Đánh giá hiệu quả phòng trừ bệnh lở cổ rễ trên cây ngô và đậu xanh của nấm Trichoderma konnigii

Mục lục CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề: Ngơ và đậu đỗ là các loại cây trồng chính của Việt Nam. Trong nhiều năm trở lại đây, diện tích trồng ngơ liên tục phát triển do nhu cầu trong nước tăng mạnh cộng với những tiến bộ về cơng tác chọn tạo giống. Chúng ta đã tạo được những giống ngơ, đậu kháng sâu nên thiệt hại do sâu khơng đáng kể. Tuy nhiên, nấm bệnh vẫn là vấn đề nan giải cho cây ngơ trong điều kiện ẩm độ cao như ở nước ta. Trong đĩ, phổ biến là bệnh do nấm Rhizoctonia solanii. Bệnh phá

doc50 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 12/11/2013 | Lượt xem: 356 | Lượt tải: 4download
Tóm tắt tài liệu Đánh giá hiệu quả phòng trừ bệnh lở cổ rễ trên cây ngô và đậu xanh của nấm Trichoderma konnigii, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
t sinh ngay từ giai đoạn cây con và kéo dài cho tới khi cây đĩng bắp, thu hoạch. Ở nước ta nĩi chung và Đơng Nam bộ nĩi riêng, ngơ thường được trồng xen canh hoặc luân canh với các cây họ đậu nên bệnh cũng gây hại khơng nhỏ đến sản xuất đậu, đặc biệt là giai đoạn cây con. Nhiều diện tích ngơ và đậu bị mất mật độ, phải gieo lại, làm ảnh hưởng đến mùa vụ gieo trồng là do nấm gây chết cây con (cịn gọi là bệnh lở cổ rễ). Trong những thập kỷ trước, phịng trừ các loại bệnh hại chủ yếu dựa vào biện pháp hĩa học. Việc sử dụng các hĩa chất chất tổng hợp như trước đây thường gây nên hiện tượng kháng thuốc và dẫn đến hiệu quả phịng trừ thấp đối với các loại nấm bệnh trong đất. Việt Nam là một trong những nước sử dụng hĩa chất bảo vệ thực vật cao nhất thế giới. Bên cạnh việc làm giảm chất lượng lương thực, thực phẩm, các loại hĩa nơng dược cịn tích tụ trong đất, gây ơ nhiễm mơi trường đất, nước và làm cho sản xuất kém bền vững. Cùng với sự phát triển của ngành cơng nghệ sinh học, các chế phẩm sinh học ngày càng được lựa chọn trong cơng tác bảo vệ thực vật. Trong đĩ, nấm đối kháng Trichoderma được sử dụng để phịng trừ bệnh hại trên nhiều loại cây trồng. Trichoderma là vi nấm được phân lập từ trong đất, thường hiện diện ở vùng xung quanh hệ thống của rễ cây. Đây là loại nấm hoại sinh cĩ khả năng ký sinh và đối kháng trên nhiều loại nấm bệnh hại cây trồng. Nhờ vậy, nhiều lồi Trichoderma spp. đã được nghiên cứu như là một tác nhân phịng trừ sinh học (BCAs) và đã được thương mại hĩa thành thuốc trừ bệnh cĩ nguồn gốc sinh học (biofungicides), phân sinh học (biofertilizers) và chất cải tạo đất (soil amendments) (Harman & ctv., 2004). Các kết quả nghiên cứu cho thấy, các chế phẩm nấm đối kháng Trichoderma khơng ảnh hưởng đến các lồi thiên địch trên đồng ruộng, khơng ảnh hưởng đến các sinh vật cĩ ích trong đất, nước, đến mơi trường và các lồi động vật khác. Tuy nhiên, hiệu quả phịng trị bệnh của Trichoderma cĩ nhiều biến động tùy thuộc vào từng dịng nấm. Vì vậy, việc chọn lọc và đánh giá các dịng Trichoderma để sử dụng phù hợp cho từng loại bệnh là rất cần thiết. Hai dịng nấm 3 và 4 đã được phân lập tại Viện Nghiên cứu Hạt Nhân Đà Lạt từ lồi nấm Trichoderma konnigii và được sản xuất thành chế phẩm tam nơng Trichoderma Sản phẩm được khuyến cáo sử dụng cho các loại cây ăn trái, bắp cải, hoa kiểng… nhưng chưa cĩ số liệu về hiệu quả phịng trừ đối với bệnh lở cổ rễ cây ngơ và đậu. Xuất phát từ nhu cầu trên, đề tài Đánh giá hiệu quả phịng trừ bệnh lở cổ rễ trên cây ngơ và đậu xanh của nấm Trichoderma konnigii được tiến hành. Trong khuơn khổ thời gian cĩ hạn, đề tài chỉ muốn cung cấp cho sản xuất một số thơng tin, gĩp một phần đẩy mạnh việc ứng dụng các thành tựu của cơng nghệ sinh học, bảo vệ mơi trường sống và nâng cao chất lượng cho cuộc sống của cộng đồng. 1.2 Mục đích thực hiện đề tài: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của bệnh lỡ cổ rễ do nấm Rhizoctonia solani trên cây bắp và cây đậu xanh. Đánh giá hiệu quả phịng trừ bệnh của chế phẩm sinh học nấm Trichodema konigii đối với bệnh lỡ cổ rễ do nấm Rhizoctonia solani . 1.3 Đối tượng nghiên cứu. Đối tượng khảo nghiệm: bệnh lỡ cổ rễ do nấm Rhizoctonia solani gây ra. Đối tượng cân nghiên cứu đánh giá : nấm Trichoderma konigii 1.4 Giới hạn đề tài Đánh giá hiệu quả phịng trừ bệnh lở cổ rễ trên cây bắp và cây đậu xanh của nấm Trichoderma konigii do nấm Rhizoctonia solani ở phạm vi trong chậu nhựa CHƯƠNG II: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU: 2.1 Tổng quan tìm hiểu về bệnh lỡ cổ rễ : Bệnh lỡ cổ rễ là một bệnh phổ biến trên các loại cây họ đậu, bơng , gừng, cà chua… Hiện nay, các nhà khoa học đã tìm ra rất lồi nấm gây bệnh LCR như : Một số loài Pythium spp. Có thể tấn công trong giai đoạn đầu quá trình sinh trưởng, gây thối hạt, mất sức nảy mầm, lở cổ rễ hoặc thối thân làm ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của cây dẫn đến giảm năng suất. Nấm có thể gây hại cho cả cây trồng trong nhà lưới, nhà kính cũng như cây trồng trên ruộng sản xuất. Trong điều kiện thời tiết ẩm ướt, ruộng thoát nước kém, một số nấm Pythium có thể phát triển và gây hại các bộ phận phía trên của cây như lá, hoa và quả. Nấm Rhizoctia solani thường gây nên trong điều kiện nhiệt độ trung bình là 25 – 29oC.. Tuy nhiên trong khuơn khổ đề tài xin nhấn mạnh đến bệnh LCR do nấm Rhizoctonia solani gây ra… 2.2. Tổng quan tìm hiểu về nấm Rhizoctonia solani gây bệnh cho cây trồng: * Đặc điểm và triệu chứng gây hại: Hình dạng của sợi nấm Rhizoctonia spp. rất đặc trưng, đường kính sợi nấm từ 8-12,µm, khi sợi nấm còn non thường không có màu nhưng khi già thì có màu nâu đậm. Sợi nấm con mọc từ sợi nấm bố mẹ thường tạo thành góc 45-90 độ so với sợi nấm bố mẹ và tại vị trí phân nhánh thường có một vách ngăn và hơi thắt lại. Một số chủng nấm có khả năng hình thành hạch nấm màu nâu, dẹt, không định hình, có kích thước trung bình, khoảng 6mm, chúng hình thành trên mô bệnh đang phân hủy, sự xuất hiện của hạch tạo thuận lợi cho việc nhận biết nguyên nhân gây bệnh. Trong tự nhiên chúng ta có thể bắt gặp rất nhiều chủng nấm Rhizoctinia solani, có chủng có khả năng hình thành hạch nấm trên bề mặt cây bệnh và trong đất, có chủng không hình thành hạch nấm trên bề mặt cây bệnh và trong đất, có chủng không hình thành hạch nấm. Một số chủng chỉ thích nghi phát triển trên bề mặt cây ký chủ, trong khi đó một số chủng lại thích nghi sống trong đất. Các chủng này khác nhau về phổ ký chủ, đặc tính gây bệnh, yêu cầu về pH đất và nhiệt độ. Nấm Rhizoctonia solani sản sinh ra enzyme Cellulilitic và Pectinolitic và độc tố thực vật. Độc tố này giết chết mô chủ, khi mô chủ bị chết và bị phân hủy giải phóng chất hữu cơ làm tăng sự sinh trưởng tiếp tục của nấm. Nấm Rhizoctonia thường gây bệnh ở rễ, phần thân sát mặt đất ở cây non và trên bắp, thân và lá ở cây trưởng thành. Một số triệu chứng thường gặp do Rhizoctonia gây ra bao gồm: thối rễ, lở cổ rễ cây non, teo thắt thân, khô vằn và thối nhũn. Vết bệnh ở cây non thường có màu nâu, thối nhũng và teo thắt lại ở phần thân sát mặt đất và dẫn tới hiện tượng cây bị đổ rạp trên đất được gọi là lở cổ rễ cây con. Trên những cây già hơn vết bệnh hóa gỗ rắn chắc và thắt lại tại phần thân tiếp giáp với mặt đất được gọi là hiện tượng teo thắt thân. Khi chúng gây bệnh trên lúa và bắp thì cĩ những vết chết loang lổ như hình vân mây trên phiến lá và bẹ lá được gọi là bệnh khô vằn. Bệnh thường xuất hiện khi cây đã lớn và đang đóng bắp. Nấm này còn gây bệnh trên cây cải bắp và xà lách gọi là bệnh thối ướt, vết bệnh lúc đầu là vết lá chết màu nâu vàng ở các lá ngoài với các sợi nấm màu trắng xám, sau đó vết bệnh lan rất nhanh và gây thối toàn bắp. Khi trời ẩm trên vết bệnh vừa nhìn thấy sợi nấm gây bệnh vừa thấy hạch của nấm gây bệnh, hạch nấm dẹt, có màu nâu, trên bề mặt hạch có các lỗ rất nhỏ. Nấm R.solani là một nấm có thể ký sinh trên rất nhiều loại cây trồng. Nấm phát triển rất nhanh, hạch nấm và sợi nấm có thể tồn tại trên các mô cây sống hoặc tồn tại trên tàn dư cây trồng và trong đất trong thời gian rất dài vì chúng chứa một lượng lớn chất dự trữ. Sự xâm nhiễm của nấm bắt đầu từ hạch nấm, nguồn hạch nấm có thể từ đất, rễ, tàn dư cây trồng, hạt hay củ giống bị bệnh. Hạch nấm có thể sống tới 5 năm trong điều kiện đất ẩm. Hạch nấm khi nảy mầm sẽ tạo thành sợ nấm, sợi nấm tiếp xúc với mô cây, xâm nhiễm trực tiếp xuyên vào trong tế bào cây hay tạo thành các cấu trúc xâm nhiễm (là các bó sợi nấm có khả năng phân hủy mô tế bào trên bề mặt các bộ phận mẫn cảm của cây). Trong một số trường hợp, sợi nấm xâm nhiễm qua mô chết hay qua các vết thương cơ giới trên cây. Kết quả của quá trình xâm nhiễm làm cho mô cây bệnh chuyển màu nâu hoặc thối và cây bị đổi rạp xuống. Trong điều kiện thích hợp, triệu chứng bệnh có thể xuất hiện từ 3 đến 7 ngày sau khi diễn ra quá trình xâm nhiễm. Rhizoctonia spp. có thể gây hại trên cây rau quanh năm, nhưng phổ biến nhất là trong vụ Xuân. Tại Việt Nam, nấm thường xuất hiện trên bắp cải, ngô và các loại cây rau giống. Thời tiết nóng ẩm rất thích hợp cho nấm phát triển. Rễ và thân có thể bị nhiễm bệnh ở bất kỳ lúc nào trong giao đoạn ẩm độ kéo dài. Bệnh thường phát sinh và gây hại nặng nhất ở thời ký cây con. Triệu chứng điển hình là những đốm chết hoại màu nâu đỏ xuất hiện ở gốc thân, cổ rễ và những rễ già. Những đốm này có thể phát triển thành những đốm thối màu nâu đỏ, hơi lõm xuống và đôi khi bị thắt nhỏ lại. Dưới những điều kiện thuận lợi, chúng có thể phát triển rộng ra và ăn sâu xuống. Trong điều kiện khô và gió, mô bệnh ở thân và rễ trở nên khô, tóp lại, làm cho cây bị héo và chết. Lá của cây đậu tương cũng có thể bị nhiễm, những đốm bệnh trên lá lúc đầu có dạng thấm nước sau chuyển sang màu nâu xám đến nâu tối đen. Bệnh nặng làm cho toàn bộ lá bị cháy rồi rụng sớm.. * Điều kiện phát sịnh của bệnh: Nhiệt độ trung bình cho bệnh phát triển là 25 – 29oC. Trời mưa và ẩm là thích hợp cho bệnh phát triển. Bệnh gây hại nặng trong điều kiện đất thiếu canxi, sắt, magiê, đạm, photpho, lưu huỳnh hoặc sự phối hợp của bất kỳ những nguyên tố khoáng này. 2.3 Tình hình bệnh LCR trong và ngồi nước: Trên thế giới: Đây là một vấn đề nan giải ở một số nước trên thế giới như Thái Lan, Mianma , Philipin…bệnh xuất hiện nhiều vào mùa mưa vào vào giai đoạn cây con đang nảy mầm. thiệt hại của nĩ rất đáng kể lên hàng triệu USD/ năm. Theo C.Lode (1999) ở Indonesia tổng diện tích cao su bị bệnh lỡ cổ rễ trên 3 triệu ha, trong đĩ khoảng 84% diện tích thuợc tiểu điền. Bệnh LCR mợt trong những bệnh gây hại nghiêm trọng trên cây cao su tại Indonesia. Tỷ lệ bị bệnh 3% đới với đại điền, 5-15% đới với cao su tiểu điền, bình quân tỷ lệ cây chết trên vườn cây là 3% gây thiệt hại về kinh tế khoảng 40 triệu USD/năm. Nguyên nhân chính là do chi phí phòng trừ loại bệnh này rất cao, sự quản lý chưa đúng phù hợp, sự hiểu biết và kỹ năng nhận biết bệnh của tiểu điền còn hạn chế.Chính phủ đã hỡ trợ hướng dẫn kỹ thuật, cung cấp vớn (ở mức thấp) và nguyên liệu giúp nơng dân phòng trừ bệnh. Một nghiên cứu đánh giá nữa ở Sri Lanka theo Catania (2001) cĩ khoảng 116.000 ha trong đĩ diện tích của tiểu điền cao su chiếm khỏang 65%, khỏang 5% diện tích bị nhiễm bệnh LCR làm giảm tỷ lệ cây đứng và sản lượng của vườn cây, phịng trừ bệnh rất tốn kém. Do nhiều lý do đã khiến mức độ bệnh ngày càng tăng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất. - Ở Malaysia (theo nguồn Agriviet.com.,2008) thì bệnh lại xuất hiện vào những vùng đất tái canh tác theo nghiên cứu vào năm 2000-2005 có khoảng 80.000 ha được tái canh trước đĩ trồng bắp sau đĩ là trồng cây cải. Hầu hết vùng tái canh thuợc tiểu điền và rất mẫn cảm với bệnh LCR. Sự xuất hiện và phân bớ của bệnh rễ nói chung chưa thể hiện rõ do yếu tớ địa lý hay thở nhưỡng. Tuy nhiên mức đợ ảnh hưởng phụ thuợc nhiều vào việc vệ sinh đờng ruợng và thu gom tất cả rễ nhiễm bệnh ra ngoài. - Tại Thái Lan thì nghiên cứu về bệnh lõ cổ rể do Hatpacha Riakat (2000-2002) nĩi rằng tổng diện tích cao su khoảng 2 triệu ha, trong đĩ 95 % thuộc cao su tiểu điền. Theo điều tra năm 2000-2002, tỷ lệ bệnh LCR của cao su tiểu điền trong vùng truyền thớng khoảng 4,4%, năm 2005 tỷ lệ này khoảng 9-10%, nguyên nhân chính làm cho tỷ lệ bệnh tăng là do tàn dư của gớc stump còn lại trên vườn nhiều tạo điều kiện cho nguờn bệnh lây lan. Mợt sớ vùng tỷ lệ nhiễm bệnh lên tới 27% (SuratThani), 55% (Phangnga). Kết quả nghiên cứu ở Việt Nam: Trong điều kiện của Việt Nam, nấm Zhizoctonia solani phát sinh và phát triển khá mạnh, gây hại trên nhiều loại cây trồng khác nhau như: lúa, ngơ, cà chua, khoai tây, thuốc lá, lạc, đậu đỗ, bơng, cải bắp, xà lách v.v... Tùy theo loại cây và giai đoạn sinh trưởng của cây mà bệnh cĩ nhiều triệu chứng khác nhau như thối đen rễ, lở cổ rễ, thối gốc thân, khơ vằn (đốm vằn), thối lá. Hại ở thời kỳ cây con ở rễ, cổ rễ ủng nước nâu đen, cây đổ rạp gọi là bệnh lở cổ rễ (cà chua, thuốc lá vườn ơm, đậu đỗ...) (Tạp chí BVTV, 2002). Bên cạnh đĩ đối với những lồi cây bơng bệnh cũng bị tấn cơng, thường thì hiện ban đầu của cây con là mất sức căng của các bộ phận trên mặt đất, sau đĩ cây héo rũ và ngã gục xuống. Nhổ cây con lên ta thấy ở phần cổ rễ cĩ vết bệnh màu nâu sẫm vịng quanh thân, dài 1 – 3 cm. Vì vậy cĩ thể thấy những ký chủ dễ dàng cho bệnh tấn cơng vào lúc chúng mới nhú rễ mầm. Một yếu tố quan trọng khác khơng thể thiếu để dẫn đến sự phát triển của bệnh là điều kiện thời tiết ẩm, sợi nấm bệnh cĩ thể mọc ra từ vết bệnh và lan ra hốc cây này sang hốc cây khác khoảng vài cm. Bệnh này xuất hiện trong suốt thời gian từ khi cây bắt đầu mọc đến khi cây được 20 ngày tuổi. Tuổi cây càng lớn thì khả năng nhiễm bệnh càng giảm.( theo Nguyễn Văn Vinh, 2005-2006). Theo những điều tra về số liệu của bệnh gây ra gần đây thì bệnh thường xuất hiện ở hầu hết các vùng đồng bằng , trung du, miền núi trên các loại đậu, bắp… làm thực phẩm cho vụ Đơng Xuân và Xuân Hè . Bệnh phá hoại suốt thời kỳ sinh trưởng của cây nhưng chủ yếu là vào thời ký cây con gây thiệt hại lớn cho nguồn nơng sản nước ta (theo Võ Thị Thu Oanh ,2000). 2.4 Nghiên cứu phịng trừ bệnh lỡ cổ rễ trong và ngồi nước: 2.4.1 Đối với thế giới: Những nghiên cứu tại Philippin (2002-2005) (nguồn Agriviet.com. 2008) cho thấy rằng chính phủ tại đây đã tiêu tốn rất nhiều cho việc phịng trừ bệnh LCR, bệnh làm cho sản lượng cao su ở đây giảm sút nặng nề. Tuy nhiên việc phịng trừ nĩ lại rất lỏng lẻo bởi vì chỉ khuyế khích sử dụng thuốc hĩa học bởi lẽ kết quả phịng trừ chúng rất nhanh nhưng bênh cạnh đĩ chế độ luân canh liến tục và việc chăm sĩc giống tại đây nghiêm ngăt vì thế mà bệnh đã cĩ phần thuyên giảm mặc dù luơn luơn tái phát. Những thuốc hĩa học thường được phổ biến dùng là: Alvince50, phun Bayfidan 250EC, Folicur 250EW… - Cịn tại Thailan, Dasseco Meka (2006) cho biết chính phủ tại đây lại khuyến khích nhân dân sử dụng các chế phẩm sinh học để giúp bảo vệ mối trường và an tồn thực phẩm cho người dân đồng thời cĩ thể triệt bệnh lâu dài, tận gốc. theo thống kê vào năm 2006 thì việc sử dụng chế phẩm sinh học Trichoderma spp. là 85.7% - Đối với Ada Viterbo và Ilan Chet ở Viện khoa học Weizmann, Ixraen (2009) tại các nước Châu Phi phân tích rằng Trichoderma là loại nấm cĩ mặt trong hầu hết các loại đất nơng nghiệp. Chúng cĩ khả năng kiềm chế các loại nấm khác phát triển, và trở thành đồng minh quan trọng, giúp cây trồng chống lại các loại nấm gây bệnh. Nấm Trichoderma đã được sử dụng để kiểm sốt bệnh mục quả nặng do Phytophthora, một trong những mầm bệnh nguy hiểm nhất đối với cây cacao ở châu Phi; và cũng được sử dụng để chống lại bệnh đốm vằn trên lúa, lúa mỳ, khoai tây và ngơ do Rhizoctonia solani gây ra. Ngồi việc tấn cơng trực tiếp vào các mầm bệnh, Trichoderma cịn cĩ lợi ích khác đối với cây trồng: tạo ra cơ cấu phịng vệ trên tồn bộ cây trồng (induced systemic resistance - ISR), tăng cường cho hệ miễn dịch của cây. - Tại Mỹ, Theo các chuyên gia nơng nghiệp của Mỹ, trên thế giới hiện nay cĩ tới trên 500 giống chuối khác nhau. Đối với các giống chuối tự bản thân chúng cũng rất dễ bị mắc phải các loại bệnh. khác, nhất là ở khu vực Mỹ latinh, châu Phi, châu Á và các quốc gia đảo Thái Bình Dương. Tuy nhiên do nấm Sigatoka, một lọai nấm gây bệnh thối gốc ở rễ, nên người ta đã phun cho chuối một loại thuốc BVTV, nhưng chi phí thuốc trừ nấm lại quá lớn, nên nhiều hộ nơng dân, đặc biệt là cá thể đã khơng chịu nổi. Trong khi đĩ các trang trại trồng chuối khơng phun thuốc bị tổn thất từ 30-60%, thậm chí cĩ nơi đến 80% năng suất (theo Ankaricola,2000). Cho dù cĩ phun tăng liều cũng khơng giải quyết được tận gốc. Giải pháp chống lại nấm cũng như các loại bệnh biến thể mới cho chuối đang được coi là vấn đề nĩng bỏng ở các nước Mỹ Latinh. Một trong số giải pháp tình thế mà Quỹ Nơng nghiệp Hondurat (HARF) hiện đang đưa ra đĩ là việc tạo ra một giống chuối mới lai tạo chịu được sâu bệnh..Giải pháp tăng cường gen được coi là "ứng cử viên" sáng giá cho dự án này, lý do nhờ sự can thiệp con người, nhất là cơng sức gieo trồng người ta sẽ tạo ra được những giống chuối mới chịu được sâu bệnh. Tuy nhiên kĩ thuật truyền gen cũng cĩ những mặt hạn chế khác đĩ là việc gây lan truyền những gen đã tăng cường sang các loại cây trồng khác hay nĩi vắn tắt là cĩ thể gây độc hại cho các loại cây trồng xung quanh. Chính vì thế giải pháp dùng chế phẩm sinh học đang là một vấn đề thiết yếu và an tồn nhất trong thời diểm hiện nay. Theo nguồn Agriviet.com.(2008). 2.4.2 Tình hình phịng bệnh lỡ cổ rễ ở trong nước: Tại các tỉnh hoặc thành phố trong cả nước khi gieo trồng các loại cây dù là cây kiểng hoặc cây hoa màu thì đều gặp tình trạng bệnh lỡ cổ rễ xuất hiện chính vì lẽ đĩ mà theo những chuyên gia trong Cục Bảo Vệ Thực Vật ( Sở Khoa Học Và Đời Sống, tỉnh Vĩnh Long,2006) thường định hướng cho người dân bằng nhiều biện pháp bảo vệ tốt cho cây trồng khỏi mắc bệnh theo những cách sau: - Thiết kế hệ thống thĩat nước để ruộng khơng bị đọng nước, ẩm ướt, đặc biệt là trên những chân ruộng trũng, ruộng luân canh với lúa nước. - Tăng cường bĩn phân chuồng đã được ủ hoai mục để bổ xung nguồn dinh dưỡng tổng hợp cho cây, cải tạo kết cấu của đất và bổ xung vi sinh vật đối kháng giúp khống chế sự phát triển của nấm bệnh gây hại. Tăng cường bĩn thêm Lân và Kali. - Cày bừa ruộng kỹ, bĩn thêm vơi bột để giúp tiêu hủy nhanh tàn dư cây bệnh cĩ sẵn trong đất từ vụ trước, phơi rải đất nếu điều kiện cho phép. - Tránh xuống giống vào những thời điểm cĩ mưa nhiều, khơng nên gieo hột giống sâu qúa. Sau khi mưa nếu đất bị đĩng váng nên tranh thủ xới xáo phá váng ngay. - Xử lý hạt giống trước khi gieo bằng thuốc trừ nấm Benlate 50WP (hoặc Bendazol 50WP; Viben 50BTN...) bằng cách cứ mỗi kg hạt  giống trộn đều với 5-7 gram thuốc. - Để phịng, trị bệnh các bạn cĩ thể phun xịt bằng một trong các lọai thuốc như: Bavistin 50FL; Carban 50SC; Derosal 50SC/60WP; Vicarben 50BTN/50HP; Benlate 50WP; Benotigi 50WP; Fundazole 50WP; Validacin 3L/5L/5SP; Valicide 3SL/5SL/5WP; Moceren 25WP/ 250SC... Đĩ là những hướng giải pháp phịng trừ bệnh lỡ cổ rễ mà trong và ngồi nước đang tiến hành để cho những kết quả tốt nhất chống lại bệnh và những thiệt hại do bệnh gây ra.. 2.5 Tổng quan tình hình trồng ngơ và đậu xanh và cách phịng chống bệnh LCR ở nước ta hiện nay: 2.5.1 Tình hình trồng bắp: Ngơ đã đưa vào Việt Nam vào khoảng 300 năm trước ( Ngơ Hữu Thịnh 1997). Ngơ là cây lương thực quan trong đứng thứ hai sau lúa. Nĩ cũng là một cây trồng hết sức cĩ ý nghĩa cho sự phát triển chăn nuơi. Ở nước ta, bắp được trồng gân như khắp cả nước. Ở Việt nam cĩ 8 vùng sản xuất ngơ chính: Ngơ cung cấp nhiều năng lượng và hàm lượng protide, lipide cao hơn nhiều so với gạo và khoai lang. Vì bắp cĩ giá trị dinh dưỡng cao nên làm lương thực cho người. Tất cả các nước trồng bắp nĩi trên đều đều ăn ngơ ở mức độ khác nhau. Các nước Trung Mỹ , Nam Á và Châu Phi lấy ngơ làm lương thực chính. Các nước Nam Phi sử dụng 95% làm lương thực cho người, Tây Trung Phi là 80%, Bắc Phi là 42%, Nam Mỹ là 12%, các nước thị trường đang phát triển là 14%... Cả thế giới sử dụng khoảng 111224062 tấn ngơ làm lương thực hằng năm (1999). Một số nước cĩ sử dụng lớn như Trungquốc (22975805 tấn) , Mexice (12495139 tấn).. Tính trên bình quân đầu người, ở một số nước dùng ngơ làm lương thực chính với số lượng lớn (1999) như Lesotho (116,2kg/năm), Nam Phi (98.8kg/ng/năm). Ngơ là một trong những cây trồng cĩ khả năng cơ giới hĩa cao. Hiện nay, ở các nước đang tiên tiến cứ 30 phút lao động cĩ thể sản xuất ra 100kg hạt ngơ. Hình 2.1: cây bắp trên đồng ruộng 2.5.2 Tình hình bệnh LCR ở cây bắp và cách phịng chống bệnh LCR đối với bắp: Nấm R.solani gây hại trên cây bắp vào giai đoạn bắp mọc cây con khoảng 20 ngày tuổi là lúc bệnh xâm nhập và phát hiện rõ nhất. bệnh thường xuất hiện ở phần rễ cây, cây càng lớn và trưởng thành thì bệnh càng giảm. Đặc điểm của bệnh là xuất hiện trên bẹ, phiến lá, thân và bắp ngơ tạo ra nhiều vết lớn loang lổ, đốm vằn da hổ, hình dạng bất kỳ như hình đám mây. Vết bệnh lan từ lá phía dới gốc lên bắp, cờ, làm cây tàn lụi, bắp thối, gây tổn thất lớn trên các giống ngơ mới ( theo Bệnh Cây Nơng Nghiệp,1998) Một số biện pháp phịng trừ bệnh LCR được nghiên cứu bằng các thí nghiệm phịng trừ trên đồng ruộng trong vụ xuân 2001 cho thấy các loại thuốc Validacin 5 DD và Rovral 50 WWP sau phun 7 ngày cĩ hiệu lực cao, đạt 86,52% và 83,3% tương ứng. Bĩn chế phẩm sinh học Trichoderma đạt hiệu quả phịng trừ thấp hơn 72,7%. Tuy nhiên thời gian càng về sau, sau phun thuốc hĩa học 27 ngày thì hiệu lực phịng trừ giảm dần chỉ đạt 27,24%.. ( theo nguồn: Bảo vệ Thực vật, 2002, Số 1, tr.32). Vì thế mà người dân được khuyến khích dùng các chế phẩm cĩ nguồn gốc là nấm đối kháng Trichoderma spp. Bên cạnh đĩ cịn những biện pháp sau: + Trồng đúng mật độ và bĩn phân cân đối. + Vệ sinh đồng ruộng và phịng trừ cỏ dại. + Xử lý hạt giống bằng Falinlixan hay Rovral (2-3kg hạt) + Phun thuốc Validacin, Anvril 5% hay tilt ( nồng độ 1/500), Moncerin(08kg/hạt), … 2.5.3 Tình hình trồng đậu xanh và việc phịng chống bệnh LCR hiện nay: Do cĩ thời gian sinh trưởng ngắn 60-70 ngày nên đậu xanh được sử dụng nhiều trong các mơ hình luân canh, xen canh ở miền Nam. Hiện nay năng suất đậu xanh trung bình cịn thấp, khoảng 0,5 - 0,7 tấn/ha, do các nguyên nhân sau: 1. Nhiều giống hiện trồng mặc dù năng suất khá nhưng do tính ổn định chưa cao, sức biến động khá lớn giữa các miền, các vùng. 2. Khả năng kháng sâu bệnh của các giống đang trồng rất thấp. 3. Chưa cĩ những dự báo về thời vụ gieo trồng thích hợp cho từng vùng và chưa xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất cho từng vùng sinh thái. Chính vì những yếu tố trên mà người ta đã tuyển chọn ra nhiều loại đậu xanh cĩ các ưu diểm khác nhau để cho năng suất cao nhất. Vùng núi Dài, An Giang ( theo Nguyễn Văn Minh, tạp chí khoa học 2008 ). Kết quả cho thấy lợi nhuận của cây đậu xanh đều cao hơn so với vụ trước từ 1,2 đến 2 triệu đồng/ha và cĩ thể thay thế lúa vụ Đơng Xuân Ba giống đậu xanh năng suất cao gồm: MT (1,64 T/ha), V8-20 (1,64T/ha), D49 (1,55 T/ ha). 2.5.3.1 Tình hình của bệnh LCR trên đậu xanh: Theo Võ Thị Thu Oanh (2000), bệnh LCR của cây đậu xanh thường xâm nhập vào cây khi cây vừa nhú mầm và sau 7 ngày tuổi là lúc bệnh bắt đầu phát triển, dần khoảng 20 ngày tuổi là lúc ta quan sát được bệnh rõ nhất. Bệnh này thường xuất hiện ở phần rễ của cây. Bên cạnh đĩ nấm bệnh cịn cĩ thể cạnh tranh thức ăn, chất dinh dưỡng của hạt giống, làm cho hạt giống khơng thể nảy mầm trong quá trình trồng. Biểu hiện đặc trưng nhất của triệu chứng bệnh là rễ và gốc thân sát mặt đất bị thâm đen, thối mục, gây bệnh héo chết cây đỗ gục xuống ruộng . Ban đầu vết bệnh chỉ là một chấm nhỏ màu đen ở gốc thân, cổ rễ sau đĩ lan rộng ra gốc thân và bọc quanh cổ rễ. bộ phận bị bệnh thì thối mục, màu đen ủng nước hoặc hơi khơ, cổ rễ bị héo tĩp, bộ phận lá thân bị heo rũ nhưng vẫn giữ được màu xanh ở lá. 5-6 ngày bị héo rũ và chết hàng loạt trên đồng ruộng, để lại từng chịm vạt trống khuyết cây. Khi gặp ẩm độ cao, nơi vết bệnh xuất hiện những hạch nấm màu nâu đen trên các đám trơ nấm màu trắng . Nguyên nhân bệnh là do cá loại nấm như Fusarium solani, Rhizoctonia solani … 2.5.3.2 Cách phịng bệnh LCR ở nước ta: Theo thạc sĩ Võ Thị Thu Oanh (2000) thì biện pháp phịng tốt nhất đối với cây họ đậu là : + Thực hiện luân canh với cây họ hịa hảo như lúa nước nhằm hạn chế bệnh tồn tại trong đất từ 2 đến 3 năm . + Áp dụng đúng các kỹ thuật canh tác từ khi gieo hạt đến lúc thu hoạch, cày bừa kỹ, để ải khơ, bĩn vơi để tiêu hủy tàn dư cây bệnh + Chọn giống tốt cĩ sức nảy cao, gieo hạt đúng thời vụ tránh bị mưa going, gieo hạt quá sâu. Sau khi mưa cần phá váng, xới xáo kịp thời, vun luống cao tránh để ứ đọng nước, chú ý bĩn lĩt vơi và bĩn thúc sớm bằng phân lân và phân kali. + Mật độ trồng khơng quá dày. + Nên xử lí hạt giống trước khi gieo bằng các loại thuốc Rovral 50WP, Viben C 50WP, Ridomil MZ 72…cĩ thể xử lý ướt. + Khi bệnh phát triển, lây lan nhanh cĩ thể phun thuốc trừ bằng các loại thuốc Validacin 3DD, Anvil, Ridomil MZ 72WP, Topsin M 70WP, Rovral 50WP hoặc chế phẩm sinh học Trichoderma. 2.6 Tổng quan về nấm Trichoderma : 2.6.1 Đặc điểm của nấm Trichoderma: Trichoderma là chi khá phổ biến trong tự nhiên, đặc biệt là trong mơi trường đất. Theo Gary J. Samuels(1932), Trichoderma ít tìm thấy trong thực vật sống và chúng khơng sống nội ký sinh với thực vật. Ngày nay, hệ thống phân loại của nấm Trichoderma vẫn chưa rõ ràng và khá phức tạp, do đĩ cĩ nhiều ý kiến khác nhau đưa ra khi phân loại giống nấm này. Theo Rifai (1969), Barnett H.L v Barry B. Hunter (1972), Trichoderma spp thuộc lớp nấm bất tồn Deuteromycetes (fungi imperfect); thứ tự vị trí phân loại như sau: Giới : Nấm Ngành : Ascomycota Lớp : Deuteromycetes Bộ : Moniliales Họ : Moniliaceae Giống : Trichoderma spp Hình 2.2: Trichoderma sp. Theo Agrios G.N (1997), Hrman G.E (2002), hầu hết Trichoderma spp cĩ giai đoạn sinh sản vơ tính (đây là lý do Trichoderma spp được phân loại thuộc nhĩm nấm bất tồn Deuteromycetes, bộ Moniliales), tuy nhiên một vài lồi Trichoderma spp. cũng cĩ khả năng sinh sản hữu tính nên được phân vào lớp nấm tíu Ascomycetes, bộ Hypocreales, giống Hypocrea. 2.6.2 Tìm năng của Trichoderma trong phịng trừ sinh học: 2.6.2.1 Quần thể Trichoderma trong đất Trichoderma cĩ khả năng tái tạo quần thể, được xem là một hiện tượng phịng trừ sinh học vẫn chưa được giải thích về cơ chế. Theo Bliss(1959) Trichoderma cĩ khả năng thiết lập quần thể và tái hoạt động rất mạnh mẽ và nhanh trên đất đã được xử lý khử trùng xơng hơi bằng cacbon disulfide để diệt nấ, Armillaria mellea trênn cây cam, quýt, nhưng khơng cơng bố bằng chứng quần thể Trichoderma phịng chống bệnh. Orh và cơng tác viên (1973) , cung cấp các bằng chứng xác thực thuyết phục nhất quần thể Trichoderma trong đất cĩ khả năng phịng chống nấm Armillaria mellea trên đất đã được xử lý xơng hơi bằng methyl bromde, Trichoderma kháng methyl bromide hơn là Acetyl mellea. Các bằng chứng về vai trị của quần thể Trichoderma trong đất được củng cố về vấn đề phịng trừ sinh học như thêm sulfur vào đất để duy trì độ pH dưới 3,9 làm tăng khả năng phịng trừ bệnh thối rễ và thối ngọn dứa ở Úc. Cách phịng trừ bệnh này đã làm giảm túi bào tử của nấm Rhizoctonia solani và làm tăng tính ưa acid của T.longii ( Cook và Baker, 1938). Khả năng hoạt động phịng trừ của trichoderma ở các quần thể tiềm sinh và sợi nấm được cơng bố trong chỉ phịng thí nghiệm (Ayers,1981; Cook và Baker, 1982) mà cịn cĩ trong đất (Hubbard và các cơng tác viên,1983). Trichoderma cĩ khả năng khuếch tán tính độc của nấm trong phịng thí nghiệm kể các chất hữu cơ trong đất cũng như khả năng kéo dài phịng trừ sinh học của Trichoderma. Ngồi ra, khả năng thứ 2 của nấm Trochoderma là kháng nấm. T. hamatum cĩ nhiều trong đất ở vùng Colombia cĩ khả năng năn chặn nấm R.solani (Chet và Baker,1980-1981) và T. hamatum cĩ nhiều khi phân lập từ đất tại mexico cĩ khả năng ngăn chặn nhiều loại nấm đất (Lumsden,1977). Dưới nhiệt độ phĩng xạ gamma khơng thể tiêu diệt được nấm này ( Naelson và các cơng tác Vein,1983), đậy là vai trị của Trichoderma trong phịng trừ sinh học. Khả năng ngăn cản các lồi nấm trong đất của đất, đặc biệt là R.solani , Pythium spp. cĩ liên quan đến nấm Trichoderma, đã thành cơng và được cơng bố rộng rãi là vấn đề được nghiên cứu trong nhiều năm nay. Các tài liệu Baker (1974,1980) của Barret và các cộng tác viên (1974) , của Cook và Baker (1983) đều cơng bố khả năng này của Trichoderma. 2.6.2.2 Tính kháng của Trichoderma trong đất: Đây là mật vấn nĩng và hấp dẫn được nhiều chuyên gia nghiên cứu trong những năm gần đây. Phịng trừ sinh học bằng cách thêm một số lượng lớn các bào tử t. harizaum cùng mơi trường nuơi trồng vào đất được well và các cộng tác viên (1962) thử nghiệm . Các nhà nghiên cứu lân đầu tiên cơng bố sử dụng một lượng lớn Trichoderma nuơi trong trên mơi trường bán rắn ra thử ngồi ruộng kiểm sốt các loại nấm gây bệnh trên cà chua. Trong các giống Trichoderma cĩ giống T. harizaum. Nuơi trên mơi trường bán rắn cĩ tác dụng chống được các loại bệnh thối trắng trên hành ở Ai Cập (Abd và các cộng tác viên ,1975) ; bệnh chết rạp cây con do Rhizoctonia solani. Hiệu quả phịng trừ sinh học của nấm nuơi trồng trên mơi trường bán rắn phụ thuộc vào nhiệt độ, loại mơi trường nuơi trồng trên mơi trường nuơi trồng và thời điểm cấy nấm vào đất ( Elad và cơng tác viên,1980) tỷ lê câytrichoderma vào giá thể và mật độ nấm gây bệnh (Hadar và cơng tác viên 1979). Những vấn đề phức tạp liên quan đến khả năng chống bệnh của Trichoderma cũng được nghiên cứu . Kelley (1976), cơng bố T.harzianum được cấy vào đất sét với mục đích phịng trừ bệnh chết rạp cây con trên dưa.. Ơng ta nhận thấy rằng khả năng kháng bệnh của nấm này phụ thuộc vào dư lượng dinh dưỡng trong đất , đặc biệt trong đất ẩm bệnh chết rạp phát triển rất cao . Khi cấy T.harzianum dạng viên hưu cơ vào mơi trường nhiều dinh dưỡng , làm tăng quần thể Pytium, hậu quả là bệnh phát triển trong vườn dây leo (Moody và Gindrat, 1977). Bệnh chết rạp xảy ra khi thêm Trichoderma dạng viên vào trước khi gieo hạt dưa leo. 2.6.2.3 Bào tử nấm Trichoderma trong đất: Với các bào tử phân sinh trần, phương pháp xử lý bằng khử trùng xơng hơi hay bay hơi trên đất làm tăng số lượng bào tử trong đất . thí nghiệm phịng trừ bệnh Fusarium trên cây hoa cúc đã được ghi nhận gần đây thêm vào đất dung dịch T. viride kháng thuốc Benomyl. Sử dụng nồng độ 104 bào tử/ cm2 dịng nấm này trộn vào đất sau khi dược khử trùng bằng hơi nước (820C trong 2 giờ), số bào tử của dịng nấm này tăng rất nhanh, nấm gây bệnh cây, khơng xâm nhập lại vào đất. Các nghiên cứu gần đây (Beagle,1984; Papaviza và Lewis,1983) chỉ ra rằng sản phẩm của phương pháp lên men như dạng bột, bùn than hoặc dạng viên khi cấy vào trong đất khơng những tăng nhanh số lượng mà cịn ngăn cản bệnh hiệu quả hơn là dùng bào tử trần. dạng viên của sản phẩm lên men của T.hamatum, T.haraiam, T.virde, cĩ khả năng làm giảm sự sống sĩt và sinh trưởng của Rhizoctonia solani trong đất. Cách sử dụng phương pháp lên nấm chắc chắn cĩ ảnh hưởng lớn đến thời gian sống sĩt._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docchương II.doc