Thực trạng & Một số giải pháp nhằm chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn ở xã Liệp Tuyết - Quốc Oai - Hà Tây

phần i mở đầu 1.1. Tính cấp thiết của đề tài Sự phát triển hùng mạnh của nền kinh tế của một quốc gia là một trong những cơ sở quyết định sự ổn định của đất nước. Yêu cầu của sự phát triển luôn đòi hỏi một cơ cấu kinh tế hợp lý, xác định rõ mối quan hệ giữa các ngành kinh tế, quan hệ giữa các vùng kinh tế lãnh thổ, quan hệ giữa các thành phần kinh tế. Nhưng mối quan hệ này được biểu hiện cả về chất và số lượng, chúng luôn thay đổi cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong từng

doc78 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 03/10/2013 | Lượt xem: 710 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Thực trạng & Một số giải pháp nhằm chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn ở xã Liệp Tuyết - Quốc Oai - Hà Tây, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
thời kỳ. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nói chung trong đó có cơ cấu kinh tế nông thôn (KTNT) là một đòi hỏi tất yếu khách quan của quá trình vận động phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ lịch sử. Chuyển đổi cơ cấu KTNT nhanh, đúng xu thế của thời đại phù hợp với điều kiện thực tế của mỗi quốc gia cho phép khai thác có hiệu quả các tiềm năng kinh tế, chính trị, xã hội để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH-HĐH) nông nghiệp, nông thôn. Ngược lại, chuyển đổi cơ cấu KTNT chậm, không hợp lý, không những không phát huy được lợi thế so sánh của từng vùng mà thậm chí mà còn cản trở tốc độ phát triển của nền kinh tế, hạn chế tiến trình chuyển biến nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn. Là một quốc gia nông nghiệp, trình độ phát triển thấp, cơ cấu kinh tế chưa được hình thành một cách rõ nét. Trong bối cảnh chung của thế giới, với những thuận lợi cơ bản do cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tạo ra, đòi hỏi phải có bước đột phá thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mới có thể hội nhập vào nền kinh tế thế giới, đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững. Thực hiện mục tiêu trên, Đại hội lần thứ VI Đảng nhân dân cách mạng đã xác định "Lấy chủ trương, chính sách xây dựng cơ cấu kinh tế nông - lâm nghiệp gắn với công nghiệp và dịch vụ ngay từ đầu; coi nông - lâm nghiệp là cơ bản và lấy việc xây dựng công nghiệp chủ yếu làm trọng điểm; khuyến khích và phát triển mạnh ngành dịch vụ theo hướng từng bước hiện đại hoá”. Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cơ cấu KTNT bước đầu đã được hình thành, nhưng so với yêu cầu thì cơ cấu kinh tế đó chưa khai thác được nguồn lực bên trong và tiếp nhận những nguồn lực bên ngoài. Đây thực sự là một trở ngại lớn đối với quá trình chuyển từ sản xuất tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hoá ở cộng hoà dân chủ nhân dân . Để thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn ở , một mặt phải nhận thức sâu sắc về vị trí vai trò của cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn, mặt khác phải đánh giá đúng thực trạng cơ cấu kinh tế hiện nay và những giải pháp hữu hiệu. Với những lý do và ý nghĩa nêu trên chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: "Thực trạng và một số giải pháp nhằm chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn ở xã Liệp Tuyết – Quốc Oai – Hà Tây". 1.2 Mục đích nghiên cứu 1.2.1. Mục đích chung Mục tiêu chung của việc nghiên cứu đề tài thực trạng và giải pháp chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá là xây dựng một cơ cấu kinh tế nông thôn hợp lý, bền vững qua từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội trong những năm tiếp theo trên ba phương diện hiệu quả: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường hướng tới sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hoá, tăng giá trị sản phẩm, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo và cải thiện đời sống nhân dân, tăng tích luỹ cho Nhà nước. 1.2.2. Mục đích cụ thể - Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ cấu KTNT và chuyển đổi KTNT. - Phản ánh thực trạng cơ cấu KTNT và sự chuyển đổi cơ cấu KTNT của xã Liệp tuyết. Đánh giá kết quả và những tồn tại của quá trình chuyển đổi cơ cấu KTNT của xã . - Xây dựng định hướng và một số giải pháp khả thi nhằm chuyển đổi cơ cấu KTNT theo hướng sản xuất hàng hoá của xã giai đoạn 2003 - 2005 - 2010. 1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.3.1. Đối tượng nghiên cứu Tập trung nghiên cứu thực trạng cơ cấu kinh tế của trên các đối tượng như: các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế, các ngành sản xuất và các hộ nông dân do xã quản lý, dựa trên sự đánh giá thực trạng, tổng kết các kết quả đạt được và tồn tại cần tháo gỡ giải quyết, nhằm đưa ra định hướng và giải pháp khai thác tốt hơn mọi nguồn lực vào phát triển KT - XH ở địa phương. 1.3.2. Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung: Vì điều kiện thời gian có hạn, nên chúng tôi chỉ dừng lại nghiên cứu cơ cấu kinh tế và chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo ngành. - Về phạm vi không gian, chủ yếu nghiên cứu tình hình chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo ngành trên địa bàn xã . - Về thời gian: nghiên cứu quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ năm 1995-2002 và dự báo cho những năm tiếp theo từ 2005-2010. - Về thời gian thực tập nghiên cứu đề tài từ 15/06 đến 15/12 năm 2004 Phần II Tổng quan tài liệu 2.1 Một số khái niệm chủ yếu liên quan đến đề tài 2.1.1 Cơ cấu kinh tế Về cơ cấu kinh tế, có nhiều quan điểm khác nhau nhưng nói trung lại: cơ cấu kinh tế là tổng thể hệ thống các mối quan hệ KT- XH, mang tính chất lượng và số lượng của các bộ phận kinh tế hợp thành, có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, tạo thành cấu trúc bên trong của nền kinh tế, được sắp xếp theo một tỷ lệ nhất định, trong những điều kiện không gian, thời gian với sự biến đổi của điều kiện tự nhiên, KTXH nhất định, phù hợp với mục tiêu tăng trưởng và hiệu quả kinh tế của mỗi nước, mỗi vùng kinh tế - lãnh thổ. Cơ cấu kinh tế không ổn định mà luôn vận động và hoàn thiện theo quan điểm hệ thống, nếu coi cơ cấu kinh tế là một hệ thống thì mỗi ngành là các phần tử của hệ thống, các phần tử này có mối quan hệ tỷ lệ tương tác nhau. Sự vận động của các phần tử luôn đảm bảo sự hoàn thiện và phát triển bền vững của hệ thống kinh tế đó. 2.1.2 Cơ cấu kinh tế nông thôn a. Khái niệm Nền kinh tế quốc dân gồm 2 khu vực kinh tế đặc trưng là: KTNT và kinh tế thành thị. Kinh tế nông thôn được phân biệt với kinh tế thành thị không chỉ đơn thuần bởi đặc trưng của các ngành mà còn bởi đặc trưng về mặt lãnh thổ, gắn liền với vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, phân công lao động xã hội và các quan hệ xã hội khác. Do vậy, KTNT là một khái niệm để diễn đạt một tổng thể KT- XH diễn ra trên địa bàn nông thôn gồm các lĩnh vực: nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ... trên địa bàn đó . Như vậy, cơ cấu KTNT là một tổng thể mối quan hệ kinh tế trong khu vực nông thôn có mối quan hệ hữu cơ với nhau theo những tỷ lệ nhất định về mặt lượng và liên quan chặt chẽ về chất. Chúng có tác động qua lại nhau trong những điều kiện không gian và thời gian nhất định tạo thành một hệ thống kinh tế trong nông nghiệp nông thôn . b. ý nghĩa của chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn Cơ cấu KTNT là một nhân tố quan trọng hàng đầu để phát triển KTNT một cách có hiệu quả và bền vững. Nhưng ngày nay xu hướng phát triển cao của nền KT- XH, đặc biệt là sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động ngày càng thể hiện rõ nét. Vì vậy nông thôn không chỉ đơn thuần là khu vực chỉ có hoạt động sản xuất nông nghiệp đơn thuần mà nó ngày càng phát triển nhiều ngành sản xuất khác phong phú, đa dạng hơn như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và cả dịch vụ sinh thái, du lịch làng nghề truyền thống. Khu vực KTNT là khu vực kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Điều quan trọng hơn cả bởi lẽ đây là nơi trực tiếp sản xuất ra lương thực, thực phẩm cung cấp đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con người. Đồng thời cũng là nơi cung cấp nguyên liệu cho các ngành sản xuất khác, và đây cũng là một thị trường tiêu thụ rộng lớn cho tất cả các ngành sản xuất trong nền kinh tế quốc dân. Các mối quan hệ trong cơ cấu kinh tế nông thôn phản ánh trình độ phát triển của phân công lao động xã hội, của quá trình chuyên môn hoá, hợp tác hoá sự dưới hình thức này hay hình thức khác. Cơ cấu KTNT càng phức tạp cả chiều rộng và chiều sâu thì càng phản ánh trình độ phát triển cao hay thấp của lực lượng sản xuất và phân công lao động trong khu vực nông thôn . Qua đó chúng ta có thể thấy: để có một cơ cấu KTNT hợp lý là cả một quá trình phức tạp đòi hỏi đồng thời giải quyết hàng loạt mối quan hệ KT-XH, phải có bước đi đúng đắn và có sự phối hợp chỉ huy giữa các ngành, các cấp gắn liền với điều kiện hoàn cảnh cụ thể. Tóm lại, chuyển đổi cơ cấu KT NT ở nước nói chung và ở xã Liệp Tuyết nói riêng có ý nghĩa kinh tế – xã hội nhiều mặt: Nhằm khai thác và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả, Lợi dụng được lợi thế so sánh giữa các vùng, các địa phương, các đơn vị sản xuất, hướng cho các chủ thể sản xuất đi vào sản xuất kinh doanh những ngành có hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu của thị trường và xã hội, thay đổi cách suy nghĩ và cách nhìn nhận của người nông dân đối với các ngành sản xuất, làm cơ sở cho việc lựa chọn và phối hợp sử dụng các yếu tố đầu vào, đầu ra hợp lý hơn. Đồng thời góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, phát triển một nông thôn bền vững giàu đẹp, văn minh và hiện đại. c. Nội dung cơ cấu kinh tế nông thôn Cũng như cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu KTNT gồm có 3 nội dung: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế. Như vậy, nhờ có sự phân công lao động xã hội theo ngành là cơ sở hình thành và phát triển nền kinh tế. Việc phân công lao động theo ngành còn dựa theo quan hệ cung cầu trên thị trường, theo tổng cầu và tổng cung của nền kinh tế, nó đảm bảo sản xuất theo nhu cầu thị trường. Cơ cấu ngành của nền kinh tế KTNT bao gồm 3 nhóm: nông nghiệp, công nghiệp nông thôn và dịch vụ nông thôn. Tiền đề của phân công lao động phụ thuộc vào năng lực, trình độ của người lao động, Biểu hiện bằng năng suất lao động nông nghiệp. Trước hết là năng suất lao động của khu vực sản xuất lương thực phải đạt ở mức nhất định, đảm bảo số lượng và chất lượng lương thực cần thiết cho xã hội mới tạo nên sự phân công lao động giữa những người sản xuất lương thực với những người sản xuất nguyên liệu cho công nghiệp, người làm chăn nuôi... 2.1.3. Hàng hoá và sản xuất hàng hoá Khi nền sản xuất ở nông thôn phát triển đến một mức độ cao, thì nó thoát khỏi tình trạng tự cung, tự cấp. Người sản xuất ra những sản phẩm không chỉ cho mình có sản phẩm đem ra trao đổi trên thị trường xã hội khi đó những sản phẩm đó trở thành hàng hoá. Hàng hoá có 2 thuộc tính: - Giá trị và giá trị sử dụng, giá trị của hàng hoá được xác định bởi lao động xã hội kết tinh trong sản xuất hàng hoá đó, hàng hoá càng phát triển, nhu cầu của con người trong xã hội ngày càng phong phú và đa dạng, thì nhu cầu trao đổi sản phẩm hàng hoá ngày càng phong phú và tăng lên. Sản xuất hàng hoá là sản xuất ra sản phẩm để bán “Chuyển quyền sở hữu và sử dụng”. Sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển dựa trên cơ sở phát triển của các phương thức sản xuất và phân công lao động xã hội. Nhu cầu các sản phẩm dịch vụ của xã hội đa dạng hơn đời sống của con người ngày càng một nâng lên. Điều đó làm cho quá trình trao đổi sản phẩm hàng diễn ra ở Nông thôn ngày càng mạnh mẽ và đa dạng hơn. 2.1.4. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá là quá trình đưa nền kinh tế nông thôn từ trình độ thấp lên trình độ cao, tiến bộ được cải thiện bởi đặc trưng thay đổi về tỷ lệ % giữa các loại sản phẩm, giữa các bộ phận cấu thành của ngành và nội bộ từng ngành cụ thể, giữa các yếu tố đầu tư cho sản xuất. Theo nội dung chuyển đổi bao gồm: - Chuyển đổi cơ cấu sản phẩm hàng hoá theo ngành công nghiệp nông lâm thuỷ sản, dịch vụ và xây dựng (khối lượng và giá trị). - Chuyển đổi cơ cấu hàng hoá trong từng ngành công nghiệp, nông lâm nghiệp, thuỷ sản và dịch vụ và xây dựng cơ bản (khối lượng và giá trị). - Chuyển đổi cơ cấu lao động trong các ngành và nội bộ từng ngành. - Chuyển đổi cơ cấu vốn đầu tư cho các ngành, Nội bộ ngành và các khâu sản xuất.... - Trong nông nghiệp chuyển đổi cơ cấu sản phẩm hàng hoá trong từng ngành trồng trọt, chăn nuôi (khối lượng và giá trị). Chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng cũng như vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu diện tích nông nghiệp, đất gieo trồng, cơ cấu lao động, cơ cấu vốn đầu tư... 2.2 Đặc trưng của cơ cấu kinh tế nông thôn 2.2.1 Cơ cấu kinh tế nông thôn chịu sự tác động của các yếu tố khách quan Cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu KTNT nói riêng được hình thành do sự phát triển của sản xuất và phân công lao động xã hội. Với mỗi một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất nhất định sẽ có một cơ cấu kinh tế cụ thể tương ứng. Do vậy, cơ cấu KTNT hình thành và chuyển đổi phát triển như thế nào? đều phụ thuộc và chịu sự chi phối của các điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị xã hội chứ không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Vì vậy có thể nói quá trình xác lập và biến đổi cơ cấu KTNT ở mỗi thời kỳ khác nhau, ít nhiều đều chịu sự tác động, chi phối của con người thông qua các quyết định sản xuất và kinh doanh. 2.2.2 Cơ cấu kinh tế nông thôn mang tính lịch sử, xã hội nhất định Như đã phân tích ở trên, cơ cấu KTNT là tổng thể các mối quan hệ kinh tế được xác lập theo những tỷ lệ nhất định về mặt lượng trong những phạm vi thời gian và không gian cụ thể. Tại thời điểm đó, do những điều kiện tự nhiên, KT- XH, các tỷ lệ đó được xác lập và hình thành theo một cơ cấu nhất định. Nhưng một khi có những biến động trong những điều kiện nói trên tới một mức nào đó thì mỗi quan hệ này buộc phải thay đổi và hình thành một cơ cấu kinh tế mới phù hợp. Như vậy, có thể nói: cơ cấu kinh tế nông thôn mang tính lịch sử xã hội nhất định. 2.2.3 Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn không ngừng vận động, biến đổi theo xu hướng ngày càng hoàn thiện, hợp lý và có hiệu quả Cơ cấu KTNT luôn gắn liền với sự biến đổi của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội. Trình độ của lực lượng càng phát triển, cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học, kỹ thuật công nghệ dẫn đến phân công lao động xã hội tỷ mỉ, sâu sắc ngày càng cao sẽ kéo theo cơ cấu KTNT ngày càng hoàn thiện. Quá trình vận động, biến đổi của cơ cấu KTNT không chỉ xảy ra khi có sự thay đổi của các yếu tố, các bộ phận trong nền kinh tế quốc dân mà quá trình này còn xảy ra ở ngay tại bản thân nó để thích ứng với thay đổi này. 2.2.4 Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn là một quá trình luôn phù hợp với quy luật thực tế khách quan Cũng như cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu KTNT nói riêng luôn phải thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các điều kiện và lịch sử phát triển xã hội. Quá trình vận động và chuyển hoá xẩy ra từ cơ cấu kinh tế cũ sang cơ cấu kinh tế mới đều diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định. Bản chất của quá trình này: đó là sự thay đổi về lượng và chất của các sự vật, hiện tượng KT-XH. Do vậy, chúng ta phải nắm bắt các quy luật khách quan của chúng, tuỳ thuộc vào diễn biến thực tế để tác động nhằm đạt được mục tiêu đặt ra. 2.2.5 Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn vận động, phát triển trên một địa bàn rộng lớn, phức tạp Kinh tế nông thôn diễn ra trên một phạm vi rộng lớn và hết sức đa dạng mà sản xuất ở đó phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, KTXH, đặc biệt ở ngành nông nghiệp. Trình độ lao động và phân công lao động xã hội còn ở mức thấp, phong tục tập quán cũng có nhiều khác biệt giữa các cộng đồng dân cư. Trong quá trình đổi cơ cấu KTNT không thể không tính toán kỹ lưỡng và lựa chọn cơ cấu hợp lý. Trong nội bộ ngành việc lựa chọn cơ cấu đầu tư, cơ cấu sản phẩm và việc tổ chức hoạt động như thế nào cho hiệu quả tốt nhất luôn là mục tiêu chiến lược. Để làm được việc đó đối với từng cơ cấu ngành trong các hoạt động sản xuất trước hết phải khai thác có hiệu quả nhưng ưu thế và thuận lợi về tài nguyên thiên nhiên như: đất đai, địa hình, khí hậu, vị trí địa lý, ưu thế truyền thống và các tiềm năng vốn có về KTXH, kể cả những ảnh hưởng thuận lợi của xu thế phát triển bên ngoài. 2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn 2.3.1 Nhóm nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên Nhóm này ảnh hưởng đến cơ cấu KTNT nhất là ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu ngành nông nghiệp (theo nghĩa rộng) bao gồm: vị trí địa lý, đất đai, địa hình, khí hậu, tài nguyên, khoáng sản... Các nhân tố tự nhiên tác động trực tiếp tới sự hình thành và vận động biến đổi cơ cấu KTNT. Trong các điều kiện tự nhiên trên các điều kiện về đất đai, khí hậu, vị trí địa lý có ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của nông nghiệp và qua đó ảnh hưởng gián tiếp tới các ngành khác. Mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ với vị trí địa lý, điều kiện khí hậu, đất đai và hệ sinh thái khác nhau dẫn đến sự khác nhau về số lượng và quy mô các ngành KTNT. Có vùng lãnh thổ có những thuận lợi phát triển ngành này mà các vùng khác không có và ngược lại, từ đó tạo ra những lợi thế so sánh. Đây là cơ sở tự nhiên hình thành nên các vùng kinh tế lãnh thổ, thông qua việc bố trí các ngành sản xuất thích hợp với tiềm năng và lợi thế của mỗi vùng, tạo thuận lợi đi sâu vào chuyên môn hoá, tập trung hoá sản xuất, hình thành vùng sản xuất trọng điểm sản xuất nông lâm ngư nghiệp, sản phẩm hàng hoá cao cùng với sự phát triển chung của ngành công nghiệp và dịch vụ trên từng địa bàn lãnh thổ. Tuy nhiên không phải lúc nào điều kiện tự nhiên cũng thuận lợi cho hình thành và phát triển cơ cấu KTNT. Các điều kiện thời tiết, khí hậu luôn có diễn biến phức tạp, bất ngờ đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất, đặc biệt là ngành nông nghiệp. Vì vậy chúng ta luôn phải linh hoạt trong tổ chức sản xuất và có phương án nhằm giảm thiểu thiệt hại khi có sự biến đổi bất lợi của các điều kiện tự nhiên. 2.3.2 Nhóm nhân tố thuộc về kinh tế - xã hội Các nhân tố KTXH ảnh hưởng tới cơ cấu KTNT bao gồm: thị trường (trong và ngoài nước), hệ thống các chính sách vĩ mô của Nhà nước, vốn, cơ sở hạ tầng trong nông thôn, sự phát triển của các khu công nghiệp, đô thị, kinh nghiệm, tập quán và truyền thống phong tục của dân cư. Trong điều kiện kinh tế hàng hoá các quan hệ kinh tế được thực hiện thông qua thị trường. Theo tính chất của sản phẩm trao đổi trên thị trường, có thể phân thành thị trường hàng hoá tiêu dùng, dịch vụ và thị trường các yếu tố sản xuất. Do sự phát triển của xã hội ngày càng đa dạng về nhu cầu, đòi hỏi về chất lượng ngày một cao, càng khiến các ngành, các thành phần kinh tế phải linh hoạt trong bố trí cơ cấu sản phẩm, cơ cấu đầu tư hợp lý. Hiện nay ta thực hiện các chính sách mở cửa của nền kinh tế và xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, ngoài mặt tích cực thì luôn ẩn chứa các tác động bất lợi vốn có của nền kinh tế thị trường mang tính chất toàn cầu. Thông qua các quan hệ quốc tế, các quốc gia ngày càng có điều kiện tham gia sâu vào quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế. Đây là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu KTNT. Mặt khác, thông qua hợp tác và tham gia thị trường quốc tế càng thuận lợi hơn cho các cơ hội tìm kiếm các công nghệ, kỹ thuật mới cũng như các nguồn vốn đầu tư để phát triển nhanh nền kinh tế, đồng thời góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển đổi cơ cấu KTNT. Trong điều kiện kinh tế thị trường, các chính sách kinh tế vĩ mô là công cụ quản lý và điều tiết cực kỳ quan trọng mà Nhà nước sử dụng nhằm thực hiện các chức năng kinh tế của mình. Chức năng quan trọng của chính sách kinh tế vĩ mô là tạo ra các động lực kinh tế chú trọng đến đảm bảo lợi ích của người sản xuất và tiêu dùng. Các chính sách còn tạo hành lang pháp lý nghĩa vụ và quyền bình đẳng cho mọi ngành, mọi thành phần kinh tế khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhằm thực hiện chức năng kinh tế Nhà nước không còn cách nào khác phải ban hành một hệ thống các chính sách kinh tế vĩ mô và cùng với các công cụ quản lý Nhà nước khác để điều tiết và thúc đẩy việc hình thành một cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu ngành hợp lý, phù hợp với điều kiện tự nhiên KTXH. Để hình thành hay chuyển đổi cơ cấu kinh tế đòi hỏi phải có vốn và cơ sở hạ tầng kỹ thuật tương xứng với nhu cầu của quá trình chuyển đổi các nguồn lực đầu tư chủ yếu để hình thành hay chuyển đổi cơ cấu KTNT gồm: nguồn vốn tự có của chủ thể kinh tế, vốn vay, vốn ngân sách, vốn đầu tư trực tiếp hay gián tiếp của nước ngoài và vốn tài trợ phi Chính phủ của các tổ chức, cá nhân. Các nguồn vốn trên có ảnh hưởng trực tiếp và rất lớn tới sự hình thành, phát triển của các ngành, các thành phần kinh tế và các vùng kinh tế lãnh thổ. Cùng với sự nâng cao trình độ công nghệ kỹ thuật trong nông thôn và thông qua đó ảnh hưởng tới quá trình chuyển đổi cơ cấu KTNT cả chiều rộng cũng như chiều sâu. Cơ sở hạ tầng có phát triển thì mới đảm bảo cho nền kinh tế hàng hoá phát triển, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho dân cư nông thôn. Ngoài những nhân tố kinh tế, xã hội chủ yếu thì kinh nghiệm tập quán sản xuất, truyền thống văn hoá xã hội của dân cư nông thôn cũng có ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của các ngành nghề sản xuất trong mỗi vùng và qua đó có ảnh hưởng tới cơ cấu KTNT. 2.3.3 Nhóm nhân tố về tổ chức, kỹ thuật Những nhân tố về tổ chức, kỹ thuật bao gồm: quá trình tổ chức sản xuất, phát triển và ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất. Tổ chức sản xuất là đưa ra các kế hoạch mục tiêu và quản lý điều hành như thế nào để đạt được những mục tiêu đó với hiệu quả kinh tế cao. Gắn liền với quá trình tổ chức sản xuất và việc áp dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật, nhằm giảm bớt các chi phí, giảm giá thành sản phẩm nâng cao chất lượng sản phẩm và tối đa hoá lợi nhuận. Trình độ cơ giới hoá, tự động hoá là những tiêu chuẩn đánh giá trình độ trang bị kỹ thuật trong cơ cấu KTNT đó là mức độ: thuỷ lợi hoá, điện khí hoá, cơ giới hoá, hoá học hoá. Ngày nay khoa học, kỹ thuật đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, nhưng việc áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại không có nghĩa là quên đi các kinh nghiệm quý báu của làng nghề truyền thống, những công cụ cải tiến nửa cơ khí. Điều này có nghĩa rằng trong điều kiện KTNT hiện nay, chúng ta đã biết kết hợp nhiều trình độ công nghệ, vừa tận dụng công nghệ sẵn có và từng bước cải tiến nâng cao, vừa cố gắng tranh thủ nhanh công nghệ mới, biết lựa chọn từng khâu, từng mặt trong mỗi ngành, mỗi vùng và thành phần kinh tế có khả năng tiến thẳng vào công nghệ hiện đại. Cơ cấu KTNT chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau. Mỗi nhân tố đều có vai trò, vị trí tác động nhất định tới cơ cấu KTNT. Có những nhân tố tác động tích cực, nhưng cũng có những nhân tố tiêu cực, có nhân tố vào thời điểm này, vùng này, ngành này được coi là năng động nhưng vào thời điểm khác lại được coi là trì trệ cho chuyển đổi cơ cấu KTNT. Nắm được các yếu tố ảnh hưởng trên, từ đó có thể lựa chọn một cách linh hoạt cơ cấu kinh tế nào hợp lý nhất, phù hợp lý nhất. 2.4 Những kinh nghiệm chủ yếu về chuyển đổi cơ cấu Kinh tế nông thôn của một số nước trong khu vực 2.4.1 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp Trong khoảng 30 năm từ 1950-1980 ở các nước khối ASEAN và các nước trong khu vực châu á đều chú trọng tới cơ giới hoá, hiện đại hoá, sản xuất nông nghiệp nhằm tăng năng suất và chất lượng sản phẩm cây trồng vật nuôi. Thái Lan là nước đưa máy móc vào sản xuất nông nghiệp từ cuối những năm 50 phục vụ cho đất và bơm nước. Số lượng máy kéo làm đất ở Thái Lan tăng nhanh từ hơn 250 chiếc vào 1957 đến 1992 đã có tới 1.084.331 chiếc (trong đó máy kéo nhỏ chiếm 984.530 chiếc). Mức độ cơ giới hoá được 100%. Khâu tưới nước mức độ cơ giới hoá đạt 50% và công tác phòng trừ sâu bệnh đạt trên 75%. Không chỉ cơ giới hoá ở khâu sản xuất ở Thái Lan đặc biệt coi trọng cơ giới hoá hiện đại hoá ở khâu chế biến. Đối với khâu giết mổ gia súc, gia cầm nhờ lắp đặt các dây chuyền hiện đại đạt các tiêu chuẩn quốc tế mà có tới 24 công ty được phép xuất khẩu sang các nước EU . ở Đài Loan mức độ cơ giới hoá nông nghiệp đã đạt ở mức cao, đảm bảo cơ giới hoá ở khâu làm đất, tươi nước trên 98%, phun thuốc trừ sâu bệnh 85%, khâu thu hoạch 95%... Nông nghiệp Đài Loan cũng đang đi lên tự động hoá với kỹ thuật cao nhất là nghề trồng hoa. 2.4.2 Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển công nghiệp nông thôn với nhiều hình thức đa dạng Trên cơ sở các ngành nghề truyền thống và các làng nghề, các nước đã coi trọng việc đưa những tiến bộ kỹ thuật mới để đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng và dần từng bước hiện đại các làng nghề để tạo sản phẩm lớn đáp ứng mọi yêu cầu trên thị trường. Xí nghiệp Hương Trấn không chỉ tăng nhanh về số lượng, đa dạng hoá các hình thức sở hữu, mà còn mở rộng phạm vi sản xuất kinh doanh với nhiều ngành nghề công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ. Đến cuối năm 1992 tổng xí nghiệp hương trấn trên 20 triệu đơn vị, giá trị sản lượng đạt 1,27 tỷ nhân dân tệ thu hút 105 triệu lao động. Inđônêxia, chính phủ đã đề ra các chương trình phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn bằng nhiều hoạt động khác nhau như: tổ chức ra trung tâm trợ giúp công nghiệp nhỏ, đặt mối quan hệ với công nghiệp lớn. Để thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài, Chính phủ đã đề ra chính sách ưu tiên công nghiệp nhỏ chế biến nông sản xuất khẩu cùng với các chính sách thuế hấp dẫn. 2.4.3 Chuyển đổi từ nền sản xuất tự nhiên, tự cấp, tự túc sang ngành nông nghiệp đa canh, sản xuất gắn với chế biến hướng về xuất khẩu Malaixia tiến hành công nghiệp hoá bắt đầu từ nông nghiệp. Người Malaixia phát triển nông nghiệp không phải lấy lương thực là trọng tâm như ở nhiều nước châu á khác, mà họ tập trung vào khai thác và phát huy thế mạnh truyền thống. Trong năm 1960, đi đôi với thâm canh, Malaixia đầu tư phát triển diện tích cây cao su, cọ dầu xuất khẩu. Trong thời gian này sản lượng dầu cọ và cao su chiếm 75% và 62% trên toàn thế giới. Nhằm phát triển công nghiệp trong điều kiện xuất phát từ nông nghiệp lạc hậu, Thái Lan đã bắt đầu ứng dụng các thành tựu công nghệ sinh học vào sản xuất. Sản lượng sắn của Thái Lan dứng đầu châu á (20 triệu tấn). Hoa các loại của Thái Lan mới xuất hiện trên thị trường thế giới vào những năm cuối thập niên 80, nhưng đã nhanh chóng tìm được chỗ đứng. Kim ngạch xuất khẩu hàng năm đạt 400 triệu đô la Mỹ với nhiều loại hoa đa dạng 2.4.4 Kinh nghiệm của Việt Nam Việt Nam là một trong những nước có điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp toàn diện. Tuy vậy, nếu xem xét cụ thể về các yếu tố như khí hậu, địa hình, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất nhất là trình độ quản lý kinh tế thì cũng còn nhiều vấn đề phức tạp khó khăn gây ra cho sự phát triển nông nghiệp bền vững cho các ngành, các thành phần kinh tế, các vùng trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn. Sau khi cách mạng thành công nông nghiệp Việt Nam còn đang trong tình trạng lạc hậu chủ yếu tập trung vào sản xuất lương thực, thực phẩm, đại bộ phận lao động và dân cư sống ở nông thôn, để nhanh chóng đưa nền kinh tế miền Bắc phát triển theo hướng công nghiệp nông nghiệp hiện đại, làm hậu thuẫn cho cách mạng miền Nam, Đảng lao động Việt Nam (Đại hội toàn quốc lần thứ III) có chủ trương” Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng hợp lý, đồng thời phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ nên Việt Nam đã tập trung sức lực, vốn liếng cho sự phát triển công nghiệp nhất là công nghiệp nặng. Do chưa có sự đầu tư thích đáng, cộng với những chính sách không phù hợp đã triệt tiêu tính tích cực của người lao động, tiềm năng, nguồn lực trong nông thôn chưa được phát huy có hiệu quả. Nhiều cánh đồng còn hoang hoá, năng suất lao động thấp, nguồn lực bị lãng phí nhiều. Vào cuối thập kỷ 80 nhất là từ khi có Nghị quyết 10 người nông dân được thực sự được giao quyền sử dụng và làm chủ trên mảnh đất của mình và nhiều chính sách được đổi mới đã tác động lớn đến sự phát triển kinh tế và đổi mới cơ cấu kinh tế nông thôn . Năm 1989 giải quyết được cơ bản vấn đề an ninh lương thực và bắt đầu có xuất khẩu gạo, năm 1990 đạt được 21 triệu tấn lương thực năm 1998 đạt hơn 31 triệu tấn lương thực và năm 1989 đã bước đầu xuất khẩu gạo và hiện nay đã trở thành cường quốc về xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới. Năm 1995 xuất khẩu được 1,988 triệu tấn gạo, năm 1999 xuất được 4,508 triệu tấn , năm 2000 xuất khẩu được 3,5 triệu tấn và đang chiếm lĩnh trên thị trường thế giới về nhiều nông sản như cà phê, hạt điều, cao su, thuỷ sản, tỷ lệ nghèo đói trong nông thôn đến nay chỉ còn khoảng 15 - 16%. Nguyên nhân chính dẫn đến những thành công trong nông nghiệp nông thôn Việt Nam trong thập kỷ qua là: Việt Nam có đường lối đổi mới cơ chế quản lý và đổi mới hệ thống chính sách vĩ mô trong nông nghiệp nông thôn. nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào nông nghiệp nông thôn với tốc độ nhanh thúc đẩy cơ cấu KTNT chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá. Các nguồn lực được tăng cường về số lượng lẫn chất lượng đặc biệt là nâng cao năng lực lãnh đạo và chỉ đạo cũng như trình độ quản lý và kỹ năng của người lao đông. Tuy đạt được những thành công lớn nhưng Việt Nam cũng còn nhiều khó khăn và thách thức đặt ra cần giải quyết đó là: Tốc độ chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng sản xuất hàng hoá còn chậm. Phần III đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 3.1.1 Vài nét về đặc điểm tự nhiên của xã Liệp Tuyết- Quốc Oai- Hà Tây Xã Liệp Tuyết nằm ở phía Tây Bắc của huyện Quốc Oai, cách huyện lỵ khoảng 40 km. Là một xã có quy mô 5 thôn, diện tích tự nhiên toàn xã là 363,9 trong đó có diện tích canh tác là 255,3 ha Địa hình xã Liệp Tuyết nhìn chung khôg bằng phẳng, nhưng có thể phát triển được hầu hết các cây ngắn ngày Xã Liệp Tuyết mang khí hậu đặc trưng của khu vực đồng bằng Bắc Bộ, một năm chia làm 2 mùa rõ rệt( xem Bảng 1 và Bảng 2) 3.1.2 Vài nét về đặc điểm kinh tế - xã hội của xã Liệp Tuyết Xã liệp Tuyết có tổng diện tích đất tự nhiên là 363,9 ha, trong đó đất nông nghiệp 265,9 ha, diện tích trồng lúa nước 197,3 ha. Đất trồng cây hàng năm tăng lên năm 2003 so với năm 2002 tăng lên 10,79%. Riêng đất chưa sử dụng còn rất lớn, năm 2003 diện tích đất chưa sử dụng còn 185,1 ha do vậy Nhà nước cần chú trọng quan tâm giải quyết vấn đề này. Dân số của xã là 4749 người. Năm 2003 so với năm 2002 tăng 6,75%. Số dân làm nông nghiệp 2789 người chiếm 52,27%. Dân số sống ở nông thôn là 91,6%, ở thị trấn là 8,4%. Số hộ làm nông nghiệp năm 2003 là 363 hộ chiếm 52,27%, số hộ làm nông nghiệp có xu hướng tăng lên năm 2003 so với năm 2002 tăng 9,83%. Nguyên nhân chủ yếu là ngành nghề công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chưa phát triển nông dân chủ yếu làm bằng nghề nông. Các chỉ tiêu bình quân về nhân khẩu/hộ có xu hướng giảm đi năm 2003 bình quân một hộ là 5,32 người giảm so với năm 2002 là 1,76%, lao động/hộ có xu hướng tăng lên năm 2003 bình quân lao động trên một hộ là 2,61 người tăng so với năm 2002 là 0,77%, lao động nông nghiệp trên một hộ nông nghiệp năm 2003 là 2,27 người giảm đi so với năm 2002 là 0,87._.% lý do chủ yếu là số hộ nông nghiệp do tách hộ của một số gia đình tăng lên làm cho xu hướng bình quân lao động nông nghiệp/hộ nông nghiệp giảm đi. * Lượng mưa bình quân năm 11.759,8mm; nhiệt độ bình quân thấp nhất là 60C, nhiệt độ bình quân cao nhất 29,00 C, độ cao so với mặt biển 250 - 1200 m. 3.1.3 Những tiềm năng, thách thức và khó khăn chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn của xã Liệp Tuyết 3.1.3.1 Những lợi thế tiềm năng của xã Liệp tuyết Tiềm năng phát triển nông thôn của Xã liệp Tuyết khá dồi dào và phong phú bởi: có thị trường tiêu thụ tốt, có hệ thống giao thông nông thôn, hệ thống thuỷ lợi và thông tin liên lạc rất thuận lợi. Người dân Xã Liệp Tuyết từ lâu đời đã có kinh nghiệm thâm canh cây trồng lúa, đặc biệt là cà phê đạt năng suất, chất lượng cao. Bên cạnh đó xã Liệp Tuyết cũng gặp không ít những khó khăn đó là: cơ sở công nghiệp chế biến chưa phát triển, các công trình thuỷ lợi đã và đang xuống cấp, chưa được tu sửa, thị trường lao động chưa hình thành và phát triển là yếu tố tác động lớn đến hộ tham gia sản xuất nông nghiệp và chuyển đổi cơ cấu KTNN. Trên đây chúng tôi giới thiệu vài nét về đặc điểm của xã Liệp Tuyết để trên cơ sở đó phát triển sản xuất nông nghiệp và chuyển đổi cơ cấu KTNT, cần nắm vững để có cơ sở phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm có hiệu quả. Hiện nay Với 363 hộ, dân số nông nghiệp chiếm 52,27%, lao động chính là 2789 người làm việc rất cần cù chịu khó, có tinh thần cách mạng và tương trợ giúp đỡ nhau cao trong phát triển kinh tế - xã hội. Được sự quan tâm của cán bộ lãnh đạo của các cấp, các ngành trong việc phát triển kinh tế và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn. Nhân dân trong xã đồng tình ủng hộ và tích cực tham gia vào việc chuyển đổi CCKT NT 3.1.3.2 Những trở ngại và thách thức - Nền kinh tế của xã Liệp tuyết chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp, tuy đã hình thành một số vùng sản xuất hàng hoá nhưng nhỏ bé. Sản xuất nông nghiệp vẫn còn lệ thuộc vào điều kiện tự nhiên, nhất là tưới tiêu chưa khoa học, lợi dụng vào nước trời tưới cho cây trồng là cơ bản, sản phẩm hàng hoá làm ra chưa nhiều nhưng thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa ổn định, giá nông sản thấp chưa khuyến khích phát triển sản xuất hàng hoá. Sản xuất của nông dân rất manh mún, đầu tư tiến bộ khoa học kỹ thuật chuyển giao cho nông dân còn ít và chậm chạp hiệu quả thấp. - Vốn đầu tư cho chuyển đổi cơ cấu KT NT và phát triển kinh tế còn thiếu và đầu tư dàn trải chưa hiệu quả. Số hộ vay vốn chưa được nhiều, sử dụng chưa đúng mục tiêu vay vốn. Ngân sách xã đầu tư cho sản xuất phát triển kinh tế xã hội còn hạn chế, việc thu hút vốn đầu tư bên ngoài rất hạn hẹp đã gây nhiều khó khăn cho việc phát triển sản xuất hàng hoá ở xã Liệp Tuyết. - Dân số và lao động nông nghiệp nông thôn đang gia tăng những đào tạo và bồi dưỡng để nâng cao trình độ tri thức và học vấn của xã còn thấp. Cơ sở chế biến chưa hình thành chủ yếu nông sản hàng hoá của xã xuất khẩu và bán ở dạng thô chất lượng chưa cao, sức cạnh tranh thấp giá bán nông sản chưa cao. - Việc đổi mới khoa học công nghệ và ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất còn yếu kém, quy mô nhỏ hẹp trong khuôn khổ ở vài thôn mà chủ yếu là đang trong quá trình thử nghiệm hiệu quả mô hình chưa rõ nét. - Cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội nông thôn đã thiếu lại thấp kém, đây là khó khăn nhất cho việc chuyển đổi cơ cấu KTNT ở xã Liệp tuyết. - Thời tiết khí hậu thay đổi thất thường gây trở ngại không nhỏ cho việc phát triển sản xuất hàng hoá và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn.Với những khó khăn và trở ngại trên đây, Xã uỷ và nhân dân xã Liệp Tuyết đang tăng cường ra sức khắc phục huy động và sử dụng tối đa có hiệu quả vào sản xuất nhằm góp phần nhanh chóng vào công cuộc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn ngày càng mạnh có hiệu quả cao và bền vững. 3.2 Phương pháp nghiên cứu Quan điểm cơ bản để sử dụng nghiên cứu là quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Các phương pháp cụ thể để sử dụng nghiên cứu là phương pháp thống kê - kinh tế; phương pháp chuyên khảo, phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA) và phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của ngừời dân (RRA). Ngoài ra còn áp dụng phương pháp dự báo, phương pháp toán trong một vài nội dung cụ thể. Để thu thập tài liệu nghiên cứu và vận dụng các phương pháp nghiên cứu chúng tôi tđã tiến hành cụ thể như sau: 3.2.1 Xác định địa bàn nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu, địa bàn nghiên cứu phải đại diện cho vùng nghiên cứu trên phương diện điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và các đặc điểm đặc trưng về tình hình nông thôn và nông dân của xã. Căn cứ vào đặc điểm của xã Liệp Tuyết như đã phân tích. 3.2.2 Thu thập tài liệu Việc thu thập số liệu bao gồm việc sưu tầm và thu thập những tài liệu đã được công bố và thu thập những số liệu mới trên phạm vi xã và ở các thôn được chọn làm điểm nghiên cứu đặc biệt là các nông hộ. 3.2.2.1 Thu thập tài liệu đã công bố Chúng tôi tiến hành điều tra, thu thập số liệu về tình hình, kết quả phát triển chuyển đổi cơ cấu KTNT theo hướng sản xuất hàng hoá ở các hộ nông dân, những nguyên nhân và các yếu tố kinh tế kỹ thuật, tổ chức quản lý ở tầm vĩ mô và vi mô ảnh hưởng tới kết quả và hiệu quả sản xuất. Các kết quả nghiên cứu có liên quan đạt được trước đó và tại thời gian nghiên cứu để đánh giá đúng mức độ và phạm vi các vấn đề được giải quyết. Những số liệu và thông tin đã công bố chủ yếu từ các cơ quan Trung ương, các Viện nghiên cứu, các Trường đại học và các bộ phận khác có liên quan như: tạp chí chuyên ngành kinh tế và những báo cáo hội thảo khoa học, trong tạp chí hay kỷ yếu khoa học, Phòng Thống kê, Phòng Nông nghiệp của xã và tại các điểm nghiên cứu trong xã . 3.2.2.2 Thu thập số liệu mới * Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA): thông qua việc đi thực địa để quan sát thực tế, phỏng vấn không chính thức các cán bộ và những người dân sống tại địa phương làng xã, thu lượm những tài liệu thông tin đã có tại điểm nghiên cứu. * Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của dân (RRA). Tiếp xúc trực tiếp với dân tại các điểm nghiên cứu, khơi dậy sự tham gia của nông dân vào những vấn đề mà chính mình cần nghiên cứu, thu lượm những ý kiến và sự hiểu biết của họ về những khó khăn mà họ đang gặp phải trong sản xuất kinh doanh để có cơ sở căn cứ phân tích và đề xuất những giải pháp khả thi thúc đẩy cơ cấu kinh tế nông thôn đạt hiệu quả cao. * Phương pháp điều tra hộ: Việc thu thập số liệu ở phạm vi hộ phát triển chuyển đổi cơ cấu KTNT theo hướng sản xuất hàng hóa. Kết quả số hộ và cơ cấu các nhóm hộ điều tra thể hiện theo tiêu chí thu nhập bình quân đầu người/tháng và các tiêu chí liên quan khác. 3.2.3 Công cụ xử lý số liệu và phương pháp phân tích số liệu Sau khi thu thập những thông tin số liệu cần thiết, toàn bộ tập phiếu điều tra sau khi được phỏng vấn và được mã hoá sẽ xử lý tính toán theo mục đích của đề tài trên chương trình tính toán Excel trên máy vi tính là chủ yếu. Phương pháp phân tích áp dụng trong luận văn chủ yếu là phương pháp thống kê (thống kê mô tả, thống kê so sánh), phương pháp toán kinh tế và phương pháp dự báo. 3.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu chủ yếu dùng phân tích Để nghiên cứu và phân tích kết quả và hiệu quả chuyển đổi cơ cấu KTNT tôi đã sử dụng những chỉ tiêu thể hiện kết quả và hiệu quả sản xuất sau đây: - Tổng giá trị sản suất (GO). - Giá trị gia tăng (GDP) là phần còn lại sau khi lấy tổng giá trị sản xuất trừ đi chi phí trung gian. - Cơ cấu giá trị gia tăng (GDP) - Cơ cấu chi phí trung gian (IC) - Chi phí lao động gia đình đã hao phí: là số ngày người lao động quy chuẩn 8 giờ/ngày của những lao động gia đình tham gia vào sản xuất nông nghiệp nông thôn. - Giá trị sản xuất trên một đồng chi phí trung gian đầu tư. - Giá trị gia tăng trên một trên một đồng chi phí trung gian. - Các chỉ tiêu phân bổ nguồn lực về đất đai, lao động, vốn đầu tư… Ngoài ra trong báo cáo chúng tôi còn tính thêm một số chỉ tiêu bình quân và một số chỉ tiêu khác phục vụ cho việc phân tích có cơ sở khoa học và mang tính logíc thực tiễn cao như: GO/lao động; GDP/lao động; hệ số sử dụng ruộng đất; năng suất các cây trồng vật nuôi Phần IV Kết quả nghiên cứu 4.1 Khái quát thực trạng và xu hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn xã liệp tuyết- quốc oai- hà tây 4.1.1 Khái quát phát triển kinh tế và cơ cấu kinh tế xã Liệp Tuyết 4.1.1.1 Cơ cấu sản xuất của các ngành kinh tế Cơ cấu kinh tế (GDP) trong những năm qua giữa các ngành nông nghiệp, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ đã có sự chuyển dịch tích cực. Cơ cấu nông nghiệp trong tổng cơ cấu GDP từ 61,2% trong năm 1990 giảm xuống còn 55,2% năm 1995 và 51,8% năm 2000. Cơ cấu ngành nông nghiệp vẫn còn ở mức cao so với các xã khác Lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 14,5% năm 1990 tăng lên 19,1% năm 1995 và 22,6% năm 2000. Cơ cấu GDP ngành dịch vụ chững lại và có xu hướng giảm, giai đoạn từ năm 1990 - 1995 tăng từ 24,3 lên 25,7% và giảm xuống còn 25,1% năm 2000. Giai đoạn 2002 - 2003 xu hướng chuyển dịch cơ cấu GDP có chiều hướng tiến bộ tỷ trọng nông nghiệp có chiều hướng giảm xuống từ 52,3% giảm xuống còn 50,6% , tỷ trọng công nghiệp có chiều hướng tăng lên từ 22,6% năm 2002 lên 24,9% vào năm 2003 . Tuy vậy dịch vụ chưa tăng hơn so với năm 2002 mà lại giảm đi 0,2% chỉ chiếm 24,9% (xem Bảng 8) 4.1.1.2 Cơ cấu thu nhập Cùng với nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế đã xuất hiện hàng loạt các vấn đề xã hội cần quan tâm giải quyết. Một trong các vấn đề đó là khoảng cách thu nhập giữa các thôn trong xã, giữa người giàu và người nghèo và ngay cả trong cộng đồng dân cư nông thôn ngày càng có xu hướng doãng ra qua các năm. Thu nhập từ nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao từ 80 - 85% trong thu nhập của hộ nông dân, đối với hộ nghèo thu nhập từ nông nghiệp chiếm trên 95%, còn với hộ giàu chiếm khoảng 70 - 80%, ngành nghề khác khoảng 8-10% và dịch vụ 2,5%. 4.1.1.3 Cơ cấu lao động Theo số liệu điều tra của xã Liệp Tuyết năm 2002 cho thấy: cơ cấu lao động trong nông nghiệp chiếm 85,5% và ngành nghề khác chiếm 14,5%. Trong nông nghiệp tỷ lệ lao động nông nghiệp trong nông thôn chiếm 93,1%, lao động ngành nghề khác chỉ chiếm 6,9%. Trong thành thị tỷ lệ lao động nông nghiệp chiếm 38,4% và ngành nghề khác chiếm 61,6%. (xem Bảng 6) 4.1.2 Một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu. Xã có 2 mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu đó là mây tre đan và nông sản. Nhưng với số lượng bấp bênh không ổn định qua các năm. Tình hình trên do nhiều nguyên nhân trong đó vấn đề quan trọng nhất là giá cả và thị trường tiêu thụ nông sản phẩm Tóm lại, Liệp Tuyết chưa có thị trường ổn định cho các mặt hàng xuất khẩu nông sản của mình. Số lượng sản phẩm nông sản và các mặt hàng mây tre đan chưa phong phú, chất lượng chưa cao, đó là do chuyển đổi chính sách của Nhà nước về xuất khẩu mặt hàng này. Tuy rằng mặt hàng xuất khẩu nông sản là loại mặt hàng tạm thời trong một thời kỳ nhất định, nhưng tỷ lệ tăng trưởng cao nhất so với mặt hàng xuất khẩu khác. Hai mặt hàng xuất khẩu này của xã tuy có mức tăng trưởng khá nhưng xuất khẩu vẫn đứng ở dạng thô là chủ yếu nên bị thiệt thòi, đồng thời làm giảm sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Hơn nữa thị trường không ổn định. Đây là những thách thức lớn đòi hỏi sản xuất kinh doanh phải có sự chuyển đổi tích cực trên mọi phương diện. 4.2 thực trạng chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn ở Xã liệp Tuyết 4.2.1 Kết quả sản xuất và cơ cấu kinh tế của xã Liệp Tuyết a. Kết quả giá trị sản xuất của xã qua 3 năm - Về giá trị sản xuất (GO): Xã Liệp tuyết là một trong những xã có chiều hướng phát triển kinh tế mạnh của tỉnh, trong những năm gần đây sản xuất đã có những khởi sắc đáng kể. Giá trị sản xuất của các ngành kinh tế trong xã đạt được có chiều hướng tăng lên qua các năm nhất là ngành nông nghiệp và ngành công nghiệp cụ thể như sau: giá trị sản xuất của xã năm 2002 đạt 18,517 tỷ đồng tăng so với năm 2000 là 9,65% và có tốc độ tăng bình quân của giai đoạn này là 4,72% (xem bảng 6): Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp năm 2002 đạt 4,692 tỷ đồng tăng hơn so với năm 2000 là 13,14%, bình quân 3 năm 2000 - 2002 tăng 6,37%. Tương ứng với các chỉ tiêu trên ngành công nghiệp là 8,254 tỷ, tăng 28,69% và 13,44 %. Ngành dịch vụ đạt 2,569 tỷ đồng giảm so với năm 2000 là 2,35% Và tốc độ giảm bình quân 3 năm là 2,35%. - Về kết quả sản xuất theo giá trị gia tăng (GDP) năm 2000 - 2002 + Kết quả sản xuất theo giá trị gia tăng (GDP) của các ngành kinh tế trong xã giai đoạn 2000 - 2002 cho thấy: ngành nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi giảm 1,57% bình quân 3 năm, tuy vậy năm 2002 giá trị GDP đã đạt 29,178 tỷ đồng tăng so với năm 2001 là 5,47%, nhưng so với năm 2000 vẫn giảm 3,12%. Có sự tăng giảm thất thường là do thị trường tiêu thụ của các ngành này không ổn định mặc dầu tốc độ phát triển bình quân 3 năm của ngành trồng trọt và chăn nuôi giảm 1,57%, nhưng ngành thuỷ sản tăng 13,91%, ngành lâm nghiệp tăng 66,83%, ngành xây dựng cơ bản tăng 9,7%, ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tăng 16,16% và ngành dịch vụ tăng 0,9% (xem bảng 6). b. Cơ cấu kinh tế giai đoạn năm 2001 - 2003 - Nghiên cứu cơ cấu kinh tế theo cơ cấu giá trị sản xuất cho thấy: năm 2001 ngành nông nghiệp chiếm cơ cấu là 64,86%, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chiếm 9,46% và dịch vụ chiếm 25,08% thì đến năm 2003 có sự thay đổi theo hướng thuần nông tăng dần nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất 68,46% công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp giảm đi chỉ chiếm 7,21% Giảm đi 9,17% và dịch vụ giảm đi chỉ còn 24,33%. Xét về sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế thì đây là hướng chưa có lợi cần xem xét và có những biện pháp hữu hiệu để tăng dần cơ cấu dịch vụ và công nghiệp, giảm dần cơ cấu nông nghiệp (xem bảng 7). - Nghiên cứu về cơ cấu kinh tế theo giá trị gia tăng GDP cho thấy: sự chuyển đổi có chiều hướng tốt hơn cơ cấu của GO cụ thể như sau: năm 2001 cơ cấu GDP của nông nghiệp chiếm 73,05%, công nghiệp chiếm 8,55% và dịch vụ chiếm 18,4% thì đến năm 2003 cơ cấu GDP của nông nghiệp chiếm 74,66% và công nghiệp chiếm 8,78%, dịch vụ chiếm18,82%. đây là hướng chuyển đổi có lợi cho quá trình quản lý kinh tế và hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong quá trình sản xuất kinh doanh của các ngành kinh tế trong xã (xem bảng 7). Từ sự phân bổ nguồn lao động chúng tôi thấy hiệu quả sử dụng lao động của xã Liệp Tuyết trong các ngành kinh tế quốc dân cho thấy: trong cơ cấu lao động của năm 2001 thì nông nghiệp chiếm 80,32% tạo ra 69,26% giá trị GO và 77,51% giá trị GDP, đến năm 2003 các lao động tuy tăng rất ít nhưng đã tạo ra các GO là 71,46% và GDP là 77,51%, tương ứng với các chỉ tiêu trên năm 2000 trong ngành công nghiệp là 7,38%; 5,93%; 5,25% và năm 2002 là 7,45%; 6,97%; 6,22% và ngành dịch vụ là 12,3%; 24,81%,17,24% vào năm 2001 và 12,31%; 21,57% và 16,28% năm 2003. Nhìn chung xu hướng đầu tư phân bổ vào ngành công nghiệp và dịch vụ hiệu quả đạt được tăng lên qua các năm và cao hơn hiệu quả sử dụng lao động trong ngành nông nghiệp (xem bảng 5 ) . Trên cơ sở nghiên cứu cơ cấu chi phí trung gian đầu tư cho các ngành cụ thể chúng tôi tính toán hiệu quả chi phí đầu tư cho các ngành để làm cơ sở dự báo và ra quyết định trồng cây gì? nuôi con gì? và phát triển ngành nào ở nông thôn cho hợp lý và có hiệu quả cao nhất vào những năm tiếp theo. 4.2.2 Cơ cấu kinh tế nông thôn phân theo nội bộ ngành của xã 4.2.2.1 Cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp (trồng trọt & chăn nuôi) Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội nó tạo ra nhiều lương thực thực phẩm cung cấp cho con người tồn tại và phát triển, nó còn cung cấp nông sản xuất khẩu tạo ra nhiều ngoại tệ để phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Ngoài ra nó là thị trường tiêu thụ sản phẩm cho ngành công nghiệp và các ngành dịch vụ khác trong nền kinh tế quốc dân. Nó là nơi cung cấp nguồn lực cho các ngành kinh tế của đất nước. Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi), nghề cá thuỷ sản và lâm nghiệp. Tốc độ phát triển bình quân của ngành trồng trọt năm 2000 - 2002 đã giảm đi 4,57%, trong đó nhóm cây lương thực tăng bình quân 1,69%; cây công nghiệp tăng 13,52% và nhóm cây rau quả giảm 65,35% (xem bảng 10). - Tỷ trọng ngành chăn nuôi năm 2003 chỉ chiếm 29,4%, điều này cho thấy chăn nuôi ở đây phát triển chưa cao. Chăn nuôi đại gia súc và gia cầm còn nhiều nơi thả rông chưa có hướng thâm canh sản xuất hàng hoá. đây là những khó khăn trong việc chuyển đổi và phát triển hàng hoá của cơ cấu kinh tế xã . Trong chăn nuôi tỷ trọng gia súc chiếm tới 93,7% còn lại gia cầm chỉ chiếm 6,35% (năm 2003). Tốc độ phát triển ngành chăn nuôi qua 3 năm 2001 - 2003 tăng bình quân 6,3%, trong đó đại gia súc tăng 4,8% và gia cầm tăng 40,37% (xem bảng 8 ). Xét về cơ cấu và quy mô đàn gia súc (xem bảng 9 ) cho thấy: hàng năm hầu hết các loại đại gia súc, lợn và gia cầm có xu hướng tốc độ tăng trưởng tăng lên. So sánh quy mô chúng ta thấy về đàn trâu năm 2003 đạt 3909 con tăng 3,52% năm 2003 so với năm 2001 tăng 3,52%; đàn bò tăng5,39%; đàn lợn tăng 50,745; đàn dê tăng63,64%; đàn gia cầm tăng 3,15% Do vậy, cần phát triển chăn nuôi nhất là gia cầm theo hướng sản xuất qui mô lớn và tích cực thâm canh đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh ngành chăn nuôi để sớm đưa chăn nuôi phát triển với quy mô lớn có tốc độ, cơ cấu lớn hơn ngành trồng trọt. 4.2.2.2 Cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ + Cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Ngay từ khi cách mạng tháng tám thành công Đảng và Nhà nước đã chú trọng phát triển ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp nhằm cung cấp tại chỗ nhu cầu sản phẩm tiêu dùng cho nhân dân và có sản phẩm để xuất khẩu. Do vậy ngành công nghiệp quốc doanh bước đầu được mở rộng quy mô và cung cấp vốn cho nhu cầu vốn cho ngành nghề truyền thống mây tre đan xuất khẩu phát triển. Đồng thời Nhà nước cũng có những chính sách nhằm khuyến khích ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển có hiệu quả. Trong 3 năm gần đây tuy ngành này được chú trọng, nhưng trình độ công nghiệp còn thấp, thị trường chưa được mở rộng cho nên kết quả sản xuất tiêu thụ chưa được tương xứng với tiềm năng của nó. + Cơ cấu kinh tế ngành dịch vụ Ngành dịch vụ ở xã Liệp Tuyết trong những năm gần đây phát triển rất đa dạng bao gồm nhiều ngành như: vận tải, thông tin, thương mại, xây dựng cơ bản, ngân hàng tín dụng và dịch vụ sản xuất phục vụ đời sống của nhân dân. Do vậy quy mô và tốc độ phát triển khá cao hàng năm đóng góp vào tổng thu nhập quốc nội cho xã với tỷ trọng khá. Năm 2001 giá trị sản xuất của ngành dịch vụ đạt 2,813 tỷ đồng đến năm 2003 đạt 2,805 tỷ đồng chiếm 12,95% trong tổng giá trị sản xuất của các ngành kinh tế trong xã và cơ cấu giá trị GDP chiếm 13,2% giá trị gia tăng của các ngành kinh tế. Tốc độ phát triển mấy năm gần đây có xu hướng chững lại và giảm xuống nguyên nhân chính do giá trị của ngành thương mại giảm đi nhanh năm 2001 ngành thương mại đạt 1,133 tỷ đồng đến năm 2003 giảm xuống còn 1,1 tỷ giảm so với năm 2001 là 1,2% chính ngành này chiếm tỷ trọng lớn giảm đi làm cho tổng cơ cấu của ngành dịch vụ giảm theo 4.3 Đánh giá chung sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn của xã liệp Tuyết trong những năm qua 4.3.1 Những thành tựu đạt được Trong những năm qua nền kinh tế của xã Liệp Tuyết nằm trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, điểm xuất phát thấp, dưới tác động gián tiếp của cuộc khủng khoảng kinh tế tiền tệ của các nước trong khu vực. Tuy vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng và chính phủ kết quả phát triển kinh tế của xã đã đạt được những thành tựu đáng kể Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2001 - 2003 tăng 6,72%, tốc độ tăng bình quân 3 năm là 4,72%. Tốc độ phát triển nông nghiệp có chiều hướng tăng dần năm 2002 so với năm 2001 (GO) tăng 2,41%, năm 2003 so với năm 2001 tăng 13,14%, điều này chứng tỏ cơ cấu kinh tế của xã chủ yếu vẫn chú trọng phát triển nông nghiệp. Kinh tế công nghiệp có chiều hướng tăng dần năm 2003 so với năm 2001 về GO tăng 28,69% , GDP tăng 34,93%, dịch vụ đang có chiều hướng giảm dần năm 2003 so với năm 2001 giảm 4,64%, bình quân 3 năm giảm 2,35% . Lý do chủ yếu là công nghệ và máy móc cũ và lạc hậu những tiến bộ kỹ thuật mới chưa được áp dụng vào ngành dịch vụ. Nên cần nhiều vốn hơn nữa trong tương lai ( xem bảng 11) - Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng năm 2002 đạt 1230 tấn bình quân đầu người 22,7 kg tăng so với năm 2001 tăng 25,16%. Nhờ có kết quả đạt được hàng năm có xu hướng tăng lên và một số ngành kinh tế của xã nhất là ngành nông nghiệp vẫn chiếm địa vị chủ yếu và ngày một phát triển nên năng suất lao động ngày một tăng lên. cùng với sự phát triển kinh tế của xã các nguồn lực kinh tế như đất đai, lao động, vốn đầu tư sử dụng ở một số ngành trong cơ cấu kinh tế ngày một tăng lên và có hiệu quả góp phần cải thiện đời sống của nhân dân. Kết quả đó thể hiện những chỉ tiêu quan trọng nhất trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế của xã là Giá trị sản xuất bình quân đầu người và giá trị GDP ở các ngành kinh tế qua 3 năm Năng suất lao động tính theo GO và giá trị GDP bình quân chung cho toàn xã tốc độ tăng bình quân năm 2001 - 2003 về giá trị sản xuất tăng 4,72%, giá trị gia tăng tăng 6,72%, bình quân qua 3 năm tăng 3,29%. 4.3.1.1. Ngành nông nghiệp a.Trồng trọt: trong năm qua diện tích trồng lúa chung năm 2003 thực hiện được 5448 ha, tổng sản lượng đạt được 11.173 tấn, giảm bình quân 3 năm là 12,63%. Trong đó lúa chiêm 98 ha, sản lượng đạt 343 tấn; lúa mùa 1200 ha, sản lượng đạt 3360 tấn; lúa cạn 4150 ha, sản lượng đạt 7470 tấn. Nếu tính cả ngô đạt 1460 tấn và khoai sắn đạt đạt 819 tấn, bô bo đạt 688 tấn thì bình quân lương thực/đầu người/năm đạt được 250 kg với mức lương thực này tạm đủ ăn trong năm chưa có tích luỹ và xuất khẩu. ( xem bảng 10) Kết quả sản lượng đạt được của ngành trồng trọt có sự chuyển đổi của cơ cấu cây trồng qua 3 năm, cơ cấu diện tích cây lương thực năm 2001 chiếm 25,81% năm 2003 chỉ còn 20,71%, giảm 5,1%. Diện tích rau quả năm 2001 đạt 1.467 ha chiếm 4,88% đến năm 2003 chiếm 6,87% tốc độ phát triển bình quân diện tích 3 năm của rau quả tăng 21,5%. ( xem bảng 10) Diện tích nhóm cây lương thực cho thấy: năm 2001 cây có cơ cấu lớn nhất là lúa chiếm 91,88%; ngô 2,88%, khoai sắn chiếm 2,07% b. Chăn nuôi Chăn nuôi của xã trong những năm qua không ngừng được mở rộng và phát triển năm 2003 đạt được như sau: - Đàn trâu: 109 con, so năm 2001: tăng 3,52%; bình quân 3 năm tăng 1,7% - Đàn bò: 107 con, so năm 2001: tăng 5,39%; bình quân 3 năm tăng 2,7% - Đàn dê: 129 con, so năm 2001: tăng 63,64%; bình quân 3 năm tăng 27,9% - Đàn lợn: 584 con, so năm 2001: tăng 50,74%; năm 2002 so với năm 2001 tăng 15,95%, bình quân 3 năm tăng 22,8%. - Đàn gia cầm: 1.469 con, so năm 2001: tăng 8,17%; bình quân 3 năm tăng 4% Số ao thả cá có 24 ao với tổng diện tích 84,94 ha và sản lương năm 2001 đạt 128 tấn năm 2003 đạt 1958 tấn tăng 37,11% bình quân năm đạt 17,11%. giá trị sản lượng năm 2001 đạt 420 triệu đồng, năm 2003 đạt 29.367 tăng so với năn 2001 là 37,1% tốc độ tăng bình quân 17,09%. Gia trị sản lượng chăn nuôi gia súc và gia cầm năm 2003 đạt 98 triệu đồng tăng so với năm 2001 là 12,99%. Trong đó gia súc năm 2003 giá trị sản lượng chiếm 93,7%. c. Thuỷ lợi Thuỷ lợi là biện pháp hàng đầu trong việc phát triển nông nghiệp, là yếu tố đầu vào phục vụ tăng năng suất cây trồng và góp phần phục vụ nước dân sinh. Tổng số trong những năm qua đã xây dựng được 12 công trình thuỷ lợi, trong đó có cấp trung bình là 2 công trình, đập 5, cỡ công trình nhỏ 5. Với tổng giá trị năm 2003 đạt 530 triệu đồng. Có thể tưới tiêu được 350 ha mùa hè và 400 ha về mùa mưa. 4.3.1.2. Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Trong năm 2001 đạt 6.414 triệu đồng, năm 2003 đạt 8.254 triệu đồng tăng so với năm 2001 28,69%; xay sát gạo chiếm 54,39%; sản xuất bánh kẹo: 34,67%; dệt bằng tay: 5,28% 4.3.1.3. Văn hoá xã hội a. Giáo dục Xã có 1 trường cấp 1với 910 học sinh, 71 giáo viên. Kết quả thi hết cấp I đạt 79,31% tăng 24,62%; thi hết cấp II đạt 97,75%, giảm 1,39% so với năm 2001; thi hết cấp III đạt 96,75% giảm 3,25%. b. Y tế Trong năm qua y tế đã triển khai tiêm phòng tới nông thôn và tuyên truyền giữ gìn vệ sinh nơi công cộng và nguồn nước sạch. Toàn xã năm 2002 có một trạm xá, 2 phòng khám có 13 cán bộ chuyên môn . Đã khám và chữa bệnh cho 182 lượt người. Hố xí tự hoại là 57 hố phục vụ cho 132 người chiếm 8,34%. c. Đào tạo cán bộ Giai đoạn 2001 - 2003 toàn xã có 34 cán bộ, trình độ đại học 9 người; cao đẳng 15 người trung cấp 5 người, sơ cấp 5 người không bằng cấp 1 người. Hàng năm xã cử cán bộ đi bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý hành chính thời hạn 10 tháng 1 người 45 ngày 2 người nâng cao trình độ chuyên môn 5 người. 4.3.2 Những tồn tại cần khắc phục - Cơ cấu kinh tế của xã Liệp tuyết chủ yếu vẫn là thuần nông. Sản xuất nông nghiệp vẫn còn lệ thuộc vào điều kiện tự nhiên hiệu quả sản xuất thấp. Xây dựng cơ cấu kinh tế lấy nông nghiệp - lâm nghiệp phát triển sản xuất hàng hoá làm trọng điểm gắn với công nghiệp chế biến và dịch vụ của xã Liệp Tuyết làm chưa được nhiều, hàng hoá của xã chất lượng chưa cao, giá cả thấp. - Cơ cấu ngành còn mất cân đối, ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, trong nông nghiệp trồng trọt và chăn nuôi chiếm tỷ lệ cao. - Tốc độ chuyển đổi chậm kéo theo việc phân bổ nguồn lực không hợp lý và kém hiệu quả. - Năng suất lao động thấp - Chưa tạo thành một hệ thống đồng bộ sản xuất - chế biến - tiêu thụ sản phẩm. - Vốn đầu tư cho sản xuất còn thiếu và hiệu quả thấp. - Trình độ quản lý và năng lực của cán bộ và người lao động chưa cao nhất là trình độ kiến thức thị trường, marketting… 4.4 Một số giải pháp chủ yếu thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá ở xã Liệp Tuyết 4.4.1 Quan điểm chủ yếu của chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn ở xã Liệp tuyết. a. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá phát triển nền nông nghiệp hàng hoá nhằm khai thác sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế Xét theo lý luận chuyển đổi cơ cấu KTNT và sản xuất hàng hoá thì chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau và tác động qua lại theo bề rộng lần chiều sâu. Sở dĩ như vậy là vì hai mặt đó là sự chuyên môn hoá, đa dạng hoá sản xuất và phân công lao động xã hội theo vùng, theo ngành, theo sản phẩm và theo các thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân tuỳ theo đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội của một nước, tỉnh hoặc một xã . Sự phân công chuyên môn hoá lao động tất yếu dẫn đến trao đổi sản phẩm phát triển thương mại giữa các chủ thể sản xuất và giữa các vùng các xã nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất, tăng thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân. Phân công lao động càng cao thì trao đổi sản phẩm càng đa dạng, càng phong phú. Theo Lênin: “Thông qua trao đổi nông sản hàng hoá trên thị trường nó có tác động trở lại sản xuất nông nghiệp, làm cho nông nghiệp có bước phát triển mới trong quá trình phân công lao động xã hội nông nghiệp, vừa thúc đẩy phát triển toàn diện, vừa thúc đẩy chuyên canh” ] b. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và phát huy lợi thế so sánh của xã . Sự biến đổi về khí hậu thời tiết, địa hình và phân bố dân cư làm cho nguồn lực và thế mạnh của mỗi vùng ở xã Liệp tuyết có sự khác biệt nhau rõ rệt. Số lượng, chất lượng lao động ở mỗi tiểu vùng trong xã cũng có sự chênh lệch. Khả năng đầu tư của cấp xã và cấpn huyện cũng có hạn định đầu tư có trọng điểm cho từng vùng. Chính vì thế, quá trình chuyển đổi cơ cấu KTNT phải căn cứ vào định hướng chung về phát triển kinh tế để xác định cơ cấu KTNT của từng tiểu vùng cho hợp lý, thích ứng với từng thời kỳ, không nên áp đặt một cơ cấu chung cho tất các các tiểu vùng có như vậy mới phát huy mọi nguồn lực và lợi thế so sánh của các tiểu vùng trong xã . c. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn của xã Liệp tuyết phải kết hợp chặt chẽ với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Liệp Tuyết là xã có nhiều tiềm năng đa dạng về phát triển kinh tế, nhưng hiện nay lao động sống ở nông thôn làm nông nghiệp là chủ yếu. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn vẫn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế của xã . Với kinh nghiệm sản xuất cổ truyền là chính, sản xuất hàng hoá mới chỉ là bước đầu đang khởi sắc, tỷ trọng sản phẩm hàng hoá còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ, thị trường chưa ổn định, sức cạnh tranh còn yếu… Do vậy chuyển đổi cơ cấu KTNT phải kết hợp chặt chẽ với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Đây là vấn đề quan trọng số một đặt ra một cách nghiêm túc trồng cây gì? số lượng sản phẩm hàng hoá là bao nhiêu? tiêu thụ ở đâu? ngành nào, cây nào có hiệu quả cao trong quá trình chuyển đổi cơ cấu KTNT là một vấn đề cần xem xét kỹ lưỡng, công phu và phải tổ chức thực hiện nghiêm túc các quy trình hợp lý để tạo ra sản phẩm hàng hoá nhiều có sức cạnh tranh lớn trên thị trường nội địa và xuất khẩu. Con đường đảm bảo chất lượng cao cho các sản phẩm nông nghiệp và nông thôn trước hết phải thực hiện kết hợp chặt chẽ với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong nông thôn và có bước đi phù hợp. Trong điều kiện nguồn lực có hạn việc tập trung vào các mục kinh tế đầu tư trọng điểm cho cơ cấu kinh tế là vấn đề hết sức cần thiết nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn lực đồng thời nêu cao được lợi thế so sánh của xã nhằm tăng trưởng kinh tế nông thôn, xoá đói giảm nghèo. d. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá phải đạt được hiệu quả kinh tế xã hội và xây dựng được nông thôn mới phát triển bền vững Đây là một xã có tiềm năng, nguồn lực đa dạng về phát triển kinh tế nông thôn. Hiện nay lao động nông thôn vẫn chiếm tới hơn 90% trong cơ cấu kinh tế. Với các kiểu canh tác mang nét truyền thống và kinh doanh sản xuất nhỏ đã làm hạn chế tỷ xuất hàng hoá trong nông thôn. Đồng thời làm hạn chế sức cạnh tranh sản phẩm trên thị trường nông sản vốn bất ổn định và đứng trước khó khăn tiềm ẩn. Sản xuất hàng hoá nông nghiệp nông thôn có những đặc thù riêng tuân theo quy luật phát triển kinh tế vốn có của nó và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, mùa vụ gieo trồng. Hơn thế nữa, sản xuất nông nghiệp thường xảy ra hi._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docG0011.doc
Tài liệu liên quan