Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh (Mẫu 56)

ĐỀ BÀI: Trong diễn văn tại lễ kỷ niệm 105 năm ngày sanh Chủ Tịch Hồ Chí Minh có viết: ”Người là hiện thân sáng chói của tư tưởng độc lập dân tộc,gắn liền với chủ nghĩa xã hội,là mẫu mực của tinh thần độc lập tự chủ,tự lực tự cường đổi mới và sáng tạo” Hãy phân tích và chứng minh nhận định trên.liên hệ với thực tiễn cách mạng Việt Nam hiện nay. I.Đặt vấn đề Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bác Hồ kính yêu của chúng ta, từ buổi thiếu thời ra đi tìm đường cứu nước cho đến khi đi vào cõi vĩnh hằng, trải

doc18 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 06/09/2013 | Lượt xem: 148 | Lượt tải: 1download
Tóm tắt tài liệu Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh (Mẫu 56), để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
qua nhiều thập kỷ hoạt động cách mạng đầy giông bão, chịu đựng biết bao hy sinh gian khổ, hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đã lãnh đạo Đảng và nhân dân ta giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, ghi những mốc son sáng chói trên con đường đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội những công lao to lớn của người luôn khắc sâu trong tâm trí mỗi người dân Việt Nam.người luôn là tấm sáng cho nhân dân Việt Nam đăc biệt là tăng lớp thành niên người đại diện cho tương lai của đất nước noi theo. Đi theo con đường mà Người đã vạch ra và dưới sự dẫn dắt của tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, mở ra một bước ngoặt lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.Những thành tựu mà chúng ta đạt được trong công cuộc đổi mới là to lớn, toàn diện và có ý nghĩa lịch sử, cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, tạo ra thế và lực mới cho cách mạng Việt Nam, tạo điều để đưa đất nước ta vào giai đoạn phát triển mới, thực hiện khát vọng sâu xa của dân tộc là xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Với sự đóng góp to lớn của người trong diễn văn tại lễ mít tinh kỷ niệm 115 ngày sinh của chủ tich Hồ Chí Minh,tổng bí thư Nông Đức Mạnh có nói: “Người là hiện thân sáng chói của tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH ,là mẫu mực của tinh thần độc lập tự chủ tự cường,đổi mới và sáng tạo” II.Giải quyết vấn đề Phân tích và chứng minh nhận định a.Người là hiện thân của tưởng độc lập tự do gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc cho nhân dân ta, trải qua bao gian khổ,vất vả cuối cùng người cũng đã tìm ra được còn đương giải phóng dân tộc,con đường có thể đưa dân tộc Việt Nam đến với tự do,hòa bình,giải phóng con người,giải phóng xã hội,xóa khỏi đói nghèo và lạc hậu.Trong bối cảnh và tình hình Việt Nam như vậy người nhận thấy vấn đề đặt lên hàng đầu là giải phóng dân tộc,nhưng không thể quên rằng độc lập dân tộc phải luôn gắn liền với CNXH.Tư tưởng của người luôn là soi đường chỉ lối,là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng cộng sản .người được coi là hiện thân của tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Khác với con đường cứu nước của ông cha ta là gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa phong kiến(cuối thế kỷ XIX)hoặc chủ nghĩa tư bản(đầu thế kỷ XX),con đường cứu nước của hồ chí minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.Tưởng này của người là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên hành trình tìm dường cứu nước,khảo sát các cuộc cách mạng thế giới và đọc bản thảo lần thứ nhất”Những luận cương về dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lenin”Hồ Chí Minh đã nêu ra chân lý mang tính thời đại”Trong thời đại ngày nay,muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không còn con đường nào khác con đường Cách mạng vô sản”Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài,phản ánh mối quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc,giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Theo người xóa bỏ ách áp bức dân tộc mà không xóa bỏ tình trạng bóc lột và áp bức giai cấp thì nhân dân lao động vẫn chưa được giải phóng.Chỉ khi thiết lập được chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất mới xóa bỏ tận gốc tình trạng áp bức bóc lột.Chỉ khi thiết kế được nhà nước kiểu mới,một nhà nước thực sự do dân, vì dân mới đảm bảo quyền làm chủ của người lao động mới thực sự phát triển hải hòa giữa cá nhân và xã hội,giữa độc lập dân tộc với tự do và hạnh phúc của con người. Người nói giành được độc lập dân tộc rồi phải tiến lên chủ nghĩa xã hội vì chủ nghĩa xã hội là “làm sao cho dân giàu,nước mạnh,là mọi người được ăn no, mặc ấm,sung sướng,tư do thực sự,triệt đê”.vì vậy mà tư tưởng của người luôn người luôn là độc lập dân tộc gắn liên với chủ nghĩa xã hội. Theo quan điểm,nhận định của người để giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam - một nước thuộc địa nửa phong kiến, trước hết phải tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đánh đuổi quân xâm lược, đánh đổ bọn tay sai, giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, hoà bình và thống nhất đất nước,nhưng đồng thời ngay sau khi giành được độc lập dân tộc phải đưa đất nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhằm giải phóng con người, giải phóng xã hội, xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu, vươn tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho mọi người, mọi dân tộc.từ đó ta thấy được tư tưởng của người luôn là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Người cho rằng giải quyết vấn đề dân tộc trong cách mạng Việt Nam nếu chỉ dừng lại ở cuộc đấu tranh để giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân thì sự nghiệp cách mạng đó mới chỉ đi được một chặng đường ngắn mà thôi. Bởi có độc lập, có tự do mà nhân dân vẫn đói khổ, thì nền độc lập tự do ấy cũng chẳng có ý nghĩa gì. Hồ Chí Minh đã thấu hiểu cảnh sống nô lệ, lầm than, đói rét và tủi nhục của nhân dân các dân tộc Việt Nam trong thời thực dân, phong kiến. Bởi vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa quyết định của sự nghiệp giải phóng xã hội, giải phóng con người, theo Hồ Chí Minh là phải xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu, vươn tới xây dựng cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc thật sự cho tất cả mọi người. Đó là ước nguyện, là ham muốn tột bậc của Hồ Chí Minh và là ước nguyện mong mỏi bao đời nay của nhân dân các dân tộc Việt Nam. Người nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.” Thực hiện được ước nguyện đó, theo Hồ Chí Minh chính là nhằm giải quyết một cách triệt để và thiết thực vấn đề dân tộc ở một nước thuộc địa nửa phong kiến. Thế nhưng đi về đâu và xây dựng một xã hội như thế nào để thực hiện được ước nguyện đó nhân dân các dân tộc Việt Nam cũng như cho cả nhân loại bị áp bức, bóc lột? Đó là điều trăn trở, ưu tư không chỉ ở Hồ Chí Minh mà ở tất cả những người có lương tri, trọng đạo lý, trọng nghĩa tình khác. Sự bắt gặp và điểm tương đồng trong tư duy giữa Hồ Chí Minh với những người sáng lập ra học thuyết cách mạng và khoa học của thời đại cũng chính là ở chỗ đó. Chứng kiến cảnh sống lầm than, khổ cực, bị bóc lột tới thậm tệ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở thuộc địa và chính quốc, chứng kiến cảnh sống trái ngang của bọn tư sản, thực dân giàu có và gian ác, nên con đường giải phóng xã hội, giải phóng con người mà cả Hồ Chí Minh và C. Mác, Ph. Ăngghen, V. I. Lênin đều khẳng định là phải tiến lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, chứ không phải là đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, càng không phải là quay trở lại chế độ phong kiến. Đối với Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định trước sau như một, là chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có đủ cơ sở và điều kiện để thực hiện công cuộc giải phóng con người một cách triệt để và thiết thực. Tức là thực hiện được đầy đủ các quyền của con người, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của tất cả mọi người. Năm 1923 Hồ Chí Minh ”chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại,đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc,là nguồn gốc sự tự do,bình đẳng bác ái,đoàn kết ấm no trên qua đất,việc làm cho mọi người và vì mọi người niềm vui hòa bình và hạnh phúc” Năm 1959 người khẳng định”Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không còn con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.Cách mạng giải phóng dân tộc phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa mới giành được thắng lợi hoàn toàn và triệt để.Sau này người tổng kết”về nội dung viết,mà các cô các chú gọi là “đề tài”thì tất cả những gì bác viết chỉ có một đề tài là:độc lập dân tộc gắn lền với chủ nghĩa xã hội,qua đó ta thấy được bác luôn giữ vững quan điêm lập trường này. Năm 1960 người nói”chỉ có chủ nghĩa xã hội,chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được dân tộc bị áp bức và những người trên thế giới khỏi ách nô lệ” Người là hiện thân của tư tương độc lập dân tộc gắn liền với CNXH:Theo Hồ Chí Minh độc lập dân tộc là nhiệm vụ cơ bản,trước hết của cách mạng giải phóng dân tộc.độc lập dân tộc là cơ sở,tiền đề của CNXH và CNXH là cái đích cao nhất mà ta cần đạt tới là giải phóng con người.Vì vậy để giải phóng con người thi tiến trình đấu tranh giành độc lập dân tộc phải gắn liền với CNXH. Cũng chính vì vậy mà con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và độc lập phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội trở thành nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, và là mục tiêu chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam suốt hai phần ba thế kỷ và mãi mãi về sau. Xuất phát từ hoàn cảnh của Việt Nam, đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, hậu quả của bọn thực dân, phong kiến để lại rất nặng nề nên Hồ Chí Minh cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được học hành, ốm đau có thuốc, già không lao động thì được nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xoá bỏ… tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội.” Tư tưởng Hồ Chí Minh vừa phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc trong thời đại chủ nghĩa đế quốc,vừa phản ánh mối quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với mục tiêu giải phóng giai cấp và giải phóng con người.Chỉ có xóa bỏ tận gốc tình trạng áp bức bóc lột;thiết lập một nhà nước thực sự của dân,do dân,vì dân,mới bảo đảm cho người lao động có quyền làm chủ,mới thực hiện được sự phát triển hài hòa giữa cá nhân và xa hội,giữa độc lập dân tộc với tự do và hạnh phúc của con người.Hồ Chí Minh nói:”nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.Do đó sau khi dành độc lập,phải tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội làm cho dân giàu,nước mạnh,mọi người được sống sung sướng,tự do. Người khẳng định”Yêu tổ quốc,yêu nhân dân phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội,vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm,tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm” Hồ Chí Minh đã vách ra con đường đúng đắn cho đảng để lãnh đạo nhân dân đưa sự nghiệp cách mạng của nhân dân vượt qua mọi gian khổ khó khăn,gian khổ dành thắng lơi vẻ vang,cuộc sống của nhân dân ngày càng ấm no hạnh phuc.để đạt được điều đó tư tương của người luôn nhât quán giữaz độc lập dân tộc và CNXH và chính người là hiện thân sáng chói của tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. b.Người là mẫu mực của tinh thần độc lập tự chủ,tự lực tự cường,đổi mới và sáng tạo. Người là mẫu mực của tinh thần độc lập tự chủ tự cường,sáng tạo;Khi mà các đường lối đấu tranh của các nho sĩ học có tư tưởng tiến bộ,thức thời tiêu biểu như Phan Bội Châu,Phan Châu Trinh và Hoàng Hoa Thám thất bại.Trong bối cảnh đó bằng những tư duy độc lập,nhạy bén của mình Hồ Chí Minh nhận thấy con đường của các bậc tiền bối không còn phù hợp với bối cảnh đất nước ta lúc bấy giờ.Người đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước,tìm ra con đường đúng đắn để đưa đồng bào ta thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp,dành được độc lập tự do và hạnh phúc.Qua đó ta thấy được tư duy độc lập sáng tạo và nhạy bén và Người là mẫu mực của tinh thần độc lập,tự chủ,tự cường,đổi mới và sáng tạo đó. Với tinh thần độc lập,tự chủ,tự cường,đổi mơi và sáng tạo Hồ Chí Minh đã không đi theo vết xe đổ của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh là chủ chương cầu ngoại viện,”ỷ pháp cầu tiến bộ”, khai thông dân trí,nâng cao dân trí,trên cơ sở đó mà đòi tính chuyện giải phóng thì không thể thành công.ngườ luôn khẳng định rẳng muốn cách mạng thành công thi chúng ta không nên dựa và người khác,phải dựa và sức minh tự lực,tự cường thì mới mong giành thắng lọi giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị,có được ấm no hạnh phúc. Bằng tinh thần độc lâp tự chủ tự cường đổi mói và sáng tạo Nguyễn Ái Quốc đã tự định ra cho mình một hướng đi mới:phải tìm hiểu cho rõ bản chất của những từ Tự do,Bình đẳng,Bác ái của nước Cộng hòa Pháp,phải đi ra nước ngoài,xem nước Pháp và các nước khác.Sau khi xem xét họ làm thế nào sẽ trở về giúp đồng bào mình. Trong quá trình ra đi tìm đường cứu nước người đã gặp rất nhiều những học thuyết khác nhau,Nhưng với bản lĩnh trí tuệ,khả năng độc lập tự chủ,tự cường người đã quyết định chọn chủ nghĩa Mac-Leenin là con đường đúng đắn nhất đẻ đi đến mục tiêu giải phóng dân tộc Trong quá trình tìm đường cứu nước với tinh thần độc lập,tự chủ,tự cường,sáng tạo và quan sát,nhận xét vấn đều Hồ Chí Minh đã khám phá ra các quy luật vận động xã hội,đời sống văn hóa và cuộc đấu tranh của các dân tộc trong hoàn cảnh cụ thể để khái quát thành lý luận,đem lý luận vào chỉ đạo hoạt động thực tiễn và được kiểm nghiệm trong thực tiễn Khi có được những nhận thức ban đầu về chủ nghĩa Lenin.Hồ Chí Minh đã tiến dần tới nhận thức lý tính,trở lại nghiên cứu Mác sâu sắc hơn,để rồi với tư duy độc lập,tự chủ,tự cường,đổi mới và sáng tạo của mình người tiếp thu học thuyết của các ông một cách có chọn lọc không rập khuôn máy móc,không sao chép giáo điều.Người tiếp thu lý luận Mác-Leenin theo phương pháp macxit,nắm lấy cái tinh thần,cái bản chất.Người vận dụng lập trường,quan điểm,phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mac-Lenin để giải quyết những vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam,chư không đi tìm những kết luận có sẵn trên sách vở. Bằng những tinh thần độc lập,tự chủ,sáng tạo của mình khi nghiên cứu thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mac- lenin Hổ Chí Minh đã tổng kết kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn để tìm ra con đường cứu nươc (1)”trong cuộc đấu tranh vừa nghiên cứu lý luận Mac- Lenin,vừa làm công tác thực tế,dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội,chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới” (2)”Bây giờ học thuyết nhiều,chủ nghĩa nhiều,nhưng chủ nghĩa chân chính nhất,cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lenin” (3)”Chính là do cố gắng vận dụng những lời dạy của Lenin,nhưng phải vận dụng một cách sáng tạo,phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay,mà chúng tôi đã chiến đấu để dành được thắng lợi to lớn” Hồ Chí Minh là một mẫu mực về sự vận dụng và phát triển,đổi mới, sáng tạo lý luận Mac-Lenin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.Người đã bổ sung ,phát triển chủ nghĩa Mac-Lenin trên nhiều lĩnh vực quan trọng và hình thành nên một hệ thống các quan điểm lý luận mới hết sức sáng tạo.vì thế nên khi nghiên cứu và học tập tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi không chỉ biết kế thừa,vận dụng mà còn phải biết phát triển sáng tạo tư tưởng của người trong điều kiện lịch sử mới,trong bối cảnh cụ thể của đất nước và quốc tế. Theo tư tưởng hồ chí minh ;Chân lý là cụ thể,cách mạng là sáng tạo.Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh trước hết là sự sáng tạo về tư duy lý luận,về chiến lược,về đường lối cách mạng.Điều đó giữ vai tro quyết định hàng đầu dẫn đến thắng lợi cách mạng Tinh thần độc lập,tự chủ tự cường,đổi mới sáng tạo của bác được thể hiện rất rõ nét qua nghệ thuật ngoại giao của bác. Vì nước ta là nước nhỏ phải đương đầu với các đế quốc hùng mạnh nhất, mà chỉ đem sức quân sự ra đấu thì không thể thắng nổi. Vì thế chúng ta phải dùng sức tổng hợp, tất cả gắn kết với nhau, quân sự - chính trị - ngoại giao. Người luôn là mẫu mưc của tinh thần độc lập tự chủ,tự cường,đổi mới và sáng tạo;nghệ thuật ngoại giao của nước ta rât đăc biệt đó là vừa đánh - vừa đàm như ở nước ta. Kết hợp quân sự - ngoại giao, lấy quả đấm quân sự đi đôi với đàm phán ngoại giao, vận động chính trường quốc tế, động viên nhân dân bạn bè trên thế giới. Đó là nghệ thuật ngoại giao của Bác Hồ. Thành quả lịch sử trong cuộc đấu tranh lâu dài của nhân dân ta là một trận Điện Biên Phủ trên mặt đất đưa đến Hiệp định Geneva tại bàn đàm phán và một trận Điện Biên Phủ trên không đưa đến Hiệp định Paris.Đó là sự trùng hợp kỳ tác lịch sử, có một không hai trên thế giới, là thể hiện chói lọi của trường phái ngoại giao Hồ Chí Minh.Một trường phái ngoại giao đổi mới và sáng tạo. Thứ hai, bài học “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Bác Hồ nghĩ ra cách sáng tạo trong ngoại giao, với cách làm của người biết lượng sức mình, lượng sức người. Đi bước nào chắc bước ấy. Bước trước chuẩn bị điều kiện cho bước sau. Đi từ thắng lợi từng bước đến thắng lợi hoàn toàn. Trong một hội nghị, Bác Hồ đã phê phán” có nhiều người chủ quan, nghĩ rằng ta đang thắng ở Điện Biên Phủ, thì ta có thể đánh tuốt luôn. Những người đó chỉ thấy thực dân Pháp, mà không thấy sau lưng Pháp là Mỹ. Nếu đánh Pháp tiếp thì ta có thể, nhưng nếu Mỹ - Pháp cùng hợp tác thì sức ta không đánh tiếp được. Pháp chịu thua Việt Minh, nhưng vẫn hy vọng giữ miền Nam. Khi đó, Mỹ cũng đã chuẩn bị điều kiện để nhảy vào cuộc.”qua đó ta thấy được bác luôn tư duy độc lập và nhận định sâu sắc mọi vấn đề.không chủ quan trong mọi hành động.người luôn là tấm gương mẫu mực của tinh thần độc lập tự chủ tự cường,đổi mới và sáng tao cho chúng ta noi theo Và một bài học lớn là ta phải biết độc lập-tự chủ, quyết định cuối cùng phải là của chúng ta. Chúng ta phải tự quyết định số phận của mình, không được phó thác cho bất kỳ ai khác Tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng cách mạng tiến bộ trên thế giới nhưng không ỷ lại trông chờ, mà phải nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính, phải đem sức ta để tự giải phóng cho ta. Bác Hồ không chỉ giữ vững tinh thần độc lập,tự chủ,tự cường,đổi mới và sáng tạo trong con đường giác ngộ học thuyết Mac-Lenin và trong ngoai giao mà người luôn độc lập,tự chủ,đổi mới sáng tạo trong mọi hoạt động lãnh đạo Đảng và nhân dân trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc 2.Liên hệ với thực tiễn Việt Nam a.độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Trong nhiều văn kiện của Đảng ta, vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội luôn được khẳng định một cách mạnh mẽ và dứt khoát. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã nêu rõ : "Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là bài học xuyên suốt quá trình cách mạng của nước ta. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc".Đảng ta đã khẳng định "Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh". Thành tựu mà đảng,nhà nước và nhân dân ta đạt được trong tiến trình đi lên xây dựng xã hội chủ nghĩa. Trong tiến trình thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Đảng,nhà nước,nhân dân ta đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn Những thành tựu của hơn 20 năm đổi mới đã khẳng định tính đúng đắn về sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, khẳng định bản lĩnh và trí tuệ của Đảng ta. Không chỉ nhân dân ta cảm nhận được điều đó, mà cả các quốc gia và các tổ chức quốc tế cũng thừa nhận. Trong đó, không chỉ có các bạn bè truyền thống mà cả những người bạn mới của Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam đã xứng đáng tiêu biểu cho bản lĩnh Việt Nam trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, đã tỏ rõ tính độc lập tự chủ trong mọi đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại, đưa đời sống nhân dân lên ngày một cao hơn, đưa đất nước và dân tộc lên vị thế mới trong khu vực và thế giới. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với Việt Nam không chỉ là mục tiêu, là nhu cầu, là cương lĩnh hành động, là ngọn cờ hiệu triệu, mà còn là động lực, là niềm tin sắt son của dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Như thế, đối với Việt Nam ta, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là sự gắn kết hai sức mạnh thành một sức bật mới; là cội nguồn thắng lợi của cách mạng Việt Nam hôm qua, hôm nay và mai sau. Trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội Đảng,nhà nước và nhân dân ta đã có những chính sách kịp thời và hớp lý để củng cố phát triển kinh tế xã hội,nâng cao đời sống tinh thần và vật chất cho nhân dân,để nhân dân có cuộc sống ấm no hạnh phúc. Nhà nươc ta đã thực hiện những chính sách xóa đói,giảm nghèo cho người dân.thu nhập bình quân trên đầu người tăng 5,7 triệu đồng/người/năm(2000) và đạt gần 20 triệu đồng/người/năm.(2009) Văn hoá - xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt, việc gắn kết giữa phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội có chuyển biến tích cực, chỉ số phát triển con người được nâng lên Công tác xoá đói, giảm nghèo được đẩy mạnh bằng nhiều hình thức, đã thu được nhiều kết quả tốt thông qua việc trợ giúp điều kiện sản xuất, tạo việc làm, cải thiện kết cấu hạ tầng, nhà ở; tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản, tăng thu nhập, cải thiện đời sống; động viên các ngành, các cấp, các đoàn thể quần chúng và các tầng lớp dân cư tham gia. Năm 2009 giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 12%. Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân được chú trọng. Hoạt động y tế dự phòng được đẩy mạnh hơn.Mạng lưới y tế, đặc biệt là y tế cơ sở được củng cố và phát triển; hầu hết các xã, phường trong cả nước đều có trạm y tế, Hoạt động văn hoá, thông tin phát triển đa dạng hơn, góp phần nâng cao đời sống văn hoá của nhân dân, làm tăng hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, phổ biến pháp luật; phong trào xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở phát triển sâu rộng hơn. Hoạt động báo chí, phát thanh, truyền hình được đổi mới về nội dung, tăng quy mô, mở rộng phạm vi tới vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và ra nước ngoài. Hoạt động thể dục, thể thao tiếp tục phát triển theo chiều rộng và có bước nâng cao. Cơ sở vật chất - kỹ thuật của ngành thể thao đã được tăng cường đáng kể Việc chăm sóc người có công với cách mạng và trợ giúp người có đời sống khó khăn được duy trì và mở rộng. Đi đôi với mở rộng diện được hưởng chính sách trợ giúp của Nhà nước, phong trào "đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn", đã được các ngành, các cấp tổ chức, triển khai kịp thời, có hiệu quả và huy động được sự tham gia của đông đảo nhân dân. Công tác phòng, chống tệ nạn xã hội được đẩy mạnh hơn. Nhiều địa phương đã có những giải pháp tốt phòng chống ma tuý, tệ nạn mại dâm và ngăn chặn các hoạt động văn hoá không lành mạnh. Các hình thức cai nghiện, quản lý người sau cai nghiện có hiệu quả hơn. Từ những thành tựu mà chúng ta đã đạt được chúng ta có thể thấy rằng đời sống của nhân dân ta ngày càng tố hơn.Thu nhập của người dân ngày cang tăng lên,Các hoạt động văn hóa thể duc thể thao phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân ngày càn phát triển Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường, quan hệ đối ngoại được mở rộng, tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội Cải cách hành chính có bước tiến mới, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước được tăng cường một bước; dân chủ trong xã hội tiếp tục được phát huy; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững. Hoạt động chính trị đối ngoại không ngừng được mở rộng cả trong quan hệ nhà nước và quan hệ nhân dân; đạt được kết quả quan trọng trong việc thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Tiềm lực quốc phòng, an ninh được tăng cường; đời sống vật chất, tinh thần và trang bị kỹ thuật của lực lượng vũ trang được cải thiện. Các tuyến phòng thủ, thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân được củng cố. Việc kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh được thực hiện tốt hơn. Công tác bảo vệ an ninh chính trị và giữ gìn trật tự an toàn xã hội đạt được thành tựu quan trọng; đã phát hiện, ngăn chặn nhiều âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch; kiềm chế được tội phạm hình sự; xử lý nghiêm tội tham nhũng. Công tác quốc phòng, an ninh và đối ngoại đã góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội, tạo môi trường hoà bình, ổn định và điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. - Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được chú trọng, hệ thống chính trị được củng cố. Hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng tương đối đồng bộ; hoạt động của các loại hình doanh nghiệp và bộ máy quản lý nhà nước được đổi mới một bước quan trọng. Một số loại thị trường mới hình thành; các loại thị trường hàng hoá, dịch vụ, lao động, khoa học và công nghệ, tài chính, bất động sản có bước phát triển phù hợp với cơ chế mới Việc phổ cập giáo dục trung học cơ sở đã được triển khai tích cực, Quy mô giáo dục tiếp tục được mở rộng và trình độ dân trí đã được nâng cao. Thực hiện nói không với tiêu cực và bệnh thành tích trong giáo dục Số học sinh trung học chuyên nghiệp,dạy nghề dài hạn, sinh viên đại học và cao đẳng tăng. Các trường sư phạm từ trung ương đến địa phương tiếp tục được củng cố và phát triển. Chất lượng dạy nghề có chuyển biến tích cực. Bước đầu đã hình thành mạng lưới dạy nghề cho lao động nông thôn, thanh niên dân tộc thiểu số, người tàn tật, gắn dạy nghề với tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo. Đổi mới giáo dục đang được triển khai từ giáo dục mầm non, phổ thông, dạy nghề đến cao đẳng, đại học. Việc xã hội hoá giáo dục và đào tạo đã đạt kết quả bước đầu. Nhiều trường dân lập, tư thục bậc đại học, trung học chuyên nghiệp, trung học phổ thông và dạy nghề đã được thành lập. Đầu tư cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo tăng lên đáng kể. Năm.Cơ sở vật chất của ngành đã được tăng cường, đặc biệt là đối với vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Những thành tựu của những năm qua đã tăng cường sức mạnh tổng hợp, làm thay đổi bộ mặt của đất nước và cuộc sống của nhân dân, củng cố vững chắc độc lập dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế. Đạt được thành tựu trên là do Đảng ta có bản lĩnh chính trị vững vàng và đường lối lãnh đạo đúng đắn; Nhà nước ta có cố gắng lớn trong việc quản lý điều hành; toàn dân tộc đã phát huy lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm, đoàn kết nhất trí, cần cù, năng động, sáng tạo… Tuy nhiên, bên cạnh đó chúng ta còn những yếu kém cần khắc phục: - Chất lượng phát triển kinh tế - xã hội và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn kém Tốc độ tăng trưởng kinh tế những năm qua vẫn thấp hơn so với khả năng và thấp hơn nhiều nước trong khu vực ở thời kỳ đầu công nghiệp hoá. Qui mô nền kinh tế còn nhỏ, thu nhập bình quân đầu người thấp. Tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào các nhân tố phát triển theo chiều rộng, vào những ngành và những sản phẩm truyền thống, công nghệ thấp, tiêu hao vật chất cao, sử dụng nhiều tài nguyên, vốn và lao động. Năng suất lao động tăng chậm và còn thấp so với nhiều nước trong khu vực. Khả năng cạnh tranh của nền kinh tế còn kém; chi phí kinh doanh cao, chất lượng và hiệu quả còn thấp. Chưa thực hiện thật tốt việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội. Môi trường ở nhiều nơi bị ô nhiễm nặng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống. Trước tình hinh lạm phát diên ra trong những năm vừa qua ta nhận thấy khả năng điêu phôi nên kinh tế con kém.nên kinh tế không ổn đinh đã bị ảnh hưởng của sự suy thoái nên kinh tế của các nước phương tây Nguồn lực của đất nước chưa được sử dụng có hiệu quả cao, tài nguyên, đất đai và các nguồn vốn của Nhà nước còn bị lãng phí, thất thoát nghiêm trọng. Các nguồn lực trong dân còn nhiều tiềm năng chưa được phát huy Chất lượng giáo dục và đào tạo còn thấp, nhiều vấn hạn chế, yếu kém chậm được khắc phục. Chất lượng giáo dục còn nhiều yếu kém; khả năng chủ động, sáng tạo của học sinh, sinh viên ít được bồi dưỡng, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên còn yếu. Chương trình, phương pháp dạy và học còn lạc hậu, nặng nề, chưa thật phù hợp. Phát triển giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học chưa cân đối với giáo dục trung học phổ thông. Đào tạo nghề còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng. Việc xã hội hoá giáo dục được thực hiện chậm, thiếu đồng bộ. Công tác giáo dục và đào tạo ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn, chất lượng thấp. Chưa quan tâm đúng mức phát triển giáo dục và đào tạo ở đồng bằng sông Cửu Long, để giáo dục và đào tạo của vùng này tụt hậu kéo dài so với các vùng trong cả nước. Công tác quản lý giáo dục, đào tạo chậm đổi mới và còn nhiều bất cập. Thanh tra giáo dục còn nhiều yếu kém; những hiện tượng tiêu cực, như bệnh thành tích, thiếu trung thực trong đánh giá kết quả giáo dục, trong học tập, tuyển sinh, thi cử, cấp bằng và tình trạng học thêm, dạy thêm tràn lan kéo dài, chậm được khắc phục. Bộ máy nhà nước chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu của công cuộc phát triển kinh tế, xã hội Những yếu kém của bộ máy quản lý nhà nước và công tác cán bộ chậm được khắc phục. Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu, chưa gắn với xây dựng và chỉnh đốn Đảng, với đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, chưa phối hợp chặt chẽ với cải cách và đổi mới hoạt động tư pháp. Cải cách tư pháp chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Năng lực và phẩm chất của nhiều cán bộ, công chức còn yếu, một bộ phận không nhỏ thoái hoá, biến chất. Dân chủ ở nhiều nơi bị vi phạm, kỷ cương phép nước chưa nghiêm. Quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng, đặc biệt là tình trạng nhũng nhiễu, cửa quyền, thiếu trách nhiệm của bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, nhất là ở các cơ quan giải quyết công việc cho dân và doanh nghiệp. Bộ máy chính quyền cơ sở nhiều nơi yếu kém. Những thành tựu đạt được trong công tác bảo vệ an ninh, trật tự chưa thật vững chắc. Việc đấu tranh chống âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch có lúc còn thiếu chủ động, chưa kịp thời. Chất lượng các tuyến phòng thủ, thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân ở một số nơi chưa đạt yêu cầu. Công tác đối ngoại còn có việc thiếu chiều sâu và chưa thật chủ động; công tác tuyên truyền đối ngoại còn kém; quản lý nhà nước về công tác đối ngoại chưa chặt chẽ. Các yếu kém và bất cập về kinh tế, xã hội do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu: Thứ nhất, chậm đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; chậm xây dựng đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thứ hai, chưa có chính sách và giải pháp đủ mạnh để huy động và sử dụng được tốt._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc31588.doc
Tài liệu liên quan