Tăng cường vai trò nhà nước trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của luận văn Sự nghiệp đổi mới toàn diện ở nước ta, trước hết và trọng tâm là đổi mới kinh tế đồng thời từng bước đổi mới chính trị, được thực hiện từ quyết định quan trọng - Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986). Đổi mới kinh tế - xây dựng và phát triển nền KTTT định hướng XHCN là một nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, phù hợp với yêu cầu khách quan của thực trạng kinh tế - xã hội của đất nước và xu thế phát triển

doc106 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 09/12/2013 | Lượt xem: 1114 | Lượt tải: 2download
Tóm tắt tài liệu Tăng cường vai trò nhà nước trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
của thời đại. Trong đổi mới, Đảng cộng sản Việt Nam đã bước đầu đề ra nội dung, hình thức và bước đi cụ thể, thích hợp. Từng bước chuyển nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang nền KTTT có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN. Thực hiện đường lối đó, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đóng vai trò hết sức quan trọng - quản lý và điều tiết nền KTTT, bảo đảm quá trình phát triển theo đúng định hướng XHCN. Thực tiễn từ 1986 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước, sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta đã và đang đạt được nhiều thành tựu có ý nghĩa quan trọng, song cũng đặt ra nhiều vấn đề phức tạp - những thách thức, trở ngại lớn như nghị quyết Hội nghị giữa nhiệm kỳ - khóa VII đã chỉ rõ, đặc biệt là nguy cơ chệch hướng XHCN. Cùng với nguy cơ, thách thức trong nước, những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới - xu hướng khu vực hóa, quốc tế hóa và toàn cầu hóa đời sống kinh tế thế giới... đem đến thời cơ, vận hội mới và những thách thức lớn cho nước đang ta. Những năm qua, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã tích cực đổi mới theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước đã phát huy vai trò, hiệu lực quản lý, phát triển kinh tế - xã hội và đã đạt được một số hiệu quả rất quan trọng. Song trong quá trình thực thi quyền lực còn tồn tại nhiều thiếu sót, khuyết điểm cần được khắc phục. Trước thực trạng đó, đặt ra vấn đề khách quan là Nhà nước phải tự đổi mới và hoàn thiện mình như thế nào? Điều tiết, quản lý và can thiệp vào kinh tế bằng những nội dung, giải pháp nào để phát huy vai trò, hiệu lực quản lý của Nhà nước, bảo đảm quyền lực chính trị của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và phát triển nền KTTT đúng định hướng XHCN... Vì những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề "Tăng cường vai trò nhà nước trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay" làm luận văn Thạc sĩ Chính trị học. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, vấn đề nhà nước và thị trường, vai trò của nhà nước trong nền KTTT đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Đặc biệt từ sau cuộc khủng hoảng năng lượng (những năm 70) và khủng hoảng ở các nước XHCN (Liên Xô và Đông Âu tan rã)... đã đặt lại vấn đề phải nghiên cứu về vai trò nhà nước trong đời sống kinh tế như thế nào để đạt được hiệu quả. Theo hướng trên, đã có nhiều công trình nghiên cứu nhưng nhìn chung những kết quả được rút ra đều tập trung vào một số quan điểm: Thứ nhất: Nhà nước không thể can thiệp vào thị trường (nhà nước tối thiểu, thị trường tối đa), thị trường có quy luật riêng, "Bàn tay vô hình" của thị trường sẽ tự nó giải quyết tất cả. Ở nơi nào có sự can thiệp của nhà nước thì ở đó thị trường thất bại, kinh tế không phát triển được. Thứ hai: Nhà nước hoàn toàn lãnh đạo, quản lý kinh tế bằng các kế hoạch trong mọi lĩnh vực, mọi ngành kinh tế. Đại diện cho những quan điểm này là những nhà tân mác xít, họ cổ vũ và khẳng định mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung cao độ (kiểu Xô viết) coi đó là mô hình tối ưu cho sự phát triển. Thứ ba: Thừa nhận KTTT, đồng thời nhà nước phải can thiệp tối đa bằng các công cụ điều tiết vĩ mô (nhà nước tối đa). Theo quan điểm này chỉ có nhà nước (bàn tay hữu hình) mới có khả năng hạn chế và khắc phục những khuyết tật của KTTT, đặc biệt là trong lĩnh vực xã hội. Thứ tư: Một quan điểm khác, không nói đến nhà nước tối đa hay tối thiểu, họ thừa nhận sự tham gia và can thiệp cần thiết theo chức năng của nhà nước trong KTTT. Ở nước ta, nhận thức về vai trò nhà nước trong nền KTTT cũng có nhiều thay đổi. Từ tuyệt đối hóa vai trò nhà nước đến nhận thức ngày càng đúng đắn hơn về vai trò của nó trong nền KTTT. Mặc dù vậy, những kết quả nghiên cứu về quan hệ giữa nhà nước và thị trường còn chưa thỏa đáng, cần phải quan tâm nghiên cứu nhiều hơn nữa. Đảng ta chủ trương xây dựng một nền KTTT định hướng XHCN là hoàn toàn đúng đắn. Song vấn đề đặt ra là: Vai trò Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam trong nền KTTT định hướng XHCN như thế nào? Đây là vấn đề rất lớn cả về lý luận cũng như thực tiễn và mới chỉ có những định hướng nhưng chưa được làm sáng tỏ về mặt khoa học. Cho đến nay, nhiều nhà nghiên cứu khi nói đến vai trò nhà nước trong KTTT thường vấp phải cách tiếp cận cơ giới, nghĩa là phân định nhà nước "tối thiểu", "tối đa", "điều tiết vĩ mô"... Căn cứ vào kinh nghiệm nào đó, các nhà nghiên cứu dường như muốn quy định một sân chơi riêng biệt cho nhà nước trong KTTT. Theo ý kiến chúng tôi, cần khắc phục cách tiếp cận như vậy. Nên chăng, cần nhìn nhận vai trò của nhà nước trong nền KTTT là giải quyết mối quan hệ giữa quyền lực chính trị và kinh tế trong việc tìm con đường phát triển tối ưu cho một quốc gia. Nhà nước không chỉ là "tham gia", "can thiệp" mà là "chủ thể" kinh tế có quyền lực chính trị trong nền KTTT. Vì vậy luận văn này bước đầu thử đặt ra và lý giải một hướng tiếp cận như vậy. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu: - Trên cơ sở lý luận khoa học chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam, kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của Nhà nước ta, và nhà nước của một số quốc gia, bước đầu xác định một cách tổng quát vấn đề vai trò quyền lực nhà nước trong KTTT định hướng XHCN. - Nêu lên một số thực trạng và giải pháp về vai trò nhà nước trong KTTT định hướng XHCN ở nước ta, dưới góc độ Chính trị học. Nhiệm vụ của luận văn: Một là: Hệ thống hóa một cách khái quát các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và các lý thuyết hiện đại về vai trò, chức năng của nhà nước trong quản lý kinh tế và KTTT, từ đó làm rõ và phân tích vấn đề đó ở nước ta. Hai là: Phân tích thực trạng thực thi quyền lực của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta. Ba là: Đề xuất một số định hướng, giải pháp nhằm xác định vai trò Nhà nước trong nền KTTT ở nước ta hiện nay. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận: Vận dụng lý luận và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về mối quan hệ chính trị và kinh tế, vai trò nhà nước trong quản lý kinh tế và kinh tế XHCN; một số lý thuyết của khoa học kinh tế và khoa học chính trị hiện đại cũng như một số kinh nghiệm nước ngoài... để lý giải những vấn đề thực tiễn đặt ra. Phương pháp nghiên cứu: Chủ yếu vận dụng phương pháp lôgíc - lịch sử và các phương pháp khác: Chính trị học so sánh; xã hội học chính trị, so sánh, thống kê, định lượng... 5. Giới hạn nghiên cứu Tập trung nghiên cứu vai trò Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam trong phát triển nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) đến nay. 6. Đóng góp của luận văn Trên cơ sở hệ thống hóa những thành tựu nghiên cứu về quyền lực nhà nước trong các nền kinh tế, luận văn góp phần làm rõ vai trò quyền lực Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta. Đề xuất một số định hướng và giải pháp cho việc tăng cường vai trò Nhà nước trong nền KTTT theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết và danh mục tài liệu tham khảo. Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ NHÀ NƯỚC TRONG KINH TẾ VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1. QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1.1.1. Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước trong phát triển kinh tế và kinh tế thị trường Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định rằng, nhà nước luôn có chức năng kinh tế. Nghĩa là, nhà nước ra đời và tồn tại không phải chỉ thuần túy để làm chính trị, không chỉ quản lý xã hội mà còn quản lý và phát triển kinh tế. Nhà nước chính là đại diện cho giai cấp thống trị về kinh tế và chức năng kinh tế của nhà nước cũng chính là nhằm củng cố địa vị của giai cấp cầm quyền. Khẳng định chức năng kinh tế của nhà nước, phân tích mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, Lênin cho rằng: không có chính trị đơn thuần và kinh tế đơn thuần mà chính trị và kinh tế luôn gắn bó với nhau, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau. "Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, lập luận một cách khác đi là quên mất điều thường thức của chủ nghĩa Mác" [20, tr. 349], "Chính trị tức là kinh tế được cô đọng lại" [23, tr. 147]. Chính trị thực chất là quan hệ giữa các giai cấp, các nhóm xã hội, các quốc gia dân tộc. Trong đó trước hết và cơ bản là quan hệ về kinh tế. Trong chính trị, vấn đề quyền lực chính trị (biểu hiện tập trung ở quyền lực nhà nước) là mục tiêu và trực tiếp mà bất cứ giai cấp, nhóm xã hội nào cũng muốn nắm và chi phối. Vì nắm được quyền lực nhà nước là nắm được công cụ cơ bản, trọng yếu để giải quyết quan hệ lợi ích với các giai cấp khác theo hướng có lợi cho giai cấp mình. Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng: tất cả các cuộc đấu tranh giai cấp từ trước tới nay, xét đến cùng đều vì mục đích kinh tế - giải phóng kinh tế và được tiến hành trước hết vì lợi ích kinh tế. Và do đó một khi xã hội còn tồn tại giai cấp, còn tồn tại nhà nước thì tất cả những vấn đề chính trị và bất kỳ một thái độ nào cũng đều ảnh hưởng từ vấn đề kinh tế. Vì vậy Lênin khẳng định: Trong quá trình phát triển xã hội, kinh tế quyết định chính trị còn khi hoạch định chính sách thì chính trị phải chiếm hàng đầu, chiếm vị trí ưu tiên, phải đưa vào các chính sách, các quan hệ giai cấp các lực lượng kinh tế xã hội. "Không có một lập trường chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó không thể nào giữ được sự thống trị của mình và do đó cũng không thể hoàn thành nhiệm vụ của mình trong sản xuất" [21, tr. 350]. Sự tác động của chính trị vào kinh tế thể hiện thông qua vai trò hoạt động của nhà nước - các thể chế và các chính sách của nhà nước. Sự tác động đó luôn diễn ra theo hai hướng: - Nếu sự tác động cùng chiều sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Nghĩa là, nhà nước trước hết bằng các thể chế chính trị tạo ra các quan hệ kinh tế phù hợp với sự phát triển của LLSX. Nhà nước nắm bắt các quy luật phát triển của nền kinh tế, tạo môi trường pháp lý và hoạch định các chính sách để phát huy các mặt tích cực của các xu hướng tích cực, đồng thời loại bỏ những mặt, những nhân tố tiêu cực cản trở sự tác động của các quy luật kinh tế. - Sự tác động của nhà nước theo hướng ngược chiều sẽ dẫn tới kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội. Nghĩa là, nhà nước duy trì các quan hệ kinh tế lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển của LLSX hoặc bảo vệ lợi ích của giai cấp phản động chống lại lợi ích của giai cấp đang lên, lợi ích của nhân dân lao động. Hoạt động bất chấp quy luật khách quan của kinh tế - xã hội. Nhà nước với chức năng kinh tế, có vai trò hết sức to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, vai trò đó được phát huy và thực hiện có hiệu quả hay không là phụ thuộc vào bản chất của từng chế độ chính trị và bản chất giai cấp của từng nhà nước. Các nhà nước (chủ nô, phong kiến, tư sản) đều bằng cách này hay cách khác kiểm soát các hoạt động kinh tế của xã hội, đặt ra những chính sách, luật lệ nhằm giữ vững vị trí thống trị của giai cấp cầm quyền. Ngay dưới CNTB, mặc dù các thể chế thị trường phát triển cao, nhà nước TBCN tham gia vào các quá trình kinh tế với rất nhiều hình thức (mà đỉnh cao là CNTB độc quyền nhà nước - sự liên minh giữa nhà nước và các tập đoàn tư bản) cũng đều nhằm củng cố vị trí thống trị của giai cấp tư sản - giai cấp cầm quyền. Khác với nhà nước của các giai cấp bóc lột, nhà nước XHCN là nhà nước kiểu mới - nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nhà nước thực hiện trấn áp giai cấp bóc lột - giai cấp tư sản và bọn phản động, nhà nước dân chủ với quảng đại quần chúng. Nhà nước có nhiệm vụ kinh tế và vì lợi ích kinh tế của nhân dân lao động. Trong hai chức năng trấn áp và xây dựng của nhà nước XHCN, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định rằng chức năng xây dựng là chủ yếu. Để làm được việc đó, giai cấp vô sản phải bằng quyền lực nhà nước của mình, tiến hành một cuộc cách mạng toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trước hết, trọng tâm là phát triển kinh tế, cải tạo những cơ sở kinh tế cũ, xây dựng nền tảng kinh tế mới với các quan hệ kinh tế lành mạnh vì mục đích con người. Với tư cách là chủ thể kinh tế, nhà nước XHCN sử dụng những yếu tố vật chất (đất đai, tiền vốn, lao động, tài nguyên) và tạo ra những quan hệ cần thiết để trực tiếp quản lý, sản xuất hoặc lưu thông, dịch vụ trên những ngành, vùng chủ chốt. Đồng thời, nhà nước là người đại diện cho ý chí và quyền lực của nhân dân, nắm trong tay các công cụ, phương tiện quản lý (chính sách, kế hoạch, luật pháp, tài chính, ngân hàng...) và kiểm soát việc sử dụng tài sản quốc gia, tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh phát triển kinh tế theo quan điểm mục tiêu đường lối phát triển kinh tế của giai cấp lãnh đạo - giai cấp công nhân mà đại biểu là Đảng cộng sản. Trong thời kỳ này, nhiệm vụ của nhà nước XHCN là phải làm gì, làm như thế nào để tạo ra năng suất lao động ngày càng cao để chiến thắng hoàn toàn CNTB. Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định bước chuyển từ CNTB lên CNXH không phải một sớm một chiều mà là một thời kỳ quá độ lâu dài - thời kỳ quá độ lên CNXH (Mác gọi là những "cơn đau đẻ" kéo dài). Đặc trưng cơ bản của thời kỳ này là kết cấu kinh tế - xã hội mới còn tồn tại đan xen với kết cấu kinh tế - xã hội cũ. Nền kinh tế có nhiều thành phần tồn tại, tác động đan xen với nhau, trong đó thành phần kinh tế XHCN thậm chí chưa thắng lợi hoàn toàn. Vì vậy việc nhà nước XHCN quản lý nền kinh tế nhiều thành phần là một tất yếu của thời kỳ quá độ. Chính Mác đã chỉ rõ: Không một hình thức kinh tế nào, biến đi trước khi nó còn phục vụ được cho các lực lượng sản xuất mà nó đã dọn khoảng đất trống cần thiết cho sự phát triển của các lực lượng sản xuất ấy; Ngược lại, không một hình thức kinh tế nào có thể ra đời trước khi xuất hiện đầy đủ các tiền đề vật chất cần thiết cho nó. Vì kết cấu nền kinh tế của thời kỳ quá độ lên CNXH còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế nên hệ thống các quy luật kinh tế hoạt động trong thời kỳ này rất đa dạng. Bên cạnh những quy luật kinh tế XHCN mới hình thành nhưng chưa phát huy đầy đủ tác dụng của nó, vẫn còn những quy luật tương ứng với các thành phần kinh tế không XHCN còn hoạt động và phát huy tác dụng, tác động đến nền kinh tế quốc dân với mức độ khác nhau. Vì vậy trong quá trình quản lý nền kinh tế, nhà nước XHCN phải tính đến việc vận dụng toàn bộ hệ thống các quy luật đó sao cho phù hợp, có lợi cho CNXH. Một mặt tạo ra những điều kiện vật chất và xã hội để các quy luật kinh tế XHCN phát huy ngày càng đầy đủ tác dụng của mình - là nhân tố chủ đạo; mặt khác, chủ động vận dụng các quy luật kinh tế khác, hướng theo quỹ đạo của CNXH. Đây là việc khó khăn, phức tạp, dễ phạm sai lầm "tả" hoặc "hữu khuynh". Do đó đòi hỏi nhà nước XHCN phải có bản lĩnh, có khả năng tổ chức quản lý giỏi, biết tìm ra những hình thức, phương pháp mới phong phú, đa dạng để hướng các thành phần kinh tế đi theo quỹ đạo của CNXH. Từ thực tiễn nước Nga, khi chấm dứt nội chiến và chuyển sang thời bình, Lênin đã nghiêm khắc rút ra những bài học của chính sách "cộng sản thời chiến", phê phán những khuynh hướng tư tưởng chủ quan, nóng vội (muốn lập tức quốc hữu hóa, quốc doanh hóa, hạn chế không sử dụng các hình thức kinh tế quá độ đang còn tồn tại và còn tác dụng đối với việc phát triển LLSX), dẫn đến hậu quả nghiêm trọng: Kinh tế không phát triển và gây sự bất bình của nhân dân đối với chính quyền Xô viết... Theo Lênin - quá trình chuyển từ thời chiến sang thời bình "không những chỉ liên quan đến những cơ sở của công cuộc kiến thiết kinh tế mà còn liên quan đến các cơ sở của những mối quan hệ giữa các giai cấp còn tồn tại trong xã hội chúng ta". "Vấn đề này là vấn đề cần giải quyết". Không thực hiện được bước chuyển ấy sẽ là thất bại của Đảng của giai cấp công nhân. Lênin cho rằng, điều kiện thời bình phải xem xét lại tất cả các quan điểm lý luận và thực tiễn sự phát triển kinh tế - xã hội nước Nga, thậm chí thay đổi căn bản cách tiếp cận với CNXH. Chính từ thực tiễn nước Nga, Lênin đã đưa ra NEP, trong đó Người nêu rõ những nhiệm vụ và chính sách kinh tế mà nhà nước chuyên chính vô sản phải thay đổi là: - Nhà nước vô sản phải thực hiện xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần, phát triển các quan hệ thị trường dưới sự điều tiết của nhà nước XHCN. Các thành phần kinh tế đó bao gồm: (1) Kinh tế nông dân kiểu gia trưởng; (2) kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ (chủ yếu là nông dân); (3) kinh tế CNTB tư nhân; (4) kinh tế CNTB nhà nước; (5) kinh tế của CNXH [21, tr. 248]. Các thành phần kinh tế trên đây đan xen với nhau, trong đó thành phần tiểu tư sản (nông dân) chiếm ưu thế. Các thành phần này đấu tranh với nhau mà chủ yếu là cuộc đấu tranh giữa thành phần tiểu tư sản và tư bản tư nhân với CNXH và CNTB nhà nước. Nghĩa là đấu tranh giữa khuynh hướng sản xuất nhỏ và sản xuất lớn. Thắng lợi của CNXH phụ thuộc vào thắng lợi của khuynh hướng sản xuất lớn. Trong nền kinh tế của thời kỳ quá độ lên CNXH, Lênin đặc biệt chú ý và luôn luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của thành phần kinh tế CNTB nhà nước, đặt hầu hết sự chú ý của nhà nước Xô viết vào việc phát triển thành phần kinh tế này. Thậm chí bước sang giai đoạn thực hiện NEP, Lênin coi đó là bắt đầu một thời kỳ quá độ, là một bước tiến từ "một nước Cộng hòa Xô viết XHCN chuyển sang CNTB nhà nước" [21, tr. 247] và ở Nga từ kinh tế tiểu tư sản đến CNXH và CNTB nhà nước đều trải qua một con đường [21, tr. 254] CNTB nhà nước theo Lênin là "sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho CNXH, là phòng chờ đi vào CNXH, là nấc thang lịch sử mà giữa nó (nấc thang đó) với nấc thang được gọi là CNXH thì không có một nấc thang nào ở giữa cả" [21, tr. 250]. CNTB nhà nước (trong đó có cả chính sách tô nhượng) mà mục đích của nó dưới CNXH theo Lênin là kiểu quan hệ kinh tế mà bên trên có vẻ một sự liên minh với CNTB nước ngoài, cái kiểu quan hệ kinh tế ấy sẽ tạo cho chính quyền của giai cấp vô sản có khả năng tiến hành ở bên dưới việc trao đổi tự do với nông dân, Lênin còn cho rằng "hoặc là những quan hệ kiểu ấy hoặc là không có gì hết" [21, tr. 82]. Vấn đề CNTB nhà nước, vấn đề mà "ngay cả Mác cũng không viết một lời nào" là một đóng góp quan trọng của Lênin trong quá trình phát triển chủ nghĩa Mác về xây dựng CNXH trong điều kiện còn lạc hậu về kinh tế kỹ thuật. Đây cũng chính là một chỉ dẫn quý báu của Lênin về việc sử dụng quyền lực nhà nước của giai cấp vô sản trong phát triển kinh tế. Trong điều kiện nước Nga sau Cách mạng tháng Mười, Lênin coi CNTB nhà nước là thành phần kinh tế cao hơn, đứng trên thành phần kinh tế XHCN. Vấn đề khác nhau của CNXH và CNTB nhà nước chính là vấn đề chính trị, tức là vấn đề giai cấp cầm quyền. Lênin nêu vấn đề, mà theo Người là "chân lý": "tốt hơn là nên trước hết hãy thực hiện CNTB nhà nước để rồi sau đó, đi đến CNXH" [23, tr. 326]. Đó là một trong những nhiệm vụ mấu chốt của nhà nước vô sản. Để đánh tan những hoài nghi, phê phán cách hiểu kinh viện về CNTB nhà nước, Lênin giải thích rằng "CNTB nhà nước mà chúng ta nói đó là một thứ CNTB mà chúng ta có thể hạn chế, có thể quy định giới hạn, CNTB nhà nước đó gắn liền với nhà nước, mà nhà nước chính là công nhân, chính là bộ phận tiên tiến của công nhân, là đội tiền phong, là chúng ta" [23, tr. 102]. Khi thực hiện CNTB nhà nước Lênin coi trọng "sự lãnh đạo chính trị của giai cấp vô sản". Sự lãnh đạo này phải hướng vào giải quyết những nhiệm vụ mấu chốt, cấp thiết nhất. Mà trong một nước tiểu nông thì đó là "phục hồi ngay những LLSX của kinh tế nông dân" [21, tr. 263]. Trong lĩnh vực này những ý kiến của Lênin đặc biệt có giá trị phương pháp luận cho các Đảng cộng sản ở các nưóc nông nghiệp. Trong các nước ấy, cũng như ở nước Nga "tìm cách ngăn cấm, triệt để chặn đứng mọi sự phát triển của sự trao đổi tư nhân, không phải là quốc doanh, tức là của thương mại, tức là của CNTB, một sự phát triển không thể tránh được khi có hàng triệu người sản xuất nhỏ. Chính sách ấy là một sự dại dột và tự sát đối với đảng nào muốn áp dụng nó. Dại dột, vì về phương diện kinh tế, chính sách ấy là không thể nào thực hiện được; tự sát, vì những đảng nào định thi hành một chính sách như thế, nhất định sẽ bị phá sản" [21, tr. 267]. Để thực hiện được các nhiệm vụ "quy định", "giới hạn" CNTB nhà nước, Lênin nhấn mạnh nhà nước chuyên chính vô sản phải cải tiến phương pháp làm việc của bộ máy Xô viết theo hướng tăng cường quyền lực trong điều kiện nền KTTT. Bộ máy nhà nước Xô viết là chuyên chính vô sản, nhà nước của giai cấp công nhân và nông dân, nhưng bộ máy ấy không phải sau khi giành được chính quyền đã hoạt động tốt. Vì theo Lênin, bộ máy đó chưa thực sự là công nông, còn nhiều tàn dư phong kiến và tư sản nên phải xây dựng lâu dài. Những đảng viên cộng sản làm việc trong bộ máy còn chưa có kinh nghiệm quản lý, làm việc kém hiệu quả; bộ máy còn cồng kềnh và thiếu sự kiểm tra giám sát từ phía nhân dân. Vì vậy, việc xây dựng nhà nước Xô viết là một nhiệm vụ nối tiếp quan trọng sau khi hoàn thành cuộc cách mạng giành chính quyền vĩ đại. "Tôi biết rõ ràng chúng ta có những khuyết điểm trong bộ máy tổ chức quần chúng", nhưng "vấn đề không phải là ở chỗ lấy việc cải tổ nhanh chóng để cải tiến bộ máy đó, mà vấn đề là ở chỗ phải quán triệt cuộc cải tạo chính trị đó để đạt tới một trình độ kinh tế - văn hóa khác" [22, tr. 401]. Lênin đưa ra ví dụ về Ủy ban đặc biệt toàn Nga - tổ chức an ninh đặc biệt chống lật đổ. Nhưng chuyển sang giai đoạn mới cần phải xác định rõ chức năng và quyền hạn của nó và giới hạn công tác của nó vào những nhiệm vụ chính trị, mà chủ yếu là thực hiện các chính sách kinh tế mới - KTTT. "Phải thu hẹp phạm vi hoạt động của các cơ quan chuyên giáng trả lại" [22, tr. 403-404]. "Sắc lệnh thì chúng ta có quá nhiều và chúng ta làm sắc lệnh đó một cách quá vội vàng... nhưng việc chấp hành thực tiễn đó thì không được kiểm tra lại" [23, tr. 17]. Vấn đề không chỉ ở chỗ ra sắc lệnh mà là ở chỗ làm thế nào để thực hiện được các sắc lệnh đó. Lênin đã từng chỉ rõ vấn đề chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng. Nhưng giai cấp công nhân sau khi đã giành được chính quyền thì "cái mấu chốt không phải là chính quyền mà cái mấu chốt chính là biết lãnh đạo" [23, tr. 128]. Thực chất những quan điểm về xây dựng bộ máy chính quyền Xô viết mà Lênin nêu ra là khắc phục những sai lầm khuyết điểm trong quản lý nền kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần với những quan hệ thị trường. Nghĩa là trong điều kiện mới, nhà nước phải tăng cường quyền lực của mình không phải bằng các mệnh lệnh hành chính quan liêu mà phải bằng các thể chế kinh tế - chính trị, công cụ để quản lý kinh tế. Phải có kế hoạch, chiến lược, hệ thống pháp luật và các chính sách kinh tế hợp lý, đúng đắn để quản lý chứ không phải can thiệp vào các quá trình hoạt động kinh tế như trong thời chiến... Tóm lại, Lịch sử phong trào XHCN thế giới đã chứng minh tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của nhà nước XHCN trong phát triển kinh tế. Mặc dù ngày nay hệ thống XHCN đã tan rã do nhiều nguyên nhân khác nhau mà ở đây chúng ta không đề cập đến, nhưng mô hình phát triển kinh tế thống nhất và có kế hoạch của Liên Xô và của các nước XHCN trước những năm tám mươi của thế kỷ XX đã đưa lại những kinh nghiệm thành công mẫu mực về nhà nước XHCN quản lý nền kinh tế. Những luận điểm này đã mang lại nhiều thành công trong thực tiễn của nhà nước XHCN lãnh đạo, quản lý nền KTTT như: Thời kỳ NEP của Liên Xô, giai đoạn đầu của mô hình kinh tế tự quản ở Nam Tư; những thành quả to lớn trong chính sách cải cách mở cửa của Trung Quốc; và đổi mới ở Việt Nam. Chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn của các nước xây dựng CNXH chỉ ra rằng, nhà nước XHCN có thể sử dụng các hình thức quản lý quá độ, hỗn hợp, trong đó có thể sử dụng các quan hệ thị trường để quản lý và phát triển nền kinh tế. Tuy nhiên, nhà nước quản lý nền kinh tế XHCN như thế nào, còn là vấn đề chưa có câu trả lời cuối cùng và vấn đề đó còn tùy thuộc vào điều kiện từng nước và bối cảnh chung của thế giới. Nhưng không thể phủ nhận vai trò đặc biệt của nhà nước XHCN trong phát triển nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là trong nền KTTT định hướng XHCN hoặc thị trường XHCN. 1.1.2. Vài nét về một số lý thuyết và kinh nghiệm thế giới về vai trò chức năng nhà nước đối với sự phát triển kinh tế Các tác giả nổi tiếng là Ađam Smít và Đavit Ricarđô do đánh giá quá cao vai trò của lao động, đất đai và mậu dịch tự do, nên chủ trương nền kinh tế phải được điều khiển bởi "bàn tay vô hình". Các ông chưa đánh giá đúng vị trí của nhà nước trong đời sống kinh tế. Lý thuyết của các ông là cơ sở cho chủ nghĩa tự do cũ và mới. Chủ nghĩa tự do mới cổ vũ cho sự tham gia tối thiểu của nhà nước vào KTTT. Điển hình cho mô hình KTTT theo chủ nghĩa tự do là Mỹ. Từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XX, CNTB phát triển chủ yếu theo khuynh hướng này. Đặc điểm hoạt động của giai đoạn này của CNTB là dựa trên sự bóc lột không thương xót giai cấp công nhân và nhân dân lao động, lấy tự do cạnh tranh làm động lực. Sự phát triển của CNTB thường kèm theo khủng hoảng định kỳ, tổng khủng hoảng, chiến tranh xâm chiếm thuộc địa và thị trường, cao hơn là chiến tranh thế giới để phân chia thị trường. Nhà nước trong sự phát triển này thực sự là công cụ đắc lực của giới chủ tư bản. Nhân dân thế giới phải trả giá đắt về xã hội cho sự phát triển TBCN. Chính vì phải trả giá đắt về xã hội cho KTTT, chính vì sự bất lực của nhà nước trước các thế lực tài phiệt, nửa cuối thế kỷ XIX đã xuất hiện sự liên minh giữa nhà nước và tư bản hình thành CNTB nhà nước. Mặc dầu vậy CNTB nhà nước cũng không giải quyết được những căn bệnh của CNTB đó là khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, phân hóa giàu nghèo, phá hủy môi trường, chạy đua mù quáng vì lợi nhuận... Những năm 30 đến những năm 50 của thế kỷ XX những cuộc khủng hoảng kinh tế nổ ra thường xuyên cho thấy "bàn tay vô hình" không thể bảo đảm những điều kiện cho phát triển kinh tế. Trình độ xã hội hóa càng cao đặt ra vấn đề cần phải có lực lượng nhân danh xã hội can thiệp vào quá trình kinh tế, điều tiết kinh tế. Nhà kinh tế học người Anh - J.M. Keynes đã đưa ra lý thuyết điều tiết KTTT. Ông cho rằng để khắc phục tình trạng khủng hoảng kinh tế, nhà nước phải can thiệp vào quá trình kinh tế, phải huy động vốn để mở mang sản xuất kinh doanh, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho dân cư, làm cho cầu tiêu dùng tăng lên, khuyến khích mở rộng sản xuất kinh doanh. Để làm được việc đó nhà nước phải can thiệp vào quá trình kinh tế cả ở vĩ mô và vi mô. Tuy nhiên với quan điểm này, ông gần như phủ nhận những quan hệ khách quan của KTTT. Cuối giai đoạn này đã xuất hiện sự hoài nghi đối với KTTT. Hơn thế nữa phong trào cộng sản và công nhân thế giới đấu tranh chống lại sự phát triển thị trường TBCN, đề xuất một mô hình phát triển mới cho nhân loại, mô hình XHCN dựa trên nền kinh tế kế hoạch hóa thống nhất. Giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến những năm 80 của thế kỷ XX, KTTT mất uy thế trước kinh tế kế hoạch hóa (đặc biệt theo mô hình Xô viết). Cuộc tổng khủng hoảng đầu những năm 70 đã làm tăng mối hoài nghi về KTTT. Nhiều nước, đặc biệt là các nước mới giành được độc lập dân tộc, các nước đang phát triển lựa chọn con đường phát triển phi thị trường, hướng theo con đường kế hoạch hóa tập trung kiểu Xô viết. Một số nước kết hợp mô hình KTTT với mô hình Xô viết tạo ra mô hình hỗn hợp. Giai đoạn từ những năm 80 đến nay, sau khi khắc phục được khủng hoảng, các nền KTTT có bước phát triển mới trên cơ sở thay đổi cơ cấu, đầu tư công nghệ cao, có sự tham gia điều tiết của nhà nước. Lúc này các nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã bộc lộ những nhược điểm cơ bản, lâm vào khủng hoảng, thậm chí phải chấp nhận sụp đổ để cải tạo lại. Đó là thất bại của việc tuyệt đối hóa vai trò nhà nước trong phát triển kinh tế. KTTT đã chứng minh được ưu thế và sức sống của mình. Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới hoặc là đang tồn tại và phát triển KTTT hoặc là chuyển đổi nền kinh tế của mình sang KTTT. Hiện nay vấn đề tham gia của nhà nước vào đời sống KTTT đã trở thành vấn đề không tranh cãi. Vấn đề là nhà nước tham gia như thế nào, ở lĩnh vực gì mà thôi... Ở đây chúng ta thấy câu trả lời là không đơn nghĩa. Nhìn chung, các nhà khoa học và quản lý đều nhất trí cho rằng, trong nền KTTT, nhà nước đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Nhà nước như là người điều tiết thị trường bằng cách tạo những khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động kinh tế; xây dựng những điều kiện cho cạnh tranh hợp pháp; chống độc quyền; xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong tổng thể; tham gia khắc phục những thất bại của thị trường. Nghiên cứu một số lý thuyết, chúng ta có thể rút ra một số vấn đề: Nhìn chung các lý thuyết cổ điển đều cho rằng thị trường là nhân tố chính của sự phát triển, trong đó nhấn mạnh những yếu tố sản xuất trực tiếp như vốn, đất đai và tích lũy có ý nghĩa quyết định. Tuy nhiên các lý thuyết này chỉ phù hợp với giai đoạn phát triển thấp, chủ yếu dựa vào lao động cơ bắp, vốn, tài nguyên. Một số lý thuyết hiện đại đã thấy được tầm quan trọng của khoa học kỹ thuật, thị trường và nhà nước. Nhưng còn tuyệt đối hóa KTTT, hoặc khoa học kỹ thuật, hay vai trò nhà nước mà chưa thấy được tiềm năng con người. Một số lý thuyết đã nhấn mạnh vai trò quyết định của các thể chế trong quá trình phát triển. Kinh nghiệm thế giới hiện đại cho thấy, việc phát triển kinh tế không thể áp dụng tuyệt đối một lý thuyết nào. Hầu hết các nước thành công trong phát triển kinh tế đều áp dụng một cách tổng hợp linh hoạt mềm dẻo các lý thuyết và kinh nghiệm khác nhau vào thực tiễn phát triển kinh tế trong từng giai đoạn cụ thể của đất nước. Các nước HPAEs đã cung cấp những kinh nghiệm quý báu. Từ 1960 đến nay, HPAEs đã lựa chọn cho mình một khuynh hướng phát triển đúng đắn là: Kinh tế thị trường với "sự can thiệp có lựa chọn" của nhà nước; cách mạng công nghệ, đặc biệt là tin học; thực hiện công bằng xã hội. Từ năm 1960, HPAEs tăng trưởng nhanh gấp đôi các nền kinh tế Đông Á, gấp 3 lần so với Mỹ La tinh và Nam Á, gấp 5 lần so với châu Phi, cận xa mạc Xahara. Tuổi thọ trung bình tăng từ 65 tuổi năm 1960 lên 71 tuổi năm 1990. Tỷ lệ người đói giảm năm 1960: 58% xuống 17% năm 1990. Tăng trưởng GDP the._.o đầu người từ 1965 đến 1990: HPAEs từ 5 - 6% năm trong khi các nước Đông Á (trừ HPAEs) chỉ tăng từ 2 - 3% năm, châu Phi cận xa mạc Xahara 0,5% năm... [16, tr. 21]. HPAEs đã tập trung xây dựng một nhà nước đủ mạnh để "can thiệp có lựa chọn", nhà nước đó được xây dựng dựa trên ba điều kiện: (1) Giải quyết các vấn đề hoạt động chức năng của các thị trường; (2) thực hiện diễn ra trong môi trường nền tảng đúng đắn; (3) nhà nước đưa ra và quản lý các chuẩn mực hoạt động kinh tế thích hợp. Như vậy các HPAEs đã tập trung vào xây dựng môi trường thể chế cho các hoạt động kinh tế mà trong đó hoạch định các chính sách đóng vai trò quan trọng. Nhà nước bằng các thể chế kinh tế - chính trị, đã can thiệp một cách có hệ thống thông qua nhiều kênh, với nhiều hình thức: Hỗ trợ tín dụng tới các ngành được lựa chọn, kìm giữ tỷ suất tiền gửi ở mức thấp; duy trì mức trần đối với tỷ suất cho vay để tăng lợi nhuận; bảo hộ các ngành thay thế nhập khẩu ở trong nước, tài trợ các ngành suy giảm; hỗ trợ tài chính cho các ngân hàng nhà nước; đầu tư công cộng; phát triển các thị trường xuất khẩu; thông tin kịp thời... Ở các nước Đông Bắc Á, chính phủ không những đặt ra chuẩn mực rõ ràng cho những can thiệp có lựa chọn mà còn giám sát được các hoạt động của thị trường trong khi chi phí cho những can thiệp này đều không quá cao. Trên thực tế, sự can thiệp có lựa chọn buộc các chính phủ dựa vào quản lý kinh tế vĩ mô một cách thận trọng. Ví dụ các giải pháp chính phủ đưa ra và thực hiện là: Thực hiện đầu tư cao luôn đạt 20% GDP và phân bổ nguồn vốn hợp lý, tập trung vào các ngành có hiệu quả kinh tế cao, đầu tư lớn vào con người (nguồn nhân lực), tài chính ổn định và bảo đảm. Ngoài ra các chính phủ, điển hình nhất là chính phủ Nhật Bản đã tạo ra những cuộc chạy đua kết hợp với sự cạnh tranh trên cơ sở thị trường với những lợi ích hợp tác giữa khu vực nhà nước với tư nhân (các nước Nhật Bản, Hàn Quốc đã phát triển các cơ cấu thể chế trong đó các công ty cạnh tranh với nhau để giành giữ phần thưởng có giá trị kinh tế. Nhật thực hiện các cuộc thi đấu trên cơ sở thị trường, ngăn cấm độc quyền. Nhà nước Nhật Bản cho rằng, thà tạo ra cạnh tranh giữa một số ít công ty cân sức còn hơn để một công ty lớn cạnh tranh với nhiều đối thủ nhỏ, đây là một nguyên tắc có thể nhận thấy ở thi đấu thể thao theo hạng cân). Thực chất, nhà nước tổ chức các cuộc thi đấu và đưa ra các luật lệ và trọng tài. Thực hiện nguyên tắc ổn định kinh tế vĩ mô và chính sách gia tăng xuất khẩu, Chính phủ các nước này đã rất tôn trọng các giải pháp chính sách chính thống - đặc biệt là duy trì mức thâm hụt ngân sách ở mức có thể bù đắp được, đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu. Do đó lạm phát luôn luôn được kiểm soát, quản lý được nợ trong nước và nước ngoài. Bằng cách lập ra các tổ chức kiểm soát như: Ban Tiền tệ ở Singapo, dựa vào luật lệ cân bằng ngân sách ở Inđônêxia, hệ thống tỷ giá hối đoái ở Thái Lan... Các nước này đã duy trì mức thâm hụt ngân sách ở mức có thể quản lý được, lạm phát ở mức thấp và ổn định trong suốt thời kỳ tăng trưởng đã không gây mất ổn định kinh tế vĩ mô (tỷ lệ lạm phát trung bình từ 1961 - 1991 ở Hồng Công 8,8%; Inđônêxia: 12,4%; Hàn Quốc 12,2%; Malaixia 3,4%; Singapo 3,6%, Đài Loan 6,2%; Thái Lan 5,6%) [16, tr. 184]. Cùng với duy trì lạm phát ở mức thấp, họ đã kiểm soát tốt nợ nước ngoài (ví dụ như ở Hàn Quốc: Năm 1984, là con nợ đứng thứ 4 thế giới. Từ năm 1986, chính phủ Hàn Quốc đã theo đuổi một chính sách giảm nợ tích cực dựa vào các khoản dự trữ ngày càng tăng do xuất khẩu mang lại để thanh toán trước kế hoạch, do đó: năm 1990, tỷ lệ nợ so với GDP giảm xuống còn 14%) [16, tr. 188]. Cùng với những hành động trên, các chính phủ HPAEs đã tập trung đối ứng nhanh khi nền kinh tế bị sức ép về tài chính và những cú sốc về kinh tế, nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, vượt qua được những thách thức về chính trị. Ví dụ: ở Thái Lan với cú sốc dầu lửa - những năm 1970 nền kinh tế đã bước vào bùng nổ chi tiêu công cộng và tư nhân. 1980 - 1981 thâm hụt trong khu vực công cộng chiếm 7% GDP. Chính phủ mới đắc cử 1980 đã nhận thức được rằng: Cần phải điều chỉnh kinh tế vĩ mô; lựa chọn chính sách tiền tệ bị hạn chế bởi tỷ giá hối đoái cố định và thị trường vốn tương đối mở. Do đó họ đã lựa chọn con đường khác thu hẹp tài chính, tiến hành từng bước trong nhiều năm cắt giảm chi tiêu và tăng thu nhập. Kết quả là thâm hụt của chính phủ giảm từ 8% GDP (năm 1981 - 1982) xuống còn 1,6% GDP (năm 1986 - 1987). Trong khi đó thu nhập thuế tăng từ 1,3% GDP (năm 1982) lên 16% (năm 1998) [16, tr. 198-199]. Bên cạnh các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô như nguyên tắc tài chính ổn định và tiết kiệm công cộng cao, giữ được sức cạnh tranh... Họ đã tập trung vào khuyến khích xuất khẩu, thực hiện tín dụng xuất khẩu, nhập khẩu có lợi cho sản xuất, miễn thuế cho các nhà xuất khẩu lớn, giảm bớt bảo hộ nhập khẩu... đã góp phần làm ổn định kinh tế vĩ mô. Đặc biệt, để thực hiện được tăng trưởng, các chính phủ đã tập trung vào việc tạo dựng nền thể chế mạnh với ý tưởng tăng trưởng cùng chia sẻ - đây là giải pháp hữu hiệu trong việc tăng cường vai trò nhà nước trong lĩnh vực xã hội ở các nước này. Thực hiện nguyên tắc đầu tư lớn vào con người trên ý tưởng tăng trưởng cùng chia sẻ, các HPAEs đã tập trung vào xây dựng các thể chế cho tăng trưởng mạnh và mở rộng cho các nhóm người trong xã hội đều có lợi. Tập trung vào việc tạo nguồn vốn con người (ưu tiên giáo dục ở các cấp thấp, phổ cập giáo dục tiểu học, mở rộng giáo dục trung học cơ sở, giảm tỷ lệ phát triển dân số, đào tạo nghề...), đồng thời tăng tiết kiệm và đầu tư; phân bố hiệu quả và thay đổi năng suất; thị trường lao động linh hoạt. Bên cạnh đó họ thực hiện cải cách ruộng đất và tạo ra một chế độ sở hữu công bằng, giải quyết vấn đề nhà ở cho các đối tượng là các hộ gia đình có thu nhập thấp,... Tất cả những điều đó đã bảo đảm được sự tăng trưởng gắn kết với công bằng xã hội, hạn chế những thất bại của thị trường... Để làm được việc đó, các HPAEs đã tập trung xây dựng một nhà nước mạnh có đủ năng lực để tạo môi trường pháp lý cho các hoạt động sản xuất kinh doanh. Bước đầu tiên là tuyển dụng những công chức công minh, tài giỏi, trung thực, có khả năng vạch ra chiến lược có tính khả thi. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi và hoạch định các chính sách bám sát với quyền lợi của các khu vực, các lực lượng kinh tế. Xin nêu một ví dụ có tính chất kinh nghiệm về xây dựng một nhà nước mạnh - hệ thống pháp lý mạnh ở một số nước ASEAN (Inđônêxia, Singapo, Malaixia, Thái Lan, Philippin). Sau khi thoát khỏi sự thống trị của đế quốc phương Tây, giành được độc lập dân tộc, các nước này bước vào xây dựng đất nước. Nhưng qua nhiều thập kỷ, kết quả mà họ thu được không như mong muốn. Đến những năm cuối thập kỷ 70, họ ý thức được rằng muốn phát triển KTTT thì trước hết phải tạo môi trường chính trị ổn định. Do đó họ tập trung xây dựng một nhà nước mạnh và hệ thống pháp luật kinh tế một cách đồng bộ. Bộ máy nhà nước được xây dựng trên cơ sở tập trung quyền lực, lấy hiệu quả trong hoạt động làm tiền đề thúc đẩy sự phát triển. Bằng việc tập trung quyền lực, nhà nước đồng thời đưa ra những thể chế và hoạch định chính sách phù hợp, đưa vào bộ máy chính quyền những cán bộ am hiểu và thạo nghiệp vụ chuyên môn, tích cực loại trừ các quan chức tham nhũng. Nhờ đó nhà nước kiểm soát được các quan hệ kinh tế - xã hội, huy động được các nguồn lực trong xã hội hướng vào việc phát triển đất nước. Hệ thống pháp lý của các HPAEs luôn được điều chỉnh phù hợp với thực tiễn của nền kinh tế và những biến chuyển của xã hội. Nhờ hệ thống các văn bản pháp luật đồng bộ có tính khả thi, nhà nước đã thu hút được các nguồn đầu tư trong và ngoài nước và cũng qua đó nhà nước kiểm soát, điều chỉnh được nguồn đầu tư sao cho quyền lợi người lao động và môi trường sinh thái trong nước được bảo vệ. Để có một nhà nước mạnh, các HPAEs đã tập trung trí tuệ cao độ cho các hoạt động của nhà nước thông qua cơ chế đào tạo sử dụng và nuôi dưỡng nhân tài. Đây là nội dung cốt lõi trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền trong nền KTTT. Để có đội ngũ đủ phẩm chất năng lực họ đã chú ý tìm nguồn phục vụ cả trước mắt và lâu dài. Đồng thời thực hiện chế độ thi tuyển và trả lương xứng đáng, xử lý nghiêm theo pháp luật những công chức vi phạm pháp luật tham nhũng. Chính việc xây dựng một nhà nước mạnh, không những đủ năng lực quản lý kinh tế - xã hội đã đem lại khả năng đoàn kết dân tộc và khai thác được mọi nguồn lực trên thực tế phục vụ cho sự nghiệp phát triển. Đồng thời cũng tạo ra khả năng thực tế để toàn dân tham gia vào đấu tranh bài trừ tham nhũng một cách hiệu quả. Việc xây dựng một nhà nước mạnh, hệ thống pháp lý hoàn thiện và đồng bộ, làm cơ sở cho mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế và giữ được độc lập dân tộc. Đây là lĩnh vực thành công nhất của các nước HPAEs. Họ đã biết tận dụng thời cơ trong bối cảnh quốc tế hóa nền kinh tế thế giới, biến ngoại lực thành nội lực để phát triển kinh tế. Có thể nói, từ thập kỷ 70 đến nay, tuy các nước này gặp không ít khó khăn trong nền KTTT (nhất là khủng hoảng tài chính những năm gần đây). Nhưng bằng việc tập trung xây dựng một nhà nước mạnh có đủ năng lực và đã phát huy vai trò của nó trong nền KTTT, đã giúp cho các nước HPAEs có được sự thành công. Nền kinh tế tăng trưởng ổn định trong nhiều thập kỷ. Ở Mỹ la tinh các cải cách bắt đầu sau một cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực kéo dài 15 năm. Các đường lối cải cách được bắt đầu bằng việc từ bỏ "con đường thứ ba", tức là con đường phát triển thỏa hiệp giữa mô hình kinh tế CNXH và CNTB. Trước cải cách, ở các nước Mỹ la tinh, nhà nước quản lý một tỷ trọng 70 - 80% nền kinh tế, chủ yếu là các ngành công nghiệp, tài chính, tín dụng và coi đó là một đảm bảo cho phát triển kinh tế và độc lập về chính trị. Mặc dù vậy nền kinh tế vẫn không thoát khỏi trì trệ và khủng hoảng. Khi chuyển sang KTTT mở cửa vào những năm 80, cùng với việc xây dựng các thể chế thị trường tự do các nước này thực hiện quá trình phi nhà nước hóa tối đa các hoạt động kinh tế, ủng hộ DNTN, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư nước ngoài, cho phép rộng rãi các công ty nước ngoài mở các doanh nghiệp tự đầu tư tới 100% vốn. Với việc giảm bớt tỷ trọng thành phần nhà nước trong nền kinh tế quốc dân, cùng với việc tự do hóa kinh tế và giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước trong những năm cải cách, kinh tế Mỹ la tinh khởi sắc, đạt mức tăng trưởng GDP hàng năm từ 3 - 5%. Mặc dầu vậy những thành công của KTTT ở Mỹ la tinh phải chịu những trả giá cao về mặt xã hội. Sự phân hóa giàu nghèo hết sức lớn, Mỹ la tinh là nơi còn tồn tại nhiều bất công trong quá trình cải cách. Ở nhiều nước, KTTT đã tạo ra sự bất ổn xã hội, tạo điều kiện cho các chế độ độc tài lên cầm quyền. Điển hình của nước trả giá đắt về xã hội cho thị trường theo chủ nghĩa tự do là Chi-Lê. Ở đất nước này 6.677 tổ chức công đoàn và 34.000 đoàn viên công đoàn phải chịu đàn áp hoặc cấm hoạt động. Những thành quả xã hội của nhân dân lao động Chi-Lê hầu như bị phá vỡ. Cho đến những năm cuối thế kỷ XX có 40% cư dân Chi-Lê sống ở mức nghèo khổ [27, tr. 20]. Ở các nước Đông Âu và Liên Xô cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội của mô hình CNXH hành chính nhà nước (nhà nước quản lý nền kinh tế bằng kế hoạch tập trung thống nhất theo phương pháp hành chính quan liêu) đã buộc các nước này phải tiến hành các cuộc cải cách kinh tế. Nội dung những cuộc cải cách này là chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền KTTT. Ở các nước này khi hệ thống cung cấp của nhà nước không cung cấp đủ hàng hóa và dịch vụ, người dân đã bắt đầu tìm đến thị trường mà trước hết là thị trường chợ đen. Và cũng chính lúc này quyền lực nhà nước suy giảm. Cho đến đầu những năm 90, các cuộc cải cách theo hướng KTTT ở các nước XHCN Đông Âu đã trở thành xu hướng không đảo ngược được. Các bước quá độ sang KTTT ở các nước này chủ yếu diễn ra theo ba giai đoạn và gắn liền với các giai đoạn đó là sự chuyển đổi vai trò chức năng của nhà nước trong nền kinh tế: (1) Tự do hóa nền kinh tế; (2) tư nhân hóa và cổ phần hóa các cơ sở kinh tế thuộc sở hữu nhà nước và tập thể; (3) cấu trúc lại nền kinh tế, trong đó gồm chuyển đổi cơ cấu, hệ thống quản lý và hệ thống tổ chức nền kinh tế. Trong quá trình chuyển đổi này, tùy theo điều kiện từng nước, các cuộc cải cách được tiến hành theo phương pháp khác nhau: theo "liệu pháp sốc" và "liệu pháp êm dịu". Mặc dầu vậy sự thành công cũng không nhất quán. Đa số các nước tiến hành "liệu pháp sốc" trong điều kiện tương đối ổn định về chính trị, tức là nhà nước có vai trò chủ động, kiểm soát được tình hình, thì thành công về kinh tế sớm hơn. Ví dụ: Ba Lan, Tiệp Khắc và các nước Ban Tích. Trong lúc đó Nga và các nước SNG khác thì ngược lại. Liên bang Nga trong bước đầu cải cách thực hiện chủ trương "nhà nước tối thiểu thị trường tối đa". Điều này khác hẳn với truyền thống và tập quán của nước Nga, đã làm cho cuộc cải cách kinh tế ở đây kém thành công, diễn biến phức tạp, nhiều lĩnh vực, nhiều ngành kinh tế đã lọt vào tay mafia. Nhà nước từ chỗ chỉ huy toàn bộ nền kinh tế đến chỗ buông lỏng dẫn đến suy yếu quyền lực cả trong kinh tế và trong xã hội. Sự yếu kém đó buộc Liên bang Nga phải nhận thức lại vấn đề vai trò của nhà nước trong KTTT. Hiện nay, nhìn chung dư luận ở Liên bang Nga đều cho rằng, trong nền KTTT ở Nga cần có một nhà nước mạnh và linh hoạt. Trong quá trình cải cách ở các nước này cũng diễn ra cuộc tranh luận về vai trò của nhà nước trong KTTT. Việc thay đổi chức năng kinh tế của nhà nước liệu có suy giảm quyền lực nhà nước? Mặc dù mới quá độ sang KTTT, ở Nga và SNG (tuy có trình độ kinh tế xã hội khoa học kỹ thuật và điều kiện tự nhiên khác nhau) đều cho rằng nhà nước trong nền KTTT thực hiện một số chức năng cơ bản sau đây: - Điều tiết thị trường. - Khắc phục những hạn chế (thất bại) của thị trường (chủ yếu là các hàng hóa công cộng và dịch vụ xã hội). - Bảo đảm xã hội. - An ninh quốc gia, hòa bình và an sinh công dân. Tóm lại, Qua nghiên cứu một số lý thuyết và thực tiễn một số nước, một số khu vực, chúng ta thấy rằng: (1) Phủ nhận vai trò nhà nước hoặc tuyệt đối hóa vai trò nhà nước trong nền KTTT đều không đúng. (2) Ngày nay đa số các nước đều thừa nhận vai trò đặc biệt của nhà nước trong nền KTTT. Vai trò đó được thể hiện trong bốn chức năng sau: - Điều tiết vĩ mô nền KTTT. - Khắc phục những khuyết tật của KTTT. - Đảm bảo xã hội và điều tiết xã hội cho dân cư. - Ổn định chính trị xã hội, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế. (3) Thực tiễn KTTT hiện đại cho thấy rằng sự thành công của phát triển kinh tế không hoàn toàn phản ánh sự gia tăng tương ứng sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế. Quyền lực nhà nước không hoàn toàn tỷ lệ thuận hay tỷ lệ nghịch với việc tăng cường kiểm soát các hoạt động kinh tế. Vai trò nhà nước trong KTTT ở các nước khác nhau sẽ khác nhau. Một nền KTTT thành công đòi hỏi phải có một nhà nước vững mạnh. Việc tăng cường quyền lực nhà nước trong nền KTTT chính là tìm ra phương thức thích hợp để quản lý nhà nước KTTT, "chung sống" với thị trường có hiệu quả. 1.2. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ VAI TRÒ CHỨC NĂNG NHÀ NƯỚC TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Từ khi ra đời cho đến nay, mặc dù với tên gọi khác nhau trong từng giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định Nhà nước ta là nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động - Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Nhà nước đó có vai trò hết sức quan trọng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng CNXH. Cuộc cách mạng XHCN ở nước ta là một quá trình biến đổi toàn diện, liên tục, sâu sắc và triệt để. Đó là quá trình kết hợp cải tạo với xây dựng, mà xây dựng là chủ yếu. Đó là quá trình xóa bỏ cái lạc hậu, phát huy cái tiến bộ, cải tạo cái cũ, xây dựng cái mới. Phải xây dựng cả lực lượng sản xuất mới lẫn quan hệ sản xuất mới; xây dựng cả cơ sở kinh tế mới lẫn kiến trúc thượng tầng mới; xây dựng cả đời sống vật chất mới lẫn đời sống tinh thần mới... [3, tr. 18]. Để đưa cách mạng XHCN đến thắng lợi hoàn toàn, "Điều kiện quyết định trước tiên là phải thiết lập và không ngừng tăng cường chuyên chính vô sản thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động" [3, tr. 18]. Yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng XHCN đòi hỏi phải có một nhà nước mạnh có đủ năng lực quản lý đất nước. Ngay từ đầu, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tập trung xây dựng và kiện toàn nhà nước XHCN theo hướng tăng cường vai trò, hiệu lực của nhà nước về tổ chức và quản lý kinh tế, văn hóa xã hội. Xác định rõ vai trò nhà nước - là công cụ thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân, tiến hành tổ chức xây dựng kinh tế nâng cao đời sống nhân dân lao động. "Nhà nước chuyên chính vô sản của ta phải là nhà nước của dân, do dân và vì dân, một tổ chức đủ năng lực tiến hành ba cuộc cách mạng (cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng tư tưởng văn hóa), xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, nền văn hóa mới và con người mới, bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân lao động" [3, tr. 61]. Để thực hiện vai trò đó - Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV đã xác định từng bước thực hiện hệ thống quản lý kinh tế, nhằm vào những vấn đề quan trọng nhất là tổ chức lại nền sản xuất xã hội trong phạm vi cả nước; cải tiến phương thức quản lý kinh tế lấy kế hoạch làm chính; kiện toàn bộ máy quản lý kinh tế [3, tr. 61]. Vai trò nhà nước thể hiện rõ trong quản lý nền kinh tế bằng kế hoạch hóa toàn bộ nền kinh tế quốc dân, quản lý nền kinh tế tập trung thống nhất từ trung ương đến địa phương. Tuy nhiên, với cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, cùng với sai lầm khuyết điểm nóng vội, chủ quan duy ý chí, can thiệp vào tất cả các hoạt động kinh tế (trói buộc các chủ thể kinh tế trong một cơ chế quản lý, kế hoạch hóa sản xuất cứng nhắc), kết quả là sản xuất trì trệ, dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội. Nhận thức được những sai lầm khuyết điểm trên, bắt đầu từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (3/1982), Đảng Cộng sản Việt Nam bước đầu đề ra và từng bước thực hiện đổi mới chính sách kinh tế và quản lý kinh tế. Xác định nền kinh tế gồm nhiều thành phần, nhiều trình độ kỹ thuật, nhiều quy mô hoạt động, nhiều loại hình sản xuất kinh doanh và đang có nhiều mất cân đối gay gắt. Do đó, thích ứng với nền kinh tế ấy phải có cơ chế quản lý năng động, có khả năng xóa bỏ tập trung quan liêu, bảo thủ trì trệ và bao cấp tràn lan, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. Cơ chế quản lý mới phải mở rộng quyền chủ động cho cơ sở, địa phương và ngành, đồng thời bảo đảm cho trung ương nắm chắc những khâu cần quản lý. Lấy kế hoạch nhà nước làm trung tâm, đòn bẩy, vận dụng các quan hệ thị trường - thị trường có tổ chức... [3, tr. 72-73]. Thực hiện chủ trương đó, vai trò nhà nước trong kinh tế cũng từng bước được chuyển đổi, từ quyết định toàn bộ các hoạt động kinh tế chuyển dần sang quản lý kinh tế ở tầm vĩ mô. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, quyết tâm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực. Trước hết là đổi mới kinh tế, đồng thời với từng bước đổi mới kinh tế là đổi mới chính trị - trọng tâm là đổi mới vai trò nhà nước trong quản lý kinh tế. Thực hiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN với cơ chế quản lý kinh tế hạch toán kinh doanh XHCN. Vai trò nhà nước chuyển hẳn từ can thiệp sâu vào các hoạt động kinh tế sang quản lý kinh tế vĩ mô bằng các công cụ: Kế hoạch; pháp luật; chính sách và sức mạnh kinh tế của các DNNN. Báo cáo chính trị Đại hội VI xác định rõ: Cơ chế quản lý của nhà nước đối với lĩnh vực kinh tế đó là quản lý hành chính - kinh tế, đối với xã hội là quản lý hành chính - xã hội. Song cần thấy rằng, đây không phải là thứ hành chính quan liêu mà là quản lý hành chính phản ánh đúng các quan hệ xã hội khách quan thành những mệnh lệnh hành chính có tính bắt buộc chung cho mọi người tuân theo - Nhà nước quản lý bằng các thể chế nhà nước trong mọi lĩnh vực. Trong lĩnh vực kinh tế, Nghị quyết nhấn mạnh: phân biệt rõ chức năng của các cơ quan nhà nước (các bộ, các tổng cục...) là quản lý hành chính - kinh tế với chức năng của các đơn vị kinh tế cơ sở là quản lý sản xuất kinh doanh. Lâu nay do lẫn lộn chức năng này nên có tình trạng "các cơ quan quản lý hành chính - kinh tế can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các đơn vị cơ sở nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về các quyết định của mình; các đơn vị ở cơ sở mất quyền tự chủ, lại bị ràng buộc trách nhiệm với kết quả sản xuất kinh doanh. Vì vậy, xảy ra tình trạng người làm nhiều bị khuyết điểm nhiều, người làm ít bị ít khuyết điểm, hạn chế tính năng động sáng tạo của cơ sở, ỷ lại vào kế hoạch, mệnh lệnh bên trên. Tiêu chí đánh giá về hiệu lực của bộ máy nhà nước bị sai lệch, các cơ quan nhà nước buông lơi, không thực hiện chức năng quản lý hành chính - kinh tế của mình. Đổi mới tư duy kinh tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của Đảng đòi hỏi nhà nước phải tập trung thực hiện chức năng quản lý kinh tế của mình - theo các nhiệm vụ: - Xây dựng kịp thời chính sách, cân đối các kế hoạch kinh tế dài hạn và kế hoạch kinh tế hàng năm cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Với nước ta, phải xây dựng chiến lược kinh tế - xã hội cho một thời kỳ phát triển tương đối dài - thời kỳ quá độ lên CNXH. - Xây dựng hệ thống pháp luật, chính sách, chế độ, thể lệ, định mức... trong quản lý kinh tế. - Xây dựng cơ chế quản lý mới và hệ thống tổ chức quản lý kinh tế phù hợp với cơ chế đó, nhằm phát huy mạnh mẽ quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh của các đơn vị cơ sở. - Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân kỹ thuật có đủ phẩm chất năng lực... Đại hội VII, VIII của Đảng tiếp tục đổi mới và nâng cao quá trình nhận thức về phát triển nền KTTT định hướng XHCN. Thực hiện kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN là chính sách nhất quán của Đảng. Đi đôi với phát triển KTTT không thể tách rời với việc xây dựng và vận hành có hiệu quả cơ chế quản lý mới "cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN". Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đã khẳng định: Sản xuất hàng hóa không đối lập với CNXH, mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta. Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta, thị trường theo định hướng XHCN là một thể thống nhất với nhiều lực lượng tham gia sản xuất lưu thông, trong đó KTNN giữ vai trò chủ đạo, thị trường trong nước gắn với thị trường thế giới. Thị trường vừa là căn cứ, vừa là đối tượng của kế hoạch. Kế hoạch nhà nước từ chỗ mang tính pháp lệnh thì hiện nay chủ yếu mang tính định hướng và đặc biệt quan trọng trên bình diện vĩ mô. Thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phương án tổ chức sản xuất kinh doanh. KTTT định hướng XHCN ở nước ta yêu cầu tất yếu phải nâng cao năng lực tự chủ của các chủ thể sản xuất kinh doanh, đồng thời xác lập đầy đủ vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước nhằm phát huy tác dụng đi đôi với ngăn ngừa hạn chế tiêu cực của nó. Điều đó đã được Đảng ta xác định như là vấn đề có tính nguyên tắc trong đổi mới kinh tế và đổi mới nhận thức về vai trò nhà nuớc trong KTTT: "Nhà nước quản lý thị trường bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách, các công cụ đòn bẩy kinh tế và các nguồn lực của khu vực kinh tế nhà nước" [2, tr. 60].. Để thực hiện các chủ trương đó, nhà nước phải tăng cường vai trò quản lý của mình, xây dựng các thể chế kinh tế phù hợp với các quan hệ KTTT. Nhà nước phải tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trường, các loại hình thị trường như: thị trường hàng hóa - dịch vụ; thị trường lao động; thị trường bất động sản; thị trường vốn; thị trường tài chính, tiền tệ... Nhà nước phải hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về kinh tế, tạo hành lang pháp lý cho các chủ thể kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh. Pháp luật phải thực sự trở thành công cụ để nhà nước quản lý nền kinh tế. Cùng với hệ thống pháp luật đồng bộ, nhà nước phải tiếp tục đổi mới công tác kế hoạch hóa điều tiết nền KTTT hướng theo mục tiêu CNH, HĐH đất nước. Hệ thống kế hoạch phải quán triệt đường lối chủ trương của Đảng, đưa ra các mục tiêu vĩ mô, xác định tốc độ phát triển, cơ chế và các cân đối lớn, xác định chính sách, giải pháp để dẫn dắt thị trường hoạt động theo hướng phát huy mặt tích cực hạn chế mặt tiêu cực của KTTT. Nhà nước phải thực hiện tốt các chức năng định hướng sự phát triển bằng cách đổi mới và hoàn thiện các thể chế tài chính, tiền tệ, trực tiếp đầu tư vào một số lĩnh vực mà tư nhân không muốn đầu tư hoặc không thể kinh doanh được, một số lĩnh vực có vai trò dẫn dắt nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN, thiết lập khuôn khổ pháp luật; hoạch định hệ thống chính sách nhất quán, tạo môi trường thể chế ổn định thuận lợi cho sản xuất kinh doanh; khắc phục những hạn chế của KTTT; phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân, bảo đảm về mặt xã hội cho công dân. Thực chất chức năng của nhà nước theo quan điểm của Đảng ta: Nhà nước vừa là chủ thể kinh tế vừa là cơ quan duy nhất có quyền lực quản lý nhà nước nền kinh tế, định hướng và điều tiết nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN. Sự thành bại trong quá trình quản lý, điều tiết trong nền KTTT của nhà nước XHCN sẽ quyết định quy mô năng lực của nó trong đời sống chính trị xã hội và tính định hướng XHCN của nền kinh tế nước ta. Chương 2 VAI TRÒ NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TỪ 1986 ĐẾN NAY 2.1. THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY 2.1.1. Một số đặc điểm chủ yếu của nền kinh tế Việt Nam trước và trong đổi mới Trong quá trình thực hiện xây dựng CNXH, do nóng vội, chủ quan muốn có ngay CNXH, nhưng không lường hết khó khăn của bước chuyển từ một nền sản xuất nhỏ đi lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN, chúng ta đã nhanh chóng thực hiện công cuộc "cải tạo XHCN" theo mô hình kinh tế Xô-viết với cơ chế quản lý kinh tế: kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp. Ở miền Bắc từ sau 1954 và cả nước sau 1975, hầu hết các quan hệ kinh tế - xã hội chủ yếu dựa trên nền kinh tế kế hoạch hóa "tập trung cao độ". Tư liệu sản xuất được quốc hữu hóa toàn bộ, hầu như nền kinh tế dựa trên hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể. Mọi hoạt động kinh tế đều do nhà nước quản lý bằng mệnh lệnh hành chính, nguyên tắc phân phối chủ yếu là bao cấp theo chế độ bình quân... Qua nhiều năm thực hiện, kết quả đạt được không như mong muốn. Tăng trưởng kinh tế trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1976-1980) không đáng kể; kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1981-1985) GDP chỉ tăng 0,4% năm; trong khi mức tăng dân số bình quân 2,3% năm; sản lượng công nghiệp tăng 0,6% năm; nông nghiệp tăng 1,9% năm; lạm phát lên tới hơn 700% năm (1985-1986) [24, tr. 44]. Kinh tế tăng trưởng thấp, gây khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài, trình trạng thất nghiệp tăng, tiền lương không đủ sống, trật tự an toàn xã hội không được bảo đảm, tham nhũng và nhiều tệ nạn xã hội khác lan rộng, công bằng xã hội bị vi phạm, nếp sống văn hóa tinh thần bị xói mòn, lòng tin vào Đảng và Nhà nước giảm sút... [8, tr. 3]. Như vậy, thực hiện mô hình kinh tế trên, không những đã gây nhiều tiêu cực trong đời sống kinh tế mà còn ảnh hưởng đến đời sống chính trị - xã hội. Chủ nghĩa bình quân không kích thích được sản xuất. Chế độ sở hữu công cộng với hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể trong điều kiện nền kinh tế chưa phát triển cùng với việc quản lý kinh tế yếu kém của nhà nước đã trở thành sở hữu "không của ai cả", người lao động thờ ơ với sở hữu, bộ phận có chức có quyền biến sở hữu đó phục vụ lợi ích cá nhân; tham nhũng, tham ô, cửa quyền... Về xã hội, vì quá coi trọng thành phần kinh tế quốc doanh nên đã nhà nước hóa mọi hoạt động kinh tế xã hội mà không tính đến các điều kiện khách quan và yêu cầu của đời sống kinh tế của nhân dân. Bằng các biện pháp hành chính chúng ta đã tạo dựng một xã hội cơ bản chỉ có hai giai cấp: công nhân và đồng minh chiến lược của nó - giai cấp nông dân tập thể. Đây cũng chính là hai giai cấp làm cơ sở cho chính quyền công nông. Bộ máy nhà nước phình to, các xí nghiệp, cơ quan được xây dựng bừa bãi. Công dân không làm việc trong lĩnh vực nhà nước bị coi thường, các thành phần phi nhà nước và các quan hệ thị trường bị xem nhẹ, lợi ích người dân không được bảo đảm, mất dần tình tích cực chính trị. Những người có năng lực và muốn làm ra của cải vật chất, không được phép thì không dám làm. Những người được làm thì thụ động ngồi chờ kế hoạch và bao cấp của nhà nước... Việc duy trì lâu mô hình và cơ chế quản lý kinh tế trên đã dẫn đến sự trì trệ trong kinh tế. Khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài, đời sống nhân dân suy giảm dẫn tới dân mất lòng tin - thiếu tin vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của nhà nước, hoài nghi với chế độ. Các chính sách xã hội không thực hiện được đầy đủ trong tất cả các ngành liên quan đến bảo đảm xã hội như giáo dục, y tế, văn hóa đều xuống cấp. Ngay các đối tượng chính sách như gia đình có công với cách mạng, gia đình thương binh liệt sĩ cũng chưa được đãi ngộ đúng mức, liên minh công nông có nguy cơ bị phá vỡ. Mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước và nhân dân không được củng cố, Đảng và Nhà nước mất dần dân. Đường lối của Đảng không được thực hiện một cách nghiêm túc, hiệu lực quản lý của nhà nước suy yếu, pháp luật pháp chế không được tăng cường, kỷ cương xã hội bị đảo lộn... quyền lực chính trị của nhân dân không được thực hiện trọn vẹn, mất dân chủ, việc thực thi quyền lực nhà nước thiếu hiệu lực, nhà nước trở thành bộ máy quan liêu... Trong thực tế từng tồn tại tình trạng là nhà nước càng muốn tăng cường sự kiểm soát đối với đời sống kinh tế bằng các mệnh lệnh bao nhiêu thì tình hình phát triển kinh tế càng kém đi bấy nhiêu. Như vậy, thực tiễn cho thấy, mô hình kinh tế "CNXH Xô-viết" mặc dù đã có những thành tựu to lớn trước những năm 70 đã tỏ ra không đủ khả năng đáp ứng được đòi hỏi khách quan của thời kỳ quá độ lên CNXH ở những nước có điểm xuất phát kinh tế thấp như nước ta. Điều đó đặt ra cho toàn Đảng một thách thức lớn, tìm kiếm một mô hình xây dựng CNXH phù hợp với điều kiện nước ta: vừa tăn._. quyền nhà nước ở địa phương. Đẩy mạnh việc hoạch định chính sách, cụ thể hóa luật pháp thành các thể chế KTTT để bảo đảm duy trì thực hiện cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể kinh tế. Về cải cách thể chế hành chính, phải chuyển mạnh mẽ theo hướng xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế mới của thời kỳ CNH, HĐH (tài chính, ngân hàng, tín dụng...). Phải tạo được động lực mới cho thúc đẩy các hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển. Thực hiện đổi mới trên tất cả các thể chế kinh tế theo hướng tập trung vào tháo gỡ, giải phóng nội lực trong nước, trong dân, khai thác nguồn lực quốc tế, kết hợp nội lực bên trong và ngoại lực quốc tế để chuyển mạnh sang KTTT định hướng XHCN. Khắc phục tình trạng bất bình đẳng trong cạnh tranh giữa nhà nước và tư nhân. Các thể chế mới phải bảo đảm hướng mạnh vào đảm bảo cuộc sống, quyền lợi của các chủ thể kinh tế và công dân, tạo khung cơ chế, chính sách để các chủ thể kinh tế và công dân được tự do, chủ động trong làm ăn kinh tế, được thuận lợi trong hưởng thụ các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, phúc lợi... Cải cách hành chính phải làm lành mạnh các quan hệ cơ bản giữa hành chính với doanh nghiệp, khắc phục bằng được tình trạng thủ tục hành chính rườm rà trong kinh tế, chấm dứt tình trạng "phép vua thua lệ làng". Trong tổ chức chỉ đạo của Chính phủ cần phải làm rõ chức năng của Chính phủ và các bộ ngành, bộ máy hành chính trong quản lý kinh tế - xã hội và cung cấp dịch vụ cho dân. Phân rõ trách nhiệm từng ngành, từng cán bộ, công chức... Chính phủ, bộ, ngành nên tập trung vào xây dựng thể chế, hoạch định chính sách vĩ mô và thực hiện chức năng kiểm tra, thanh tra; trực tiếp quản lý và cung cấp một số hàng hóa và dịch vụ công cộng ở tầm quốc gia. Để làm được những việc trên, Chính phủ phải đổi mới quy trình xây dựng chính sách, khắc phục tính cục bộ, tạo cơ chế phản biện, thẩm định hoạt động là để tăng chất lượng các văn bản hướng dẫn hoạt động sản xuất kinh doanh. Chính sách kinh tế ở tầm vĩ mô phải được xây dựng từ dưới lên trên, tránh tình trạng áp đặt phi thực tế của Chính phủ. Để làm được điều đó, Chính phủ phải lựa chọn, huy động tối đa đội ngũ cán bộ, chuyên gia giỏi ở các cơ quan nghiên cứu, những nhà doanh nghiệp giỏi, tham gia vào công tác hoạch định chính sách, xây dựng các dự luật. Cần xác định đúng và rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của cả hệ thống hành chính nhà nước và của mỗi cơ quan từ Chính phủ, các bộ, ngành đến cơ quan hành chính địa phương các cấp để khắc phục sự chồng chéo chức năng, trùng lắp giữa các cơ quan với nhau về nội dung đối tượng, phạm vi quản lý, trên cơ sở đó phân cấp rõ ràng thẩm quyền và trách nhiệm. Đây là những yêu cầu cấp bách hiện nay, sự đổi mới căn bản về vai trò chức năng của Chính phủ trong nền KTTT ở nước ta, có nghĩa là cần đánh giá lại phạm vi hoạt động của Chính phủ theo hướng Chính phủ không làm mọi việc thay cho các chủ thể sản xuất kinh doanh. Đẩy mạnh cải cách hành chính theo yêu cầu tinh giảm, khắc phục sự cồng kềnh, bất hợp lý; nâng cao chất lượng hoạt động theo hướng hiện đại, hiệu quả. Sắp xếp, kiện toàn bộ máy theo hướng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực bao quát các thành phần kinh tế. Cải cách bảo đảm vừa giữ được sự ổn định cần thiết, vừa có sự đổi mới. Phương thức điều hành của Chính phủ phải tập trung vào làm tốt chức năng nghiên cứu, xây dựng chiến lược, thể chế, chính sách vĩ mô và tăng cường hướng dẫn kiểm tra, theo dõi việc thực hiện các công tác trọng tâm, then chốt, việc thi hành pháp luật đối với các hoạt động kinh tế. Cùng với việc đẩy mạnh cải cách hành chính, việc xây dựng, kiện toàn "đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất và năng lực là yếu tố quyết định chất lượng của bộ máy nhà nước" [7, tr. 55]. Kinh nghiệm cho thấy, việc xây dựng một nhà nước mạnh có đủ năng lực phụ thuộc vào việc tuyển chọn, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có đủ phẩm chất năng lực là một trong những yếu tố thành công mà các nhà nước ở các nước Đông Nam Á đã thực hiện. Ở nước ta, việc bảo đảm nhà nước có đủ năng lực quản lý nền KTTT, thực hiện tăng trưởng kinh tế; xây dựng thành công CNXH hay không cũng phụ thuộc vào đội ngũ cán bộ công chức, "Cán bộ là gốc của cách mạng". Vì vậy, để có một đội ngũ cán bộ công chức theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, phải nhanh chóng hoàn thiện quy chế, chuẩn mực, tiêu chuẩn, chức danh cán bộ công chức, theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại. Thực hiện chế độ thi tuyển, lựa chọn, đánh giá trên cơ sở phẩm chất và năng lực. Đồng thời đẩy mạnh công tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao chất lượng cán bộ công chức. Đi đôi với tuyển chọn, cần trả lương xứng đáng để đội ngũ công chức yên tâm làm việc và hạn chế những tiêu cực. Hiện nay mức lương của chúng ta quá thấp, không đủ sinh sống, dẫn đến tình trạng cán bộ công chức phải tìm mọi cách thu nhập bằng các nguồn ngoài lương. Hệ thống lương chứa đựng nhiều bất hợp lý, nhưng chậm sửa đổi. Kiên quyết đấu tranh loại trừ tham nhũng, tệ nạn xã hội, xây dựng đội ngũ công chức gọn nhẹ nhưng chất lượng cao. Nói tóm lại, để đổi mới được thể chế hành pháp, phải đổi mới đồng bộ chức năng quản lý và điều tiết kinh tế, không can thiệp vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, Chính phủ phải tạo sân chơi cho chính mình và các chủ thể kinh tế, đồng thời bằng sức mạnh kinh tế của mình tham gia cuộc chơi một cách bình đẳng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hạn chế những thất bại của KTTT. * Cơ quan tư pháp Trong nền KTTT mặt khiếm khuyết thường thấy là tình trạng cạnh tranh khốc liệt dẫn tới độc quyền, bất chấp các thể chế luật pháp. Vì vậy hoạt động tư pháp là nhằm tập trung bảo vệ nền móng pháp luật, bảo vệ quyền sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế theo luật pháp. Hoạt động tư pháp của nhà nước phải là người trọng tài giải quyết những tranh chấp về kinh tế và chống các hành động độc quyền, bảo vệ quyền sở hữu tài sản hợp pháp của các chủ thể và chống lại mọi hình thức tước đoạt, ăn cắp tài sản. Kinh nghiệm thế giới cho thấy, các nhà đầu tư tư nhân thường phàn nàn về việc thiếu cơ sở hạ tầng thể chế cơ bản nhất cho một nền KTTT. Một khoảng trống về thể chế dường như phổ biến ở một số nước, dẫn đến tội ác, bạo lực và tình trạng mất an ninh về quyền sở hữu tài sản. Ở Mỹ Latinh, các nước Xahara châu Phi, cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG), Trung và Đông Âu, gần 80% số nhà doanh nghiệp cho hay là họ thiếu tin tưởng rằng các nhà chức trách sẽ bảo vệ con người và tài sản của họ thoát khỏi bọn tội phạm [30, tr. 53]. Người ta đặt ra câu hỏi: Liệu cơ quan tư pháp có thực thi những quy tắc một cách độc đoán không, và liệu sự không thể đoán biết trước có là một vấn đề đối với việc cải cách không. Tại các nước đang phát triển, hơn 70% số các nhà doanh nghiệp nói rằng tình trạng không thể đoán biết trước được của hoạt động tư pháp là một vấn đề lớn trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của họ [14, tr. 53]. Một cơ quan tư pháp hoạt động tốt là trụ cột trung tâm của sự thắng lợi luật pháp. Nếu như thiếu sự tin cậy sẽ làm giảm đầu tư, hạn chế tăng trưởng và giảm lợi nhuận của các dự án phát triển. Vì các nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước sẽ không tin là nhà nước sẽ thực thi các quy tắc của trò chơi, nó sẽ phản ứng theo nhiều cách và đều làm xấu đi kết quả thực hiện kinh tế. Một cơ quan tư pháp không đáng tin cậy sẽ buộc các nhà doanh nghiệp phải dựa vào các thỏa thuận không chính thức và những cơ chế "bắt buộc" và như vậy các nhà đầu tư sẽ chuyển tài chính đến các nước khác, hoặc không đầu tư để tiền nhàn rỗi. Một cơ quan tư pháp hoạt động tốt là một tài sản quan trọng mà các nước đang phát triển cần phải nỗ lực để gây dựng [14, tr. 64]. Điều quan trọng không nhất thiết là ra quyết định tư pháp nhanh chóng, mà cần nhất phải là công bằng và có thể lường trước được. Và để điều đó xảy ra, những người quan tòa phải khá thành thạo trong công việc, hệ thống tư pháp phải giữ cho quan tòa không được hành động độc đoán. Cơ quan lập pháp và hành pháp phải tôn trọng khả năng cưỡng chế của cơ quan tư pháp. Vì vậy, trong nền KTTT ở nước ta, muốn phát triển, muốn tạo nhiều cơ hội làm ăn cho các chủ thể kinh tế thì trước hết phải có các luật về kinh tế công bằng và một trọng tài đủ năng lực - tư pháp, hoạt động có hiệu quả. Tránh tình trạng, luật pháp không công bằng, cơ chế chính sách không thông thoáng, phân biệt đối xử giữa nhà nước và tư nhân. Hoạt động của ngành tư pháp cần phải có các chuyên gia giỏi về luật và hoạt động độc lập, chỉ phụ thuộc vào pháp luật. Tình trạng thiếu luật, thủ tục hành chính rườm rà, bộ máy thiếu công minh đã làm hạn chế các nhà đầu tư vào Việt Nam, và như thế tăng trưởng kinh tế cũng khó bảo đảm bền vững. Một vấn đề có tính thời sự cấp bách hiện nay là, chúng ta phải nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế, đồng bộ và có hiệu lực thi hành đi đôi với việc đào tạo bồi dưỡng xây dựng một đội ngũ cán bộ ngành tư pháp trong sạch vững mạnh, có đủ năng lực để làm trọng tài giải quyết trong các vụ tranh chấp về kinh tế. Đồng thời khắc phục triệt để cơ chế "xin cho", tăng cường kiểm tra giám sát, xử lý nghiêm cán bộ tham nhũng tiêu cực. Nói tóm lại, trong nền kinh tế chuyển đổi từ bao cấp sang thị trường, yêu cầu quan trọng nhất là phải khắc phục "khoảng trống" về quyền lực tư pháp, nghĩa là phải nhanh chóng có một hệ thống thể chế xét xử phù hợp với các quan hệ thị trường thì mới bảo đảm tăng trưởng kinh tế đồng thời bảo đảm định hướng XHCN. 3.3.3. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội Mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh" quy định tính tất yếu phải định hướng chính trị trong nền KTTT ở nước ta. Khả năng định hướng XHCN nền KTTT nước ta có trở thành hiện thực hay không, trước hết phụ thuộc vào sự lãnh đạo của Đảng, vai trò Nhà nước trong phát triển kinh tế. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội là nhân tố quyết định bảo đảm định hướng XHCN của nền KTTT cũng như sự nghiệp phát triển của đất nước. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là nhằm giữ vững bản chất giai cấp công nhân, phát huy vai trò của Nhà nước, bảo đảm cho mọi quyền lực thuộc về nhân dân, Nhà nước là người đại diện đưa công cuộc đổi mới đi đúng định hướng XHCN. Để tăng cường được sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội trong giai đoạn hiện nay mà trọng tâm là lãnh đạo kinh tế cần phải: Trước hết, Đảng phải đề ra được cương lĩnh, đường lối, quan điểm, chiến lược và sách lược kinh tế trên cơ sở căn cứ khoa học, phù hợp với thực tiễn nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta. Sự hình thành đường lối quan điểm chính sách kinh tế cũng như sự cụ thể hóa định hướng XHCN trong lĩnh vực kinh tế của Đảng phải trên cơ sở trí tuệ, nhận thức các quy luật kinh tế khách quan, xuất phát từ nhận thức sâu sắc và đánh giá đúng thực trạng nền kinh tế - xã hội đất nước, từ ý nguyện và hành động đông đảo của quần chúng, từ việc tìm ra những khuyết điểm trong lãnh đạo kinh tế. Cương lĩnh chiến lược kinh tế của Đảng có đúng hay không còn do thực tiễn kiểm nghiệm, vì thế Đảng phải kết hợp tư duy lý luận khoa học với tổng kết thực tiễn sinh động của nền kinh tế. Phải bám sát thực tiễn, đánh giá tình hình thực tiễn trên cơ sở phân tích các mâu thuẫn kinh tế - xã hội và kinh nghiệm, tổng kết thực tiễn để kiểm chứng, hoàn thiện cương lĩnh, chiến lược để dự báo một cách khoa học, chính xác về sự phát triển KTTT nước ta. Thứ hai, Đảng phải thường xuyên lãnh đạo nhà nước cụ thể hóa, thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chính sách kinh tế của mình thành các thể chế, pháp luật, cơ chế, chính sách kinh tế. Cương lĩnh, đường lối của Đảng tự nó không thể thực hiện được trong hiện thực mà phải thông qua hoạt động của Nhà nước, thể hiện trong Hiến pháp, pháp luật và các quyết định, thông tư, chỉ thị... và hoạt động quản lý điều hành của Nhà nước. Đó là lý do tồn tại, là chức năng cực kỳ quan trọng của Đảng cầm quyền. Nhà nước với tư cách là công cụ quyền lực chính trị tối cao để thực hiện cụ thể hóa đường lối của Đảng, ý chí của nhân dân lao động thành những chuẩn mực để quản lý và điều tiết kinh tế - xã hội. Vì vậy, các cấp các ngành, nhân dân, các chủ thể kinh tế... thực hiện chính sách luật pháp kinh tế của Nhà nước tức là thực hiện đường lối kinh tế của Đảng. Song cần nhận thức đúng, sự lãnh đạo kinh tế của Đảng và hiệu lực quản lý kinh tế của nhà nước là hai mặt thống nhất nhưng có vai trò chức năng khác nhau. Đây là cơ quan lãnh đạo chứ không phải là cơ quan quản lý nhà nước, không phải là cơ quan nhà nước cao nhất, cũng không phải là một tổ chức "siêu nhà nước". Đảng lãnh đạo nhưng không phải cái gì cũng trực tiếp làm. Tình trạng "Đảng biến thành Nhà nước" làm cho Đảng trở thành trung tâm hành chính phục vụ, biến cán bộ thành những người nắm quyền lực nhà nước sẽ dẫn đến hậu quả là Đảng không thực hiện tốt vai trò lãnh đạo, cơ quan nhà nước ỷ lại, thụ động, không sáng tạo, làm cho vai trò của Đảng và Nhà nước đều suy giảm. Vì vậy, cần thiết phải xây dựng đúng, thống nhất nhận thức về vai trò nhà nước trong nền KTTT trong toàn bộ đời sống xã hội, làm cho các chủ thể kinh tế nhận thức đúng và làm theo pháp luật của nhà nước. Thứ ba, để tăng cường lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội, Đảng phải định hướng rõ trong quá trình phát triển kinh tế theo định hướng XHCN. Nghĩa là, các hình thức và phương pháp quản lý nền KTTT được Nhà nước sử dụng như một công cụ, phương tiện để đạt tới nền kinh tế tăng trưởng cao, bền vững, ổn định nhằm mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Thực hiện nhiều hình thức phân phối, nhưng phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu. Nhà nước phải điều tiết thu nhập một cách hợp lý nhằm thu hẹp khoảng cách chênh lệch giàu - nghèo, vừa khuyến khích lao động, vừa bảo đảm phúc lợi xã hội. Nền KTTT ở nước ta phải là nền kinh tế hướng tới mục tiêu XHCN, hạn chế, khắc phục những thất bại của thị trường, thực hiện các mục tiêu xã hội và nhân đạo. Nhà nước đó phải là nhà nước XHCN pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Thứ tư, Đảng phải là một lực lượng có trình độ trí tuệ cao, nắm vững các quy luật khách quan của KTTT vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể ở nước ta. Để có trình độ trí tuệ cao, Đảng phải nhạy bén, vừa nhận thức được các quy luật khách quan của KTTT, vận dụng sáng tạo chúng, vừa có năng lực lãnh đạo làm cho các quy luật tác động có hiệu quả vào lĩnh vực kinh tế. Đảng phải có tri thức, kinh nghiệm mới trong quá trình định hướng chính trị nền KTTT, nâng cao năng lực tổ chức để không ngừng hoàn thiện đường lối, chiến lược về KTTT định hướng XHCN. Đảng phải là người kết tinh, đồng thời phát huy, tập hợp được mọi tiềm năng trí tuệ các nhà khoa học, các trí thức giỏi trong và ngoài Đảng, sử dụng các chuyên gia giúp mình chọn được phương án tối ưu trong lãnh đạo kinh tế, lãnh đạo nhà nước, những quyết định chiến lược của Đảng phải là những sản phẩm của khoa học có thông tin, cố vấn, phản biện. KTTT và xu hướng dân chủ hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội không chấp nhận vào vị trí lãnh đạo những người kém hiểu biết về KTTT, chỉ biết ra chỉ thị mà không biết cách tổ chức công việc một cách khoa học và có hiệu quả. Thứ năm, xây dựng hệ thống tổ chức Đảng vững mạnh trong các cơ quan nhà nước và chính quyền địa phương. Sự lãnh đạo của Đảng được bảo đảm thông qua tổ chức Đảng và những đảng viên giữ chức vụ chủ chốt trong các cơ quan nhà nước, có trách nhiệm đem nghị quyết của Đảng trình bày, thuyết phục, lãnh đạo các cơ quan nhà nước để các cơ quan này có trách nhiệm thể chế hóa đúng đắn đường lối, chính sách của Đảng theo thẩm quyền của mình, biến nó thành pháp luật của Nhà nước. Ở địa phương, các cấp ủy Đảng lãnh đạo chính quyền hoạch định những chủ trương cụ thể thi hành đường lối, chính sách của Trung ương Đảng, Chính phủ sát với tình hình, đặc điểm của địa phương. Sự lãnh đạo của Đảng bằng hệ thống tổ chức Đảng trong các cơ quan nhà nước và chính quyền địa phương, do vậy phải tăng cường xây dựng các tổ chức Đảng đó trong sạch là yêu cầu bảo đảm cho tăng cường vai trò Nhà nước từ trung ương tới cơ sở. Thứ sáu, để tăng cường được vai trò của nhà nước trong KTTT hiện nay, Đảng phải đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ lãnh đạo kinh tế giỏi. Đảng chỉ có thể lãnh đạo kinh tế thắng lợi nếu đào tạo và sử dụng được một đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý kinh tế giỏi, thiếu đội ngũ này thì quá trình thực hiện nền KTTT ở nước ta dù có định hướng đúng đắn cũng không thể thành công. Việc nâng cao vai trò nhà nước trong KTTT phụ thuộc cốt lõi vào việc sắp xếp sử dụng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước có đủ phẩm chất và năng lực hiện nay là yêu cầu cấp bách. Cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế phải được đào tạo bồi dưỡng toàn diện cả về lý luận chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và năng lực thực tiễn trong KTTT định hướng XHCN. Hiệu lực, hiệu lực quản lý của nhà nước ta là sự phản ánh trình độ lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội trong sự nghiệp đưa đất nước phát triển theo định hướng XHCN. KẾT LUẬN Nền KTTT là tổng hợp các mối quan hệ, cơ chế, thể chế thị trường và các chủ thể tham gia thị trường, trong đó có cả nhà nước. KTTT đã chứng tỏ tính hiệu quả của nó. Vì vậy kinh tế thị trường hiện nay cần thiết cho sự phát triển của các quốc gia. Trong nền KTTT vai trò, vị trí, tác dụng của các quan hệ, các nhân tố, các thể chế, các chủ thể cũng rất khác nhau, tùy thuộc vào các giai đoạn phát triển, ở từng khu vực và từng nước khác nhau. Chính vì vậy nhìn nhận về kinh tế thị trường từ trước đến nay vẫn còn nhiều quan điểm chưa thống nhất. Mặc dù trong Luận văn này chúng tôi không đặt mục đích nghiên cứu các lý thuyết hay các quan điểm về nền KTTT hoặc mối quan hệ giữa thị trường và nhà nước trong nền kinh tế thị trường mà chỉ điểm qua hết sức khái quát các quan điểm đó: Loại quan điểm thứ nhất tuyệt đối hóa vai trò của thị trường. Không nhìn thấy hoặc nhìn thấy không đầy đủ vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Loại quan điểm thứ hai, ngược lại tuyệt đối hóa vai trò của nhà nước, của công tác kế hoạch hóa tập trung, chỉ thấy những mặt trái, thậm chí phủ nhận KTTT. Loại quan điểm thứ ba vừa thừa nhận tính tích cực của KTTT, đồng thời khẳng định vai trò của nhà nước trong việc khắc phục những khuyết tật của KTTT và điều tiết vĩ mô. Mặc dù khắc phục được những cực đoan của hai quan điểm trước nhưng loại quan điểm này dường như chỉ muốn quy định cho nhà nước tham gia vào KTTT ở một mức độ nào đó (điều tiết vĩ mô hay khắc phục khuyết tật của KTTT). Loại quan điểm thứ tư thừa nhận sự tham gia và can thiệp cần thiết theo chức năng của nhà nước trong KTTT. Quan điểm này cho rằng KTTT là điều kiện tất yếu cho sự phát triển của các nước. Nhưng KTTT không thể hoạt động tự phát mà cần phải có tham gia của một nhà nước có hiệu lực. Để hoạt động có hiệu lực, nhà nước phải xác định rõ vai trò của mình trong KTTT theo khả năng hiện có. Vai trò đó không giữ nguyên mà thay đổi và phát triển theo sự phát triển của KTTT. Thật khó mà không đồng ý với quan điểm trên. Nhưng nên chăng cần phải có một cách tiếp cận rộng lớn và toàn diện hơn về vai trò của nhà nước trong nền KTTT? Đó chính là giải quyết mối quan hệ giữa quyền lực chính trị và kinh tế - mối quan hệ tất yếu và thường xuyên trong việc tìm con đường phát triển tối ưu cho một quốc gia. Như vậy nhà nước không chỉ là "can thiệp", "tham gia" mà còn là "chủ thể" kinh tế bình đẳng có quyền lực chính trị trong nền KTTT. Vấn đề chính đặt ra cho bản luận văn, không phải là nghiên cứu vai trò nhà nước trong nền KTTT nói chung, mặc dù đây là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng cho luận văn, mà là vai trò của nhà nước trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam. Đây là vấn đề mới mẻ và phức tạp đòi hỏi vừa phải vận dụng lý luận Mác - Lênin và thực tiễn xây dựng CNXH ở các nước khác nhau, những tri thức và kinh nghiệm chung về nhà nước trong KTTT. Xuất phát từ tình hình đó luận văn đặt ra và giải quyết một số vấn đề chủ yếu nhằm làm rõ vai trò Nhà nước trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta. Nhà nước trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta là nhà nước của giai cấp công nhân dựa trên cơ sở liên minh công - nông - trí thức do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nhà nước đó là thành quả của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc lâu dài và của những kinh nghiệm xây dựng CNXH đắt giá và quý báu. Nhà nước ta hiện nay là một Nhà nước dần được hoàn thiện theo hướng xây dựng nhà nước XHCN pháp quyền Việt Nam, Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Trước đây, do một thời gian dài tổ chức kháng chiến chống ngoại xâm, Nhà nước quản lý nền kinh tế theo phương pháp quan liêu bao cấp; mặt khác do nóng vội chủ quan muốn tiến nhanh lên CNXH bất chấp quy luật khách quan, Nhà nước đã nắm và tập trung quản lý mọi hoạt động kinh tế đất nước bằng công cụ hành chính và kế hoạch, pháp lệnh. Sau một thời gian tìm tòi, đổi mới trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế sang KTTT, hoạt động của Nhà nước ta đã thay đổi căn bản. Nhà nước ta vừa làm đại biểu cho ý chí của nhân dân vừa là tổ chức bộ máy bảo vệ những thành quả cách mạng dân tộc dân chủ, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, hướng công cuộc xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng XHCN. Mục tiêu và định hướng XHCN đã được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII nêu ra cụ thể, khái quát là xây dựng một nước Việt Nam "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh". Để đạt được mục tiêu đó, đối với một nước như nước ta là một sự nghiệp lâu dài gian khổ phải vượt qua nhiều thách thức, khó khăn, trở ngại. Những thách thức trở ngại chủ yếu là giải quyết những mâu thuẫn giữa thực trạng lạc hậu về kinh tế - xã hội với yêu cầu hiện đại hóa đất nước đưa nước ta đến độ tiên tiến của thế giới trong nửa đầu của thế kỷ XXI. Nhà nước ta quản lý xã hội trong một giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường, dưới áp lực của nhu cầu nội tại đồng thời phải chịu những áp lực của hội nhập quốc tế. Vì vậy vai trò của Nhà nước đối với nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta khác hẳn với các nhà nước khác trên thế giới và trong lịch sử nước ta. Nhà nước ta phải trở thành một nhà nước hiện đại, đủ năng lực để tác động tự giác vào KTTT để vừa phát huy tối đa các nguồn lực, đồng thời đủ sức định hướng được KTTT theo mục tiêu xã hội đã xác định. Đặc điểm cơ bản của nước ta là từ một nền sản xuất nhỏ là chủ yếu đi lên CNXH không qua giai đoạn TBCN. Điều này có nghĩa là sau cách mạng dân tộc dân chủ, về chính trị, chúng ta đã có Nhà nước XHCN, nhưng về trình độ nền kinh tế thì còn chưa tương xứng. Từ trình độ kinh tế ấy, muốn đạt đến một nền kinh tế hiện đại, phát triển, hầu hết các nước đều phải đi qua vài trăm năm, thậm chí còn phải trả giá đắt về xã hội. Nhưng lịch sử cũng chứng minh rằng có thể rút ngắn quá trình phát triển. Phát triển rút ngắn là một thách thức vô cùng to lớn đòi hỏi Đảng, Nhà nước phải có đường lối chính sách đúng đắn, tránh khỏi những sai lầm "tư" và "hữu", xây dựng các thể chế nhà nước thực sự có năng lực, và trong sạch, có phương pháp huy động cao nhất nguồn lực của đất nước và phân bổ hợp lý các nguồn lực đó cho phát triển. Nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế nông nghiệp, có tỷ trọng hàng hóa thấp, lại bị tàn phá bởi chiến tranh, có thời gian phát triển lệch lạc trong cơ chế quan liêu bao cấp. Vì vậy KTTT ở nước ta chưa thuần thục, còn thiếu nhiều thể chế hiện đại; các thể chế đã có còn thiếu đồng bộ, còn bị ảnh hưởng bởi tư duy và tập quán cũ. Mặt khác,từ một nước nghèo, tích lũy thấp, nhu cầu đầu tư cao, nên vấn đề xã hội còn là vấn đề gay gắt. Từ những điều kiện trên đây, xây dựng nền KTTT ở nước ta tất yếu phải có vai trò đặc biệt của Nhà nước. Nhà nước trong nền KTTT ở nước ta không đơn thuần chỉ làm "chức năng công quyền" mà nó vừa là người hướng dẫn, dìu dắt giúp đỡ các chủ thể kinh tế, là người vừa là trọng tài vừa là chủ thể đặc biệt của "cuộc chơi". Là một người vừa ra lệnh vừa giáo dục thuyết phục. Nhà nước không bị giới hạn vào một khuôn khổ nhất định nào cả. Nếu sự phát triển nền KTTT mở rộng ra vô tận, thì Nhà nước cũng phải tăng cường vai trò và năng lực của mình đến vô tận. Tuy nhiên Nhà nước không thể hành động tùy tiện kiểm soát mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, mà Nhà nước hành động trong môi trường pháp quyền và dân chủ; trong điều kiện đổi mới không ngừng phương pháp về quản lý nền kinh tế. Từ tính tất yếu kinh tế - xã hội ở nước ta, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam tham gia vào đời sống kinh tế - xã hội với tư cách là một chủ thể kinh tế đặc biệt - Chủ thể có quyền lực chính trị và nhằm thực thi quyền lực chính trị của nhân dân. Nhà nước thực hiện đồng thời chức năng kinh tế - xã hội và chủ động định hướng sự phát triển xã hội theo định hướng XHCN. Vì vậy giải quyết và thực hiện tốt vai trò chức năng của nhà nước trong KTTT chính là điều kiện cơ bản nhất cho việc thực thi quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước. Để thực hiện tốt vai trò chức năng của mình trong nền KTTT Nhà nước cần phải thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau: 1. Giải quyết tốt vấn đề sở hữu về TLSX trên cơ sở khắc phục những lệch lạc trước đây, kinh nghiệm thế giới và cách tiếp cận mới về vấn đề sở hữu trong KTTT hiện đại. Làm sao để vấn đề sở hữu thực sự kích thích phát triển LLSX đồng thời bảo vệ được tài sản của Nhà nước XHCN và tài sản nhân dân. 2. Với ưu thế độc quyền về luật pháp, hoạch định chính sách, nắm trong tay một bộ máy cưỡng chế cùng với sức mạnh của KTNN, Nhà nước điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường pháp lý bình đẳng, thông thoáng cho đầu tư, phát huy nguồn lực. 3. Nhà nước khắc phục những "thất bại" của thị trường, đặc biệt là trong khu vực hàng hóa công cộng, bảo đảm an ninh quốc phòng bảo vệ môi trường sinh thái. 4. Tích cực giải quyết những vấn đề xã hội: Vấn đề thất nghiệp, nghèo đói, bất bình đẳng,... bảo trợ xã hội và giúp đỡ những người bị thiệt thòi trong KTTT. Đối với nước ta toàn bộ những nhiệm vụ trên đây đều liên quan đến vai trò lãnh đạo của Đảng, thực chất là sự lãnh đạo của Đảng, thông qua Nhà nước để thực hiện mục tiêu cương lĩnh của mình. Việc xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là một thách thức nội tại. Nó đòi hỏi phải giải quyết hàng loạt vấn đề còn chưa sáng tỏ hẳn. Xây dựng nền KTTT định hướng XHCN là một bước phát triển mới về lý luận CNXH trong điều kiện mới. NEP của Lênin đã nêu một tấm gương về nhà nước XHCN biết sử dụng kinh tế thị trường, đồng thời cũng chỉ ra những thách thức, mâu thuẫn của việc kết hợp giữa nền kinh tế kế hoạch hóa và nền KTTT. Nền KTTT định hướng XHCN đòi hỏi công tác kế hoạch hóa của Nhà nước XHCN phải dựa trên cơ sở thị trường và thị trường phải làm tiếp thị ở kế hoạch trong sự thống nhất của nền kinh tế dân tộc với mục tiêu phúc lợi và tiến bộ xã hội. Nhà nước không làm kế hoạch ở những nơi không cần kế hoạch và không thể kế hoạch hóa được. Cũng tương tự không thể làm thị trường ở nơi không cần mua bán và không thể mua bán được. Trong nền kinh tế ấy, Nhà nước XHCN sẽ là người thực hiện chức năng tổ chức quản lý nhà nước nền kinh tế và đời sống xã hội, là người bảo trợ cho những bất công xã hội do thị trường tạo ra, tạo ra những điều kiện bình đẳng cho mọi công dân tìm kiếm phúc lợi. Nhà nước XHCN là người đóng vai trò chính xây dựng một cấu trúc xã hội mà trong đó các cá nhân - công dân - người lao động chứng tỏ mình tối đa để tạo ra phúc lợi xã hội tối đa. Đó cũng là tất cả những gì mà CNXH muốn vươn tới, nó thể hiện tính chất căn bản của Nhà nước XHCN. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Ban tuyên huấn Trung ương (1987), Đề cương giới thiệu Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin, Hà Nội. Ban tư tưởng văn hóa Trung ương (1996), Tài liệu nghiên cứu Văn kiện Đại hội VIII của Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Đảng cộng sản Việt Nam (1977), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự thật, Hà Nội. Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Đảng cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (Dự thảo). Đảng cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (Dự thảo). Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000, Nxb Sự thật, Hà Nội. Lê Xuân Đình (1999), "Ổn định tiền tệ và năng động hóa môi trường đầu tư", Cộng sản (23). Nguyễn Thị Hằng (2000), Xóa đói giảm nghèo một điểm sáng của thời kỳ đổi mới đất nước, Báo Nhân Dân (16334). Phạm Minh Hạc (2000), "Ba năm thực hiện nghị quyết Trung ương hai (khóa VIII) về giáo dục và đào tạo", Xây dựng Đảng (1). Phạm Quang Huấn (1999), Bao giờ có tập đoàn kinh doanh lành mạnh, Thời báo kinh tế (81). Đỗ Mười (1997), Văn kiện Hội nghị BCHTW lần thứ 3 (khóa VIII), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Ngân hàng thế giới (1998), Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.262. Phan Xuân Sơn (2000), "Chính sách cổ phần hóa và tư nhân hóa - một số kinh nghiệm nước ngoài vào Việt Nam", Sinh hoạt lý luận (1). Trung tâm Châu Á - Thái Bình Dương (1997), Sự thần kỳ Đông Á, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Tổng cục Thống kê (1999), "Sự nghiệp y tế ở nước ta trước ngưỡng cửa của thế kỷ 21", Con số và sự kiện (6). Đoàn Duy Thành (1999), "Kinh tế thị trường và sự vận hành của cơ chế thị trường ở Việt Nam", Cộng sản (18). Trần Hữu Thung (1999), "Việc làm của người lao động bảo đảm và nâng cao chất lượng cuộc sống", Cộng sản (21). V.I.Lênin (1977), Toàn tập, tập 42, Nxb Tiến bộ, Matxcơva. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, tập 43, Nxb Tiến bộ, Matxcơva. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, tập 44, Nxb Tiến bộ, Matxcơva. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, tập 45, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, tr. 326. Viện Phát triển quốc tế (1994), Việt Nam cải cách kinh tế theo hướng rồng bay, Nxb Sự thật, Hà Nội. Gates Jffrey (1993), "Các chương trình cổ phần hóa công nhân viên Mỹ: Các phương tiện chính trị pháp luật và thuế", Thông tin lý luận, (4). Icmo{ Xkeokelq{eb (1994) "WhkÐpihÐ nrq{ i mqiozqmÐ ozlmtvlmÐ ]imlmkhie", Oomajekz Remohh h no`ithih rno`bjelh~, Lmpib` (No1). {Igor Smermenchep (1994), "Con đường Chi Lê đến nền kinh tế mở", Những vấn đề lý luận và thực tiễn của quản lý, Nxb Matxcơva (1)}. ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLVTS0005.DOC
Tài liệu liên quan