Phương hướng & giải pháp chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo ngành trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2001 - 2005

Mở đầu Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và điều chỉnh cơ cấu đầu tư ở Hà Nội những năm gần đây, nhất là từ Hội nghị lần thứ 8 khoá XII của Thành uỷ Hà Nội - tháng 4/1997 được Thành phố rất quan tâm và đã đạt những kết quả khá. Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được, việc nghiên cứu những phương hướng và các giải pháp tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho giai đoạn 2000-2005 là rất cần thiết, đặc biệt là giải pháp điều chỉnh cơ cấu vốn đầu tư. Năm 1999, Hà nội đã triển khai có kết quả việc Nghiên

doc90 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 03/10/2013 | Lượt xem: 1127 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Phương hướng & giải pháp chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo ngành trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2001 - 2005, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
cứu động thái chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 1991-1998, kiến nghị về phương hướng và các giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô giai đoạn 2001-2005 . Qua nghiên cứu cho thấy: Những định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong giai đoạn 1991-1998 mà Nghị quyết Đảng bộ Thành phố lần thứ XI ( tháng 11/1991) và lần thứ XII ( tháng 5/1996) đã đề ra là phù hợp. Những khó khăn, hạn chế trong thực tiễn chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Hà Nội thời gian qua có nguyên nhân quan trọng là chưa đề ra được những định hướng và giải pháp phù hợp trong điều chỉnh cơ cấu đầu tư, đặc biệt là cơ cấu vốn đầu tư nhằm phục vụ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đã định. Tháng 4/1997 Hội nghị Thành uỷ lần thứ VIII khoá XII mới bắt đầu đề cập đến vấn đề này với mục đích đầu tư là phương tiện trực tiếp hình thành cơ cấu kinh tế, sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư sẽ tác động và thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cho nên sau thời gian thực tập qua nghiên cứu các tài liệu liên quan và tìm hiểu thực tế tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội với những kiến thức đã được học, dưới sự hướng dẫn của Thầy Nguyễn Tiến Dũng giảng viên khoa Kinh tế Phát triển cùng với Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam Phó phòng Kế hoạch tổng hợp Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cùng toàn bộ cán bộ của phòng tôi quyết định chọn đề tài" Phương hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo ngành trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2001- 2005" làm Luận văn tốt nghiệp. Luận văn là sự nghiên cứu nối tiếp những phương hướng và giải pháp thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô theo hướng đã đề ra. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiện trạng cơ cấu vốn đầu tư của Hà Nội giai đoạn 1996-2000. Trên cơ sở đó căn cứ định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô giai đoạn 2001-2005 để đề xuất phương hướng và những giải pháp kinh tế điều chỉnh cơ cấu vốn đầu tư phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nội dung nghiên cứu: Từ xác định mục tiêu nghiên cứu của Luận văn, nội dung nghiên cứu của Luận văn gồm: 1. Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về cơ cấu vốn đầu tư và chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư làm cơ sở cho công tác nghiên cứu thực tiễn. 2. Nghiên cứu đánh giá hiện trạng cơ cấu vốn đầu tư và tình hình chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong giai đoạn 1996-2000, rút ra những ưu, nhược điểm và nguyên nhân. 3. Trên cơ sở định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô giai đoạn 2001-2005, xây dựng định hướng và đề xuất các giải pháp kinh tế điều chỉnh cơ cấu vốn đầu tư phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu sau đây để nghiên cứu: - Phương pháp điều tra thống kê - Phương pháp phân tích và tổng hợp - Phương pháp chuyên gia - Phương pháp mô hình hoá Phạm vi nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu trên địa bàn Thành phố Hà Nội và giới hạn trong nghiên cứu về đầu tư phát triển ở giác độ nền kinh tế Thủ đô. Kết cấu của Luận văn: Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục, một số kiến nghị và danh mục các tài liệu tham khảo, Luận văn được trình bày gồm 3 chương: Chương 1: Những lý luận về chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo ngành Chương 2: Thực trạng cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư theo ngành trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 1996-2000 Chương 3: Phương hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo ngành trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2001-2005. Mặc dù Luận văn đã hoàn thành, nhưng do thời gian thực tập ngắn. Mặt khác do sự hiểu biết của bản thân cả về trình độ và kinh nghiệm còn hạn chế hơn thế nữa đây là một vấn đề còn rất mới. Cho nên Luận văn mới chỉ là bước khởi đầu, còn nhiều sai xót và khiếm khuyết. Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Tiến Dũng, TS Nguyễn Văn Nam và toàn thể phòng Tổng hợp Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực tập tốt nghiệp và hoàn thiện Luận văn. Chương 1 Nhũng lý luận về chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo ngành 1.1. Vai trò của vốn đầu tư với tăng trưởng và phát triển kinh tế. 1.1.1. Khái niệm và phân loại đầu tư Đầu tư là "sự bỏ ra, sự hy sinh" những cái gì đó ( tiền, sức lao động, của cải vật chất, trí tuệ) ở hiện tại nhằm đạt được những kết quả có lợi hơn cho người đầu tư trong tương lai. Hay nói cách khác, đầu tư là sự hy sinh những lợi ích hiện tại để nhằm thu về lợi ích lớn hơn trong tương lai. Căn cứ vào bản chất và phạm vi lợi ích do đầu tư đem lại có thể chia đầu tư thành 3 loại chủ yếu sau: 1.1.1.1. Đầu tư tài chính: là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước hoặc lãi suất phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty phát hành. Đầu tư tài chính không làm tăng tài sản của nền kinh tế ( nếu không xét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của tổ chức, cá nhân đầu tư. Với hình thức đầu tư tài chính, vốn bỏ ra đầu tư được lưu chuyển dễ dàng và là một nguồn cung cấp vốn quan trọng cho đầu tư phát triển. 1.1.1.2. Đầu tư thương mại: là loại đầu tư mà người có tiền bỏ tiền ra mua hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua và khi bán. Loại đầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế ( nếu không xét đến ngoại thương), mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của người đầu tư trong quá trình mua đi, bán lại. Tuy nhiên, đầu tư thương mại có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu thông của cải vật chất do đầu tư phát triển tạo ra, từ đó thúc đẩy đầu tư phát triển. 1.1.1.3 Đầu tư phát triển: là hoạt động đầu tư mà trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và các hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội. Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội, mua sắm trang thiết bị, bồi dưỡng và đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội. Nhìn chung đối tượng nghiên cứu trong Luận văn chỉ là nghiên cứu về đầu tư phát triển - loại hình đầu tư gắn trực tiếp với sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. 1.1.2. Nguồn gốc và bản chất của vốn đầu tư Trong tác phẩm "Tư bản", với giả định nền kinh tế không có ngoại thương, K. Marx đã chỉ ra: để đảm bảo quá trình tái sản xuất mở rộng không ngừng, nền sản xuất xã hội cần phải đảm bảo V+M của khu vực I ( khu vực sản xuất ra tư liệu sản xuất) lớn hơn tiêu hao vật chất của khu vực II ( khu vực sản xuất ra tư liệu tiêu dùng): CII, tức là: (V+M)I > CII Trong đó: C là phần tiêu hao vật chất hay: (C+V+M)I > CI+CII V+M là phần giá trị mới sáng tạo ra Điều này có nghĩa là tư liệu sản xuất được tạo ra ở khu vực I không chỉ bồi hoàn cho những tiêu hao vật chất CI và CII ở cả hai khu vực của nền kinh tế, mà còn phải dư thừa để đầu tư làm tăng quy mô tư liệu sản xuất trong quá trình sản xuất tiếp theo. Còn ở khu vực II ( sản xuất tư liệu tiêu dùng) thì: ( C+V+M)II > (V+M)I + (V+M)II Có nghĩa là tư liệu tiêu dùng do khu vực II tạo ra không chỉ bù đắp tư liệu tiêu dùng ở cả hai khu vực mà còn phải thừa để đảm bảo thoả mãn nhu cầu tư liệu tiêu dùng tăng thêm do quy mô của nền sản xuất xã hội được mở rộng. Để có dư thừa tư liệu sản xuất, một mặt phải tăng cường sản xuất tư liệu sản xuất ở khu vực I, mặt khác phải sử dụng tiết kiệm tư liệu sản xuất ở cả hai khu vực. Để có dư thừa tư liệu tiêu dùng, một mặt phải tăng cường sản xuất tư liệu tiêu dùng ở khu vực II, mặt khác phải sử dụng tiết kiệm tư liệu tiêu dùng ở cả hai khu vực. Từ đó có thể rút ra kết luận: Con đường cơ bản và quan trọng về lâu dài để tái sản xuất mở rộng là phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm cả trong sản xuất và trong tiêu dùng. Vấn đề này cũng đã được kinh tế học hiện đại chứng minh. Thật vậy, nếu gọi GDP là tổng sản phẩm quốc nội, C là tiêu dùng (tiêu dùng cá nhân và tiêu dùng của Chính phủ), I là đầu tư của doanh nghiệp ( bổ sung vốn lưu động và cố định) thì: GDP = C + I Phần đầu tư I của doanh nghiệp chính là phần dư ra ( hay tiết kiệm) không tiêu dùng đến từ GDP. Nếu gọi phần tiết kiệm là S thì: GDP = C + S Từ đó suy ra I = S Như vậy, tăng GDP cho phép tăng C + S hay C+I. Nếu C+I càng lớn thì sản xuất càng được mở rộng; đến lượt mình, sản xuất càng mở rộng, GDP càng tăng và càng có điều kiện tăng tiêu dùng, nâng cao đời sống nhân dân và mở rộng sản xuất. Trong điều kiện nền kinh tế mở (nền kinh tế có ngoại thương): GDP = C+I+X-M Trong đó: X là giá trị hàng hoá xuất khẩu M là giá trị hàng hoá nhập khẩu GDP = C+S Vậy: S = I+X- M hay I - S = M - X Nếu M - X > 0 thì I - S >0. Như vậy, trong điều kiện nền kinh tế mở, nguồn vốn để đầu tư ngoài tiết kiệm trong nước còn có thể huy động vốn từ nước ngoài trong trường hợp tiết kiệm không đáp ứng nhu cầu đầu tư, thâm hụt tài khoản vãng lai. Vay nợ nước ngoài là hình thức chủ yếu để tài trợ cho đầu tư nhằm phát triển kinh tế trong trường hợp thâm hụt tài khoản vãng lai. Từ đây có thể rút ra định nghĩa về vốn đầu tư theo nguồn hình thành và mục tiêu sử dụng như sau: Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ, là tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội. 1.1.3. Vai trò của vốn đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế. Từ sự xem xét bản chất của vốn đầu tư, các lý thuyết kinh tế, đều coi vốn đầu tư là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa khoá của sự tăng trưởng. Vai trò này được thể hiện trên các mặt sau: 1.1.3.1. Vốn đầu tư vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu: Về tổng cầu: Đầu tư là yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân . Theo Ngân hàng Thế giới , đầu tư thường chiếm 24-28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới. Đối với tổng cầu tác động của đầu tư là ngắn hạn, khi mà tổng cung chưa thay đổi, sự tăng lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng ( đường D1 dịch chuyển sang D2) kéo sản lượng cân bằng tăng theo từ Q0 đến Q1 và giá cân bằng tăng từ P0 đến P1. Điểm cân bằng dịch chuyển từ E0, đến E1. Về tổng cung: Khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới do đầu tư tạo ra đi vào hoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên ( đường S1 dịch chuyển sang S2), kéo theo sản lượng tiềm năng tăng từ Q1 đến Q2 và do đó giá cả sản phẩm giảm từ P1 đến P2. Sản lượng tăng, giá giảm xuống, cho phép tiêu dùng tăng. Tăng tiêu dùng đến lượt mình lại tiếp tục kích thích sản xuất phát triển hơn nữa. Sản xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ, phát triển kinh tế - xã hội, tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội. D1 D2 Eo E1 P1 Po P2 Qo Q1 Q2 E2 Q P S1 S1 Hình1 1.1.3.2 .Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế: Đầu tư tạo ra năng lực sản xuất mới, làm tăng năng lực sản xuất của toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung do đó làm tăng tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. Mức ảnh hưởng của đầu tư đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào tổng vốn đầu tư và hệ số ICOR. Mối quan hệ đó được thể hiện qua công thức: Vốn đầu tư Vốn đầu tư Mức tăng GDP( DGDP) = ----------------- hay ICOR = ------------------ ICOR D GDP Hệ số ICOR cho thấy hiệu quả đầu tư của nền kinh tế, nói lên lượng vốn đầu tư cần thiết để tạo ra một đơn vị GDP tăng thêm. Về phương diện lý thuyết khi hệ số ICOR càng thấp chứng tỏ nền kinh tế càng có hiệu quả. Tuy nhiên, trên thực tế ICOR còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như nền kinh tế đang ở trong giai đoạn phát triển nào, đã công nghiệp hoá chưa? Đó là nền kinh tế "đóng" hay "mở"? Mức độ tác động của bối cảnh quốc tế thuận lợi hay khó khăn? Chất lượng quản lý nhà nước về đầu tư cao hay thấp?... ở các nước phát triển, ICOR thường lớn do thừa vốn, thiếu lao động, vốn được sử dụng nhiều thay thế cho lao động, do sử dụng công nghệ hiện đại có giá cao. Còn ở các nước chậm phát triển ICOR thường thấp do thiếu vốn, thừa lao động nên có thể và cần phải sử dụng lao động để thay thế cho vốn, do sử dụng công nghệ kém hiện đại, giá rẻ. ICOR trong nông nghiệp thường thấp hơn trong công nghiệp. Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư. 1.2. Phân loại vốn đầu tư 1.2.1. Phân loại vốn đầu tư theo nguồn hình thành Ngày nay vốn đầu tư của mỗi nước thường gồm 2 nguồn: vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài. 1.2.1.1. Vốn đầu tư trong nước bao gồm các nguồn: Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, vốn tín dụng đầu tư, vốn đầu tư từ các nguồn tự có của doanh nghiệp, vốn đầu tư tích luỹ của dân cư. - Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước là nguồn vốn hình thành trong quá trình hoạt động thu - chi ngân sách nhà nước theo luật ngân sách. Nguồn vốn này chủ yếu được đầu tư cho cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của đất nước, ngoài ra để thực hiện các chương trình mục tiêu kinh tế - xã hội quốc gia. Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước có thể cấp phát không thu hồi và có thể thu hồi thông qua hình thức tín dụng nhà nước. - Vốn tín dụng đầu tư là nguồn vốn huy động và cho vay của ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng dùng để cho vay trung và dài hạn đối với nền kinh tế. Nguồn vốn này do ngân hàng quản lý và cho vay theo luật ngân hàng và luật các tổ chức tín dụng. - Vốn tự có của doanh nghiệp bao gồm vốn doanh nghiệp tích luỹ từ thu nhập kinh doanh, vốn ngân sách cấp vốn điều lệ, vốn khấu hao cơ bản và các nguồn vốn huy động khác. - Vốn đầu tư tích luỹ của dân cư là bộ phận vốn nhàn rỗi chưa sử dụng trong dân cư có thể huy động cho đầu tư phát triển. Xét về lâu dài, vốn trong nước là nguồn vốn quan trọng đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế liên tục, vững chắc và không phụ thuộc của nền kinh tế các nước. Kinh nghiệm thực tế của các nước trong khu vực và của nước ta trong những năm qua, đặc biệt là từ cuộc khủng hoảng tài chính ở khu vực gần đây càng chứng tỏ điều này. 1.2.1.2. Vốn đầu tư nước ngoài bao gồm: vốn viện trợ phát triển chính thức ( ODA), vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGOS), vốn tín dụng thương mại nước ngoài. - Vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) - Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) - Vốn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGO) Vốn tín dụng thương mại nước ngoài 1.2.1.3. Mối quan hệ giữa vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài. Đối với các nước nghèo, để phát triển kinh tế nhanh thì một vấn đề đặt ra là thiếu vốn gay gắt. Do thiếu vốn nên thiếu nhiều điều kiện cho sự phát triển như thiếu công nghệ, thiếu cơ sở hạ tầng... Do dó trong bước đi ban đầu thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế thì không thể không huy động vốn từ nước ngoài. Ngày nay không có một nước chậm phát triển nào trên con đường phát triển lại không tranh thủ nguồn vốn đầu tư từ nước ngoaì, nhất là trong điều kiện nền kinh tế mở. Tuy nhiên, cơ sở để tiếp thu và phát huy tác dụng của vốn đầu tư nước ngoài lại chính là cơ sở vật chất kỹ thuật và khối lượng vốn đầu tư trong nước. Tỷ lệ giữa vốn đầu tư huy động từ trong nước để tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả vốn nước ngoài tuỳ thuộc vào đặc điểm và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước. Với Trung quốc tỷ lệ này là 5:1, một số nước khác thường là 3:1,với Việt Nam theo các nhà kinh tế thì tỷ lệ hợp lý là 2:1. Do đó, xét về lâu dài thì nguồn vốn đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế liên tục, vững chắc và không phụ thuộc phải là nguồn vốn đầu tư từ trong nước. Kinh nghiệm của các nước trong khu vực, nhất là kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực Đông Nam á vừa qua càng chứng tỏ điều này. 1.2.2. Phân loại vốn đầu tư theo mục đích sử dụng Theo mục đích sử dụng vốn đầu tư được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau: Theo mục đích đầu tư vào các ngành kinh tế thì vốn đầu tư chia thành: vốn đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp, vốn đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ, vốn đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Theo mục đích đầu tư vào tài sản, vốn đầu tư chia thành: vốn đầu tư hình thành tài sản cố định ( vốn đầu tư dài hạn) và vốn đầu tư hình thành tài sản lưu động ( vốn đầu tư ngắn hạn ). Theo lĩnh vực đầu tư, vốn đầu tư chia thành: vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng và vốn đầu tư cho kinh doanh. Vốn đầu tư cơ sở hạ tầng không mang lại hiệu quả tài chính trực tiếp mà thông qua đánh giá tổng thể hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế. Vốn đầu tư kinh doanh nhằm tăng năng lực sản xuất, năng suất lao động và chất lượng sản phẩm... Theo khu vực phát triển, vốn đầu tư chia thành: vốn đầu tư vào khu vực đô thị, vốn đầu tư vào khu vực nông thôn đồng bằng, vốn đầu tư vào miền núi... Riêng đối với Hà Nội, đó là vốn đầu tư cho khu vực nội thành và vốn đầu tư cho khu vực ngoại thành. Theo nội dung đầu tư, vốn đầu tư chia thành: vốn đầu tư cho xây lắp, vốn đầu tư cho thiết bị và vốn đầu tư cho kiến thiết cơ bản khác. 1.3 . Cơ cấu vốn đầu tư và phân loại cơ cấu vốn đầu tư Cũng như mọi khái niệm về cơ cấu, cơ cấu vốn đầu tư là một phạm trù phản ánh mối quan hệ về chất và tỷ lệ về lượng giữa các yếu tố cấu thành bên trong của hoạt động đầu tư vốn cũng như giữa các yếu tố đó với tổng thể các mối quan hệ hoạt động kinh tế khác trong quá trình tái sản xuất xã hội. Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, cơ cấu vốn đầu tư thường được đề cập từ khía cạnh nguồn vốn hay từ khía cạnh thực hiện vốn đầu tư. Phân tích cơ cấu vốn đầu tư theo khía cạnh nguồn hình thành vốn rất có ý nghĩa đối với việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư. Thực chất của cơ cấu này là quy định rõ tính chất sở hữu của nguồn vốn đầu tư, từ đó quyết định tính chất sở hữu đối với các tài sản được hình thành từ nguồn vốn đầu tư và do vậy quy định thu nhập và phân phối thu nhập có được do năng lực sản xuất mới tăng thêm tạo ra. Cơ cấu vốn đầu tư theo nguồn vốn tác động trực tiếp đến việc hình thành cơ cấu thành phần kinh tế. Cùng với việc nghiên cứu cơ cấu vốn đầu tư theo nguồn vốn, việc nghiên cứu cơ cấu vốn đầu tư theo khía cạnh thực hiện vốn có ý nghĩa rất quan trọng vì nó nói rõ vốn được phân bổ vào đâu? được sử dụng như thế nào? Theo giác độ thực hiện vốn đầu tư có thể nghiên cứu cơ cấu vốn đầu tư theo rất nhiều khía cạnh khác nhau. Với mục đích nghiên cứu cơ cấu vốn đầu tư phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thường chỉ tập trung nghiên cứu cơ cấu thực hiện vốn đầu tư trên khía cạnh : - Cơ cấu thực hiện vốn đầu tư theo ngành: Đây là loại cơ cấu vốn đầu tư có tác động trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Cơ cấu này quy định tỷ lệ phân bổ vốn đầu tư vào các ngành kinh tế, qua đó quyết định quan hệ tỷ lệ về vốn sản xuất giữa các ngành và cuối cùng quyết dịnh mối quan hệ giữa các ngành về mặt định tính cũng như định lượng. - Cơ cấu kỹ thuật của vốn đầu tư: cơ cấu vốn đầu tư này quyết định tỷ lệ vốn đầu tư phân bổ cấu thành kết cấu kỹ thuật của các công trình đầu tư như: vốn xây lắp, vốn thiết bị, vốn cho kiến thiết cơ bản khác. Cơ cấu đầu tư này có tác động tích cực hình thành cơ cấu kỹ thuật của nền kinh tế. Tuy nhiên trong Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu cơ cấu thực hiện vốn đầu tư theo ngành 1.4. Quan hệ giữa cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tế và sự cần thiết phải định hướng chuyển dịch cơ cấu đầu tư. 1.4.1 Cơ cấu kinh tế và những vấn đề lý luận cơ bản về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành. 1.4.1.1 Cơ cấu kinh tế . Cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận cấu thành của nền kinh tế, cùng các mối quan hệ chủ yếu về định tính và định lượng, ổn định và phát triển giữa các yếu tố cấu thành của nền kinh tế đối với nhau hay toàn bộ hệ thống trong những điều kiện của một nền tái sản xuất xã hội trong hoàn cảnh kinh tế nhất định và trong khoảng thời gian nhất định. Cơ cấu kinh tế không chỉ thể hiện ở quan hệ tỷ lệ mà quan trọng hơn là mối quan hệ tác động qua lại về nội dung bên trong của hệ thống kinh tế. + Cơ cấu kinh tế có các đặc trưng chủ yếu như: - Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan - Cơ cấu kinh tế mang tính lịch sử - Cơ cấu kinh tế mang tính hệ thống - Cơ cấu kinh tế có tính chất động - Cơ cấu kinh tế có tính hướng đích hay mục tiêu - Cơ cấu kinh tế mang tính kế thừa rất rõ rệt + Cơ cấu kinh tế bao gồm các loại chính như sau: - Cơ cấu ngành: là sự kết hợp giữa các ngành trong nền kinh tế quốc dân hoặc từng loại hình sản xuất, từng xí nghiệp trong nội bộ ngành. Cơ cấu lãnh thổ: là sự kết hợp giữa các vùng, lãnh thổ trong toàn quốc hoặc từng đơn vị cơ sở trong mỗi vùng. Cơ cấu các thành phần kinh tế Cơ cấu kinh tế-kỹ thuật: là quan hệ kết hợp theo quy mô trình độ tập trung hoá, chuyên môn hoá, cơ giới hoá... Cơ cấu kinh tế chung: là quan hệ giữa các chỉ tiêu chủ yếu , các mối quan hệ cân đối trong nền kinh tế quốc dân như quan hệ tỷ lệ giữa tích luỹ và tiêu dùng, trong thu nhập quốc dân, giữa đầu tư với tổng sản phẩm quốc dân... Cơ cấu kinh tế quản lý: phản ánh mối quan hệ kết hợp giữa các cấp quản lý kinh tế như Trung ương, địa phương. Trong cơ cấu kinh tế thì cơ cấu ngành là quan trọng nhất vì nó phản ánh tập trung nhất trình độ phát triển của phân công lao động xã hội. Ngành được biểu hiện ở tổng thể các đơn vị kinh tế cùng thực hiện một loại chức năng trong hệ thống phân công lao động xã hội. Nó được phân biệt theo tính chất và đặc điểm của sản phẩm một trong những cách phân loại cơ cấu ngành là cơ cấu: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. Các bộ phận hợp thành của cơ cấu kinh tế có mối quan hệ tác động qua lại chặt chẽ với nhau, tính hợp lý của một cơ cấu kinh tế chính là sự hài hoà, ăn khớp giữa các bộ phận cấu thành, cho phép sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực của xã hội phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn cụ thể. Để đánh giá hiệu quả của một cơ cấu kinh tế cần phải đưa ra các chỉ tiêu đánh giá toàn diện cả về mặt định tính cũng như định lượng. Về mặt định tính: Đó là sự phù hợp, đáp ứng được các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế-chính trị-xã hội đặt ra trong từng thời kỳ cụ thể. Đối với nước ta hiện nay, quan điểm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thập niên 90 được Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VII chỉ rõ: “Phát triển nông lâm-ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế xã hội, đồng thời tăng tốc độ và tỷ trọng của công nghiệp, mở rộng kinh tế dịch vụ theo hướng huy động triệt để các khả năng sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, đẩy mạnh thăm dò, khai thác, chế biến dầu khí và một số khoáng sản, phát triển có chọn lựa một số ngành công nghiệp tư liệu sản xuất khác và các cơ sở thuộc kết cấu hạ tầng, trong đó ưu tiên phát triển điện, giao thông, thuỷ lợi và thông tin liên lạc”. Về mặt định lượng: Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực chất là sự chuyển dịch cơ cấu sản lượng đầu ra. Sự chuyển dịch này phụ thuộc vào hai yếu tố: năng suất lao động và quy mô sử dụng các yếu tố đầu vào như vốn, lao động, tài nguyên và khoa học công nghệ...Từ đó cho thấy hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế xét về mặt lượng thể hiện ở hiệu quả sử dụng các yếu tố đó trên phạm vi toàn nền kinh tế. 1.4.1.2. Một số lý luận cơ bản về sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Về mặt lịch sử có thể thấy quá trình công nghiệp hoá cũng là quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Từ trước đến nay đã có nhiều trường phái lý thuyết đề cập đến vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tuy góc độ tiếp cận có khác nhau. Xét điển hình các quan điểm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong ba trường phái lớn là: Kinh tế học Macxít , kinh tế học thuộc trào lưu chính hiện đại và kinh tế học phát triển. + Kinh tế học Macxít Trong kinh tế học Macxít, vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế sẽ được trình bày tập trung trong 2 học thuyết: Phân công lao động xã hội và tái sản xuất tư bản xã hội. Học thuyết về phân công lao động xã hội đã chỉ rõ những điều kiện tiền đề cần thiết quyết định sự thay đổi về chất của cuộc cách mạng công nghiệp nhằm tạo ra cơ sở vật chất của phương thức sản xuất TBCN hiện đại. Những tiền đề đó là: - Sự tách rời giữa thành thị và nông thôn. Số lượng dân cư và mật độ dân số. Năng suất lao động trong nông nghiệp được nâng cao đủ để cung cấp sản phẩm “tất yếu” cho cả những người lao động trong nông nghiệp lẫn những người lao động thuộc các ngành sản xuất khác. Điều kiện có ý nghĩa quyết định cuộc cách mạng công nghiệp của CNTB là sản xuất hàng hoá và phát triển kinh tế thị trường. Đặc biệt trong học thuyết tái sản xuất TBXH đã phân tích mối quan hệ giữa các ngành sản xuất trong quá trình vận động và phát triển. Thông qua việc phân tích sự trao đổi sản phẩm giữa các khu vực sản xuất, có chú ý đến tác động của khoa học-kỹ thuật dưới khái niệm “cấu tạo hữu cơ ”, học thuyết về tái sản xuất TBXH đã nêu lên mối quan hệ giữa các ngành trong mệnh đề cơ bản như sau: “sản xuất tư liệu sản xuất để chế tạo tư liệu sản xuất tăng nhanh nhất; sau đó đến sản xuất tư liệu sản xuất để chế tạo tư liệu tiêu dùng; và chậm nhất là sự phát triển của sản xuất tư liệu tiêu dùng ” + Kinh tế học thuộc trào lưu chính: Do đối tượng của kinh tế học thuộc trào lưu chính là nền kinh tế thị trường phát triển nên vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế không phải là mục tiêu phân tích trực tiếp. Song với mục tiêu duy trì sự hoạt động có hiệu quả của nền kinh tế, kinh tế học hiện đại một mặt đi sâu phân tích các điều kiện đảm bảo sự hoạt động hiệu quả của thị trường, mặt khác đề cao vai trò của Nhà nước nhằm khắc phục những hạn chế của thị trường thông qua hàng loạt chính sách kinh tế vĩ mô. Trên góc độ đó, những phân tích về xu hướng chuyển dịch về cơ cấu kinh tế ở những nền kinh tế phát triển dưới tác động của cách mạng khoa học-công nghệ và xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới đã đóng góp một phần quan trọng vào lý luận chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các nước đang phát triển. Hầu hết các công cụ phân tích động thái tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đang được sử dụng trong các lý thuyết phát triển mà đối tượng của nó là các nền kinh tế đang phát triển. + Các lý thuyết phát triển. Với việc tổng kết kinh nghiệm ở các nước khác nhau trên con đường phát triển, vận dụng các công cụ phân tích của kinh tế học hiện đại, lý thuyết phát triển có nhiệm vụ tìm ra con đường hoặc mô hình phát triển kinh tế cho các nước chậm phát triển. Do vậy, động thái tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như mối quan hệ qua lại giữa chúng trở thành những nội dung cơ bản của trường phái lý thuyết kinh tế này. Tuy nhiên, do địa bàn khảo sát khác nhau và góc độ tiếp cận khác nhau nên vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế được xem xét ở những góc độ không giống nhau. Lý thuyết phân kỳ của Walt Rostow cho rằng phát triển kinh tế ở một nước trải qua 5 giai đoạn tuần tự: xã hội truyền thống, giai đoạn chuẩn bị cất cánh, giai đoạn cất cánh, giai đoạn chuyển tới sự chín muồi về kinh tế, và giai đoạn phát triển cao. Theo lý thuyết này, hầu hết các nước đang phát triển hiện nay đang ở vào khoảng giữa giai đoạn 2 và 3. Ngoài những dấu hiệu kinh tế-xã hội khác, về mặt cơ cấu thể hiện ở sự hình thành một số ngành công nghiệp chế biến có khả năng tạo tích luỹ, lôi kéo nền kinh tế, tạo lập một số lĩnh vực có vai trò đầu tàu, chuẩn bị cho giai đoạn phát triển tiếp theo. Nghĩa là trong chính sách cơ cấu, các nước có xu hướng chung là lựa chọn và ấn định một trật tự ưu tiên phát triển cho các ngành và lĩnh vực trong từng giai đoạn cụ thể. Lý thuyết Nhị nguyên do A.Lewis khởi xướng tiếp cận vấn đề cơ cấu từ thực tế các nước đang phát triển. Theo thuyết này nền kinh tế ở các nước đang phát triển có hai khu vực song song tồn tại: khu vực kinh tế truyền thống (chủ yếu là nông nghiệp ) và khu vực kinh tế công nghiệp (nhập khẩu từ bên ngoài). Do khu vực truyền thống có năng suất lao động thấp, dư thừa lao động nên có thể di chuyển một phần lao động sang khu công nghiệp mà không ảnh hưởng đến sản lượng nông nghiệp. Còn công nghiệp, do năng suất lao động cao, có thể tự tích luỹ để mở rộng sản xuất một cách độc lập không phụ thuộc vào những điều kiện chung của nền kinh tế. Như vậy theo thuyết này thì chỉ cần tập trung ưu tiên phát triển công nghiệp hiện đại càng nhanh càng tốt và khi công nghiệp phát triển sẽ dần dần rút lao động từ khu vực nông nghiệp chuyển nền kinh tế từ trạng thái nhị nguyên thành nền kinh tế công nghiệp phát triển. Trong thực tế thuyết nhị nguyên tỏ ra không phù hợp với nền kinh tế các nước đang phát triển. Bởi vì, Thứ nhất, khu vực công nghiệp hiện đại chưa đủ lớn mạnh để thu nhận hết lao động từ nông nghiệp. Thứ hai, trình độ chuyên môn của người lao động nông nghiệp rất hạn chế, chưa được đào tạo và không thể đáp ứng được đòi hỏi của ngành công nghiệp du nhập có hàm lượng sử dụng lao động thấp. Nhiều nhà kinh tế đã tiếp tục nghiên cứu và bổ xung vào lý thuyết này. Họ đã lần lượt chỉ ra giới hạn trong quan hệ chuyển đổi giữa hai khu vực và đi tới khẳng định sự cần thiết quan tâm thích đáng tới nông nghiệp trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Lý thuyết cân đối liên ngành: Quan điểm của trường phái này cho rằng để nhanh chóng công nghiệp hoá cần phát triển đồng đều ở tất cả mọi ngành kinh tế quốc dân, sự tác động qua lại giữa các ngành là nội lực duy nhất tạo ra sự tăng trưởng của các ngành đó. Do tư duy khép kín trong nền kinh tế đóng, lý thuyết này đã bộc lộ hai yếu điểm lớn: + Việc phát triển một cơ cấu kinh tế cân đối, hoàn chỉnh đã biệt lập nền kinh tế với thế giới bên ngoài. + Do hạn chế về nguồn lực, việc phát triển theo kiểu dàn đều làm phân tán nguồn lực và không cho phép thực hiện được mục tiêu cơ cấu đã đề ra ban đầu. Lý thuyết phát triển cơ cấu ngành không cân đối: Những người đại diện của trường phái này như: A. Hirschman, F. Perrens, G.Destanne de Bernis cho rằng không thể và không cần thiết phải duy trì cơ cấu liên ngành hoàn chỉnh cho mọi quốc gia với những lý do sau đây: + Phát triển cân đối sẽ triệt tiêu động lực kích thích đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng. + Trong mỗi giai đoạn phát triển, vai trò tạo “cực tăng trưởng” của các ngành là ._.không giống nhau, trên cơ sở lợi thế so sánh mà các ngành khai thác được là khác nhau. + Nguồn lực của các nước bước vào công nghiệp hoá rất hạn chế, thị trường chưa phát triển, việc bố trí dàn trải sẽ làm phân tán nguồn lực. Do những lý do trên, việc phát triển cơ cấu không cân đối là một sự lựa chọn bắt buộc, nhất là trong xu thế mở cửa, quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới như hiện nay. Lý thuyết phát triển theo mô hình “đàn nhạn bay”. Người khởi xướng lý thuyết này là giáo sư Kaname Akamatsu đã khẳng định khả năng đuổi kịp các nước đi trước của các nước đang phát triển và đưa ra những kiến giải về quá trình đuổi kịp đó. Ông chia quá trình “đuổi kịp” ra thành 4 giai đoạn theo trình tự sau: + Giai đoạn 1: Các nước đang phát triển nhập hàng công nghiệp chế biến từ các nước phát triển hơn và xuất khẩu sản phẩm thủ công đặc biệt. + Giai đoạn 2: Nhập hàng từ các nước công nghiệp để phát triển sản xuất hàng tiêu dùng trước đây vẫn phải nhập khẩu. Những ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng thay thế nhập khẩu phát triển mạnh trong giai đoạn nay. Song những điều chỉnh cơ cấu kinh tế vĩ mô lại được dành ưu tiên cho các ngành trợ giúp đặc biệt là cơ sở hạ tầng. + Giai đoạn 3: Sản phẩm tiêu dùng thay thế nhập khẩu đã đạt đến trình độ xuất khẩu. Nền kinh tế đã có thể tự sản xuất các sản phẩm đầu tư để tự mở rộng sản xuất. ở giai đoạn này cơ cấu hàng công nghiệp đã trở nên đa dạng hơn. + Giai đoạn 4: Xuất khẩu hàng công nghiệp tiêu dùng đã bắt đầu giảm xuống, thay vào đó là hàng hoá đầu tư. Về mặt kỹ thuật nền công nghiệp đã có thể đạt ngang bằng với các nước công nghiệp phát triển và thực hiện chuyển giao một số ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng sang các nước kém phát triển hơn. Lý thuyết phát triển theo mô hình “đàn nhạn bay” có nhiều điểm tương đồng với lý thuyết phát triển cơ cấu ngành không cân đối, trên cơ sở tạo ra các cực tăng trưởng nhanh, hướng về xuất khẩu trên cơ sở tận dụng các lợi thế so sánh. Tóm lại: trên phương diện lý luận, vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành đã được nhiều trường phái kinh tế phân tích. Do đứng từ những góc độ khác nhau và cách tiếp cận khác nhau nên các quan niệm về vấn đề cơ cấu ngành kinh tế cũng không giống nhau. Đó là cách thức phân chia ngành trong nền kinh tế, là tiêu chuẩn đánh giá vai trò của các ngành trong sự phát triển của nền kinh tế, là sự khác nhau trong các kết luận rút ra,...Sự khác nhau như vậy cũng là điều bình thường. Vấn đề là khi phân tích và vận dụng chúng, phải đúng trong logic của mỗi lý thuyết đó để tìm ra được các đặc thù trong mô hình thực tế được lựa chọn và áp dụng. 1.4.2. Mối quan hệ giữa cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tế Trên giác độ kinh tế vĩ mô, đầu tư với chức năng quan trọng tác động trực tiếp vào quá trình tái sản xuất xã hội và làm biến đổi cơ cấu kinh tế. Do đó, cơ cấu vốn đầu tư có mối quan hệ mật thiết với sự hình thành và biến đổi của cơ cấu kinh tế. Những tác động chủ yếu của cơ cấu đầu tư đến cơ cấu kinh tế thể hiện ở các nội dung sau: - Thứ nhất, một sự thay đổi về số tuyệt đối hoặc tỷ trọng vốn đầu tư trong mỗi ngành sẽ làm thay đổi năng lực sản xuất và do đó làm thay đổi sản lượng của ngành đó dẫn đến làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Mức tác động của thay đổi cơ cấu đầu tư đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế tuỳ thuộc vào động thái tăng trưởng sản lượng và mức độ phát triển hợp lý của mỗi ngành. - Thứ hai, tốc độ tăng trưởng kinh tế của mỗi ngành không chỉ phụ thuộc vào khối lượng gia tăng vốn đầu tư mà còn phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng nguồn vốn đó. Nghĩa là vốn đầu tư được sử dụng phải phù hợp với các nguồn đầu vào khác như lao động, tài nguyên và công nghệ, phải cho phép phát huy được các lợi thế của ngành. Tức là mức độ ảnh hưởng của cơ cấu vốn đầu tư đến cơ cấu kinh tế tuỳ thuộc vào hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trong nội bộ mỗi ngành. - Thứ ba, do đầu tư là một quá trình có độ trễ về thời gian và độ dài của thời gian trễ thường khác nhau giữa các ngành, hiệu quả tác động của cơ cấu vốn đầu tư đến sự thay đổi cơ cấu kinh tế chỉ có thể diễn ra khi vốn đầu tư được phát huy hiệu quả trong sản xuất xã hội. Sự tác động của cơ cấu vốn đầu tư đối với cơ cấu tổng cung và cơ cấu tổng cầu của nền kinh tế là không cùng thời điểm. Từ hai nhận xét trên cho thấy cơ cấu vốn đầu tư và cơ cấu kinh tế có mối quan hệ độc lập tương đối. Vì vậy, khi bố trí cơ cấu vốn đầu tư không chỉ xem xét sự tác động trực tiếp, trước mắt của cơ cấu vốn đầu tư tới cơ cấu kinh tế, mà phải có cái nhìn chiến lược lâu dài, có như vậy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mục tiêu định hướng mới được thực hiện một cách có hiệu quả. - Thứ tư, trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ cấu đầu tư được hình thành từ hai lực tác động: thị trường và định hướng của nhà nước. Dưới tác động của thị trường, việc phân bổ vốn đầu tư vào đâu, nhằm sản xuất cái gì và lựa chọn công nghệ nào là do tác động của giá cả trên cơ sở quan hệ cung cầu trên thị trường. Điều này dẫn đến xu hướng tự phát hình thành cơ cấu đầu tư và theo đó tự phát hình thành cơ cấu kinh tế. Để hạn chế những mặt tự phát của thị trường, nhà nước sử dụng một hệ thống chính sách và các công cụ, kể cả việc sử dụng vốn đầu tư của nhà nước để định hướng cho mọi thành phần kinh tế đầu tư theo mục tiêu đã định. Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy con đường tất yếu để tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao là tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển nhanh ở khu vực công nghiệp và dịch vụ. Đối với các ngành nông, lâm, ngư nghiệp do những hạn chế về đất đai, về khả năng sinh học, để đạt tốc độ tăng trưởng 5-6% là rất khó khăn. Đầu tư còn là điều kiện tiên quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của nền kinh tế. Với trình độ công nghệ lạc hậu của nền kinh tế hiện nay, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế sẽ gặp nhiều khó khăn nếu chúng ta không có một chiến lược đầu tư phát triển công nghệ nhanh và vững chắc. Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về trình độ phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo; phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế kinh tế, chính trị,... của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển ( ví dụ tập trung đầu tư phát triển mạnh các vùng kinh tế động lực, làm bàn đạp thúc đẩy kinh tế cả nước phát triển). Như vậy, chính sách đầu tư có tính chất quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia, các vùng, các địa phương nhằm đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. 1.4.3. Sự cần thiết phải điều chỉnh cơ cấu đầu tư. Trong 15 năm đổi mới, nền kinh tế Thủ đô đã vượt qua nhiều thử thách lớn, đạt tốc độ tăng trưởng cao và liên tục. Những thành tựu trong công cuộc đổi mới đã và đang tạo thế và lực mới cho kinh tế Thủ đô bước vào một thời kỳ phát triển cao hơn. Những tiền đề cần thiết cho công nghiệp hoá, hiện đại hóa đã được tạo ra. Quan hệ kinh tế với các nước trên thế giới đã và đang được mở rộng hơn bao giờ hết. Khả năng hội nhập trên tinh thần giữ vững độc lập tự chủ của đất nước đang ngày càng tăng thêm. Đó là những cơ hội lớn để chúng ta tiếp tục phát triển trong thời gian tới. Tuy nhiên, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực vẫn là thách thức to lớn và gay gắt do điểm xuất phát của ta quá thấp, lại phải đi lên trong môi trường cạnh tranh quyết liệt. Để thoát khỏi một cách cơ bản tình trạng yếu kém của nền kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, giải quyết những vấn đề xã hội đặt ra cần phải đảm bảo tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững đi liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong đó, theo nội dung của phát triển kinh tế, tăng trưởng cao cùng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý là nội dung cơ bản có tính chất quyết định. Tăng trưởng kinh tế là tăng quy mô sản lượng đầu ra của nền kinh tế tính bằng chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước ( GDP), thực chất là nâng cao tiềm lực sản xuất của nền kinh tế. Tăng trưởng kinh tế được quyết định bởi mức gia tăng quy mô sử dụng các yếu tố đầu vào và hiệu qủa sử dụng chúng. Trong các yếu tố đầu vào , thực tế phát triển của các nước đi trước với những điều kiện tương đồng cho thấy vốn đầu tư là một trong những yếu tố quan trong nhất. Là một nước nghèo như nước ta, sự thiếu vốn cho đầu tư phát triển của nước ta nói chung, của Thủ đô Hà Nội nói riêng nổi lên như một cản trở chủ yếu đối với yêu cầu tăng trưởng kinh tế. Vì vậy về mặt này có hai đòi hỏi đặt ra một cách nghiêm khắc là: - Một là phải tranh thủ tối đa mọi nguồn vốn bên trong và bên ngoài, của nhà nước cũng như của mọi thành phần kinh tế cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao. - Hai là khi đã có vốn phải quản lý và sử dụng vốn một cách tiết kiệm và hiệu quả sao cho vừa tăng trưởng kinh tế cao nhằm giảm sự tụt hậu so với các nước, vừa tránh hậu quả quá phụ thuộc vào nước ngoài như một số nước đã vấp phải. Nâng cao hiệu quả vốn đầu tư phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau, nhưng trên giác độ kinh tế vĩ mô thì trước hết và quan trọng hơn hết là phân bố vốn vào đâu, theo số lượng và tỷ lệ như thế nào. Nói một cách khác là cần sử dụng vốn theo một cơ cấu tối ưu và hiệu quả nhất. Một cơ cấu đầu tư tối ưu vừa cho phép nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, vừa là phương tiện để hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý đảm bảo tăng trưởng nhanh và bền vững. Song cơ cấu đầu tư không phải là bất biến, cũng giống như cơ cấu kinh tế không phải là cố định. Sở dĩ như vậy là vì cơ cấu đầu tư phụ thuộc vào nhiều nhân tố và các nhân tố đó lại luôn vận động và phát triển. Sự thay đổi của cơ cấu đầu tư và sự tác động của nó đến cơ cấu kinh tế diễn ra một cách thường xuyên, lặp đi lặp lại theo hướng tiệm cận đến những cơ cấu kinh tế tối ưu. Quá trình thay đổi đó mang tính chất khách quan, dưới tác động của các quy luật kinh tế. Thông qua việc nhận thức ngày càng đầy đủ và sâu sắc cơ chế tác động của các quy luật kinh tế mà nhà nước có thể định hướng, điều tiết quá trình thay đổi cơ cấu đầu tư hướng vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã được trù định. 1.5. Kinh nghiệm một số nước trên thế giới về chuyển dịch cơ cấu đầu tư Các quốc gia khác nhau, có những điểm rất khác nhau về điểm xuất phát, về các điều kiện trong và ngoài nước... và do đó có cách lựa chọn riêng về con đường và bước đi để đạt mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, nghiên cứu kinh nghiệm thành công và cả thất bại của các nước, nhất là các nước có điều kiện khá tương đồng với Việt Nam vẫn luôn có ý nghĩa đối với nước ta trong quá trình phát triển. 1.5.1. Hàn Quốc. Hàn Quốc ra khỏi chiến tranh và bước vào quá trình phát triển với điểm xuất phát rất thấp, với một nền nông nghiệp tồi tàn và các cơ sở công nghiệp nhẹ nhỏ nhoi. Quá trình cải biến về chính sách khuyến khích và điều chỉnh cơ cấu đầu tư của Hàn Quốc từ sau chiến tranh Triều Tiên đến nay là một quá trình liên tục phát triển nền kinh tế. Quá trình đó cũng là quá trình thay đổi chiến lược công nghiệp hoá và có thể chia thành 4 giai đoạn: - Giai đoạn từ kết thúc chiến tranh đến năm 1960: có đặc điểm là thực hiện chiến lược thay thế hàng nhập khẩu thuần tuý. - Giai đoạn kéo dài suốt thập kỷ 60: với việc thực hiện bước quá độ chuyển sang chiến lược hướng về xuất khẩu. ở thời kỳ này các ngành được khuyến khích phát triển và ưu tiên đầu tư là các ngành: công nghiệp dệt, gỗ giầy dép. Đây là những ngành sử dụng nhiều lao động, cần ít vốn. - Những năm của thập kỷ 70: Vào những năm đầu của thập kỷ 70, chiến lược hướng về xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng lao động nhiều đã gặp bế tắc do tiền công tăng nhanh, yêu cầu ngày càng tăng về nhập khẩu tư liệu sản xuất ( máy móc, thiết bị, công nghệ và vật tư phục vụ sản xuất). Năm 1973 Chính phủ Hàn Quốc đã chủ trương phát triển công nghiệp nặng và hoá chất. Chiến lược này đã thúc đẩy sản xuất thay thế nhập khẩu các sản phẩm trung gian và tư liệu sản xuất; phát triển các ngành công nghiệp cần nhiều vốn như đóng tầu, sản xuất xe hơi, sắt thép, kim loại mầu và hoá dầu. Chính phủ đã lập quỹ đầu tư quốc gia nhằm cung ứng vốn cho các công trình đầu tư lớn với lãi xuất ưu đãi. Chiến lược đó đã dẫn đến việc đầu tư quá nhiều vào các ngành công nghiệp nặng và hoá chất, xem nhẹ ngành công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều nhân công và các xí nghiệp vừa và nhỏ. Thời kỳ 1973-1976 có đến 71% trong tổng vốn đầu tư cho ngành chế tác là dành cho công nghiệp nặng và hoá chất. Thời kỳ 1977-1979 tỷ lệ này là 79,1%. Kết quả của chính sách đầu tư trên đã dẫn đến tình trạng tập trung phát triển công nghiệp nặng và hoá chất mà không cân nhắc đến thị trường trong nước và quốc tế. Trong khi đó các ngành công nghiệp nhẹ truyền thống nhanh chóng mất đi khả năng trên thị trường quốc tế. - Giai đoạn từ 1980 đến nay: Là giai đoạn thực hiện tự do hoá. Chính phủ chủ trương khuyến khích tất cả các ngành kinh tế, các thành phần kinh tế đều phát triển trong môi trường cạnh tranh. Một nội dung quan trọng chiến lược phát triển thời kỳ này là cải cách hệ thống công nghiệp; giảm thiểu khu vực kinh tế nhà nước, mở rộng khu vực kinh tế tư nhân; tăng cường đầu tư cho các xí nghiệp vừa và nhỏ, các ngành tiết kiệm năng lượng. 1.5.2. Đài Loan Đầu những năm 1950, Đài Loan còn là một nước nông nghiệp, không có tài nguyên, thiếu việc làm và kinh tế thấp kém. Lợi thế lớn nhất của Đài Loan là có một lực lượng lao động với khả năng tiếp thu công nghệ mới. Đài Loan đã sớm thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, đặt các doanh nghiệp của mình trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Để phát huy lợi thế về lao động Đài Loan thực hiện chính sách gia công và chuyên môn hoá với các doanh nghiệp nước ngoài. Trong những năm 60 Đài Loan chủ trương gia công chế biến hàng công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng. Đến thập kỷ 70 bắt đầu phát triển một số ngành công nghiệp nặng như luyện kim, hoá chất và chế tạo máy. Thập kỷ 80 Đài Loan bắt đầu chuyển sang phát triển công nghiệp công nghệ cao như điện tử, thông tin, rôbot... Hiện nay Đài Loan được coi là nước dư thừa vốn ( năm 1993 thừa 70 tỷ USD) và thực hiện chính sách xuất khẩu tư bản ra nước ngoài. Trong cơ cấu công nghệ Đài Loan thực hiện chính sách sử dụng công nghệ loại vừa, phát huy hiệu quả nhanh sau đó chuyển giao sang nước thứ ba. Bài học rút ra từ bố trí cơ cấu vốn đầu tư của Đài Loan là luôn luôn tìm cách khai thác lợi thế so sánh, thực hiện một chính sách cơ cấu đầu tư linh hoạt, thích ứng nhanh với sự thay đổi của lợi thế so sánh. Đài Loan cũng mạnh dạn đặt các doanh nghiệp trong nước trong môi trường cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, tạo sức ép thúc đẩy nâng cao không ngừng trình độ công nghệ, chất lượng hàng hoá, cải biến cơ cấu công nghiệp một cách hiệu quả. 1.5.3. ấn Độ và Trung Quốc ấn Độ và Trung Quốc do đặc điểm có nguồn lao động dồi dào, tài nguyên phong phú, thị trường trong nước rộng lớn, đã đề cao cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tế hướng nội. Chủ trương của hai quốc gia này giống nhau ở chỗ đều mong muốn xây dựng một cơ cấu kinh tế hoàn chỉnh, cân đối trên cơ sở dựa vào sức của mình là chính. Sau khi chủ trương đi từ công nghiệp nặng không thành công đã chuyển sang phát triển nông nghiệp để ổn định tình hình kinh tế - xã hội. Do quá đề cao kinh tế quốc doanh, trong nhiều thập kỷ đã không khai thác được lực lượng kinh tế tư nhân trong khi kinh tế quốc doanh có nhiều khó khăn, kém hiệu quả, chất lượng sản phẩm kém và khả năng cạnh tranh yếu. 1.5.4. Các nước ASEAN Các nước ASEAN có chung đăc điểm là trước chiến tranh thế giới thứ hai hầu hết đều là thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ với nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp nhỏ bé, chủ yếu là các cơ sở khai thác khoáng sản nhằm cung cấp nhiên liệu cho các nước chính quốc. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nước này lần lượt dành được chủ quyền về chính trị. Trong hai thập kỷ sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nước đã bắt tay vào khôi phục kinh tế và xây dựng nền kinh tế dân tộc theo chiến lược " phát triển công nghiệp thay thế hàng nhập khẩu". Chiến lược hướng nội sau một thời gian đã tỏ ra không hiệu quả, hạn chế sự phát triển kinh tế bởi không hoà nhập được với nền kinh tế thế giới, thị trường trong nước lại nhỏ hẹp và không thu hút được vốn đầu tư nước ngoài. Tình hình đó buộc các nước này chuyển sang chiến lược " phát triển công nghiệp hướng vào xuất khẩu", tạo khả năng tiếp thu nhanh các tiến bộ khoa học công nghệ cũng như thu hút vốn đầu tư nước ngoài để khai thác các thế mạnh đang còn ở dạng tiềm năng ở trong nước. Nhờ sự điều chỉnh chiến lược phát triển phù hợp, trong mấy thập kỷ gần đây, các nước ASEAN đã trở thành một trong những khu vực phát triển kinh tế năng động của thế giới. Biểu 1: Tốc độ tăng trưởng ( GDP) một số nước ASEAN Đơn vị: % Nước 71-80 81-90 1985 1986 1987 1988 1989 1990 Inđônêxia Thái Lan Philippin Malaixia Singapo 7,9 9,9 6,2 8,0 9,0 5,5 7,8 1,2 5,2 6,3 2,5 3,5 -4,3 -1,0 -1,6 5,9 4,5 1,4 1,2 1,8 4,9 9,5 4,7 5,2 9,4 5,7 13,2 6,3 8,9 11,9 7,4 12,0 5,6 8,8 9,2 7,0 10,0 2,5 9,4 8,3 Nguồn: Hai thập kỷ phát triển của Châu á và triển vọng những năm 80 KHXH-Hà Nội 1990. Cơ cấu kinh tế các nước thay đổi cơ bản theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp. Biểu 2: Cơ cấu các ngành tính theo GDP của các nước ASEAN Đơn vị: % Thời kỳ 1950 1970 1990 CN NN DV CN NN DV CN NN DV Inđônêxia Philippin Thái Lan Malaixia Singapo 15,9 24,8 26,8 12,7 17,6 49,0 40,6 40,9 44,3 3,5 31,5 34,6 32,2 38,5 78,9 41,3 36,2 30,8 35,8 38,8 24,4 25,6 20,5 22,9 1,1 34,3 38,3 48,6 41,3 60,0 40,6 33,0 5,3 41,7 36,9 19,7 26,9 14,2 19,4 0,3 39,6 40,1 50,1 38,9 63,8 Nguồn: Tăng trưởng kinh tế ở châu á gió mùa- UBKHXH - Harry oshima Những thành công của các nước ASEAN trong phát triển kinh tế mấy thập kỷ qua phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Song yếu tố quyết định là các nước này đã có chính sách phù hợp huy động được nguồn vốn đầu tư lớn cả từ trong nước và nước ngoài cho phát triển kinh tế của nước mình cũng như phân bổ hợp lý và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư đó. Trong công nghiệp xuất hiện xu hướng chuyển dịch cơ cấu từ công nghiệp tốn ít vốn, quay vòng nhanh, sử dụng nhiều lao động chuyển dần sang ngành có hàm lượng công nghệ cao đòi hỏi sử dụng nhiều vốn hơn song vẫn dùng nhiều lao động và hướng về xuất khẩu. Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong những năm 70 được coi là yếu tố quyết định sự phát triển của ngành công nghiệp và toàn bộ nền kinh tế các nước ASEAN. Đầu tư trực tiếp nước ngoài phần lớn được tập trung vào những ngành mũi nhọn kỹ thuật hiện đại để xuất khẩu như chế biến dầu, sửa chữa và đóng tầu, dụng cụ quang học và điện tử, công nghiệp chế biến. Trong nông nghiệp, các lĩnh vực được ưu tiên đầu tư là: - Cơ sở hạ tầng nông nghiệp: chủ yếu là đường giao thông nông thôn, và nối liền các vùng nông thôn với các trung tâm kinh tế. - Đầu tư cho hệ thống thuỷ lợi chiếm 50% tổng đầu tư cho nông nghiệp - Đầu tư cho sản xuất phân bón - Thực hiện các chính sách tín dụng nông nghiệp phù hợp nhằm hỗ trợ cho nông dân ổn định đời sống và phát triển sản xuất. 1.5.5. Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam Từ kinh nghiệm phát triển kinh tế của các nước Châu á có thể rút ra một số kinh nghiệm trong điều chỉnh cơ cấu đầu tư phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế như sau: - Một là, để đạt mức tăng trưởng kinh tế cao, mở rộng đầu tư là yếu tố cực kỳ quan trọng. Để nâng mức đầu tư cần mở rộng tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế kết hợp với nhập khẩu vốn từ nước ngoài. Hai là, để sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư cần khuyến khích khu vực tư nhân tham gia ngày càng nhiều vào đầu tư và đầu tư cho xuất khẩu. Vốn nhập khẩu chủ yếu sử dụng để xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Ba là, thực hiện đường lối kinh tế hướng vào xuất khẩu, mở cửa nền kinh tế, tăng cường cạnh tranh, gắn thị trường trong nước với thị trường thế giới, chú ý phối hợp cơ cấu kinh tế trong nước với cơ cấu kinh tế trong vùng. Bốn là, phát triển kinh tế hướng vào xuất khẩu kết hợp với sản xuất thay thế hàng nhập khẩu để đảm bảo không phụ thuộc vào nước ngoài; đảm bảo tính đồng bộ trong cơ cấu ngành , nhất là ngành công nghiệp. Năm là, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân; kinh tế nhà nước chỉ tập trung vào những lĩnh vực có tính chất quyết định sự phát triển của nền kinh tế, các lĩnh vực mà tư nhân không có khả năng làm và không muốn làm. Kết hợp quy mô lớn với quy mô vừa và nhỏ. Đồng thời lựa chọn các công nghệ tiên tiến, tăng cường đầu tư chiều sâu. Sáu là, trong bố trí vốn đầu tư cần chú trọng giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển công nghiệp với phát triển nông nghiệp; mối quan hệ giữa các vùng lãnh thổ. Bẩy là, để sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư, cơ cấu vốn đầu tư cần được bố trí theo hướng tận dụng cao nhất lợi thế so sánh của đất nước và chủ động tạo ra những lợi thế so sánh mới, bảo đảm tính linh hoạt của cơ cấu kinh tế để thích ứng với sự thay đổi về lợi thế so sánh, bảo đảm phát triẻn kinh tế nhanh và bền vững. Chương 2 Thực trạng cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư theo ngành trên địa bàn hà nội giai đoạn 1996-2000 2.1. Những đặc điểm kinh tế - xã hội cơ bản của Thủ đô Hà nội khi bước vào thời kỳ kế hoạch 5 năm 1996-2000 và những chủ trương chính sách trong đầu tư của Thành phố. 2.1.1. Đặc điểm kinh tế xã hội: Năm năm 1991-1995 là thời kỳ mà kinh tế - xã hội Thủ đô đạt được những thành tựu đầy ấn tượng. Hầu hết các chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm đều đạt và vượt mức đề ra. GDP tăng bình quân 12,52%/ năm, GDP bình quân đầu người tăng gần 10% /năm; giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 19,07%/ năm, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 4,82%/ năm; tổng mức bán lẻ hàng hoá, dịch vụ tăng 4 lần; tổng kim ngạch xuất khẩu của địa phương tăng bình quân 14,6%/ năm... Trên cơ sở những thành quả đã đạt được của kế hoạch 5 năm và của cả thời kỳ đổi mới bắt đầu từ năm 1986, Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà nội lần thứ 12 đã đề ra phương hướng, mục tiêu cho kế hoạch 5 năm 1996-2000 như sau : Mục tiêu tổng quát của thời kỳ 1996-2000 1. Đẩy nhanh hơn nữa nhịp độ tăng trưởng kinh tế với cơ cấu kinh tế phù hợp và hiệu quả kinh tế ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Thủ đô và đất nước. 2. Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, tăng cường vai trò quản lý của các cấp chính quyền đối với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. 3. Tiếp tục hoàn chỉnh quy hoạch và quản lý xây dựng theo quy hoạch, cải tạo và xây dựng mới kết cấu hạ tầng, quản lý tốt đô thị, giữ gìn Thủ đô sạch đẹp. 4. Cải thiện hơn nữa đời sống vật chất và văn hoá, môi trường sống của nhân dân, tăng hộ giầu, giảm hẳn hộ nghèo, chăm lo đời sống các đối tượng chính sách xã hội. Kiên trì cuộc đấu tranh có hiệu quả chống tham nhũng và các tệ nạn xã hội, xây dựng nếp sống trật tự kỷ cương, văn minh, thanh lịch, gia đình văn hoá, xây dựng con người mới. 5. Tiếp tục giữ vững ổn định chính trị. Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của chính quyền, quyền làm chủ của nhân dân, đảm bảo vững chắc an ninh - quốc phòng. Trong đầu tư, đã xác định mục tiêu phát triển mạnh với 3 khâu đột phá và trọng điểm đầu tư lớn: Xây dựng các khu công nghiệp tập trung, xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ du lịch và thương mại. Thực hiện những chủ trương và định hướng trên, 5 năm qua Thành phố đã chủ trương: - Đẩy mạnh công tác huy động vốn cho đầu tư phát triển, tiếp tục thực hiện chương trình số 13/CTr-TU của Thành uỷ. - Chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo hướng phục vụ cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế. - Tập trung đầu tư cho các chương trình, dự án trọng tâm, trọng điểm; kế hoạch 5 năm 1996-2000 xác định các khâu đột phá và trọng điểm đầu tư gồm: Tập trung đầu tư các khu công nghiệp tập trung; chú trọng các ngành công nghiệp chủ lực như cơ khí, điện tử, dệt da may, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp xây dựng; xây dựng kết cấu hạ tầng ( giao thông, vận tải, cấp thoát nước...); xây dựng cơ sở vật chất phục vụ du lịch; xây dựng một số siêu thị. - Tăng cường xã hội hoá đầu tư phát triển ở một số lĩnh vực như y tế, giáo dục, vệ sinh môi trường, xây dựng đường làng ngõ xóm... theo phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm. - Kết hợp nhiều nguồn vốn đầu tư cho mỗi dự án và lồng ghép các dự án đầu tư nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư từ nhiều nguồn. - Ưu tiên tập trung vốn cho các công trình sớm hoàn thành đưa vào sử dụng. - Chú trọng thu hút mọi nguồn vốn cho đầu tư phát triển, cả vốn trong nước và vốn đầu tư nước ngoài. 2.1.2. Các điều kiện tự nhiên-Xã hội tác động đến phát triển kinh tế Thủ đô 2.1.2.1. Vị trí địa lý - chính trị: Thủ đô Hà nội nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc bộ. Với vị trí địa lý và địa thế tự nhiên của mình, Hà nội đã sớm có một vai trò đặc biệt trong sự hình thành và phát triển của dân tộc Việt nam. Nhiều triều đại đã chọn các đế đô nằm bao quanh Hà nội trong vòng bán kính 20-30 km. Từ năm 1010 Hà nội đã được Lý Công Uẩn chọn làm Thủ đô của cả nước Đảng và Nhà nước đã xác định: Hà nội là Thủ đô của nước Cộng hoà XHCN Việt nam. NQ 15 của Bộ chính trị và Pháp lệnh Thủ đô Hà Nội khẳng định: Thủ đô Hà nội là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước. Nhờ vị trí là trung tâm của vùng Bắc bộ và là Thủ đô của cả nước, Hà nội có khả năng to lớn để thu hút các nguồn lực của cả nước, của bên ngoài cho sự phát triển của mình. Đồng thời sự phát triển của Hà nội có vai trò to lớn thúc đẩy sự phát triển của cả vùng, cũng như cả nước. 2.1.2.2. Trình độ dân trí và lao động: Lực lượng lao động của Hà nội khá dồi dào, số người trong độ tuổi lao động chiếm xấp xỉ 58-60 % dân số, trong đó số người có khả năng lao động chiếm 76 % nguồn lao động. Với đội ngũ hiện có trên 14000 cán bộ trên đại học, 20,6 vạn người có trình độ đại học và cao đẳng, 11 vạn người có trình độ trung cấp. Hà nội là địa phương có chất lượng lao động khá nhất trong cả nước, có nhiều nghề tinh sảo ở đỉnh cao của đất nước.Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 30% ( tỷ lệ chung cả nước 9,77% ). Hà nội hiện có 43 trường đại học, cao đẳng quốc lập và dân lập (chiếm 60% cả nước), 34 trường trung học chuyên nghiệp, 41 trường dậy nghề,112 viện nghiên cứu chuyên ngành ( 86% cả nước ). Đây là một lợi thế rất lớn của Hà Nội so với các tỉnh, thành phố khác trong cả nước. Nếu có chính sách khai thác và phối hợp tốt thì lực lượng cán bộ khoa học này sẽ có đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế của cả vùng và đất nước. Hà nội là nơi tập trung các cơ quan ngoại giao đoàn, các đại sứ quán, các tổ chức quốc tế. Đây là ưu thế để tăng thêm trí tuệ cho công tác tư vấn trong việc hoạch định các chính sách phát triển. Tại Hà nội tập trung tất cả các cơ quan đầu não, phần lớn các Viện nghiên cứu, các trường đại học với đông đảo đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm. 2.1.2.3. Hạ tầng kỹ thuật: Hà nội là một đầu mối giao thông quan trọng, từ Hà nội có thể đi mọi miền đất nước bằng một hệ thống giao thông thuận tiện. Về hàng không Hà nội có sân bay Quốc tế Nội Bài (thuộc huyện Sóc sơn, cách trung tâm Hà nội khoảng 40 km), sân bay Gia lâm và sân bay Bạch mai. Hà nội còn là đầu mối giao thông đường sắt trong nước và đường sắt liên vận quốc tế sang Trung quốc rồi đi Châu Âu... Đường bộ và đường thuỷ của Hà Nội cũng rất thuận lợi cho giao lưu buôn bán giữa các tỉnh, các vùng, các nước và giao lưu với quốc tế. Cùng với hệ thống giao thông, so với các địa phương trong vùng thì Hà Nội có hệ thống thông tin liên lạc và hệ thống cấp điện phát triển nhất. Tổng số máy điện thoại của Hà Nội hiện đạt khoảng 340.000 máy, mật độ đạt khoảng 15 máy/100 dân. Có 61 trung tâm chuyển mạch, 74 tổng đài thoả mãn liên lạc trong nước và nước ngoài từ Hà Nội đi và nơi khác đến. Các dịch vụ nhắn tin, điện thoại di động, truyền dữ liệu, internet, điện thoại dùng thẻ được phát triển. 2.2. Thực trạng cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tế của Hà Nội. 2.2.1.Thực trạng vốn đầu tư xã hội và cơ cấu nguồn vốn đầu tư của Thủ đô giai đoạn 1996-2000 Trong 5 năm qua, vốn đầu tư xã hội của Hà nội đạt khoảng 66.358 tỷ đồng. Trong đó vốn đầu tư trong nước là 39.008 tỷ đồng; vốn đầu tư nước ngoài là 27.350 tỷ đồng. Tốc độ tăng vốn đầu tư xã hội bình quân hàng năm đạt 0,68%/năm. So với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của thời kỳ này là 10,6%/năm thì vốn đầu tư xã hội của Hà nội tăng rất thấp. Nguyên nhân của tình trạng vốn đầu tư của Hà nội tăng thấp so với mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm là do trong giai đoạn này vốn đầu tư nước ngoài chiếm một tỉ lệ cao trong tổng vốn đầu tư có sự giảm sút mạnh vào những năm cuối. Vốn đầu tư xã hội tăng thấp và rất không ổn định, nhất là sự giảm sút mạnh của vốn đầu tư nước ngoài là một trong những nguyên nhân quan trọng làm hạn chế tăng trưởng và phát triển kinh tế Thủ đô giai đoạn 1996-2000, hạn chế sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Biểu 3: Quy mô và tốc độ tăng vốn đầu tư xã hội của Hà Nội thời kỳ kế hoạch 5 năm 1996-2000 Đơn vị: Tỉ đồng STT Nguồn vốn 1996 1997 1998 1999 2000 BQ 96-2000 A. Tổng số vốn đầu tư xã hội 13020,9 15436,2 13326 11198 13377 66358,1 I Đầu tư trong nước 6043,9 6612,2 6095 8450 11807 39008,1 1 Vốn đầu tư của nhà nước 1438,9 1827,2 1875 2173 2892 10206,1 A Vốn ngân sách 1199,8 1454,9 1461 1793 2442 8350,7 B Vốn tín dụng đầu tư NN 239,1 372,3 414 380 450 1855,4 2 Vốn doanh nghiệp NN đầu tư 2300 2325 1960 3286 4720 14591 3 Vốn ĐT của kinh tế ngoài NN 1990 2088 1860 2341 3465 11744 A Các doanh nghiệp ngoài nhà nước 1142 1235 960 1241 2315 6893 B Các hộ cá thể 758 853 900 1100 1150 4761 4 Vốn dân góp xây đường làng ngõ xóm 150 200 150 220 180 900 5 Vốn dân tự xây nhà 165 172 250 400 550 1537 II Vốn đầu tư nước ngoài 6977 8824 7231 2748 1570 27350 1 ._.đã cho Hà nội được phép thực hiện giải pháp này. Để thực hiện giải pháp đấu thầu đất đổi công trình hạ tầng đô thị phải: - Lựa chọn dự án phù hợp. - Lựa chọn chủ đầu tư đủ năng lực tài chính. - Việc bàn giao đất phải gắn liền với tiến độ bàn giao công trình. - Thực hiện đúng các quy định về quản lý đất đai và quản lý qui hoạch - đầu tư - xây dựng của Nhà nước. 3.3.1.4. Mở rộng phát triển các cụm công nghiệp quy mô nhỏ: + Thực tiễn cho thấy trong khi các khu công nghiệp lớn của Hà Nội (gồm Sài Đồng B, Đài Tư, Nội Bài, Daewoo - Hanel và khu công nghiệp Thăng Long) với tổng diện tích 756 ha , trong đó đã hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng khoảng 200 ha, đến tháng 6/2000 số dự án đầu tư mới lấp đầy 20% diện tích, thì các cụm công nghiệp vừa và nhỏ như ở Huyện Thanh Trì, Huyện Gia Lâm các doanh nghiệp đăng ký thuê kín hết diện tích đất có thể cho thuê. + Hiện nay ngoài các cụm công nghiệp nhỏ Vĩnh Tuy, Phú Thị (gần 15ha), Thành phố có thể mở ra hàng chục cụm công nghiệp với qui mô này. Tuy nhiên, để thu hút các nhà đầu tư, đặc biệt các doanh nghiệp nhỏ trong nước vào khu công nghiệp, vấn đề đặt ra là Thành phố phải sớm điều chỉnh một số cơ chế bảo đảm hấp dẫn hơn, như: - Tăng thời gian cho thuê đất. - Hoàn thiện cơ sở hạ tầng sớm để thu hút nhà đầu tư. - Đơn giản hóa thủ tục cấp quyền sử dụng đất. + Kinh nghiệm ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng cho thấy việc phát triển các khu công nghiệp nhỏ (chẳng hạn khu tiểu công nghiệp Bình Chánh) có kết quả rất khả thi. Những khu công nghiệp này phù hợp với các dự án đầu tư qui mô vừa và nhỏ nên số doanh nghiệp trong nước đăng ký vào nhiều, sớm lấp diện tích đất cho thuê. 3.3.1.5. Đẩy nhanh tốc độ cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước. Mục tiêu của cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước nhằm huy động nguồn vốn để đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp, tạo điều kiện để người lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp, thay đổi phương thức quản lý doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Phần lớn các doanh nghiệp Nhà nước được Thành phố lựa chọn cổ phần hóa là những doanh nghiệp có hiệu quả kinh doanh thấp, chủ yếu là khu vực thương mại dịch vụ, trong đó một số doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa nhanh nhờ vị trí thương mại thuận lợi (công ty cổ phần Phú Gia, Hồ Tây, Phúc Thịnh, Sứ bát tràng...). Hiện nay không ít doanh nghiệp Nhà nước do Thành phố quản lý muốn cổ phần hóa lại không thuộc lợi thế nói trên. Cũng như các địa phương khác, quá trình thực hiện cổ phần hóa ở Thành phố Hà Nội đang gặp một số trở ngại là: + Tâm lý của lãnh đạo doanh nghiệp Nhà nước không muốn cổ phần hóa. + Công nợ trước khi cổ phần hóa khó giải quyết. + Định giá tài sản doanh nghiệp kéo dài. + Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp sau cổ phần chưa đủ liều lượng và thực hiện tốt. + Riêng Hà Nội việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất tiến hành chậm, ảnh hưởng đến việc bảo đảm pháp lý đối với tài sản dùng thế chấp vay vốn ngân hàng. + Lựa chọn thêm một số doanh nghiệp Nhà nước làm ăn tương đối có hiệu quả thuộc lĩnh vực công nghiệp đưa vào danh sách cổ phần hóa. + Về giải quyết công nợ, Thành phố nên xin ý kiến Bộ Tài chính lập công ty xử lý nợ trực thuộc Sở Tài chính Hà Nội. Với cơ chế phù hợp, việc ra đời của công ty này có tác động xử lý nhanh các khoản nợ đối với doanh nghiệp cổ phần hóa. + Thành phố Hà Nội cần sớm thống nhất với Bộ Xây dựng để triển khai cấp giấy nhà đất cho các doanh nghiệp cổ phần hóa. - Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Chi cục quản lý tài chính doanh nghiệp và Kho bạc Nhà nước Hà Nội cần có qui định liên ngành trong việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn hỗ trợ cổ phần hóa. Đồng thời, Thành phố trích thêm nguồn ngân sách địa phương để bổ sung cho Quỹ hỗ trợ cổ phần hóa. + Trên cơ sở chiến lược kinh doanh của công ty cổ phần sau cổ phần hóa, Thành phố nên có chủ trương khuyến khích, tạo điều kiện để công ty phát hành cổ phiếu tăng vốn kinh doanh. 3.3.1.6. Xã hội hóa đầu tư một số lĩnh vực . Thời gian qua, không những Thành phố Hà Nội mà ở nhiều địa phương đã phát huy sáng tạo trong việc thực hiện chủ trương "xã hội hóa nguồn lực tài chính" cho đầu tư phát triển. Tuy vậy, nhìn một cách tổng thể, do chưa đủ chiến lược, chính sách, cơ chế và qui định cụ thể cần thiết nên hiệu quả thực hiện chủ trương này chưa cao. Đối với Thành phố Hà Nội, yêu cầu vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội là rất lớn, nhưng nguồn vốn của Nhà nước, của doanh nghiệp huy động không thể đáp ứng. Trong khi đó, một số lĩnh vực và dự án đầu tư gắn liền với đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của dân cư có khả năng huy động nguồn lực xã hội vào đầu tư. Việc “Xã hội hóa đầu tư" một số lĩnh vực và dự án đầu tư của Thành phố Hà Nội là có khả năng thực hiện bởi: - Thu nhập của dân cư thuộc địa bàn Hà Nội tương đối cao so với cả nước. - Nhu cầu đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của dân cư Hà Nội đòi hỏi cao. - Với vị thế người dân Thủ đô, tính cộng đồng và trách nhiệm của họ trong việc xây dựng Thủ đô Hà Nội hiện đại, giàu đẹp, văn minh đã được hình thành lâu đời và thể hiện rõ. - Hà Nội là địa phương tập trung số lượng rất lớn và đa dạng các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và xã hội kinh doanh và sinh sống trên địa bàn. Tuy vậy để "xã hội hóa đầu tư" một số lĩnh vực và dự án đầu tư có hiệu quả, Thành phố Hà Nội cần tổ chức thực hiện các biện pháp sau: + Về lựa chọn lĩnh vực và dự án đầu tư: Đối với Thành phố Hà Nội có 5 lĩnh vực có thể xã hội hóa vốn đầu tư: - Lĩnh vực đầu tư xây dựng, cải tạo các công trình phúc lợi (công ích). - Lĩnh vực giải quyết tệ nạn xã hội. - Lĩnh vực xóa đói giảm nghèo. - Lĩnh vực giáo dục và đào tạo. - Lĩnh vực cơ sở hạ tầng, môi trường gắn liền với cuộc sống dân sinh. Các dự án đầu tư trong các lĩnh vực nói trên không phải 100% có khả năng "Xã hội hóa vốn đầu tư ", mà Thành phố nên lựa chọn một số dự án để thực hiện. Các dự án này phải có ý nghĩa nhiều mặt, xã hội dễ tập trung quan tâm, và các dự án gắn liền với đời sống dân sinh. + Về cơ chế "xã hội hóa vốn đầu tư". - Lập Ban quản lý dự án đầu tư có sự kiểm soát của Hội đồng nhân dân cấp tương ứng và các tổ chức cộng đồng: mặt trận tổ quốc, các tổ chức đoàn thể và dân cư. - Công khai hóa cơ chế huy động và sử dụng nguồn vốn đầu tư. Kết thúc dự án đầu tư phải thông báo kết quả và hiệu quả đầu tư. - Sử dụng đa dạng hình thức huy động nguồn lực để chuyển thành vốn đầu tư, bao gồm: tiền, vàng, lao động, đất đai, nhà ở, đóng góp không hoàn lại, huy động nguồn vốn trong nước và nguồn vốn từ nước ngoài, đóng góp theo định mức thường xuyên hoặc từng lần. - Tự nguyện là chủ yếu, nhưng có lúc vận động mạnh để tạo phong trào "xã hội hóa vốn đầu tư". + Về chính sách "xã hội hóa vốn đầu tư". - Phải đưa chính sách "xã hội hóa vốn đầu tư" vào chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố. - Trên cơ sở chính sách đó Thành phố xây dựng các chương trình đầu tư đúng nguồn vốn "xã hội hóa vốn đầu tư". - "Xã hội hóa vốn đầu tư" một số lĩnh vực và dự án đầu tư phải dựa trên cơ sở thực tế, thực hiện quan điểm "tùy sức dân" và "khoan sức dân". 3.3.2. Nhóm giải pháp nhằm thực hiện chuyển dịch cơ cấu đầu tư Để thực hiện mục tiêu, phương hướng chuyển dịch cơ cấu đầu tư cũng như phương án bố trí cơ cấu đầu tư đã được xác định trên đây cần thực hiện một hệ thống các biện pháp đồng bộ về kinh tế-kỹ thuật-xã hội-pháp lý sau đây: 3.3.2.1. Hoàn thiện cơ chế chính sách kinh doanh: Cơ chế chính sách kinh doanh là phạm trù rất rộng liên quan từ vĩ mô đến vi mô, từ Trung ương đến địa phương, nó tác động đến toàn bộ nền kinh tế, đến từng ngành, doanh nghiệp và nhà đầu tư. Để tạo ra môi trường đầu tư an toàn và hiệu quả cần tập trung vào các vấn đề sau: + Cụ thể hoá và công khai hoá các chính sách khuyến khích đầu tư. Việc cụ thể hoá và công khai hoá các chính sách ưu đãi đầu tư của Thành phố giúp cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư xác định phương hướng, quy mô đầu tư phù hợp, có hiệu quả nhất và từ đó yên tâm bỏ vốn đầu tư. Một hạn chế rất lớn trong thời gian vừa qua là các chủ trương, định hướng phát triển kinh tế và đầu tư của Thành phố chậm được cụ thể hoá thành những cơ chế chính sách cụ thể và công bố công khai. Thành thử có khi chủ trương một đằng, chính sách một nẻo, thậm chí chính sách lại đi ngược lại chủ trương. Do vậycần cụ thể hoá và công khai các chính sách khuyến khích trên một số mặt chủ yếu sau: Ngành gì, lĩnh vực gì và vùng nào Thành phố khuyến khích đầu tư. Các chính sách ưu đãi cụ thể đối với các ngành, lĩnh vực mà Thành phố khuyến khích là gì + Hoàn thiện pháp lý bảo vệ an toàn tài sản cho nhà đầu tư. Việc bảo vệ an toàn tài sản cho nhà đầu tư ở nước ta nói chung và Hà Nội nói riêng đương nhiên được điều tiết bởi nhiều văn bản pháp luật liên quan. Song thực tế nếu không nêu cao trách nhiệm của chính quyền các cấp sở tại thì sự an toàn này rất khó thực hiện. Hiện nay, chính quyền cấp cơ sở (phường, xã) chưa thật nhận thức thấu đáo là bất kỳ ai đến đầu tư tại địa phương mình đều mang lại sự phát triển cho địa phương mình quản lý.Chính vì vậy, việc nâng cao tinh thần trách nhiệm của chính quyền các cấp trong bảo vệ quyền lợi các nhà đầu tư trên địa bàn mình quản lý và được điều chỉnh bởi các văn bản pháp quy của Thành phố là việc cần thiết. Điều này có tác dụng tăng lòng tin cho các nhà đầu tư để họ yên tâm bỏ vốn đầu tư kinh doanh không giới hạn phạm vi địa bàn, lãnh thổ. + Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng và lành mạnh. - Cơ quan quản lý của Thành phố phải tăng cường công tác quản lý thị trường, bảo vệ uy tín cho các sản phẩm được đầu tư sản xuất kinh doanh và tiêu thụ trên thị trường. Tình trạng tràn ngập hàng lậu, hàng giả và kém chất lượng nếu cứ lưu thông tràn ngập trên thị trường như hiện nay thì rất khó khăn cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất kinh doanh đúng pháp luật. - Ngoài các sản phẩm Nhà nước cấm, doanh nghiệp được bình đẳng đầu tư sản xuất kinh doanh. Để tạo môi trường đầu tư kinh doanh bình đẳng theo pháp luật, Thành phố cần có văn bản quán triệt mọi tổ chức, cá nhân trong bộ máy hành chính thấu suốt là doanh nghiệp được kinh doanh tất cả những ngành nghề mà pháp luật không cấm. Xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm quy định của Luật doanh nghiệp. - Để bảo đảm bình đẳng giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cần có qui định các doanh nghiệp được sử dụng thống nhất mức phí dịch vụ đối với mọi đối tượng thụ hưởng. Tăng cường thông tin kinh tế cũng được coi là một yếu tố đảm bảo môi trường kinh doanh tốt. Thành phố cần thông qua những kênh thông tin để chuyển tải thông tin và kiến thức kinh doanh cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp. Trong đó chú ý đến những loại thông tin về cơ chế- chính sách của Nhà nước; thông tin về giá cả- thị trường trong và ngoài nước; thông tin về những tiến bộ Khoa học- kỹ thuật và công nghệ, v.v... Với những thông tin càng đầy đủ và cập nhật thì chủ đầu tư càng có điều kiện khai thác và sử dụng có hiệu quả khả năng về vốn đầu tư của họ. 3.3.2.2. Tăng cường vai trò của Thành phố trong lĩnh vực đầu tư công cộng Đầu tư công cộng thường được thể hiện dưới dạng các chương trình đầu tư công cộng nhằm đảm bảo các hàng hoá và dịch vụ công cộng cho toàn xã hội, tạo nền tảng ban đầu cho các doanh nghiệp quốc doanh và ngoài quốc doanh, cũng như hệ thống tổ chức, giáo dục, y tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật .v.v. có điều kiện phát triển thuận lợi. Trong điều kiện kinh tế thị trường, một trong những chức năng của Chính quyền các cấp đã được khẳng định là đảm bảo cung cấp hàng hoá và dịch vụ công cộng. ở nước ta trong những năm tới các chương trình đầu tư công cộng cần được mở rộng, hơn nữa là với tốc độ nhanh. Trong đó các mục tiêu đầu tư ưu tiên của Thành phố cần tập trung ưu tiên vào kết cấu hạ tầng và dịch vụ công cộng. Do yêu cầu cấp bách của việc cải tạo và nâng cầp cơ sở hạ tầng, nhu cầu đầu tư của Thành phố cho mục tiêu này hết sức căng thẳng. Để giải quyết được nhiệm này, Thành phố phải giải quyết tốt các vấn đề chủ yếu sau đây: - Tiết kiệm chi tiêu thường xuyên để nâng cao tỷ lệ ngân sách cho các chương trình đầu tư - Cân nhắc, lựa chọn các mục tiêu đầu tư công cộng để đạt được hiệu quả kinh tế xã hội lớn nhất. - Thực hiện lồng ghép các dự án theo các nguồn vốn và các chủ đầu tư 3.3.2.3. Khuyến khích đầu tư FDI một cách có lựa chọn và nâng cao hiệu quả sử dụng . Để thu hút vốn FDI đầu tư theo định hướng chuyển dịch cơ cấu đầu tư, trước hết cần tiến hành đánh giá tính hình thực hiện vốn đầu tư của các dự án trên giác độ phù hợp với quy hoạch phát triển của các ngành, các lĩnh vực ưu tiên để từ đó xác định yêu cầu của việc phân phối lại vốn và dự án. Bước tiếp theo là tiến hành nghiên cứu và xây dựng danh mục các dự án trọng điểm theo hướng chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo thứ tự ưu tiên. Cùng với việc tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư cần đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến đầu tư bằng nhiều hình thức. Ta phải thừa nhận rằng, cái mà nhà đầu tư nước ngoài quan tâm nhiều nhất là lợi nhuận, còn về phía chúng ta, một trong những khai thác quan trọng từ FDI là nhằm cấu trúc lại nền kinh tế Thủ đô. Hai mục tiêu đó thường có xu hướng xa rời nhau và tất nhiên vấn đề quan trọng là phải có biện pháp để kéo gần lại. Thực tế đã chỉ rõ, chính sách về ưu đãi thuế là một công cụ hiệu quả để điều chỉnh mối quan hệ giữa hai mục tiêu của hai phía. Các nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt quan tâm đến chính sách ưu đãi về thuế, vì đó là ưu đãi cụ thể, chi tiết và hữu hình nhất, ổn định lâu dài được pháp luật đảm bảo. Theo hướng này không nên xác định sự tiếp nhận vốn đầu tư phụ thuộc vào khu vực địa lý hay ngành nghề mà cần phân biệt các mức độ ưu đãi khác nhau được khuyến khích đầu tư. 3.3.2.4. Chú trọng đầu tư trong nước. Trong điều kiện thiếu vốn gay gắt, việc khuyến khích đầu tư nước ngoài là hết sức quan trọng. Song dù nguồn vốn nước ngoài lớn thì vốn trong nước vẫn chiếm vị trí quyết định, có tính bền vững, lâu dài. Do đó, đầu tư trong nước phải thật sự được coi trọng. Vấn đề đặt ra hiện nay là giải quyết mối quan hệ giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài như thế nào cho hợp lý. Việc đẩy mạnh đầu tư trong nước hoàn toàn không mâu thuẫn với chiến lược tăng trưởng hướng về xuất khẩu, mặc dù công nghệ của ta còn ở trình độ thấp. Xét trên phương diện một sản phẩm nào đó, sản xuất trong nước có thể chia làm 3 mức độ: - Hoàn toàn chưa sản xuất được trong khi thị trường trong nước và xuất khẩu đang đòi hỏi lớn. Đối với những sản phẩm đó, việc khuyến khích đầu tư nước ngoài là hết sức cần thiết cả về phương diện vốn đầu tư cả phương diện kỹ thuật-công nghệ. - Đã sản xuất được song chưa vươn lên trình độ khu vực và thế giới. Đối với sản phẩm đó, cần thiết kêu gọi đầu tư nước ngoài ở một mức độ nhất định, vừa khai thác lợi thế so sánh phục vụ xuất khẩu, vừa tạo môi trường cạnh tranh cần thiết cho sản xuất trong nước để sản xuất trong nước vươn lên trình độ quốc tế. - Đã sản xuất được với trình độ khá cao, có thể cạnh tranh với sản phẩm nước ngoài. Với sản phẩm đó, cần hạn chế đầu tư nước ngoài đến mức thấp nhất mà dành phần ưu tiên khuyến khích đầu tư trong nước. Để khuyến khích đầu tư trong nước, Thành phố cần phải tạo ra môi trường thuận lợi, có chính sách ưu đãi với các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, không khác gì so với cơ chế ưu đãi đối với đầu tư nước ngoài. Để các doanh nghiệp trong nước có mức lợi nhuận thoả đáng, Nhà nước cần hỗ trợ trên các mặt chủ yếu sau: - Thực hiện quy chế ưu đãi có thứ tự ưu tiên theo định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã được định hướng. - Hỗ trợ đắc lực cho các doanh nghiệp một cách bình đẳng giữa các thành phần kinh tế bằng các chính sách kinh tế như: tín dụng, mặt bằng sản xuất, khoa học-công nghệ, đào tạo nhân lực.v.v. - Có chính sách hỗ trợ mở rộng thị trường trong nước và thị trường nước ngoài. 3.3.2.5. Điều chỉnh định hướng đầu tư và cơ cấu đầu tư phù hợp. 3.3.2.5.1. Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn đầu tư. + Nguồn vốn đầu tư tập trung từ ngân sách chủ yếu đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội và phúc lợi công cộng. Bên cạnh đó, nguồn vốn này phải dành một tỷ trọng đáng kể cho phát triển giáo dục, đào tạo, văn hóa, y tế và xã hội không thể huy động được các nguồn vốn khác Thành phố cần cơ cấu một bộ phận nguồn vốn ngân sách địa phương để đầu tư vào doanh nghiệp thông qua hỗ trợ lãi suất sau đầu tư. + Nguồn vốn tín dụng đầu tư chủ yếu tập trung đầu tư đổi mới thiết bị và công nghệ cho các doanh nghiệp, trong đó cần ưu tiên cho các doanh nghiệp mũi nhọn của Thành phố như cơ khí, điện tử, công nghệ cao, phần mềm tin học. + Nguồn vốn tự đầu tư của doanh nghiệp tập trung đầu tư để hiện đại hóa quá trình sản xuất để tăng năng lực cạnh tranh. + Nguồn đầu tư của dân cư hướng đầu tư vào khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, thu hút nhiều lao động, sản xuất tiểu thủ công nghiệp có khả năng xuất khẩu. Đồng thời nguồn vốn đầu tư của dân cư hướng đầu tư vào cổ phiếu các công ty cổ phần, trái phiếu công trình và tham gia đầu tư thông qua chính sách "xã hội hóa đầu tư". + Nguồn vốn ODA: đối với ODA không hoàn lại tập trung đầu tư vào cơ sở hạ tầng đô thị, cơ cấu một tỷ lệ nhất định nguồn ODA có hoàn lại đầu tư vào các dự án hạ tầng công nghiệp. + Nguồn vốn FDI: ưu tiên đầu tư vào các ngành sản xuất sản phẩm xuất khẩu. 3.3.2.5.2. Cơ cấu đầu tư theo ngành và lãnh thổ: Theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2005, thì cơ cấu kinh tế của Thủ đô Hà Nội vẫn là công nghiệp - thương mại, dịch vụ, du lịch - nông nghiệp. Cho nên, cơ cấu đầu tư theo ngành và lãnh thổ như sau: + Tăng tỷ trọng đầu tư cho các ngành và lĩnh vực chủ đạo trong công nghiệp và dịch vụ. + Trong công nghiệp: qui mô và tỷ trọng đầu tư cho công nghiệp tăng nhanh hơn giai đoạn 1996 - 2000, nhưng chuyển dần sang ưu tiên cho các ngành công nghệ cao, xuất khẩu, tin học, cơ khí dân dụng. Về cơ cấu đầu tư theo lãnh thổ, hướng đầu tư vào lấp đầy khu công nghiệp, khu chế xuất và đầu tư mạnh ra ngoại ô để cải tạo cơ sở hạ tầng, dãn bớt dân cư v.v... + Trong tiểu thủ công nghiệp: ưu tiên đầu tư phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất sản phẩm xuất khẩu, thu hút nhiều lao động. + Trong dịch vụ: đầu tư phát triển du lịch, văn hóa gắn liền với môi trường sinh thái và bảo vệ bản sắc dân tộc của thủ đô. Bên cạnh đó, hỗ trợ nguồn vốn để phát triển các định chế tài chính (Quỹ đầu tư), hỗ trợ phát triển cổ phần hóa và thị trường chứng khoán. Đồng thời cần tập trung đầu tư mạnh để hỗ trợ sự nghiệp giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa và thể dục thể thao. + Trong nông nghiệp: tập trung đầu tư chế biến nông sản thực phẩm, chuyển dịch kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việc thực hiện cơ cấu đầu tư cho dù theo nguồn vốn đầu hay theo ngành và lãnh thổ cũng còn phải đặc biệt lưu ý cơ cấu kỹ thuật vốn đầu tư. Trong thời gian qua, do nguồn vốn đầu tư không đáp ứng nhu cầu, nhưng đầu tư phân tán, dàn trải, tập trung "bề nổi" nên chưa tăng cường được yếu tố kỹ thuật, công nghệ, thiết bị theo hướng hiện đại hóa quá trình sản xuất. Ngay cả đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mặc dù công nghệ tiên tiến nhưng so với thế giới chỉ đạt mức trung bình. Thời gian tới, Thành phố cần có qui định rõ mức đáp ứng cơ cấu kỹ thuật của vốn đầu tư đối với từng loại dự án đầu tư. Các dự án đầu tư sản xuất, nếu vốn thiết bị có tỷ trọng dưới 50% cần nên xem xét cụ thể mới quyết định đầu tư. 3.3.2.6. Đổi mới công tác kế hoạch hoá Công tác kế hoạch hoá trong thời gian tới phải tiếp tục đổi mới theo hướng nâng cao chất lượng xây dựng chiến lược và quy hoạch các ngành, các lĩnh vực của kinh tế Thủ đô. Cần khẩn trương nghiên cứu, xác định vị trí của các ngành, các lĩnh vực trong một chiến lược cơ cấu kinh tế dài hạn để phân bổ vốn đầu tư một cách có hiệu quả. Cần đánh giá tiềm năng lợi thế của các ngành, các lĩnh vực để chủ động trong việc phối hợp cơ cấu kinh tế với các tỉnh trong cả nước, các nước trong khu vực mà trước hết là trong khối ASEAN. Mở rộng và hoàn thiện các phương pháp kế hoạch hoá theo chương trình và dự án để tập trung nguồn lực còn hạn hẹp vào mục tiêu cần ưu tiên của kế hoạch Nhà nước. 3.3.2.7. Phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực trong thời gian tới cần chú ý cả về số lượng và chất lượng. Cần nâng cao thể lực toàn diện nguồn nhân lực trên cơ sở đảm bảo về dinh dưỡng, về dịch vụ y tế và chăm sóc sức khoẻ. Nâng cao trình độ học vấn của nguồn nhân lực bằng các biện pháp như: cải thiện điều kiện giáo dục đối với lứa tuổi đến trường, tăng cường công tác giáo dục thường xuyên (bao gồm cả xoá nạn mù chữ), mở rộng các hình thức đào tạo nghề và nâng cao kỹ năng trình độ nghề nghiệp của nguồn nhân lực, đào tạo cán bộ chuyên môn khoa học kỹ thuật. Mở rộng quy mô đào tạo các chủ doanh nghiệp, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn đối với đội ngũ công chức Nhà nước để phù hợp với yêu cầu công việc trong điều kiện mới. Chiến lược phát triển nguồn nhân lực cần chú trọng đến cơ cấu, đặc biệt là cơ cấu ngành nghề, để chuẩn bị, đón đầu cho từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cùng với việc phát triển nguồn nhân lực trong nước, cần ra sức tranh thủ lực lượng các nhà khoa học người Việt sống ở nước ngoài (khoảng 400.000 người), giúp họ có cơ hội gây dựng sự nghiệp lớn cho bản thân và cho quê hương bản quán. Trước mắt cần xúc tiến nhanh việc thành lập các tổ tư vấn về khoa học - công nghệ phục vụ việc chuyển giao công nghệ vào Thành phố đạt kết quả cao.. Kết luận Hà Nội là một thành phố lớn trực thuộc TW, là Thủ đô của nước ta là trung tâm giao thoa các hoạt động của cả nước, nơi bao hàm sự đan xen các hiện tượng của mọi miền đất nước đã tạo lên sự đa dạng của Hà Nội. Có một nhà Hà Nội học đã viết” Hà Nội là một hiện tượng cái riêng nằm trong cái chung song nó bao hàm cái chung”. Quả thậy vậy, theo nghị quyết 15 của Bộ Chính Trị và pháp lệnh thủ đô của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội đã khẳng định vị thế của Hà Nội không những là trung tâm Văn Hoá, Chính trị, KH-KT đầu não của cả nước mà còn là một trung tâm kinh tế lớn. Do vậy trong lĩnh vực phát triển kinh tế Hà Nội là địa bàn có nguồn lực lớn và đa dạng, có khả năng khai thác và huy động vốn đầu tư là nơi bao hàm mô hình phân cấp, quản lí vốn đầu tư đa dạng và chính nhận thức được tầm quan trọng của nguồn vốn đầu tư, sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư, với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thành phố đã khẳng định rằng nếu cơ cấu kinh tế là phương tiện đạt được mục đích phát triển kinh tế xã hội. Trong từng thời kỳ thì chính cơ cấu đầu tư lại là phương tiện hình thành lên cơ cấu kinh tế ấy. Do vậy mục tiêu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế chính là mục tiêu đạt được của quá trình chuyển dịch cơ cấu đầu tư. Trong quá trình thực hiện thời gian qua thành phố Hà Nội đã đạt được những thành quả rất đáng khích lệ đó là tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển biến rõ rệt đó là Công nghiệp-Dịch vụ -Nông nghiệp đó là dấu hiệu tốt để cho sự chuyển dịch theo hướng Dịch vụ-Công nghiệp-Nông nghiệp. Do tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Hà Nội giai đoạn 1991-2000 cao hơn so với cả nước là3,74% vì vậy đưa thu nhập bình quân đầu người của Hà Nội từ mức 446$ (1990) lên 767$ (1996) 915$ (1999) 1000$ (2000). Tỷ trọng các ngành Công nghiệp, Thương mại, Dịch vụ trong GDP tăng, tỷ trọng Nông nghiệp giảm. Cơ cấu hạ tầng kinh tế xã hội và phúc lợi công cộng đặc biệt là hạ tầng đô thị có sự chuyển biến rõ nét theo chiều hướng tích cực phục vụ cho việc hội nhập kinh tế đất nước. Nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, văn hoá thông tin thể thao và chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Vấn đề khai thác hiệu quả nguồn vốn đầu tư do thành phố quản lí đã thu hút được bộ phận lớn nguồn vốn trong dân và các tổ chức khác tham gia vào vấn đề đầu tư cải thiện hệ thống hạ tầng cơ sở ở nông thôn, bên cạnh đó bằng việc hỗ trợ sau đầu tư tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mạnh dạn huy động vốn thương mại để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh . Bên cạnh đó vẫn còn những điểm hạn chế vấn đề đầu tư xã hội trên địa bàn các ngành trực tiếp sản xuất ra sản phẩm còn thấp, đầu tư cho hạ tầng cơ sở chiếm khoảng 1/3 nguồn ngân sách đầu tư nhưng so với nhu cầu thì cơ cấu đầu tư vẫn chưa tương xứng. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản còn chiếm tỷ trọng thấp. Đối với khu vực đầu tư nước ngoài kể từ năm 1999 có xu hướng chuyển dịch sang các ngành công nghiệp song đầu tư cho khách sạn vẫn chiếm tỷ trọng cao, các dự án đầu tư cho công nghiệp có vốn bình quân thấp thiết bị công nghệ chỉ đạt mức trung bình của thế giới. Mặt khác sự phối hợp liên ngành trong đầu tư còn chưa được tập trung đúng mức dẫn đến việc đầu tư mất cân đối, chồng chéo tạo ra cơ cấu đầu tư bất hợp lý, giảm sút hiệu quả đầu tư. Tình trạng đầu tư phân tán, bố trí vốn kéo dài và đầu tư theo dạng bề nổi đã được khắc phục nhiều nhưng chưa triệt để. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến hiệu quả thấp trong khu vực doanh nghiệp. Cuối cùng là do cơ chế chính sách pháp luật của nhà nước về lĩnh vực vốn đầu tư xây dựng, tuy liên tiếp được điều chỉnh nhưng do tính chưa đầy đủ và toàn vẹn chồng chéo văn bản của bộ ngành có khi mâu thuẫn với chính phủ, nghị định có khi mâu thuẫn với luật. Trong khi cơ cấu đầu tư ngành ở cấp trung ương chưa được quan tâm phối hợp với cơ cấu đầu tư ở ngành và địa phương. Hà Nội là dịa bàn đầu mối của Bộ ngành, các cơ quan trung ương nhưng cơ chế phối tác trong quản lýđầu tư cấp trung ương và thành phố chưa được quan tâm. Như vậy để chuyển dịch mục tiêu phương hướng chuyển dịch vốn đầu tư và thực hiện nhiều biện pháp kinh tế xã hội, luật pháp trong đó đặc biệt quan tâm dến tạo vốn đầu tư, tăng cường vai trò quản lý của thành phố. Trong công tác đầu tư tiếp tục thực hiện công tác kế hoạch hoá, hoàn thiện cơ chế đầu tư xây dựng cơ bản, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài một cách có lựa chọn và sử dụng có hiệu quả các giải pháp khuyến khích đầu trong nước phát triển nguồn nhân lực coi như điều kiện cần thiết để chuyển dịch cơ cấu đầu tư. Một số kiến nghị: Để thực hiện các giải pháp trên đạt hiệu quả cao với tư cách là một sinh viên thực tập, tôi mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị với Trung Ương như sau: + Hà Nội đề nghị với Trung Ương cần xem xét nâng tỷ lệ điều tiết ngân sách để lại cho Thành phố lên 40% so với mức hiện nay là 23% + Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần có biện pháp khắc phục tình trạng giao kế hoạch vốn đầu tư chậm như thời gian qua. Hàng năm nên giao kế hoạch vốn tín dụng sớm hơn, tốt nhất là giao cùng với kế hoạch vốn đầu tư XDCB đầu năm + Chính phủ nên có cơ chế lãi suất vốn tín dụng ưu đãi riêng cho đầu tư phát triển nhà ở và xây dựng hạ tầng cơ sở, mức tối đa là bằng lãi suất tín dụng ưu đãi dành cho chương trình xe đạp, xe máy và quạt điện. + Chính phủ hướng dẫn một số vấn đề chưa rõ trong qui chế quản lý đầu tư xây dựng liên quan nhiều tới Thành phố Hà Nội, như: - Quy định quản lý xây dựng khu đô thị mới, khu công nghiệp vừa và nhỏ... ra sao, vì đối với loại dự án đầu tư này, chủ dự án chưa phải là chủ cuối cùng, họ chỉ xây dựng xong cơ sở hạ tầng sau đó người khác đến đầu tư. - Việc quản lý với công trình có nhiều chủ sở hữu vốn thuộc nhiều thành phần khác nhau. - Trách nhiệm, hiệu quả đầu tư đối với các dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách huyện (quận), xã (phường). - Chỉ đạo Bộ tài chính, Tổng cục địa chính, Ban vật giá Chính phủ cho phép Hà Nội được ghi nợ tiền nhà đất và đơn giản hóa thủ tục nhà đất khi thực hiện Nghị định 60/CP và 61/CP của Chính phủ. - Nghiên cứu điều chỉnh cơ chế tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước theo hướng khắc phục tình trạng Quỹ hỗ trợ phát triển "vừa đá bóng, vừa thổi còi" như vừa tiếp nhận, thẩm định, xét duyệt dự án đầu tư, vừa cho vay và thu nợ. Việc này chỉ phù hợp với nguồn vốn ngân hàng thương mại không có tính chất ưu đãi. + Về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đề nghị Nhà nước chưa thực hiện phân cấp quyền giấy phép đầu tư cho các địa phương vì như vậy sẽ tạo ra xu hướng phân tán mục tiêu và gây nên tình trạng cạnh tranh, gây nên những tổn thất không đáng có. Cần xúc tiến thành lập các công ty giám định vốn đầu tư. Trong xét duyệt và cấp giấy phép đầu tư cần đặc biệt chú trọng hiệu quả kinh tế-xã hội, không vì cần vốn mà tiếp nhận ồ ạt. Với hình thức liên doanh giữa các xí nghiệp Nhà nước với nước ngoài, không nên chỉ liên doanh một phần vì như vậy sẽ gây nhiều hậu quả xấu: phân tán vốn, tranh chấp thị trường, chảy chất xám tại chỗ... làm suy yêú phần “nội địa” còn lại của xí nghiệp và nhiều tiêu cực khác cũng theo đó mà sinh ra. Danh mục tài liệu tham khảo 1. Báo cáo huy động vốn và sử dụng vốn đầu tư (tất cả vốn Thành phố Hà Nội quản lý)từ 1990 - 2000 Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội 2. Báo cáo thống kê kinh tế - xã hội Thành phố Hà Nội từ 1990 - 2000 Cục thống kê Hà Nội 3. Các văn bản của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các Bộ ngành và Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội về cơ chế chính sách và qui định trong quản lý vốn đầu tư. 4. Nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô Hà Nội Hội đồng nhân dân Thành phố các khóa. 5. Kỷ yếu hội thảo khoa học về huy động vốn và sử dụng vốn cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô - năm 1999. 6. Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ Thành phố Hà Nội khóa XI, khóa XII và khoá XIII 7. Kế hoạch đầu tư Hà Nội 2001-2005 Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội 8. Niên giám thống kê các năm 1996-2000 Cục thống kê Hà Nội 9. Chiến lược phát triển Kinh tế - Xã hội Thủ đô 2001- 2010 10. Ngô Đình Giao: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH nền KTQD Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia : 1994 12. J.M. Keynes : Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất tiền tệ Nhà Xuất Bản Giáo Dục : 1994 13. Nguyễn Ngọc Mai : Phân tích và quản lý dự án đầu tư Nhà Xuất Bản Khoa Học KỹThuật : 1995 14. Tài liệu hội thảo về hoạt động các định chế quỹ đầu tư do IFC tổ chức tại Hà Nội Tháng 7/1998. 15. Đỗ Hoài Nam : Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và phát triển các ngành trọng điểm mũi nhọn ở Việt Nam Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội : 1996 16. Bùi Tất Thắng : Các nhân tố ảnh hưởng tới sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kỳ Công Nghiệp Hoá ở Việt Nam Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội : 1997 17. Báo cáo Quý, Năm về hiệu quả đầu tư Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docG0015.doc
Tài liệu liên quan