Phát triển kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở VN

Mở đầu Sau hơn 15 năm thực hiện đường lối đổi mới kinh tế (từ 1986 đến nay) , khu vực kinh tế tư nhân nước ta (bao gồm kinh tê cá thể ,tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân) - bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân – đã phát triển rộng khắp trong cả nước, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế ,huy động các nguồn lực xã hội vào sản xuẩt kinh doanh,tạo thêm việc làm,cải thiện đời sống nhân dân , tăng ngân sách nhà nước , góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Tuy nhiê

doc18 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 05/09/2013 | Lượt xem: 172 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Phát triển kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở VN, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
n,kinh tế tư nhân của nước ta còn bộc lộ nhiều hạn chế , yếu kém như : quy mô nhỏ , vốn ít , công nghệ lạc hậu , hiệu quả và sức cạnh tranh yếu…, còn nhiều khó khăn , vướng mắc về môi trường pháp lí và môi trường tâm lí xã hội….Do vậy , để tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân tiếp tuc phát triển đúng định hướng XHCN và có nhiều đóng góp cho nền kinh tế đất nước theo tinh thần Đại hội IX của Đảng cần làm rõ cơ sở lí luận , thực tiễn và đề ra giải pháp đối với việc phát triển kinh tế tư nhân. Nhận thức được tầm quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân đối với nền kinh tế đất nước trong thời quá độ lên CNXH ở Việt nam , em đã chọn đề tài cho bài tiểu luận kinh tế chính trị là : “ Phát triển kinh tế tư nhân trong thời kì quá độ lên CNXH ở Việt Nam ’’. Trong bài làm còn gì thiếu sót thì rất mong sự góp ý của thầy cô. I/ Nhận diện kinh tế tư nhân : Khu vực kinh tế tư nhân bao gồm hai hình thức là : kinh tế cá thể , tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân . Mỗi loại hình lại có những đặc điểm khác biệt . 1/ Kinh tế cá thể , tiểu chủ : Kinh tế cá thể : được hiểu là hình thức kinh tế của một hộ gia đinh hoặc cá nhân hoạt động dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân về TLSX và lao động của chính hộ hoặc cá nhân đó , không thuê mướn lao động làm thuê. Kinh tế tiểu chủ : là hình thức kinh tế do một chủ tổ chức , quản lý và điều hành , hoạt động trên cơ sơ sở hữu tư nhân về TLSX và có sử dụng lao động làm thuê mướn , ngoài lao động của chủ ; quy mô vốn đầu tư và lao động nhỏ hơn các hình thức doanh nghiệp tư nhân , công ty TNHH hoặc công ty cổ phần . Trong một số nghành , nghề ở nông thôn và thành thị , kinh tế cá thể và tiểu chủ có vị trí quan trọng . Nó có khả năng tận dụng tiềm năng về vốn , sức lao động , tay nghề của từng gia đình , từng người lao động . Nhưng đến một trình độ nhất định việc mở rộng sản xuất , kinh doanh của cá thể , tiểu chủ sẽ bị hạn chế vì thiếu vốn , trình độ công nghệ thấp và khó tìm thị trường tiêu thụ , bởi vậy cần sự hỗ trợ của nhà nước để khắc phục những khó khăn nói trên . Các đơn vị kinh tế cá thể , tiểu chủ có thể tồn tại độc lập , hoặc tham gia các loại hinh kinh tế tập thể , hoặc liên doanh liên kết với các doanh nghiệp nhà nước dưới nhiều hình thức . 2/ Kinh tế tư bản tư nhân : Kinh tế tư bản tư nhân là các đơn vị kinh tế mà vốn do một hoặc một số nhà tư bản trong và ngoài nước góp lại để sản xuất – kinh doanh và thuê mướn nhân công . Kinh tế tư bản tư nhân tổ chức dưới nhiều hình thức như xí nghiệp tư doanh , doanh nghiệp cổ phần hoặc công ty TNHH . Nét nổi bật của thành phần kinh tế này là sở hữu tư nhân hoặc sở hữu hỗn hợp , thuê và bóc lột sức lao động của lao động làm thuê , thường đầu tư vào những nghành vốn ít , lãi cao. Trong thời kì quá độ lên CNXH , kinh tế tư bản tư nhân không giữ vai trò thống trị như dưới chế độ TBCN , vì nó không nắm giữ mạch máu kinh tế quan trọng , dù nó còn chiếm tỉ trọng lớn về vốn kinh doanh và giá trị tổng sản lượng. Kinh tế tư bản tư nhân được kinh doanh trong các ngành có lợi cho quốc tế dân sinh mà xã hội không cấm . Nhà nước XHCN có thể góp vốn cổ phần hoặc cho thuê tài sản . Hoặc liên doanh với các tư bản tư nhân trong và ngoài nước , hình thành loại hình tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức : tô nhượng , đại lí gia công , đặt hàng , xây dựng xí nghiệp chung … trên cơ sở bảo đảm lợi ích kinh tế của các nhà tư bản . Kinh tế tư bản tư nhân có mặt tích cực nhưng cũng có những tiêu cực như trốn thuế , lậu thuế , chưa chấp hành nghiêm chỉnh pháp lệnh về kế toán , một số doanh nghiệp mánh lới bòn trút tài sản từ doanh nghiệp và cơ quan nhà nước thành sở hữu tư nhân . II/ Vị trí , vai trò của kinh tế tư nhân hiện nay : Trước những năm 1980, ở nước ta kinh tế tư nhân không được khuyến khích phát triển và là đối tương cải tạo xã hội theo kiểu mệnh lệnh hành chính. Trong thời gian đó nền kinh tế nước ta chỉ có hai hình thức kinh tế chính là : kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể , kinh tế cá thể, kinh tế gia đình và tiểu chủ tồn tại chủ yếu duới dạng phụ thuộc vào kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước , còn kinh tế tư bản tư nhân hoặc đã chuyển thành kinh tế tập thể hoặc kinh tế nhà nước hoặc công ty hợp danh. Kể từ khi thực hiện các chính sách đổi mới kinh tế , nhất là sau đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng(năm 1986), các chính sách đối với kinh tế tư nhân đã thay đổi khá căn bản : kinh tế hộ gia đình và kinh tế cá thể được khuyến khích phát triển ; kinh tế tư bản tư nhân đã được tuyên bố được phát triển bình đẳng với các thành phần kinh tế khác. Đánh giá một cách tổng quát quá trình phát triển kinh tế tư nhân trong giai đoạn vừa qua , vị trí ,vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN , Nghị quyết Hội nghi lần thứ 5 ban Chấp hành Trung ương khoá IX đã khẳng định : “kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân . Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN , góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế ,CNH-HĐH , nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế”. Từ sau Đại hội lần thứ VI Đảng cộng sản Việt Nam đến nay , khu vực khinh tế tư nhân có bước phát triển mạnh mẽ và đã có những đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế xã hội đất nước : - Huy động được các nguồn lực tiềm ẩn trong dân cư để đua vào phát triển sản xuất và kinh doanh . - Khu vực kinh tế tư nhân tạo ra nhiều việc làm , thu hút nhiều lao động xã hội vào sản xuất kinh doanh , tạo thu nhập cho bản thân và gia đình , tạo ra sự hoạt động năng động của nền kinh tế . -Khu vực kinh tế tư nhân phát triển đã đóng góp hôn 40% tổng sản phẩm trong nước , tương đương với khu vực kinh tế nhà nước . -Khu vực kinh tế tư nhân phát triển đã có tác động thúc đẩy quá trình đổi mới cơ chế ,chính sách quản lí kinh tế-xã hội , cải cách hành chính , phù hợp với kinh tế thị trường . III/ Thực trạng của kinh tế tư nhân hiện nay ở Việt Nam : Kể từ khi thực hiện chính sách đổi mới kinh tế , kinh tế tư nhân ở nước ta đã thực sự được hồi sinh và phát triển mạnh mẽ cả về quy mô , phạm vi và linh vực hoạt động . 1/ Sự phát triển về số lượng của khu vực kinh tế tư nhân : - Về hộ kinh doanh cá thể , tiểu chủ : có số lượng lớn và tăng nhanh . Tính đến năm 2003 cả nước có 2,7 triệu hộ kinh doanh cá thể công thương nghiệp , 130.000 trang trại và trên 10 triệu hộ nông dân sản xuất hàng hoá . Nếu tính tới thời điêm năm 2000 , thì hộ kinh doanh thương mại dịch vụ chiếm 51,89% ,số hộ sản xuất công nghiệp chiếm 30,21% ,giao thông vận tải chiếm 11,63% , xây dựng chiếm 0,81% ,các hoạt động khác chiếm 5,64% . - Về doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân : Năm 1991 , cả nước chỉ có 414 doanh nghiệp thì đến năm 1992 có 5.189 doanh nghiệp , năm 1995 có 15.276 doanh nghiệp , năm 1999 có 28.700 doanh nghiệp . Trong giai đoạn 1991-1999 , bình quân mỗi năm tăng thêm 5.000 doang nghiệp Luật doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày 1-1-2000 là một khâu đột phá thúc đẩy sự phát triển vượt bậc của khu vực kinh tế tư nhân . Sau gần 4 năm thực thi Luật doanh nghiệp , đến cuối năm 2003 đã có gần 73.000 doanh nghiệp mới đăng kí , đưa tổng số doanh nghiệp đăng kí lên gần 120.000 doanh nghiệp. 2/ Về quy mô vốn , lao động và lĩnh vực , địa bàn kinh doanh : Cho đến nay , khu vực kinh tế tư nhân đã thu hút một lượng lớn vốn đầu tư xã hội . Vốn đầu tư các doanh nghiệp dân doanh và hộ kinh doanh cá thể đang trở thành nguồn vốn đầu tư chủ yếu đối với sự phát triển kinh tế ở nhiều địa phương . Tỷ trọng đầu tư của các hộ kinh doanh cá thể và các doanh nghiệp dân doanh trong tổng số vốn đầu tư toàn xã hội đã tăng tư 20% năm 2000 lên 23% năm 2001 và 28,8% năm 2002 . Mức vốn đăng kí trung bình/doanh nghiệp cũng có xu hướng tăng lên . theo báo cáo tổng kết 4 năm thi hành luật doanh nghiệp , thời kỳ 1991-1999 vốn đăng ký bình quân/doanh nghiệp là gần 0,57 tỷ đồng , năm 2000 là 0.96 tỷ đồng , năm 2002 là 2,8 tỷ đồng , 3 tháng đầu năm 2003 là 2,6 tỷ đồng . Tính chung , mức vốn đăng ký trung bình của doanh nghiệp là khoảng 1,25 tỷ đồng . Khu vực kinh tế tư nhân , chủ yếu là các doanh nghiệp đã mở rộng các hoạt động kinh doanh trong hầu hết các nghành và lĩnh vực mà pháp luật không cấm.Kinh tế tư nhân không còn chỉ hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp , thương mại , mà đã mở rộng hoạt động trong các ngành công nghiệp , dich vụ cao cấp như công nghiệp sản xuất TLSX , chế biến , công nghệ thông tin , ngân hàng , tài chính , bảo hiểm , tư vấn … 3/ Đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân : Khu vực kinh tế tư nhân đang thực sự trở thành một động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta. -Đóng góp lớn nhất và quan trọng nhất của khu vực kinh tế tư nhân là tạo ra công ăn việc làm . Hệ thống các doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện đang trong quá trình cải cách không tạo thêm được nhiều việc làm mới ; khu vực hành chín nhà nước đang giảm biên chế và tuyển dụng mới không nhiều . Do đó khu vực kinh tế tư nhân chính là nơi thu hút , tạo việc làm mới cho xã hội . Các doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể (phi nông nghiệp) đã sử dụng khoảng 16% lực lượng lao động xã hội với hơn 6 triệu người . Trong 3 năm (2000-2002),các doanh nghiệp dân doanh và hộ kinh doanh cá thể mới thành lập đã tạo ra khoảng 1,5 triệu chỗ làm việc mới . Hầu hết các doanh nghiệp cũng góp phần chủ yếu đào tạo và nâng cao tay nghề cho người lao động và phát triển nguồn nhân lực . Một bộ phận lớn lao đông nông nghiệp đã được thu hút vào các doanh nghiệp và thích ứng với phương thức sản xuất công nghiệp . Sự phát triển của kinh tế tư nhân không chỉ góp phần tạo việc làm , mà còn có tác dụng thúc đẩy nhanh sự dịch chuyển cơ cấu lao động vốn đang rất mất cân đối ở nước ta hiện nay . -Khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp quan trọng vào GDP và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế . Tính đến cuối năm 2003 , kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 8% GDP . Tuy nhiên , theo các nhà kinh tế thì con số thực tế còn lớn hơn nhiều .Trong thực tế , nhiều hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp nhỏ đã không trực tiếp đứng tên trong một số hoạt động giao dịch hoặc uỷ thác cho các doanh nghiệp nhà nước hoặc các kênh khác ở các khâu cuối cùng của quy trình sản xuất. Trong những năm gần đây , khu vực kinh tế tư nhân có tốc đọ tăng trưởng rất nhanh , góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước . Trong 4 năm (2000-2003),tốc độ tăng trưởng kinh tế của khu vực kinh tế tư nhân trong công nghiệp đạt mức 20% năm . Trong nông nghiẹp , khu vực kinh tế tư nhân đã có đóng góp đáng kể trong trồng trọt , chăn nuôi và đặc biệt là trong các nghành chế biến , xuất khẩu . Nhờ sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân , cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã có sự chuyển dịch quan trọng theo hướng sản xuât hàng hoá , đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá ,hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. -Đóng góp về xuất khẩu và tăng nguồn thu ngân sách , theo số liệu thống kê của Bộ Thương mại , đến năm 2002 , khu vực kinh tế tư nhân trong nước đóng góp khoảng 48% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam. Kinh tế tư nhân là nguồn lực chủ yếu phát triển các mặt hàng mới , mở rộng thị trường xuất khẩu. Một số doanh nghiệp đã vươn lên chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu về một số mặt hang quan trọng . Ở một số địa phương , kinh tế tư nhân là khu vực đóng góp chủ yếu về xuất khẩu (Hà Giang : 60% , Bình Thuận :45% , Quãng Ngãi : 34%). -Đóng góp của các doanh nghiệp dân doanh vào ngân sách nhà nước đang có xu hướng tăng nhanh , từ khoảng 6,4% năm 2001 lên hơn 7% năm 2002 . Thu từ thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh năm 2002 đạt 103,6% kế hoạch và tăng 13% so với năm 2001 . Ngoài ra , khu vực kinh tế tư nhân còn góp phần tăng nguồn thu ngân sách như thuế môn bài , VAT trong nhập khẩu và các khoản phí khác . Ở một số địa phương , đóng góp của doanh nghiệp dân doanh chiếm tỷ trọng rất lớn trong ngân sách . Chẳng hạn ở thành phố Hồ Chí Minh khoảng 15% , Tiền Giang 24% , Đồng Tháp 16% , Gia Lai 22% , Quảng Nam 22% , Bình Định 33% ,.v.v… -Khu vực kinh tế tư nhân đã có đóng góp rất lớn trong việc thu hút các nguồn vốn đầu tư xã hội . Tính đến cuối năm 2003 , đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân chiếm 27% tổng đầu tư xã hội của Việt Nam (khoảng 10 tỷ USD) , cao hơn tỷ trọng đầu tư của doanh ngiệp nhà nước . Vốn đầu tư của các doanh ngiệp dân doanh đã đóng vai trò là nguồn vốn đầu tư chủ yếu đối với phát triển kinh tế địa phương . Chẳng hạn , năm 2002 đầu tư của doanh nghiệp dân doanh ở thành phố Hồ Chí Minh đã chiếm 38% tổng số vốn đầu tư xã hội trên địa bàn , cao hơn tỷ trọng vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước và ngân sách hợp lại (36,5%) . -Khu vực kinh tế tư nhân góp phần quan trọng xây dựng môi trường kinh doanh , thúc đẩy phát triển cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN , đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế , xoá đói giảm nghèo . Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân là nhân tố chủ yếu tạo môi trường cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế , phá bỏ dần tính độc quyền của một số doanh nghiệp nhà nước . Cơ chế thị trường ngày càng thích ứng hơn với cơ chế kinh tế mới . Các loại thị trường mới bắt đầu hình thành và phát triển (thị trường hàng hoá-dịch vụ ,thị trường lao động , thị trường vốn , thị trường bất động sản , thị trường khoa học và công nghệ ) . Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta sẽ không thể thực hiên nếu không có sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân. 4/ Một số hạn chế của khu vực kinh tế tư nhân : Một là , hầu hết các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta mới được thành lập , hơn 90% là doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ , kinh nghiệm và năng lực cạnh tranh thấp nên dễ bị tổn thương Theo số liệu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam , hơn 61% doanh nghiệp mới thành lập thiếu nguồn lực cơ bản như vốn , năng lực quản lý , thị trường , đất đai, khó tiếp cận với nguồn cung ứng hỗ trợ . Hai là , khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta nhìn chung năng lực cạnh tranh thấp , trình độ công nghệ và năng lực quản lý kém . Ba là , các doanh nghiệp tư nhân mới chủ yếu tập trung kinh doanh trong các ngành thương mại và dịch vụ sơ cấp . Số lượng doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp chế biến và dịch vụ cao cấp còn rất ít . Bốn là , kinh tế tư nhân , nhất là doanh nghiệp , mới tập trung phát triển ở một số thành phố lớn . Trong khi đó , ở nhiều vùng nông thôn , miền núi …hầu như có rất ít doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân . Năm là , nhiều đơn vị kinh tế tư nhân chưa thực hiện tốt những quy định của pháp luật về lao động , hợp đồng lao động , chế độ bảo hiểm , tiền lương , tiền công , bảo hộ lao động , giờ làm việc…đối với người lao động . Nguyên nhân của tình trạng này xuất phát từ cả phía chủ doang nghiệp lẫn người lao động : -Từ chủ doanh nghiệp , hoặc là không biết (do thiếu thông tin , trình độ thấp) , hoặc do biết mà không thực hiện (do tính răn đe của luật không nghiêm hoặc không có chế tài cụ thể để thực hiện luật ) . -Từ người lao động ,hoặc là không biết (do trình độ thấp ,do thiếu thông tin) , hoặc do biết nhưng không dám đòi hỏi . Sáu là , một số doanh nghiệp , hộ kinh doanh cá thể vi phạm pháp luật , trốn lậu thuế , kinh doanh trái phép , chưa thực hiện đúng Luật doanh nghiệp và các quy định về đăng kí kinh doanh . Bảy là , quản trị nội bộ của nhiều doanh nghiệp còn yếu kém, bất cập như: thiếu chiến lược và kế hoạch kinh doanh , chưa thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo tài chính theo quy định . 5/ Những rào cản đối với sự phát triển kinh tế tư nhân : Kinh tế tư nhân nước ta mới được hình thành và phá triển trong một thời gian ngắn và đang gặp nhiều thách thức . ngoài những hạn chế của chính khu vực kinh tế như đã nêu ở trên , ở nước ta hiện nay đang gặp phải những rào cản từ phía các cơ quan nhà nước cũng như các điều kiện và môi trường kinh doanh . Những vấn đề bức xúc chủ yếu của khu vực kinh tế tư nhân nước ta hiện nay là: Một là , một bộ phận cán bộ , công chức và dư luận xã hội chưa thực sự có cái nhìn đồng thuận về vai trò , vị trí của kinh tế tư nhân cũng như các doanh nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta . Do quán tính tâm lí , một bộ phận không nhỏ trong xã hội , trong đó có cả cán bộ , công chức nhà nước chưa hết mặc cảm với kinh tế tư nhân , chưa nhận thức đúng vị trí , vai trò của kinh tế tư nhẩn trong nền kinh tế nước ta hiện nay , chưa thực sự quán triệt chủ trương ,chính sách phát triển kinh tế tư nhân của Đảng và nhà nước ta .Người có khả năng đầu tư thì có tâm trạng hoài nghi , do dự ; một bộ phân cán bộ ,công chức nhà nước thì chưa tin tưởng , chưa nhiệt tình giúp đỡ ;một bộ phận xã hội thì chưa ủng hộ kinh tế tư nhân . Đồng thời vẫn có nhiều ý kiến cho rằng kinh tế tư nhân là đối lập với định hướng XHCN . Tâm lí dè dặt , e ngại đối với kinh tế tư nhân đang là rào cản cho sự phát triển của khu vực kinh tế này . Từ những biểu hiện sai trái của một số ít doanh nghiệp , một số người còn cho rằng kinh tế tư nhân trốn lậu thuế , làm ăn phi sản phẩm , v.v… Hai là , rào cản do hệ thống cơ chế chính sách chưa đầy đủ , thiếu đồng bộ , nhiều mặt chưa minh bạch . Ba là , công cuộc cải cách hành chính còn nhiều mặt chưa theo kịp với yêu cầu đỏi mới kinh tế . - Tổ chức bộ máy nhà nước vừa cồng kềnh , vừa kém hiệu lực . - Một bộ phận không nhỏ cán bộ ,công chức chưa đủ năng lực , trình độ chậm đổi mới tư duy ; coi việc thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của mình , của cơ quan mình đối với khu vực kinh tế tư nhân như là việc “ban ơn” . Thủ tục hành chính rườm rà làm cho các doanh nghiệp mất nhiều thời gian , tiền bạc và mất thời cơ kinh doanh . Khi gia nhập thị trường ,doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân phải mất nhiều thời gian và còn phải chịu chi phí khá cao . một số nhà nghiên cứu còn cho rằng sau khi đăng kí kinh doanh , doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân còn gặp phải “bức tường đá” về thủ tục hành chính với ba cổ chai là : khắc đấu , lấy mã số thuế và xin hoá đơn . Chi phí gia nhập thị trường của doanh nghiệp ở nước ta còn cao so với các nước trong khu vực . Có những hồ sơ thủ tục không cần thiết như xác nhận địa điểm kinh doanh , hợp đồng thuê trụ sở ,v.v …vẫn còn tồn tại . nhiều thủ tục hành chính gây cản trở cho doanh nghiệp đang được phục hồi dưới nhiều hình thức khác nhau . Cho đến nay , khi gia nhâp thi trường , doanh nghiệp còn phải trải qua 6 bước , đó là :1/ đăng kí kinh doanh ,2/ khắc dấu ,3/ đăng kí mã số thuế ,4/ đóng thuế môn bài ,5/ mua hoá đơn lần đầu và 6/ đăng báo . Bốn là , môi trường pháp lý cũng đang là rào cản đối với kinh tế tư nhân . Điều đó thể hiện ở hệ thống Luật , chính sách chưa đầy đủ , chồng chéo . Một số văn bản chưa theo kịp với các chế tài quy định trong Luật doanh nghiệp .Việc thi hành Luật doanh nghiệp chưa nghiêm túc . Nhiều chủ trương , chính sach của Đảng về khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân chưa được cụ thể hoá và tổ chức thực hiện đúng .Không ít trường hợp cơ quan nhà nước chủ trì soạn thảo các văn bản pháp quy chưa thực sự xuất phát từ yêu cầu của hộ kinh doanh ,của doanh nghiệp mà chủ yếu làm theo tư duy ,mong muốn của cơ quan mình ,níu kéo cơ chế “xin cho” , đẩy khó khăn cho doanh nghiệp . Một số bộ nghành và địa phương lúng túng trong công tác quản lý , chưa thực hiện tốt chức năng hướng dẫn , thông tin và hỗ trợ doanh nghiệp .Một số cán bộ ,công chức do năng lực yếu kém ; do lợi ích cá nhân,cục bộ hoặc do tư duy cũ đã gây khó khăn ,phiền hà cho doanh nghiệp . Những bức xúc về môi trường pháp lí cũng như sự yếu kém, bất cập của các cơ quan quản lí nhà nước ở một số nơi đã làm sai lệch , méo mó những chủ trương , chính sách của Đảng kìm hãm sự phát triển của kinh tế tư nhân . Năm là , môi trường kinh doanh trong nước còn bất cập cho kinh tế tư nhân. -Kinh tế tư nhân đang bị bất lợi trong cạnh tranh với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệpcó vốn đầu tư nước ngoài . -Chi phí trung gian vẫn tiếp tục tăng làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế . Hiện nay giá thành nhiều sản phẩm của Việt Nam cao hơn các nước ASEAN ,Trung Quốc từ 1,2 đến 1,5 lần. Chẳng hạn giá điện,dầu , than,gas ở nước ta cao hơn đến 30% - 40% ;chi phí vận tải cao hơn 1,5 lần , cước điện thoại , Internet vẫn cao hơn 6 lần so với Xingapo ,gần 5 lần so với Philippin , 3 lần so với Inđônêxia . Ngoài ra , các doanh nghiệp còn phải đóng nhiều loại phí , lệ phí khác .Mức chi phí đầu vào cao đã tác động đến giá thành sản phẩm làm cho khu vực kinh tế tư nhân khó có khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa và hạn chế vươn ra chiếm lĩnh thị trường khu vực và thế giới . Tình trạng độc quyền của doanh nghiệp nhà nước trong một số ngành như hàng không ,hàng hải , bưu chính viễn thông , ngân hàng ,xuất nhập khẩu cũng có tác động tiêu cực đến môi trường kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân . -Kinh tế tư nhân đang ở vị thế bất lợi trong việc tiếp cận các nguồn lực , trong đó bức xúc nhất là mặt bằng sản xuất và vốn tín dụng . Sáu là , tiềm lực kinh tế cũng như năng lực quản lý của khu vực dân doanh có hạn ; các điều kiện vật chất ,kĩ thuật (kết cấu hạ tầng kỹ thuật , nguồn nhân lực…) còn nhiều hạn chế . điều đó hạn chế khả năng phát triển quy mô lớn của khu vực kinh tế tư nhân . IV/ Phương hướng và giải pháp nhằm phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam : 1/ Phương hướng phát triển : Thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước có nghĩa là chuyển dịch nền kinh tế của đất nước từ nông nghiệp sang công nghiệp , nâng cao tỷ trọng các ngành sản xuất công nghiệp theo các chỉ tiêu về giá trị sản xuất , về tỷ trọng lao động công nghiệp … Muốn thực hiện được các mục tiêu này cần phải khuyến khích đầu tư nhiều hơn cả về chiều rộng lẫn chiều sâu cho phát triển công nghiệp . Xuất phát từ các mục tiêu , nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn hiện nay , đồng thời tính đến các đặc điểm về quy mô vừa và nhỏ của các cơ sở của khu vực kinh tế tư nhân , cần khuyến khích kinh tế tư nhân đầu tư vào các khu vực và lĩnh vực sau đây : - Đầu tư phát triển các ngành công nghiệp phục vụ phát triển nông nghiệp , nông thôn , gồm nhóm ngành công nghiệp chế biến như xay xát ,gia công chế biến lương thực , thực phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dung trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chế biến nông sản , chuyển từ xuất khẩu sản phẩm sơ chế sang sản phẩm tinh chế vừa tạo việc làm thu hút lao động vừa gia tăng được giá trị sản xuất công nghiệp , giá trị hàng xuất khẩu . Các ngành này không những thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn mà còn tạo điều kiện giải quyết đầu ra cho nông nghiệp . Nhóm ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động như ngành dệt , may, giày da phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu . Những ngành này đòi hỏi vốn không lớn, lao động không cần trình độ cao, đồng thời đây là những ngành nghề truyền thống của kinh tế cá thể, nếu được khuyến khích sẽ được mở rộng về quy mô và phát triển cao hơn cả về công nghệ .Ngành may phát triển sẽ sử dụng được nguyên liệu từ ngành dệt ,ngành dệt phát triển đến lượt mình lại hỗ trợ đầu ra trong phát triển nông nghiệp đó là ngành trồng dâu nuôi tằm . - Nhóm ngành cơ khí chế tạo phục vụ sản xuất nông , ngư nghiệp như sản xuất máy cày , máy kéo , máy xay xát , máy tuốt lúa , các loại tàu thuyền đánh cá , các sản phẩm cơ khí gia công lắp ráp khác phục vụ cho các ngành xây dựng dân dụng , công nghiệp và giao thông nông thôn….Đây chính là những ngành cung cấp tư liệu sản xuất cho sản xuất nông nghiệp . - Nhóm ngành tiểu thủ công mĩ nghệ truyền thống phục vụ xuất khẩu và các ngành hàng tiêu dùngkhác phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng như nhu cầu xuất khẩu . 2/ Giải pháp cụ thể : 2.1/ Tầm vĩ mô : 2.1.1/ Hỗ trợ tài chính : Thành phần kinh tế tư nhân ở Việt Nam vừa được khôi phục lại với thời gian không nhiều trong một nước nông nghiệp nghèo nàn , lạc hậu . Do vậy , vốn cho các hộ, cho các doanh nghiệp tư nhân tất yếu phải được quan tâm ,hỗ trợ từ nhiều hướng và nhiều cách :hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách nhà nước (kể cả miễn , giảm thuế ) , hỗ trợ thông qua các dự án trong và ngoài nước, hỗ trợ thông qua các quỹ và hệ thống ngân hàng . Bộ tài chính cùng Ngân hang Nhà nước cần phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam , Hội Nông dân Việt Nam và các tổ chức hiệp hội khác để xây dựng những chương trình mục tiêu cụ thể theo hướng xác định để trình Chính phủ phê duyệt Do đó cần phải có những định hướng cơ bản cho từng phương thức hỗ trợ tài chính như sau : -Hỗ trợ trực tiếp thông qua ngân sách Nhà nước : Về nguyên tắc ,Nhà nước không bỏ vốn đầu tư ban đầu cho doanh nghiệp tư nhân song phải tạo được tâm lý yên tâm và niềm tin của chủ đầu tư dám chuyển hết số tiền có thể có vào vốn đầu tư . Trong trường hợp cần thiết và những hoàn cảnh cụ thể , Chính phủ hoặc các doanh nghiệp nhà nước có thể tham gia đầu tư thông qua mua trái phiếu hoặc đầu tư liên doanh với các chủ doanh nghiệp tư nhân . Với các doanh nghiệp thuộc dạng nghiên cứu và triển khai cần có sự hỗ trợ của chính phủ về chi phí cho các công trình , sản phẩm nghiên cứu hoặc các chuyến tìm hiểu thị trường nước ngoài được tổ chức hàng năm như các chương trình do các tổ chức có uy tín của Nhật Bản , của các nước ASEAN về việc phát triển các doanh nghiệp ASEAN tổ chức . Những đối tượng đầu tư theo phương thức này phải được thể hiện trong các chương trình mục tiêu nói trên . Ngoài ra ,Chính phủ có thể hỗ trợ một phần vốn điều lệ qua các ngân hàng thương mại thẩm định và cấp vốn hoặc cho vay dài hạn với lãi suất ưu đãi . Đồng thời tranh thủ các dự án của các tổ chức phi chính phủ hoặc các chính phủ cho các doanh nghiệp của phụ nữ , của vùng sâu , vùng xa . -Về vốn vay ngân hàng : Cần giúp khu vực kinh tế tư nhân tiếp cận tốt hơn với ngân hàng qua “Chương trình hỗ trợ vốn với khu vực kinh tế tư nhân” . Mục tiêu của các chương trình này là giúp các nhà kinh doanh hiểu rõ hơn về các dịch vụ của các ngân hàng trên cả nước do Ngân hàng Nhà nước trực tiếp cung cấp thông tin . Đồng thời cần giúp các doanh nghiệp hiểu rõ hơn về chế độ cho vay và ưu đãi vay . Trong điều kiện hiện nay Ngân hang Nhà nước cần có một webside mang tính thống kê cho chương trình này . Mặt khác , Ngân hàng Nhà nước cũng cần phối hợp với các tỉnh thành phố để xác định chính xác hơn danh mục mặt hàng được vay ưu đãi ,tránh tình trạng có tỉnh không đựơc cho vay ưu đãi ngay với mặt hàng chủ lực của tỉnh . Cải tiến về các điều kiện thế chấp tài sản : Nhà nước cần điều chỉnh lại giá nhà , đất cho phù hợp với thực tế . Trong khi chưa có điều chỉnh này , các ngân hang cần phải linh hoạt trong việc định giá đối với tài sản thế chấp để số tiền cho vay gần bằng với giá trị tài sản thế chấp . Mặt khác , hiện nay Chính phủ đã có nghị định về thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng, nhưng trong thực tế Quỹ này đang gặp khó khăn trong việc phát triển ở các địa phương. Do vậy , Ngân hàng Nhà nước cần phối hợp với các địa phương để khai thác tốt quỹ này . Bên cạnh đó cần gia tăng các hoạt động tư vấn và các hoạt động đan xen giữa các ngân hàng với các công ty được cho vay vốn , đồng thời tăng niềm tin giũa các doanh nghiệp với ngân hàng . Về lâu dài cần nghiên cứu vận dụng các kinh nghiệm của các nước phát triển trong việc thành lập các quỹ và các tổ chức ngân hàng chuyên phục vụ doanh nghiệp vừa và nhỏ . 2.1.2/ Bồi dưỡng và nâng cao trình độ nghề nghiệp và quản lý trong khu vực kinh tế tư nhân của Việt nam Trình độ nghề nghiệp và quản lý của các cơ sở tư nhân Việt Nam trong thời gian này cũng có thể coi như một dạng hình thức vốn tri thức . Giải quyết vấn đề này cần phải thông qua những chương trình , dự án khác nhau như Chương trình đào tạo nghề , Chương trình tư vấn phát triển , Chương trình đào tạo quốc gia . nguồn tai trợ cho hoạt động này thu từ các doanh nghiệp : chủ doanh nghiệp phải nộp từ 1-3% thu nhập của công nhân nhưng không cao hơn một mức cố định nào đó 2.1.3/ Cải thiện môi trường tâm lý xã hội đối với khu vực kinh tế tư nhân : Môi trường tâm lý phụ thuộc vào hai yếu tố :xã hội và bản thân cơ sở kinh doanh . Về phía xã hội , nếu giải quyết được nhữngvấn đề nhận thức về thành phần kinh tế và giai cấp , về trách nhiệm của mỗi người về phát triển kinh tế tư nhân thì tâm lí xã hội sẽ được giải toả , niềm tin của doanh nhân sẽ được nâng cao và đầu tư phát triển cũng như hiệu quả của nó với xã hội sẽ có những thay đổi đột biến . Về phía các doanh nhân và cơ sở sản xuất cũng cần phát huy nội lực của mình . Bên cạnh đó ,Nhà nước cần can thiệp buộc các thành viên của khu vực này phải nghiêm chỉnh chấp hành các chế độ đối với người lao động dựa trên các đạo luât cụ thể . 2.1.4/ Hỗ trợ phát triển : -Chính sách hỗ trợ khoa học kĩ thuật – công nghệ cần có chương trình riêng. Chương trình này có thể được thực hiện với sự chủ trì của nhiều cơ quan như Phòng thương mại và Công nghiệp , Hiệp hội các doanh nghiệp vừa và nhỏ và một số ban của Chính phủ . Chương trình này giúp doanh nghiệp thanh toán phần chi phí ngắn hạn đã kí kết với các chuyên gia nước ngoài . -Thành lập thị trường tư vấn cho khu vự kinh tế tư nhân . Ở nước ta trong tình hình phát triển của khu vực kinh tế tư nhân hiên nay thì loại hình này là đòi hỏi cấp bách . Việc phát triển các công ty kiểm toán ở Việt Nam có thể cho phép thành lập các bộ phận tư vấn cho khu vực kinh tế tư nhân . Tuy nhiên vấn đề chất lượng tư vấn cần được nâng cao qua việc kết hợp các công ty kiểm toán trong nước với các công ty kiểm toán quốc tế . Bên cạnh đó các thông tin kinh tế công cộng cần được phát hành trực tiếp trên các phương tiệ thông tin đại chúng như vô tuyên , đài , báo chí , sách nhằm vào những đối tượng cụ thể . Phải thành lập một cơ quan chuyên trách về khu vực kinh tế tư nhân để giải quyết vấn đề này thông qua việc đưa ra , lọc lại các thông tin một cách có chủ đích cho đối tượng duy nhất là kinh tế tư nhân . -Về tạo mặt bằng cho sản xuât – kinh doanh . Cần đẩy nhanh quá trình cấp giấy nhận quyền sử dụng đất , đơn giản hoá các thủ tục cấp đất cho doanh nghiệp, giảm thiểu ảnh hưởng để lỡ cơ hội kinh doanh . Bên cạnh đó cần phải có những cải cách hợp lí trong việc cho thuê đất ở khu vực công nghiệp mới. 2.1.5/ Cải cách hành chính , một bước đột phá cho phát triển kinh tế tư nhân nói riêng cũng như nền kinh tế nói chung Với tình hình như hiện nay , nước ta nhất thiết phải từng._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc35807.doc
Tài liệu liên quan