Vận dụng công nghệ quản lý Ngân hàng hiện đại vào hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nhà nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Phần mở đầu 1. Đặt vấn đề: Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Với chính sách mở cửa có nguyên tắc và đường lối phát triển nền kinh tế xã hội theo cấu trúc 5 thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển, đã và đang tạo ra những điều kiện tiền đề rất cơ bản cho quá trình đổi mới, phát triển nền kinh tế đất nước. Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 (1989) đến nay,trong hơn một thập kỷ thực hiện công cuộc đổi

doc148 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 04/10/2013 | Lượt xem: 485 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Vận dụng công nghệ quản lý Ngân hàng hiện đại vào hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nhà nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
mới kinh tế đất nước, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành quả rất quan trọng và cơ bản. Tuy nhiên, nghiêm túc mà nói thành quả đạt được chưa thật vững chắc. Hoạt động của nền kinh tế đã bắt đầu bộc lộ một số vấn đề khá cơ bản cần bàn, nghiên cứu và tìm hướng khắc phục. Nổi bật là vấn đề quản lý kinh tế. Quá trình đổi mới nền kinh tế về thực chất là quá trình thay đổi cơ chế quản lý. Là quá trình chuyển đổi từ cơ chế quản lý hành chính, kế hoạch hóa tập trung và bao cấp sang hoạt động theo cơ chế quản lý kinh tế hiện đại, vận động theo cơ chế thị trường, lấy thị trường làm tiêu điểm cho các hoạt động của các doanh nghiệp. Việc chậm đưa công nghệ quản lý kinh tế hiện đại vào hoạt động thực tiễn chính là nguyên nhân cơ bản làm giảm thành quả đạt được trong thời gian qua, làm chậm quá trình đổi mới và phát triến nền kinh tế đất nước. Hoạt động của ngành Ngân hàng Việt Nam cũng nằm trong bối cảnh chung của nền kinh tế, hiện cũng đang vấp phải những vấn đề bức xúc của quá trình phát triển mà nguyên nhân của nó cũng không ngoài vấn đề chậm đưa công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại vào hoạt động kinh doanh của mình. Điều đó đã hạn chế phần lớn đến kết quả đạt được cũng như định hướng hoạt động trong thời gian tới của toàn ngành Ngân hàng Việt Nam. Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, viết gọn là Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam (viết tắt là NHNOVN) là một ngân hàng lớn trong hệ thống ngân hàng quốc doanh ở Việt Nam, cũng nằm trong tình trạng chung trên đây của toàn ngành ngân hàng và của nền kinh tế đất nước. Như vậy, công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại thực sự là một vấn đề lớn, cấp thiết cần được nghiên cứu và vận dụng vào hoạt động thực tiễn ở các ngân hàng thương mại Việt Nam. Xuất phát từ cách đặt vấn đề trên, tác giả đã chọn và triển khai nghiên cứu đề tài: "Vận dụng công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại vào hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay". 2. Mục đích nghiên cứu: Một là: Luận giải công nghệ quản lý kinh tế hiện đại là một quá trình quản lý mang tính xã hội và vai trò của nó đối với việc phát triển nền kinh tế đất nước.Từ đó thấy được vai trò của công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại đối với yêu cầu đổi mới hệ thống Ngân hàng Việt Nam. Hai là: Từ nội dung công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại đối chiếu với hoạt động thực tiễn quản lý của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam, từ đó rút ra những mặt làm được và chưa làm được so với yêu cầu của công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại. Ba là :Đề xuất một số giải pháp vận dụng công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại vào hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng: Công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại Phạm vi nghiên cứu:Công nghệ quản lý kinh tế hiện đại và Công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại. Phạm vi vận dụng: Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam. Thời gian: Từ nay đến những năm đầu của thế kỷ 21 Giới hạn: * Công nghệ quản lý kinh tế hiện đại và công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại vận dụng cho các doanh nghiệp và ngân hàng thương mại. Khi nghiên cứu công nghệ quản lý hiện đại không nghiên cứu về mặt kỹ thuật như vi tính, thông tin... coi đó như là các yếu tố vật chất tự nhiên cần và có trong quá trình nghiên cứu. Chỉ nghiên cứu trong phạm vi nội dung công nghệ quản lý,còn các kỹ thuật chi tiết của công nghệ quản lý không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài. 4. Phương pháp nghiên cứu: Duy vật biện chứng. Duy vật lịch sử. Tư duy logic. Phân tích thống kê. Phân tích kinh tế. Xử lý hệ thống... 5. Đề và kết cấu của bài viết: Đề của bài viết: "Vận dụng công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại vào hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay". Kết cấu của bài viết bao gồm: Phần mở đầu. Ba chương: Chương 1: Quản lý kinh tế và công nghệ quản lý kinh tế hiện đại Chương 2: Nội dung Công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại Chương 3: Vận dụng công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại vào hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Phần kết luận. Chương 1 Quản lý kinh tế và công nghệ quản lý kinh tế hiện đại Sự ra đời và phát triển của khoa học quản lý kinh tế gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và sự phát triển của xã hội loài người. Chính vai trò to lớn của quản lý kinh tế là cơ sở để tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này đó là: công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại. Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại là một ngành kinh tế đặc biệt, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ.Ngành Ngân hàng là một trong nhiều ngành kinh tế quan trọng của toàn bộ hoạt động nền kinh tế đất nước. Chính vì vậy, trước khi tìm hiểu nội dung của công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại và vận dụng chúng trong thực tiễn cần phải tìm hiểu về quản lý kinh tế, đặc biệt là những vấn đề cơ bản của công nghệ quản lý kinh tế hiện đại có liên quan đến công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại. Đó là nội dung chính cần làm rõ ở chương này. 1.1. Vai trò của quản lý kinh tế đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.[9,9-21] 1.1.1.Những vấn đề chung về quản lý kinh tế. Có nhiều dạng quản lý, nói cụ thể là có nhiều đối tượng cần quản lý. Từ quản lý giới vô sinh đến giới hữu sinh, từ quản lý kinh tế đến quản lý xã hội. Bài viết này chỉ quan tâm đến lĩnh vực quản lý kinh tế. Quản lý kinh tế có các đặc trưng cơ bản sau đây: Thứ nhất: Quản lý kinh tế được phân chia thành hệ thống quản lý và hệ thống bị quản lý (sự phân chia này chỉ là tương đối và trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể nó có thể thay đổi vị trí cho nhau). Thứ hai: Quản lý phải có khả năng thích ứng với môi trường hoạt động. Thứ ba: Quản lý luôn liên quan đến vấn đề trao đổi thông tin giữa hệ thống này với hệ thống khác và trong nội bộ mỗi hệ thống. Thứ tư: Quản lý có mối quan hệ hai chiều trong lĩnh vực thông tin,có nghĩa là trong bất kỳ một hệ thống quản lý nào khi truyền đạt thông tin đi thì nó sẽ phải thu được thông tin phản hồi. Nếu mất thông tin phản hồi thì hệ thống quản lý đó coi như không còn giá trị. Sơ đồ chung của quản lý (Theo quan điểm điều khiển học) Thông tin Thông tin bên ngoài Chủ thể quản lý Đối tượng quản lý Thông tin phản hồi Chủ thể quản lý phát ra mệnh lệnh quản lý dưới dạng thông tin, đối tượng quản lý tiếp nhận thông tin và có thông tin phản hồi cho chủ thể quản lý biết được các yêu cầu cần thiết từ việc xử lý thông tin đến để có thông tin phản hồi. Từ các đặc trưng cơ bản của quản lý nêu trên,có rất nhiều cách khác nhau định nghĩa về quản lý kinh tế. Tuy nhiên, định nghĩa sau đây thường được dùng hơn cả: Quản lý kinh tế là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm duy trì sự phát triển của hệ thống kinh tế. Sử dụng một cách hiệu quả nhất các tiềm năng cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ hội của hệ thống kinh tế để đưa hệ thống đến mục tiêu dự định một cách tốt nhất trong sự biến động không ngừng của môi trường hoạt động kinh tế. Quản lý diễn ra trước hết như là một quá trình tác động qua lại giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Tuy nhiên,việc phân biệt giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý chỉ là ước lệ vì nhiều khi chủ thể quản lý lại trở thành đối tượng quản lý và ngược lại. Muốn xác định chủ thể quản lý phải đặt chúng vào từng môi trường hoàn cảnh cụ thể. Mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý được xây dựng theo qui tắc mối liên hệ qua lại. Điều đó có nghĩa là: Đối tượng quản lý không chỉ chịu sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý, mà nó còn vận động và phát triển theo những qui tắc vốn có của nó và từ đó tác động lại chủ thể quản lý. Tùy theo nội dung, hình thức và phương pháp quản lý sẽ dẫn đến kết quả quản lý nhất định. Tóm lại, hiệu quả của quản lý do tính chất của mối quan hệ qua lại giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý quyết định. Quản lý có thể được xem xét về phương diện tĩnh là cơ cấu quản lý hay về phương diện động là quá trình quản lý. - Cơ cấu quản lý là các bộ phận của hoạt động quản lý. - Quá trình quản lý là quá trình hoạt động của cơ cấu quản lý. Khi xem xét quá trình quản lý có thể phân tích trên nhiều mặt như về nội dung: Làm gì ? Về tổ chức: Ai làm, làm theo trình tự nào ? Và về công nghệ: Làm như thế nào ?. Điều cần lưu ý khi nghiên cứu về quản lý là: quản lý kinh tế vừa có tính khoa học vừa có tính nghệ thuật. Quản lý đã có từ lâu trong lịch sử tồn tại và phát triển của loài người. Nhưng trước đây người ta thường phủ nhận tính khoa học của quản lý kinh tế và đặc biệt là tính nghệ thuật của nó.Người ta cho rằng yếu tố quyết định trong thắng lợi của quản lý đó là tài năng của người quản lý.Vậy tính khoa học của quản lý được thể hiện ở chỗ nào ? Trong quản lý có những nguyên tắc ổn định và bền vững mà chủ thể quản lý cần nắm bắt, nghiên cứu và vận dụng chúng cho thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp. Ngoài ra quản lý kinh tế luôn liên quan đến hoạt động của con người có ý thức, có nhận thức về hành động của mình trong sự tồn tại vói cộng đồng xã hội. Tính khoa học của quản lý đòi hỏi việc quản lý kinh tế phải dựa trên sự hiểu biết sâu sắc các qui luật khách quan, không chỉ các qui luật về kinh tế mà còn cả các qui luật xã hội,qui luật tự nhiên... chứ không phải chỉ dựa trên kinh nghiệm hay trực giác của chủ thể quản lý. Mặc dù kinh nghiệm có được cũng chính là kết quả của quá trình nhận thức qui luật khách quan mà có. Muốn quản lý kinh tế một cách khoa học đòi hỏi phải có tầm nhìn toàn diện và đồng bộ các hoạt động của doanh nghiệp. Quản lý kinh tế không chỉ giới hạn về những vấn đề liên quan đến kinh tế mà cả những vấn đề liên quan khác như về tâm sinh lý con người, các qui luật xã hội, qui luật tự nhiên... Cả về công nghệ, kỹ thuật và môi trường. Tính khoa học của quản lý còn được hỗ trợ bởi các kỹ thuật và công nghệ hiện đại mà con người sáng tạo và phát minh ra. Từ các công cụ này, chủ thể quản lý có thể khẳng định các quyết định quản lý của mình là có căn cứ khoa học. Tính nghệ thuật của quản lý có thể tìm được những nguyên tắc chung,thường là qui ước và mang tính kinh nghiệm chủ nghĩa. Nghệ thuật trong quản lý kinh tế là "biết làm thế nào" để đạt được một kết quả cụ thể. Nghệ thuật quản lý kinh tế liên quan mật thiết đến các quyết định riêng có của chủ thể quản lý nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong cùng một điều kiện nhất định có nhiều giải pháp đúc kết và rút ra từ qui luật. Chẳng hạn trong quản lý kinh tế, việc khuyến khích bằng lợi ích vật chất là quan trọng (điều này có tính qui luật). Tuy nhiên, chủ thể quản lý vận dụng yếu tố này vào thời điểm nào, mức độ bao nhiêu và bằng phương pháp nào để tạo nên kết quả mong muốn lại mang tính nghệ thuật. Có thể thưởng trực tiếp cho nhân viên 100.000đ, hay nhân dịp sinh nhật của người nhân viên "tặng" cho họ số tiền được thể hiện bằng một kỷ vật nào đó thì người nhân viên rất khó quên và năng lực làm việc, mức độ trung thành với doanh nghiệp đạt được nhiều khi vượt xa so với mức độ thưởng trực tiếp. Điều cần nhấn mạnh là để có tính nghệ thuật trong quản lý kinh tế thì chủ thể quản lý phải nắm bắt được tính khoa học của quản lý, cũng có nghĩa là tính nghệ thuật của quản lý được bắt nguồn từ tính khoa học của quản lý nhưng nó "linh diệu" hơn, nâng quản lý lên thành mức "nghệ thuật", "nghệ thuật" đến mức nhiều người đều biết nhưng chỉ có chủ thể quản lý đó ra được quyết định hành động như vậy mà thôi. Có những qui luật nhiều người cùng nhận thấy, nhưng nghệ thuật quản lý đòi hỏi chủ thể quản lý cần phải nắm bắt được những qui luật "ẩn" không chỉ thuộc qui luật kinh tế và vận dụng chúng cho linh hoạt. Như ví dụ trên, việc tặng quà sinh nhật của chủ thể quản lý không phải là hành động ngẫu nhiên mà có chủ định,ngoài việc vận dụng qui luật trong kinh tế còn tính toán dựa vào qui luật tâm sinh lý của con người. Như vậy có thể khẳng định: nghệ thuật quản lý kinh tế là sự phát triển của tính khoa học trong quản lý. Điều đó cũng có nghĩa là nghệ thuật quản lý không hoàn toàn là chủ nghĩa kinh nghiệm trong quản lý kinh tế. 1.1.2. Vai trò của quản lý kinh tế đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Quản lý kinh tế là một phạm trù liên quan trực tiếp đến sự ra đời của quá trình hợp tác và phân công lao động xã hội. Quản lý là kết quả tất yếu của quá trình kết hợp nhiều lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình lao động xã hội được phối kết hợp lại. C.Mác cho rằng: "Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến hành trên một qui mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân. Sự chỉ đạo đó phải làm chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó. Một nhạc sĩ độc tấu thì tự mình điều khiển lấy mình, nhưng một giàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng"[9,9]. Như vậy chức năng quản lý là sự kết hợp một cách hợp lý các yếu tố cơ bản của sản xuất, là việc tạo lập một quá trình ăn khớp giữa những cá thể lao động riêng biệt. Rõ ràng hoạt động quản lý không thực hiện thì quá trình sản xuất, quá trình hợp tác không thể diễn ra được. Những nhân tố sau đây làm tăng vai trò của quản lý kinh tế: Nhân tố thứ nhất: Tính chất và qui mô của sản xuất. Chừng nào qui mô của hoạt động hợp tác sản xuất kinh doanh chưa lớn lắm thì quản lý chưa cần phải có những yêu cầu đặc biệt. Qui mô sản xuất kinh doanh càng mở rộng và phát triển thì chức năng quản lý càng trở nên phức tạp và vai trò của nó càng trở nên rõ nét trong hoạt động của doanh nghiệp. Điều này đặc biệt đúng trong nền kinh tế hiện đại ngày nay. Nhân tố thứ hai: Vai trò của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật. Ngày nay, khoa học kỹ thuật đã bảo đảm cho sự phát triển của nhân loại những nguồn lợi to lớn về vật chất. Từ đổi mới kỹ thuật đến đổi mới công nghệ và việc áp dụng những thành tựu mới của kỹ thuật cho phép đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn.Nhưng điều đó có được trước hết nhờ đổi mới công nghệ quản lý, chính công nghệ quản lý tạo điều kiện cho việc ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Nếu không có tầm nhìn, tính khoa học sáng tạo trong quản lý thì kỹ thuật mới, công nghệ mới chỉ là sự phát triển trên giấy mà thôi. Công nghệ quản lý kinh tế thực sự là điều kiện mở đường cho khoa học kỹ thuật phát triển, trở thành hiện thực trong các quyết định về kinh tế và là nhân tố quyết định sự tồn tại, phát triển của các doanh nghiệp. Nhân tố thứ ba: Nhân tố về chính trị, xã hội. Quản lý làm cho sản xuất kinh doanh phát triển, làm cho đời sống của nhân dân được cải thiện và nâng cao. Mà "dân giầu, nước mạnh" đó là qui luật tất yếu, những tiêu cực trong cuộc sống được giảm thấp, xã hội ngày một văn minh hơn. Chính quản lý là tiền đề cho việc thúc đẩy xã hội tiến lên. Quản lý có vai trò to lớn đối với sự phát triển nền kinh tế, nhưng vai trò của nó trong các doanh nghiệp còn quan trọng hơn nhiều. Người ta không thể xác định chính xác được mức độ tác động cụ thể của quản lý đối với thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Nhiều người cho rằng không cần xác định mức độ cụ thể vì không có quản lý hoặc quản lý yếu kém thì sự tồn tại của doanh nghiệp đó xét theo giác độ thời gian chỉ còn là tạm thời mà thôi. Vậy quản lý có vai trò như thế nào trong sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp ? Thứ nhất: Quản lý vạch ra định hướng kinh doanh. Lĩnh vực kinh doanh cũng giống như người đi đường, nếu không đi đúng hướng thì không tới đích. Quản lý có vai trò to lớn đối với các doanh nghiệp trước hết ở chỗ xác định hướng đi cho doanh nghiệp. Việc xác định hướng kinh doanh đúng giúp cho doanh nghiệp gặp thuận lợi ngay từ bước khởi đầu.Hơn thế, làm cho doanh nghiệp tự tin hơn trong bước đường kinh doanh của mình. Thứ hai: Quản lý tạo ra sự tiết kiện chi phí, tăng lợi nhuận. Là nhà kinh doanh ai cũng muốn tiết kiệm để tạo ra nhiều lợi nhuận cho đơn vị. Nhưng để làm điều đó bằng cách nào ? Quản lý tốt chính là công cụ để thực hiện mục tiêu đó. Vì quản lý tốt cho phép giảm bớt những thất thoát vật chất trong quá trình sản xuất kinh doanh. Ngoài ra quản lý tốt còn có khả năng làm giảm bớt những lãng phí vô hình, không cần thiết trong quá trình kinh doanh. Đó là sự kết hợp một cách khoa học các bộ phận trong dây chuyền sản xuất kinh doanh sao cho chúng ăn khớp với nhau tránh lãng phí thời gian cũng như những lãng phí vô hình khác của doanh nghiệp. Thứ ba: Quản lý tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển ổn định và vững chắc. Ngày nay cách mạng khoa học kỹ thuật tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp. Tuy nhiên việc đưa khoa học kỹ thuật vào thực tế luôn đòi hỏi một sự sàng lọc, tính toán chặt chẽ nhằm đảm bảo không để xảy ra sự hao mòn vô hình quá nhanh,mặt khác cũng không được vượt quá mức khả năng tài chính cho phép của doanh nghiệp. Những yêu cầu này được giải quyết thông qua công tác quản lý. Không thể kể hết lợi ích mà quản lý đem lại cho doanh nghiệp. Chính vì quản lý có vai trò quan trọng như vậy, nên thông qua việc nghiên cứu về quản lý để từ đó xác định được cách thức quản lý tối ưu là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp nói chung và các ngân hàng thương mại nói riêng hoạt động trong nền kinh tế thị trường. Ngân hàng là một ngành kinh tế,cho nên hoạt động quản lý của ngân hàng cũng không thoát ly được các vấn đề cơ bản của quản lý kinh tế nêu trên. Việc nghiên cứu công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại dưới đây cũng phải dựa vào những vấn đề cơ bản đó để luận giải các vấn đề liên quan. 1.2. lịch sử phát triển của khoa học quản lý.[47, 7-43] 1.2.1. Sơ lược quá trình phát triển của khoa học quản lý. Trước thế kỷ 16, việc sản xuất kinh doanh chủ yếu là sản xuất nhỏ, tự cung tự cấp là phổ biến nên vấn đề quản lý chưa được quan tâm nghiên cứu và áp dụng. Phải đến cuối thế kỷ 16, khi các hoạt động thương mại, đặc biệt ở khu vực Địa Trung Hải được mở rộng thì sản xuất kinh doanh mới bắt đầu phát triển,cùng với nó là sự đòi hỏi phải nâng cao trình độ quản lý sản xuất kinh doanh và việc nghiên cứu về quản lý mới được đặt ra. Nhưng phải tới thế kỷ 18 với nhiều phát minh và sáng chế mới được con người tạo ra trong lĩnh vực công nghiệp, nhất là việc phát minh ra động cơ hơi nước đưa đến cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ nhất ở Châu Âu. Nền sản xuất kinh doanh được phát triển cả về phạm vi và qui mô hoạt động thì vấn đề về quản lý mới thực sự là một đòi hỏi của thực tiễn. Tuy nhiên phải tới những năm cuối của thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19,các tư tưởng về quản lý mới được sắp xếp thành hệ thống và được nghiên cứu một cách khoa học. Và phải tới cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 mới bắt đầu xuất hiện các trường phái nghiên cứu về khoa học quản lý. Trong thế kỷ 20 là giai đoạn bùng nổ các trường phái nghiên cứu về quản lý. Có rất nhiều trường phái khác nhau nhưng tựu trung có một số các trường phái chủ yếu sau: - Trường phái cổ điển. - Trường phái tác phong. - Trường phái hệ thống. - Trường phái định lượng. - Các trường phái quản lý hiện đại. Từ cuối thế kỷ 18 đến nay khoa học quản lý đã trải qua 3 giai đoạn chủ yếu sau: Giai đoạn 1: Cuối thế kỷ 18 đến những năm 30 thế kỷ XX. Phương pháp: đơn lẻ, bất kể miễn đạt lợi nhuận. Chủ yếu nghiên cứu có tính kinh nghiệm chưa thực sự khoa học. Cơ sở kinh tế: xuất phát là nền tảng cá nhân về sở hữu kinh tế. Giai đoạn 2: Từ năm 1930 - 1960. Phương pháp: nghiên cứu có hệ thống, khoa học. Mỗi hệ thống chỉ trọng tâm vào một vấn đề => tạo ra trường phái riêng => có nhiều trường phái. Cơ sở kinh tế : là các công ty tư bản (có tính tập thể). Giai đoạn 3: Từ năm 1960 đến nay. Xu hướng nghiên cứu: phương pháp kết hợp. Lấy thị trường là tiêu điểm của nghiên cứu và ứng dụng khoa học quản lý. Sơ đồ phát triển của khoa học quản lý Giai đoạn 3: Từ 1960 đến nay Nền tảng xã hội Giai đoạn 2: Từ 1930 - 1960 Thị trường chấp nhận đó là sản phẩm tốt Nền tảng tập thể Giai đoạn 1: Cuối TK 18-1930 Cái gì tốt cho công ty tôi thì sẽ tốt cho xã hội Nền tảng cá nhân Quan điểm: Cái gì tốt cho tôi thì sẽ tốt cho XH 1.2.2. Một số trường phái khoa học quản lý chủ yếu: 1.2.2.1. Một số trường phái khoa học quản lý tiền hiện đại Trường phái cổ điển : Từ cuối thế kỷ XIX đến 1930 Trường phái này bao gồm 2 nhánh chính : Nhánh thứ nhất : Học thuyết quản lý theo khoa học do Frederick Winslow Taylor (Mỹ) chủ xướng Nhánh thứ hai : Học thuyết quản lý tổng quát hay học thuyết tổ chức cổ điển do Henri Fayol (châu Âu) đề xướng Với Học thuyết quản lý theo khoa học, họ đưa ra 4 nguyên tắc cơ bản để quản lý theo khoa học đó là: Thứ nhất: Khám phá những nhân tố cơ bản tạo ra tác dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh. Điều này khác với trước đó chủ yếu dùng chủ nghĩa kinh nghiệm. Thứ hai: Xác định chức năng định hướng kinh doanh là của chủ thể quản lý. Việc này khác với trước là hoạt động của đơn vị kinh tế hoàn toàn tự phát. Thứ ba: Đào tạo và chọn lựa lao động một cách tỷ mỷ, khuyến khích hợp tác trong lao động thay vì mặc ai lấy làm. Thứ tư: Phân chia rõ chức năng quản lý và chức năng thừa hành trong sản xuất. Học thuyết này đã đóng góp đáng kể cho khoa học quản lý, nó đưa việc nghiên cứu quản lý trở thành một đối tượng của nghiên cứu khoa học. Đồng thời vạch ra được những vấn đề cơ bản trong quản lý như phân chia được chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, chỉ rõ quản lý là sự phối kết hợp một cách tốt nhất các nhân tố trong sản xuất. Tuy nhiên học thuyết này cũng có những nhược điểm sau: Thứ nhất: Thiếu tính nhân bản, coi lao động (người lao động) chỉ là một bộ phận trong guồng máy sản xuất và tìm mọi cách tận dụng nó (tăng cường bóc lột người thợ). Thứ hai: Việc nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ cụ thể. Thứ ba: Nghiên cứu ở tầm chi tiết, cơ sở. Cùng trong học thuyết này còn có Hersry L Gantt (1861 - 1919) đóng góp được 2 điều: - Bổ sung hệ thống trả lương theo sản phẩm bằng hệ thống tiền thưởng. - Biểu đồ Gantt dễ hiểu và có nhiều tác dụng đối với các ngành kỹ thuật. Học thuyết hành chính tổng quát. Henri Fayol (1841 - 1925) là tác giả chính của học thuyết này, ông đưa ra 5 chức năng của quản lý bao gồm: hoạch định, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm soát. Ngoài ra ông cũng đưa ra 14 nguyên tắc quản lý sau: - Chuyên môn hóa lao động. - Quan hệ quyền hành trong hệ thống quản lý. - Kỷ luật lao động. - Thống nhất chỉ huy (thống nhất mệnh lệnh). - Thống nhất lãnh đạo. - Lợi ích cá nhân được đảm bảo dựa trên lợi ích chung. - Thù lao tương ứng giữa các cấp. - Tập trung thẩm quyền. - Nguyên tắc trật tự. - Nguyên tắc phối hợp. - Nguyên tắc công bằng. - ổn định công việc. - Khuyến khích sáng kiến. - Tinh thần đồng đội tạo sự thống nhất trong quản lý. Trong học thuyết này có Max Weber (1861 - 1920) và Cliester Barnard (1886 - 1961).Đưa tổ chức theo hình chóp nón, tạo sự thống nhất trong điều khiển hoạt động. Tuy nhiên học thuyết này cũng có nhược điểm sau: - Không chú trọng đến yếu tố con người và xã hội, mang sắc thái quan liêu mệnh lệnh. Nói chung trường phái cổ điển đã phác thảo những vấn đề cơ bản ban đầu cho việc nghiên cứu khoa học quản lý dù mới chỉ dừng lại ở bước khởi đầu tựa như hệ thống các kinh nghiệm được đúng kết ra từ cuộc sống, nhưng nó lại là nhưng tiền đề cần thiết để chúng ta tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng trong thực tiễn sau này. Trường phái tác phong: Trường phái này cho rằng quản lý là công việc tiến hành thông qua con người. Ngoài ra trường phái này cũng nhấn mạnh: Năng suất lao động không chỉ do yếu tố vật chất quyết định mà còn do nhu cầu tâm lý xã hội quyết định. Các đại diện chủ yếu của trường phái này là: Lislian Gilbrreth, Hugo Munsterberg, Mary Parker Follef. Trường phái tác phong cho rằng doanh nghiệp cũng là một hệ thống xã hội.Việc động viên, khuyến khích trong sản xuất cho người lao động không chỉ bằng yếu tố vật chất mà còn phải hài hòa với yếu tố tinh thần của người lao động. Họ cũng chỉ ra rằng tập thể có ảnh hưởng lớn đến cá nhân cả về tác phong, kỷ luật, tâm lý... Người lãnh đạo ngoài nhiệm vụ tổ chức sản xuất phải quan tâm cả đến vấn đề tâm lý của người lao động. Tuy nhiên trường phái tác phong chỉ như một trường phái bổ xung cho trường phái cổ điển và vai trò của con người được trường phái nêu ra mới dừng lại ở sự khép kín trong quan hệ nội bộ chưa tính đến sự tác động của môi trường xã hội. Trường phái hệ thống: Phương pháp hệ thống đã được nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin sử dụng từ lâu. Chính C. Mác đã sử dụng phương pháp này để nghiên cứu hệ thống các quan hệ kinh tế tư bản trong bộ Tư bản nổi tiếng của ông. Từ giữa thập kỷ 30 ữ 40 của thế kỷ XX,các nhà nghiên cứu khoa học phương Tây đánh giá rất cao giá trị của phương pháp này. Trong lĩnh vực khoa học quản lý, trường phái hệ thống tìm cách phân tích tổ chức quản lý thông qua phương pháp tiếp cận hệ thống. Hệ thống được hiểu là tập hợp các thành phần trực thuộc và tương tác với nhau để tạo thành một chỉnh thể thống nhất. Thay vì việc nghiên cứu riêng lẻ các thành phần khác nhau của tổ chức, người quản lý cần xem xét toàn bộ tổ chức như một chỉnh thể nằm trong một môi trường cụ thể với các nhân tố tác động lên tổ chức này. Lý thuyết hệ thống cho rằng hoạt động của bất kỳ thành phần nào của hệ thống đều tác động và ảnh hưởng đến các thành phần khác của toàn hệ thống. Trường phái hệ thống chú trọng đến tính năng động và tác động giữa các bộ phận trong hệ thống. Từ đó nó cho phép nhà quản lý một đề cương để soạn thảo các chương trình hành động của mình. Ngoài ra phương pháp phân tích hệ thống còn giúp nhà quản lý duy trì sự cân đối giữa các bộ phận trong hệ thống,giữa đầu vào và đầu ra của toàn hệ thống. Sơ đồ hệ thống sản xuất kinh doanh Các yếu tố sản xuất Đầu vào (in put) Môi trường quá trình SXKD Môi trường Đầu ra (Output) sản phẩm dịch vụ Trường phái định lượng. Chủ trương của lý thuyết định lượng thể hiện trong câu: quản lý là làm quyết định. Việc áp dụng các tiến bộ của ngành điện toán để giải bài toán mô hình phức tạp là phương tiện để đưa ra các quyết định với kết quả tối ưu. Điều cần lưu ý là quan điểm định lượng không đưa ra các quyết định trong quản lý mà nó đưa ra cơ sở định lượng để giúp cho nhà quản lý ra quyết định. Thực ra trường phái định lượng là sự nối tiếp của trường phái cổ điển nhưng dựa vào các công cụ toán học để lượng hóa các yếu tố sản xuất làm căn cứ ra các quyết định mà thôi. Trường phái định lượng không chú trọng đến yếu tố con người trong tổ chức quản lý. Và kỹ thuật để sử dụng nhiều khi quá phức tạp vượt ra ngoài khả năng quản lý trong việc đưa ra các quyết định nhanh. Tóm lại, các trường phái về khoa học quản lý nêu trên đều đang được các công ty ngày nay sử dụng trong quản lý, nó được phối hợp một cách hài hòa trong hoạt động quản lý của các doanh nghiệp. Tuỳ từng hoàn cảnh mà doanh nghiệp sử dụng phương pháp này hay phương pháp khác,nhưng đều không thoát ly được các kỹ thuật mà các lý luận gia của các trường phái quản lý tiền hiện đại nêu ra. Tuy nhiên tất cả các trường phái này vẫn có một điểm chung là xem xét hoạt động của doanh nghiệp dựa vào hoạt động của chính nó, chưa thực sự coi hoạt động của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng lớn bởi sự điều tiết tích cực của môi trường,đặc biệt là các doanh nghiệp đang hoạt động trong cơ chế thị trường với nhiều tác động ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp. 1.2.2.2. Một số trường phái khoa học quản lý hiện đại Có nhiều trường phái nghiên cứu khoa học quản lý khác nhau. Mỗi trường phải đều có những ưu nhược điểm riêng có của mình và đều có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển của khoa học quản lý nói riêng và với sự phát triển của nhân loại nói chung. Chính những khiếm khuyết của các trường phái trước đây sẽ được bù đắp ở trong lý thuyết của các trường phái quản lý kinh tế hiện đại. Và ngược lại, tất cả các cống hiến của các trường phái đó đều được lưu lại như là một bộ phận cấu thành đương nhiên của khoa học quản lý hiện đại. Chính vì vậy, các trường phái khoa học quản lý kinh tế hiện đại được đề cập đến sau đây chính là sự kế thừa và phát triển khoa học quản lý của nhân loại. Trường phái - Tiến trình quản lý: Trường phái này được xây dựng từ 1960, với tác giả chính là Harold Koontz và các cộng sự đã tổng hợp các lý thuyết quản lý của các trường phái trước đó, đặc biệt dựa vào nền tảng lý thuyết của Henri Fayol (trường phái cổ điển - hành chính tổng quát). Nếu các trường phái tiền hiện đại cũng đã nêu ra được các yếu tố của quản lý nhưng rời rạc, thì ngược lại Học thuyết này lại đặc biệt quan tâm đến sự phối kết hợp các yếu tố của quản lý: hoạch định, tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo, kiểm soát. Ngoài ra tác giả của học thuyết đặc biệt chú ý đến vấn đề thực hành để từ đó có căn cứ tạo ra các lý thuyết kết hợp các yếu tố cần quản lý. Nói tóm lại tinh thần của học thuyết chính là sự xem xét quản lý trong một thể thống nhất của các yếu tố quản lý. Sự tác động qua lại giữa các yếu tố cấu thành chính là sự hoàn thiện của quản lý, phải xem xét quản lý trong trạng thái động và biến đổi không ngừng. Trường phái - Tình huống ngẫu nhiên: Fiedler là tác giả đại diện cho trường phái này còn gọi là trường phái quản lý theo điều kiện ngẫu nhiên. Đây là trường phái được nhiều nhà quản lý hiện đại quan tâm. Trường phái này cho rằng muốn quản lý hiệu quả phải căn cứ vào từng tình huống cụ thể. Cơ sở của nhận thức trong quản lý của trường phái này rất phù hợp với thực tiễn,bởi trong thực tiễn có rất nhiều tình huống khác nhau, hình thức có thể giống nhau nhưng không thể có một khuôn mẫu quản lý cố định. Dựa trên cơ sở những vấn đề cơ bản của quản lý để vận dụng trong thực tế sao cho phù hợp với từng tình huống, hoàn cảnh cụ thể. Đây thực sự là một bước đột phá trong tư tưởng và cần được các nhà quản lý hiện đại tiếp nhận để vận dụng một cách khoa học trong thực tiễn. Thuyết Z và kỹ thuật quản lý của Nhật Bản.[2,5-19] Với tác phẩm "Thuyết Z: làm thế nào để các doanh nghiệp Mỹ đáp ứng được sự thách đố của Nhật" xuất bản năm 1981. W._.illiam Ouchi đã xây dựng lý thuyết của mình trên cơ sở hợp nhất hai mặt của một doanh nghiệp đó là: Vừa tổ chức hoạt động kinh doanh có khả năng tạo ra lợi nhuận, vừa là cộng đồng sinh hoạt đảm bảo cuộc sống cho mọi thành viên của doanh nghiệp. Chính vì vậy cần phải chú trọng đến việc tạo mọi điều kiện cho các thành viên các quyền lợi có thể. Thuyết Z đặc biệt quan tâm đến quan hệ xã hội và yếu tố con người trong tổ chức. Cộng với yếu tố cải tiến trong hoạt động coi đó là chìa khóa cho mọi thành công của doanh nghiệp. Tóm lại : các trường phái khoa học quản lý hiện đại đã đưa ra được nhiều luận điển xác đáng và thiết thực cho việc vận dụng chúng vào hoạt động thực tế.Công nghệ quản lý kinh tế hiện đại và công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại được nghiên cứu dưới đây cũng dựa vào những tinh thần cơ bản của các trường phái khoa học quản lý hiện đại để thể hiện nội dung cần nghiên cứu.Những tinh thần cơ bản của các trường phái khoa học quản lý hiện đại cần được lưu ý đó là : Thứ nhất : Cần xem xét quản lý trong một thể thống nhất của các yếu tố quản lý. Thứ hai : Cần phải xem xét quản lý trong trạng thái động và biến đổi không ngừng. Thứ ba : Quản lý hiệu quả phải căn cứ vào từng tình huống cụ thể trong thực tế. Thứ tư : Cần quan tâm đến yếu tố con người trong thực tế quản lý. Thứ năm : Đặc biệt cần quan tâm đến tác động của môi trường, xã hội đến hoạt động quản lý. 1.3. công nghệ quản lý kinh tế hiện đại [9,21], [39,80-82],[48,12-29] 1.3.1.Khái niệm công nghệ quản lý kinh tế hiên đại. Trong quản lý kinh tế có nhiều vấn đề như : về nội dung được hiểu là làm gì ? Về tổ chức: trả lời câu hỏi: ai làm, làm theo trình tự nào ? Về công nghệ được hiểu là: làm như thế nào ? [9,21]Trong các vấn đề đó công nghệ quản lý là vấn đề quan trọng nhất vì thông qua việc nghiên cứu công nghệ sẽ cho ta thấy được tinh thần cơ bản của khoa học quản lý.Thông qua công nghệ quản lý kinh tế mà chức năng, nhiệm vụ của quản lý được thực hiện trong thực tiễn cuộc sống. Công nghệ nói chung được hiểu là cách thức để con người tạo ra sản phẩm phục vụ cho lợi ích của mình. Trong quản lý kinh tế,công nghệ quản lý kinh tế là cách thức mà chủ thể quản lý sử dụng để tác động vào đối tượng quản lý trong quá trình sản xuất kinh doanh cuả các doanh nghiệp để thực hiện các mục tiêu kinh tế được đề ra. Công nghệ quản lý kinh tế luôn tác động đến con người, phản ánh mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể và quan hệ giữa tập thể với xã hội. Những quan hệ này rất sinh động với tất cả sự phong phú và phức tạp của cuộc sống. Công nghệ quản lý kinh tế trực tiếp khơi dậy các động lực, kích thích tính năng động sáng tạo của cá nhân và tập thể người lao động. Công nghệ quản lý còn thể hiện được sự uyển chuyển, linh hoạt, biết thay đổi trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, phù hợp với năng lực và kinh nghiệm quản lý của chủ thể quản lý. Công nghệ quản lý thể hiện được qui luật, nguyên tắc quản lý. Việc sử dụng công nghệ quản lý kinh tế là quá trình thực hiện và sử dụng các nguyên tắc trong quản lý. Điều cần nhấn mạnh là: việc sử dụng phải sáng tạo tránh máy móc, dập khuôn, cứng nhắc. Trong thực tế quản lý, việc vận dụng sáng tạo công nghệ quản lý kinh tế chính là nhằm nâng cao giá trị của công nghệ quản lý. Trong nhiều tình huống, hoàn cảnh cụ thể, việc vận dụng sáng tạo công nghệ quản lý có tác dụng quyết định tới sự thành công hay thất bại của chủ thể quản lý. Trong hoạt động thực tiễn, bên cạnh những yếu tố tích cực, phù hợp với nội dung dự kiến của chủ thể quản lý thường xuất hiện các hiện tượng, sự việc nằm ngoài dự kiến ban đầu của chủ thể quản lý. Đòi hỏi phải sử dụng công nghệ quản lý một cách linh hoạt,nhằm giảm thiểu các sự cố đó.Nói cách khác đi là các sự cố bất thường phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh phải trở thành một vấn đề đơn giản được trù liệu trước trong hoạt động của chủ thể quản lý. Sự phát triển của hoạt động kinh tế trên thế giới đã khách quan đòi hỏi sự thay đổi cơ bản nội dung của công nghệ quản lý. Điều đó có nghĩa là hoạt động của quản lý kinh tế không chỉ dừng lại ở việc tăng cường quản lý nội bộ mà công nghệ quản lý kinh tế hiện đại yêu cầu lấy thị trường làm khâu trung tâm quan trọng nhất của quá trình quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Như vậy, công nghệ quản lý kinh tế hiện đại được bắt đầu từ nhu cầu của thị trường, từ nhu cầu đó được nhà kinh doanh nắm bắt để nghiên cứu, tổ chức sản xuất, phân phối hàng hoá và bán nó trên thị trường nhằm thỏa mãn nhu cầu của xã hội. Như vậy, công nghệ quản lý hiện đại cho rằng: Hãy tổ chức quản lý các hoạt động của doanh nghiệp để cung cấp những sản phẩm, dịch vụ mà thị trường cần chứ không phải bán những sản phẩm mà mình đang có. Giai đoạn này, công nghệ quản lý đã thay đổi về chất trong nội dung của nó. Tổng hợp lại công nghệ quản lý kinh tế hiện đại chính là cách thức quản lý về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ việc phát hiện và biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự về một loại sản phẩm hàng hóa naò đó,nhằm mục đích cao nhất là làm cho doanh nghiệp đạt được lợi nhuận tối đa. Hay nói một cách khác, công nghệ quản lý kinh tế hiện đại là quá trình quản lý mang tính xã hội nhờ đó mà doanh nghiệp có được những gì họ cần và mong muốn đạt được thông qua việc tạo ra, chào bán và thực hiện sản phẩm trên thương trường. Như vậy, công nghệ quản lý kinh tế hiện đại vừa là phương hướng, công cụ, vừa là nguyện vọng của các doanh nghiệp, cho nên chúng là mối quan tâm lớn của các nhà quản lý doanh nghiệp. Thực ra công nghệ quản lý kinh tế hiện đại rất gần gũi với các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, bất cứ một doanh nghiệp nào đều đã và đang nhận thức rõ việc tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh sao cho thật ăn khớp giữa các khâu, điều phối sản xuất sao cho có kế hoạch, quảng cáo để tiêu thụ tốt sản phẩm... Tất cả những vấn đề đó đều nằm trong nội dung của công nghệ quản lý kinh tế hiện đại,chỉ có khác là các doanh nghiệp mới chỉ sử dụng một phần, không đầy đủ các nội dung của chúng. Hơn nữa chưa coi hoạt động của công nghệ quản lý kinh tế hiện đại là hoạt động tổng hợp, xuyên suốt mọi hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt chưa thấy được chính thị trường mới là tâm điểm của hoạt động quản lý của doanh nghiệp.Công nghệ quản lý kinh tế hiện đại cần được xem như một thứ "triết lý" kinh doanh của doanh nghiệp chứ không nên xem nó như là một chức năng độc lập, riêng biệt. 1.3.2. Những nhận thức cơ bản về công nghệ quản lý kinh tế hiện đại. Thứ nhất: Cần phải xử lý công việc theo cách nhìn của công nghệ quản lý kinh tế hiện đại. Có nhiều vấn đề liên quan đến công nghệ quản lý kinh tế hiện đại. Nhưng nhận thức đầu tiên về nó là cần phải có cách nhìn theo quan điểm mới. Nếu trước kia, bất kỳ một doanh nghiệp nào đều muốn thực hiện được nhiều sản phẩm hiện có của mình. Trên cơ sở đó lãnh đạo của doanh nghiệp ra các quyết định để thực hiện sản phẩm. Họ quyết định thực hiện sản phẩm vào lúc nào, cho ai, lượng là bao nhiêu... Như vậy doanh nghiệp đã thực hiện sản phẩm của mình bằng con mắt của chính mình, bằng chính sản phẩm của mình, không cần biết xem khách hàng họ mong muốn gì ở sản phẩm của doanh nghiệp. Hay nói một cách khác là doanh nghiệp đã tiến hành thực hiện sản phẩm theo cách nhìn sản phẩm hay cách nhìn bán hàng. Các doanh nghiệp theo quan điểm này thường ít tính đến những ý kiến của khách hàng. Họ tin tưởng rằng các nhân viên của mình đã tạo ra được những sản phẩm đảm bảo tính tốt đẹp nhất phục vụ thị trường. Hầu hết các doanh nghiệp đều có cách nhìn bán hàng khi họ có dư công suất phục vụ. Mục đích của họ là thực hiện được những gì họ có chứ không phải là tạo ra sản phẩm gì mà thị trường mong muốn. Ngược lại với quan điểm trên đó là quan điểm của công nghệ quản lý kinh tế hiện đại. Nó thực sự là một “triết lý” trong kinh doanh đang thách thức các quan điểm trước đây. Quan điểm công nghệ quản lý kinh tế hiện đại cho rằng phải xuất phát từ thị trường mà người thực hiện là khách hàng. Nhu cầu của khách hàng mới là động lực hoạt động thực có của doanh nghiệp. Quan điểm công nghệ quản lý kinh tế hiện đại cho rằng thị trường là mục tiêu, nhu cầu của khách hàng là đối tượng,công nghệ quản lý kinh tế hiện đại là công cụ thực hiện, lợi nhuận là mục đích. Thứ hai: công nghệ quản lý kinh tế hiện đại là cách thức quản lý mới của toàn doanh nghiệp cùng hướng tới lợi nhuận. Công nghệ quản lý kinh tế hiện đại không chỉ là đáp ứng tốt nhất những mong muốn của khách hàng mà còn phải là sự đáp ứng có lợi cho doanh nghiệp. Thực ra công nghệ quản lý kinh tế hiện đại quan tâm đến mục tiêu cuối cùng là lợi ích của doanh nghiệp nhưng trong quá trình hoạt động của nó nhiều khi ta có cảm tưởng ngược lại. Tăng cường khuyến mại, quảng cáo thực ra doanh nghiệp đã phải chi không lấy lại trực tiếp của khách hàng. Nhưng mọi hoạt động đó đều nhằm một mục tiêu: sẽ thu được kết quả tốt hơn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Hơn nữa, công nghệ quản lý kinh tế hiện đại phải là nhận thức chung của toàn doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp, từ giám đốc đến nhân viên, từ cán bộ nghiệp vụ đến cán bộ phục vụ đều phải hoạt động theo quan điểm chung thống nhất về chúng. Bất kỳ một bộ phận nào, một cán bộ nào của doanh nghiệp không thực hiện những quan điểm cơ bản về công nghệ quản lý kinh tế hiện đại đều không đưa lại kết quả hoạt động như mong muốn.Có nhiều người cho rằng công nghệ quản lý kinh tế hiện đại là của lãnh đạo, quan điểm đó không phù hợp với đòi hỏi của việc vận dụng công nghệ quản lý mới vào hoạt động thực tiễn. Đối xử niềm nở với khách hàng không phải chỉ do bộ phận tác nghiệp hay lãnh đạo. Hình ảnh của doanh nghiệp không phải do một ai trong doanh nghiệp làm được mà là tất cả. Tất cả đều cùng có nhận thức mới về quản lý đó là : toàn doanh nghiệp cùng hướng về lợi nhuận. Nhận thức này được thể hiện ở các khía cạnh sau đây: - Toàn doanh nghiệp phải nhận thức được vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp là do khách hàng. -Doanh nghiệp phải là một thể thống nhất giữa các bộ phận, không có bất cứ sự lệnh pha trong hoạt động của bất cứ bộ phận nào, tất cả đều hướng tới thị trường, phục vụ thị trường, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp và tăng thu nhập cho chính bản thân người lao động - Công nghệ quản lý kinh tế hiện đại đòi hỏi sự sáng tạo trong hoạt động do vậy sự sáng tạo của các bộ phận, các cá nhân phải được đánh giá đúng mức và có sự khen thưởng xứng đáng, kịp thời để khuyến khích các bộ phận, cá nhân làm tốt hơn, sáng tạo hơn nữa trong công việc của mình. Thứ ba: Mục tiêu của công nghệ quản lý kinh tế hiện đại Thực ra công nghệ quản lý kinh tế hiện đại có thành công hay không chính là việc xem xét chúng có đạt được các mục tiêu đề ra hay không. Trong thực tiễn mục tiêu của công nghệ quản lý kinh tế hiện đại cần đạt được là sự thoả mãn cả 3 đối tượng. Sự thỏa mãn đối với cán bộ doanh nghiệp Sự thỏa mãn đối với khách hàng (thị trường) Sự thỏa mãn đối với doanh nghiệp (Sự trung thành) (Động lực thúc đẩy) công nghệ quản lý kinh tế hiện đạI (Tồn tại và phát triển) (Khả năng sinh lời) Sự thoả mãn phải đạt được ở cả 3 đối tượng. Nếu chỉ thỏa mãn một phần trong 3 đối tượng đó đều có thể nhận dạng sự không thành công của công nghệ quản lý kinh tế hiện đại trong việc vận dụng chúng vào hoạt động thực tiễn. Rõ ràng nếu chúng ta thỏa mãn được thị trường mà không thỏa mãn được doanh nghiệp thì không còn ý nghĩa gì với việc vận dụng công nghệ quản lý mới. Mà đương nhiên không thỏa mãn cho doanh nghiệp thì cũng không thể thỏa mãn cho nhân viên của doanh nghiệp. Công nghệ quản lý kinh tế hiện đại là do toàn bộ doanh nghiệp thực hiện nếu không thỏa mãn được đội ngũ nhân viên thì ai là người thực hiện công nghệ,như vậy không thể có sự thắng lợi của công nghệ quản lý mới khi không thỏa mãn được đối tượng này. Tóm lại mục tiêu của công nghệ quản lý kinh tế hiện đại là thỏa mãn cả 3 đối tượng: thị trường, doanh nghiệp và nhân viên doanh nghiệp. Trước đây, công nghệ quản lý cũ thường không có được nhận thức như vậy. Với các doanh nghiệp thường chỉ trọng tâm vào mục đích : Thoả mãn lợi ích của doanh nghiệp sao cho đạt được lợi nhuận tối đa. Ngoài ra, cùng với quá trình phát triển của doanh nghiệp,các nhà quản lý thấy rằng có thể tăng cường một chút quyền lợi cho nhân viên của mình để kích thích họ làm việc.Quyền lợi nhân viên của doanh nghiệp chưa thực sự trở thành một mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp.Đặc biệt,mục tiêu nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng,nhu cầu của thị trường còn rất xa lạ với công nghệ quản lý kinh tế trước đây.Chính nhận thức mới về các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là cơ sở chính cho sự đổi mới nhận thức của công nghệ quản lý kinh tế hiện đại. Thứ tư: công nghệ quản lý kinh tế hiện đại là một quá trình hoàn chỉnh: Khi vận dụng công nghệ quản lý kinh tế hiện đại trong thực tế cần đặc biệt lưu ý đến vấn đề này.Sự vận động của thực tế là muôn hình, muôn vẻ. Chính vì vậy,công nghệ quản lý kinh tế hiện đại phải luôn vận động, đổi mới để thích ứng được với đòi hỏi của thực tiễn. Nhận thức và vận dụng công nghệ quản lý kinh tế hiện đại là một quá trình vận động khoa học thông thường quá trình đó được thể hiện ở các giai đoạn chính sau: Giai đoạn thứ nhất: Phân tích. Việc phân tích tập trung vào 3 nội dung chính sau: - Phân tích môi trường, thị trường. - Phân tích tình hình cạnh tranh. - Phân tích thực trạng của doanh nghiệp. Giai đoạn thứ hai: Chuẩn đoán. Đó là việc tìm cách trả lời các câu hỏi sau: - Tình hình kinh doanh của doanh nghiệp hiện nay như thế nào ? - Cần tăng, giảm, mở rộng hay thu hẹp... Giai đoạn thứ ba: Dự đoán. Doanh nghiệp cần vận động theo hướng nào để đạt được hiệu quả kinh doanh như mong muốn. Giai đoạn thứ tư: Mục tiêu. - Doanh nghiệp muốn gì ? Đi tới đâu ? - Doanh nghiệp muốn đạt cái gì ? - Nêu sự tăng giảm theo dự đoán ? Giai đoạn thứ năm: Chiến lược. Thông thường chiến lược chung đã được hoạch định từ trước từ các giai đoạn nhận thức trên với từng vấn đề đựoc tập trung so sánh và vận động để tạo sự phù hợp với chiến lược chung từ đó giai đoạn này cần trả lời các câu hỏi. - Những phương pháp tổng hợp nào để đạt chiến lược ? - Thị trường với hoạt động của doanh nghiệp như thế nào ? Giai đoạn thứ sáu: Phương tiện. - Làm thế nào để thực hiện chiến lược hoạch định ? - Ai thực hiện ? Giai đoạn bảy: Kiểm tra. Đã được chưa ? Cần sửa đổi cái gì ? Cái gì cần bổ xung ? Cái gì cần loại bỏ ? Tuy chỉ với các bước cơ bản trên nhưng trên thực tế việc nhận thức và vận dụng công nghệ quản lý kinh tế hiên đại là rất khó khăn. Thường các doanh nghiệp hay rơi vào tình trạng thỏa mãn với các thành quả đã đạt được. Cần xem xét quản lý trong một thể thống nhất của các yếu tố quản lý. Xem xét quản lý trong trạng thái động và biến đổi không ngừng. Lấy hướng nội (doanh nghiệp) làm nền tảng,lấy hướng ngoại (thị trường ) làm cơ sở cho mọi hoạt động quản lý của doanh nghiệp. kết luận chương 1 Việc nghiên cứu: quản lý kinh tế và công nghệ quản lý kinh tế hiện đại cho thấy được quá trình phát triển của khoa học quản lý từ thấp đến cao, từ chi tiết đến khái quát. Các trường phái khoa học quản lý kinh tế tiền hiện đại chủ yếu giải quyết các vấn đề liên quan đến quản lý tập trung vào giải quyết các vấn đề "hướng nội" trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Xoay quanh các vấn đề phối kết hợp các bộ phận, các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh, tìm hiểu các yếu tố cấu thành riêng biệt của quản lý. Tuy nhiên, dù rất cố gắng các trường phái đó chỉ giải thích được một phần hay một mảng nào đó của khoa học quản lý. Họ đều đúng nhưng chưa đủ, chưa khái quát được tổng thể hoạt động quản lý của doanh nghiệp. Chính sự kết hợp chúng lại trong một thể thống nhất, toàn vẹn và xuyên suốt trong mọi hoạt động quản lý của doanh nghiệp là một trong những nguyên tắc chính của công nghệ quản lý kinh tế hiện đại. Lấy "hướng nội" của quản lý làm nền tảng cho việc định hướng quản lý mang tính xã hội (hướng ngoại),là cơ sở của công nghệ quản lý kinh tế hiện đại. Nói một cách khác, chính công nghệ quản lý kinh tế hiện đại là sự phát triển, kế thừa từ các công nghệ quản lý trước đó. Với việc lấy thị trường là tiêu điểm, lấy hoạt động xã hội (tình huống thực tiễn) là cơ sở để thực hiện việc quản lý mọi hoạt động của doanh nghiệp, công nghệ quản lý kinh tế hiện đại đã thay đổi về chất so với các công nghệ quản lý trước đó. Công nghệ quản lý kinh tế hiện đại làm cho khoa học quản lý kinh tế phát triển, làm tăng vai trò quản lý trong thực tiễn. Chính công nghệ quản lý kinh tế hiện đại là công cụ hữu hiệu để các doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường. Chương 2 nội dung của công nghệ quản lý ngân hàng hiện đạI Kinh tế thị trường tạo ra bước nhảy vọt cho nền kinh tế xã hội.Trong quá trình phát triển, kinh tế thị trường đã tạo ra một công nghệ quản lý kinh tế mới, đó là công nghệ quản lý kinh tế hiện đại. Đến lượt mình, công nghệ quản lý kinh tế hiện đại được các doanh nghiệp sử dụng tác động trở lại thị trường làm cho hoạt động của kinh tế thị trường phát triển nhanh và mạnh hơn trước, đưa hoạt động của nền kinh tế xã hội lên một tầm cao mới. Công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại kế thừa tất cả những vấn đề chung của công nghệ quản lý kinh tế hiện đại. Tuy nhiên, ngành ngân hàng - một ngành kinh doanh tiền tệ có những đặc điểm riêng có trong hoạt động của chúng nên công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại mang một số nét đặc trưng riêng có cần chú ý khi vận dụng chúng vào hoạt động thực tiễn. Việc nghiên cứu nội dung của công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại để có những nhận thức mới trong quản lý ngân hàng,đó là nội dung chủ yếu của bài viết được làm rõ dưới đây. 2.1. Hoạt động của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường. Nói đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại nói riêng trong nền kinh tế thị trường là nói đến sự cạnh tranh quyết liệt với vô vàn những rủi ro khó lường trước có thể đến với họ. Nền kinh tế thị trường đúng là một trận địa đầy thách đố đối với hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Mỗi một ngành kinh doanh đều có những đặc thù (đặc điểm) riêng có.Từ các đặc điểm này có thể hiểu rõ hơn nội tại của ngân hàng hoạt động trong nền kinh tế thị trường,đồng thời cũng là cơ sở để phân tích các vấn đề liên quan đến nội dung của bài viết. Dưới đây bài viết tập trung tìm hiểu về các đặc thù (đặc điểm) các 321hoạt động của các ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường. 2.1.1.Những nét đặc thù (đặc điểm) trong hoạt động của ngân hàng thương mại. Thứ nhất: Về nguyên liệu kinh doanh của ngân hàng thương mại. Tiền là "nguyên liệu" chính trong hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng thương mại. Khách hàng đến ngân hàng để gửi tiền, vay tiền,thanh toán... các nghiệp vụ đó đều không thoát ly được đồng tiền. Trong khi đó, tiền là loại "nguyên liệu" được phổ cập đại chúng. Có thể nói rằng không có người nào trong cuộc sống của mình mà không dùng tới tiền. Cho nên, tiền được toàn xã hội quan tâm. Đây chính là một loại hàng hóa mang tính xã hội hóa cao nhất trong các loại hàng hóa mà con người cần thiết tiêu dùng trong cuộc sống. Nếu các hàng hóa khác chỉ ảnh hưởng đến một bộ phận nào đó của xã hội thì ngược lại tiền lại có sức ảnh hưởng vô cùng sâu rộng đến toàn bộ các hoạt động của toàn xã hội. Nó không chỉ ảnh hưởng đến lĩnh vực kinh tế mà còn lan truyền đến cả các lĩnh vực khác như văn hóa, chính trị, xã hội. Chỉ một biến động nhỏ có liên quan đến tiền như lãi suất, tỷ giá hay sự tăng giảm của giá trị đồng tiền... đều có những ảnh hưởng to lớn đến hoạt động kinh tế xã hội nói chung và hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại nói riêng. Điều này thấy rõ nhất trong thực tiễn khi giá cả của hàng hóa tăng lên có nghĩa là giá trị đồng tiền giảm xuống và nếu ở mức độ lớn thường xảy ra hiện tượng số dư tiền gửi trong ngân hàng giảm xuống do nhiều người rút tiền khỏi ngân hàng, đi đôi với hiện tượng tăng chậm hoặc giảm số tiền có thể huy động vào ngân hàng. Tính nhậy cảm của tiền còn gây nên một tâm lý xã hội như tin đồn thất thiệt về kinh doanh tiền tệ như: khả năng phá giá đồng tiền, đổi tiền... đều gây ra những đột biến các hoạt động liên quan tới tiền,đặc biệt là các hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Như cơn lốc huê hụi năm 1992 với sự mất tín nhiệm của một vài hợp tác xã tín dụng cũng đủ làm mất đi cả một hệ thống hợp tác xã tín dụng mà Nhà nước mất bao công sức xây dựng trong suốt mấy chục năm. Ngoài tầm của kinh tế, có thể lấy ví dụ về sự đổ bể tín dụng ở An-ba-ni đầu năm 2000 dẫn đến tình hình hỗn loạn tới mức Chính phủ không thể kiểm soát được hoạt động của xã hội,dẫn đến bạo loạn lật đổ chính quyền. ảnh hưởng của tiền tệ ngày nay không chỉ giới hạn ở một vùng, một quốc gia nào đó. Ngày nay do nền kinh tế đã phát triển tới mức quốc tế hóa hoạt động kinh tế thì biến động tiền tệ ở một nước không chỉ ảnh hưởng đến nước đó, đến khu vực mà còn mở rộng ra phạm vi rộng lớn trên toàn thế giới. Ví dụ như cuộc khủng khoảng tiền tệ ở Đông Nam á năm 2000, xuất phát điểm từ Thái Lan, lan sang các nước toàn khu vực mà Việt Nam cũng không phải quốc gia có thể tránh được hậu quả của cuộc khủng hoảng này. Cuộc khủng hoảng còn tiếp tục lan rộng ra các thị trường tài chính khác như Hồng Kông, Nhật Bản, Nam Triều Tiên... Mà không phải dễ gì dập tắt được dù cho các nước tập trung nhiều công sức với sự hỗ trợ hàng trăm tỷ đô la của Quĩ tiền tệ Quốc tế IMF. Thứ hai: Về dịch vụ của ngân hàng. Nói đến hoạt động của các ngân hàng thương mại người ta nghĩ ngay đến nguồn tín dụng, nơi cung cấp phương tiện thanh toán. Nhưng dịch vụ của ngân hàng ngày nay đã được mở rộng ra rất nhiều từ việc tham gia mua cổ phiếu của các công ty cổ phần, kinh doanh chứng khoán, kinh doanh địa ốc, tín dụng thuê mua, thông tin kinh tế, thông tin phòng ngừa rủi ro... ở các ngân hàng tiên tiến trên thế giới các dịch vụ "mới" có thể đem lại cho hoạt động kinh doanh của họ từ 60 - 70% lợi nhuận thu được hàng năm. Như vậy sản phẩm của ngân hàng thương mại ngày nay được hiểu là những dịch vụ mà ngân hàng có thể tạo ra để cung cấp theo nhu cầu của khách hàng. Cần lưu ý vấn đề này như là một phương tiện mở rộng hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Một điểm cần lưu ý : dịch vụ của ngân hàng rất dễ bị bắt chước. Nếu ngân hàng vừa tổ chức thực hiện một loại dịch vụ nào đó có hiệu quả thì rất nhanh các ngân hàng khác có thể thực hiện ngay dịch vụ đó nếu họ muốn. Có nhiều dich vụ của ngân hàng gắn chặt chẽ với yếu tố thời gian. Chúng ta biết rằng với nhiều sản phẩm các ngành kinh doanh khác là "tiền trao, cháo múc" có nghĩa là yếu tố thời gian không ảnh hưởng gì đến giá cả của sản phẩm (chỉ có một số là có sự phân biệt nhưng không coi là một yếu tố tăng giá). Nhưng trong nhiều dịch vụ chính của ngân hàng yếu tố thời gian lại thực chất là yếu tố thực hiện giá trị của sản phẩm. Ngân hàng cho các doanh nghiệp vay tiền có nghĩa là ngân hàng đã bán quyền sử dụng số lượng tiền vay đó cho doanh nghiệp nhưng không bán quyền sở hữu chúng (các sản phẩm khác được bán cả quyền sở hữu và quyền sử dụng). Giá cả bán quyền sử dụng lại liên quan trực tiếp đến thời gian sử dụng sản phẩm, chính vì vậy yếu tố thời gian thực sự là yếu tố vật chất gắn liền với việc thực hiện giá trị dịch vụ của ngân hàng. ở trên chúng ta cũng đã biết dịch vụ của ngân hàng rất đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, với quá trình kinh doanh lâu năm,các dịch vụ của ngân hàng trên thương trường đều đã "cũ" đi cả về nội dung lẫn kỹ thuật nghiệp vụ. Khái niệm dịch vụ mới của ngân hàng tương đối khác so với các ngành kinh tế khác. Dịch vụ mới không phải là dịch vụ trước đó chưa ngân hàng nào có để cung cấp cho xã hội, mà dịch vụ mới của ngân hàng là dịch vụ mà ngân hàng có thể lựa chọn đưa ra thị trường trước các đối thủ cạnh tranh. Ví dụ: dịch vụ chiết khấu kỳ phiếu, đây có thể coi là dịch vụ mới với hoạt động của các ngân hàng thương mại quốc doanh ở Việt nam,dù rằng dịch vụ này quá “cũ” đối với hoạt động của ngân hàng. Thứ ba: Về khách hàng của ngân hàng. Hoạt động của ngân hàng nhiều khi bị lầm lẫn như là một dịch vụ công cộng do hoạt động của ngân hàng thu hút được một số lượng đông đảo khách hàng (như dịch vụ gửi tiền tiết kiệm, thanh toán...). Hoạt động “công cộng” này càng gia tăng hơn cùng với việc hiện đại hóa ngân hàng dẫn đến hầu như mọi người đều phải qua ngân hàng thực hiện việc gửi và rút tiền như tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội, thanh toán các loại dịch vụ: điện, nước... đến việc thanh toán các khoản tiêu dùng thông qua tiền điện tử. Trong điều kiện đó, khối lượng khách hàng của ngân hàng thương mại được tăng lên vô cùng lớn. Khách hàng của ngân hàng đông đảo cả khách hàng mua (tín dụng, thuê mua...) lẫn khách hàng bán (tiền gửi, thanh toán...). Do mỗi khách hàng có nhiều nhu cầu khác nhau cần được ngân hàng phục vụ, nên rất nhiều khách hàng là hiện thực với dịch vụ nào đó của ngân hàng lại là khách hàng tiềm ẩn đối với loại dịch vụ khác của nó. Thứ tư: Về tiềm lực vốn của ngân hàng. Vấn đề tiềm lực vốn,đặc biệt là vốn điều lệ của ngân hàng phải được đặt lên hàng đầu bởi các nguyên nhân sau: - Tiềm lực vốn của ngân hàng tạo ra tiềm lực dịch vụ trực tiếp. Nguồn vốn của ngân hàng phần lớn là nguồn vốn đi vay để cho vay. Nhưng nguồn vốn huy động của ngân hàng không phải là vô hạn,bởi lẽ việc huy động vốn của ngân hàng bị giới hạn trực tiếp bởi tiềm lực vốn, điều này có liên quan trực tiếp đến độ an toàn tiền gửi của dân cư. Chính vì vậy, thông thường Nhà nước thông qua các qui định của pháp luật để ấn định một mức vốn huy động nhất định theo số vốn tự có của ngân hàng. Ví dụ: theo pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ban hành ngày 24/5/1993; Điều 23 chương IV có qui định: "Tổ chức tín dụng không được huy động vốn quá 20 lần tổng số vốn tự có và quĩ dự trữ"[46]. Rõ ràng tiềm lực vốn càng lớn các ngân hàng càng có thể huy động nhiều vốn và cho vay ra để thu được nhiều lợi nhuận hơn lên. - Tiềm lực vốn tạo ra khách hàng. Như trên đã nói tiềm lực vốn của ngân hàng càng lớn càng có điều kiện tạo ra nhiều dịch vụ trực tiếp. Có nhiều nguồn vốn là cơ sở để ngân hàng có thể thu hút được nhiều khách hàng đến với mình. Hơn thế tiềm lực vốn lớn các ngân hàng có điều kiện hiện đại hóa ngân hàng đó cũng là điều kiện để mở rộng hoạt động của ngân hàng, thu hút đông đảo khách hàng đến với ngân hàng - Tiềm lực vốn tạo ra uy tín: Trong thực tiễn đời sống xã hội, câu nói: "Trông giỏ bỏ thóc" được thể hiện khá rõ nét qua hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Khách hàng thường nhìn vào các ngân hàng lớn (cả về vốn kinh doanh và cơ sở vật chất cố định) để đầu tư vốn hay thực hiện các quan hệ làm ăn với ngân hàng, nhiều vốn ngân hàng càng thu hút được nhiều khách hàng, điều đó trở lại càng làm tăng thêm uy tín của ngân hàng.Như vậy, tiềm lực vốn của ngân hàng không những tạo ra dịch vụ trực tiếp cho ngân hàng, tạo ra khách hàng và tạo ra cả uy tín cho nó hoạt động. Thứ năm: Về môi trường kinh doanh của ngân hàng. Nếu có thể gọi tên môi trường kinh doanh của đại đa số các doanh nghiệp nói chung là môi trường kinh doanh “mở” thì môi trường kinh doanh của ngân hàng là môi trường kinh doanh “đóng”, bởi vì việc kinh doanh trên các lĩnh vực khác thông thường chỉ lệ thuộc vào pháp lý ở hai điểm: thuế, luật doanh nghiệp và một số qui định khác về môi trường, bảo hiểm... Nhưng với hoạt động của các ngân hàng, ngoài các qui định chung đó ra còn có hàng loạt các qui phạm pháp luật khác qui định các giới hạn hoạt động của chúng. Từ mức độ vốn ban đầu đến khối lượng vốn được huy động, từ dịch vụ đến lãi suất, từ khối lượng tín dụng đến cơ cấu đầu tư... Gần như mọi hoạt động của ngân hàng đều có những qui phạm riêng của pháp luật qui định. Cần phải nói rằng phần lớn các qui định này nhằm hạn chế các hoạt động "tự do" của ngân hàng. Rõ ràng hoạt động kinh doanh của ngân hàng "hẹp" hơn nhiều so với hoạt động kinh doanh của các ngành kinh tế khác do môi trường kinh tế "đóng" tạo ra. Ngoài ra, ngân hàng còn nằm trong hệ thống tài chính quốc gia chung. Do đó, nó còn bị điều tiết trong chiến lược tiền tệ chung của Nhà nước hoặc phải thực hiện các chính sách khác của Chính phủ nhiều khi không được đặt lợi nhuận lên trên hết như các doanh nghiệp thông thường khác mà phải đặt lợi ích xã hội lên trên lợi ích của ngân hàng (điều này đặc biệt đúng với các ngân hàng thương mại quốc doanh). Thứ sáu: Về nghiệp vụ và kỹ thuật nghiệp vụ So với các ngành kinh tế khác thì ngành ngân hàng có nghiệp vụ khá bảo thủ. Từ vài trăm năm nay các nghiệp vụ ngân hàng gần như không thay đổi. Vẫn là nghiệp vụ cho vay, thu nợ trong hoạt động tín dụng. Với séc, uỷ nhiệm chi, thư tín dụng... trong thanh toán. Nhưng ngược lại, về kỹ thuật nghiệp vụ hay còn gọi là công nghệ của ngân hàng lại luôn là vấn đề thời sự nóng bỏng trong sự mong muốn vươn lên của các ngân hàng thương mại. Thậm chí việc hiện đại hóa công nghệ ngân hàng được xem như là điều sống còn của các ngân hàng thương mại trong quá trình tồn tại và phát triển. Điều đó làm cho các ngân hàng phải có chiến lược lâu dài trong việc hiện đại hóa công nghệ ngân hàng bởi hai lý do: - Công nghệ tiên tiến thường xuyên thay đổi. Có nhiều kỹ thuật mới có thể ứng dụng cùng một lúc. - Việc thay đổi công nghệ ngân hàng thường khá tốn kém nhiều khi vượt quá khả năng tài chính hiện có của mỗi ngân hàng thương mại. Cho nên việc đưa công nghệ mới vào hoạt động ở các ngân hàng thương mại phải được xem xét trong một định hướng xuyên suốt, trong một quá trình lâu dài, tránh tình trạng tuổi thọ của công nghệ được phát huy tác dụng ngắn, công nghệ được áp dụng chưa thực sự tiên tiến và việc đổi mới công nghệ chưa thực sự phù hợp với khả năng tài chính của ngân hàng. Việc nghiên cứu các đặc điểm của hoạt động ngân hàng cho phép chúng ta có cơ sở để phân tích các vấn đề liên quan đến các hoạt động của chúng mà trước hết là các yếu tố liên quan đến khả năng cạnh tranh cũng như rủi ro của ngân hàng. 2.1.2. Cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Về cảm quan bên ngoài, hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại khá bình lặng, không thấy có sự cạnh tranh trực tiếp như các hoạt động kinh d._. lớn cần thay đổi trong khâu tổ chức tại trung tâm điều hành. Thứ sáu : Tổ chức lại bộ máy chỉ đạo thực hiện và kiểm tra dịch vụ Công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại với yếu tố dịch vụ coi việc kiểm tra như là một khâu của công nghệ quản lý đó là: Nghiên cứu thị trường, xác định dịch vụ, kiểm tra dịch vụ, tổ chức thực hiện. ở đây việc kiểm tra dịch vụ được hiểu là sự kiểm tra tổng thể toàn bộ hoạt động của dịch vụ: từ thị trường, từ dịch vụ, từ nguồn cung cấp, từ khả năng cung cấp... để từ đó có những kết luận thích đáng về sự tăng giảm việc thực hiện dịch vụ, cải tiến dịch vụ... vấn đề này Ngân hàng Nông nghiệp tổ chức làm chưa được đầy đủ. Các dịch vụ của Ngân hàng Nông nghiệp hiện nay được thực hiện theo dạng: Quyết định từ trung tâm điều hành phát ra đưa dịch vụ xuống các ngân hàng cơ sở thực hiện, sau khi thực hiện có báo cáo để điều chỉnh hoặc biến đổi. Tuy nhiên do hoạt động của báo cáo mang nặng tính hành chính nên ít hiệu quả. Để làm tốt khâu kiểm tra dịch vụ điều mấu chốt là ngân hàng phải đổi mới tổ chức thức hiện dịch vụ, việc thực hiện dịch vụ phải có bộ phận chỉ đạo riêng (nếu dịch vụ liên quan đến nhiều bộ phận ở trung tâm điều hành phải có sự tập hợp của các thành phần này vào một đầu mối). Tránh tình trạng chỉ coi quyết định là chỉ đạo, báo cáo là thông tin kiểm tra. Không có bộ phận chỉ đạo trực tiếp dịch vụ nhiều khi việc báo cáo rất dễ bị lãng quyên và không có những thông tin chỉ đạo điều chỉnh kịp thời, thích hợp. Ta có thể lấy ví dụ: Trung tâm điều hành thông báo thực hiện dịch vụ mới - huy động kỳ phiếu để tạo nguồn vốn cho vay khắc phục bão lụt. Tuy nhiên việc huy động nàyliên quan rất nhiều các phòng ban của trung tâm điều hành, ngân hàng cơ sở báo cáo bằng văn bản nên trung tâm điều hành (về một phương hướng nào đó) giả sử báo cho phòng cân đối kế hoạch. Nếu việc báo cáo chỉ liên quan đến khối lượng sản phẩm thì phòng cân đối kế hoạch có thể giải quyết được nhưng với các yêu cầu khác thì phòng này không thể giải quyết được. Như vậy khả năng kiểm tra đã bị ngắt quãng chính đây là vấn đề tồn tại không những chỉ đối với một vài dịch vụ mà đây là dạng phổ biến thường gặp trong công tác kiểm tra, báo cáo của Ngân hàng Nông nghiệp. Chính vì vậy cần thay đổi việc tổ chức thực hiện dịch vụ đặc biệt là bộ phận chỉ đạo kiểm tra. Cần thành lập các bộ phận đầu mối ( các bộ phận này có thể được xây dựng từ nhiều phòng ban )ngay từ khâu đầu : nghiên cứu, hình thành, thực hiện và kiểm tra dịch vụ. Đây thực sự là khâu đột phá của đổi mới tư duy trong tổ chức thực hiện dịch vụ của ngân hàng. Việc làm này làm cho chỉ đạo được tập chung vào các đầu mối để ngân hàng có thể nhanh chóng thực hiện được các yêu cầu của công nghệ quản lý. Thứ bảy : Cần phải có quy chế cụ thể để phối kết hợp giữa các phòng ban,giữa các bộ phận có liên quan. Rõ ràng một yêu cầu của công nghệ quản lý là việc tổ chức thực hiện theo dạng trực tuyến. Việc tổ chức này không chỉ ở cấp độ chung mà ở cấp độ riêng cũng vậy. Nếu giải pháp nêu trên là cần sự tập chung vào các đầu mối chỉ đạo thì mới dừng lại ở các dịch vụ đơn lẻ,không thể tất cả mọi dịch vụ đều có bộ phận riêng có được bằng sự tập chung các bộ phận. Điều này chỉ có thể có ở một số dịch vụ lớn. Để thực hiện được yêu cầu của việc thực hiện dịch vụ, cần nâng cao một bước về sự phối kết hợp giữa các phòng ban của ngân hàng. Hiện nay Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam vẫn chưa có được quy chế hoạt động cụ thể cho các phòng ban, cho nên các phòng ban chưa thấy được chính xác cụ thể công việc của mình cần phải làm gì, sự phối kết hợp giữa các phòng ban chỉ là hình thức chưa phải là trách nhiệm trong mối quan hệ chặt chẽ, bắt buộc trên cơ sở một quy chế tổ chức cụ thể của ngân hàng.Điều này cần sớm được khắc phục trong việc chỉ đạo kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiêp. 3.3.2.3. Đối với việc quản lý hoạt động xúc tiến, khuếch trương. Thứ nhất : Cần thay đổi phương pháp định mức chi phí quảng cáo. Chúng ta biết rằng chi phí để quảng cáo luôn là một vấn đề hàng đầu trong hoạt động quảng cáo. Việc định mức cho chi phí quảng cáo thường được thông qua bằng nhiều cách. Ngân hàng Nông nghiệp sử dụng cách tính bằng tỷ lệ % trên doanh số hoạt động. tuy phương pháp này hay được sử dụng đối với các doanh nghiệp nhưng không được thực sự khoa học trong việc điều hành kinh doanh trong thực tiễn. Ngày nay người ta sử phương pháp tổng hợp,đặc biệt hay sử dụng phương pháp căn cứ vào mục tiêu nhiệm vụ và phương pháp thuật toán kinh tế đồng thời có xem xét kết hợp các phương pháp khác trong từng thời điểm cụ thể. Với phương pháp hỗn hợp này có thể xác định chính xác được mức độ phù hợp của chi phí cho quảng cáo trong từng giai đoạn cụ thể. Thực chất ngân hàng cần phải dùng phương pháp hỗn hợp, không nên dùng một phương pháp vì mỗi một phương pháp đều có những thế mạnh riêng có, đều có những yếu điểm nhất định việc sử dụng hỗn hợp sẽ cho phép có khả năng loại trừ được các yếu điểm của các phương pháp đơn lẻ, kết hợp những yếu tố tích cực để cho chúng ta một kết quả như mong muốn. Thứ hai : Tìm kiếm cách thức quảng cáo cho khách hàng hiện có để tranh thủ khách hàng tiềm năng. Ngân hàng Nông nghiệp đã sử dụng nhiều cách thức khác nhau để quảng cáo, nhưng có cách thức quảng cáo rất gần gũi, rất dễ thực hiện, chi phí ít mà hiệu quả lại rất cao đó là quảng cáo bằng các phương tiện tiếp cận từ khách hàng hiện có để tranh thủ được khách hàng tiềm năng của ngân hàng. Ta có thể lấy ví dụ : Trên thẻ tiết kiệm hay khế ước vay tiền ngân hàng có thể có những quảng cáo nhất định cho hoạt động ngân hàng, cân lưu ý rằng đây là dạng quảng cáo tiếp nhận bắt buộc. Thêm nữa, khách hàng của ngân hàng lại rất lớn tính riêng số khách hàng quan hệ tín dụng với ngân hàng nông nghiệp tới hàng chục triệu lượt khách hàng, số khách hàng gửi vốn ở ngân hàng cũng như vậy chưa kể các khách hàng thanh toán và thực hiện các dịch vụ khác. Rõ ràng cách quảng cáo qua các phương tiện lưu giữ của ngân hàng với khách hàng rất hiệu quả.Với số lượng lớn khách được quảng cáo bắt buộc, với chi phí thêm không nhiều sẽ là một cách thức quảng cáo cần được Ngân hàng Nông nghiệp nhanh chóng nghiên cứu tổ chức thực hiện để đem lại một cách thức quảng cáo mới,hiệu quả cho hoạt động kinh doanh của mình. Thứ ba : Tổ chức quảng cáo thông qua đội ngũ cán bộ đông đảo của ngân hàng. Việc tổ chức quảng cáo thông qua đội ngũ cán bộ là loại quảng cáo trực tiếp, nó mang lại nhiều kết quả, đây là loại quảng cáo rất dễ truyền tin và thông tin được khách hàng tin cẩn. Hơn nữa nó không giống việc quảng cáo qua các phương tiện khác chỉ là thông tin một chiều mà đây là loại quảng cáo thức hiện được thông tin hai chiều.Ngân hàng Nông nghiệp có đội ngũ cán bộ tương đối lớn, nhưng chưa được khai thác như một cách thức chung cho quảng cáo hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Trong thời qua việc quảng cáo của Ngân hàng Nông nghiệp mới dừng lại ở bộ phận cán bộ nghiệp vụ. Các cán bộ này cũng chỉ quảng cáo cho dịch vụ thuộc hoạt động của mình là chủ yếu, còn với các dịch vụ khác thì họ cũng không có đủ thông tin để làm được việc quảng cáo cho ngân hàng. Điều này có xuất phát điểm từ nhận thức về quảng cáo, nhiều người hiện nay vẫn cho rằng cứ đưa quảng cáo lên các phương tiện truyền thông như đài, báo, ti vi... là hiệu quả nhất. Nhưng cần nhớ rằng chính các phương tiện đó lại có nhược điểm rất lớn là khả năng lưu giữ thông tin rất kém trong ý thức của khách hàng. Việc tổ chức quảng cáo thông qua đội ngũ cán bộ của Ngân hàng Nông nghiệp hiện nay có khó khăn là do ngân hàng có nhiều loại dịch vụ khác nhau nên với mỗi một cán bộ chưa có điều kiện để có đầy đủ các thông tin về chúng để quảng cáo. Do vậy, Ngân hàng Nông nghiệp phải thường xuyên thông báo đến cán bộ của mình tất cả các nội dung cần quảng cáo (hơn thế là nội dung hoạt động của ngân hàng). Việc này không những chỉ có tác dụng cho hoạt động quảng cáo (vì mình phải biết về mình trước, trước khi nói rõ cho mọi người). Hơn thế nó còn là tiền đề cho việc thực hiện các nhiệm vụ khác của ngân hàng,vì hoạt động của ngân hàng phải là một cơ thể hoạt động thống nhất, mỗi một bộ phận nghiệp vụ nào đó, vừa phải hiểu được nhiệm vụ riêng, vừa biết được các hoạt động chung của toàn ngân hàng sẽ rất dễ cho sự phối kết hợp hoạt động của các bộ phận tạo điều kiện thuận lợi chung cho sự phát triển của toàn bộ hoạt động của ngân hàng. Thứ tư : Cần phân cấp quảng cáo một cách hợp lý. Trong hoạt động quảng cáo cần lưu ý là các ngân hàng cơ sở cũng được tham gia quảng cáo. Có nhiều ngân hàng cơ sở chưa quán triệt được phạm vi quảng cáo đã sử dụng các phương tiện quảng cáo chưa thật phù hợp, dùng các phương tiện quảng cáo đài, báo, ti vi phát hành trong cả nước ví dụ : chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố Hà nội quảng cáo trên báo Thể thao văn hoá phát hành trong cả nước (số94, thứ ba, ngày 24-11-2001 ), trong khi có nhiều phương tiện quảng cáo hiệu quả hơn ở địa phương lại không được sử dụng. Nên chăng trung tâm điều hành cần có sự hướng dẫn và phân cấp quảng cáo. Ví dụ các phương tiện phát hành toàn quốc,trung tâm điều hành nên sử dụng để quảng cáo hoạt động cho toàn bộ hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp trong phạm vi chung,còn các ngân hàng chi nhánh sử dụng các phương tiện quảng cáo địa phương. Nếu có ngân hàng chi nhánh nào thấy phương tiện quảng cáo chung phù hợp với việc quảng cáo của mình cần làm việc với trung tâm điều hành để cùng phối hợp quảng cáo. Như vậy tránh được sự lãng phí trong quảng cáo và mức độ hiệu quả sẽ được tăng lên nhiều. Thứ năm : Mở rộng các hình thức xúc tiến, khuyếch trương qua giao tiếp bán hàng. Ngân hàng Nông nghiệp tuy đã quan tâm đến lĩnh vực này, tuy nhiên các hình thức giao tiếp còn nghèo nàn, chưa thực sự đủ mạnh để có những thông tin nhanh cho hoạt động của ngân hàng. Hoạt động xúc tiến mới chỉ dừng lại ở một vài hoạt động cụ thể chưa thường xuyên (trừ quan hệ tín dụng) và các hình thức này rất khó tập hợp thông tin. Mức độ quảng cáo, khuyếch trương chưa được nhiều. Nên chăng cần có cách thức quảng cáo phù hợp, đặc biệt khi có chiến dịch thực hiện dịch vụ nào đó, đồng thời kết hợp với điều tra trọn mẫu với chính lượng khách hàng đến giao dịch để có các cuộc phỏng vấn nhanh, việc làm này rất hiệu quả cho ngân hàng phân tích và xử lý thông tin phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình. Thứ sáu : Thay đổi nhận thức về cách đánh giá kết quả công việc của cán bộ ngân hàng. Trong lao động, việc đánh giá lao động luôn là công việc phức tạp của người quản lý. Người làm nhiều kẻ làm ít. người nhiệt tình, chăm chỉ nhưng không hiệu quả. Người suốt ngày "đi chơi" nhưng lại làm được nhanh chóng bất kỳ công việc gì giao cho họ. Lấy gì làm thướ đo cho nguồn lực và nhiệt tình công việc của họ ? Hiện nay thước đo lao động bằng thời gian làm việc vẫn được các nhà quản lý trong Ngân hàng Nông nghiệp thực hiện khá chặt chẽ. Các kỳ kiểm điểm vẫn có mục "đi muộn, về sớm". Sự cần cù lao động được tính bằng thời gian ngồi làm việc tại bàn công tác. Rõ ràng đây là một nhận thức quản lý lao động cần thay đổi. Công nghệ quản lý hiện đại cho rằng cần lấy tiêu thức là hiệu quả công việc để đánh giá hoạt động của lao động. Người cán bộ khi được giao công việc sẽ hoàn thành công việc của mình ra sao? trong thời gian bao lâu ? mới là điều cần quan tâm. Người quản lý cần phải thay đổi nhận thức từ việc lấy tiêu thức thới gian lao động làm thước đo,thay bằng việc lấy hiệu quả công việc làm thước đo công việc của cán bộ.Khi làm quen dần với cách thức này, người quản lý sẽ thấy công việc của mình đơn giản rất nhiều, bởi lẽ rất giản đơn các cán bộ của họ đã làm thay một phần công việc của các nhà quản lý. Người cán bộ đã giành một phần thời gian trước đó để xác định các công việc cần làm, để từ đó họ tính toán các quan hệ cần phải có và xây dựng các quan hệ đó. Như vậy khi được giao việc,họ chỉ còn một việc phải làm là khai thác các quan hệ đã được xây dựng từ trước. Rõ ràng quá trình thực hiện công việc do cán bộ quản lý phân công được rút ngắn rất nhiều do các công đoạn khác đã được thực hiện từ trước. Để thay đổi theo nhận thức này cần phải được thay đổi cả ở cán bộ quản lý lẫn nhân viên. Để đơn giản, các nhà quản lý tập chung vào nhiệm vụ giao việc (thay cho việc quản lý thời gian lao động) và đánh giá kết quả hoạt động công việc, còn các khâu còn lại hãy giao cho nhân viên.Tuy nhiên,họ cũng cần theo dõi hoạt động của nhân viên thông qua các câu "thăm hỏi" cần thiết. 3.3.2.4.Đối với việc quản lý giá dịch vụ Thứ nhất : Ngân hàng Nông nghiệp chưa thực sự có công cụ tự định giá. Một đòi hỏi của thị trường là cần có sự linh hoạt trong việc định giá cho dịch vụ ngân hàng. Nhưng hiện nay việc định giá dịch vụ của Ngân hàng Nông nghiệp còn lệ thuộc nhiều vào Ngân hàng Nhà nước. Như vậy, yếu tố này thực sự là một yêu cầu bị từ chối của công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại. Bởi lẽ xuất phát điểm của công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại là lấy thị trường làm tiêu điểm để thực hiện các quyết định kinh doanh của mình trong đó có quyết định giá. Nhưng yêu cầu này bị bó hẹp chưa được giải toả. Ngân hàng Nông nghiệp chỉ được vươn ra thị trường với "một lỗ thông gió" quá nhỏ so với yêu cầu cần phải có của công nghệ quản lý. Đây thực sự là một vấn đề lớn cần được Nhà nước và các cơ quan chức năng quan tâm xem xét, tháo gỡ nhằm giúp đỡ các ngân hàng thương mại nói chung và Ngân hàng Nông nghiệp nói riêng có điều kiện phát triển hơn nữa. Thứ hai : Cần lưu ý đến tâm lý khách hàng khi định giá (có sử dụng kỹ thuật nghiệp vụ) Phần lớn khách hàng của ngân hàng đều nhìn vào giá trực tiếp của ngân hàng để "Định lượng" giá cho dịch vụ cần thực hiện. Trong khi ngân hàng có nhiều kỹ thuật nghiệp vụ khác nhau để đưa ra cho khách hàng các bảng giá khác nhau (dù thực chất chỉ là một). Việc áp dụng các kỹ thuật nghiệp vụ vào hoạt động định giá cho dịch vụ của Ngân hàng Nông nghiệp là một tiến bộ đáng kể, tuy nhiên việc áp dụng này của Ngân hàng Nông nghiệp chưa xuất phát từ tâm lý của khách hàng trên thị trường. Là khách hàng ai cũng muốn mua với giá rẻ, bán với giá đắt (giá trực tiếp),trong khi đó Ngân hàng Nông nghiệp huy động kỳ phiếu (với khách bán) lại treo biển với lãi suất (đã sử dụng kỹ thuật nghiệp vụ) thấp hơn với lãi suất có thể quy định trực tiếp lấy ví dụ: Ngân hàng Nông nghiệp huy động kỳ phiếu lãi suất 1,1%/ tháng,trả lãi trước (đợt kỳ phiếu tháng 12/2000).Ta thử tính lãi suất thực tế cho kỳ phiếu này như sau: Lãi suất trong 1 năm của kỳ phiếu là: 1,1%/ tháng x 12 tháng = 13,2%/ năm Ngày mua kỳ phiếu1.000.000 đồng,người mua nhận được số lãi là: 1.000.000 x 13,2 I = = 132.000 đ 100 Số tiền 1.000.000đ sẽ được trả cho người mua sau 1 năm như vậy thực chất là số vốn. 1.000.000 -132.000đ = 868.000đ Sau một năm đã tạo ra số lãi là 132.000đ do đó lãi suất thực tế của kỳ phiếu là. 100 x 132.000đ t = = 15,2%/năm 868.000đ Lãi xuất cho một tháng là: 15,2%/ năm : 12 tháng 1,26%/ tháng Như vậy việc treo biển lãi suất 1,1% tháng trả lãi trước tương đương lãi suất thực tế là 1,26% tháng như vậy việc thu hút khách hàng chắc chắn đến ngân hàng để thực hiện dịch vụ nhiều hơn. Tóm lại, việc sử dụng kỹ thuật nghiệp vụ là một bước phát triển tốt trong hoạch định giá dịch vụ kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp nhưng trong quá trình định giá cần lưu ý đến đặc điểm tâm lý khách hàng để sử dụng các kỹ thuật nghiệp vụ phù hợp tạo thế mạnh cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Thư ba : Ngân hàng Nông nghiệp cần có bộ phận tổng hợp, phân tích và định giá dịch vụ. Việc định giá dịch vụ của Ngân hàng Nông nghiệp đến nay vẫn chưa có hệ thống, có tổ chức riêng theo quy trình định giá. Việc định giá vẫn dựa vào khung quy định chung của Ngân hàng Nhà nước là cơ sở chính, chưa thực sự chủ động trong khâu định giá dịch vụ do chưa có cơ chế thống nhất vận hành quá trình định giá dịch vụ, chưa có bộ phận chuyên trách nghiên cứu thị trường, nắm bắt,xử lý thông tin nói chung và các thông tin liên quan đến vấn đề định giá dịch vụ. Chính vì vậy, nhiều hoạt động trong đó có hoạt động định giá dịch vụ phần lớn phải dựa vào kinh nghiệm, cảm tính để áp đặt cho việc thực hiện giá dịch vụ của ngân hàng. Để khắc phục tình trạng trên Ngân hàng nông nghiệp cần phải nhanh chóng tổ chức bộ phận tổng hợp có khả năng tập hợp thông tin, xử lý thông tin, nghiên cứu và phân tích tạo nên một hệ thống nhất trong quá trình định giá cho dịch vụ của mình,có như vậy giá dịch vụ của ngân hàng mới thức sự đóng góp vào sự phát triển chung của Ngân hàng Nông nghiệp. 3.3.2.5. Đối với việc quản lý hoạt động phân phối dịch vụ. Thứ nhất : Ngân hàng Nông nghiệp cần phải tăng cường phân phối qua phần tử trung gian (bán buôn). Mạng lưới phân phối trực tiếp (hay còn gọi là bán lẻ) đã đem lại nhiều thành quả. Hoạt động phân phối của Ngân hàng Nông nghiệp trong thới gian qua đã phát huy được tác dụng tích cực. Tuy nhiên mạng lưới phân phối hiện nay đã bắt đầu có những dấu hiệu cần được thay đổi,bổ xung mặc dù trong thực tiễn mạng lưới phân phối này vẫn phải được duy trì. Với đội ngũ cán bộ tín dụng không phải là quá lớn ằ 6000 nghìn người nhưng Ngân hàng Nông nghiệp hiện nayluôn phải quản lý tới 3,5 - 4 triệu khách hàng vay vốn. Như vậy, bình quân một người cán bộ tín dụng phải quản lý từ 600 - 700 đơn vị khách hàng,thậm chí do phân bố không đều nên có nhiều cán bộ tín dụng phải quản lý hàng ngìn món vay. Đây thực sự là dấu hiệu quá tải của mạng lưới phân phối bán lẻ. Chính vì lẽ đó mà các cán bộ tín dụng không thể có điều kiện đi sâu vào quản lý, kiểm tra để nâng cao chất lượng công tác. Như vậy cần bổ xung mô hình mạng lưới phân phối qua trung gian (bán buôn), có như vậy mới giải toả được áp lực số lượng khách hàng bán lẻ đối với hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp. Việc cho vay qua tổ chức trung gian đối với Ngân hàng Nông nghiệp không phải là mới mà đã được ngân hàng tổ chức thực hiện từ rất lâu. Trước kia ngân hàng cho vay qua các hợp tác xã, các xí nghiệp vv... Khi mô hình hợp tác xã có sự thay đổi,Ngân hàng Nông nghiệp đã chủ động đề xuất cho vay qua tổ tương hỗ, hội phụ nữ... Việc làm này đã được 5 năm và đã phát huy tác dụng tích cực. Việc cho vay qua các đơn vị kinh tế cho các hộ trồng cây công nghiệp bán sản phẩm cho đơn vị cũng đã được làm thí điểm ở nhiều nơi như mía đường (Lam Sơn - Thanh Hoá), chè (Vĩnh Phúc) vv... Việc cho vay qua các hợp tác xã tín dụng được làm có lịch sử lâu nhất, nhưng do sự đổ vỡ của hệ thống hợp tác xã tín dụng năm 1993 nên vừa qua việc phân phối dịch vụ của Ngân hàng Nông nghiệp qua bộ phần trung gian này bị giảm thấp đặc biệt. Tóm lại,việc phân phối dịch vụ qua trung gian Ngân hàng nông nghiệp đã từng làm tuy nhiên chưa thực sự đạt kết quả theo yêu cầu. Thời gian tới Ngân hàng Nông nghiệp cần phải tìm mọi biện pháp để mở rộng hơn nữa loại hình phân phối gián tiếp qua trung gian (bán buôn),việc làm này tạo điều kiện cho kênh phân phối trực tiếp có điều kiện đi sâu nâng cao chất lượng hoạt động. để làm được điều này cần phải: - Phân tích các hoạt động phân phối qua khâu trung gian trước đây đã làm để từ đó có cơ sở cho việc phát triển mô hình này. - Tập chung nghiên cứu để có những biện pháp tích cực đẩy mạnh hơn hoạt động bán buôn đặc biệt là ở trung tâm điều hành cần có bộ phận chuyên nghiên cứu tập chung để có thể đề ra các biện pháp hữu hiệu. - Mạnh dạn đầu tư cho các đơn vị kinh tế nếu thấy đơn vị có điều kiện phân phối dịch vụ của ngân hàng. Tránh tình trạng quá lo ngại về sự phân phối lợi nhuận thu được. Thứ hai : Thay đổi thời gian giao tiếp phân phối dịch vụ (thời gian giao dịch, bán hàng) Một trong những yêu cầu của phân phối là tăng cường khả năng giao tiếp giữa ngân hàng và khách hàng. Việc đổi mới kênh phân phối chỉ là về mặt mô hình còn về hoạt đồng của mô hình đó lại phụ thuộc vào khả năng tạo ra môi trường giao tiếp cho kênh phân phối. phần lớn việc phân phối dịch vụ của Ngân hàng Nông nghiệp hiện nay được thực hiện tại quầy giao dịch. Tuy vừa qua Ngân hàng Nông nghiệp cũng đã nhận thấy việc giao dịch này có nhiều hạn chế nên đã thí điểm cho vay bằng tổ tín dụng lưu động đây cũng là một bước khởi đầu tốt cần tiếp tục phát huy. Trong hoạt động thực tiễn cũng có thể tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể của ngân hàng cơ sở mà có thể tổ chức việc giao dịch không nhất thiết theo giờ hành chính (việc phân phối trong giờ hành chính hiện nay đang được Ngân hàng Nông nghiệp thực hiện là chủ yếu). Bởi một lẽ đơn giản nếu tất cả các đơn vị đều thực hiện theo giờ hành chính thì khách hàng trong thời gian đó cũng đều phải làm việc bắt buộc ở đơn vị của mình,không có điều kiện đến ngân hàng để thực hiện dịch vụ ngân hàng.Bài viết cho rằng ở một số ngân hàng cơ sở, nơi giao dịch có lượng khách hàng giao dịch ngoài giờ hành chính lớn cần tổ chức thực hiện dịch vụ theo ca,mở rộng thời gian tiếp khách để tạo điều kiện cho kênh phân phối gặp gỡ được nhiều khách hàng đến ngân hàng để thực hiện dịch vụ. kết luận chương 3 Nghiên cứu sự vận dụng của công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại vào hoạt động thực tiễn ở Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam một lần nữa khẳng định công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại là công cụ hữu hiệu để các ngân hàng thương mại vươn lên trong nền kinh tế thị trường. phần kết luận Quản lý hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế thị trường vồn là một lĩnh vực nhiều khó khăn phức tạp.Đối với Việt nam, một nước đang chuyển đổi các hoạt động theo cơ chế thị trường thì vấn đề quản lý các hoạt động ngân hàng lại càng gặp nhiều khó khăn gấp bội cần phải xử lý cả về mặt lý thuyết và thực tiễn. Tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài bài viết: “Vận dụng công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại vào hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”. Trên cơ sở tập hợp,luận giải,minh chứng và phân tích các dữ liệu khoa học và thực tiễn, bài viết đã hoàn thành một số nội dung chính sau: Thứ nhất: Khái quát các học thuyết cơ bản về quản lý kinh tế từ thấp đến cao, từ các trường phái cổ điển đến các trường phái hiện đại. Để từ đó thấy được sự phát triển tư duy lý thuyết và thực tiễn gắn liền với sự phát triển nội dung của khoa học quản lý. Thứ hai: Phân tích và minh chứng những vấn đề cơ bản về công nghệ quản lý kinh tế hiện đại từ khái niệm đến những nhận thức cụ thể trong hành động thực tế của quản lý kinh tế. Thứ ba: Hệ thống các đặc điểm về hoạt động của ngân hàng thương mại, làm cơ sở cho việc phân tích môi trường hoạt động của chúng trong cơ chế thị trường, đồng thời cũng là cơ sở phân tích,giải trình các vấn đề liên quan đến nội dung của bài viết. Thứ tư: Luận giải các nội dung cơ bản của công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại. Lấy các nghiệp vụ cụ thể của ngân hàng thương mại làm sáng tỏ nội dung của công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại. Ngoài ra căn cứ vào hoạt động của ngân hàng thương mại để chỉ ra những vấn đề cụ thể cần hành động khi vận dụng công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại vào thực tiễn. Thứ năm: Sự xác nhận của thực tiễn về những thành quả mà Ngân hàng nông nghiệp Việt nam đạt được trong quản lý hoạt động ngân hàng là căn cứ để khẳng định vai trò của công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại - công cụ hữu hiệu để các ngân hàng thương mại vươn lên trong nền kinh tế thị trường. Thứ sáu: Căn cứ vào yêu cầu và nội dung của công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại,bài viết tập trung nghiên cứu về thực trạng quản lý hoạt động của Ngân hàng nông nghiệp Việt nam,qua đó phân tích và minh chứng những thành quả đạt được đặc biệt những mặt tồn tại hạn chế xét từ phương diện quản lý.Trên cơ sở đó,bài viết đề xuất những giải pháp nhằm vận dụng tốt hơn công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại vào từng lĩnh vực hoạt động chủ yếu của Ngân hàng nông nghiệp Việt nam. Từ những vấn đề nêu trên,bài viết cho rằng: công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại là một giải pháp lớn bao trùm cần được Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam nói riêng và các ngân hàng thương mại nói chung sử dụng trong thực tiễn để tồn tại và phát triển. Tác giả hy vọng bản bài viết của mình sẽ đóng góp được một phần nhỏ bé vào việc đổi mới nhận thức và quan điểm khi vận dụng công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại vào hoạt động thực tiễn. Tác giả mong muốn nhận được nhiều đóng góp của các nhà khoa học, các nhà quản lý, các chuyên gia kinh tế và các bạn đọc có tâm huyết trong lĩnh vực này. Tài liệu tham khảo 1 Arthur Meidan, Bank marketing Management, MACMILAN, 1981. 2 Abegglen, Kaisha - Công ty Nhật Bản, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1989 3 Alam, Chính phủ và thị trường trong các chiến lược phát triển kinh tế - Những bài học từ Hàn Quốc, Đài Loan và Nhật bản, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1996 4 Allen, chính sách kinh tế Nhật Bản, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 2001. 5 Trần Đình áp, Mai Huy Tân, Marketing, NXB LICOSAXUBA, Hà Nội 2001. 6 Cao Cự Bội, Về tính qui luật trong sự phát triển ngân hàng và một vài kiến nghị bổ sung vào sự đổi mới hệ thống ngân hàng hiện nay, UBKHNN xuất bản, Hà Nội 1992. 7 Xuân Biên, Kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2002. Mục tiêu, phương hướng và giải pháp chủ yếu, Tạp chí Kế hoạch hóa, Hà Nội 1993. 8 Các Mác. Tư bản. NXB Sự thật, Hà Nội trang 489, 488, 492 tập 3. 9 Cơ sở khoa học của quản lý kinh tế, NXB Đại học THCN và dạy nghề Hà Nội 1993. 10 Lê Văn Châu, Vốn nước ngoài và chiến lược phát triển kinh tế ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1998 11 Trương Đình Chiến, Tăng Văn Bền, Marketing dưới góc độ quản trị doanh nghiệp, NXB Thống kê, Hà Nội 2000. 12 Chủ nghĩa tư bản hiện đại - Những tìm kiếm mới, Viện Thông tin khoa học xã hội xuất bản, Hà Nội 1994. 13 Công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn của các nước châu á và Việt Nam. NXB Chính trị quốc gia 2000. 14 David Begg, Stanley Fischer, Rudiger Dornbasch, economics, NXB Giáo dục, Hà Nội 1995. 15 David Cox, nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội 2000. 16 Điều lệ Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam. 17 Điều lệ Ngân hàng phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam. 18 Dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp, thực trạng và định hướng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội 2000. 19 Hartmann, Thâm nhập thị trường thế giới như thế nào, NXB LICOSAXUBA, Hà Nội 1993. 20 Võ Đình Hảo, Các công cụ tài chính trong kinh tế thị trường, Thông tin chuyên đề, Hà Nội 1996. 21 Võ Đình Hảo, Đổi mới chính sách và cơ chế quản lý tài chính, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996. 22 Hội thảo chuyển hướng Ngân hàng nông nghiệp sang cơ chế thị trường, Hà Nội 1995. 23 Hệ thống ngân hàng Mỹ, Viện Khoa học thị trường giá cả, Hà Nội 1993. 24 Cao Sĩ Kiêm, Đổi mới chính sách tiền tệ - tín dụng - Ngân hàng. Trong giai đoạn chuyển sang kinh tế thị trường nước ta. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1998. 25 Cao Sĩ Kiên, Hai pháp lệnh Ngân hàng bước tiến quan trọng trong quản lý và kinh doanh tiền tệ, Tạp chí Cộng sản số 1/1994. 26 Kinh tế thế giới ngày nay - tình hình và chuyển vọng, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1997. 27 Kinh tế thế giới tiến vào thế kỷ XXI, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1996. 28 Kosai, Kỷ nguyên tăng trưởng nhanh, Viện Kinh tế thế giới, Hà Nội 1994. 29 Nguyễn Minh Kiều, Tiền tệ, tín dụng, ngân hàng và thanh toán quốc tế, NXB Giáo dục, Hà Nội 1996. 30 Luật các tổ chức tín dụng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001. 31 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội 2001. 32 Luật Thương mại, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000. 33 Võ Đại Lược, Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Việt Nam đến năm 2002. NXB Khoa học xã hội 1999. 34 Lý luận về tiền tệ, Văn phòng Dự án Đức - Việt, Hà Nội 1997. 35 Những vấn đề cơ bản về kinh tế vĩ mô, NXB Thống kê, Hà Nội 1999. 36 Miskin, Tiền tệ ngân hàng thị trường tài chính, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội 1997. 37 Naibith, Các xu thế lớn năm 2002, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1995. 38 Những vấn đề cơ bản về kinh tế vĩ mô, NXB Thống kê Hà Nội 1999. 39 Những vấn đề quản lý kinh tế ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996. 40 Ngân hàng Việt Nam quá trình xây dựng và phát triển, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1999. 41 Nguyễn Công Nghiệp, Lê Hải Mơ, Tỷ giá hối đoái phương pháp tiếp cận và nghệ thuật điều chỉnh, NXB Tài chính, Hà Nội 1999. 42 Nợ nước ngoài của các nước đang phát triển, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000. 43 Perkius, Cải cách kinh tế ở các nước đang phát triển, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1997. 44 Perkins, Theo hướng rồng bay, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội 1997. 45 Peter, Kinh nghiệm quản lý của các công ty kinh doanh tốt nhất nước Mỹ, Viện Kinh tế học xuất bản, Hà Nội 1992. 46 Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, HTX tín dụng và công ty tài chính, NXB Pháp lý, Hà Nội 1993. 47 Nguyễn Tấn Phước, Quản trị học những vấn đề cơ bản, NXB Thống kê, Hà Nội 1997. 48 Philip Kotler, Quản trị marketing, NXB Thống kê Hà Nội 2000. 49 Cao Huy Quân, Lý Thành, Bốn mươi năm kinh nghiệm Đài Loan, UBKHNN xuất bản, Hà Nội 1995. 50 Số liệu thống kê, nông, lâm, ngư nghiệp Việt Nam (1976 - 1998), NXB Thống kê, Hà Nội 1999. 51 Mai Siêu, Đào Minh Phúc, Cẩm nang quản lý tín dụng ngân hàng, NXB Thống kê, Hà Nội 2001. 52 Mai Siêu, Toán tài chính, NXB Thanh niên, Hà Nội 1999. 53 Tổ chức quản lý các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp ĐHKTQD. 54 Lê Văn Sang, Mai Ngọc Cường, Các lý thuyết kinh tế học phương Tây hiện đại, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1996. 55 Tạp chí Ngân hàng số 16/ tháng 8 năm 2001. 56 Tổng kết năm và báo cáo thường niên của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam từ 1991 ữ 2000. 57 58 59 60 61 Việt nam chuyển sang kinh tế thị trường, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội 1997. Âu văn Trường,Nước ngoài đầu tư vào Việt nam qua một cuộc hội thảo,Tạp chí ngân hàng tháng8/1998 Âu văn Trường,Một số vấn đề cần lưu ý khi đưa marketing vào hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Tạp chí ngân hàng tháng 7/1999 Âu văn Trường,Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại, Tạp chí ngân hành số 16 tháng 8/2001 Âu văn Trường, Đặc điểm chi phối cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại,Tạp chí ngân hàng số18 tháng9/2001 62 Nguyễn Quốc Việt, Ngân hàng với quá trình phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1998. ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docL0006.doc
Tài liệu liên quan