trò quan trọng của những lao động có tay nghề cao nên hiện nay đang diễn ra tình trạng mua chuộc, lôi kéo những nhà khoa học, những công nhân giỏi về phía mình bằng các biện pháp kinh tế, tinh thần. Điều này dẫn đến tình trạng chảy máu chất xám ở các nước đang phát triển trở thành một tình trạng báo động cần ngăn chặn. 2. Lợi nhuận thúc đẩy quan hệ sản xuất phát triển Ta đã biết lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ biện chứng với nhau, lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất chính vì lẽ đó lợi nhuận thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển thì ắt phải khiến cho quan hệ sản xuất phát triển theo. Do tác động của lợi nhuận, do sự phân chia lợi nhuận dưới hình thức nhiều hình thức khác nhau một cách hết sức chặt chẽ giữa các bên tham gia vào quá trìn phân chia đã làm cho chế độ sở hữu ngày càng được củng cố và phát triển. Quan hệ sở hữu từng bước được thắt chặt hơn, rõ ràng hơn giữa nhà tư bản và người lao động nói riêng, giữa các cá nhân trong xã hội nói chung. Bên cạnh đó mục đích lợi nhuận luôn đặt các nhà kinh tế, các tổ chức kinh tế trước yêu cầu "hiệu quả". Làm thế nào để chi phí ít nhất mà lợi nhuận thu về là lớn nhất. Điều đó đòi hỏi tính chuyên môn hoá cao và sự sắp xếp lại các tổ chức quản lý. Có thể giảm biên chế một số bộ phận không cần thiết, hoạt động không có hiệu quả. Tổ chức lại các bộ phận quản lý và thiết lập mối quan hệ giữa chúng để quá trình hoạt động được nhịp nhàng thông suốt tránh sự trì trệ không cần thiết trong một số khâu nào đó làm ảnh hưởng tới cả hệ thống quản lý. Hạn chế bớt một bộ phận quản lý cồng kềnh còn giúp cho các nhà kinh tế giảm bớt được một phần chi phí (tiền lương) đồng nghĩa với việc tăng lợi nhuận. Xuất phát từ mục tiêu ổn định và phát triển có kế hoạch phân bổ lực lượng lao động hợp lý, trong nền kinh tế phải cân đối tốt để khai thác tốt nguồn tài nguyên, kết hợp hặt chẽ và thích đáng lợi ích xã hội, tập thể và cá nhân người lao động, giáo dục quan điểm thái độ và kỹ thuật cho người lao động. Tất cả những vấn đề đặt ra ở trên đều xuất phát từ lợi nhuận, chính nó đã thúc đẩy quá trình phân phối theo lao động diễn ra mạnh mẽ theo nguyên tắc làm nhiều thì hưởng nhiều, làm ít hưởng ít. Nhưng cùng với sự phát triển của kinh tế thì ngoài phân phối theo lao động còn có sự phân phối ngoài thù lao lao động thông qua các quỹ phúc lợi tập thể và xã h._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc35420.doc
Tài liệu liên quan