Báo cáo Tổng hợp về tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty giầy yên viên

Lời mở đầu Trong nền kinh tế thị trường, các Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển nhất định phải có các phương án kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế. Để đứng vững và phát triển kinh tế trong điều kiện có sự cạnh tranh gay gắt, doanh nghiệp phải nắm bắt và đáp ứng được tâm lý và nhu cầu của người tiêu dùng sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ, mẫu mã phong phú. Muốn vậy, các doanh nghiệp phải giám sát tất cả các quá trình từ khâu mua hàng đến khâu tiêu thụ hàng hoá để đảm bảo việc an toàn và

doc37 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 03/10/2013 | Lượt xem: 115 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Báo cáo Tổng hợp về tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty giầy yên viên, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
tăng tốc độ luân chuyển vốn, giữ uy tín với các bạn hàng, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước, cải thiện đời sống vật chất tinh thần của cán bộ công nhân viên, doanh nghiệp có lợi nhuận để tích luỹ mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh. Qua thời gian thực tập tại trường và quá trình tìm hiểu thực tế tại Công ty, cùng với sự giúp đỡ của cán bộ Công ty giầy Yên Viên, em đã hoàn thành Báo cáo thực tập tốt nghiệp của mình. Báo cáo thực tập gồm những Nội dung chính sau: Phần I: Khái quát chung về Công ty giầy Yên Viên Phần II: Tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty giầy Yên Viên Phần III: Đánh giá chung về Công ty giầy Yên Viên Trong quá trình thực tập ,em đã dược sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của thầy cô cùng cán bộ công nhân viên trong công ty giầy Yên Viên. Tuy nhiên do hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn nên báo cáo thực tập của em khó tránh khỏi những thiếu sót, kính mong sự chỉ bảo giúp đỡ của các thày cô giáo. Em xin chân thành cảm ơn. I. Tổng quan về Công ty giầy Yên Viên Công ty giầy Yên Viên được thành lập vào những năm đầu thủ đô mới giành được độc lập vào tháng một năm 1957. Ngay từ giai đoạn mới thành lập đến nay. Công ty giầy Yên Viên đã cùng nhân dân thủ đô nói riêng và miền Bắc nói chung đã góp sức vào xây dựng đất nước. Cho đến nay trải qua hơn 40 năm xây dựng và phát triển với bao khó khăn và thách thức sóng gió thăng trầm. Công ty giầy Yên Viên trưởng thành, phát triển và bước tới tương lai. Giới thiệu sơ lược về Công ty - Tên Công ty: Công ty giầy Yên Viên -Tên giao dịch quốc tế: ZINAVI - Địa chỉ: Số 277/Km 8 - Đường Nguyễn Trãi - Thanh Xuân - Hà Nội. - Các mặt hàng xuất khẩu chính; Giầy vải, giầy thể thao, các loại dép xăng đan để xuất khẩu và phục vụ thị trường nội địa. 1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Giai đoạn 1957 - 1960 (trưởng thành từ quân đội những chặng đường đầu tiên). Tháng 1 năm 1957 xí nghiệp X30 - Tiền thân của Công ty giầy Yên Viên ngày nay ra đời, có nhiệm vụ sản xuất mũ cứng và giầy vải cung cấp cho bộ đội thay thế các loại mũ đan bằng tre lồng vải lưới nguy trang và dép lốp cao su. Giai đoạn 1961 -1972 (sống lao động, chiến đấu vì miền Nam ruột thịt). Tháng 6 -1965 xí nghiệp X30 đã tiếp nhận thêm một đơn vị công tư hợp doanh là Liên xưởng thiết kế giầy vải và đổi tên thành nhà máy cao su Thuỵ Khuê. Đến năm 1970 nhà máy cao su Thuỵ Khuê đã xát nhập thêm xí nghiệp giầy vải Hà Nội cũ (gồm 2 cơ sở Văn Thương - Chí Hằng) và đổi thành: xí nghiệp giầy vải Hà Nội. Giai đoạn 1973 -1989 (tự khẳng định) Từ cái gốc X30 đến thời điểm này đã nẩy sinh nhiều xí nghiệp, đơn vị mới. + Tháng 6 năm 1978: xí nghiệp giầy vải Hà Nội hợp nhất với xí nghiệp giầy vải Yên Viên và lấy tên: Xí nghiệp giầy vải Yên Viên. + Tháng 4 năm 1989 theo yêu cầu của phát triển ngành giầy, xí nghiệp đã tách cơ sở 152 Thuỵ Khuê để thành lập xí nghiệp giầy Thuỵ Khuê. 1700 cán bộ công nhân viên còn lại tiếp tục cùng xí nghiệp giầy vải Yên Viên. Giai đoạn 1990 đến 1997 (thị trường và đổi mới) Ngày 8 tháng 7 năm 1993 xí nghiệp giầy vải Yên Viên đã chính thức đổi tên thành Công ty giầy Yên Viên theo giầy phép số 2753 của UBND Thành Phố Hà Nội. Giai đoạn 1997 đến nay (tự tin bước vào thiên niên kỷ mới ) Cơ chế quản lý kinh doanh theo chế độ tập trung quan liêu bao cấp đã bộc lộ nhiều nhược điểm: sản xuất bị đình trệ, thị trường tiêu thụ biến động, đời sốgn CB - CNV gặp nhiều khó khăn. Với tinh thần đoàn kết, cần cù, chịu khó và tính năng động sáng tạo của toàn thể CB - CNB Công ty giầy Yên Viên đã lựa chọn con đường đi đúng để tồn tại và phát triển đó là Hợp tác kinh doanh với các đối tác nước ngoài trên cơ sở hai bên cùng có lợi. Từ đây, sản phẩm của Công ty liên tục được cải tiến về mẫu mã, chất lượng và chiếm lĩnh thị trường trong và ngoài nước. Đây là một chặng đường thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp cải tổ vdà đổi mới theo Nghị quyết trung ương XI của Đảng, đây cúng chính là bệ phóng vững chắc cho việc cất cánh của Công ty trong thời kỳ tiếp theo: Thời kỳ tự tin bước vào thiên niên kỷ mới. Tóm lại: Công ty giầy Yên Viên trải qua hơn 45 năm xây dựng và phát triển với bao khó khăn, Công ty đã đạt được nhiều thành tựu, đóng góp một phần vào ngân sách nhà nước và tăng thu ngoại tệ từ hoạt động xuất khẩu. 2. Mục đích hoạt động, Công ty giầy Yên Viên là một doanh nghiệp nhà nước với sản phẩm chủ yếu là giầy vải. Mục đích chủ yếu của Công ty là có lãi nên lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của Công ty. Để đáp ứng với tình hình mới, Công ty đã tiến hành đổi mới trang thiết bị, tăng quy mô sản phẩm để đảm bảo công ăn việc làm cho công nhân, góp phần tạo ra của cải cho xã hội, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế đất nước. 3. Nhiệm vụ của Công ty. Để thích ứng với cơ chế thị trường, Công ty đã đề ra các nhiệm vụ cơ bản sau: + Dựa vào năng lực thực tế của Công ty, kết quả nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước, xây dựng và thực hiện totó các kế hoạch. Nâng cao hiệu quả kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm, tự bù đắp chi phí, trang trải vốn và hoàn thành nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước trên cơ sở tận dụng năng lực sản xuất ứng dụng khoa học kỹ thuật đổi mới sản phẩm. + Nghiên cứu luật pháp: Các thông lệ kinh doanh quốc tế, tình hình thị trường thế giới về các loại giầy, đặc biệt là giầy vải, giầy thể thao... Nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh và đưa ra phương án kinh doanh của mình. + Mở rộng sản xuất với các cơ sở kinh doanh thuộc phần kinh tế, tăng cường hợp tác với liên doanh nước ngoài. + Thực hiện phân phối theo lao động và công bằng xã hội, tổ chức tốt đời sống cán bộ công nhân viên. + Thực hiện tốt các chỉ tiêu kinh tế nhà nước giao cho cụ thể là: - Nộp ngân sách nhà nước. - Đảm bảo việc làm và thu nhập 4. Phạm vi hoạt động. Công ty chịu sự quản lý trực tiếp của Sở công nghiệp Hà Nội, được phép xuất khẩu sản phẩm chủ yếu là các loại giầy vải giầy thể thao, dép xăngđan phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu, ngoài ra Công ty còn tham gia sản xuất các loại sản phẩm bảo hộ lao động như: Quần áo, túi, găng tay... Công ty có quyền sản xuất các loại sản phẩm cao su khác. 5. Cơ cấu tổ chức bộ máy Công ty. Công ty giầy Yên Viên là đơn vị hoạch toán kinh doanh độc lập và có tư cách pháp nhân. Căn cứ vào đặc điểm tính phức tạp của kỹ thuật, quy mô sản xuất lớn. Công ty đã xây dựng phương thức quản lý theo kiểu trực tuyến chức năng. Bên cạnh đó có trợ lý giám đốc và bộ phận QRM (đại diện lãnh đạo về chất lượng) hỗ trợ giúp việc cho giám đốc trong quá trình ra quyết định. Hệ thống phòng ban của Công ty có chức năng riêng nhưng đều có nhiệm vụ tham gia tham mưu cho giám đốc, theo dõi kiểm tra và có hướng dẫn thực hiện các quyết định của giám đốc theo chức năng của mình. Các phân xưởng trực tiếp tham gia sản xuất. Mối quan hệ giữa các phòng ban, phân xưởng là mối quan hệ ngan cấp. Công ty giầy Yên Viên thực hiện mô hình quản lý theo hai cấp như sau”. Cấp 1 bao gồm + Ban giám đốc. Đứng đầu là giám đốc và sau đó là 4 phó giám đốc. Hệ thốgn phòng ban: Hệ thống phòng ban bố trí để tham mưu chủ đạo sản xuất bao gồm. + Phòng kinh doanh xuất khẩu (P. KD - XNK). + Phòng kế toán - tài chính (P. KD - TC). + Phòng chế thử mẫu + Phòng hành chính - Tổ chức (P. HC - TC). + Phòng kế hoạch - vật tư (P. KH - VTP) + Phòng thống kê - gia công + Phòng tiêu thụ Cấp 2 bao gồm: Các phân xưởng đứng đầu là các quản đốc phân xưởng. Bộ phận này trực tiếp chỉ đạo công nhân sản xuất. Hiện nay Công ty có các phân xưởng sau: + Phân xưởng cắt + Phân xưởng may A + Phân xưởng may B + Phân xưởng cán + Phân xưởng gò + Phân xưởng bôi tráng + Xưởng cơ năng Ngoài ra Công ty còn có một số phòng ban khác làm công tác chính trị tư tưởng như phòng đảng uỷ, phòng hành chính tổng hợp, phòng bảo vệ, ban vệ sinh lao động. Phần II tình hình hoạt động kinh doanh của công ty giầy yên viên I. Chiến lược marketing của công ty 1. Chiến lược sản phẩm. Sản phẩm là yếu tố đầu tiên quan trọng nhẩt trong marketing- mix, chiến lược sản phẩm đòi hỏi phải đưa ra những quyết định hài hòa về danh mục, chủng loại sản phẩm, nhãn hiệu bao bì... Nhận biết được tâm quan trọng của sảm phẩm gắn liền với nhu cầu thị trường, công ty giầy Yên Viên đã đưa vấn để sản phẩm lên hàng đầu. Hiện nay trong chính sách sảm phẩm của công ty chủ yếu đề cập tới các vấn đề cơ bản là: chủng loại sản phẩm, chất lượng sản phẩm, cũng như bao bì nhãn mác sản phẩm. Để đáp ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng và nhu cầu thời trang nhằm mở rộng và chiếm lĩnh thị trường, công ty luôn tìm cách, cố gắng nghiên cứu, cải tiến để đưa ra thị trường những loại sản phẩm với mẫu mã đa dạng, sản xuất ra nhiều loại giầy phục vụ cho tất cả các tầng lớp dân cư (từ người có thu nhập thấp đến người có thu nhập cao). Cũng như việc tích cực nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo uy tín cho công ty trên thị trường. + Đối với thị trường xuất khẩu: sản phẩm của công ty cung cấp chủ yếu qua đơn đặt hàng, gia công sản phẩm của các công ty, thương nhân nước ngoài, vì vậy từ mẫu mã hàng cho đến chất lượng tính năng hay bao bì nhãn mác đều lam theo đơn đặt hàng. Với các sản phẩm gia công xuất khẩu này thì hầu như sản phẩm sản xuất ra của công ty đều được các đối tác đặt hàng chấp nhận, với những đánh giá cao về việc thực hiện các yêu cầu của hợp đồng như: thời gian giao hàng, các thông số về chất lượng, kỹ thuật tính năng sản phẩm... Sự đáp ứng này của công ty luôn được bạn hàng đánh giá cao về uy tín, chất lượng sản phẩm trên thị trường. Sự đánh giá này càng được khẳng định khi công ty áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO vào sản xuất kinh doanh của công ty và đã nhận được giấy chứng nhận sản phẩm chất lượng quốc tế ISO - 9002 năm 1999. + Đối với thị trường trong nước. Để phát huy hết tiềm lực của mình và đáp ứng một cách tốt nhất đoạn thị trường của mình, chống hàng giả - nhái và cạnh tranh với các sản phẩm khác, công ty đã không ngừng thay đổi, cải tiến cũng như nghiên cứu phát minh các sản phẩm mới, và tăng chất lượng, thay đổi kiểu dáng và màu sắc sản phẩm. Để đa dạng hóa sản phẩm, công ty đã và đang cố gắng mọi nỗ lực nhằm đưa ra những sản phẩm để đáp ứng đoạn nhu cầu thực hiện mục tiêu của mình. Tuy nhiên nó vẫn có hạn chế sau: Việc đa dạng hóa sản phẩm của công ty mới chỉ đáp ứng được đối với những sản phẩm cũ, việc tìm hiểu và phát triển nhu cầu mới, mặc dù chưa được công ty quan tâm và nó còn chưa được phát huy hết, do đó việc đáp ứng đoạn thị trường người có thu nhập cao với nhu cầu mới công ty vẫn chưa phát huy được hết để có thể thâm nhập đoạn thị trường thời trang và thể thao một cách tốt hơn, nguyên nhân chính của điều này là do công tác thị trường chưa được phát huy. 2. Chiến lược giá cả: Giá thành sản phẩm không là chỉ tiêu phản ánh chất lượng, đo lường hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh, mà nó còn phản ánh uy tín, sức mạnh cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp trên thị trường. Công ty đã sử dụng một hệ thống chính sách giá khá linh hoạt nhằm tăng khối lượng hàng tiêu thụ và đạt được mục tiêu lợi nhuận bao trùm. Hệ thống giá linh hoạt mà công ty áp dụng là định giá phân biệt đối với từng loại khách hay khối lượng mua của họ. + Đối với đại lý bán sản phẩm cho công ty thì được chiết khấu từ 2 đến 10%. Song mức giá của đại lý lại là mức giá của công ty quy định, mức giá này thường là thấp hơn mức giá bán lẻ. + Đối với giá bán buôn: Công ty sẽ chiết khấu tùy thuộc mức độ sản lượng bán ra, nếu số lượng tăng nhiều thì công ty sẽ chiết khấu càng lớn trong giá bán buôn cho khách hàng. + Đối với sản phẩm mới: Công ty thường định giá cao nhằm nâng cao uy tín cho sản phẩm. Để xem xét tình hình thực hiện giá cả trong nước, chúng ta có thể xem xét, phân tích bảng biểu giá cả của các sản phẩm cùng loại của một số công ty sau: Bảng VI: Bảng giá của công ty so với một số công ty giầy cùng loại Tên sản phẩm Tên công ty Yên Viên Thụy Khuê Thăng Long Bata thường Bata chất lượng cao Giầy nữ chất lượng cao Giầy trẻ em 13.000 - 15.000 18.000 - 22.000 30.000 - 60.000 12.000 - 18.000 12.000 - 15.000 18.000 - 21.000 35.000 - 50.000 35.000 - 55.000 13.000 - 14.000 19.000 - 21.000 30.000 - 52.000 11.000 - 15.000 Qua bảng biểu giá của công ty và một số công ty sản xuất giầy cùng loại khác cho thấy, mặc dù giá cả của công ty có phần linh hoạt (khoảng mở của giá khá là rộng so với các công ty khác) nhưng so với thị trường trong nước thì giá sản phẩm của công ty vẫn còn quá cao, đặc biệt là đối với giầy vải của Trung Quốc nhập vào Việt Nam thì giá chỉ bằng 70 đến 80% giá giầy của công ty. Như vậy nếu chính sách giá của công ty không có sự thay đổi thì mặc dù sản phẩm của công ty có uy tín và có chất lượng cao cũng khó có thể cạnh tranh nổi về giá ngay trên thị trường nội địa. VD: Đối với giầy Bata của Trung Quốc giá bán ngoài thị trường Việt Nam chỉ có từ 8.000đ đến 10.000đ, giầy nữ chất lượng cao của họ chỉ khoảng 24.000đ đến 40.000đ. Với giá cả hàng hóa của Trung Quốc thấp hơn hẳn giá cả các sản phẩm cùng loại của công ty nói riêng và của các doanh nghiệp sản xuất khác trong nước nói chung, nó đã tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt về giá đối với hàng Việt nam. Đặc biệt, đối với đoạn thị trường người có thu nhập thấp, ước tính giầy Trung Quốc chiếm 70% lượng giầy tiêu thụ (khoảng 28% thị phần giầy tiêu thụ ở Việt Nam). So sánh giá cả các sản phẩm của giầy Yên Viên với sản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp sản xuất khác trong nước, ta thấy giá bán ra trên thị trường của công ty cao hơn so với giá sản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp khác như: Thụy Khuê, Thăng Long... Trong khi đó Việt Nam là một nước đang phát triển, thu nhập của người dân còn thấp (230 USD/người/năm - đứng thứ 132/174 nước), nên chiến lược đặt giá cao hơn so với các doanh nghiệp khác là chưa hợp lý ở tất cả các đoạn thị trường. Đối với thị trường xuất khẩu: thì hệ thống giá cả lại được quyết định chủ yếu vào giá gia công trên thị trường giầy vải. Sản phẩm gia công là sản phẩm xuất khẩu chủ yếu ở các công ty, hình thức này đối tác đặt hàng với cách thức đưa nguyên vật liệu cũng như nhãn mác, mẫu mã kích cỡ và kiểu dáng sản phẩm tới và yêu cầu Công ty gia công sản phẩm theo đơn đặt hàng của họ. Thông thường thì giá gia công của sản phẩm giầy được thỏa thuận tính theo số chi tiết mà các bộ phận hoàn thành và mức độ phức tạp của các chi tiết, đối với giầy vải giá gia công thường được tính bằng 20% giá thành sản phẩm. Với hình thức gia công xuất khẩu này thì đem lại lợi nhuận thấp, công ty bị lệ thuộc, chi phối ở các đối tác, hơn nữa các sản phẩm gia công không mang nhãn mác của công ty nên người tiêu dùng nước ngoài không biết đến công ty. 3. Chính sách phân phối. Hệ thống phân phối sản phẩm chính là con đường vận động (dòng chảy) của sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng, do vậy những quyết định về phân phối là hết sức quan trọng cho việc tiêu thụ sản phẩm, thu vốn về của công ty... Hiện nay công ty Giầy Yên Viên chủ yếu áp dụng các hình thức phân phối sau: + Đối với hệ thống phân phối trên thị trường nội địa. Công ty thực hiện việc bán sản phẩm của mình chủ yếu qua đại lý, và cửa hàng giới thiệu sản phẩm tại một số tỉnh, thành phố lớn của miền Bắc. Bảng VII: Ta có bảng mức độ tiêu thụ qua các kênh phân phối. Khu vực tiêu thụ Số lượng tiêu thụ (đôi) Tỷ trọng(%) 1.Hà Nội Cửa hàng số 1 Cửa hàng số 2 Cửa hàng số 3 Cửa hàng số 4 Cửa hàng số 5 Cửa hàng số 6 Các đại lý 2.Khu vực miền Bắc Đại lý tại Thanh Hóa Đại lý tại Hải Phòng Đại lý tại Phủ Lý 477.396 121.404 78.488 66.038 55.358 26.700 45.568 40.260 27.980 9.890 2.390 48,56 26,82 6,8 4,41 3,71 3,11 1,15 2,56 2,5 1,61 0,62 0,28 Tiêu thụ theo khu vực năm 2001. - Kênh trực tiếp Hiện nay công ty có 6 cửa hàng giới thiệu sản phẩm nằm ở các vị trí thuộc địa bàn Hà Nội, bao gồm các vị trí như: trước cổng công ty, trên đường Cầu giấy, đường Kim Mã... Công ty trực tiếp bán hàng cho khách hàng của mình qua hệ thống cửa hàng giới thiệu sản phẩm của công ty. ở đây nhân viên của công ty có chức năng vừa bán sản phẩm trực tiếp cho khách hàng, giới thiệu về mẫu mã, tính năng... của sản phẩm cũng như giới thiệu về công ty nhằm thu hút khách hàng và các đơn đặt hàng. Tuy nhiên số lượng sản phẩm tiêu thụ qua kênh này không rộng khắp, khách hàng chủ yếu là ở Hà Nội hay các vùng lân cận gần nơi công ty hoạt động. Song kênh hoạt động này lại có chức năng to lớn là làm nhiệm vụ quảng cáo và giới thiệu về công ty. Hiện nay với sức bán chiếm 46% tổng tiêu thụ trên thị trường nội địa, và chiếm 95% tổng mức tiêu thụ trên thị trường Hà Nội, có thể nói rằng hệ thống bán sản phẩm qua cửa hàng giới thiệu của công ty là rất hữu hiệu. - Kênh gián tiếp. Đây là kênh mà Công ty tiêu thụ sản phẩm của mình qua các đại lý, trung gian tiêu thụ, đối với hệ thống kênh này, Công ty luôn cố gắng mở rộng phạm vi sản phẩm của mình trên thị trường toàn quốc thông qua các đại lý. Hiện nay Công ty đã có gần chục đại lý nằm cả ở miền Bắc, bao gồm các đại lý ở Hà Nội, Thanh Hóa, Phủ Lý... Tuy nhiên mức độ tiêu thụ ở từng đoạn thị trường là chưa đồng đều và chủ yếu tập trung ở thành phố lớn là Hà Nội (chiếm hơn 80% doanh số bán ra trên thị trường nội địa). Xem xét hoạt động thực tiễn của các kênh gián tiếp ta thấy: Kênh hoạt động gián tiếp 1. Công ty Tổng đại lý Các đại lý Người tiêu dùng Người bán lẻ Người tiêu dùng Kênh này bao gồm các nhà phân phối: Công ty tổng đại lý, đại lý và người bán lẻ của Công ty. Như vậy kênh hoạt động này thông thường phải qua từ 2-3 trung gian sản phẩm mới đến được tay người tiêu dùng, sản phẩm được thông qua các tổng đại lý được quản lý tốt hơn đối với hoạt động của các đại lý khi mà con số đại lý lớn. Tuy nhiên hoạt động qua các tổng đại lý, Công ty không thể trực tiếp năm bắt được từng hoạt động của từng đại lý. Ngoài ra do kênh này có nhiều trung gian nên ảnh hưởng đến dòng luân chuyển của hàng hóa, sản phẩm cũng như dòng thông tin cung cầu bị chậm lại, gây nên sự gia tăng chi phí và những quan liêu ở những khâu trung gian. Kênh hoạt động gián tiếp 2: Người tiêu dùng Các đại lý Người tiêu dùng Người bán lẻ Công ty Với kênh hoạt động này, công ty đã kiểm soát được hoạt động của các trung gian kênh, hoạt động điều hành lưu thông hành hóa trực tiếp từ công ty tốt hơn, do đó làm cho dòng lưu chuyển sản phẩm năng động hơn, tránh được việc tồn đọng quá nhiều sản phẩm ở 1 khâu nào đó... Như vậy hệ thống phân phối ở công ty là khá hợp lý trên thị trường nội địa và có thể bao phủ được toàn thị trường, nâng cao được thị phần... song hệ thống phân phối này vẫn chưa phát huy hết khả năng, cần phải kích thích hệ thống này trên toàn thị trường nội địa. 4. Chính sách giao tiếp khuyếch trương. Cùng với chính sách về sản phẩm, giá cả phân phối, giao tiếp khuyếch trương có tác dụng thu hút khách hàng mục tiêu trong tiêu dùng và sử dụng sản phẩm. Bên cạnh đó, giao tiếp khuyếch trương còn đóng một vai trò rất lớn là tạo dựng hình ảnh, uy tín của sản phẩm và công ty trong tâm trí người tiêu dùng, gợi mở những nhu cầu của khách hàng tiềm năng và cũng nhằm phân biệt sản phẩm của công ty so với các hãng khác trong tâm trí người tiêu dùng. Ngày nay với sức ép của cạnh tranh, người tiêu dùng luôn đứng trước sự lựa chọn nhiều loại sản phẩm, nhiều hãng sản xuất cùng một loại sản phẩm phục vụ cho cùng một nhu cầu tiêu dung. Với tình trạng này, buộc người tiêu dùng phải lựa chọn tiêu dùng sản phẩm nào, của hãng nào là tốt nhất cho mình khi sử dụng sản phẩm. Để giúp sự lựa chọn, các hãng đã đưa ra chiến dịch giao tiếp khuyếch trương với mục đích cung cấp thêm thông tin cho sự lựa chọn của người tiêu dùng và tạo dựng hình ảnh, uy tín cho sản phẩm, công ty. Tuy nhiên hiệu quả của hoạt động này lại phụ thuộc vào hoạt động của công ty, cách nhìn nhận, đánh giá của công ty trên thị trường. Xem xét tình hình này tại công ty Giầy Yên Viên ta thấy nổi bật lên là các hoạt động: + Hoạt động quảng cáo. - Phương tiện truyền thông: Đây là vấn đề quan trọng số một của quảng cáo, nếu lựa chọn sai phương tiện truyền thông thì thông điệp quảng cáo sẽ không đến được nhóm khách hàng mục tiêu, như vậy quảng cáo không đem lại kết quả mà lại gây tốn kém, lãng phí. Hiện nay Yên Viên đang sử dụng hệ thống quảng cáo trên: Báo Hải Quan, báo Hà Nội Mới, Thời báo Kinh tế và Công nghiệp da giầy và một số biển hiệu quảng cáo ngoài trời, ở vị trí gần nơi hoạt động sản xuất của công ty và tờ rơi. Với đặc tính riêng biệt, sản phẩm giầy vải của công ty tập trung chủ yếu trong việc phục vụ nhu cầu tiêu dùng cho nhóm người có thu nhập trung bình, khá và thấp với một số ít phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ cao cấp. Như vậy việc quảng cáo trên báo Công nghiệp da giầy và Hải quan là chưa hợp lý vì đối tượng đọc các loại báo này không phải là đại trà người lao động. Còn trên báo Hà Nội Mới và Thời báo Kinh tế, đây là 2 loại báo hiện nay đang được đông đảo công chúng chú ý (từ những nhà hoạt động chính trị, kinh tế cho tới những người lao động). Báo Hà Nội Mới có phạm vi hoạt động ở địa bàn hẹp hơn, nhưng nó có sức lôi kéo người đọc ở địa bàn này lớn hơn. - Thông điệp quảng cáo . Quảng cáo in trên một số báo như Hải quan, Hà Nội mới, Thời báo Kinh tế... ở trên đó in những hình ảnh chìm của công nhân công ty đang sản xuất, hình ảnh nổi của một vài kiểu giầy của công ty, biểu tượng, huy chương công ty đạt được và biểu tượng hàng Việt Nam chất lượng cao năm 2000. Tuy nhiên thông điệp mà công ty muốn theo lại quá nhiều chủ yếu là giới thiệu về công ty nhiều hơn là những thông điệp gây sự gợi nhớ và chú ý nhiều của người đọc. Việc đưa ra mạng lưới tiêu thụ, nhiều địa chỉ giao dịch và phiên bản tiếng anh về văn phòng và địa chỉ giao dịch, càng làm cho thông điệp trở nên dài và không cần thiết vì các loại báo chủ yếu là dành cho người Việt Nam đọc, nên chỉ cần đưa ra địa chỉ chính của công ty và số điện thoại giao dịch chính của công ty là đủ. Về quảng cáo qua tờ rơi: Công ty quảng cáo sản phẩm trên tờ giấy A4, hình thức chủ yếu là giới thiệu sản phẩm với hình huy chương vàng ở ngay trang đầu cùng thông điệp “Giầy Yên Viên - chất lượng tiêu chuẩn quốc tế ISO 9002), bên trong là những hình ảnh nổi của những sản phẩm của công ty với các kích cỡ, kiểu dáng tiêu biểu của sản phẩm cùng với một vài hình ảnh về công ty và công nhân được in chìm với lời giới thiệu về công ty. Với tờ rơi tương đối lớn này thì nó chỉ phù hợp với việc giới thiệu sản phẩm cho khách hàng tới công ty tìm hiểu, còn nếu đem ra phát cho khách hàng mục tiêu, để quảng cáo thì không tiện, dễ bị nhàu nát và bỏ đi vì nó to. Kích thích tiêu thụ, thu hút khách hàng tiềm năng là một chính sách ngắn hạn, hiện nay được công ty thực hiện chủ yếu trong hội chợ triển lãm với các hình thức kết hợp như: Phát tờ rơi, khuyến mại, tặng quà và hình thức trò chơi phiếu thưởng kết hợp hình thức thăm dò, nghiên cứu thị trường. Tính riêng năm 2001 công ty đã tham gia 15 hội chợ, triển lãm trong toàn quốc, bao gồm: 01. Hội chợ xuân (Hà Nội) 02. Hội chợ thời trang (Hà Nội) 03. Hội chợ thương mại (Hà Nội) 04. Hội chợ hàng Việt Nam chất lượng cao (Hà Nội) 05. Hội chợ các doanh nghiệp đã và đang áp dùng hệ thống tiêu chuẩn ISO (Hà Nội) 06. Hội chợ triển lãm (TP Hồ Chí Minh) 07. Hội chợ hàng tiêu dùng (TP Hồ Chí Minh) 08. Hội chợ thương mại ( Đà Nẵng) 09. Hội chợ thương maị (Vinh) ... + Bán hàng cá nhân. ở hình thức này công ty chủ yếu trợ giúp các thành viên kênh bán của mình bằng cách tạo điều kiện cho họ đi học, đối với nhân viên bán hàng trực tiếp của công ty tập trung chủ yếu vào các cửa hàng giới thiệu sản phẩm, ở hình thức này công ty trực tiếp tập trung nhân viên bán hàng của mình, đưa đi học lớp tập huấn ngắn hạn, sau đó đưa đội ngũ này xuống trực tiếp bán và giới thiệu sản phẩm tại cửa hàng giới thiệu sản phẩm. Tại đây các nhân viên tự sắp xếp trưng bày sản phẩm của công ty theo một quy định chung có sự sáng tạo của nhân viên thực hiện, họ thực hiện nhiệm vụ giao tiếp với khách hàng, chủ yếu là giới thiệu cho khách hàng về công ty, sản phẩm của công ty, những tính năng của sản phẩm... Kèm theo lời giới thiệu nhân viên có thể phát những tờ rơi cho khách hàng, hướng dẫn khách hàng giao dịch với công ty một cách hữu hiệu nhất, đưa ra nhưng ưu đãi của công ty đối với khách hàng có đơn mua với số lượng nhiều. Ngoài ra nếu có thể nhân viên bán hàng sẽ thay mặt công ty trực tiếp ký hợp đồng bán sản phẩm với số lượng lớn cho khách hàng, gợi mở nhu cầu đối với khách hàng, thu nhập thông tin phản hồi từ khách hàng về sản phẩm của công ty để đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu của người tiêu dùng. Với các hoạt động nhân viên bán hàng cố gắng tạo ra hình ảnh uy tín tốt về sản phẩm của công ty trong tâm trí khách hàng từ đó có thể thúc đẩy việc tiêu thụ tốt hơn. II. Bối cảnh chung của toàn ngành da giầy Việt Nam Trong thời gian từ 1993 đến nay, tiếp nhận sự chuyển dịch từ các nước trong khu vực, ngành da giầy có tốc độ phát triển xuất khẩu cao. Năm 2000tốc độ phát triển toàn ngành đạt kim ngạch 1.468 triệu USD, tăng gấp 12 lần so với năm 1993. Tuy nhiên, do phương thức gia công là chủ yếu nên sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong toàn ngành phụ thuộc nhiều vào đối tác nước ngoài. Năm 2001, do biến động của trong nhu cầu tiêu dùng, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành chững lại và có dấu hiệu suy giảm. Năm 2001 đạt 1575 triệu USD (tăng 5,6% so với năm 2000). Nguyên nhân + Thị trường thế giới gặp khó khăn, sức mua giảm, đơn đặt hàng cho Việt Nam giảm, giá gia công cũng như giá bán bị ép giảm theo. + Chịu sự cạnh tranh gay gắt về giá với giầy dép của Trung Quốc. + Đồng Euro mất giá tác động mạnh tới sản xuất của các doanh nghiệp trong ngành, do xuất khẩu của các doanh nghiệp trong ngành chủ yếu sang thị trường Euro là chính (hơn 80%), các nhà nhập khẩu thay đổi cách thức mua hàng và yêu cầu ngày càng cao về các mặt. + Các lợi thế của ngành đã và đang dần mất đi trên thị trường quốc tế và trong khu vực (giá nhân công rẻ, môi trường đầu tư…) + Hạn chế trong việc mở rộng sang các thị trường mới (Nhật, Mỹ, Đông Âu). Những thách thức hạn chế khả năng xuất khẩu giày dép. + Nguyên phụ liệu (đặc biệt là da thuộc thành phẩm) sản xuất trong nước chưa cho phép đáp ứng nhu cầu của ngành giầy (về số lượng, chất lượng, chủng loại) cộng với các khó khăn hạn chế khác (vốn, kỹ thuật khách hàng) nên phần lớn các doanh nghiệp phải thực hiện phương thức gia công hoặc nhập nguyên liệu ngoại. Từ đó, các doanh nghiệp bị động trong sản xuất và hiệu quả mang lại rất thấp, phụ thuộc nhiều vào phía đối tác (từ nguồn hàng, kế hoạch sản xuất, thời gian giao hàng, giá cả v.v..). Hạn chế trong tiếp cận thị trường. + Chịu sự tác động mạnh mẽ của xu thế chuyển dịch và sự thay đổi của chính sách nhập khẩu của các thị trường lớn. - Thị trường EU: Những ưu đãi đặc biệt sẽ mất dần đi đặc biệt là sau năm 2004 (kết thúc giai đoạn được hưởng ưu đãi thuế quan) và khi kim ngạch xuất khẩu giầy dép của Việt Nam vào EU > 25% tổng kim ngạch nhập khẩu giầy dép của EU. - Thị trường Mỹ: Hiệp định NAFTA đã tạo điều kiện cho Canada và Mehico trở thành các nước xuất khẩu giày dép lớn vào Mỹ, đồng thời giầy dép của Việt Nam không thể cạnh tranh nổi với giầy dép của Trung Quốc trên thị trường Mỹ (kể cả khi hiệp định thương mại giữa Việt Nam và Mỹ được ký kết). Nếu ngành Da giầy Việt Nam không lựa chọn chiến lược sản phẩm thích hợp (phải lựa chọn các loại giầy trung cao cấp chứ không thể cấp thấp như giầy của Trung Quốc). - Thị trường Nhật: Tuy đã ưu đãi về chính sách thuế theo hiệp định được ký kết giữa hai chính phủ, trong đó có mặt hàng giầy dép nhưng khả năng xuất khẩu giầy dép sang thị trường Nhật là rất khó do thị trường naỳ yêu cầu rất cao về chất lượng, mẫu mã. Sức mua của thị trường này bị hạn chế (do kinh tế Nhật vẫn ảnh hưởng của suy thoái). - Thị trường Đông Âu và các thị trường khác, chưa có khả năng cải thiện phương thức thanh toán còn nhiều rủi ro mạo hiểm. + Khả năng tạo mẫu, tự thiết kế sản phẩm và chào hàng của các doanh nghiệp trong ngành còn nhiều hạn chế. + Giá gia công ngày càng bị ép giảm trong bối cảnh tiền lương công nhân và các chi phí khác trong nước (điện, vận tải, hải quan, xăng dầu, cước phí…) ngày càng gia tăng. + Chính sách bảo hộ hàng trong nước cùng hàng rào thuế quan ngày càng được tháo bỏ cùng với tiến trình hoà nhập AFTA (đến năm 2006). + Những hạn chế thuộc nội lực của các doanh nghiệp trong ngành (sự hạn chế về kỹ năng quản lý, trình độ kỹ thuật, vốn và sự non yếu về marketing…) 1. Đặc điểm về quy trình sản xuất Nghề làm giầy đã được người Trung Quốc tìm ra từ thế kỷ thứ hai trước công nguyên. Với mục đích ban đầu là giữ ấm đôi chân và giúp cho việc đi lại đơn giản hơn. Từ đó cùng với sự thay đổi của thị trường thói quen tập quán sinh hoạt của xã hội ngành sản xuất giầy không ngừng phát triển và gắn với nhu cầu ăn mặc thời trang. Quá trình sản xuất chủ yếu dựa vào sức lao động, rất phù hợp với những nước nghèo và có nguồn lao động dồi dào. Quy trình sản xuất giầy được chia thành các bước công việc nhỏ. Đây là cơ sở để đào tạo bố trí từng người lao động cụ thể và việc thao tác được chuyên môn hoá. Thao tác càng đơn giản thì thời gian đào tạo càng nhanh phát huy hiệu quả. Thông thường một người công nhân có thể đào tạo trong vòng từ 02 đến 03 tháng là có thể nắm bắt được công việc. Quy trình sản xuất giầy cơ động, nó cho phép bố trí dây truyền sản xuất linh hoạt và có điều kiện nâng cao năng suất. Với lợi thế ấy có thể rút ngắn chu kỳ sản xuất, cho phép quay vòng vốn nhanh. Để nâng cao năng suất lao động có nhiều phương pháp tiên tiến, ví dụ: "chế độ sản xuất đúng hạn". Với quy mô đa dạng tổ chức sản xuất cơ động bởi công cụ lao động và nơi làm việc không có tính khắt khe như một số ngành công nghiệp khác, ngành công nghiệp giầy đã được nhiều doanh nghiệp chọn làm ngành xuất phát của mình. Tổ chức hàng giầy có thể đơn giản, công cụ không đòi hỏi cồng kềnh và tối tân, nếu chưa đủ điều kiện sắp xếp vị trí, quy mô cơ động uyển chuyển lúc muốn chuyên môn từng thao tác để có năng suất cao thì có thể chia nhỏ từng bước công việc hoặc ngược lại, thu hẹp dây truyền lắp ráp sản phẩm để phù hợp với mặt bằng sản xuất. 2. Đặc điểm về công nghệ máy móc Công nghệ sản xuất giầy đơn giản và ít thay đổi, đầu tư trang thi._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBC528.doc