Hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G

Tài liệu Hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G: MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG BIỂU 1 LỜI MỞ ĐẦU 2 CHƯƠNG I – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP. 4 I. Tài chính doanh nghiệp. 4 1. Tài chính doanh nghiệp là gì? 4 2. Vai trò của tài chính doanh nghiệp. 6 II. Quản lý tài chính doanh nghiệp. 8 1. Khái niệm quản lý tài chính doanh nghiệp. 8 2. Vai trò của quản lý tài chính doanh nghiệp. 8 3. Các nguyên tắc quản lý tài chính doanh nghiệp. 9 4. Những nhân tố ảnh hưởng tới quản lý tài chính doanh nghiệp. 11 III. Nội dung của quản lý t... Ebook Hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G

doc112 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 15/06/2013 | Lượt xem: 1224 | Lượt tải: 4download
Tóm tắt tài liệu Hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ài chính doanh nghiệp. 12 1. Phân tích tài chính- hoạch định và kiểm tra tài chính. 12 1.1. Phân tích tài chính 12 1.2. Hoạch định tài chính 18 1.3. Kiểm tra tài chính. 19 2. Quản lý vốn luân chuyển. 21 3. Quyết định tài chính. 23 CHƯƠNG II - THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY TNHH QUẢNG CÁO VÀ THƯƠNG MẠI P&G. 24 I. Tổng quan về công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G. 24 1. Quá trình hình thành và phát triển. 24 2. Các lĩnh vực kinh doanh của Công ty. 27 3. Cơ cấu tổ chức. 27 4. Tổng quan về các hoạt động của Công ty 32 II.Thực trạng quản lý tài chính tại công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G 37 1. Phân tích tài chính của Công ty. 37 1.1. Phân tích khái quát hoạt động tài chính. 37 1.1.1. Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh 37 1.1.2. Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn. 38 1.1.3. Phân tích kết cầu tài sản và nguồn vốn của Công ty. 43 1.1.4. Phân tích các chỉ tiêu tài chính trung gian và cuối cùng. 49 1.2. Phân tích các chỉ tiêu tài chính chủ yếu. 54 2. Quy trình hoạch định tài chính. 58 2.1. Dự báo doanh thu cho năm 2008. 58 2.2. Dự báo các báo cáo tài chính theo phương pháp tỷ lệ doanh thu. 60 3. Kiểm tra tài chính. 68 4. Quản lý vốn luân chuyển. 70 5. Quyết định tài chính. 71 III. Đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G. 72 1. Tình hình thực hiện mục tiêu. 72 1.1. Thành tựu. 73 1.2. Hạn chế. 75 1.3. Nguyên nhân 77 2. Thực trạng quản lý tài chính 78 2.1. Công tác phân tích tài chính. 78 2.2. Công tác hoạch định tài chính. 79 2.3. Công tác kiểm tra tài chính. 79 2.4. Quản lý vốn luân chuyển. 80 2.5. Quyết định tài chính. 80 CHƯƠNG III - MỘT SỐ GIẢI PHÁP THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH QUẢNG CÁO VÀ THƯƠNG MẠI P&G. 82 I. Mục tiêu của công ty trong giai đoạn tới 82 1. Căn cứ xây dựng mục tiêu. 82 2. Mục tiêu của Công ty trong giai đoạn tới. 85 II. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G. 86 1. Duy trì và phát triển các mối quan hệ tài chính. 86 2. Minh bạch hoá tài chính Công ty. 89 3. Nâng cao năng lực quản lý tài chính của Công ty. 90 4. Hoàn thiện quản lý vốn luân chuyển. 95 III. Điều kiện thực hiện các giải pháp. 99 1. Các điều kiện về cơ chế, chính sách quản lý của Nhà nước. 99 2. Các kiến nghị với công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G. 101 KẾT LUẬN 104 DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1: Vốn lưu động thường xuyên và nhu cầu vốn lưu động thường xuyên. 37 Bảng 2: Nguồn vốn và sử dụng vốn năm 2004 và 2005 39 Bảng 3: Nguồn vốn và sử dụng vốn năm 2006 và 2007 41 Bảng 4: Kết cấu tài sản và nguồn vốn năm 2003, 2004 và 2005 44 Bảng 5: Kết cấu tài sản và nguồn vốn năm 2006 và 2007 46 Bảng 6: Các chỉ tiêu tài chính trung gian và cuối cùng trong báo cáo KQKD năm 2003, 2004 và 2005 50 Bảng 7: Các chỉ tiêu tài chính trung gian và cuối cùng trong bảng báo cáo KQKD năm 2006 và 2007 51 Bảng 8: So sánh các chỉ tiêu tài chính trung gian qua các năm từ 2003 đến 2007. 53 Bảng 9: Các chỉ tiêu tài chính chủ yếu từ năm 2003 đến năm 2007 55 Bảng 10: Tốc độ tăng trưởng doanh thu qua các năm từ 2003 đến 2007 59 Bảng 11 : Tỷ trọng một số khoản mục so với doanh thu trong quá khứ 61 Bảng 12: Dự báo báo cáo kết quả kinh doanh 2008. 63 Bảng 13: Dự báo bảng cân đối kế toán năm 2008 lần I. 65 Bảng 14: Huy động vốn cần thêm. 66 Bảng 15: Dự báo bảng cân đối kế toán năm 2008 lần II 67 Bảng 16: Đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu doanh thu và lợi nhuận năm 2007. 71 Bảng 17: Đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính năm 2007. 72 Bảng 18: Dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2008. 82 Biểu đồ 1: Cơ cấu tài sản và nguồn vốn qua các năm 57 Biểu đồ 2: Dự báo doanh thu công ty P&G. 60 Sơ đồ 1: Phạm vi của quản lý tiền mặt. 21 Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G. 28 LỜI MỞ ĐẦU Trong bối cảnh nước ta đã và đang tiến hành hội nhập ngày càng sâu và rộng vào nền kinh tế toàn cầu, đã mở ra những cơ hội lớn cho sự phát triển của các doanh nghiệp, song đồng thời với đó cũng đặt ra cho doanh nghiệp những thách thức không nhỏ. Vì thế, khi bắt tay vào xây dựng các chiến lược sản xuất kinh doanh, có một số câu hỏi quan trọng mà không một doanh nghiệp nào được phép bỏ qua là việc các yếu tố tài chính sẽ được quản lý như thế nào? Xem các đồng vốn bỏ ra hiệu quả đến đâu? Có đem lại lợi nhuận kinh doanh và hiệu quả như mong muốn ban đầu hay không? Các câu hỏi này đều có liên quan tới quản lý tài chính doanh nghiệp, nó là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất trong công tác quản lý doanh nghiệp. Quản lý tài chính tồn tại và tuân theo quy luật khách quan, đồng thời bị chi phối bởi mục tiêu phương hướng kinh doanh của công ty, nó có các chức năng như: lên kế hoạch sử dụng các nguồn vốn, đảm bảo thực hiện các dự án sản xuất và kinh doanh, theo dõi, đánh giá và điều chỉnh kịp thời kế hoạch tài chính; quản lý công nợ khách hàng, các đối tác; thực hiện báo cáo cho các cấp lãnh đạo... Ngoài ra, các nhà quản lý tài chính sẽ giúp giám đốc hoạch định chiến lược tài chính ngắn và dài hạn của doanh nghiệp dựa trên sự đánh giá tổng quát cũng như từng khía cạnh cụ thể các nhân tố tài chính có ảnh hưởng quan trọng tới sự tồn tại của doanh nghiệp, bao gồm: chiến lược tham gia vào thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán; xác định chiến lược tài chính cho các chương trình, các dự án của doanh nghiệp là mở rộng hay thu hẹp sản xuất... Xuất phát từ những nhận thức trên, trong thời gian gần bốn tháng thực tập tại công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G, được sự giúp đỡ của các bác, các chú, các anh chị trong Công ty và sự hướng dẫn nhiệt tình của PGS.TS Lê Thị Anh Vân, em đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G”. Do thời gian thực tập có hạn, điều kiện bản thân còn nhiều hạn chế nên trong đề tài không tránh khỏi có những thiếu sót. Em mong nhận được các ý kiến đóng góp để đề tài được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 22 tháng 4 năm 2008 Sinh viên Nguyễn Thị Hữu CHƯƠNG I – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP. I. TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP. 1. Tài chính doanh nghiệp là gì? 1.1. Khái niệm. [Doanh nghiệp là một tổ chức kinh doanh nhằm mục đích sinh lời được pháp luật thừa nhận, được phép kinh doanh trên một số lĩnh vực nhất định, có từ một chủ sở hữu trở lên và chủ sở hữu phải đảm bảo trước pháp luật bằng toàn bộ tài sản của mình, có tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định.] Trần ái Kết (chủ biên) – Giáo trình lý thuyết tài chính- tiền tệ. NXB Giáo dục, 2007. Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, theo mỗi cách tiếp cận khác nhau thì việc phân loại doanh nghiệp lại khác nhau. Nhưng dù là loại hình doanh nghiệp nào thì trong hoạt động kinh doanh đều phải sử dụng tài chính doanh nghiệp để thực hiện các mục tiêu kinh doanh. Tức là luôn gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ. [Bên trong quá trình này là những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp và các chủ thể trong nền kinh tế, các quan hệ này được gọi là các quan hệ tài chính. Vì thế, tài chính doanh nghiệp được hiểu là các quan hệ tài chính.] Khoa Ngân hàng Tài chính, trường Đại học Kinh tế Quốc dân – Giáo trình tài chính doanh nghiệp – PGS. TS Lưu Thị Hương & PGS. TS Vũ Huy Hào. NXB Đại học Kinh tế Quốc dân. Bao gồm: Thứ nhất, quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước. Quan hệ này phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước và khi Nhà nước góp vốn kinh doanh vào doanh nghiệp. Thứ hai, quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính. Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần có vốn để tiến hành hoạt động kinh doanh, nó là yếu tố quyết định đối với sự thành lập, quy mô và sự hoạt động của doanh nghiệp. Nguồn vốn này có thể là tự có hoặc huy động từ các nhà tài trợ bên ngoài, song phần huy động từ các nhà tài trợ bên ngoài là rất quan trọng. Trên thị trường tài chính, doanh nghiệp có thể đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn của mình từ các nguồn vốn vay ngắn hạn hoặc cũng có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn. Ngược lại, để được sử dụng các nguồn vốn này thì doanh nghiệp cũng phải trả lãi vay hoặc cổ phần cho các nhà tài trợ. Trong trường hợp doanh nghiệp có những khoản tiền nhàn rỗi, tạm thời chưa sử dụng có thể đem đầu tư hoặc gửi ngân hàng. Khi đó doanh nghiệp lại trở thành những nhà tài trợ vốn trên thị trường tài chính. Thứ ba, quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trường khác. Bên cạnh việc huy động các nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh thì việc sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đó là một vấn đề không kém phần quan trọng. Trong quá trình sử dụng các nguồn vốn này, doanh nghiệp phải có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên các thị trường hàng hoá, dịch vụ, thị trường sức lao động nhằm đảm bảo các đầu vào và đầu ra cho quá trình kinh doanh của mình. Chẳng hạn như tiến hành đầu tư cho cơ sở hạ tầng, nguyên liệu sản xuất, hàng hoá, sức lao động… đồng thời xác định nhu cầu của thị trường để từ đó hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, marketing… Thứ tư, quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp. Các quan hệ này tồn tại trong nội tại của doanh nghiệp, như quan hệ giữa người sở hữu vốn và người có quyền sử dụng vốn, quan hệ giữa các bộ phận trong doanh nghiệp, quan hệ giữa doanh nghiệp và người lao động… Việc đảm bảo tính ổn định và vững chắc của các quan hệ này là rất quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp. 1.2. Đặc điểm của tài chính doanh nghiệp. Tài chính doanh nghiệp là một khâu của hệ thống tài chính và là khâu cơ sở nên nó có những đặc điểm sau: Thứ nhất, gắn liền với quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, có các quan hệ tài chính doanh nghiệp đa dạng phát sinh như quan hệ nộp, cấp giữa doanh nghiệp với Nhà nước, quan hệ thanh toán với các chủ thể khác trong xã hội, với người lao động trong doanh nghiệp. Thứ hai, sự vận động của quỹ tiền tệ, vốn kinh doanh có những nét riêng biệt đó là: sự vận động của vốn kinh doanh luôn gắn liền với các yếu tố vật tư là lao động, ngoài phần tạo lập ban đầu chúng còn được bổ sung từ kết quả kinh doanh; sự vận động của vốn kinh doanh vì mục tiêu doanh lợi. 2. Vai trò của tài chính doanh nghiệp. Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thì hoạt động tài chính là một trong những hoạt động trọng yếu, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc duy trì và mở rộng hoạt động kinh doanh cả về chiều rộng và chiều sâu. Đây là một số vai trò chính không thể không nói tới của tài chính doanh nghiệp. 2.1. Huy động, đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh là một yếu tố không thể thiếu đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào. Nhiệm vụ của tài chính doanh nghiệp trước hết thể hiện ở việc xác định đúng lượng vốn mà doanh nghiệp cần để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong từng giai đoạn. Tiếp theo đó mới đến việc tiến hành các hoạt động huy động vốn từ thị trường tài chính đảm bảo lượng vốn cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp một cách đầy đủ, liên tục và kịp thời song cũng phải đảm bảo chi phí vốn là thấp nhất. 2.2. Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả. Khi đã đảm bảo được nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh thì việc tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Nhiệm vụ của tài chính doanh nghiệp lúc này là phải lựa chọn cho được các dự án đầu tư tối ưu, huy động tối đa các nguồn vốn vào hoạt động kinh doanh, tránh tình trạng để quá nhiều vốn nhàn rỗi tại doanh nghiệp, phân bổ các nguồn vốn một cách hợp lý, tăng vòng quay và khả năng sinh lời của vốn. 2.3. Đòn bẩy kích thích và điều tiết kinh doanh. Vai trò này của tài chính doanh nghiệp được thể hiện thông qua việc tạo ra sức mua hợp lý để thu hút vốn đầu tư, lao động, vật tư, dịch vụ đồng thời xác định giá bán hợp lý khi phát hành cổ phiếu, háng hoá bán, dịch vụ và thông qua hoạt động phân phối thu nhập của doanh nghiệp, phân phối quỹ tiền lương, quỹ tiền thưởng, thực hiện các hợp đồng kinh tế… 2.4. Giám sát kiểm tra chặt chẽ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện một cách đầy đủ và trung thực thông qua các chỉ tiêu tài chính trong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Vì thế, thông qua tình hình tài chính của doanh nghiệp, nhà quản lý có thể dễ dàng nhận thấy những gì đang diễn ra trong doanh nghiệp mình. Từ đó có những đánh giá từ tổng quát cho tới chi tiết, kiểm soát được các mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện những điểm mạnh và điểm yếu trong quá trình sản xuất kinh doanh từ đó mà có những biện pháp khắc phục những điểm yếu và phát huy thế mạnh của mình. Như vậy thì tài chính doanh nghiệp chính là công cụ giám sát kiểm tra hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chặt chẽ và chính xác nhất của các nhà quản lý. II. QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP. 1. Khái niệm quản lý tài chính doanh nghiệp. Quản lý tài chính doanh nghiệp là một môn khoa học quản lý nghiên cứu các mối quan hệ tài chính phát sinh trong phạm vi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để từ đó đưa ra các quyết định tài chính nhằm tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp. Khác với tài chính doanh nghiệp là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập và phân phối các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp (quan hệ tài chính) mang tính khách quan thì quản lý tài chính doanh nghiệp lại là một quá trình mang tính chủ quan của con người, cụ thể ở đây là những người làm công tác quản lý tài chính trong doanh nghiệp. Nói cách khác, quản lý tài chính cũng như mọi quá trình quản lý khác, là một quá trình bao gồm từ việc xác định mục tiêu quản lý, phân tích,… , đưa ra các quyết định tài chính phù hợp với tình hình doanh nghiệp, đảm bảo cho các quyết định đó được thực hiện nhằm mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá giá trị tài sản cho các chủ sở hữu. 2. Vai trò của quản lý tài chính doanh nghiệp. Quản lý tài chính là một hoạt động mang tính trọng yếu của doanh nghiệp. Nó quyết định sự thành bại, sự phát triển của doanh nghiệp về cả chiều rộng và chiều sâu. Đặc biệt, trong điều kiện hội nhập, sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay thì vai trò của quản lý tài chính lại càng được khẳng định. Nó có liên quan chặt chẽ tới mọi hoạt động khác trong doanh nghiệp. Quản lý tài chính tốt có thể hạn chế và khắc phục được điểm yếu ở những hoạt động khác của doanh nghiệp. Một quyết định tài chính thiếu cân nhắc có thể gây tổn thất không chỉ riêng cho doanh nghiệp mà còn cho nền kinh tế nói chung, vì thực tế doanh nghiệp không tồn tại riêng biệt mà là một mắt xích của nền kinh tế. 3. Các nguyên tắc quản lý tài chính doanh nghiệp. Các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ thì hoạt động tài chính về căn bản là giống nhau nên các nguyên tắc quản lý tài chính được áp dụng chung cho các loại hình doanh nghiệp. Song mỗi doanh nghiệp là một thực thể khác nhau nên doanh nghiệp nào cũng có những đặc điểm riêng biệt vì thế khi áp dụng các nguyên tắc không nên quá máy móc mà cần phải gắn liền với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng doanh nghiệp. 3.1. Nguyên tắc tôn trọng pháp luật. Mục tiêu cuối cùng của quản lý tài chính doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận. Một mặt, mục tiêu đó là động lực mạnh mẽ thúc đẩy các hoạt động của doanh nghiệp đồng thời tăng tính cạnh tranh trên thị trường. Mặt khác, nó cũng có thể là động cơ khiến các doanh nghiệp sử dụng mọi biện pháp để thu lợi nhuận dù là biện pháp đó gây tổn hại tới lợi ích quốc gia hay lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp, tổ chức khác. Chính vì thế, bên cạnh sự tự điều tiết của nền kinh tế - “bàn tay vô hình” thì cũng cần có “bàn tay hữu hình” của Nhà nước can thiệp điều tiết thị trường với một mức độ hợp lý tuỳ thuộc vào mỗi nền kinh tế. Thông qua các công cụ chủ yếu như pháp luật, chính sách tài chính, tiền tệ, giá cả,… nhằm tạo một môi trường kinh doanh lành mạnh cho tất cả mọi doanh nghiệp. Do vậy, nguyên tắc hàng đầu của quản lý tài chính doanh nghiệp là tôn trọng pháp luật. Muốn vậy nhà quản lý tài chính cần hiểu pháp luật để làm theo đồng thời có định hướng kinh doanh trong ngành lĩnh vực được Nhà nước khuyến khích, ưu đãi. 3.2. Nguyên tắc hạch toán kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường buộc các doanh nghiệp phải hướng tới và đạt cho được mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận. Mục tiêu này thống nhất với yêu cầu tối cao của nguyên tắc hạch toán kinh tế là lấy thu bù chi, có doanh lợi. Vì thế, nguyên tắc hạch toán kinh tế lúc này không chỉ là điều kiện để thực hiện mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc các doanh nghiệp phải thực hiện nếu như doanh nghiệp không muốn bị phá sản. 3.3. Nguyên tắc giữ chữ “tín”. Trong kinh doanh giữ chữ “tín” không chỉ là một tiêu chuẩn đạo đức mà còn là một nguyên tắc cần phải hết sức tuân thủ để tạo được mối quan hệ vững chắc với các chủ thể khác trong nền kinh tế đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Theo nguyên tắc này, doanh nghiệp phải nghiêm túc tôn trọng và thực hiện các kỷ luật thanh toán, chi trả các hợp đồng kinh tế, các cam kết về góp vốn đầu tư, và phân chia lợi nhuận đồng thời cũng phải cảnh giác và có các biện pháp ngăn ngừa sự “bội tín” của các đối tác. 3.4. Nguyên tắc an toàn và hiệu quả. Mức rủi ro và mức lợi nhuận thường tỷ lệ thuận với nhau trong các phương án đầu tư. Vì thế, công việc của các nhà quản lý tài chính là căn cứ vào các điều kiện hiện tại để đưa ra các quyết định đầu tư vừa hiệu quả vừa đảm bảo tính an toàn. Ngoài ra, để bảo đảm nguyên tắc an toàn thì các doanh nghiệp luôn phải thành lập các quỹ dự phòng, tham gia bảo hiểm hoặc có thể san sẻ rủi ro theo cách phát hành cổ phiếu (công ty cổ phần) vừa huy động vốn hiệu quả vừa đảm bảo an toàn cho nguồn vốn kinh doanh. Trên đây là bốn nguyên tắc cơ bản cần được quán triệt và thực hiện trong quản lý tài chính doanh nghiệp để đảm bảo sự phát triển của doanh nghiệp không chỉ ở hiện tại mà còn ở tương lai. 4. Những nhân tố ảnh hưởng tới quản lý tài chính doanh nghiệp. 4.1. Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào cũng tồn tại trong một môi trường kinh doanh nhất định, nó ảnh hưởng tới mọi hoạt động của doanh nghiệp. Môi trường kinh doanh bao gồm cơ chế quản lý kinh tế của Nhà nước, hệ thống pháp luật, sự ổn định của nền kinh tế, cơ sở hạ tầng, các tiến bộ thành tựu của khoa học công nghệ… Tất cả các yếu tố này đều tạo nên cả những cơ hội và những rủi ro cho hoạt động của doanh nghiệp vì thế mà nhiệm vụ của các nhà quản lý tài chính là làm thế để nắm được thời cơ và hạn chế các rủi ro này. 4.2. Đặc điểm sở hữu và hình thức pháp lý của doanh nghiệp. Như đã nêu ra ở phần trên thì tồn tại rất nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau tuỳ theo đặc điểm sở hữu và hình thức pháp lý của doanh nghiệp. Các loại hình doanh nghiệp khác nhau thì mục tiêu kinh doanh khác nhau, cơ cấu nguồn vốn tài sản, hình thức huy động vốn cũng khác nhau, việc phân phối lợi nhuận cũng khác nhau … tức là công tác quản lý tài chính cũng sẽ phải khác nhau đối với từng loại hình doanh nghiệp. Chính vì thế, đặc điểm sở hữu và hình thức pháp lý của doanh nghiệp là một yếu tố ảnh hưởng khá lớn tới quá trình quản lý tài chính của doanh nghiệp. 4.3. Đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp. Thứ nhất là quy mô và hình thức kinh doanh. Quy mô kinh doanh có ảnh hưởng tới quy mô của nguồn vốn kinh doanh, khả năng huy động vốn. Hình thức kinh doanh là chuyên doanh hay tổng hợp sẽ ảnh hưởng tới khả năng linh hoạt trong việc đổi mới công nghệ, mặt hàng kinh doanh cho phù hợp với yêu cầu của thị trường và sự phát triển chung của nền kinh tế. Thứ hai là đặc điểm lĩnh vực kinh doanh. Điều này ảnh hưởng tới cơ cấu vốn của doanh nghiệp, tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh và nhu cầu vốn của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp thương mại thì thường có vốn và tốc độ luân chuyển của vốn lớn hơn là một doanh nghiệp sản xuất. Các doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng cơ bản thường cần vốn lớn hơn so với những doanh nghiệp khác. Thứ ba là đặc điểm thời vụ và chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh càng ngắn thì lượng vốn lưu động càng nhỏ, ít biến động tạo thuận lợi cho việc cân đối thu và chi cũng như việc đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn kinh doanh cho doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài và hoạt động mang tính thời vụ thì lượng vốn lưu động cần cũng lớn hơn và thường biến động nên gây khó khăn cho việc đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn kinh doanh. III. NỘI DUNG CỦA QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP. 1. Phân tích tài chính- hoạch định và kiểm tra tài chính. 1.1. Phân tích tài chính. 1.1.1. Khái niệm phân tích tài chính. Để hoạch định tài chính một cách hiệu quả và chính xác, nhà quản lý tài chính cần hiểu và nắm rõ tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ và hiện tại. Vì thế, bước phân tích tài chính là hết sức cần thiết và quan trọng, qua đó các nhà quản lý tài chính sẽ có được một cái nhìn tổng quát về tình hình tài chính của doanh nghiệp, ưu nhược điểm của doanh nghiệp trong kinh doanh từ việc huy động và đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh tới việc sử dụng các nguồn vốn đó như thế nào; từ những khó khăn, rủi ro của doanh nghiệp cho tới việc tìm ra nguyên nhân để có thể hạn chế, khắc phục… Phân tích tài chính là một quá trình mà nhà quản lý sử dụng một tập hợp các phương pháp và công cụ để thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác nhằm nắm được và đánh giá tình hình tài chính, tiềm lực của doanh nghiệp và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Có hai phương pháp được sử dụng phổ biến là phương pháp so sánh và phương pháp tỷ lệ. Phương pháp so sánh bao gồm so sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước, giữa số thực hiện với số kế hoạch, các chỉ tiêu của doanh nghiệp với các chỉ tiêu trung bình của ngành… và phương pháp này được áp dụng nếu đảm bảo các điều kiện có thể so sánh được giữa các chỉ tiêu tài chính (thống nhất về thời gian, không gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán…). Phương pháp tỷ lệ xác định các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chình và so sánh các tỷ lệ này của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu, bao gồm các nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời và nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động của doanh nghiệp. Kết quả phân tích tài chính không chỉ được các nhà quản lý doanh nghiệp sử dụng mà còn được nhiều đối tượng khác quan tâm dưới các góc độ khác nhau. 1.1.2. Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp. Nội dung phân tích này nhằm khái quát tình hình tài sản và nguồn vốn, tình hình thu, chi của doanh nghiệp. Nó bao gồm bốn vấn đề cơ bản: Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn tại doanh nghiệp. Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Phân tích kết cấu tài sản và nguồn vốn trong bảng cân đối kế toán. Phân tích khái quát các chỉ tiêu tài chính trung gian và cuối cùng trong báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. 1.1.3. Phân tích các chỉ tiêu tài chính chủ yếu. Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán. Nhóm chỉ tiêu này thể hiện khả năng trả nợ của doanh nghiệp, nếu chỉ số này tốt cho thấy tình hình tài chính của doanh nghiệp là lành mạnh và ngược lại. Các hệ số này lớn hơn kỳ trước là một dấu hiệu tốt và không nên nhỏ hơn 1. Hệ số thanh toán hiện hành (H) = Tài sản lưu động Nợ ngắn hạn Đơn vị tính: Lần Thể hiện khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn từ tài sản lưu động của doanh nghiệp. Hệ số thanh toán nhanh = Tiền + các khoản phải thu Nợ ngắn hạn. Đơn vị tính: Lần Thể hiện khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn từ các tài sản lưu động có tính thanh khoản cao của doanh nghiệp. Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính. Thể hiện khả năng tài chính của doanh nghiệp cũng như chính sách đòn bẩy tài chính. Nếu doanh nghiệp tăng tỷ lệ vốn vay trong cơ cấu vốn có thể giúp cho hiệu suất sinh lời của vốn chủ sở hữu cao nhưng điều này cũng có thể làm giảm mức độ an toàn về tài chính của doanh nghiệp. Do vậy, kết cấu vốn của doanh nghiệp có thể điều chỉnh theo từng thời kỳ phụ thuộc và chiến lược kinh doanh và dự báo của doanh nghiệp. Hệ số nợ = ∑ Nợ phải trả ∑ Tài sản (hoặc ∑ Nguồn vốn) Đơn vị tính: Lần Hệ số này cho biết bao nhiêu phần trong tài sản của doanh nghiệp được tài trợ bằng nguồn vốn đi vay, đồng thời có thể suy ra rằng bao nhiêu phần tài sản được tài trợ bằng nguồn vốn chủ sở hữu. Nếu hệ số này càng nhỏ thì những người cho vay vốn sẽ dễ dàng chấp nhận cho doanh nghiệp tiếp tục vay vốn và ngược lại. Hệ số nợ vốn cổ phần = ∑ Nợ phải trả ∑ Vốn chủ sở hữu Đơn vị tính: Lần Hệ số này phản ánh tỷ trọng giữa nguồn vốn vay và nguồn vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Tức là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng để kinh doanh chủ yếu là bằng nguồn vốn đi vay hay nguồn vốn tự có của các chủ sở hữu doanh nghiệp. Hệ số này càng nhỏ thì càng tốt vì như vậy sẽ đảm bảo tính bền vững của nguồn vốn kinh doanh và doanh nghiệp sẽ không phải chụi áp lực trả lãi vay. Hệ số cơ cấu tài sản = Tài sản cố định hoặc Tài sản lưu động ∑ Tài sản. Đơn vị tính: Lần Hệ số cơ cấu nguồn vốn = ∑ Vốn chủ sở hữu ∑ Nguồn vốn Đơn vị tính: Lần Nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động. Nhóm chỉ tiêu này đo lường hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các hệ số này cao hơn kỳ trước là một dấu hiệu tốt và chúng thường khác nhau đối với các ngành kinh doanh khác nhau, thường thì ngành thương mại coa hơn ngành sản xuất và xây dựng. Nhóm này bao gồm 5 chỉ tiêu: Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán Hàng tồn kho bình quân Đơn vị tính: Lần Vòng quay vốn lưu động = Doanh thu thuần Tài sản lưu động bình quân Đơn vị tính: Lần Hiệu suất sử dụng TSCĐ = Doanh thu thuần Tài sản cố định bình quân Đơn vị tính: Lần Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Doanh thu thuần Tổng tài sản bình quân Đơn vị tính: Lần Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu Doanh thu bình quân 1 ngày Đơn vị tính: Lần Nhóm chỉ tiêu về lợi nhuận và phân phối lợi nhuận. Nhóm chỉ tiêu về lợi nhuận bao gồm: Hệ số sinh lời doanh thu = Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần Đơn vị tính: Lần Một doanh nghiệp có doanh thu lớn song lợi nhuận chưa hẳn đã lớn vì thế hệ số này cho phép nhà quản lý biết rằng có bao nhiêu phần trong doanh thu là lợi nhuận (giá trị tăng thêm) của doanh nghiệp. Hệ số này càng lớn chúng tỏ khả năng sinh lời càng lớn. Hệ số sinh lời vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận sau thuế Vốn chủ sở hữu Đơn vị tính: Lần Đây là chỉ tiêu tài chính quan trọng nhất thể hiện hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nó cho chủ sở hữu của doanh nghiệp biết được rằng đồng vốn mình bỏ ra có hiệu quả đến đâu. Các chủ sở hữu doanh nghiệp sẽ yên tâm tiếp tục đầu tư nếu biết rằng đồng vốn mình bỏ ra đang “sinh sôi, nảy nở” nhanh chóng, tức là hệ số sinh lời của vốn chủ sở hữu lớn và ngược lại. Nhóm chỉ tiêu về phân phối lợi nhuận bao gồm: Thu nhập cổ phiếu = Lợi nhuận sau thuế Số lượng cổ phiếu thường Đơn vị tính: Lần Cổ tức = Lợi nhuận đem chia Số lượng cổ phiếu thường Đơn vị tính: Lần 1.2. Hoạch định tài chính. Hoạch định tài chính là bước đầu tiên, có tính quyết định tới sự thành công trong việc thực hiện các bước tiếp theo của quá trình quản lý tài chính, giúp các nhà quản lý tài chính lập kế hoạch và dự báo tài chính của doanh nghiệp trong tương lai. Song kết quả của bước này lại phụ thuộc rất nhiều vào kết quả của việc phân tích tài chính doanh nghiệp đã nêu ra ở trên vì việc phân tích tài chính đã đưa ra một bức tranh tổng thể về tình hình tài chính của doanh nghiệp ở hiện tại và trong quá khứ. Hoạch định tài chính chỉ là một trong nhiều loại kế hoạch của doanh nghiệp như kế hoạch sản xuất, kế hoạch lao động, kế hoạch tiêu thụ… Nhưng mục đích cuối cùng của mọi kế hoạch trong doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận (tài sản của cổ đông) và hoạch định tài chính là sự thể hiện cụ thể nhất việc hướng tới mục tiêu này. Quá trình hoạch định tài chính doanh nghiệp nói chung có 5 bước cơ bản: Bước 1: Dự báo các báo cáo tài chính (bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ) theo phương pháp phổ biến nhất là phương pháp dự báo theo tỷ lệ doanh thu. Tức là chúng ta dựa vào tốc độ tăng trưởng hàng năm của doanh thu (đã có trong quá trình phân tích tài chính doanh nghiệp) để dự báo tốc độ tăng trưởng cho các khoản mục trong các báo cáo tài chính. Sử dụng các báo cáo tài chính trên để phân tích ảnh hưởng của kế hoạch hoạt động lên lợi nhuận dự báo và các tỷ số tài chính. Đồng thời, sử dụng các dự báo này để kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp khi mà kế hoạch đã được thông qua. Bước 2: Quyết định nguồn vốn cần thiết hỗ trợ cho kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp trong thời kỳ dự báo. Bao gồm nguồn vốn đầu tư vào máy móc thiết bị, tài sản lưu động, các chương trình nghiên cứu phát triển và các chiến dịch quảng cáo. Quyết định này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như cơ cấu vốn mục tiêu của doanh nghiệp, ảnh hưởng của nợ ngắn hạn tới khả năng thanh khoản của doanh nghiệp, tình hình của thị trường tiền tệ và thị trường vốn, những quy định hạn chế áp đặt bởi chủ nợ hiện tại… Bước 3: Dự báo các nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động được trong thời kỳ dự báo. Nó bao gồm cả việc dự báo các nguồn vốn có thể huy động được từ nội bộ doanh nghiệp lẫn nguồn vốn huy động từ bên ngoài. Bước 4: Thiết lập và duy trì một hệ thống kiểm soát để quản trị việc phân bổ và sử dụng các nguồn vốn trong doanh nghiệp. Bước 5: Phát triển các quy trình điều chỉnh kế hoạch cơ bản nếu tình hình kinh tế có thay đổi so với thời điểm đưa ra dự báo. Dự báo đưa ra kế hoạch tài chính cho doanh nghiệp trong tương lai vì thế không tránh khỏi việc môi trường có những thay đổi so với thời điểm dự báo vì thế cần có những điều chỉnh thích hợp để đảm báo tình hợp lý và đúng đắn của các dự báo này. Trong các bước của quá trình hoạch định tài chính thì ba bước đầu là quan trọng nhất, vì thế khi tiến hành quá trình hoạch định tài chính doanh nghiệp cần chú ý tới ba bước._. này. 1.3. Kiểm tra tài chính. Kiểm tra tài chính là kiểm tra bằng đồng tiền thông qua các chỉ tiêu tài chính trong việc phân phối và sử dụng nguồn tài chính để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp. Nhằm ngăn ngừa và kịp thời phát hiện nếu có tồn tại trong hoạt động kinh doanh, trong việc thực hiện chính sách quản lý và tuân thủ luật tài chính, từ đó đưa ra các điều chỉnh nhằm đảm bảo việc thực hiện kế hoạch tài chính, đồng thời phù hợp với những biến động của môi trường. Hoạt động kiểm tra tài chính cần tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản như nguyên tắc tuân thủ pháp luật, nguyên tắc chính xác, nguyên tắc khách quan, công khai và thường xuyên… trong quá trình thực hiện các nội dung kiểm tra. Kiểm tra tài chính gồm ba loại cơ bản: Một là kiểm tra trước khi thực hiện kế hoạch tài chính: được tiến hành trước khi thực hiện kế hoạch tài chính đưa ra trong phần hoạch định tài chính doanh nghiệp, nhằm đảm bảo rằng các dự định, mục tiêu về tài chính trong kế hoạch tài chính là đúng đắn, không phi thực tế, phù hợp với tiềm lực thực tế của doanh nghiệp, đồng thời cũng đảm bảo rằng những dự định, mục tiêu này thống nhất với chiến lược và mục tiêu phát triển chung của doanh nghiệp. Hai là kiểm tra thường xuyên khi thực hiện kế hoạch tài chính: được tiến hành thường xuyên, liên tục trong quá trình kinhh doanh (thực hiện kế hoạch tài chính). Thông qua đó đánh giá việc thực hiện kế hoạch tài chính, thấy được ưu điểm và những gì còn tồn tại trong hoạt động quản lý tài chính của doanh nghiệp. Ba là kiểm tra sau khi thực hiện kế hoạch tài chính: so sánh, đối chiếu các chỉ tiêu thực tế của doanh nghiệp với các chỉ tiêu kinh tế- xã hội, đồng thời so sánh, đối chiếu với các chỉ tiêu trong kế hoạch tài chính để đánh giá mức hoàn thành kế hoạch tài chính. Trên cơ sở đó rút ra kinh nghiệm nhằm hoàn thiện khả năng hoạch định tài chính và tổ chức thực hiện kế hoạch tài chính. Ba loại hình kiểm tra này có nội dung hoàn toàn khác nhau song có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và chúng được tiến hành song song với các bước trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. 2. Quản lý vốn luân chuyển. 2.1. Quản lý tiền mặt và các khoản tương đương tiền. Mục tiêu của quản lý tiền mặt là tối thiểu lượng tiền mặt nắm giữ trên cơ sở cực đại tính hữu dụng của nó. Quản lý tiền mặt hiệu quả là rất quan trong đối với tất cả các tổ chức, đặc biệt trong xu hướng lãi suất ngày càng tăng, tức là chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền mặt ngày càng tăng. Vì tiền mặt bản thân nó không có khả năng sinh lời song doanh nghiệp cần tiền mặt để: thứ nhất, thực hiện các giao dịch thường xuyên trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như trả lãi ngân hàng, thanh toán cổ tức, nộp thuế, trả lương, mua nguyên vật liệu... Thứ hai, dự phòng cho những biến động bất thường trong quá trình dịch chuyển tiền tệ vì thực tế các doanh nghiệp không thể dự đoán một cách chính xác các dòng dịch chuyển tiền mặt. Khi dòng tiền mặt của doanh nghiệp càng khó dự đoán thì khoản dự phòng này càng lớn. Thứ ba, đầu cơ thu lợi nhờ các hợp đồng mua bán với chi phí thấp hơn vì có sẵn một tài khoản tiền mặt. Muốn quản lý tiền mặt hiệu quả cần quản lý riêng rẽ dòng nhập quỹ và dòng xuất quỹ. Phạm vi của quản lý tiền mặt là một hệ thống chuyển tiền mặt từ nơi xuất phát chuyển đến những nơi cần thiết, được thể hiện qua sơ đồ sau: Khách hàng thanh toán cho DN Ghi có vào tài khoản tiền mặt Thanh toán cho nhà cung cấp Ghi giảm số dư tiền trong tài khoản Độ lớn khả dụng của tiền mặt Sơ đồ 1: Phạm vi của quản lý tiền mặt. Các nhà quản lý tài chính ngày này thường thích nắm giữ chứng khoán khả nhượng hơn tiền mặt vì khi cần thiết thì việc chuyển đổi từ chứng khoán khả nhượng thành tiền mặt là hết sức đơn giản và dễ dàng, nghĩa là chứng khoán khả nhượng hoàn toàn có thể thực hiện được các chức năng của tiền mặt như thực hiện giao dịch, dự phòng hay đầu cơ. Mặt khác, trong khi tiền mặt tự bản thân nó không sinh lời thì chứng khoán khả nhượng vẫn đem lại một mức lợi nhuận mặc dù không cao lắm, tức là chi phí cơ hội của việc nắm giữ chứng khoán khả nhượng là thấp hơn so với nắm giữ tiền mặt. 2.2. Quản lý khoản phải thu. Khoản phải thu hình thành từ chính sách bán hàng tín dụng của doanh nghiệp. Do tính cạnh tranh trên thị trường ngày càng lớn nên các doanh nghiệp buộc phải có biện pháp nhằm tăng thị phần của mình và chính sách bán hàng tín dụng là một trong những chính sách làm tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp không dựa vào giá, vì thế nó cũng giúp doanh nghiệp tránh khỏi cuộc cạnh tranh về giá. Việc bán hành tín dụng làm gia tăng lượng hàng bán, tăng tốc độ chuyển hoá tồn kho, tăng cường mối quan hệ với khách hàng. Nhưng đồng thời nó cũng có những bất lợi nhất định. Thứ nhất, nó làm tăng chi phí cho bán hàng, quản lý các khoản phải thu, thu nợ; Thứ hai, bán hàng tín dụng làm tăng khoản phải thu vì thế buộc các nhà quản lý tài chính phải tìm thêm nguồn tài trợ; Thứ ba, các khoản phải thu luôn tiềm ẩn các rủi ro như rủi ro trả nợ không đúng hạn hay thậm chí là mất mát. Như vậy, thực chất của việc quản lý các khoản phải thu chính là việc đưa ra các chính sách bán hàng tín dụng và thu hồi nợ. Các chính sách này liên quan đến nhiều quyết định khác nhau như chất lượng của khách hàng được chấp nhận, độ dài thời hạn tín dụng, quy mô chiết khấu tiền mặt, các điều khoản đặc biệt (ngày mùa…), mức chi tiêu cho hoạt động thu hồi nợ. Việc đưa ra các chính sách này nhất thiết phải cân nhắc giữa các lợi ích tăng thêm và bất lợi tăng thêm trên mỗi đơn vị doanh số tăng thêm nhờ chính sách bán hàng tín dụng. 2.3. Quản lý tồn kho. Tồn kho bao gồm hàng cung cấp, nguyên vật liệu, hàng hoá dở dang, sản phẩm hoàn thành, chúng đều là những yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tồn kho hình thành trước khi hình thành doanh thu nên việc dự đoán lượng hàng tồn kho phải phải phụ thuộc vào việc dự đoán doanh số, vì thế mà việc quản lý hàng tồn kho trở nên rất phức tạp đối với doanh nghiệp. Nếu để lượng tồn kho quá lớn sẽ tạo nên tình trạng ứ đọng vốn, tức là làm tăng chi phí, song nếu lượng tồn kho không đủ sẽ làm cho doanh nghiệp mất đi một khoản lợi nhuận không phải là nhỏ. Các nhà quản lý tài chính vừa phải chụi trách nhiệm với việc duy trì lượng tồn kho hợp lý, vừa phải chụi trách nhiệm cho kết quả kinh doanh chung của doanh nghiệp, do vậy trong quản lý hàng tồn kho họ cần phải tạo lập được mối quan hệ chặt chẽ giữa các bộ phận từ mua hàng, sản xuất, bán hàng và bộ phận tài chính. Bộ phận bán hàng phải là bộ phận có vai trò chính trong việc dự đoán nhu cầu (doanh số), từ đó dự đoán mức tồn kho cần thiết. Các dự đoán này sẽ được chuyển tới bộ phận mua hàng, bộ phận sản xuất và các nhà quản lý tài chính sẽ là người tổ chức các hoạt động tài trợ cần thiết hỗ trợ cho việc thiết lập tồn kho. 3. Quyết định tài chính. Bao gồm ba loại quyết định cơ bản: Thứ nhất, quyết định đầu tư là quyết định quan trọng nhất trong ba quyết định của quản lý tài chính. Nó là các quyết định nhằm xác định quy mô tăng trưởng của Công ty và đảm bảo một cơ cấu tài sản thích hợp bằng các hoạt động đầu tư hay cắt giảm, tác động trực tiếp lên khả năng sinh lời và mức rủi ro của Công ty. Thứ hai, quyết định tài trợ nhằm tìm kiếm nguồn vốn thích hợp cho Công ty, tức là xác định tổ hợp tài trợ tối ưu. Thứ ba, quyết định quản lý tài sản, một khi đã mua tài sản và có nguồn tài trợ phù hợp thì các tài sản này còn phải được quản lý một cách hiệu quả. CHƯƠNG II - THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY TNHH QUẢNG CÁO VÀ THƯƠNG MẠI P&G. I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TNHH QUẢNG CÁO VÀ THƯƠNG MẠI P&G. 1. Quá trình hình thành và phát triển. 1.1. Tên gọi, địa chỉ công ty. Tên công ty: Công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G. Tên giao dịch: P&G Advertising and Trading Company Limited. Tên viết tắt: P&G Co.,Ltd. Địa chỉ giao dịch: số 270 đường Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội. Điện thoại: 049722353. Fax: 049724147. E- mail: pg.ads@fpt.vn. 1.2. Sự thành lập và quá trình phát triển. Công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G được thành lập theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh công ty TNHH có hai thành viên trở lên số 0102008347, do Phòng đăng ký kinh doanh, Sở kế hoạch và đầu tư, thành phố Hà Nội cấp ngày 15 tháng 4 năm 2000. Công ty có số vốn điều lệ là 2,500,000,000VNĐ (Hai tỷ năm trăm triệu VNĐ), với sự đóng góp của ba cổ đông là: Nguyễn Văn Phúng: 1,375,000,000VNĐ, chiếm 55%. Lê Ánh Tuyết: 1,000,000,000VNĐ, chiếm 40%. Cao Ngọc Hải: 125,000,000VNĐ, chiếm 5%. Trong nhiều năm liền, công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G không ngừng học hỏi công nghệ cao từ các nước phát triển và ứng dụng trong ngành quảng cáo Việt Nam. Khách hàng của Công ty bao gồm các đơn vị trong và ngoài nước. Ngoài ra, Công ty còn cung cấp các sản phẩm công nghệ cao để phục vụ cho các doanh nghiệp khác trong ngành quảng cáo. Năm 2001 phát triển cụm Pano đối diện sân bay Nội Bài- Hà Nội. Năm 2002 đã đầu tư xây dựng hệ thống tại Sài Gòn, Hải Phòng, Bắc Ninh. Năm 2005 đã đưa mô hình vào Đà Nẵng, xây dựng bảng quảng cáo một trụ tại siêu thị Đà Nẵng, cụm Pano trước cửa Siêu thị, đường Nguyễn Văn Linh. Hai trụ quảng cáo tấm lớn phía Bắc cầu sông Hàn hiện đang quảng cáo cho hãng TLC, bia Sanmiguel và đã đánh dấu bước ngoặt thay đổi bộ mặt quảng cáo quảng cáo tại Đà Nẵng. Năm 2006, Công ty TNHH quảng cáo và thương mại ký hợp đồng với trung tâm Bitis miền Bắc quảng cáo tấm lớn trên xa lộ Hà Nội – Lạng Sơn và một số lĩnh vực khác như Pano tấm lớn và các loại biển biểu hiện tại vòng xoay Gia Lâm, đường Phạm Hùng, đường Phạm Văn Đồng… Không dừng lại ở đó, Công ty còn đưa vào ngành quảng cáo những công nghệ tiên tiến nhất hiện nay. Ngày nay, bên cạnh các phương tiện quảng cáo như truyền hình, phát thanh và các phương tiện thông tin đại chúng khác thì các doanh nghiệp cũng đồng thời đang lựa chọn cho mình một hình thức quảng cáo không chỉ tiện lợi mà còn kết nối trực tiếp tới khách hàng thông qua những hình ảnh quảng cáo ấn tượng về doanh nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp nên hiệu quả quảng cáo cao. Đó chính là biển Rollin và 3D mà Công ty P&G đưa ra giới thiệu với đông đảo khách hàng và đang được các khách hàng sử dụng làm phương tiện quảng cáo cho doanh nghiệp. Trải qua thời gian dài hoạt động, Công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G đã được những thành tựu vượt bậc. Cơ cấu tổ chức và hoạt động ngày càng chuyên nghiệp và số lượng khách hàng đến với Công ty liên tục tăng. Nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng (các doanh nghiệp), hiện nay, Công ty đã và đang đưa ra một mô hình mới về kiến trúc và công nghệ cao. Đây là một mô hình quảng cáo độc đáo, ấn tượng, truyền tải được đầy đủ thông tin và thể hiện được hết chức năng quảng cáo của sản phẩm mà các doanh nghiệp muốn giới thiệu trên thị trường trong nước và quốc tế. Đó là biển trụ một cột, biển quay ba mặt, biển giải phân cách…đặc biệt là biển cuốn Rollin. Để có được những thành tựu như ngày hôm nay, ngoài sự nỗ lực không ngừng của Ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ, công nhân viên trong Công ty, quan trọng hơn cả là có sự tin tưởng và nhiệt tình ủng hộ của khách hàng. Công ty P&G sẽ cố gắng hết sức để có thể mang đến cho khách hàng những sản phẩm quảng cáo có chất lượng ngày càng cao, hiệu quả hơn, đa dạng hơn, giá thành hợp lý hơn. Xứng đáng với niềm tin tưởng mà quý khách hàng đã đặt vào Công ty trong suốt thời gian qua. Công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G có phương châm và tôn chỉ là : “Chữ tín hàng đầu- chất lượng trên hết- phục vụ hết lòng” và “ Khách hàng luôn là bạn, là đồng nghiệp cùng chia sẻ, ủng hộ và phát triển”, Công ty sẽ luôn cố gắng bằng kinh nghiệm, sự sáng tạo cùng với sự nhiệt tình, năng động của toàn bộ đội ngũ nhân viên luôn sẵn sàng phục vụ mọi nhu cầu cho mọi đối tượng khách hàng. 2. Các lĩnh vực kinh doanh của Công ty. Quảng cáo và các dịch vụ liên quan đến quảng cáo. In và các dịch vụ ngành in. Kinh doanh vật tư, thiết bị phục vụ ngành quảng cáo. Môi giới thương mại. Mua bán máy móc, thiết bị, nguyên phụ kiện ngành in, máy móc phục vụ ngành quảng cao. Thiết kế, sản xuất và kinh doanh biển lật ba mặt. Thiết kế, sản xuất, thi công biển cuốn Rollin. Thiết kế, sản xuất và lắp dựng biển quảng cáo tấm lớn. 3. Cơ cấu tổ chức. 3.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức. 3.2. Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban. 3.2.1. Phó giám đốc tài chính chịu trách nhiệm điều hành : Phòng tài chính. Thiết lập các nguồn tài chính theo tháng, quý, năm. Theo dõi từn công trình, hạng mục. Quản lý tất cả các vật tư, trang thiết bị có sẵn trong công ty. Lập kế hoạch mua bán vật tư, thiết bị, máy móc. Tìm hiểu và nắm rõ các quy định mẩnh đổi của luật tài chính- kế toán hiện hành. Phòng kế toán. Phản ánh một cách toàn diện và liên tục các mặt hoạt động kinh tế tài chính của Công ty. Cung cấp thông tin kế toán cho Ban giám đốc Công ty và phòng tài chính, cũng như các cơ quan có liên quan khác. Có trách nhiệm bảo quản chứng từ, sổ sách, hoá đơn theo đúng quy trình và đúng nơi quy định. Đối với những tài liệu cần lưu trữ thì lập danh mục tài liệu theo từng file, theo thời gian, hoặc theo từng hợp đồng, vấn đề để tiện cho việc theo dõi và quản lý. Thường xuyên theo dõi và nắm các sửa đổi trong quy định của luật kế toán để áp dụng cho phù hợp. Bảo mật thông tin nội bộ. 3.2.2. Phó giám đốc kinh doanh chụi trách nhiệm điều hành: Phòng tổng hợp. Nghiên cứu thị trường, giao dịch với khách hàng, nắm bắt thị hiếu để đưa ra những điều chỉnh phù hợp. Chụi trách nhiệm theo dõi đầu vào, lập kế hoạch sản xuất, theo dõi đầu ra sản phẩm và bàn giao lại cho phòng kế toán. Trực tiếp triển khai kế hoạch làm việc trong từng ngày, hàng tuần báo cáo kết quả lên Ban giám đốc về các công việc đã thực hiện, đang triển khai, những vấn đề tồn đọng và đề xuất hướng giải quyết. Phòng kinh doanh. Làm việc dưới sự điều hành, giám sát của phòng tổng hợp, có trách nhiệm báo cáo với phòng tổng hợp về các công việc đang thực hiện. Khi nhận được đơn đặt hàng phải lên kế hoạch thực hiện bao gồm: xác nhận yêu cầu của khách hàng, khảo sát địa điểm thi công, xây lắp; soạn và gửi báo giá tới khách hàng; cung cấp nội dung cho phòng thiết kế; chuyển maquette cho khách duyệt; gửi hợp đồng cho khách hàng; theo dõi tiến độ thi công… và thường xuyên báo cáo tiến độ của hợp đồng cho phòng tổng hợp. Phòng nhân sự: Quản lý nhân sự trong Công ty bao gồm Giám sát hoạt động thực tiễn của các phòng ban, ổn định nhân sự cho từng vị trí (dự đoán tình hình nhân sự để có những điều chỉnh hợp lý và kịp thời). Chỉnh đốn đội ngũ nhân viên về tác phong làm việc và hiệu quả công việc. Lễ tân. Trực điện thoại, tiếp đón khách tới giao dịch với Công ty. Viết đơn đặt hàng và thu tiền của đối tượng khách lẻ. 3.2.3. Phó giám đốc sản xuất chụi trách nhiệm điều hành: Phòng thiết kế. Chụi trách nhiệm thiết kế ý tưởng, hình ảnh theo yêu cầu của khách hàng. Cập nhật và lưu trữ các file dữ liêu phục vụ cho công việc. Tuyệt đối không cung cấp tài liệu cho khách hàng khi chưa có sự đồng ý của cấp trên. Kiểm tra kỹ lưỡng, cận thận nội dung file trước khi viết lệnh xuất file. Viết đầy đủ các thông số trong bản in: kích thước, chất liệu, ghi rõ tiền công đối với thiết kế mới để bộ phận Lễ tân thu kih phí. Phòng in. Sắp xếp công việc hợp lý về thời gian. Chịu trách nhiệm về chất lượng của các sản phẩm in. Thường xuyên kiểm tra và bảo dưỡng máy móc, thiết bị nhằm đảm bảo sự vận hành tốt và kịp thời phát hiện các vấn đề bất thường để kịp thời xử lý. Báo cáo với phòng tài chính về tình hình vật tư thực tế để phòng tài chính có kế hoạch mua vật tư. Xưởng sản xuất. Chịu trách nhiệm sản xuất, thi công, lắp dựng theo lệnh sản xuất. Thường xuyên báo cáo tiến độ sản xuất, thi công và các vấn đề tồn đọng để có hướng giải quyết. 4. Tổng quan về các hoạt động của Công ty. 4.1. Hoạt động kinh doanh và Marketing. 4.1.1. Tình hình chung. Công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G đang hoạt động và sản xuất với các công nghệ hiện đại hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực thiết kế, sản xuất và lắp dựng các loại biển quảng cáo. Các sản phẩm của Công ty đều là những sản phẩm có chất lượng cao, thoả mãn cả các yêu cầu về kỹ thuật và mỹ thuật. Thế mạnh của Công ty là sản xuất, xây dựng và lắp ghép Pano ngoài trời bằng công nghệ hiện đại. Đặc biệt, công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G là công ty đầu tiên tại Việt Nam sản xuất và lắp ghép biển cuốn Rollin và biển quay ba mặt với nhiều tính năng ưu việt. Công ty đã ký kết hợp đồng với nhiều công ty lớn tại nhiều tỉnh thành phố trên cả nước (như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng…) vì thế uy tín của Công ty trong ngành ngày càng được nâng cao. 4.1.2. Kế hoạch Marketing. Đẩy mạnh việc giao dịch với các doanh nghiệp đã từng ký kết các hợp đồng với Công ty, dựa trên cơ sở uy tín và chất lượng của những sản phẩm đã từng làm. Cần phát triển và mở rộng thị trường với các khách hàng mới là các công ty, doanh nghiệp chưa từng ký hợp đồng với Công ty thông qua việc giới thiệu các sản phẩm là thế mạnh và đồng thời cũng giới thiệu với khách hàng về thế mạnh của Công ty về công nghệ (với những công nghệ hiện đại hàng đầu trong ngành tại Việt Nam), minh chứng bằng các công trình, sản phẩm mà chúng ta đã thực hiện. Đặc biệt nhấn mạnh tới biển quay ba mặt và biển cuốn Rollin với thế mạnh là Công ty có thể tự sản xuất các sản phẩm này trong nước mà không phải nhập khẩu từ nước ngoài, tức là Công ty sẽ có lợi thế về mặt giá cả và các dịch vụ sau bán hàng. Nâng cao tính sáng tạo trong thiết kế sản phẩm nhằm tạo ra các sản phẩm mới lạ, độc đáo và ấn tượng thu hút được sự chú ý của các khách hàng tiềm năng. Thường xuyên cập nhật những thông tin mới nhất về Công ty và các sản phẩm, các công nghệ mới của Công ty lên trang web của Công ty để quảng bá tới khách hàng. Đối với khách hàng, đặc biệt là những khách hàng tiềm năng cần giới thiệu cụ thể, rõ ràng về sản phẩm và các đặc tính ưu việt của sản phẩm cũng như các điểm nổi bật trong dịch vụ sau bán hàng của Công ty. Luôn hướng tới thị trường, nghiên cứu xu thế phát triển của thị trường để có sách lược và chiến lược kinh doanh phù hợp với sự thay đổi liên tục qua từng giờ, từng giờ của thị trường nói chung và của ngành quảng cáo nói riêng. Tìm hiểu và nắm bắt tình hình của ngành nói chung cũng như tình hình của các đơn vị nổi bật trong ngành để có thể có cái nhìn tổng quát về cơ hội và thách thức đang đặt ra cho doanh nghiệp cũng như có biện pháp phát huy những thế mạnh và khắc phục những điểm yếu của Công ty. 4.2. Tình hình nhân sự của công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G. Do đặc điểm công việc và lĩnh vực kinh doanh của Công ty nên đội ngũ nhân sự của Công ty được chia làm hai khối rõ rãng là khối văn phòng và khối sản xuất. Thứ nhất, khối văn phòng bao gồm toàn bộ Ban lãnh đạo và toàn bộ các bhân viên tại các phòng ban trong Công ty. Ban lãnh đạo gồm 04 người: Giám đốc: Nguyễn Văn Phúng. Phó giám đốc tài chính: Lê ánh Tuyết. Phó giám đốc kinh doanh: Cao Ngọc Hải. Phó giám đốc sản xuất: Nguyễn Văn Đông. Phòng tài chính: 02 nhân viên. Phòng kế toán: 02 nhân viên. Phòng tổng hợp gồm trong đó: Phòng kinh doanh: 04 nhân viên. Phòng nhân sự: 02nhân viên. Phòng lễ tân: 02 nhân viên. Phòng thiết kế: 05 nhân viên. Thứ hai, khối công nhân sản xuất bao gồm toàn bộ những công nhân làm việc tại xưởng sản xuất và các công nhân thi công, lắp dựng các loại biển quảng cáo. Phòng in: 05 công nhân. Phòng sản xuất: 24 công nhân (bao gồm cả công nhân làm việc tại xưởng và công nhân thi công, lắp dựng). Chính vì thế, chính sách nhân sự của công ty cũng được chia làm các bộ phận khác nhau cho phù hợp với đặc điểm và điều kiện làm việc của từng khối nhân sự. Song điểm nổi bật nhất trong chính sách nhân sự của công ty là đảm bảo đầy đủ các chế độ và điều kiện làm việc cho tất cả cán bộ công nhân viên của Công ty không phân biệt là nhân viên văn phòng hay nhân viên sản xuất, điều mà hiện nay không phải doanh nghiệp, Công ty tư nhân nào cũng thực hiện đúng. Chính sách lương và thưởng hợp lý và công bằng đảm bảo khả năng phát triển của đội ngũ lao động cũng như tạo động lực cho lao động. Công ty luôn chú trọng tới việc làm sao tạo môi trường và điều kiện làm việc tốt nhất cho nhân viên của mình đặc biệt là đối với những nhân viên sản xuất làm việc tại các điểm thi công của Công ty (ngoài trời). Bên cạnh đó thì vấn đề kỷ luật lao động cũng luôn được đề cao, có chính sách thưởng phạt rõ ràng đối với các nhân viên trong quá trình chấp hành kỷ luật lao động như đến muộn ba ngày liên tiếp bị phạt cảnh cáo, nghỉ ba ngày liên tiếp không có lý do chính đáng thì bị đuổi việc, không chấp hành các yêu cầu an toàn lao động khi làm việc (đối với nhân viên sản xuất) bị phạt cảnh cáo và trừ nửa ngày lương… Chính vì thế mà toàn thể đội ngũ cán bộ công nhân viên trong Công ty luôn yên tâm công tác, tinh thần tập thể trong Công ty luôn được phát huy tối đa. Bầu không khí làm việc trong Công ty luôn nghiêm túc và khẩn trưởng song lại không quá căng thẳng. Từ đó mà năng suất lao động được nâng cao và phát huy tối đa tính sáng tạo trong công việc của mỗi thành viên trong Công ty (đức tính hết sức cần thiết của người làm việc trong ngành quảng cáo). 4.3. Khái quát tình hình tài chính và quản lý tài chính của Công ty. Nhìn chung, tình hình tài chính của Công ty là lành mạnh, đảm bảo sự tin tưởng cho các nhà đầu tư khi đầu tư vào Công ty. Tài chính Công ty về cơ bản thực hiện được các chức năng của mình là huy dộng, đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả, đòn bẩy kích thích và điều tiết kinh doanh, đồng thời giám sát chặt chẽ hoạt động kinh doanh của Công ty. Song đôi khi chức năng huy động và đảm bảo vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh còn chưa được kịp thời và đúng tiến độ, gây nên tình trạng chờ vốn, giảm hiệu quả của đồng vốn đầu tư. Quản lý tài chính tại Công ty về cơ bản là tốt song còn nhiều hạn chế nhất là trong khâu hoạch định tài chính Công ty và quản lý vốn luân chuyển. Công tác hoạch định tài chính tuy được tiến hành một cách có khoa học nhưng do trình độ của đội ngũ cán bộ chưa đảm bảo nên hiệu quả và tính chính xác, sát thực của kế hoạch tài chính còn chưa cao. Đối với việc quản lý tiền mặt, các khoản tương đương tiền và quản lý hàng tồn kho thì việc xác định đúng lượng tiền mặt, lượng hàng tồn kho là điều quan trọng, song dường như công việc này thường không được tiến hành một cách có hệ thống mà dựa vào kinh nghiệm của các nhà quản lý là chủ yếu, làm cho nó trở nên thiếu cơ sở khoa học, vì thế mà rất dễ mắc phải sai lầm. Tiếp theo là việc quản lý các khoản phải thu, mà đối với Công ty thì chủ yếu thông qua chính sách bán hàng tín dụng và chính sách thu hồi nợ. Do tính cạnh tranh trên thị trường ngày càng khốc liệt nên bán hàng tín dụng là không thể tránh khỏi và hiện nay thì chính sách bán hàng tín dụng của Công ty đang được mở rộng, đặc biệt là trong năm 2007, các khoản phải thu đã tăng đột biến so với năm 2006. II.THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở CÔNG TY TNHH QUẢNG CÁO VÀ THƯƠNG MẠI P&G. 1. Phân tích tài chính của Công ty. 1.1. Phân tích khái quát hoạt động tài chính. 1.1.1. Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Để tiến hành sản xuất kinh doanh, Công ty cần có hai loại tài sản là tài sản cố định và tài sản lưu động. Hai loại tài sản này tương ứng được tài trợ bằng nguồn vốn dài hạn và nguồn vốn dài hạn. Nguồn vốn dài hạn trước hết được dùng để tài trợ cho tài sản cố định, phần dư của nguồn vốn dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để tài trợ cho tài sản lưu động. Bảng 1: Vốn lưu động thường xuyên (VLĐTX) và nhu cầu vốn lưu động thường xuyên (NCVLĐTX). Đơn vị tính: VNĐ Năm 2003 2004 2005 2006 2007 VLĐTX 765,336,879 750,812,059 564,534,702 813,827,398 922,853,835 NCVLĐTX 413,821,041 316,455,670 187,699,562 185,115,270 104,615,105 Vốn bằng tiền 351,515,838 434,356,389 376,835,140 628,712,128 818,238,730 Để đánh giá tình hình đảm bảo nguồn vốn kinh doanh và sự lành mạnh về tài chính của Công ty chúng ta sẽ xem xét tới hai chỉ tiêu là vốn lưu động thường xuyên và nhu cầu vốn lưu động thường xuyên. Nhìn vào bảng 1, ta thấy rằng Vốn lưu động của Công ty luôn dương (nguồn vốn dài hạn > tài sản cố định hay tài sản lưu động > nguồn vốn ngắn hạn), chứng tỏ rằng tài sản cố định của Công ty được tài trợ bằng một nguồn vốn ổn định và vững chắc, còn tài sản lưu động đủ khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn của Công ty. Như vậy, tình hình tài chính của Công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G là hoàn toàn lành mạnh. Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên của Công ty luôn lớn hơn 0 (tồn kho+ các khoản phải thu > nợ ngắn hạn), chứng tỏ rằng phần nguồn vốn ngắn hạn mà Công ty huy động được từ bên ngoài không đủ để tài trợ cho phần tài sản ngắn hạn của mình (tồn kho + các khoản phải thu) nên Công ty phải dùng thêm một phần nguồn vốn dài hạn của mình để tài trợ cho tài sản ngắn hạn. Điều này có nghĩa là: Thứ nhất, chính sách bán hàng tín dụng của Công ty là khá rộng rãi, đây là điều hợp lý để tăng tính cạnh tranh cho các sản phẩm của Công ty trong điều kiện mà thị trường ngành thiết kế, lắp dựng và kinh doanh thiết bị quảng cáo có tính cạnh tranh ngày càng gay gắt. Song Công ty cũng cần phải xem xét lại để có một chính sách tín dụng hợp lý vừa đảm bảo tính cạnh tranh của sản phẩm song đồng thời cũng giảm thiều rủi ro trong bán hàng tín dụng. Thứ hai, số lượng hàng hoá và nguyên vật liệu tồn kho là quá nhiều, Công ty cần phải cân nhắc lại lượng tồn kho hợp lý nhằm giảm chi phí cơ hội của việc nắm giữ hàng tồn kho. 1.1.2. Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn. Ta sẽ đi phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn của Công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G một số năm từ 2004 đến 2007 th”ng qua bảng kê nguồn vốn và sử dụng vốn. Theo bảng số 2, thấy rằng năm 2004, nguồn vốn và sử dụng vốn đã tăng 586,197,368VNĐ, tức là tăng 14.64% so với năm 2003. Trong đó, sử dụng vốn tăng chủ yếu nằm trong tiền gửi ngân hàng ( chiếm 22.53%), nguyên vật liệu tồn kho (20.64%) và hàng hoá tồn kho (20.41%). Chỉ tiêu 2004-2003 2005-2004 Ssử dụng vốn Nguồn vốn Sử dụng vốn Nguồn vốn Lượng (VNĐ) Tỷ trọng (%) Lượng (VNĐ) Tỷ trọng (%) Lượng (VNĐ) Tỷ trọng (%) Lượng (VNĐ) Tỷ trọng (%) 1. Tiền mặt 49,208,491 8.39 68,969,276 11.66 2. Tiền gửi ngân hàng 132,049,042 22.53 126,490,525 21.38 3. Phải thu khách hàng 209,341,121 35.71 72,067,860 12.18 4. Trả trước cho người bán 81,207,219 13.85 136,421,587 23.05 5. Các khoản phải thu khác 9,024,552 1.53 6. Nguyên vật liệu tồn kho 120,995,469 20.64 9,883,102 1.67 7. Công cụ, dụng cụ trong kho 1,208,892 0.21 239,730 0.04 7. Chi phí SXKD dở dang 226,543,215 38.28 8. Thành phẩm tồn kho 71,620,189 12.22 122,361,966 20.68 9. Hàng hoá tồn kho 119,625,539 20.41 49,428,043 8.35 10. Tài sản cố định hữu hình 59,491,018 10.15 261,374,882 44.17 11. Vay và nợ ngắn hạn 275,123,534 46.93 24,798,073 4.19 12. Thuế và các khoản phải nộp NSNN 7,558,024 1.29 800,880 0.14 13. Lợi nhuận chưa phân phối 44,966,198 7.67 75,097,525 12.69 Tổng 586,197,368 100.00 586,197,368 100.00 591,750,608 100.00 591,750,608 100.00 Bảng 2: Nguồn vốn và sử dụng vốn năm 2004 và 2005 ( Nguồn: Phòng kế toán Công ty P&G) Như vậy, các nhà quản lý tài chính Công ty cần phải cân nhắc lại xem có nên tăng tiền gửi trong các tài khoản tại ngân hàng hay không? Việc tăng tích luỹ nguyên vật liệu tại kho có cần tăng nhiều như vậy không? Và phải tăng cường công tác tiêu thụ sản phẩm để giảm lượng hàng hoá tồn lại trong kho. Và nguồn vốn của Công ty tăng lên chủ yếu là do tăng nguồn vay và nợ ngắn hạn (46.93%), Công ty có thể huy động được nguồn vốn ngắn hạn nhiều như vậy chứng tỏ kết quả kinh doanh và uy tín của Công ty đã thuyết phục được các nhà đầu tư vốn, song khi tăng thêm một lượng vốn vay ngắn hạn như vậy Công ty cần chú ý xem xét tới các hệ số về khả năng thanh toán của mình để đảm bảo cho sự lành mạnh về tài chính. Năm 2005, sử dụng vốn và nguồn vốn của Công ty tăng 591,750,608VNĐ, khoảng 13.66% so với năm 2004. Trong đó, sử vốn tăng chủ yếu là do sự gia tăng của tài sản cố định ( chiếm 44.17%), việc đầu tư cho tài sản cố định là hoàn toàn hợp lý, song Công ty cần phải cân nhắc để đảm bảo rằng các nguồn tài trợ cho tăng tài sản cố định là vững chắc (bằng các nguồn vốn dài hạn) và đảm bảo sự cân bằng trong cơ cấu nguồn vốn dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn. Nguồn vốn tăng lên phần nhiều là do sự tăng lên của khoản trả trước cho người bán (23.05%) và sự giảm xuống của số tiền mặt mà Công ty để tại quỹ (21.38%). Sở dĩ Công ty có sự điều chỉnh giảm số tiền mặt tại quỹ của Công ty nhiều như vậy là do tại kỳ trước lượng tiền mặt tại quỹ Công ty chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng tài sản (khoảng 10.03%), như thế thì chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền mặt là quá lớn cần có sự điều chỉnh giảm tới một lượng hợp lý. Bảng số liệu tiếp theo (bảng 3) thể hiện diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn của Công ty trong hai năm tiếp theo là 2006 và 2007. Chỉ tiêu 2006 2007 Sử dụng vốn Nguồn vốn Sử dụng vốn Nguồn vốn Lượng (VNĐ) Tỷ trọng (%) Lượng (VNĐ) Tỷ trọng (%) Lượng (VNĐ) Tỷ trọng (%) Lượng (VNĐ) Tỷ trọng (%) 1. Tiền mặt 55,152,624 10.14 58,384,989 8.96 2. Tiền gửi ngân hàng 196,724,364 36.18 131,141,613 20.13 1. Phải thu khách hàng 99,230,790 18.25 180,246,338 27.67 2. Trả trước cho người bán 56,214,325 8.63 5. Các khoản phải thu khác 9,024,552 1.66 2. Nguyên vật liệu tồn kho 71,097,318 13.07 221,208,441 33.96 3. Công cụ, dụng cụ trong kho 20,615,068 3.79 3,993,924 0.61 4. Chi phí SXKD dở dang 47,713,203 8.77 274,256,418 42.10 5. Thành phẩm tồn kho 168,942,059 31.07 56,134,738 8.62 6. Hàng hoá tồn kho 54,632,909 10.05 25 1. Tài sản cố định hữu hình 161,146,580 29.63 215,062 0.03 1. Vay và nợ ngắn hạn 112,205,991 20.63 212,004,170 32.54 5. Thuế và các khoản phải nộp NSNN 2,928,880 0.54 232,108 0.04 6. Lợi nhuận chưa phân phối 88,146,116 16.21 108,811,375 16.70 Tổng 543,780,227 100.00 543,780,227 100.00 651,421,763 100.00 651,421,763 100.00 B._.trong điều kiện thị trường luôn biến động từng ngày như hiện nay thì việc hoàn thiện, củng cố mối quan hệ này lại càng trở nên quan trọng. Theo những phân tích ở trên thì giá vốn hàng bán của năm 2007 đã giảm tương đối so với năm 2006, chứng tỏ rằng mối quan hệ giữa Công ty với các nhà cung cấp là khá tốt đẹp. Công ty phải tiếp tục phát huy hơn nữa để quan hệ giữa Công ty và các nhà cung cấp ngày càng trở nên bền chặt. Thứ hai là mối quan hệ của Công ty với thị trường đầu ra. Năm 2007 tỷ trọng thành phẩm tồn kho chỉ chiếm 7.26% so với tổng tài sản, giảm so với mức 9% năm 2006. Điều này cho thấy, quan hệ của Công ty với thị trường đầu ra đang ngày một cải thiện, rất có lợi cho Công ty vì giảm các chi phí cơ hội cũng như đẩy nhanh vòng quay của vốn, tăng hiệu quả đồng vốn. Vì thế, Công ty phải tiếp tục duy trì và hoàn thiện hơn nữa mối quan hệ này. Muốn làm được điều đó, Công ty cần phải thực hiện tốt công tác nghiên cứu, thăm dò, thâm nhập thị trường nhằm đánh giá khái quát tiềm năng thị trường, đồng thời với đó là việc đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến quảng cáo cho sản phẩm của Công ty đối với thị trường tiềm năng. Đối với các khách hàng lâu năm phải có chính sách ưu đãi thích hợp để duy trì mối quan hệ làm ăn tốt đẹp. Tiếp theo là mối quan hệ với thị trường lao động, Công ty phải tự xây dựng cho mình hệ thống các tiêu chuẩn và các chính sách tuyển dụng nhân sự riêng. Đảm bảo chất lượng của đội ngũ nhân sự trong Công ty vì nhân sự là vấn đề cốt lõi quyết định hiệu quả mọi mặt hoạt động. 1.4. Hoàn thiện các mối quan hệ tài chính trong nội bộ công ty. Các mối quan hệ này tồn tại trong nội tại Công ty, như quan hệ giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh trong Công ty, quan hệ giữa người sở hữu vốn và người có quyền sử dụng vốn, quan hệ giữa Công ty và người lao động... Vì thế, quan hệ tài chính trong nội bộ Công ty không chỉ thể hiện thông qua chinh sách phân chia lợi nhuận, chính sách cổ tức mà còn thể hiện thông qua các chính sách đãi ngộ, tuyển mộ người lao động như về lương, thưởng. Chính sách phân phối lợi nhuận có hợp lý thì mới làm cho các cổ đông yên tâm và hài lòng với số vốn mình bỏ ra, tạo sự ổn định trong nguồn vốn chủ sở hữu của Công ty, đồng thời chính sách đối với người lao động phải công bằng và phù hợp thì mới thu hút và tạo động lực cho đội ngũ cán bộ công nhân viên của Công ty yên tâm làm việc, tích cực cống hiến cho Công ty, có trách nhiệm cao đối với công việc của mình, tham gia đóng góp vào việc thực hiện mục tiêu chung. 2. Minh bạch hoá tài chính Công ty. Thực tế thì minh bạch tài chính là một giải pháp nằm trong việc hoàn thiện mối quan hệ với thị trường tài chính, song do sự quan trọng và tính cấp bách của nó mà em xin tách ra thành một giải pháp riêng biệt. [ Sự minh bạch tài chính là yếu tố sống còn cho hoạt động kinh doanh và phát triển của các doanh nghiệp về lâu dài. Nâng cao sự minh bạch tài chính là yếu tố cấp bách đối với các doanh nghiệp, đặc biệt nếu doanh nghiệp hướng tới sự thành công và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường thế giới.] Ngọc Quỳnh - Minh bạch tài chính góp phần thu hút các nguồn vốn đầu tư .Tạp chí Thông tin tài chính, số 4 tháng 3 năm 2007. Theo một cuộc khảo sát do Chính phủ Singapore tiến hành năm 2004 thì “minh bạch tài chính là điều kiện tất yếu để tiếp cận được với các nguồn vốn hấp dẫn khác chứ không chỉ thông qua kênh vay mượn thông thường”. Tương tự như ở các quốc gia trong khu vực, ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác ở Việt Nam đang càng ngày càng quan tâm tới việc cho vay đối với khu vực tư nhân song vấn đề gây lo lắng nhất cho họ hiện nay là việc minh bạch tài chính chưa được các doanh nghiệp quan tâm và thực hiện một cách thoả đáng. Theo xu hướng này, Công ty P&G nói riêng và các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam nói chung muốn huy động được các nguồn vốn một cách hiệu quả thì phải thay đổi thái độ đối với vấn đề minh bạch tài chính và tiến hành minh bạch hoạt động tài chính của Công ty. Để làm được điều này đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, các tổ chức chuyên môn và Công ty, đồng thời Công ty cũng cần xây dựng môi trường văn hoá doanh nghiệp tạo điều kiện cho công tác kế toán, báo cáo tài chính và công khai các thông tin tài chính tốt hơn. Đìều quan trọng nhất là nâng cao kiến thức chuyên môn cho các kế toán viên và những hiểu biết về tài chính cho ban lãnh đạo. Song song với đó cần có các hướng dẫn cụ thể về kiểm tra, kiểm soát nội bộ trong Công ty. 3. Nâng cao năng lực quản lý tài chính của Công ty. Thị trường kinh doanh ngày nay đang ngày một mở rộng hơn, một mặt mang lại những lợi ích dài hạn để doanh nghiệp lớn mạnh thông qua mở rộng thị trường và đổi mới cơ chế quản lý và kinh doanh theo yêu cầu cạnh tranh, mặt khác sẽ là thách thức không nhỏ đối với khả năng của doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải cơ cấu lại sản xuất kinh doanh, chuyển dịch đầu tư và điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh. Quá trình đối phó với các thách thức cạnh tranh đặt ra cho doanh nghiệp cần thiết có sự hỗ trợ từ nhiều phía nhằm tạo điều kiện để các nguồn vốn tài chính được nhanh chóng chuyển sang sử dụng ở các lĩnh vực kinh doanh khác, hiệu quả hơn... Đặc biệt, vấn đề quản lý tài chính doanh nghiệp là một vấn đề lớn các doanh nghiệp rất cần phải quan tâm và chú trọng. Để có thể tranh thủ được các lợi ích của việc mở rộng thị trường và giải quyết các thách thức ngắn hạn, các doanh nghiệp cần đặt ra một số nội dung trọng điểm trong công tác quản lý tài chính để đảm bảo kết quả của mở rộng các hoạt động sản xuất kinh doanh. Thứ nhất, Công ty phải xây dựng được chiến lược tài chính tổng thể và rà soát lại từng đầu mục của chiến lược tài chính sau mỗi giai đoạn để đảm bảo điều chỉnh kip thời khi cần thiết. Theo đó, trước hết Công ty phải xác lập tốc độ tăng trưởng mong muốn mà Công ty có thể đạt đươc. Tính toán mức vốn cần thiết để trang trải các khoản tồn kho, trang thiết bị, nhà xưởng và nhu cầu nhân sự cần thiết để đạt được tốc độ tăng doanh thu, dự tính được chính xác và kịp thời nhu cầu vốn để có kế hoạch thu hút vốn bên ngoài trong trường hợp ngân quỹ từ lợi nhuận không chia không đủ đáp ứng. Trong trường hợp lợi nhuận làm ra không đủ đáp ứng nhu cầu tăng trưởng dự báo của Công ty, người quản lý tài chính phải bố trí vay nợ bên ngoài hay lập phương án tăng vốn từ các chủ sở hữu hay các phương pháp tái cấu trúc Công ty… Đôi khi, việc giảm tốc độ tăng trưởng để mức lợi nhuận làm ra có thể theo kịp nhu cầu tăng trưởng và mở rộng cũng là một lựa chọn phù hợp. Thực tế cho thấy việc thu hút vốn đầu tư và vay nợ cần nhiều thời gian, công sức nên đòi hỏi nhà quản lý phải dự báo chính xác và kịp thời để tránh tình trạng gián đoạn công việc kinh doanh. Thứ hai, các kế hoạch tài chính ngắn hạn cũng không kém phần quan trọng vì để đạt tới kế hoạch tài chính dài hạn, nhà quản lý tài chính phải định ra và hoàn thành được từng kế hoạch tài chính ngắn hạn. Ngay cả đối với các doanh nghiệp nhỏ thì nhà quản lý tài chính cũng phải lập kế hoạch tài chính trong ngắn hạn. Các công cụ thường dùng trong lập kế hoạch ngắn hạn là một sô bảng dự tính tài chính cho tháng, quý, năm tiếp theo như báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán, … Thứ ba, [các chiến lược và kế hoạch tài chính ngắn hạn và dài hạn lập ra phù hợp hay không phù hợp với Công ty được đánh giá bằng kết quả thực hiện nó.] Thảo Nguyên- Nỗi lo trước thềm năm mới. Tạp chí tài chính tháng 2 năm 2008. Quản lý tài chính đòi hỏi các doanh nghiệp, công ty phải hoàn thành các kế hoạch này ít nhất ở mức độ tốt như dự tính. Mọi sự thay đổi trên thực tế so với kế hoạch dự tính là những nội dung được tất cả các bên liên quan tới Công ty luôn yêu cầu phải được giải trình rõ ràng, cụ thể và xác đáng. Phương pháp phổ biến nhất và cũng là phương pháp khá đơn giản để đánh giá tình hình tài chính mà quản lý tài chính sử dụng là đánh giá thông qua các chỉ tiêu tài chính được tính toán dựa vào bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty. Để làm được như vậy thì các kế hoạch và chiến lược tài chính lập ra phải tránh được bốn điểm sai lầm sau: Đưa ra những kế hoạch quá sức: việc đưa ra những kế hoạch kinh doanh và kế hoạch ngân quỹ mang tính thực tế và phù hợp với thực tế của mình luông đảm bảo cho Công ty vừa thu được lợi nhuận vừa phát triển bền vững trong thời gian dài. Bỏ qua những nhu cầu ngân sách trước mắt: chuẩn bị đầy đủ ngân sách cho các kế hoạch kinh doanh, đảm bảo độ an toàn cho nguồn vốn bỏ ra. Quá tự tin vào chỉ tiêu doanh số: trong kinh doanh luôn tồn tại khoảng cách giữa việc hoàn tất giao dịch và việc hoàn tất thanh toán. Rất nhiều nhà kinh doanh chỉ chú tâm tới chỉ tiêu doanh thu mà xem nhẹ vấn đề thanh toán nên có thể lâm vào tình trạng đổ vỡ khi không thể thu được những gì đã bỏ ra. Yếu kém trong khâu quảng cáo: nhiều doanh nghiệp hiện nay tiến hành quảng cáo một cách máy móc so với tỷ lệ doanh số trong cùng kỳ hoạt động của mình, điều này dẫn đến một nghịch lý rằng trong thời gian đầu tung ra sản phẩm cần quảng cáo nhiều nhất thì dường nhu chi phí quảng cáo trong giai đoạn này lại là thấp nhất. Thứ tư, chú trọng cơ chế quản lý nguồn vốn của doanh nghiệp. Cơ chế quản lý và điều hành nguồn vốn và các chi phí sản xuất kinh doanh cần được tăng cường theo hướng điều chỉnh cơ cấu thu chi phù hợp với việc cắt giảm các chi phí đầu vào. Cơ chế quản lý chi của doanh nghiệp phải đảm bảo kế hoạch chi hợp lý, hiệu quả, đảm bảo kiểm soát được bội chi, tiến tới cân bằng vốn và doanh thu. Hệ thống quản lý tài chính, chi tiêu từng bước thực hiện vi tính hoá, đẩy mạnh phân cấp quản lý tài chính trong doanh nghiệp và tăng tính tự chủ tài chính đối với các đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp. Cân đối tỷ lệ chi và phù hợp với mục tiêu phát triển kinh doanh trong từng thời kỳ và đảm bảo an toàn tài chính doanh nghiệp. Thứ năm, tập trung hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính. Các doanh nghiệp cần chủ động tiếp cận và tìm kiếm nguồn vốn đầu tư trên thị trường vốn, thị trường tài chính và phải coi chi phí đầu tư về vốn là một phần của hiệu quả đầu tư và sản xuất kinh doanh. Các chuẩn mực về quản trị doanh nghiệp cần được chú trọng. Thứ sáu, đẩy nhanh tiến trình nâng cao năng lực của bộ máy quản lý tài chính trong doanh nghiệp. Đặc biệt phải khẩn trương hình thành đội ngũ chuyên gia quản lý tài chính có năng lực, trình độ chuyên môn, đáp ứng yêu cầu của các hoạt động kinh doanh. Mục tiêu của quản lý tài chính tương đối rõ ràng đó là lợi nhuận của Công ty, đồng thời kế hoạch để đạt được mục tiêu đó cũng được đưa ra rõ ràng. Vấn đề ở đây là việc thực hiện các kế hoạch tài chính đó như thế nào là phụ thuộc vào việc người triển khai thực hiện có đủ trình độ để hiểu rõ những thuận lợi, những khó khăn và các giải pháp thích hợp để giải quyết các khó khăn đó không, đồng thời, linh hoạt để xử lý các thay đổi bất thường trên thị trường. [Không có biến động nào là không tác động tới tình hình tài chính của Công ty vì thế sự năng động và kinh nghiệm của các nhà quản lý tài chính trở nên vô cùng quan trọng, nhất là khi Công ty phải đối mặt với những khó khăn.] Thảo Nguyên- Nỗi lo trước thềm năm mới. Tạp chí tài chính tháng 2 năm 2008. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống thông tin quản lý tài chính hiệu quả để có thể quản lý được quá trình cạnh tranh ngày một cao, thu chi cũng ngày một lớn. Thông tin trong quản lý tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng, do đó minh bạch hoá tình hình tài chính thông qua các báo cáo tài chính của Công ty trở thành một giải pháp và cũng là yêu cầu của quản lý tài chính. Nhà quản lý tài chính phải nắm rõ và thể hiện rõ sức mạnh tài chính cũng như sự lành mạnh về tài chính của Công ty đến đâu thông qua các chỉ tiêu tài chính cụ thể và phân tích tài chính xác đáng. Tình hình tài chính của Công ty phải được diễn giải một cách chi tiết, hệ thống, trong sáng và minh bạch dựa trên hệ thống kế toán tuân thủ các chuẩn mực kế toán quốc gia và quốc tế được công nhận. Quyền được tiếp cận và được cung cấp thông tin của các chủ sở hữu Công ty phải được đảm bảo thông qua các văn bản pháp lý của Công ty. Cuối cùng, nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn có những biến động nhất định trong từng thời kỳ. Vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng của quản lý tài chính là xem xét, lựa chọn cơ cấu vốn sử dụng sao cho tiết kiệm, hiệu quả nhất. Quản lý tài chính trong doanh nghiệp phải tiến hành phân tích và đưa ra một cơ cấu nguồn vốn huy động tối ưu cho doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Quản lý tài chính phải thiết lập một chính sách phân chia lợi nhuận một cách hợp lý đối với doanh nghiệp, vừa bảo vệ được quyền lợi của chủ doanh nghiệp và các cổ đông, vừa đảm bảo được lợi ích hợp pháp, hợp lý cho người lao động; xác định phần lợi nhuận để lại từ sự phân phối này là nguồn quan trọng cho phép doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh mới, sản phẩm mới, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có mức độ tăng trưởng cao và bền vững. Quản lý tài chính trong doanh nghiệp còn có nhiệm vụ kiểm soát việc sử dụng cả các tài sản trong doanh nghiệp, tránh tình trạng sử dụng lãng phí, sai mục đích. 4. Hoàn thiện quản lý vốn luân chuyển. Qua các phân tích ở phần thực trạng, ta thấy rằng việc quản lý vốn luân chuyển của Công ty P&G còn gặp nhiều hạn chế cần có các biện pháp giải quyết. 4.1. Giảm chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền mặt. Như đã phân tích ở trên ta thấy rằng, việc nắm giữ tiền mặt ở Công ty hiện nay chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của các nhà quản lý tài chính chứ ít dựa theo một phương pháp khoa học nào. Điều này có thể ít sai lệch nếu như môi trường không biến động, còn một khi môi trường biến động thì cách quản lý tiền mặt như thế nay có thể gây hậu quả lớn. Chính vì thế, trong thời gian tới đây, Công ty cần có phải xây dựng hệ thống phân tích, xác định nhu cầu dự trữ tiền mặt một cách khoa học. Điều này có nghĩa là Công ty sẽ xác định được chính xác lượng tiền mặt tối thiểu cần nắm giữ đủ để thực hiện các giao dịch hàng ngày và có thể nắm được các cơ hội đến với Công ty. Như thế, chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền mặt giảm xuống, đồng nghĩa với chi phí kinh doanh giảm xuống, tức là năng lực cạnh tranh của sản phẩm tăng lên và phần lợi nhuận cũng tăng lên. Đồng thời, Công ty cần tăng cường các giao dịch không sử dụng tiền mặt hoặc tránh tình trạng khan hiếm tiền mặt bằng cách theo dõi chặt chẽ quá trình nhận tiền thanh toán. Bước một là lập hoá đơn trước khi giao hàng. Có ba cách lập hoá đơn trước khi giao hàng: thứ nhất là lập hoá đơn theo từng hạng mục (hoặc theo sự kiện), cách này khá phổ biến khi quá trình sản xuất đòi hỏi đầu tư ban đầu lớn. Vì thế, việc lập hoá đơn sau khi hoàn thành một hạng mục quan trọng của công việc (chẳng hạn như hoàn thành một hợp đồng con, nhận được một khối lượng lớn vật liệu...) là phù hợp. Như vậy, hoá đơn sẽ được lập ra trước khi hoàn thành sản phẩm cuối cùng; thứ hai là lập hoá đơn theo tiến trình thời gian, cách này phổ biến trong ngành công nghiệp quốc phòng và hàng không. Hoá đơn theo tiến trình thời gian cho phép chúng ta hạch toán chi phí phát sinh theo tháng, tức là khách hàng sẽ chụi chi phí sản xuất, kết quả là chúng ta sẽ thu được chi phí trước khi giao hàng; thứ ba là lập hoá đơn theo hạng mục con chính, cách này phổ biến trong ngành xây dựng, hoá đơn sẽ được lập khi một bộ phận quan trọng của sản phẩm cuối cùng hoàn thành, theo cách lập hoá đơn này làm gia tăng tốc độ chảy của dòng tiền mỗi khi hoàn thành một hạng mục quan trọng của sản phẩm. Bước thứ hai là xác định ngày đến hạn thanh toán, việc này là quan trọng vì nó xác định khi nào chúng ta nhận được tiền của khách hàng. Không nên nhận một đơn hàng nếu như chúng ta không chắc chắn về khả năng thanh toán của nó và cũng phải nhớ rằng nếu gia hạn nợ cho khách hàng nghĩa là lại có thêm một khoản chi phí phát sinh, vì thế cần tính đến các chi phí này trong hợp đồng và giá cả. Đối với các trường hợp có rủi ro nợ thanh toán cao thì chúng ta nên sử dụng phương thức thanh toán ngay khi giao hàng (C.O.D). Giảm giá có thể được chấp nhận tuy nhiên phải đi kèm theo các điều kiệnvề ngày giao hàng, ngày khách hàng chấp nhận sản phẩm, ngày lập hoá đơn. Bước thứ ba là xác định mức phạt cho việc thanh toán chậm, việc này sẽ giúp chúng ta nhận được các thanh toá đúng thời gian hơn và có cơ sở pháp lý để tính lãi suất từ các khoản nợ nếu chúng không được thanh toán đúng hạn. 4.2. Xác định lượng tồn kho hợp lý. Nguyên liệu đầu vào rất quan trọng cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh dù là trong lĩnh vực nào. Việc đảm bảo lượng nguyên vật liệu đầu vào đầy đủ và kịp thời không chỉ ảnh hưởng tới chi phí sản xuất mà còn ảnh hưởng tới tiến độ của quá trình sản xuất và chất lượng của sản phẩm đầu ra. Chính vì thế, xác định được một lượng tồn kho hợp lý luôn là điều quan trọng trong quản lý hàng tồn kho. Đặc biệt trong điều kiện thị trường biến đổi liên tục và tình trạng lạm phát gia tăng như hiện nay. Lượng tồn kho này vừa phải đảm bảo rằng nguyên vật đầu vào luôn phải đủ cho quá trình sản xuất vừa phải đảm bảo chi phí cơ hội của việc dự trữ lượng nguyên vật liêu đầu vào này là nhỏ nhất. Để xác định được lượng tồn kho cần thiết chính xác, Công ty cần phải có đội ngũ cán bộ quản lý hàng tồn kho có trình độ chuyên môn và đa dạng hoá các phương pháp trong quản lý hàng tồn kho như nhập trước xuất trước (FIFO), nhập sau xuất trước (LIFO)... phù hợp với đặc điểm của từng loại nguyên vật liệu, hàng hoá tồn kho. 4.3. Giảm thiểu rủi ro tiềm ẩn trong các khoản phải thu. Việc tồn tại các khoản phải thu là việc không thể tránh khỏi trong điều kiện cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay, đặc biệt là trong lĩnh vực mà Công ty đang tham gia hoạt động. Vấn đề lúc này là làm sao để giảm thiều các rủi ro tiềm ẩn trong các khoản phải thu này. Để giảm thiểu các rủi ro này, Công ty cần xây dựng chính sách quản lý khoản phải thu thống nhất bao gồm chính sách bán hàng tín dụng, phân tích tín dụng khách hàng và chính sách thu hồi nợ hợp lý. Việc bán hàng tín dụng không được áp dụng quá rộng rãi, phải chọn lọc đối tượng khách hàng mà bán hàng tín dụng, Ưu tiên cho các khách hàng đã làm ăn lâu năm, có uy tín, còn đối với các khách hàng mới thì trước khi bán hàng tín dụng cần nghiên cứu và tìm hiểu về khả năng tài chính của họ, chỉ bán hàng tín dụng cho những khách hàng tiềm năng. Các điều khoản về thanh toán cần được ghi rõ ràng trong các hợp đồng, nhất là về các khoản chiết khấu thanh toán áp dụng nếu thanh toán sớm và các khoản tiền phạt nếu không thanh toán khi đáo hạn. Như thế, sẽ khuyến khích việc thanh toán đúng thời hạn, đảm bảo các kế hoạch của Công ty không bị xáo chộn. Đối với những hợp đồng có rủi ro thanh toán cao nên áp dụng phương thức thanh toán ngay khi giao hàng. Đồng thời, Công ty phải trích lập khoản dự phòng phải thu khó đòi trong trường hợp rủi ro các khoản phải thu xảy ra. III. ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP. 1. Các điều kiện về cơ chế, chính sách quản lý của Nhà nước. Công ty P&G cũng giống như các doanh nghiệp khác phải tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật và phù hợp với cơ chế chính sách của Nhà nước. Chính vì thế, để các hoạt động của Công ty, đặc biệt là công tác quản lý tài chính nâng cao hiệu quả thì phải được Luật và cơ chế, chính sách của Nhà nước tạo những điều kiện thuận lợi. 1.1. Đổi mới chính sách tài chính đối với doanh nghiệp. Trong những năm qua, các cơ chế, chính sách đối với doanh nghiệp đang được hoàn thiện từng ngày, cụ thể hoá chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về sắp xếp đổi mới phát triển, nâng cao hiệu quả của hoạt động doanh nghiệp. Song những bất cập vẫn còn tồn tại rất nhiều vì thế cần tiếp tục đổi mới các cơ chế, chính sách này. 1.1.1. Chính sách về tín dụng. Chính sách tín dụng đối với các doanh nghiệp phải đảm bảo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi ngành kinh tế, nhằm mở rộng quy mô vốn đầu tư của doanh nghiệp - tiền đề cơ bản để doanh nghiệp đổi mới mở rộng cả về chiều rộng và chiều sâu. Xây dựng và phát triển thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường chứng khoán nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong quá trình tìm kiếm và huy động được các nguồn vốn. Mở rộng khả năng tiếp cận với thị trường vốn nước ngoài vì với tốc độ phát triển như hiện nay, nếu chỉ sử dụng nguồn vốn trong nước thì không thể đủ đáp ứng nhu cầu hoặc nếu có thì chi phí của việc sử dụng các nguồn vốn này cũng tăng lên nhanh chóng. Khả năng tiếp cận với thị trường vốn nước ngoài có thể được cải thiện thông qua điều chỉnh tỷ giá hối đoái hợp lý, hạ thấp hàng rào thuế quan so với trong khu vực và từng bước đơn giản hoá thủ tục thuế quan để thu hút thêm vốn đầu tư từ nước ngoài vào... Muốn làm được những điều này thì cần phải có những bước chuyển biến mạnh mẽ trong đổi mới công tác nghiệp vụ, cải cách hành chính, xây dựng quy trình làm việc, quy trình soạn thảo chính sách chế độ tài chính doanh nghiệp, tăng cường đào tạo, nâng cao trình độ cho cán bộ công chức để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ. Mặt khác, tăng cường sự đoàn kết, phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền với cấp uỷ Đảng và các tổ chức quần chúng tạo thành khối thống nhất trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao; tăng cường phối hợp giữa Cục tài chính doanh nghiệp với các đơn vị có liên quan trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, với các Bộ, ngành, sở tài chính địa phương, các doanh nghiệp trong công tác quản lý, giám sát tài chính doanh nghiệp; Thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và động viên, khen thưởng kịp thời các đơn vị, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. 1.1.2. Đổi mới chế độ trích khấu hao tài sản cố định. Chế độ trích khấu hao tài sản cố định áp dụng cho các doanh nghiệp hiện hành đã và đang bộc lộ nhiều bất cập như tỷ lệ khấu hao thấp không phản ánh đúng thực chất hao mòn tài sản cố định, số khấu hao thu hồi không đủ để các doanh nghiệp tái đầu tư. Đặc biệt trong điều kiện công nghệ đang phát triển với tốc độ như vũ bão hiện nay thì Nhà nước cấn sớm xem xét lại tính hợp lý của chế độ trích khấu hao tài sản cố định hiện hành. Trong chế độ này, Nhà nước nên đưa ra nhiều phương pháp trích khấu hao khác nhau, đồng thời chỉ rõ ưu nhược điểm của từng phương pháp để các doanh nghiệp tuỳ điều kiện của mình mà lựa chọn phương pháp áp dụng. 1.2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật Hiện nay, hệ thống pháp luật của nước ta nói chung còn nhiều hạn chế và thiều đồng bộ mặc dù Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng trong việc cải cách, hoàn thiện hệ thống này. Trong đó, hệ thống pháp luật về tài chính và quản lý tài chính doanh nghiệp đang có nhiều bức xúc, nhất là khi nước ta đã tham gia vào WTO, vì thế cần nhanh chóng tiến hành xây dựng và cải cách. Nhưng trong quá trình này cần đặc biệt chú ý tới việc giảm sự chồng chéo của các quy định Nhà nước thông qua việc giảm bớt các quy định dưới luật. Một thực tế của hệ thống pháp lý ở nước ta hiện nay là trong hoạt động quản lý các tổ chức và cá nhân thừa hành vẫn coi trọng tính pháp lý của văn bản dưới luật cao hơn luật. Từ đó dẫn đến một thực tế rằng, các đạo luật mới ra đời không thể đi vào thực tiễn nếu chưa có các nghị định, thông tư hướng dẫn của các đơn vị quản lý ngành và các doanh nghiệp thì chỉ thực hiện một cách máy móc theo tinh thần của các văn bản hướng dẫn dưới luật. Đồng thời, với các hoạt động liên quan tới nhiều lĩnh vực thì lại chụi sự rằng buộc của nhiều văn bản hướng dẫn, quy định của các ban, ngành khác nhau, mà nhiều khi tinh thần hướng dẫn lại khác nhau, thậm chí mâu thuẫn với nhau. Vì vậy, cần phải xây dựng một khung pháp lý thống nhất, luật hoá hoặc chuẩn mực hoá cho các hoạt động quản lý tài chính, tránh tình trạng có quá nhiều quy định dưới luật chồng chéo nhau. 2. Các kiến nghị với công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G. 2.1. Kế hoạch tài chính phải được xây dựng rõ ràng và phù hợp với khả năng của Công ty. Kế hoạch tài chính phải được xây dựng trên cơ sở tình hình thực tiễn của Công ty, thêm vào đó phải tính đến các tác động và các thay đổi của môi trường kinh doanh nhằm đảm bảo kế hoạch tài chính phù hợp với năng lực thực hiện của Công ty. Muốn làm được như vậy thì phải nâng cao tính chính xác và hiệu quả của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp, có nghĩa là nâng cao trình độ của cán bộ công nhân viên và cải thiện hệ thống thông tin tài chính kế toán trong Công ty. Đảm bảo các kế hoạch tài chính phải được thực hiện đúng, đồng thời cũng thường xuyên theo dõi, kiểm tra để có những thay đổi phù hợp tránh tình trạng phát hiện sai sót quá muộn không kịp khắc phục, làm ảnh hưởng tới việc thực hiện toàn bộ kế hoạch tài chính. Xác định nhu cầu vốn cho từng giai đoạn phát triển của Công ty, từ đó có kế hoạch, chính sách huy động vốn hợp lý. Đồng thời đảm bảo hiệu quả của các đồng vốn đi vay cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Công ty nên tìm cho mình không chỉ là một loại nguồn vốn mà cần phải có cả vốn dài hạn, trung hạn và ngắn hạn. Các nguồn này phải đảm bảo tính ổn định, nên làm ăn lâu dài với một hoặc một vài tổ chức tín dụng uy tín, hiệu quả. 2.2. Đảm bảo sự phối hợp đồng bộ, chính xác và kịp thời giữa các bộ phận trong Công ty. Để công tác quản lý tài chính đạt hiệu quả cần cần có sự phối hợp hiệp tác giữa các bộ phận trong Công ty vì công tác quản lý tài chính có phạm rộng lớn, bao trùm và có ảnh hưởng lớn tới mọi hoạt động của Công ty. Để làm được như vậy đòi hỏi kênh thông tin trong công ty phải được xây dựng, không chỉ một kênh mà phải xây dựng một hệ thống kênh thông tin. Đồng thời, tạo mối quan hệ liên kết chặt chẽ giữa các bộ phận trong Công ty cũng như môi trường và bầu không khí làm việc thân mật, chan hoà. 2.3. Chủ động vận dụng cơ chế hiện có một cách linh hoạt vào điều kiện thực tế của Công ty. Trong bối cảnh hành lang pháp lý chưa thật hoàn chỉnh, Công ty cần phải bám sát vào các cơ sở pháp lý hiện có để có những điều chỉnh, kiến nghị hợp lý với các cơ quan Nhà nước. Đón đầu những thay đổi về cơ chế nhằm có kế hoạch chuẩn bị sẵn sàng những tiền đề để khi điều kiện cho phép là có thể triển khai được ngay các hoạt động hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính. 2.4. Xây dựng và phát triển hệ thống kiểm soát. Cần nhận thức đầy đủ vai trò, tác dụng của hệ thống kiểm soát và tính cấp thiết của việc xây dựng hệ thống này. Tiếp theo, cần tổ chức các chương trình bồi dưỡng cán bộ, trao đổi học tập kinh nghiệm về hệ thống kiểm soát. Phải xác định một hệ thống chỉ tiêu có vai trò thước đo để đánh giá hiệu quả hoạt động của Công ty, qua đó đánh giá hiệu quả của quản lý tài chính. Hệ thống chỉ tiêu này được xây dựng dựa trên việc lựa chọn những chỉ tiêu quan trọng nhất đối với Công ty (căn cứ vào đặc điểm cụ thể của Công ty để xây dựng hệ thống chỉ tiêu và cách thức áp dụng). Hệ thống thông tin quản lý phải được xây dựng và sử dụng một cách đồng bộ để cung cấp thông tin cho ban lãnh đạo chất lượng cao nhất. Mặt khác, nhà quản lý cũng cần có đủ năng lực để điều hành và khai thác có hiệu quả hệ thống thông tin này. Hoàn thiện hệ thống kiểm toán nội bộ đối với các hoạt động tài chính kế toán tại Công ty thông qua việc tăng cường phối hợp giữa phòng, tổ kiểm toán nội bộ với phòng, ban tài chính và với các bộ khác trong Công ty; nâng cao năng lực của các kiểm toán viên... KẾT LUẬN Qua những nghiên cứu ở trên, ta đã thấy rõ tầm quan trọng của quản lý tài chính trong các doanh nghiệp, đồng thời thấy rõ sự phức tạp và khó khăn trong quá trình quản lý tài chính, nó được coi là một trong những lĩnh vực khó của quản lý doanh nghiệp. Đặc biệt là trong điều kiện nước ta đang tiến hành hội nhập kinh tế thế giới ngày càng sâu và rộng như hiện nay, vừa tạo ra nhiều cơ hội vừa đặt ra những thách thức cho doanh nghiệp. Để tồn tại và đứng vững trên thị trường trong điều kiện đó thì các doanh nghiệp phải có các biện pháp quản lý tài chính tốt để đảm bảo việc huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn. Trong báo cáo này, với đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G” đã làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về tài chính và quản lý tài chính, thực trạng quản lý tài chính tại công ty TNHH quảng cáo và thương maih P&G trong 5 năm gần đây. Trên cơ sở đó, cộng với sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Thị Anh Vân, em đã đưa ra số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G. Do trình độ còn hạn chế nên đề tài của em không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến để em có thể hoàn thiện hơn đề tài của mình. Em xim thành cảm ơn! TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. BBT - Công tác tài chính doanh nghiệp 2007 và nhiệm vụ năm 2008. Tạp chí Tài chính doanh nghiệp số 1+2 năm 2008. Cao Thị Thuý Nga - Minh bạch tài chính và vấn đề tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng. Tạp chí Nhà quản lý tháng 9 năm 2007. Khoa Ngân hàng Tài chính, trường Đại học Kinh tế Quốc dân – Giáo trình tài chính doanh nghiệp – PGS. TS Lưu Thị Hương & PGS. TS Vũ Huy Hào. NXB Đại học Kinh tế Quốc dân. Khoa Khoa học quản lý, trường Đại học Kinh tế Quốc dân – Giáo trình Hiệu quả và quản lý dự án Nhà nước – PGS. TS Mai Văn Bưu. NXB Khoa học và kỹ thuật 2001. Khoa Khoa học quản lý, trường Đại học Kinh tế Quốc dân – Giáo trình khoa học quản lý tập I & II – PGS. TS Đoàn Thị Thu Hà & PGS. TS Nguyễn Thị Ngọc Huyền. NXB Khoa học và kỹ thuật, 2002. Ngọc Quỳnh - Minh bạch tài chính góp phần thu hút các nguồn vốn đầu tư .Tạp chí Thông tin tài chính, số 4 tháng 3 năm 2007. Ngô Hồng Linh & Phạm Lê Hoa & Bùi Trinh - Để sản xuất kinh doanh có hiệu quả. NXB Thống kê, 2001. Quang Trường - Báo cáo môi trường kinh doanh 2008, Việt Nam vẫn có thể xếp hạng cao hơn nữa. Tạp chí Thông tin tài chính, số 22 tháng 11 năm 2007. Thảo Nguyên - Nỗi lo trước thềm năm mới. Tạp chí tài chính tháng 2 năm 2008. Thiên Thanh - Dự báo kinh tế thế giới 2008. Tạp chí Thông tin tài chính, số 23 tháng 12 năm 2007. Trần ái Kết (chủ biên) – Giáo trình lý thuyết tài chính- tiền tệ. NXB Giáo dục, 2007. TS. Nguyễn Đình Cung - 5 điểm yếu trong quản trị công ty của Việt Nam. Tạp chí Nhà quản lý tháng 9 năm 2007. TS. Nguyễn Thanh Liêm – Quản trị tài chính. NXB Thống kê, 2007. 14. 15. 16. 17. ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc12298.doc
Tài liệu liên quan