Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam

MỤC LỤC Đề tài : PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM. LỜI NÓI ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Trong xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá, mỗi nước đều chọn cho mình một hướng đi thích hợp để cùng tiến tới một mục tiêu kinh tế là: ổn định và phát triển lâu dài nền kinh tế. Một hướng đi mà nhiều nước lựa chọn là “Công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu”. Xét về điều kiện kinh tế, Việt Nam là một nước nông nghiệp có tới hơn 80% dân số làm việc trong ngành này,

doc71 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 13/08/2013 | Lượt xem: 186 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
do đó hoạt động xuất khẩu của Việt Nam ngoài dầu mỏ và than thì chủ yếu là hàng nông sản trong đó mặt hàng gạo chiếm tỷ trọng lớn nhất của Việt Nam. Từ năm 1997 Việt Nam đã đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo. Vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam để từ đó đề ra những giải pháp thích hợp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gạo ở Việt Nam trong thời gian tới là hết sức cần thiết. Xuất phát từ thực tiễn đó em chọn đề tài Khoá Luận Tốt Nghiệp của mình là: “PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM”. 2. Mục đích nghiên cứu: - Đánh giá thực trạng xuất khẩu gạo Việt Nam hiện nay. - Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới sản lượng gạo xuất khẩu. - Đề xuất các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả cho xuất khẩu gạo Việt Nam 3. Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp phân tích định lượng, xây dựng mô hình dựa vào số liệu thống kê để đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố tới hoạt động xuất khẩu gạo. 4. Phạm vi nghiên cứu: 5. Bố cục chuyên đề. Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chuyên đề thực tập gồm 5 chương: Chương 1: Cơ sở lí luận về xuất khẩu nông sản. Chương 2: Lợi thế và điều kiện phát triển sản xuất và xuất khẩu gạo ở Việt Nam. Chương 3: Thực trạng xuất khẩu gạo của Việt Nam những năm gần đây. Chương 4: Mô hình phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu gạo. Chương 5: Các giải pháp nâng cao hiệu quả của việc xuất khẩu gạo ở Việt Nam. Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU NÔNG SẢN 1.1. Khái niệm và vai trò của xuất khẩu nông sản: 1.1.1. Khái niệm về xuất khẩu: Xuất khẩu là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền làm phương tiện thanh toán. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với mỗi quốc gia hay đối với cả hai quốc gia. 1.1.2. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu: Với mục tiêu đa dạng hoá các hình thức kinh doanh, chiết khấu nhằm phân tán và chia rẽ rủi ro, các doanh nghiệp thương mại có thể lựa chọn nhiều hình thức xuất khẩu. Xuất khẩu trực tiếp. Là việc xuất khẩu các loại hàng hoá và dịch vụ do chính doanh nghiệp sản xuất ra hoăc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước tới khách hàng ngoài thông qua các tổ chức của mình. Xuất khẩu trực tiếp có thể làm tăng thêm rủi ro trong kinh doanh song lại có những ưu điểm nổi bật là giảm bớt các chi phí trung gian do đó tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, có thể liên hệ trực tiếp và đều đặn với khách hàng và thị trường nước ngoài, biết được nhu cầu của khách hàng và tình hình bán hàng ở đó nên có thể thay đổi sản phẩm và những điều kiện bán hàng trong điều kiện cần thiết. Xuất khẩu gia công uỷ thác. Đây là hình thức kinh doanh mà trong đó đơn vị ngoại thương đứng ra nhập nguyên liệu hoặc bán thành phẩm do xí nghiệp gia công sau đó thu hồi thành phẩm để xuất cho bên nước ngoài. Đơn vị được hưởng phí uỷ thác theo thoả thuận với các xí nghiệp sản xuất. Hình thức này có ưu điểm là doanh nghiệp thương mại không cần bỏ vốn vào kinh doanh nhưng vẫn thu được lợi nhuận, rủi ró it hơn, việc thanh toán chắc chắn hơn. Tuy nhiên đòi hỏi phải tiến hành nhiều công việc, nhiều thủ tục nhập khẩu, các cán bộ kinh doanh phải có kinh nghiệm và nghiệp vụ cả trong quá trình giám sát và kiểm tra việc gia công. Xuất khẩu uỷ thác. Đây là hình thức kinh doanh trong đó đơn vị ngoại thương đóng vai trò là người trung gian thay cho các đơn vị sản xuất điều hành kí kết hoạt động mua bán ngoại thương, tiến hành các thủ tục cần thiết để xuất khẩu hàng hoá cho nhà sản xuất và qua đó thu được một số tiền nhất định. Ưu điểm của hình thức này là mức độ rủi ro thấp, đặc biệt là không cần vốn vào kinh doanh, tạo được việc làm cho người lao động đồng thời cũng thu được một khoản lợi nhuận đáng kể. Ngoài ra trách nhiệm trong việc tranh chấp lại thuộc về người sản xuất. Buôn bán đối lưu. Đây là phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán cũng là người mua và lượng hàng hoá mang ra trao đổi có giá trị tương đương. Mục đích sản xuất ở đây không phải thu về một khoản ngoại tệ mà là nhằm mục đích có một lượng hàng hoá có giá thị tương đương với lô hàng nhập. Lợi ích của buôn bán đối lưu là nhằm tránh rủi ro về sự biến động của tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối. Mặt khác, các bên còn có lợi khi không có đủ ngoại tệ thanh toán cho lô hàng nhập khẩu của mình. Có nhiều hình thức buôn bán đối lưu như: hàng đổi hàng, trao đổi bù trừ, mua đối lưu... Ngoài ra còn có các hình thức xuất khẩu khác như: xuất khẩu tại chỗ, gia công quốc tế, tái nhập tạm xuất và xuất khẩu theo nghị định thư... 1.1.3. Vai trò của hoạt động xuất khẩu: - Đối với nền kinh tế quốc dân: Là một nội dung chính của hoạt động ngoại thương và là hoạt động quan trọng của thương mại quốc tế, xuất khẩu có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của từng quốc gia cũng như trên toàn cầu. Xuất khẩu là một trong những nhân tố cơ bản để thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế quốc gia. Các lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế đều chỉ ra rằng để tăng trưởng và phát triển kinh tế mỗi quốc gia đều phải có 4 điều kiện: nguồn nhân lực, tài nguyên, vốn và kỹ thuật công nghệ. Trong giai đoạn hiện nay, hầu hết các nước đang phát triển đều thiếu vốn và công nghệ nhưng lao động thì rất dồi dào. Với sự mất cân đối về nguồn lực đầu vào làm thế nào để các quốc gia có thể tăng trưởng và phát triển được? Để giải quyết được vấn đề này, họ buộc phải nhập từ bên ngoài những yếu tố mà trong nước chưa thoả mãn được. Để nhập được những yếu tố đó thì phải có nguồn ngoại tệ, mà nguồn ngoại tệ này chủ yếu thu được từ các hoạt động xuất khẩu, xuất khẩu là hoạt động chính, tạo tiền đề cho nhập khẩu. Từ đó ta có thể đánh giá vai trò của xuất khẩu ở các khía cạnh : + Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Ở các nước kém phát triển, một trong những vật cản chính đối với tăng trưởng kinh tế là thiếu nguồn vốn trong quá trình phát triển. Có nhiều cách khác nhau để huy động nguồn ngoại tệ nhưng chỉ bằng hoạt động xuất khẩu thì nguồn vốn mới ổn định và thường xuyên bền vững. + Xuất khẩu thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu, thúc đẩy sản xuất phát triển mạnh mẽ. + Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với hoạt động sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. + Thứ nhất: Chỉ xuất khẩu những sản phẩm thừa so với nhu cầu tiêu thụ nội địa, trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển, sản xuất về cơ bản chưa đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ vào sự dư thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu chỉ bó hẹp trong phạm vi nhỏ và tăng trưởng chậm, do đó các ngành sản xuất không có cơ hội phát triển. + Thứ hai : Coi thị trường thế giới là mục tiêu để tổ chức sản xuất và xuất khẩu. Quan điểm này có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu và thúc đẩy sản xuất phát triển cụ thể: + Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành có liên quan phát triển theo. + Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng tiêu dùng của một quốc gia, ngoại thương cho phép một nước có thể tiêu dùng tất cả các mặt hàng với một lượng lớn hơn nhiều lần khả năng sản xuất của quốc gia đó. + Xuất khẩu là phương tiện quan trọng để tạo vốn và thu hút công nghệ kỹ thuật mới từ các nước phát triển nhằm hiện đại hoá nền kinh tế nội địa, tạo năng lực sản xuất mới. + Xuất khẩu còn có vai trò thúc đẩy chuyên môn hoá, tăng cường hiệu quả sản xuất của từng quốc gia. + Xuất khẩu có tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn viêc làm, cải thiện đời sống của nhân dân. Mỗi năm sản xuất hàng xuất khẩu đã thu hút được hàng triệu lao động, tạo ra thu nhập ổn định cho họ. + Xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ để nhập khẩu hàng tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu ngày càng phát triển đa dạng và phong phú của nhân dân. + Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế đối ngoại. Xuất khẩu và các mối quan hệ đối ngoại có sự tác động qua lại phụ thuộc lẫn nhau. Hoạt động xuất khẩu là hoạt động chủ yếu, là hình thức ban đầu của hoạt động kinh tế đối ngoại, thúc đẩy các mối quan hệ khác như : Bảo hiểm quốc tế, tín dụng quốc tế... phát triển theo. - Đối với doanh nghiệp : Ngày nay với xu hướng vươn ra thị trường thế giới là một xu hướng chung của tất cả các quốc gia và các doanh nghiệp. Thông qua xuất khẩu, các doanh nghiệp có cơ hội tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về chất lượng và giá cả. Tuy nhiên, để có thể đứng vững, doanh nghiệp luôn phải đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý kinh doanh. 1.1.4. Vai trò của sản xuất và xuất khẩu lúa gạo. 1.1.4.1. Vai trò của sản xuất lúa gạo. Lúa gạo là loại lương thực chính được sử dụng để nuôi sống con người trên hành tinh. Đây là loại dinh dưỡng chiếm vị trí quan trọng trong khẩu phần ăn hàng ngày của con người, bất kể tuổi tác, giới tính và dân tộc. Theo tổng kết của FAO, trong tổng số năng lượng được cung cấp từ khẩu phần ăn hàng ngày thì năng lượng từ gạo cung cấp chiềm 50% đến 60% ở các nước đang phát triển và từ 20% đến 30% ở các nước phát triển. Trên thực tế, sự biến động nhu cầu gạo theo đầu người ở các nước đang phát triển giảm nhưng ở các nước đang phát triển lại tăng lên chút ít. Hơn nữa, do dân số thế giới không ngừng tăng nên nhu cầu về lúa gạo không những giảm mà còn tăng lên. Theo thống kê thì khu vực Châu Á tiêu thụ trên 90% tổng lượng gạo tiêu thụ toàn cầu. Các nước tiêu thụ gạo nhiều nhất là Trung Quốc, Ấn Độ và Inđonesia, tiếp đó là Negieria và Ai Cập là hai nước tiêu thụ gạo lớn của Châu Phi. Trong tổng tiêu dùng gạo thì gạo làm thức ăn trong khẩu phần ăn hàng ngày của người dân chiếm từ 90% đến 93%, dùng cho chăn nuôi khoảng 5%, dùng cho chế biến từ 3% đến 5%. Hiện nay, người dân trong nước cũng như trên thế giới có mức sống ngày càng cao. Nhu cầu của họ không chỉ dừng lại ở mức đủ gạo để ăn mà là đòi hỏi những loại gạo cao sản. Chính vì vậy, để xuất khẩu gạo ổn định và hiệu quả cao thì sản xuất trước tiên phải có dư thừa ngoài việc cho tiêu dùng trong nước thì cần đảm bảo đáp ứng đủ tiêu chuẩn lúa gạo cho xuất khẩu. Hơn nữa, khi có sự tập trung cho xuất khẩu sẽ thu hút được nhiều đơn vị kinh doanh, cơ quan nhà nước, hợp tác xã, trang trại, hộ gia đình cùng tham gia vào sản xuất vì họ biết rằng sản phẩm xuất khẩu sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn là bán sản phẩm trong nước và sản phẩm của họ tiêu dùng nhanh và nhiều hơn. Từ việc thu hút được các thành phần kinh tế cùng tham gia vào sản xuất lúa gạo để xuất khẩu thì chất lượng gạo xuất khẩu sẽ tăng lên, giá sẽ cạnh tranh hơn, gạo của chúng ta sẽ phát huy được lợi thế so sánh so với gạo của các quốc gia khác và tất nhiên hiệu quả xuất khẩu sẽ tăng lên. Ngày nay, trước nhu cầu khắt khe của thị trường thế giới, để xuất khẩu có hiệu quả thực sự thì chúng ta phải coi chất lượng gạo là yếu tố quan trọng, là mục tiêu mà sản xuất hướng tới có như vậy mới có sự kết hợp đồng bộ giữa người dân, nhà khoa học và nhà xuất khẩu. 1.1.4.2. Vai trò, ý nghĩa của xuất khẩu gạo. Gạo là sản phẩm tối cần thiết cho con người, vì vậy nhu cầu về gạo là thường xuyên liên tục và không thể thiếu được. Sản xuất lúa gạo là một nội dung không cơ bản trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội chung của đất nước. Tuy nhiên sản xuất lúa gạo phục vụ tốt nhu cầu của dân cư không phải do ý muốn chủ quan của các nhà hoạch định chiến lược mà phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố tự nhiên, điều kiện kinh tế của mỗi nước mà quan trọng là điều kiện về thời tiết, khí hậu, đất đai. Trên thế giới, do sự phân bố không đều về đất đai và thời tiết khí hậu cho nên có những nước có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho việc sản xuất lúa gạo nhưng cũng có những nước điều kiện tự nhiên không cho phép sản xuất lúa gạo hoặc nếu có sản xuất thì năng xuất và chất lượng rất kém. Mặt khác, do trình độ phát triển kinh tế không đều, những nước có lợi thế về mặt tự nhiên cho sản xuất lúa gạo lại đa phần là những nước có nền công nghiệp kém phát triển, những nước này lại rất cần ngoại tệ để nhập vật tư máy móc để công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Để có ngoại tệ, con đường duy nhất là xuất khẩu mà lúa gạo là một trong những sản phẩm xuất khẩu chính của nước này. Chính vì vậy, đẩy mạnh xuất khẩu lúa gạo có vai trò rất quan trọng đối với các nước xuất khẩu nói chung và Việt Nam nói riêng. Điều đó thể hiện ở các mặt sau: Xuất khẩu gạo là giải pháp quan trọng tạo nguồn ngoại tệ mạnh phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế. Như đã nói ở trên, những nước có nền sản xuất lúa nước từ lâu đời đa phần là những nước nông nghiệp và công nghiệp kém phát triển, muốn đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế phải thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh tế. Để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế phải có vốn, có thiết bị máy móc và công nghệ sản xuất tiên tiến. Trong điều kiện kinh tế chưa phát triển muốn có thiết bị máy móc, công nghệ tiên tiến cần phải có ngoại tệ, xuất khẩu nông sản là một trong các giải pháp tạo nguồn ngoại tệ mạnh ở nhiều nước đặc biệt là xuất khẩu gạo. Ở Việt Nam vai trò của xuất khẩu gạo lại càng được khẳng định bởi lẽ chỉ trong vòng 12 năm ( 1989 - 2000) Việt Nam đã xuất khẩu được gần 29,5 triệu tấn gạo với kim ngạch gần 6670 triệu USD, kim ngạch xuất khẩu gạo tăng đã góp phần không nhỏ vào việc thu ngoại tệ cho đất nước nhằm đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Xuất khẩu gạo không những góp phần cải thiện cán cân thương mại mà còn là điều kiện để chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế hướng ngoại. Xuất khẩu gạo sẽ kéo theo sự phát triển sản xuất lúa theo hướng chuyên môn hoá, phát triển của nghành chế tạo máy nông nghiệp, công nghiệp chế biến bảo quản, hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển để đáp ứng việc đẩy mạnh xuất khẩu. Như vậy, xuất khẩu gạo đã tạo điều kiện cho các nghành liên quan phát triển theo, tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi cho sự tăng trưởng và phát triển của đất nước. Xuất khẩu gạo góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Cơ sở kinh tế của xu hướng đó là lợi ích của các tác nhân khi tham gia vào quá trình đó thường lớn hơn khi không tham gia vào giao thương quốc tế, trong đó các nước xuất khẩu thì tìm cách khai thác về lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, lao động rẻ... để phát triển kinh tế còn nhóm các nước nhập khẩu lại tìm cách xuất khẩu tư bản, tìm môi trường đầu tư có lợi về mặt tài chính. Xuất khẩu gạo trong những năm qua của chúng ta còn rất nhiều hạn chế mà các hạn chế đó lại xuất phát từ chính bản thân xản phẩm lúa gạo. Sự hạn chế trong chất lượng gạo đã làm cho hiệu quả xuất khẩu gạo của chúng ta chưa xứng đáng vơí tiềm năng vốn có cuả nó. Xuất khẩu gạo giúp cho các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này hoàn thiện hơn, năng động hơn bởi lẽ chỉ có sự luôn đổi mới thì mới làm cho doanh nghiệp đứng vững được trước sự cạnh tranh gay gắt của thị trường thế giới. 1.2. Đặc điểm của thị trường gạo. 1.2.1. Đặc điểm của thị trường gạo : Thị trường là một phạm trù kinh tế gắn liền với sự ra đời, phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá, cũng như các thị trường khác thị trường gạo là một tập hợp các thoả thuận giữa người mua và người bán tuy nhiên gạo là sản phẩm thiết yếu và là sản phẩm của ngành nông nghiệp nên nó có những đặc điểm sau: Thứ nhất: Thị trường gạo có tính thời vụ trong trao đổi, sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ, tính thời vụ được qui định bởi đặc điểm khí hậu sinh thái kết hợp với đặc điểm kỹ thuật của cây trồng. Lúa gạo cũng vậy, dó nó có tính thời vụ trong sản xuất nên nó cũng hình thành tính thời vụ trong trao đổi. Xuất khẩu gạo gắn liền với quá trình sản xuất, chế biến và điều hành lúa gạo của từng nước. Cứ sau thời điểm thu hoạch thì thị trường lúa gạo thế giới lại liên tục và sôi động hơn. Tuy nhiên, sự liên tục và sôi động đó diễn ra như thế nào và diễn ra trong bao lâu lại tuỳ thuộc vào khả dự trữ và điều hành gạo của từng nước. Chẳng hạn ở Mỹ do khả năng dự trữ, bảo quản của họ rất lớn nên có thể phân bổ dàn tải xuất khẩu ở khắp các tháng trong năm. Còn một số nước do khả năng dự trữ, bảo quản kém nên chỉ có thể xuất khẩu gạo vào những lúc ngay sau khi thu hoạch, có thể nói đây là một yếu điểm lớn cho các nước này bởi lẽ giá cả lúc trái vụ bao giờ cũng đắt hơn lúc chính vụ. Thứ hai: Buôn bán giữa các Chính phủ là phương thức chủ yếu: Gạo là loại hàng hoá có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống của con người nên có thể nói nhu cầu về gạo có tính chất ổn định hơn các loại hàng công nghiệp. Mặt khác, vì yếu tố chính trị, Chính phủ nào cũng phải có chính sách giữ sự ổn định trong cung cấp lương thực nói chung và gạo nói riêng hay nói cách khác đó là sự đảm bảo an ninh lương thực Quốc gia. Do đó, buôn bán lương thực trên thị trường thế giới chủ yếu được ký kết giữa các Chính phủ với nhau thông qua các hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất lâu dài và định lượng cụ thể hàng năm vào đầu các liên vụ. Do vậy, đại bộ phận lương thực lưu thông trên thế giới bị các hiệp định hoặc hợp đồng chính thức dài hạn chi phối. Thứ ba: Chủ thể xuất khẩu và nhập khẩu gạo không ổn định. Hàng năm, số lượng gạo cung cấp ra thị trường cùng với các chủ thể xuất khẩu và nhập khẩu là không ổn định, sự không ổn định này là do sự tác động của thời tiết khí hậu. Trong cùng một năm, diễn biết thời tiết khí hậu có thể tác động tích cực đến sản xuất lúa gạo của nước này nhưng cũng có thể tác động tiêu cực đến sản xuất lúa gạo của nước khác. Đối với các chủ thể xuất khẩu nếu như được sự tác động tích cực của thời tiết khí hậu đến sản xuất luá gạo thì lượng cung ra thị trường thế giới sẽ lớn và ngược lại nếu chịu sự tác động tiêu cực đến sản xuất lúa gạo thì không những chỉ là cung ra thị trường ít mà cũng có thể phải nhập khẩu. Còn đối với những nước nhập khẩu nếu như được sự hỗ trợ của thời tiết khí hậu thì năm đó họ sẽ nhập một lượng ít đi. Chẳng hạn như Inđonêsia năm 1998 phải nhập 6,081 triệu tấn gạo nhưng đến năm 2000 thời tiết thuận lợi cho sản xuất lúa nên lượng nhập của họ chỉ khoảng 2 triệu tấn. Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến vấn đề an ninh lương thực, cùng với sự thuận hoà của thời tiết khí hậu đã khiến cho cầu về lúa gần như bão hoà và chính điêù này là một vấn đề đáng quan tâm với các Quốc gia xuất khẩu gạo nói chung và Việt Nam nói riêng. Thứ tư: Các nước lớn đóng vai trò chi phối thị trường gạo thế giới: Gạo là hàng hoá thiết yếu cho nên các nước đều trực tiếp có chính sách điều hành hoặc độc quyền, tập trung kinh doanh và coi trọng xây dựng dự trữ Quốc gia. Chính sách của Nhà nước tác động khá mạnh đến sản xuất, xuất khẩu và nhập khẩu gạo. Các nước lớn tác động trực tiếp, chi phối đến chiều hướng của thị trường gạo như: Mỹ, EU, Trung Quốc,... họ có thể điều tiết khối lượng mua vào hay bán ra trên thị trường Quốc tế và qua đó ảnh hưởng đến giá cả và các tác nhân tham gia thị trường. Thứ năm: Trên thị trường, chủng loại gạo phong phú và có sự khác biệt về thị hiếu của mỗi nước. Ngày nay, do có sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật đã đem lại những thành tựu to lớn cho ngành nông nghiệp nhất là những thành tựu về công nghệ sinh học, nhờ áp dụng các loại giống mới có năng suất, chất lượng cao mà đã tạo ra các loại gạo với nhiều chủng loại và mẫu mã khác nhau phù hợp với thị hiếu đa dạng của người tiêu dùng. Người tiêu dùng ở mỗi nước khác nhau thì có thị hiếu về gạo khác nhau. Có nước thích loại gạo ngon hạt dài, có nước lại thích loại gạo chất lượng trung bình nhưng hạt dài... Như vậy một loại gạo có thể được tiêu dùng ở nước này nhưng chưa chắc đã được chấp nhận ở nước khác. Do đó, để đáp ứng nhu cầu của thị trường cần phải phân loại gạo theo chất lượng, tâm lý tiêu dùng để có đối sách thích hợp với mỗi loại thị trường. Những đặc điểm của thị trường gạo nói trên có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình kinh doanh xuất khẩu gạo do vậy cần phải tìm hiều và phân tích sâu sắc các đặc điểm đó. 1.2.2. Xu hướng của thị trường gạo thế giới : Cung: Lúa gạo - sản phẩm của ngành nông nghiệp - đáp ứng nhu cầu tối cần thiết của con người. Do nhận thức được tầm quan trọng của lúa gạo, ngày nay hầu hết các quốc gia đều quan tâm đến lĩnh vực an ninh lương thực, trong đó họ đặc biệt cân đối vững chắc cung - cầu tạo sự ổn định cho nhu cầu trong nước. Hơn nữa, diễn biến thuận tiện của thời tiết khí hậu trong vài năm gần đây làm lượng lúa gạo trao đổi trên thị trường ngày càng nhiều, có rất nhiều Quốc gia dư thừa lúa gạo để xuất khẩu đặc biệt là các nước đang phát triển. Suốt nhiều thập niên qua, các nước đang phát triển vẫn thường xuyên chiếm khoảng trên 80% tổng lượng gạo xuất khẩu toàn thế giới, Phần còn lại của các nước phát triển chiếm 20%. Theo phạm vi đại lục thì Châu Á trong thời gian gần đây xuất khẩu lớn nhất chiếm tỷ trọng trung bình khoảng 75% thứ đến là Mỹ xuất khẩu gạo chiếm trung bình20%. Cả 3 Châu: Châu Âu, Châu đại Dương, Châu Phi chỉ chiếm khoảng 5% tổng xuất khẩu gạo thế giới. Cầu: Trước kia, do thiếu lương thực triền miên nên nhu cầu về gạo của con người rất đơn giản chỉ cần có gạo để ăn là được. Trước nhu cầu đó việc sản xuất gạo cũng thật đơn giản, những loại giống lúa nào ngắn ngày, cho năng suất cao đều được cho là giống tốt và được áp dụng rộng rãi còn đối với các giống lúa đặc sản truyền thống mặc dù có hương vị nhưng năng suất thấp nên việc bảo tồn hầu như bị coi nhẹ. Cùng với sự văn minh của xã hội hiện đại thì nhu cầu của con người cũng không ngừng được nâng lên. Nhu cầu của con người ngày nay không chỉ dừng lại ở mức đủ gạo để ăn mà đòi hỏi những loại gạo có chất lượng cao, những loại gạo tự nhiên. Sở dĩ có gạo "tự nhiên" bởi lẽ cùng với những thành tựu của khoa học kỹ thuật là những tác hại của lượng hoá chất còn tồn đọng trong sản phẩm. Nhiều công trình khoa học nghiên cứu đã phát hiện ra rằng tiêu dùng những loại gạo còn lưu một lượng hoá chất là vô cùng tác hại. Hơn nữa, những loại gạo được thâm canh theo phương pháp cổ truyền, tự nhiên, bao giờ cũng có hương vị đậm đà hơn các sản phẩm cùng loại mà việc sản xuất ra nó có sử dụng quá nhiều hoá chất. Chính điều đó đã dẫn đến một xu hướng có tính quy luật về nhu cầu gạo như hiện nay: cầu về số lượng gạo có xu hướng tăng chậm thậm chí giảm còn cầu về gạo chất lượng cao vẫn không ngừng tăng lên. Giá: Nhìn chung, giá lúa gạo thế giới gần đây có xu hướng giảm xuống nguyên nhân của sự giảm giá này là do nhu cầu về gạo tương đối ổn định trong khi đó cung ngày càng tăng lên. Đứng trước xu hướng của thị trường gạo thế giới, Việt Nam với cương vị là một nước xuất khẩu. Biện pháp thức thời đưa ra đối với ngành lúa gạo để đáp ứng tình hình hiện nay trước tiên là chất lượng lúa gạo và thị trường tiêu thụ. Nếu chúng ta giải quyết được 2 vấn đề này thì có nghĩa là chúng ta đã có lối đi cho ngành lúa gạo Việt Nam. 1.3. Một số nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu gạo. 1.3.1. Sự biến động của thị trường. Thị trường là phạm trù kinh tế gắn liền sản xuất và tiêu dùng, ở đâu có sản xuất, lưu thông hàng hoá thì ở đó có thị trường. Để nắm vững các qui luật vận động của thị trường nhằm xử lý các tình huống trong kinh doanh - nhất thiết chúng ta phải nghiên cứu thị trường. Chúng ta nghiên cứu sự tác động của thị trường thế giới đến xuất khẩu gạo của Việt Nam qua hai vấn đề: Thứ nhất: Dung lượng của mặt hàng gạo trên thị trường Đó là khối lượng hàng hoá được giao dịch trên một phạm vi thị trường nhất định và trong một thời gian nhất định. Chúng ta nghiên cứu dung lượng thị trường gạo để xác định nhu cầu thật của thị trường thế giới. Xác định được xu hướng biến động của nhu cầu và đặc điểm nhu cầu của từng vùng, từng khu vực. Cùng với việc nắm bắt nhu cầu về gạo, chúng ta phải nắm bắt khả năng cung cấp của thị trường thế giới diễn ra như thế nào. Hiện nay, những nước nào có khả năng cung cấp mặt hàng này, tiềm năng cung cấp trong tương lai ra sao. Tuỳ đó mà ta đưa ra đối sách giữ vững sản lượng cố định hay ta sẽ tăng sản lượng xuất khẩu. Như chúng ta biết gạo là một sản phẩm thiết yếu rất cần thiết cho cuộc sống nhưng nhu cầu nhập tăng lên cầu về gạo của mỗi cá nhân là giảm xuống song cầu của toàn xã hội vẫn tăng lên. Nguyên nhân là khi thu nhập tăng thì người ta tiêu dùng gạo trực tiếp ít đi nhưng người ta sẽ tiêu dùng những sản phẩm được chế biến từ gạo tăng lên. Đồng thời nhu cầu tăng lên do dân số thế giới tăng lên. Vậy khi chúng ta thực hiện chiến lược xuất khẩu sản phẩm, ta phải lấy cơ sở xuất khẩu là do nhu cầu, khi có nhu cầu mới xuất hiện cung. Đánh giá tương đối về dung lượng thị trường sẽ cho phép xác định nhu cầu và khả năng cung cấp gạo cho thị trường. Thứ hai: Sự biến động của giá gạo. Giá gạo xuất khẩu được coi là giá tổng hợp trong đó bao gồm: chi phí sản xuất, bao bì, vận chuyển, thu mua... Cũng như các mặt hàng khác giá gạo biến động rất phức tạp bởi nó bị chi phối bởi nhiều yếu tố như cung, cầu, cạnh tranh... hơn nữa gạo là sản phẩm thiết yếu nên một sự biến động nhỏ của cung hoặc cầu đều làm giá thay đổi. Tuy nhiên, trong những năm gần đây cầu về gạo tương đối bão hoà, cung về gạo ngày càng lớn (Chính phủ các nước đều chú ý đến an ninh lương thực và thời tiết rất thuận hoà cho việc phát triển sản xuất lúa gạo) dẫu đến giá gạo trên thị trường thế giới rất thấp, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống người nông dân nhất là những vùng chuyên trồng lúa. Để khắc phục tình trạng này, Chính phủ cần quan tâm hơn nữa đến những biện pháp để hỗ trợ nông dân trồng lúa và những doanh nghiệp xuất khẩu lúa gạo. 1.3.2. Thị hiếu người tiêu dùng. Tuỳ theo mức sống, tập quán, việc tiêu thụ gạo ở các nước, các khu vực trong những thời gian nhất định có những yêu cầu khác nhau. Thông thường, gạo đánh bóng và xát trắng được ưa chuộng hơn. Tuy vậy có những vùng nông thôn người ta lại ưa loại gạo xát không kỹ chứa nhiều vitamin và ngày nay trên thế giới thì xu hướng thiên về gạo ngon hạt dài. Từ những khác nhau về thị hiếu đó thì ta thấy rằng khi thâm nhập vào một thị trường nào đó trước hết chúng ta cần phải tìm hiểu thị hiếu của họ, xem họ cần loại gạo nào từ đó mới cung ứng có như vậy thì mới nâng cao hiệu quả xuất khẩu gạo. 1.3.3. Chất lượng gạo xuất khẩu. Chất lượng gạo là một trong những yếu tố quyết định tới sự cạnh tranh trên thị trường, đồng thời nó cải thiện được hiệu quả xuất khẩu. Chất lượng gạo xuất khẩu cần được hiểu một cách rộng hơn với ý nghĩa là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh mức độ thoả mãn nhu cầu của gạo xuất khẩu về qui cách, phẩm chất, kiểu dáng, sở thích, tập quán tiêu dùng. Chất lượng gạo không phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó giống kỹ thuật canh tác và bảo quản chế biến là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng gạo. Giống: Đây là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng gạo bởi lẽ giống tốt thì bản thân nó đã đảm bảo các chỉ tiêu: + Khả năng chống chọi với điều kiện tự nhiên. + Cho phép sinh trưởng và phát triển mạnh. + Tạo ra sản phẩm với năng suất, chất lượng cao, mẫu mã đẹp. + Có khả năng hạn chế các loại sâu bệnh. Để có thể tạo ra chất lượng giống tốt thì Đảng và Nhà nước cùng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn cần có sự đầu tư thích đáng vào lĩnh vực nghiên cứu giống cây trồng, lĩnh vực công nghệ ghen, bên cạnh đó cần tranh thủ trình độ khoa học tiên tiến của các nước trên thế giới như là vấn đề chuyển giao công nghệ, vấn đề nghiên cứu ứng dụng... Kỹ thuật canh tác. Là tổng thể các biện pháp bao gồm các khâu: gieo cấy, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh. Đây là các nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa, việc thực hiện đúng qui trình kỹ thuật là vô cùng quan trọng đối với việc tạo ra một loại gạo phẩm chất cao. Chẳng hạn trong khâu phòng trừ sâu bệnh nếu không phòng trừ đúng lúc, đúng chỗ rất có thể sẽ để lại những dư âm của thuốc hoá học trong sản phẩm và đây cũng là vấn đề cần lưu ý cho những người sản xuất lúa gạo đặc biệt là trong thời đại ngày nay - thời đại của hoá chất và thuốc hoá học do kiến thức về khoa học kỹ thuật ít, người nông dân chỉ cần biết loại thuốc đó có phòng trừ sâu bệnh hay không mà không hề quan tâm tới ảnh hưởng của nó đến sản phẩm như thế nào để khắc phục những hạn chế đó, việc thành lập các tổ đội khuyến nông bổ sung những kiến thức về kỹ thuật canh tác cho bà con nông dân hiện nay là việc làm rất cần thiết. Công nghệ sau thu hoạch: Đây là khâu cuối cùng ảnh hưởng tới chất lượng lúa gạo bao gồm: phơi sấy, xay xát, bao gói và kỹ thuật bảo quản. Mỗi một công đoạn thực hiện là một lần làm thay đổi chất lượng hạt gạo. Sự thay đổi này là tăng lên khi công đoạn đó được thực hiện đúng qui trình và sự thay đối đó là giảm đi khi công đoạn đó không đúng qui trình kỹ thuật. Xét một cách cụ thể hơn: Với khâu phơi sấy: Đây là một công đoạn làm giảm độ ẩm của lúa gạo khi mới gặt về. Độ ẩm đảm bảo của hạt thóc và 14% do vậy trong quá trình phơi sấy thóc có độ ẩm lơn hơn 14% thì khi cho vào kho bảo quản loại thóc này thường dễ bị nảymầm điều này cũng đồng nghĩa với hạt gạo làm ra sẽ dễ biến màn và bạc bụng không đảm bảo tiêu chuẩn cho gạo xuất khẩu. Hơn nữa, bản thân quá trình sấy khô lúa gạo nếu không đúng qui trình tức là cho máy sấy một khối lượng lúa gạo quá lớn hoặc một lượng nhiệt quá cao sẽ dẫn đến việc tạo ra một lượng lúa gạo có độ ẩm không đều và nhiều hạt vỡ. Với kho bảo quản. Sở dĩ lúa gạo có kho bản quản bởi lẽ nó là sản phẩm của ngành nông nghiệp, do nó có tính thời vụ trong sản xuất nên nó cũng có tính thời vụ trong trao đổi. Bất kỳ một Quốc gia nào có lúa gạo thì đều có kho bảo quản. Kho bảo quản là một hệ thống các kho từ kho bảo quản ở các chợ thu mua, kho bảo quản ở nơi tập trung xay xát và kho bảo quản ở các cảng giao hàng. Việc xây dựng hệ thống các kho một cách hiện đại, bảo đảm và yêu cầu cần thiết đặt ra đối với mọi quốc gia đặc biệt là các quốc gia xuất khẩu lúa gạo bởi lẽ có như vậy thì mới tạo nên sự thuận lợi trong hoạt động kinh doanh, điều hoà thị trường, thiết lập ổn định dự trữ quốc gia và cung cấp ra thị trường thế giới theo đúng tiến độ giao hàng. Với chế biến. Kỹ thuật xay xát được đánh giá theo chất lượng hạt gạo nguyên đạt được. Tuy nhiên, lượng hạt nguyên cao hay thấp còn tuỳ thuộc vào kỹ thuật xay xát và giống lúa. Thị hiếu tiêu dùng quyết định tới cách chế biến như thế nào. Có nhiều nước ưa chuộng gạo xát trắng, không còn phôi và lớp cám ngoài cùng, có nhiều nước lại ưa chuộng loại gạo hấp chứa ._.nhiều vitamin và có giá trị dinh dưỡng cao. Việc chế biến sao cho phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng cũng đồng nghĩa với chất lượng hạt gạo được nâng lên để đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng. 1.3.4. Cơ chế chính sách đối với xuất khẩu. Cơ chế quản lý, chính sách kinh tế và các quan hệ đối ngoại là các yếu tố rất nhạy cảm, tác động trực tiếp nền kinh tế nói chung và xuất khẩu gạo nói riêng. Sự tác đồng của cơ chế chính sách đến xuất khẩu gạo theo 2 hướng: kìm hãm xuất khẩu nếu chính sách đó không phù hợp và thúc đẩy xuất khẩu nếu chính sách đó không phù hợp. Đối với xuất khẩu gạo, các chính sách tác động mạnh mẽ nhất là: Chính sách đầu tư. Chính sách vốn tín dụng. Chính sách bảo hiểm và trợ giá. Chính sách Marketing. Hơn nữa, xuất khẩu gạo là hoạt động buôn bán vượt ra ngoài phạm vi một quốc gia thông qua mối quan hệ thương mại có tổ chức từ lâu trong ra bên ngoài nhằm thu được lợi ích ngoại vi lớn hơn. Vì vậy các quan hệ kinh tế đối ngoại có ảnh hưởng mạnh mẽ tới xuất khẩu gạo. Đối với một nước, các cơ quan kinh tế đối ngoại cởi mở cho phép tìm kiếm được nhiều bạn hàng để xuất khẩu. Các bạn hàng ở những nước có trình độ phát triển kinh tế và điều kiện khác nhau yêu cầu chủng loại gạo và chất lượng gạo khác nhau. Sự biến động các ngoại tệ mạnh tạo ra sự thay đổi của tỷ giá hối đoái cũng là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu gạo. Đặc biệt với Việt Nam đến năm 2003, hiệp định thương mại tự do các nước Đông Nam Á có hiệu lực hàng rào thuế quan bị xoá bỏ - Đây không chỉ là nhân tố ảnh hưởng đơn thuần mà là thách thức lớn cho xuất khẩu gạo của nước ta. Trước thực tế đó, yêu cầu đặt ra cho Chính phủ Việt Nam hiện nay là cần có một chính sách hợp lý trong điều hành xuất khẩu gạo cũng như các doanh nghiệp xuất khẩu, có thể giảm thuế quan, trợ cấp vận chuyển, cho vay ưu đãi để thu mua thóc của nông dân đồng thời khi giá giảm có thể trợ giúp họ bằng quĩ bình ổn... Qui định móc giá trần, giá sàn để đảm bảo lợi ích người sản xuất và người tiêu dùng. Theo dõi tình hình cung cầu nước ngoài để cung cấp thông tin cho doanh nghiệp xuất khẩu cũng như điều chỉnh chính sách kịp thời. Nhà nước có thể có thể giúp đỡ doanh nghiệp tìm kiếm thị trường thông qua việc ký kết hợp đồng liên Chính phủ, đặt nền tảng vững chắc cho xuất khẩu. Nhà nước cần xác định một tỷ giá hối đoái hợp lý để tạo ra sức cạnh tranh cho gạo xuất khẩu. Vì tỷ giá hối đoái là đòn bẩy để điều tiết cung cầu. Tỷ giá hối đoái thấp sẽ có tác dụng khuyến khích nhập khẩu nhưng tỷ giá hối đoái cao sẽ bất lợi cho nhập khẩu nhưng lại khuyến khích xuất khẩu. Vì khi đó hàng xuất khẩu sẽ có giá tương đối thấp. Nói tóm lại, trước xu thế vận động và phát triển không ngừng của xã hội, khoa học công nghệ ngày càng hiện đại cùng với đó là nhu cầu tiêu dùng của con người ngày càng được nâng cao, ngành sản xuất lúa gạo cũng phải thay đổi để đáp ứng kịp thời nhu cầu đó. Vì vậy, một chính sách cho ngành lúa gạo khi đưa ra không chỉ đúng, phù hợp mà còn phải kịp thời nữa. Chương 2 : LỢI THẾ VÀ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU GẠO Ở VIỆT NAM 2.1. Về tự nhiên: Việt Nam có lợi thế về nguồn tài nguyên và các điều kiện tự nhiên, khí hậu ưu đãi và thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp đặc biệt là cây lúa nước. Những yếu tố đó đã tạo cho Việt Nam có một lợi thế so sánh về mặt hàng gạo so với nhiều nước trên thế giới. 2.1.1 Đất đai: Ở Việt Nam sản xuất lúa gạo là ngành sản xuất cổ truyền, có từ lâu đời và gắn với lịch sử phát triển nông nghiệp. Đặc điểm của ngành sản xuất nông nghiệp là sử dụng một diện tích lớn ruộng đất để gieo trồng thì Việt Nam có một nguồn tài nguyên đất rất giàu có. Với diện tích đất trồng lúa hiện có 4,4 triệu hecta chiếm 55% trong tổng số 8 triệu hecta đất trồng trọt nông nghiệp, 43% trong tổng diện tích 10,3 triệu hecta đất đang sử dụng (không kể đất rừng của cả nước) và 13,3% diện tích lãnh thổ, trong đó diện tích Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là xấp xỉ 3954 triệu hecta, diện tích Đồng Bằng Sông Hồng (ĐBSH) là 1251 triệu hecta và diện tích Đồng Bằng Nam Bộ (ĐBNB) là 2347 triệu hecta. Đặc biệt ĐBSCL và ĐBSH là hai đồng bằng rộng lớn, hàng năm được hai sông lớn bù đắp phù sa, được đánh giá vào loại phì nhiêu trên thế giới, rất thích hợp cho việc trồng cây lúa nước. Độ màu mỡ của đất đã giúp sản xuất lúa gạo của Việt Nam từ năm 1989 đến nay, tăng cả về sản lượng, diện tích và năng suất, nhờ đó mà Việt Nam không những đảm bảo lương thực trong nước mà còn dư thừa để xuất khẩu. 2.1.2. Khí hậu và nguồn nước: Tài nguyên nước dồi dào là một trong những lợi thế nổi bật trong nghề trồng lúa ở Việt Nam. Số ngày mưa lý tưởng 120-140 ngày trong một năm ở hai đồng bằng lớn, không chỉ cung cấp cho lúa nguồn nước trời phú quý giá mà còn bồi bổ cho lúa một nguồn đạm tự nhiên dễ hấp thụ. Ngoài ra hệ thống thuỷ lợi nước ta với 10% ngân sách nhà nước đầu tư hằng năm đã đạt được những thành quả đáng mừng. Với trị giá tài sản khoảng 25.800 tỷ đồng cơ sở vật chất kỹ thuật của hệ thống thuỷ lợi đã tạo ra tổng năng lực tưới cho 3 triệu hecta canh tác và năng lực tiêu cho 1,4 triệu hecta. Hơn nữa Việt Nam còn sở hữu một hệ thống sông, hồ, kênh rạch phong phú phù hợp với cây lúa nước, thuận lợi cho thu hoạch, vận chuyển và thực hiện xuất khẩu gạo. Sự ưu việt của tài nguyên nước có ý nghĩa quyết định cho việc thâm canh, tăng vụ thắng lợi và giảm giá thành sản phẩm nông sản. Lợi thế của tài nguyên nước còn có ý nghĩa đặc biệt cho tài nguyên đất phát huy được đầy đủ trong quá trình sản xuất nông nghiệp và trồng lúa. Thực tế gạo là một sản phẩm mà không phải nước nàơ cũng có thể sản xuất và cung cấp ra thị trường thế giới. Ngoài lợi thế về đất đai và nguồn nước ra,Việt Nam còn có khí hậu nhiệt đới gió mùa rất phù hợp cho hai vựa lúa của Việt Nam là ĐBSH và ĐBSCL có điều kiện lý tưởng trồng cây lúa nước, cùng với sự kết hợp chặt chẽ các yếu tố khí hậu như: nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa cũng như nắng gió. Điều kiện khí hậu ưu đãi hiếm có này còn là lợi thế tuyệt vời cho phép ở ĐBSCL và ĐBSH sản xuất lúa quanh năm (3 vụ) trên diện rộng và thích nghi với nhiều giống lúa cao sản, lúa đặc chủng có năng suất cao. Lợi thế này tạo cho Việt Nam những bước đột phá trong sản xuất và xuất khẩu gạo. 2.2.Về lao động: Trong điều kiện kinh tế Việt Nam, nông nghiệp và nông thôn là khu vực tạo việc làm chủ yếu.Với dân số 84 triệu người, trong đó 75% dân số sống ở nông thôn và 50% dân số ở trong độ tuổi lao động, Việt Nam có nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ . Đây là một lợi thế đối với việc sản xuất và xuất khẩu gạo ở nước ta. Lực lượng lao động ở nông thôn tuy có kinh nghiệm về nghề trồng lúa của ông cha truyền lại nhưng lao động có trình độ ở khu vực này nhìn chung còn bất cập, về cơ bản vẫn chỉ là lao động phổ thông. Hiểu biết của nông dân về khoa học kỹ thuật (nhất là công nghệ sinh học) còn kém, về thị trường còn rất hạn chế vì vậy họ rất dè dặt trong việc thay đổi các giống lúa, áp dụng những thành tựu mới vào sản xuất lúa gạo,… để nâng cao chất lượng phù hợp với thị trường, điều đó làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu gạo. Do đó để phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng thì trong thời gian tới Việt Nam cần đầu tư ngân sách Nhà nước vào phát triển nguồn nhân lực, xây dựng và củng cố các trường dạy nghề phục vụ phát triển nông nghiệp, bên cạnh đó cũng cần có các chính sách thoả đáng đối với đội ngũ trí thức tình nguyện làm việc tại nông thôn…Nâng cao chất lượng lực lượng lao động trong nông nghiệp là cơ sở để hạt gạo Việt Nam bay xa hơn. 2.3. Về kết cấu hạ tầng: Cơ sở hạ tầng của sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam luôn được Nhà nước ta quan tâm đầu tư và nâng cấp nhằm nâng cao năng suất, sản lượng lúa cũng như hiệu quả và chất lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam. Trước hết, đối với sản xuất gạo, các công trình thuỷ lợi được đầu tư tu bổ và xây mới thuận lợi cho tưới tiêu, nâng cao năng suất lúa. Bên cạnh đó phải kể đến trình độ cơ giới hoá ngày càng nâng cao đã làm giảm tổn thất tỷ lệ tổn thất trước và sau thu hoạch lúa, và làm giảm chi phí sản xuất gạo… Thứ hai là đối với gạo xuất khẩu, bấy lâu nay hầu hết khối lượng gạo buôn bán quốc tế của Việt Nam thường được vận tải bằng đường biển. So với phương tiện vận tải đưòng sắt, đưòng hàng không , vận tải bằng đưòng biển quốc tế đảm bảo thuận lợi, thông dụng và giá rẻ hơn. Trong thực tế chuyên chở gạo bằng đưòng biển Việt Nam có nhiều lợi thế nổi bật. Đưòng biển nước ta hình chữ S, dài trên 3000 km suốt từ Bắc – Trung - Nam, nước ta có nhiều cảng thuận lợi như: Cửa Ông, Hải phòng, Đà Nẵng, Vũng Tàu, Sài Gòn… Hệ thống hải cảng Việt Nam nói chung đều nằm sát đường hàng hải quốc tế và có thể hành trình theo tất cả các tuyến đường đi Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Thái Bình Dương, Trung Cận Đông, Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ. Vì vậy Việt Nam có cơ hội để đảm bảo thời gian và giá cước phí vận chuyển gạo xuất khẩu tương đương so với nước khác. 2.4. Về thể chế, chính sách: Xuất khẩu của Việt Nam nói chung và xuất khẩu gạo nói riêng phát triển một cách mạnh mẽ đó là nhờ nền chính trị ổn định và chính sách kinh tế hợp lí. Chính sách mở cửa nền kinh tế đã mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế giữa Việt Nam và thế giới, với mọi quốc gia và tổ chức kinh tế quốc tế. Điều đó tạo cơ hội cho hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam có thêm những bạn hàng mới. Nhà nước luôn có những chính sách khuyến nông, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất lương thực và xuất khẩu như thưởng kim ngạch xuất khẩu, hỗ trợ lãi suất vay ngân hàng, thưởng thành tích xuất khẩu, hỗ trợ xúc tiến thương mại nhằm nâng cao hơn nữa giá trị kim ngạch xuất khẩu, khối lượng gạo xuất khẩu ra thị trường quốc tế, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Năm 2001-2002, thực hiện chính sách thưởng kim ngạch xuất khẩu, hỗ trợ lãi suất vay ngân hàng đã góp phần làm tăng số lượng gạo xuất khẩu, giúp nông dân tiêu thụ được sản phẩm, giá gạo đã tăng khiến cho người dân yên tâm hơn trong sản xuất. Bên cạnh đó nhờ các cơ chế, chính sách khuyến khích xuất khẩu, các Doanh nghiệp xuất khẩu đã giảm bớt khó khăn về tài chính. Trong năm 2001, Quỹ Hỗ trợ Xuất khẩu đã thưởng kim ngạch xuất khẩu cho mặt hàng gạo là 26,39 tỷ đồng, tính riêng 5 tháng đầu năm 2002 cơ chế hỗ trợ lãi suất vay ngân hàng mua tạm trữ mặt hàng gạo là 43,7 tỷ đồng. Ngoài ra Nhà Nước còn khuyến khích các Doanh nghiệp hình thành các tổ chức hiệp hội, hợp tác để thống nhất về quy cách, ký kết hợp đồng dài hạn, bảo đảm thanh toán để giảm bớt rủi ro, tránh hiện tượng ép cấp, ép giá trong buôn bán. Tăng cường các hoạt động hỗ trợ xuất khẩu gạo như: cung cấp miễn phí các thông tin về thị trường và các văn bản có liên quan đến xuất khẩu cho các Doanh nghiệp. Bên cạnh đó các thông lệ thương mại luôn ưu tiên và đảm bảo quyền lợi cho xuất khẩu gạo. Việc Nhà nước đặt mục tiêu xuất khẩu hàng nông sản là mũi nhọn trong hoạt động kinh tế đối ngoại và phát triển kinh tế đất nước cũng đã tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu gạo mạnh mẽ hơn. 2.5. Mức tiêu thụ gạo của thế giới: Từ năm 1989 – 2001, sản lượng tăng 2%/năm, đạt mức 908 triệu tấn vào năm 2001, trong đó 90% làm lương thực cho người, số còn lại phục vụ cho chăn nuôi và chế biến công nghiệp. Tuy nhiên nhu cầu gạo ở mỗi quốc gia và mỗi vùng là khác nhau. Châu Mỹ La Tinh, Châu Âu, Bắc Mỹ , Caribê: mức tiêu dùng cho một người trong một năm là tăng, trong khi đó ở vùng Trung cận đông có xu hướng giảm, ở khu vực viễn đông: Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan, Singapore, tuy thu nhập bình quân đầu người có tăng nhưng nhu cầu tiêu dùng gạo giảm do cơ cấu bữa ăn có sự thay đổi. Châu Phi dự kiến tiêu dùng bình quân đầu người là 16 kg, tăng 2 kg/người so với thời kỳ trước đây. Châu Phi đang ngày càng trở thành một thị trường gạo hấp dẫn. Nhập khẩu gạo Châu Á vào Châu Phi ngày một tăng và tiếp tục tăng hơn nữa. Châu Á là nơi sản xuất lượng gạo nhiều nhất, chiếm 79% trong đó Trung Quốc chiếm 34%, Ấn Độ chiếm gần 20%, Inđônêsia chiếm 8 – 9%. Nhu cầu nhập khẩu gạo thực chất còn phụ thuộc vào khả năng thanh toán hạn hẹp của bản thân những nước nghèo ở Trung Đông và Châu Phi, vì đây là những nước nhập khẩu gạo với số lượng lớn. Tính đến cuối năm 1999 có 52 triệu dân ở 35 nước bị thiếu lương thực nghiêm trọng do ảnh hưởng của thiên tai và do các thảm hoạ do con người gây ra. Năm 2000 nước nhập khẩu gạo lớn nhất vẫn là Inđônêsia- khoảng 2 triệu tấn- mặc dù giảm còn một nửa so với năm trước. Nhập khẩu gạo của Philippin cũng giảm so với mức 1 triệu tấn năm 1999. Bănglađét là nước nhập khẩu gạo lớn. Năm 1998 nước này đã nhập 2,5 triệu tấn sau khi bị lũ lụt nặng nề. Iran là nước 2 năm liên tiếp bị hạn hán đã phải nhập khẩu gạo với khối lượng khá lớn- 1 triệu tấn. Trong năm 2000, sản lượng tăng mạnh sau cải cách thị trường nội địa đã làm cho Việt Nam trở thành một trong số các nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Sang năm 2001, theo số liệu thống kê nhu cầu nhập khẩu gạo thế giới chỉ đạt 23,3 triệu tấn, thấp hơn chút ít so với năm 2000. Nhập khẩu tăng mạnh ở Trung Đông, Châu Phi và vài nước Châu Á do thời tiết xấu, điều này giúp cho giá gạo xuất khẩu ở các nước Châu Á được lợi. Những nước nhập khẩu lớn năm 2002 là Iran, Ni-giê- ria, Ả-Rập-XêUt, Irắc, Philippin, Nhật Bản. Bảy nước này nhập khẩu tới 6,42 triệu tấn, chiếm 27,5% lượng gạo giao dịch thế giới. Điều khá ngạc nhiên là giá gạo tăng trong khi nguồn cung lại khá dồi dào. Các nhà kinh doanh giải thích rằng giá gạo được nâng đỡ bởi các thương nhân đang tranh giành mua gạo để thanh toán các hợp đồng đã ký trước đó. Năm 2001 Việt Nam trúng thầu hai đợt gạo xuất sang Philippin với tổng sản lượng 400 nghìn tấn, ngoài ra Việt Nam còn tiếp tục thanh toán các hợp đồng xuất gạo sang Châu Phi, Inđônêsia, CuBa. Các hợp đồng này đã nâng mức xuất khẩu của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm lên 1,792 triệu tấn, trị giá 280,2 triệu USD, giá bình quân bằng 81% so với cùng kỳ năm trước. Có thể nói 2002 là năm nhu cầu gạo của nhiều khu vực nhập khẩu chính. Theo FAO, năm nay Trung Quốc tăng gấp 6 lần lượng gạo nhập khẩu so với năm 2001 do sản xuất nội địa giảm và theo yêu cầu của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO), khi gia nhập tổ chức này Trung Quốc buộc phải mở rộng cửa nhập khẩu gạo từ năm 2002 và tăng dần hạn ngạch qua mỗi năm để đến năm 2004 mở cửa cho 4 triệu tấn gạo nhập vào đây với thuế suất rất thấp chỉ 1%. Cũng theo cam kết với WTO, Đài Loan sẽ tăng nhập khẩu gạo 31 lần so với năm 2001. Cả khu vực Châu Á tăng lượng nhập 1,2 triệu tấn so với năm trước. Các nước tăng nhập mạnh là: Inđônêsia 600 nghìn tấn, Iran 100 nghìn tấn, Trung Quốc 900 nghìn tấn, Yê-men 100 nghìn tấn, Đài Loan trên 100 nghìn tấn… Trên phạm vi toàn cầu, lượng gạo mậu dịch đạt tới 23,3 triệu tấn, tăng mạnh so với năm 2001 và tăng 700 nghìn tấn so với dự báo trước đây của FAO. Điểm thuận lợi cho các nước xuất khẩu gạo năm 2002 là ngoài Trung Quốc, Đài Loan mở rộng cửa thị trường, mới đây chính phủ Inđônêsia lại tuyên bố không đánh thuế giá trị gia tăng đối với gạo nhập khẩu. Tin này được nhiều hãng thông tấn của Châu Á và Châu Âu cùng đưa vì Inđônêsia là nước tiêu thụ gạo lớn thứ 3 thế giới, hơn nữa mức thuế giá trị đối với gạo đang ở mức khá cao. Trong bối cảnh mậu dịch gạo thế giới có nhiều diễn biến thuận lợi, xuất khẩu và giá gạo Việt Nam mở ra nhiều triển vọng tươi sáng. Hầu như các nước tăng lượng nhập khẩu cũng là những bạn hàng chính đã quen ăn gạo của Việt Nam. Ngay trong tháng 1/2002 Bộ trưởng thương mại IRắc cho biết, theo kế hoặch đổi dầu lấy lương thực, Irắc sẽ nhập 900 nghìn tấn gạo, chủ yếu mua của 4 nước: Thái Lan, Việt Nam, Ai Cập và Pakixtan. Trong đó riêng Việt Nam chiếm tới 500 nghìn tấn. Hiện nay trên thế giới, gạo xuất khẩu của Việt Nam chiếm 15 - 18% thị phần thế giới. Với xu thế phát triển của nền nông nghiệp, Việt Nam sẽ đáp ứng được nhu cầu nhập khẩu gạo của các nước trên thế giới. Tuy nhiên trong bối cảnh cạnh tranh bám đuổi mạnh mẽ giữa các nước thì việc tăng thêm thị phần trong thời kỳ tới là một thách thức lớn đối với Việt Nam. Chương 3 : THỰC TRẠNG CỦA XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY. 3.1. Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo. Lúa là cây lương thực chính của Việt Nam, từ khi đổi mới (1986) đến nay (2002) sản xuất lúa tăng trưởng liên tục cả diện tích, năng suất và sản lượng. Năm 1986, diện tích gieo trồng lúa chỉ có 5688,6 nghìn ha, năng suất bình quân 28,1 tạ/ha/vụ và sản lượng là 16,9 triệu tấn thì đến năm 2002 con số tương ứng là: 7463 nghìn ha, 45,1ta/ha và 35,9 triệu tấn. Xu hướng này còn tiếp tục tăng trong những năm tới vì tiềm năng tăng năng suất vẫn còn. Tốc độ tăng sản lượng lương thực luôn luôn cao hơn tốc độ tăng dân số, nên lương thực bình quân đầu người của Việt Nam tăng dần. Nếu như năm 1990 lương thực bình quân đầu người mỗi năm là 324,4 kg thì đến năm 1995 là 372 kg và năm 2002 là 435 kg. Đây là xu hướng ít thấy trong lịch sử sản xúât lúa gạo của các nước Châu Á, và lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử nước ta. Theo Tổ chức nông lương Liên hợp quốc (FAO), trong 17 năm qua (1986-2002) sản lượng lúa gạo thế giới tăng thêm khoảng 70 triệu tấn, thì Việt Nam đã đóng góp 10 triệu tấn. Chính sự tăng nhanh và ổn định của sản lượng lúa gạo Việt Nam đã góp phần tích cực giảm sự căng thẳng về thiếu lương thực trên thế giới. Đối với nước ta xu hướng này đã khắc phục một cách cơ bản tình trạng thiếu đói giáp hạt kéo dài nhiều thập kỷ trước đổi mới, tạo đà cho việc ổn định an ninh lương thực quốc gia, đẩy mạnh được hoạt động xuất khẩu gạo với vị trí nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới (chỉ sau Thái Lan) và dẫn đầu thế giới về tăng sản lượng lương thực. Điều này được thể hiện ở bảng sau: Bảng 1: Sản lượng gạo của một số nước xuất khẩu chính trên thế giới. (Đơn vị tính: triệu tấn) Năm 1999-2000 2000-2001 2001-2002 Việt Nam 20,93 20,53 21,00 Thái Lan 16,50 16,83 16,83 Ấn Độ 89,48 86,30 88,00 Pakistan 5,16 4,70 4,50 (Nguồn: Tạp chí ngoại thương 21-2002) Các con số ở bảng 1 cho ta thấy rằng trong khi sản lượng gạo của các nước xuất khẩu gạo như: Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan giữ nguyên hoặc giảm xuống thì sản lượng gạo của Việt Nam tính chung lại tăng lên qua từng vụ thu hoạch, trong niên vụ 2001 – 2002 sản lượng gạo của Việt Nam đạt 21 triệu tấn, tăng khoảng 1 triệu tấn so với niên vụ 2000 – 2001 và vươn lên dẫn đầu thế giới về tốc độ tăng sản lượng gạo. Do sản xuất tăng nhanh và ổn định, mức sản xuất lúa gạo liên tục tăng nên trong 14 năm xuất khẩu gạo, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam ngày càng tăng nhanh hơn. Điều đó được thể hiện trong bảng sau: Bảng 2: Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam từ 1989- 2002. Năm Sản lượng xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu Sản lượng ( triệu tấn) Thay đổi so với năm trước( %) . Kim ngạch (triệu USD) Thay đổi so vối năm trước(%), 1989 1,420 __ 290,0 __ 1996 3,003 +51,05 868,4 +63,82 1999 4,550 +19,74 1.012,0 - 1,84 2000 3,500 - 23,08 668,0 - 33,99 2001 3,729 +6,54 624,4 - 6,48 2002 3,24 - 13,11 725,5 +16,12 ( Nguồn: Tổng cục thống kê - Bộ Thương mại) Năm 1989, Việt Nam chính thức tham gia vào thị trường lúa gạo thế giới với số lượng khá lớn là 1,4 triệu tấn, thu về 290 triệu USD, giá bình quân 204 USD/tấn. Tuy sản lượng gạo xuất khẩu chưa nhiều, giá còn thấp, chất lượng chưa phù hợp với thị hiếu thế giới, nhưng đối với nước ta kết quả đó đánh dấu sự sang trang của sản xuất lúa gạo từ tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hoá, gắn với xuất khẩu. Các số liệu ở bảng 2 đã cho thấy rằng xuất khẩu gạo tăng tương đối qua các năm, với 1,6 triệu tấn gạo xuất khẩu trong năm 1990 đã đưa Việt Nam giành vị trí nứơc xuất khẩu gạo lớn thứ 3 trên thế giới. Năm 1996, Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu gạo với mức lớn hơn. Lần đầu tiên kể từ năm 1989 khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam vượt mức 3 triệu tấn/năm, tăng 51% và đưa kim ngạch xuất khẩu đạt 868 triệu USD, tăng 63% so với năm 1995. Đặc biệt đến năm 1997 đã đánh dấu bước ngoặt lớn đối với nền kinh tế và ngoại thương nước ta, Việt Nam xuất hiện trên thị trường gạo với vị trí là nước xuất khẩu gạo thứ 2 (sau Thái Lan), với lượng gạo xuất khẩu là 3,6 triệu tấn, đạt kim ngạch xuất khẩu gạo 900triệu USD; lý do là trong năm 1997 Việt Nam ký kết được nhiều Hiệp định thương mại, điển hình là hiệp định với Iran về xuất khẩu gạo. Bước vào năm 1998, có thể nói cơ hội đang mở ra cho Việt Nam khi hiện tượng El nino gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến mùa màng của một số nước Châu Á mà đặc biệt là Inđônêsia và Philippin đã gây ra cơn sốt gạo ở Châu Á. Và chính trong năm 1998, kim ngạch xuất khẩu của 3,8 triệu tấn gạo đã đạt mức 1 tỉ USD. Tuy chỉ tăng 5,56% về lượng nhưng lại tăng 14,56% về giá trị. Điều này đã củng cố vững hơn vị trí thứ 2 về xuất khẩu gạo của Việt Nam trên thế giới và tô đậm thêm hình ảnh một nước Việt Nam xuất khẩu gạo đối với các nhà kinh doanh, người tiêu dùng gạo trên thế giới. Điều đáng chú ý là năm 1999, mặc dù chịu thiệt hại nặng nề của các đợt lũ lớn ở Miền Trung, sản xuất lương thực vẫn đạt 31,4 triệu tấn và xuất khẩu 4,5 triệu tấn gạo, kim ngạch trên 1 tỷ 10 triệu USD như vậy về số lượng so với năm 1998 tăng 20%, đây cũng là số lượng cao nhất từ trước đến nay, nhưng xét về kim ngạch lại giảm 2%, xảy ra điều này là do trong năm 1999 các nước nhập khẩu gạo truyền thống hạn chế khối lượng nhập khẩu, do đó làm cho giá gạo xuất khẩu trên thị trường thế giới giảm xuống thấp. Chính điều đó đã làm cho giá trị xuất khẩu gạo của Việt Nam giảm. Sang năm 2000, thời tiết diễn biến phức tạp, thiên tai lũ lụt xảy ra ở nhiều nơi trên phạm vi cả nước, đặc biệt là ĐBSCL nhưng nhờ có sự chỉ đạo và điều hành sát sao của Chính Phủ, của các cấp, các ngành cùng với sự nỗ lực của nhân dân các địa phương nên nhìn chung sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lương thực nói riêng nhanh chóng được khôi phục và đạt kết quả khá, đời sống nhân dân sớm đi vào ổn định. Theo đánh giá của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, tổng sản lượng lúa cả nước năm 2000 vẫn đạt 32,6 triệu tấn, tăng gần 1,2 triệu tấn so với năm 1999, điều này đưa nguồn cung gạo cho xuất khẩu vẫn duy trì ở mức cao 3,5 triệu tấn. Hơn nữa cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực và cuộc khủng hoảng dầu lửa trong năm 2000 đã ảnh hưởng phần nào đến nhịp độ buôn bán các mặt hầng nguyên liệu thô trong đó có gạo. Các tác động này đã làm giá gạo trên thị trường thế giới bắt đầu giảm xuống từ đầu năm, cho đến cuối năm xuất khẩu gạo của Việt Nam so với năm 1999 đã bị giảm đi 16% về giá, hạ kim ngạch xuất khẩu gạo 2000 xuống còn 668 triệu USD (giảm 34% so với năm 1999). Tuy nhiên cũng cần phải kể đến một nguyên nhân nữa làm giảm giá gạo trên thế giới đó chính là ngành gạo của các nước nhập khẩu gạo lớn như: Inđônêsia, Philippin, Trung Quốc… đang dần dần phục hồi sau 2 năm mất mùa vì biến động thời tiết, các nước này đều tuyên bố có khả năng tự cung cấp tự cấp gạo. Năm 2001 xuất khẩu gạo đạt trên 3,7 triệu tấn, trợ giá hơn 600 triệu USD, măc dù tăng khoảng 7% về lượng song cũng là thành công vì đã hoàn thành được những nhiệm vụ cơ bản: xuất khẩu vượt chỉ tiêu 3,5 triệu tấn do chính phủ đề ra, tiêu thụ hết thóc hàng hoá, chặn đà giảm sút giảm sút của giá thóc, gạo trong nước. Tuy vậy xét về kim ngạch thì vẫn giảm 6%. Nguyên nhân là trong những tháng đầu năm 2001 giá gạo vẫn giảm mạnh do ảnh hưởng từ năm 2000, các Doanh nghiệp của Việt Nam vẫn ký hợp đồng bán gạo với giá thấp, nhưng bắt đầu từ tháng 6-2001 giá gạo tăng cao dần thì ta lại không có gạo để xuất vì phải xuất gạo theo hợp đồng đã ký. Đó chính là lý do làm cho lượng gạo xuất khẩu tăng mà gía trị xuất khẩu gạo lại giảm trong năm 2001. Sản xuất nông nghiệp trong năm 2002 gặp nhiều khó khăn to lớn, có mặt gay gắt hơn 2001 đó là thiên tai diễn ra trên diện rộng, kéo dài từ đầu năm dến cuối năm: hạn hán gay gắt ở Đông Nam Bộ,Tây Nguyên và Miền Trung, lũ lớn kéo dài và ngập sâu ở vùng ĐBSCL, mưa lớn, lốc xoáy và lũ quét xảy ra gây thiệt hại nặng nề về tài sản, mùa màng và sinh mạng ở nhiều vùng và địa phương.Tuy vậy sản xuất nông nghiệp vẫn đạt mức tăng trưởng khá, năng xuất lúa cả năm đạt 45,1 tạ/hecta, sản lượng đạt 35,9 triệu tấn. Nhờ đó mà khối lượng gạo xuất khẩu đạt 3,24 triệu tấn (giảm 13%) và đạt kim ngạch trên 700 triệu USD (tăng 16%) so với năm 2001. Đó là vì chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2002 đã được nâng cao rõ rệt, do đó giá thành cũng cao hơn những năm trước. Trong những năm qua, kim ngạch xuất khẩu gạo đã đóng một vai trò quan trọng trong sản lượng tích luỹ vốn cho quá trình phát triển đất nước. Từ năm 1989 dến năm 2002, Việt Nam đã xuất khẩu trên 87 triệu tấn gạo đạt kim ngạch xuất khẩu gần 8 tỉ USD. Gạo đã trở thành một trong 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu gạo chiếm một tỷ trọng đáng kể trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Dưới đây là bảng tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam : Bảng 3: Kim ngạch xuất khẩu gạo trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Năm KNXK (triệu USD) KNXK Gạo (triệu USD) Tỷ trọng (%) 1990 2.404 304,6 13 1997 9.185 900,0 9,8 1998 9.360 1.031,0 11 1999 11.540 1.012,0 8,8 2000 14.308 668,0 4,6 2001 15.027 624,4 4,2 2002 16.530 725,5 4,4 ( Nguồn: Bộ Thương mại ) Từ bảng 3 cho thấy, trong những năm 90 kim ngạch xuất khẩu gạo luôn chiếm một tỷ trọng tương đối (khoảng 8-12%) trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Có được kết quả đó là do Việt Nam đã xuất khẩu gạo với số lượng tương đối lớn cùng với giá cả khá cao. Nhưng qua bảng trên ta thấy rằng tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu gạo từ năm 2000 trở lại đây đã giảm trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước so với những năm trước. Đó là do thị trường gạo thế giới có nhiều biến động, cầu về gạo trên thế giới đã giảm, hiện nay thị hiếu về gạo chất lượng cao ngày càng tăng mà gạo của Việt Nam thì vẫn chưa đáp ứng được những yêu cầu khắt khe của quốc tế về chất lượng, vì vậy giá gạo Việt Nam thấp làm cho kim ngạch xuất khẩu gạo giảm. Những năm gần đây kim ngạch xuất khẩu của cả nước đang tăng dần, để nâng cao tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu gạo thì một trong những điều kiện cần là Việt Nam phải chú trọng đến chất lượng gạo xuất khẩu, do đó dù gạo xuất khẩu của Việt Nam khối lượng có giảm nhưng giá trị xuất lại cao. 3.2. Thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam. Việt Nam chỉ thực sự là nước xuất khẩu gạo lớn từ năm 1989. Từ đó việc xâm nhập và mở rộng thị trường của Việt Nam trong những năm đầu đã gặp không ít khó khăn vì thường đụng đến những khu vực là thị trường quen thuộc của các nước xuất khẩu truyền thống đặc biệt là Thái Lan. Những năm qua Việt Nam đã tích cực mở rộng các mối quan hệ, tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế. Trên thị trường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam đã có những thay đổi rõ rệt theo hướng đa dạng hơn. Bảng 4: Quy mô và thị phần xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 1991- 2002. Năm Lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam ( triệu tấn) Lượng gạo mậu dịch Thế Giới ( triệu tấn) Thị phần của Việt Nam (%) 1991 1,033 12,700 8,1 1995 1,988 21,000 9,4 1998 3,800 25,600 14,8 1999 4,550 25,100 18,2 2000 3,500 22,300 15,7 2001 3,729 24,453 15,2 2002 3,240 24,949 13,0 (Nguồn: Tổng cục thống kê) Ngay từ những năm đầu xuất khẩu gạo, Việt Nam đã chiếm một thị phần khá trong tổng lượng gạo mậu dịch thế giới, thị phần gạo xuất khẩu của Việt Nam cũng tăng dần theo nhu cầu thế giới qua các năm. Nhu cầu gạo trên thế giới ngày càng tăng do chịu ảnh hưởng chính tác động của yếu tố thời tiết, các điều kiện kinh tế và tốc độ tăng dân số.Thị phần của Việt Nam tăng từ 8,1% năm 1991 tới 18% năm 1999 và năm 2002 là 13%. Trong thời gian đầu do gạo Việt Nam vẫn còn xa lạ so với thị trường quốc tế vì vậy thị phần chưa cao. Những năm gần đây, gạo Việt Nam đã tạo được tên tuổi bằng cách giữ vững vị trí nước xuất khẩu thứ 2 trên thị trường thế giới, do đó thị phần tăng lên đáng kể. Đặc biệt năm 1999 do hậu quả của hiện tượng El nino mà lượng gạo mậu dịch trên thế giới đạt mức kỷ lục là 25 triệu tấn trong đó thị phần của Việt Nam đạt mức cao nhất là 18%. Hiện nay lượng gạo giao dịch trên thế giới vẫn duy trì ở mức cao (23 – 24 triệu tấn), trong đó thị phần của Việt Nam vẫn chiếm một tỷ trọng khá, và ổn định qua các năm. Thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam vẫn là khu vực Châu Á, kế đến là Châu Phi và Châu Mỹ. Cơ cấu thị trường gạo Việt Nam được thể hiện qua bảng sau: Bảng 5: Cơ cấu giá trị kim ngạch phân theo thị trường. ( Đơn vị tính %) Khu vực 1990 1995 1998 1999 2000 2001 2002 Châu Á 45,0 51,0 52,2 78,0 76,0 55,0 70,0 Châu Phi 39,0 32,0 25,0 14,0 14,0 18,5 12,0 Châu Mỹ 9,6 12,0 16,81 5,0 6,0 16,5 3,0 Các thị trường khác 6,4 5,0 5,99 3,0 4,0 10,0 15,0 Tổng cộng 100 100 100 100 100 100 100 ( Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam số 95, 97-2001, số 75-2002). Từ khi bắt đầu xuất khẩu gạo đến nay thì thị trường chủ yếu của Việt Nam vẫn là thị trường Châu Á (chiếm khoảng 50% tổng giá trị kim ngạch). Thị trường này luôn được Việt Nam theo dõi chặt chẽ, vì hầu hết các nước Châu Á thường có tập quán lâu đời tiêu dùng lúa gạo, đều coi lúa gạo là lương thực chủ yếu của mình. Từ đó Việt Nam chuẩn bị nguồn cung, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu nhập bổ sung đột xuất của khu vực này nhất là thị trường Inđônêsia, Philippin, Iran, Irăc, Trung Quốc… Hiện nay các thị trường khác của Việt Nam cũng đang có sự thay đổi theo chiều hướng tích cực, nhất là thị trường tiềm năng lớn như Châu Phi thì lượng gạo Việt Nam xuất khẩu vào tương đối ổn định qua các năm. Vì vậy đối với thị trường này Việt Nam luôn quan tâm, giữ vững và phát triển hơn nữa. Ngoài ra, các thị trường nhập khẩu gạo Việt Nam thường xuyên như: Nam Mỹ, Trung Đông và Bắc Mỹ, Việt Nam đang từng bước nghiên cứu để không chỉ xuất sang đây loại gạo phẩm cấp trung bình mà là gạo phẩm cấp cao sẽ chiếm ưu thế hơn. Qua nhiều năm xuất khẩu gạo, Việt Nam đã từng bước củng cố và giữ vững được thị trường các nước như: Malaysia, Singapore, Hồng Kông, Hàn Quốc, hiện nay Việt Nam đang từng bước thâm nhập vào thị trường khó tính nhưng lại đầy tiềm năng như Nhật Bản. Năm 1998 là năm thị trường lúa gạo quốc tế biến động lớn do 2 nguyên nhân: Hiện tượng El nino và khủng hoảng tiền tệ Châu Á. Trong năm 1998 c._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc22161.doc