Thực trạng & Giải pháp phát triển bền vững BIOGAS trong quan hệ với phát triển các ngành sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn..

Phần I Mở đầu 1.1: Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, khu vực kinh tế nông thôn có nhiều khởi sắc và chuyển biến rõ rệt. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn có nhiều thay đổi, ngành chăn nuôi đang từng bước phát triển và giữ vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Năm 2002, ngành chăn nuôi Việt Nam có tốc độ phát triển cao với 9,9 %...Tăng trưởng chăn nuôi sẽ kéo theo vấn đề môi trường, tác hại môi trường của chất thải từ gia súc

doc80 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 03/10/2013 | Lượt xem: 1501 | Lượt tải: 3download
Tóm tắt tài liệu Thực trạng & Giải pháp phát triển bền vững BIOGAS trong quan hệ với phát triển các ngành sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn.., để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
cũng đã bắt đầu rõ nét ở một số nước đang phát triển. Chất thải từ gia súc có mùi hôi, thối, làm ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất, ô nhiễm nguồn nước, gây lên các bệnh về đường hô hấp và đường tiêu hoá, bệnh ngứa da, ngứa mắt, viêm gan, ảnh hưởng đến sức khoẻ, đời sống của nhân dân. Việc quản lý chất thải từ gia súc cần một tổng hợp các biện pháp kỹ thuật, giáo dục, chính sách môi trường và chính sách kinh tế. Các biện pháp kỹ thuật phổ biến để xử lý chất thải từ gia súc bao gồm hệ thống biogas; bể chứa phân: bón phân đã xử lý vào đất; sử dụng cây xanh để hấp thu chất thải và sử dụng phân gia súc như một thành phần của thức ăn gia súc. Trong đó, xây dựng hệ thống biogas là một giải pháp xử lý chất thải từ chăn nuôi tốt nhất và hiệu quả nhất. Biogas biến đổi chất thải từ gia súc thành nguồn năng lượng có thể dùng để đun nấu, sưởi ấm, thắp sáng, tạo nguồn phân bón sạch cho cây trồng làm sạch môi trường. Biogas được ưa chuộng vì khả năng làm giảm mùi hôi của phân gia súc do sự phân huỷ xảy ra trong điều kiện yếm khí và là nguồn năng lượng rẻ tiền. Hiện nay, nước ta đã áp dụng một số mô hình biogas của các nước ấn Độ, Trung Quốc, Colombia... có hiệu quả và được bà con nông dân ủng hộ. Tuy nhiên trong quá trình xây dựng và phát triển hệ thống biogas đã gặp phải không ít khó khăn nên tốc độ mở rộng quy mô còn chậm. Để mở rộng quy mô và phạm vi áp dụng mô hình biogas có hiệu quả thì công việc nghiên cứu về biogas và các ngành khác có liên quan là rất quan trọng. Vì vậy việc tìm hiểu về và giải pháp phát triển bền vững biogas trong quan hệ với phát triển các ngành sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn ở huyện Chương Mỹ-Hà Tây là cần thiết. 1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài. 1.2.1. Mục tiêu tổng quát: Đánh giá thực trạng và định ra giải pháp phát triển bền vững hệ thống biogas sinh học trong quan hệ với các ngành sản xuất có liên quan ở nông thôn huyện Chương Mỹ-Hà Tây. 1.2.2. Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững hệ thống biogas và phát triển bền vững nông thôn. - Đánh giá thực trạng phát triển và hiệu quả của hệ thống biogas và thực trạng phát triển các ngành sản xuất. Từ đó tìm hiểu mối quan hệ giữa phát triển hệ thống biogas với một số ngành sản xuất ở nông thôn và các yếu tố ảnh hưởng đến nó. - Đề xuất phương hướng và giải pháp để phát triển hệ thống biogas trong quan hệ tích cực với phát triển các ngành sản xuất khác ở huyện Chương Mỹ-Hà Tây. 1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 1.3.1: Đối tượng nghiên cứu. - Nghiên cứu những vấn đề kinh tế - kỹ thuật ngắn liền với phát triển bền vững hệ thống biogas và phát triển các ngành sản xuất trong nông thôn ở huyện Chương Mỹ. - Đối tượng trực tiếp nghiên cứu là các hộ có hầm biogas và một số hộ chăn nuôi nhiều mà chưa xây hầm. 1.3.2: Phạm vi nghiên cứu. - Địa điểm: huyện Chương Mỹ- Hà Tây. - Thời gian: từ 10/2/2003- 10/6/2003. Phần II Tổng quan tài liệu 2.1. Cơ sở lý luận. 2.1.1. Những vấn đề cơ bản về phát triển Biogas . 2.1.1.1. Khái niệm về Biogas sinh học. Công nghệ khí sinh học Biogas là công nghệ sử dụng những quá trình phân huỷ trong môi trường yếm khí các chất thải có hàm lượng hữu cơ cao như phụ phẩm nông nghiệp; phân động vật; nước thải sinh hoạt; nước thải của các lò mổ, các trại chăn nuôi tập trung; các nhà máy chế biến thực phẩm. Sản phẩm của quá trình phân huỷ kỵ khí này là khí sinh học và bã thải. Khí sinh học là nhiên liệu khí có giá trị, nó cháy với ngọn lửa xanh lơ nhạt và không khói, được dùng để tạo năng lượng phục vụ trong sản xuất, sinh hoạt, đồng thời còn để bảo quản một số loại rau quả, ngũ cốc cho hiệu quả kinh tế cao. Bã thải có thể dùng trực tiếp làm phân bón các loại cây, xử lý hạt giống, trồng lấm làm thức ăn bổ sung để nuôi lợn, nuôi thuỷ sản mang lại hiệu quả kinh tế cao. 2.1.1.2. Vai trò của Biogas Nước thải và chất thải trong sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt gia đình là các hợp chất hữu cơ có phân tử lớn. Các chất này trong điều kiện nóng ẩm sẽ bị phân hoá nhanh sinh ra năng lượng và các chất hữu cơ phân tử nhỏ hơn hoặc các chất vô cơ. Trong điều kiện tự nhiên không được kiểm soát và tập trung thì quá trình này sẽ làm ô nhiễm môi trường từ đó tác động và ảnh hưởng trực tiếp vào quá trình trao đổi chất của con người và các sinh vật khác. Ngược lại nếu các chất thải đó được xử lý hợp lý sẽ tạo ra nguồn năng lượng tái sinh hữu ích và các chất dinh dưỡng dễ hấp thụ hơn cho cây trồng và vật nuôi, làm nguyên liệu cho chu trình sản xuất khép kín tiếp theo trong hệ kinh tế sinh thái VAC. Để tìm một giải pháp hợp lý và bền vững trong việc xử lý chất thải chăn nuôi cũng như chất thải sinh hoạt thì việc ứng dụng công nghệ Biogas là biện pháp tích cực nhất trong giai đoạn hiện nay, đối với khu vực địa bàn nông thôn nhằm giải quyết các vấn đề sau: - Tạo nguồn năng lượng tái sinh rẻ và sạch phục vụ đời sống con người. - Giữ gìn và bảo vệ môi trường vệ sinh trong sạch trong các khu vực công đồng nông thôn qua đó góp phần giữ gìn và bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khoẻ toàn xã hội thông qua việc giảm ô nhiễm môi trường sản xuất, cung cấp sản phẩm nông nghiệp sạch. - Giảm chặt phá rừng ở các khu vực trung du miền núi. Vì sử dụng Biogas sẽ giảm nhu cầu tiêu thụ gỗ, củi. - Tăng thu nhập cho các hộ gia đình thông việc giảm chi phí về nhu cầu chất đốt phục vụ sinh hoạt. - Tạo nguồn phân bón hữu cơ vi sinh, giảm bớt sử dụng phân hoá học, qua đó giảm bớt sự thoái hoá và cải thiện đất trồng, nâng cao năng suất cây trồng và nuôi cá trong hệ thống VAC gia đình. - Hỗ trợ phát triển chăn nuôi tốt hơn, tạo điều kiện nâng cao mức sống và tiếp cận điều kiện văn minh đô thị cho người dân nông thôn trong việc cải tạo hố xí gia đình, sử dụng khí sinh học vào việc nội trợ. - Giảm sức lao động của phụ nữ trong công việc nội trợ. 2.1.1.3. Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của Biogas. Công nghệ khí sinh học với các dạng hầm Biogas khác nhau có đặc điểm kinh tế và kỹ thuật khác nhau. Có nhiều dạng hầm Biogas nhưng phổ biến là hầm xây chìm dưới lòng đất có nắp hình vòm khối, hầm Biogas nắp nổi của Trung Quốc, hầm Biogas túi ủ bằng chất dẻo của Colombia. * Hầm Biogas có nắp vòm cuốn. - Cấu tạo của hầm gồm: + Bể phân huỷ được xây chìm dưới lòng đất có thân bể hình trụ, nắp bể hình vòm cuốn. Nắp vòm cuốn có thể xây bằng gạch bê tông cốt thép, hoặc bằng vật liệu Côm- pô - sít. + Hệ thống đầu vào dẫn nguyên liệu nạp vào hầm phân huỷ theo một đường ống dẫn thẳng xuống đáy hầm. + Đầu ra được gắn vào hầm phân huỷ, đóng vai trò là một bể điều áp. - Ưu điểm: Tạo được áp lực ga lớn, có thể sử dụng ga để thắp sáng. - Nhược điểm: + Bản vẽ thiết kế phức tạp, thi công xây dựng khó khăn vì đòi hỏi chính xác cao trong thi công xây dựng, trong khi trình độ thợ xây dựng ở các vùng nông thôn hiện nay còn rất hạn chế. Do vậy việc phổ cập và nhân rộng, phát triển mô hình này rất khó khăn. + áp lực ga trong hầm lớn nên chỉ cần một vết nứt nhỏ của vòm cầu trong quá trình sử dụng cũng có thể làm cho ga thất thoát hoàn toàn mà việc xác định các vết nứt và rò rỉ của vòm cầu là rất khó khăn. + Lớp váng xuất hiện và phát triển gây nhiều khó khăn và trở ngại cho sự phân huỷ nguyên liệu trong hầm. + Trường hợp bể điều áp thiết kế mà xây dựng không đúng quy cách tiêu chuẩn sẽ xuất hiện tình trạng hầm phân huỷ thường xuyên xẩy ra hiện tượng thiếu nước làm cho hiệu quả sản xuất ga thấp. +Khi ở đầu vào nước thường bị dềnh lên làm cho việc nạp nguyên liệu vào hầm gặp nhiều trở ngại. + Giá thành xây dựng cao (4-5 triệu đồng/1hầm 7m3). * Biogas bằng túi chất dẻo. - Cấu tạo: + Túi ủ Biogas được cấu tạo bởi 2-3 lớp túi nilong lồng vào nhau làm một, dài 7-10m, đường kính 1,4m được đặt nửa chìm nửa nổi trên mặt đất. Túi này được gắn với hệ thống ống sành tạo đầu vào và đầu ra. + Túi dự trữ ga có nhiệm vụ thu và dự trữ khí sinh học tù túi ủ để dẫn tới bếp sử dụng. - Nhược điểm: + Túi ủ Biogas hay bị thủng do bị tác động cơ học. + Vật liệu chất dẻo dễ bị lão hoá dưới tác dụng của ánh nắng mặt trời. + Mô hình chiếm diện tích đất lớn (10 m3) vì túi Biogas đặt nửa chìm nửa nổi trên mặt đất làm cho các gia đình có diện tích đất trật nên không có điều kiện để áp dụng mô hình này. * Biogas VACVINA cải tiến: - Cấu tạo: + Hầm Biogas VACVI NA cải tiến có thể nói là một sự giao kết giữa mô hình vòm cuốn cố định dưới lòng đất và mô hình túi Biogas bằng nilong. + Hầm phân huỷ thông thường có hình khối hộp chữ nhật được xây dựng bằng gạch, xi măng, độ sâu vừa phải dưới lòng đất. Không cần bể phối trộn, nhưng thay vào đó là một sự hoạt động liên hoàn với kỹ thuật đơn giản bằng một loại xi-phông đầu vào với hoạt động linh hoạt dẫn chất thải vào hầm đồng thời thực hiện phá váng liên tục trong quá trình sử dụng. Thực chất là khi chất thải đưa vào hầm được rơi tự do với gia tốc trọng trường làm phá vỡ lớp váng trên bề mặt thuỷ tĩnh trong hầm. + Ga sản sinh trong hầm ủ được dẫn tới một hệ thống túi dự trữ ga bằng chất dẻo, nhờ hệ thống đường ống dẫn bằng nhựa hoặc kim loại. Hệ thống túi dự trữ ga này được treo trên nóc bếp hoặc nóc chuồng trại. - Ưu điểm: + Hầm có thể xây dưới lòng đất với cấu tạo hình khối hộp hình chữ nhật đơn giản, không cần xây lắp hình vòm cuốn hoặc hình cầu, làm cho việc xây dựng được dễ dàng hơn và rễ hơn rất nhiều. Cấu trúc và thiết kế đơn giản, việc xây dựng hầm phân huỷ dễ dàng, phù hợp với trình độ của thợ xây ở vùng nông thôn. + Thiết kế của hầm phân huỷ và việc sử dụng bê tông cốt thép đổ liền khối tại chỗ đối với nắp phẳng cho phép độ dung sai và rò rỉ nhỏ, mà vẫn đảm bảo kín khí cho hầm. + Phương pháp lưu giữ ga ở bên ngoài đơn giản và hiệu quả phù hợp với việc sản xuất ga trong mọi hoàn cảnh. + Phương pháp phá váng tự động và liên tục giải quyết được một trong những vấn đề nan giải của các thiết kế hầm Biogas vòm cuốn với việc nạp nguyên liệu từ dưới đáy hầm. + Nắp hầm bằng phẳng có thể tận dụng việc xây dựng chuồng trại hoặc nhà xí trực tiếp ngay trên đó. + Hầm có độ bền cao, không mất tiền bảo hành duy trì hoạt động hầm hàng năm. 2.1.1.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển hệ thống Biogas. * Yếu tố xã hội. - ích lợi của Biogas: Biogas đem lại 3 yếu tố ích lợi nhất đó là ga đốt, phân bón và vệ sinh. Hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam á- Thái Bình Dương đều thích sử dụng gas, sau đó mới quan tâm đến lợi ích của phân bón. Tuy nhiên ngày nay người ta đang chú ý đến việc sử dụng phân bón còn vấn đề vệ sinh vẫn ít được nêu lên. - Đặc tính dân tộc của nông dân. Mỗi nước đều có đặc tính dân tộc riêng và đặc tính dân tộc của nông dân ở mỗi nước có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc lựa chọn loại hình Biogas thích hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương. Nhìn chung, nông dân thường có tập quán sử dụng trực tiếp phân bón gia súc với cây trồng, đun nấu bằng củi gỗ, rơm rạ, họ còn e ngại với việc sử dụng khí đốt Biogas. * Yếu tố ảnh hưởng đến các loại hình thiết kế. - Nguyên vật liệu xây dựng: Kỹ thuật xây dựng Biogas còn tuỳ thuộc vào nguyên vật liệu sẵn có tại địa phương như đá, gạch, bê tông ... Hầm ủ có thể làm bằng rất nhiều loại vật liệu khác. - Mực nước ngầm: Là mực nước sẵn có trong hố đào dưới đất. Khi mực nước dâng cao tới gần mặt thì gọi đó là mực nước ngầm cao. Trong những khu vực ngập nước như vậy phải xây dựng loại hình bể sinh khí đặc biệt. - Nguyên liệu cho vào hầm ủ: Khí đốt sinh học được phát sinh bởi các loại phân xanh, phân chuồng nhưng chỉ có một loại hình duy nhất là loại hình vòm cố định mới có thể sử dụng được cả phân xanh, rau cỏ các loại mà không cần phải nghiền chúng ra trước. Đa số các loại hình bể sinh khí được thiết kế bể sử dụng phân lợn, phân trâu, bò; một số mô hình được thiết kế để sử dụng phân gà, vịt, phân người. Khi chỉ dùng phân động vật thì bể sinh khí hoạt động liên bởi vì có một lượng chất thải tương đương cũng thoát ra khỏi bể sinh khí. Khi dùng phân xanh vì có tỷ trọng nhỏ nên chúng không thể tự chảy thoát ra khỏi bể sinh khí mà trước khi đổ phân xanh vào hầm ủ ta phải vớt lượng phân xanh cũ ra và thay phân xanh từ một đến hai lần trong một năm, mỗi lần thay phải đợi một thời gain cho đến khi vi khuẩn bắt đầu hoạt động thì mới có ga. Như vậy nếu dùng phân xanh thì sẽ bị gián đoạn quá trình cung cấp ga. Hơn nữa lượng phân thu được từ gia súc, gia cầm và người còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như kích thước con vật, loại thực phẩm cho gia súc ăn mỗi ngày và mức sản sinh của súc vật. *Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình vận hành. - Lượng nước: Thường 1 kg phân phải trộn với 1 kg nước. Không thể dùng nước biển được bởi vì nó sẽ làm cản trở sự phát sinh của vi khuẩn. - Thời gian sử dụng bể sinh khí: Bể sinh khí xây bằng xi măng có thể sử dụng được 20 năm. Khi quyết định xây dựng bể sinh khí, người sử dụng phải hiểu rằng đó là 1 việc đầu tư vốn lâu dài vì vậy phải tính toán đến số lượng gia súc trong tương lai và việc sử dụng gas trong tương lai. - Lớp váng trong hầm ủ: Đóng váng là hiện tượng chính trong các bể sinh khí vận hành liên tục được tạo bởi rau cỏ, rơm rạ, phân xanh không bị mục rữa, các lớp lót ổ cho súc vật như vỏ trấu, mạt cưa. Nừu lớp váng có ít ta có thể quấy tan đi. Nừu lớp váng đóng quá dày thì phải vớt nó ra. 2.1.2. Những vấn đề cơ bản về phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn. 2.1.2.1. Khái niệm về phát triển nông nghiệp bền vững. - Phát triển kinh tế xã hội: Là quá trình nâng cao điều kiện sống, vật chất và tinh thần của người dân bằng phát triển lực lượng sản xuất, thay đổi quan hệ sản xuất, quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng hoạt động văn hoá. - Phát triển bền vững: Là phát triển để đáp ứng nhu cầu của đời nay mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của đời sau. Hay phát triển bền vững là cải thiện chất lượng sống của con người trong khả năng chịu đựng được của hệ sinh thái. - Phát triển nông nghiệp bền vững: Phát triển nông nghiệp bền vững là sự quản lý và bảo tồn sự thay đổi về tổ chức và kỹ thuật nhằm đảm bảo thoả mãn nhu cầu hiện tại ngày càng tăng của con người cả trong hiện tại và tương lai. Sự phát triển như vậy của nền nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản) sẽ đảm bảo không tổn hại đến môi trường, không giảm cấp tài nguyên, sẽ phù hợp về kỹ thuật và công nghệ, có hiệu quả kinh tế và được chấp nhận về phương diện xã hội. 2.1.2.2. Các nội dung trong phát triển nông nghiệp bền vững. - Đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp: Đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn là sản xuất ra nhiều loại sản phẩm hàng hoá với tỷ suất hàng hoá cao, tận dụng triệt để các lợi thế so sánh của các hộ, các vùng. Trước hết là nguồn lực đất đai, lao động và các điều kiện tự nhiên ưu đãi để đáp ứng nhu cầu tại chỗ và góp phần tham gia vào quá trình phân công tại chỗ và góp phần tham gia vào quá trình phân công và hợp tác kinh tế trong nội bộ gia đình nông thôn cũng như trong phạm vi của huyện. Đa dạng hoá sản xuất trong nông thôn nhằm chuyển đổi kinh tế nông thôn từ nền kinh tế thuần nông, lấy sản xuất lương thực là chính sang 1 cơ cấu mới: nông công nghiệp và dịch vụ, trong sản xuất lấy đa dạng hoá cây trồng, chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá làm trọng tâm. - Chuyên môn hoá: - Thâm canh hoá: 2.2. Cơ sở thực tiễn của phát triển Biogas. 2.2.1. Tình hình phát triển Biogas trên thế giới và ở Việt Nam. 2.2.1.1. Tình hình phát triển Biogas trên thế giới. Với nhận thức công nghệ sinh học là công nghệ khí liên ngành đa mục tiêu, đa mục đích nên chính phủ nhiều nước trên thế giới đã và đang quan tâm đưa ra những chính sách, những chương trình mạnh mẽ thúc đẩy sử dụng nguồn năng lượng khí sinh học với mục tiêu khai thác toàn diện các lợi ích của nó, các chính sách thúc đẩy công nghệ khí sinh học đã được chứng minh trên các lợi ích kinh tế, xã hội như: bảo vệ môi trường, cung cấp năng lượng; điện trên cơ sở chi phí thấp nhất cho các vùng hẻo lánh; tạo ra các hoạt động kinh tế cho các vùng hẻo lánh; đa dạng hoá các nguồn các nguồn năng lượng. - Trung Quốc: Trung Quốc đã có một lịch sử ấn tượng về việc sử dụng năng lượng tái tạo cho việc phát triển nông thôn với một số chương trình có tầm cỡ lớn nhất thế giới về khí sinh học. Theo số liệu thống kê của Bộ nông nghiệp Trung Quốc riêng trong lĩnh vực chăn nuôi năm 1996 có 460 công trình khí sinh học cung cấp cho 5,59 triệu gia đình sử dụng, phát điện với công suất 866 KW, sản xuất thương mại 24.900 tấn phân bón và 700 tấn thức ăn gia súc. Tới cuối năm 1998 số công trình lớn tăng lên đến 573 và đến năm 2000 có 2000 bể cỡ lớn và 8,5 triệu hầm. Trong những năm gần đây, các mô hình nhà kính và sử dụng năng lượng đa dạng đã được phát triển rất nhanh ở Trung Quốc, đặc biệt những bể tạo khí Biogas nhỏ được xây dựng mỗi năm tới 160.000 chiếc. Cuối thế kỷ 20 toàn quốc đã có 7.630.000 bể tạo khí Biogas nhỏ. - Đức: Việc xây dựng công trình khí sinh học tăng từ 100 thiết bị/ năm trong những năm 90 lên 200 thiết bị/ năm vào năm 2000 hầu hết các công trình có thể tích phân huỷ từ 1000 tới 1500 m3, công suất khí 100 tới 150 m3. Có trên 30 công trình quy mô lớn với thể tích phân huỷ 4000 tới 8000 m3. Khí sinh học sản xuất ra được sử dụng để cung cấp cho các tổ máy đồng phát nhiệt và phát điện có công suất điện là 20, 150. 200 và 500 KWe. - Nepal: Sức tiêu thụ các năng lượng truyền thống tại các hộ gia đình ở vùng nông thôn: 85% (75% từ củi đun, chất đốt từ nông nghiệp). Tổng số mô hình Biogas đã lắp đặt 104 080. Số huyện đã xây dựng các mô hình Biogas: 65 Huyện. Lịch sử của Biogas bắt đầu từ năm 1965, nền tảng là sự hướng dẫn chỉ đạo của Late Father B.R.Saubolle trường Xavier's tại Godavari ở Kathmandu, Nepal. Tuy nhiên trên thực tế Biogas chỉ được quan tâm đến sau khi giá nhiên liệu đột ngột tăng cao. Nó được bắt đàu từ năm 1975 với tên gọi là "Năm nông nghiệp". Trong thời gian này có tổng số 200 gia đình lắp đặt với quy mô là loại hầm nổi hình vòm cầu. Năm 1977, cùng với sự đưa vào của công ty Gobar, Biogas sinh học được phổ biến. Tuy nhiên, kết thúc năm 1978, phổ biến được tất cả 708 hầm Biogas loại hầm nổi hình vòm cầu.Thấy được tầm quan trọng của Biogas sinh học và sự quan tâm chú ý của người dân, chính phủ đã đưa ra nhiệm vụ lắp đặt 4000 hầm phân hủy loại kế hoạch thứ 7 trong giai đoạn bắt đầu từ năm 1985. Với sự giới thiệu của chương trình hỗ trợ Biogas, dưới sự hỗ trợ của tổ chức phát triển Hà Lan, nhịp độ bắt đầu đạt được về sự tăng tiến của Biogas .Trong suốt giai đoạn đầu và giai đoạn thứ 2 chương trình hỗ trợ Biogas có 31000 hầm. Dưới giai đoạn thứ 3 đã xây dựng được 1000.000 hàm Biogas cố định. - Đan Mạch: Việc xây dựng các nhà máy kị khí tập trung đang trở thành một lựa chọn phổ biến để quản lý chất thải ở những nơi chất thải từ vài nguồn có thể được xử lý phân động vật, phụ phân cây trồng, chất thải hữu cơ của các gia đình. 2.1.1.2. Tình hình phát triển Biogas ở Việt Nam. Trong những năm gần đây sản phẩm khí sinh học Biogas nhờ sử dụng chất thải động vật có khả năng phân giải về mặt sinh học đã được đề xuất ứng dụng như một phần của mô hình VAC, nhằm xử lý chất thải chăn nuôi, tạo khí đốt phục vụ và bảo vệ môi trường, các giải pháp về kỹ thuật công nghệ do thế giới đã công bố và những cải tiến của các tổ chức ở trong nước có quan tâm đến lĩnh vực này đã được áp dụng ở các vùng nông thôn nước ta và đã giúp bà con nông dân Việt Nam bước đầu có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận mô hình công nghệ đa mục tiêu, mang lại hiệu quả này. Từ những năm 1960 đến nay các dạng hầm Biogas khác nhau như hầm Biogas xây chìm dưới lòng đất có nắp hình vòm cuốn của Trung Quốc, ấn Độ; Mô hình túi Biogas ủ bằng vật liệu chất dẻo của Cô-lôm-bia đã lần lượt được giới thiệu vào Việt Nam qua nhiều kênh và chương trình khác nhau trong đó tổ chức VACVINA trên địa bàn toàn quốc với vai trò tiên phong đã thực sự có những hoạt động tích cực trong việc phổ biến các loại hình công nghệ Biogas thông qua các nội dung: tập huấn chuyển giao công nghệ và đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật cho địa phương; xây dựng các mô hình trình diễn để nhân rộng; thực hiện các chiến dịch tuyên truyền, phổ biến kỹ thuật để nâng cao nhận thức cho hội viên thông qua các phương tiện truyền thanh, truyền hình. Tuy nhiên, theo phản ánh của các hộ nông dân thì kết quả thu được từ các mô hình Biogas là rất khác nhau và còn nhiều hạn chế nên sự phát triển và nhận rộng các mô hình Biogas gặp rất nhiều khó khăn. Những vấn đề tồn tại đó khiến chương trình phát triển công nghệ Biogas phải đối mặt với những thách thức lớn và có thời điểm đã mang dấu hiệu của sự ngừng trệ. Trước những khó khăn do hạn chế của công nghệ Biogas và những bức xúc cần được giải quyết sớm nhằm hỗ trợ cho bà con nông dân đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, giải quyết và khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, trung ương hội VACVINA đã thiết kế mô hình “Biogas VACVINA cải tiến”. Hầm Biogas cải tiến là một mô hình đảm bảo phát triển bền vững cho vùng nông thôn Việt Nam. Đến nay, công nghệ khí sinh học đã được phát triển rộng lớn ở Việt Nam, ước tính có khoảng 30.000 công trình sinh học đã được xây dựng, lắp đặt trong đó đa số là loại túi nilong. Nhiều tổ chức đã tham gia phát triển công nghệ này nhờ những nguồn tài trợ khác nhau. Hiện nay, có khoảng 10 kiểu thiết bị khí sinh học đang được áp dụng ở Việt Nam. Số lượng mô hình Biogas tăng nhanh, đặc biệt ở Thành phố Hải Phòng, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Cao Bằng, Ngoại Thành Hà Nội. Tỉnh Thái Nguyên đang đẩy mạnh việc ứng dụng các thành tựu về công nghệ phát triển hầm khí sinh học vào cuộc sống dân sinh, đặc biệt đối với khu vực nông thôn. Từ năm 1998 đến nay bên cạnh việc đẩy mạnh công tác thông tin, giáo dục, truyền thông, vì việc sử dụng khí sinh học, chương trình phát triển hầm khí sinh học đã đầu tư xây dựng trên 500 hầm thí điểm cho các hộ dân bằng sự tài trợ một phần từ ngân sách sự nghiệp khoa học của tỉnh. Sự thành công của mô hình đã thúc đẩy nhanh việc mở rộng xây dựng các loại hầm khí sinh học trong dân cư, theo ước tính đến nay gần 1000 hầm đang hoạt động trong các hộ gia đình. Tỉnh Đồng Nai đã ban hành quy định nếu không có hầm khí sinh học thì không được phát triển chăn nuôi. Hiện nay ở Đồng Nai mỗi năm lắp đặt 500 túi Biogas do chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn thực hiện, một số đơn vị khác xây dựng các bể, tổng số các hầm và bể khí sinh học vào khoảng 3.500 chiếc. Tỉnh Hà Tây: Qua thời gian ngắn triển khai (từ năm 1998 đến tháng 4 năm 2002), toàn tỉnh đã có 7250 hầm Biogas các loại, hầm lớn nhất có thể tích 10-12m3, nhỏ nhất là 4m3, tương ứng với số vốn đầu tư 25375 triệu đồng, trong đó vốn của nhà nước bỏ ra từ 85-100%. Huyện có số hầm Biogas nhiều nhất tỉnh là Đan Phượng với 2240 hầm, tiếp theo là các tỉnh ứng Hoà, Hoài Đức trên dưới 1000 hầm. Mục tiêu của tỉnh từ nay đến năm 2010 toàn tỉnh phải đạt được 22984 hầm Biogas các loại. Phần III đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 3.1.1. Điều kiện tự nhiên - Vị trí địa lý, địa hình: Huyện Chương Mỹ thuộc vùng bán sơn địa của tỉnh Hà Tây, trung tâm của huyện cách thị xã Hà Đông 10 Km, cách Thủ đô Hà Nội 20 Km về phía tây. Phía Đông của huyện giáp với huyện Thanh Oai. Phía Tây giáp với huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình. Phía Nam giáp với 2 huyện ứng Hoà và Mỹ Đức. Phía Bắc giáp với hai huyện Hoài Đức và Quốc Oai. Như vây, huyện Chương Mỹ có một vị trí khá thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, xã hội. Đặc biệt huyện Chương Mỹ lại nằm trên trục đường 6-con đường nối liền tỉnh Hoà Bình với thị xã Hà Đông và Thủ đo hà Nội thuận lợi trong giao lưu buôn bán, phát triển thương mại dịch vụ. Hơn nữa huyện Chương Mỹ bao gồm nhiều loại đất chia làm 3 vùng: vùng đồi gò, vùng đất bãi, vùng đồng bằng giữa huyện nên có điều kiện khả năng phát triển đa dạng hoá các ngành nghề. - Thời tiết khí hậu: Khí hậu của huyện Chương Mỹ mang đặc tính chung của khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng được chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa khô (hanh khô và giá rét) kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau với nhiệt độ trung bình vào khoảng từ 160C-210C; mùa mưa (nóng bức, nắng lắm mưa nhiều) kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 nhiệt độ trung bình vào khoảng 23,7-29,70C. Lương mưa bình quân hàng năm khoảng 2427,9 mm, độ ẩm bình quân khoảng 83%. Chương Mỹ là huyện nằm trong vùng phân lũ của đồng bằng sông Hồng và chịu ảnh hưởng rất lớn của lũ rừng ngang qua dãy núi Trầm Sơn của tỉnh Hoà Bình. Mặt khác hệ thống sông ngòi, ao hồ của huyện khá phức tạp với bao con sông chảy qua là sông Bùi, sông Đáy, sông Tích Giang và rất nhiều ao hồ, đầm, kênh. Điều kiện thời tiết khí hậu thuỷ văn đã ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp của huyện, tình trạng hạn hán lũ lụt vẫn thường xuyên sẩy ra, nông dân gặp nhiều khó khăn. 3.1.2. Điều kiện kinh tế-xã hội. Với tổng diện tích đất tự nhiên lớn và dân số khá đông, huyện Chương Mỹ chia làm 33 xã và thị trấn. Người dân trong huyện Chương Mỹ sống chủ yếu bằng nghề sản xuất nông nghiệp, mỗi xã có một tập quán canh tác, sản xuất khác nhau nhưng nhìn chung năng suất lao động chưa cao, giá trị sản xuất lao động còn thấp, thu nhập bình quân đầu người thấp, đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn. Cơ sở vật chất , cơ sở hạ tầng của huyện còn kém, đặc biệt là hệ thống giao thông đi lại khó khăn. Ngoài hai quốc lộ (quốc lộ 6 và quốc lộ 21A) thì hầu hết các con đường liên thôn , liên xã trong huyện vẫn là đường cấp phối , đường đất , đi vừa sóc vừa bụi, do đó đã hạn chế rất nhiều khả năng phát triển của huyện. Trên địa bàn huyện Chương Mỹ có một số nhà máy xí nghiệp như xí nghiệp Chè Lương Mỹ, Công ty giống gia cầm Lương Mỹ, Công ty thức ăn gia súc CP, Nhà Máy Bê Tông và nhiều cơ sở chế biến lương thực thực phẩm. Đặc biệt trên địa bàn huyện còn có trường Đại Học Lâm Nghiệp, trường Cao Đẳng Kỹ Thuật Hà Tây, trường Cao Đẳng Cộng Đồng Xuân Mai, trường Trung Học Nghiệp Vụ, trường Cao Đẳng Thể Dục Thể Thao và nhiều đơn vị quân đội...Đây là điều kiện rất tốt thúc đẩy nền kinh tế của huyện phát triển. Nhưng thực tế huyện Chương Mỹ vẫn chưa phát huy được htês mạnh đó. Trong mấy năm gần đây cơ cấu kinh tế của huyện đã có rất nhiều thay đổi, các làng nghề được khôi phục phát triển tốt, nhiều công ty được thành lập trên địa bàn huyện đã thu hút được nhiều lao động , các cụm công nghiệp đang dần được hình thành như cụm công nghiệp Bê Tông – Xuân Mai; cụm công nghiệp Phú Nghĩa – Trường Yên. Đây là cơ hội tốt cho sự phát triển nền kinh tế của huyện trong những năm tới. 3.1.2.1. Tình hình đất đai và phân bổ của huyện trong 3 năm (2002-2003). Diện tích đất đai khá rộng với tổng diện tích đất tự nhiên là 23.294,15ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm hơn 60%, đất chuyên dùng chiếm hơn 20%, đất thổ cư chiếm tỷ trọng nhỏ hơn 5%, nhưng đất chưa sử dụng thì chiếm tỷ trọng lớn hơn 9%. Tổng diện tích đất tự nhiên không đổi nhưng diện tích của các loại đất thì thay đổi hàng năm, có thể tăng hoặc giảm tuỳ theo mục đích sử dụng đất của người dân. Đất nông nghiệp có xu hướng giảm theo các năm: Năm 2000, đất nông nghiệp có diện tích là 14.431,26ha chiếm 61,95% tổng diện yích đất tự nhiên. Năm 2001, đất nông nghiệp còn 14.391,95ha chiếm 61,78% và đến năm 2002 diện tích đất nông nghiệp còn 14.378,67 ha chiếm 61,73% diện tích đất tự nhên. Như vậy, diện tích đất nông nghiệp giảm hàng năm với tốc độ giảm bình quân là 0,19%. Nguyên nhân làm giảm diện tích đất nông nghiệp là nhiều nhà máy , xí nghiệp, công ty , nhà ở được xây dựng trên diện tích đất nông nghiệp, tức là đất nông nghiệp được chuyển sang làm đất chuyên dùng và đất thổ cư để đáp ứng nhu cầu CNH, HĐH Nông nghiệp, nông thôn, chuyển đổi cơ cấu kinh tế của huyện , đáp ứng nhu cầu nhà ở cho người dân. Đất lâm nghiệp trong mấy năm gần đây , đặc biệt là trong 3 năm qua giữ ở mức cố định không tăng không giảm. Đất chuyên dùng chiếm tỷ trọng lớn và có xu hướng tăng lên hàng nămvơis tốc độ bình quân là 0,45%, cụ thể năm 2000 với diện tích 4911,80 ha chiếm 21,09%; năm 2001 với diện tích 4942,90 ha chiếm 21,22%; năm 2002 với diện tích 4956,89 ha chiếm 21,28%. Đất chuyên dùng tăng lên để đáp ứng nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng tạo điều kiện tiền đề cho phát triển nền kinh tế chung của huyện. Biểu 1 Đất thổ cư tăng lên do sự gia tăng đân số, do tách hộ. Năm 2000 diện tích đất thổ cư của toàn huyện là 1164,14ha chiếm 5,00% năm; năm 2001 tăng lên 1176,42 ha chiếm 5,05%; năm 2002 tăng chậm hơn so với năm 2001, vơi diện tích đất thổ cư năm 2002 là 1177,58 ha chiếm 5,06%. Đất chưa sử dụng còn chiếm tỷ lệ cao, diện tích đất chưa sử dụng giảm hàng năm nhưng không đáng kể. Năm 2000 diện tích đất chưa sử dụng là 2201,35 ha chiếm 9,45%; đến năm 2001 diện tích này giảm còn 2179,28 ha chiếm 9,43% ; năm 2002 , diện tích đất chưa sử dụng là 2195,41 ha chiếm 9,42% tổng diện tích đất tự nhên. Như vậy , năm 2001 diện tích đất chưa sử dụng giảm mạnh hơn năm 2002 và tốc độ giảm bình quân hàng năm là 0,14%. Diện tích đất chưa sử dụng chủ yếu là đất đồi gò , đất đầm lầy , diện tích này có khả năng chuyển thành đất nông nghiệp nên cần quan tâm khai thác. Mặc dù đất nông nghiệp có diện tích khá lớn , nhưng do dân số của huyện Chương Mỹ khá đông nên bình quân diện tích đất nông nghiệp trên một khẩu , trên một lao động, trên một hộ nông nghiệp còn thấp. Hơn nữa diện tích đất nông nghiệp thì giảm đi hàng năm mà dân số thì tiếp tục tăng lên hàng năm, nên diện tích đất nông nghiệp bình quân đều có xu hướng giảm. Diện tích đất thổ cư bình quân trên hộ cũng ở mức trung bình, có đủ điều kiện để xây dựng chuồng trại chăn nuôi. Như vậy, huyện Chương Mỹ có điều kiện đất đai phù hợp với phát triển ngành nghề theo hướng đa dạng hoá. Nhìn chung, nguồn đất đai của huyện khá dồi dào và được phân bố tương đối hợp lý, xong diện tích đất hoang hoá vẫn còn nhiều và gây lãng phí lớn. Nên tập trung nhân lực, vật lự để khai thác nguồn đất hoang hoá đó thì đây chính là nguồn tài nguyên quý giá. 3.1.2.2. Tình hình phân bổ và sử dụng đất nông nghiệp của huyện. Đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng quỹ đất tự nhiên của huyện và đất nông nghiệp đang có xu thế giảm mỗi năm. Đất nông nghiệp được phân làm nhiều loại dựa vào đặc điểm cây trồng , vật nuôi như: đất trồng cây hàng năm; đất trồng cây lâu năm; đất vườn; đất ao hồ thả cá; đất trồng cỏ chăn thả gia súc. Trong đó , đất trồng c._.ây hàng năm chiếm tỷ lệ lớn nhất với hơn 80%, tiếp theo là đất vườn chiếm gần 10% và nhỏ nhất là đất trồng cỏ chăn thả gia súc. Điều đáng chú ý là trong 3 năm qua, diện tích các loại đất này đều giảm. Cụ thể: đất trồng cây hàng năm là 11943,32ha chiếm 82,76%(năm 2000) giảm xuống còn 11925,92 ha chiếm 82,64% và tiếp tục giảm xuống còn 11912,95 ha. Như vậy, năm sau diện tích đất trồng cây hàng năm giảm nhiều hơn so với năm trước tốc độ giảm bình quân là 0,13%. Trong đất trồng cây hàng năm chủ yếu vẫn là đất cấy lúa và đất trồng màu chiếm hơn 90% diện tích trồng cây hàng năm, còn lại chưa đến 10% là diện tích đất trồng cây hàng năm khác. Đất trồng cây lâu năm giảm mạnh trong năm 2001 với tốc độ giảm là 1,93%, nhưng đến năm 2002 thì diện tích đất trồng cây lâu năm giữ ở mức ổn định, không giảm nữa. Đất vườn chiếm tỷ lệ cao gần 10% trong quỹ đất nông nghiệp, năm 2001 diện tích đất vườn giảm mạnh với tốc độ giảm là 0,67% do diện tích đất vườn được chuyển sang dùng vào xây dựng chuồng trại và nhà ở, đến năm 2002 thì diện tích đất vườn được bảo toàn. Bên cạnh nguồn đất trên thì phải kể đến nguồn đất quý đó là hồ thả cá và trồng cỏ chăn thả gia súc, diện tích loại đất này tuy chiếm tỷ trọng nhỏ và ít biến động nhưng đây là điều kiện đất đai rất tốt để phát triển chăn nuôi thuỷ sản và chăn thả gia súc. Ao hồ là diện tích có thể phát triển thuỷ sản cho giá trị kinh tế cao và đồng thời là nơi chứa nước mưa, cung cấp nước tưới cho cây trồng. Nhưng diện tích ao hồ vẫn bị thu hẹp , bởi ao hồ thường gần các con đường lớn nên người ta đã lấp ao để làm nhà. Nước ao hồ ngày nay đang có nguy cơ bị ô nhiễm do lượng chất thải đổ ra ngày càng nhiều . Cần phải bảo vệ nguồn nước ao hồ , khai thác diện tích ao hồ để phát triển nuôi trồng thuỷ sản. Biểu 2: Diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm mà dân số ngày càng đông, do đó bình quân đất nông nghiệp trên một khẩu nông nghiệp giảm đi. Xét chỉ tiêu bình quân đất trồng hàng năm trên một khẩu ta thấy : năm2000, đất trồng cây hàng năm bình quân trên một khẩu là 0,057 ha/khẩu nông nghiệp. Nhưng đến năm 2001 chỉ còn 0,056 ha/ khẩu/ nông nghiệp. Và đến năm 2002 đất trồng cây hàng năm bình quân chỉ còn xấp xỉ 0,056 ha/ khẩu/ nông nghiệp. Với diện tích đất canh tác bình quân như trên là tương đối lớn , nhưng nếu chỉ sống bằngviêcj sản xuất trên hơn 1 sào ruộng/1 khẩu thì đời sống quả là khó khăn. Cần phải thâm canh tăng năng suất cây trồng, tăng giá trị sản xuất cảu đất , đồng thời phát triển ngành nghề phụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển mạnh hơn nữa ngành chăn nuôi để vừa nâng cao thu nhập vừa bồi dưỡng , cải tạo nguồn đất mà đặc biệt là đất trồng cây hàng năm. 3.1.2.3. Tình hình đân số và phân bổ dân số của huyện qua 3 năm. Chương Mỹ là một trong những huyện có số dân đông của tỉnh Hà Tây, trong mấy năm gần đây, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đã giảm đi nhiều và chỉ còn ở mức thấp( năm 2000 tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,16, đến năm 2002 tỷ lệ này giảm còn 1,10). Tuy nhiên , hàng năm vẫn có khoảng gần 3 nghìn người được sinh ra và bổ sung vào tổng dân số của huyện . Tonaf huyện Chương Mỹ có khoảng hơn 50.000 hộ và mỗi năm tăng thêm khoảng 600 hộ, tốc đọ tăng tổng số hộ của năm trước lớn hơn năm sau( năm 2001 tốc độ tăng tổng số hộ là 1,14%; năm 2002 tốc độ tăng tổng số hộ là 1,12%). Trong đó , hộ nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao với hơn 80% tổng số hộ và cơ cấu hộ nông nghiệp giảm đi qua các năm (năm 2000 tỷ lệ hộ nông nghiệp là 82,84% , năm 2001 giảm xuống còn 82,01% và đến năm 2002 tỷ lệ hộ nông nghiệp giảm xuống càn 81,20%. Tốc đọ tăng bình quân của hộ nông nghiệp là 0,12%). Đồng thời với việc giảm cơ cấu hoọ nông nghiệp là sự tăng cơ cấu hộ phi nông nghiệp. Cơ cấu hộ phi nông nghiệp là 17,16% (năm 2000) tăng lên 17,99% (năm 2001) và tiếp tục tăng lên 18,80%(năm 2002), tốc độ tăng lên bình quân của hộ phi nông nghiệp là 2,82%. Biểu 3 Vậy tốc độ tăng về hộ phi nông nghiệp nhanh hơn tốc độ tăng tốc độ hộ nông nghiệp. Do đó cơ cấu hộ nông nghiệp ngày càng giảm, còn cơ cấu hộ phi nông nghiệp ngày càng tăng. Tổng số nhân khẩu tăng với tốc độ tăng bình quân là 1,13% , còn lại chủ yếu là tăng khẩu phi nông nghiệp với tốc độ tăng bình quân là 6,48%. Tổng số nhân khẩu tăng lên đồng thời tổng số hộ cũng tăng lên với tốc độ tăng tương đương nên số khẩu bình quân trên hộ có giảm nhưng không đáng kể. Riêng khẩu nông nghiệp bình quân / hộ nông nghiệp thì có giảm vì tốc độ tăng khẩu nông nghiệp thấp hơn tốc độ tăng hộ nông nghiệp. Tổng số lao động tăng hàng năm với tốc độ tăng bình quân là 1,80%, trong đó chủ yếu là tăng số lao động phi nông nghiệp với tốc độ tăng bình quân 6,69% Số lao động phi nông nghiệp tăng nhanh do sự phát trung Hoà của nền kinh tế thị trường , do sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế với chủ trương tăng giá Trung Hoà sản lượng nghành CN-TTCN và nghành dịch vụ, nhiều nhà máy , công ty xây dựng trên địa bàn huyện và các huyện lân cận đã thu hút được nguồn lao động. Số lao động bình quân /hộ là khá cao, có xu hướng tăng (năm 2000, bình quân 2,34 lao động/hộ; đến năm 2002 lên đến 2,37 lao động/hộ). Đối với hộ nông nghiệp , có số lao động cao hơn, bình quân 2,35 lao động/hộ (năm2000), 2,37 lao động/hộ (năm 2001), và 2,38 lao động/hộ (năm 2002). Lao động nông nghiệp chiếm hơn 80% trên tổng số lao động của cả huyện, với diện tích đất nông nghiệp bình quân / lao động nông nghiệp thấp , không sử dụng hết số lao động dồi dào đó. Lao động chỉ được huy động vào mùa vụ , còn những ngày nông nhàn thì số lao động của huyện rơi vào tình trạng Hoà thất nghiệp. Hàng năm, số lượng lao động của huyện ra thành phố kiếm việc ngày càng nhiều. Tuy nhiên, số lao động thiếu việc làm vẫn còn lớn và tình trạng thát nghiệp vẫn là mối lo chung của cả huyện, bởi thất nghiệp dẫn thanh niên nêu lổng và tệ nạn xã hội trên toàn huyện ngày càng gia tăng. Như vậy, nguồn nhân lực của huyện Chương Mỹ rất dồi dào, người dân Chương Mỹ vốn cần cù chịu khó , nhưng hiện nay nguồn lực này vẫn chưa được khai thác hết . Chương Mỹ cần thu hút vốn đầu tư vào các cụm công nghiệp để tạo việc làm cho gười dân địa phương. 3.1.2.4. Tình hình sản xuất kinh doanh của huyện qua 3 năm: Tổng giá trị sản xuất của huyện tăng nhanh với tốc độ tăng bình quân hàng năm là 12,24%. Cơ cấu giá trị sản xuất có thay đổi theo hướng tăng giá trị sản xuất ngành công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, giảm cơ cấu ngành nông nghiệp. Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp chiếm 30,60% tổng giá trị sản lượng (năm 2000), đã giảm xuống còn 29,41% (năm 2202). Giá trị sản xuất ngành công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp chiếm 42,95% tổng GO (năm2000), đã tăng lên 44,01% (năm 2002). Giá trị sản xuất ngành xây dựng cơ bản cũng tăng nhanh với tốc độ tăng bình quân hàng năm là 16,98%, cơ cấu giá trị sản xuất trong GO với 6,38% tổng GO ( năm 2000) lên 6,92% tổng GO ( năm 2002). Giá trị sản xuất ngành thương mại-dịch vụ tăng bình quân hàng năm là 11,09%, nhưng cơ cấu giá trị sản xuất trong tổng GO thì tăng trong năm 2001 và giảm xuống ở năm 2002. Trong ngành Nông-Lâm-Thuỷ sản thì nông nghiệp có giá trị sản xuất lớn nhất chiếm hơn 90% giá trị sản xuất của toàn ngành. Trong nông nghiệp, trồng trọt chiếm vị trí quan trọng với hơn 60% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp. Tuy nhiên trong những năm gần đây, trồng trọt đang có xu hướng giảm mạnh trong cơ cấu giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp, từ 66,12% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp ( năm 2000) xuống còn 60,16% (năm 2001) và tiếp tục giảm xuống còn 56,69% ( năm 2002). Ngược lại, chăn nuôi có xu hướng tăng mạnh cả về giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất, cụ thể giá trị sản xuất ngành chăn nuôi là 145.000 triệu chiếm 33,8% tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp (năm 2000) tăng lên 225.000 triệu đồng chiếm 43,31% tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp (năm 2002), tốc độ tăng bình quân hàng năm là 24,57%. Biểu 4 Sở dĩ giá trị sản xuất ngành chăn nuôi tăng nhanh là do huyện có chủ chương phát triển ngành chăn nuôi, đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính cùng với ngành trồng trọt. Giá trị sản xuất nông nghiệp/ha đất nông nghiệp tăng nhanh với tốc độ tăng bình quân hàng năm là 10,2%. 3.2. Phương pháp nghiên cứu. 3.2.1. Phương pháp thu thập số liệu. - Số liệu thứ cấp: Lấy từ các báo cáo thực hiện kế hoạch năm về phát triển kinh tế xã hội của huyện, báo cáo về định hướng phát triển kinh tế tổng thể. Các số liệu được thu thập từ phòng thống kê, phòng địa chính, phòng nông nghiệp và các ban quản lý hợp tác xã, số liệu lấy từ sách báo, hội thảo khoa học. - Số liệu sơ cấp: thu thập số liệu qua điều tra hộ gia đình. Dựa trên đặc điểm sinh thái, địa hình đất đai của huyện chon hai xã Thụy Hương và Trung Hoà tiến hành điều tra tất cả các hộ đã xây hầm Biogas và một số hộ có chăn nuôi nhiều nhưng chưa xây hầm (52 hộ có hầm và 20 hộ chưa xây). 3.2.2. Phương pháp phân tích tài liệu. - Phương pháp thống kê mô tả: dựa trên số liệu điều tra được để mô tả thực trạng Biogas, mô tả kinh tế hộ kinh tế nông thôn và các chỉ tiêu thông kê cần thiết để đánh giá và so sánh. Các chỉ tiêu này gồm có số tương đối, số tuyệt đội và so sánh bình quân. -Phương pháp toán kinh tế: tính toán các hệ số đa dạng, tính toán hiệu quả kinh tế của việc sử dụng hầm Biogas và tính toán các chỉ tiêu khác. Phần IV Kết quả nghiên cứu và thảo luận 4.1. Đánh giá thực trạng phát triển Biogas trong mối quan hệ với các ngành sản xuất trong nông thôn ở huyện Chương Mỹ - Hà Tây. 4.1.1. Tình hình phát triển Biogas và các ngành sản xuất khác ở huyện. 4.1.1.1. Tình hình phát triển Biogas của huyện. Tính đến năm 2002 toàn huyện mới chỉ có 365 hầm Biogas con số này còn rất hạn chế so với mức độ chăn nuôi tập trung của huyện. Mô hình Biogas được áp dụng vào huyện Chương Mỹ từ năm 1998 qua chương trình “hướng dẫn kỹ thuật xây hầm Biogas) trên truyền hình. Qua chương trình này, một số thợ xây và 1 số hộ chăn nuôi nhiều trong huyện đã tự học hỏi trên truyền hình mua sách về nghiên cứu và tự xây dựng hầm. Đến năm 2000 huyện đã cử các đông chí lãnh đạo các xã đến huyện Đan Phượng thăm quan mô hình Biogas do tỉnh hỗ trợ đầu tư kỹ thuật và một phần vốn. Qua đợt tham quan đó, các đồng chí lãnh đạo là những người đầu tiên, gương mẫu xây thí điểm. Một số hợp tác xã đã thành lập đội thợ phụ trách về kỹ thuật xây hầm Biogas. Một số xã còn trích ngân sách xã để khuyến khích, hỗ trợ một phần vốn cho những hộ gia đình xây hầm thí điểm. Nhờ sự nỗ lực cùng với sự tìm tòi học hỏi, sáng tạo của 1 số đồng chí cán bộ lãnh đạo các xã và các anh em thợ đã khởi xướng phong trào xây hầm Biogas trên toàn huyện Chương Mỹ. Năm 2000, cả huyện mới chỉ có 97 hầm (chủ yếu là hầm của các cán bộ lãnh đạo các xã), trong đó phần lớn là loại hầm cải tiến chiếm 96,91% tương đương vơi 94 hầm còn lại số rất ít là túi ủ nilong với 3,09% tương đương với 3 chiếc. Dung lượng của hầm tương đối lớn, chủ yếu là cỡ hầm 8-10m3 chiếm 69,07%, hầm loại nhỏ từ 5-7m3 chỉ chiếm 11,34%, còn lại 19,39% là hầm cỡ trên 10m3. Tuy là do cóp nhặt kỹ thuật về xây dựng hầm nhưng phần lớn số hầm đều hoạt động tốt chiếm tới 97,94% còn lại 2,06% số hầm bị trục trặc về kỹ thuật nhưng vẫn sử dụng được. Biểu 5: Tình hình phát triển Biogas của huyện qua 3 năm Chỉ tiêu 2000 (1) 2001 (2) 2002 (3) So sánh Số lượng Cơ cấu Số lượng Cơ cấu Số lượng Cơ cấu (2)-(1) (3)-(2) BQ Tổng số hầm của huyện 97 100,00 209 100,00 365 100,00 112 156 134 1. Kiểu thiết kế - Túi ủ nilong 3 3,09 5 2,39 5 1,37 2 0 1 - Vòm cuốn cải tiến 94 96,91 204 97,61 360 98,63 110 156 133 2. Thể tích hầm 5-7m3 11 11,34 18 8,61 20 5,48 7 2 4,5 8-10m3 67 69,07 164 78,47 316 86,58 97 152 124,5 > 10m3 19 19,59 27 12,,92 29 7,94 8 2 5 3. Tình trạng hầm a. Số hầm hoạt động tốt 95 97,94 200 95,69 351 96,16 105 151 128 - Túi ủ nilông 3 100,00 3 60,00 1 25,00 0 -1 -0,50 - Vòm cuốn cải tiến 92 97,87 198 97,06 350 97,22 186 152 169 b. Số hầm bị trục trặc 2 2,06 3 1,44 5 1,37 1 2 1,5 c. Số hầm không sử dụng 0 6 2,87 9 2,47 6 9 7,5 - Do hư hỏng 3 50,00 4 44,44 3 1 2 + Túi ủ nilông 2 66,67 3 75,00 2 1 1,5 + Vòm cuốn cải tiến 1 33,33 1 25,00 1 0 0,5 - Do không chăn nuôi 3 50,00 5 55,56 3 2 2,5 + Túi ủ nilông 0 0 0 2 0 + Vòm cuốn cải tiến 3 100,00 5 100,00 3 1,5 Đến năm 2001, thực tế cho thấy hiệu quả của mô hình Biogas đã được thừa nhận. Nhiều bà con nông dân có quy mô chăn nuôi nhiều đã tự bỏ vốn của mình ra để xây hầm Biogas, kết quả là năm 2001 huyện đã có 209 hầm tăng lên 2 cái, loại hầm cải tiến tăng 110 cái. Dung tích hầm vẫn chủ yếu là loại cỡ từ 8-10m3 chiếm 86,58% tăng lên 97 cái so với loại cùng cỡ của năm 2000. tình trạng hoạt động của các hầm lúc này bắt đầu có nhiều vấn đề trục trặc. Tỷ lệ hầm hoạt động tốt đã bị giảm chỉ chiếm 95,69% do số hầm bị trục trặc tăng lên, số hầm không sử dụng tăng nhanh chiếm 2,87% tổng số hầm. Số hầm không sử dụng là do 2 nguyên nhân: thứ nhất là do hư hỏng, hầm bị hư hỏng không sử dụng được chủ yếu là loại túi ủ nilong chiếm 66,67%; thứ hai là do hộ gia đình không chăn nuôi nữa. vì có sự thay đổi cơ cấu kinh tế, những hộ đó đã chuyển sang làm dịch vụ, hoặc làm 1 số ngành nghề khác có giá trị kinh tế cao hơn chăn nuôi, hoặc do hộ đó chăn nuôi bị thua lỗ nên không còn vốn để tiếp tục chăn nuôi nữa. Năm 2002, số lượng hầm tăng đáng kể với tổng số hầm là 365 hầm và tăng lên trong năm 2002 là 156 hầm. Trong đó số hầm túi ủ nilong không tăng lên mà chỉ tăng loại vomaf cuốncải tiến dẫn đến loại vòm vuốn cải tiến chiếm 98,63%, loại hầm có dung tích vừa phải 8-10m3 vẫn là chủ yếu và tăng nhanh hơn hai loại khá và nó chiếm 86,58% tổng số hầm. Do biết rút kinh nghiệm từ năm trước nên tỉ lệ hầm sử dụng tốt năm 2002 tăng lên và chiếm 96,16% trong đó tỉ lệ hầm VACVINA cải tiến sử dụng tốt chiếm tỉ lệ cao hơn với 97,22%. Tỷ lệ hầm bị trục trặc và hầm không sử dụng đã giảm, tuy nhiên vẫn chưa khắc phục hết tình trạng trục trặc của hầm, đặc biệt là loại hầm túi ủ nilong chiếm đến 75,00% số hầm bị hỏng. Như vậy, năm 2000 có thể coi là năm thực sự đưa mô hình Biogas vào nhân rộng ở huyện Chương Mỹ. Mặc dù, không nhận được sự hỗ trợ nào của các tổ chức hay của ngân sách Nhà nước nhưng nhân dân huyện Chương Mỹ đã tự bỏ tiền ra để xây dựng hầm Biogas, vốn xây dựng hầm là vốn của bản thân hộ nông dân xây hầm bỏ ra 100% trừ 1 số rất xã chi ngân sách ra hỗ trợ cho 1 số hầm xây dựng thí điểm với mức đầu tư là 700.000 đồng/hầm số lượng hầm của huyện Chương Mỹ còn rất ít so với khả năng có thể phát triển của nó, nhưng đây cũng là sự nỗ lực của các đồng chí lãnh đạo các xã, các hộ gia đình tiêu biểu luôn đi đầu, gương mẫu trong phát triển sản xuất kinh tế và trong việc tiếp cận khoa học công nghệ mới. sau 2 năm 2001, 2002 số lượng hầm Biogas trong toàn huyện đã tăng khá nhanh và lên tới 365 hầm, bình quân mỗi năm tăng thêm 134 cái. Năm 2002 số lượng hầm tăng nhanh hơn năm 2001, cho thấy xu hướng mở rộng, phát triển mô hình Biogas ở huyện sẽ tăng còn tiếp tục với tốc độ tăng nhanh hơn. vì Chương Mỹ là huyện ứng dụng mô hình Biogas muộn nên đã lựa chọn được loại hình phù hợp với điều kiện của hộ nông dân trong huyện. Người phụ trách kỹ thuật xây hầm chủ yếu là thợ trong xã đã được đi tham quan, đi tập huấn, tự học hỏi trên đài, báo, truyền hình nên giá tiền xây hầm có phần rẻ hơn so với các nơi khác. các ông thợ thường làm việc rất nhiệt tình và chu đáo vì toàn là hàng xóm láng giềng. Tuy nhiên do đa số thợ xây dựng là những người nông dân tự học hỏi bạn bè, học những người đi trước truyền lại mà họ không được học qua trường lớp đào tạo tay nghề, kỹ thuật nào nên việc tự học xây hầm Biogas của họ còn nhiều hạn chế về kỹ thuật, về việc chọn nền đất, chọn nguồn nước phù hợp. Do đó một số hầm bị trục trặc về kỹ thuật xây dẫn đến hoạt động không được tốt. Bởi vậy, vấn đề kỹ thuật hầm Biogas là vấn đề cần được quan tâm để tạo lòng tin đối với bà con nông dân. 4.1.1.2. Tình hình phát triển các ngành khác. * Ngành chăn nuôi. Biểu 6: quy mô chăn nuôi của huyện. Chương Mỹ là huyện có diện tích đất khá rộng với tổng diện tích đất tự nhiên là 23294,15 Ha, có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển ngành chăn nuôi. hơn nữa trên địa bàn huyện Chương Mỹ còn có nhiều xí nghiệp, công ty gia cầm, công ty chế biến thức ăn gia súc, gia cầm như công ty giống gia cầm Lương Mỹ, công ty thức ăn gia súc CP, các cơ sở xay xát, bên cạnh đó huyện Chương Mỹ còn giáp với các trại lợn giống Phú Lãm (thuộc huyện Quốc Oai), trại lợn giống An Khánh (thuộc huyện Hoài Đức). Đặc biệt trên địa bàn huyện còn có trường ĐH Lâm Nghiệp (thị trấn Xuân Mai); trường cao đẳng kỹ thuật Hà Tây; trường trung học nghiệp vụ, đây là nguồn cung cấp cán bộ kỹ thuật cho huyện, chuyển giao tiến bộ khoa học, công nghệ giữa nhà trường với tổ chức lãnh đạo của huyện, bà con nông dân dễ có điều kiện tiếp thu với công nghệ mới. Với những ưu đãi đặc biệt như vậy, ngành chăn nuôi của huyện đã đạt được những gì và còn chưa phát huy được những gì?. trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi của huyện đang trên đà phát triển. quy mô chăn nuôi và chất lượng vật nuôi đều tăng lên: Nhờ có sự quan tâm và chủ trương chuyển đổi cơ cấu kinh tế của các cấp lãnh đạo huyện, từng bước đưa ngành chăn nuôi tập trung ngày càng cao. Nhìn vào biểu đồ ta thấy tổng đàn trâu, bò, lợn, gia cầm của huyện là khá cao. Trong mấy năm gần đây nhìn chung đàn lợn và đàn gia cầm có chiều hướng tăng nhanh còn đàn trâu, bò có chiều hướng giảm dần. Tổng đàn lợn năm 2000 có 99121 con, trong đó lợn nái có 9632 con chiếm 9,72%, lợn thịt chiếm 90,13% tương đương với 89343 con, còn lại 0,15% là lợn đực giống tương ứng với 146 con. Như vậy, đàn lợn của huyện chủ yếu là lợn thịt, còn lợn nái chiếm tỉ lệ thấp với 9,12% với tỉ lệ lợn nái như vậy thì không đủ cung cấp giống cho toàn huyện mà phải nhập thêm từ các trại lợn lợn giống của huyện bạn. Tuy số lượng đàn lợn tương đối lớn nhưng trọng lượng xuất chuồng còn thấp, năm 2000 xuất chuồng được 7159 tấn. Đến năm 2001, tổng đàn lợn của huyện tăng lên tới 101748 con tức là tăng thêm 2,65% so với năm 2000. Trong năm 2001 tỷ lệ lợn nái tăng lên và chiếm 10,07% trong tổng số đàn lợn, tuy đàn lợn nái có tăng lên nhưng vẫn không đủ cung cấp giống cho toàn huyện. Vì tỷ lệ lợn nái tăng nên tỷ lệ lợn đực cũng tăng nhanh và chiếm 0,16% trong tổng số đàn, còn tỷ lệ lợn thịt thì giảm xuống. Vì số lượng đàn lợn tăng nên trọng lượng lợn xuất chuồng cũng tăng đạt9408,7 tấn, với tốc độ tăng 31,42% so với năm 2000. tổng đàn gia cầm của huyện năm 2001 là 1.061.889 con tăng 12,66% so với năm 2000. Đàn lợn và đàn gia cầm còn tiếp tục tăng nhanh 942.563 con (năm 2002) 2002. Năm 2002 đàn lợn đạt 106.725 con, tốc độ tăng lên là 4,89%. Trong đó tỷ lệ lợn nái và lợn đực giảm xuống, còn tỷ lệ lợn thịt tăng lên do đó trọng lượng lợn xuất chuồng tăng lên tới 10401 tấn. Tổng đàn gia cầm của năm 2002 cũng tăng nhanh lên đến 1.462.380 con với tốc độ gia tăng 37,71%. Bên cạnh sự gia tăng của đàn lợn và đàn gia cầm thì đàn trâu bò có xu hướng giảm. Đàn trâu lần lượt giảm từ 4437 con ( năm 2000) xuống còn 4300 con(năm 2001) và tiếp tục giảm xuống còn 3565 con (năm 2002), tốc độ giảm bình quân hàng năm là10,09%. Trong đó số trâu cái giảm đi rất ít, không đáng kể với tốc độ giảm bình quân khoảng 0,14%, nhưng trâu cày kéo giảm mạnh, với tốc độ giảm 4,98%(năm 2001) và tiếp tục giảm mạnh với tốc độ giảm 27,16%. Tương tự đàn bò cũng vậy, giảm đi hàng năm, trong đó chủ yếu là giảm dàn bò cày kéo. Tỷ lệ bò cày kéo giảm mạnh, năm 2001 tỷ lệ bò cày kéo giảm 6,86%, đến năm 2002 tỷ lệ giảm tới 41,11%. Số lượng trâu, bò hàng năm giảm nhưng trọng lượng trâu bò xuất chuồng thì tăng lên, năm 2000 xuất chuồng 76 tấn thịt trâu và 135 tấn thịt bò, đến năm 2002 đã xuất chuồng 215,4 tấn thịt trâu và 306 tấn thịt bò. Sở dĩ có sự giảm mạnh về số lượng trâu, bò là do phương thức làm đất của nông dân đã thay đổi, họ đã áp dụng cơ giơí hoá vào nông nghiệp, làm đất bằng máy cày, máy phay có năng suất làm việc gấp nhiều lần so với làm bằng trâu, bò và hơn nữa còn tiết kiệm được sức người, sức của. Hiện nay, phần lớn diện tích đất canh tác đều được làm bằng máy, chỉ còn một số rất ít diện tích máy không làm được hoặc nông dân muốn tự làm để vừa chủ động, vừa tận dụng được sức người, sức của. Tuy việc cày, bừa làm đất đã có máy nhưng các hộ nông dân vẫn duy trì chăn nôi trâu, bò để tăng nguồn thu cho gia đình. Huyện Chương Mỹ có điều kiện thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi trâu,bò nhưng nông dân đã không tận dụng được điều kiện đó mà để cho đàn trâu, bò giảm đi nhanh chóng. Hiện nay người dân trong huyện đang củng cố và phát triển chăn nuôi bò nhưng chủ yếu là nuôi bò thịt và bò sữa. Để thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển, huyện đã mở nhiều lớp tập huấn cho bà con nông dân, tìm tòi những giống gia súc, gia cầm mới có năng suất và chất lượng cao, đặc biệt cử mỗi xã một cán bộ khuyến nông có chuyên môn về chăn nuôi thú y để giúp bà con nông dân trong vấn đề phòng và chữa bệnh cho gia súc, gia cầm hoặc tư vấn cho bà con về vấn đề chăn nuôi. Chủ trương của huyện là trong những năm tới là sẽ tiếp tục cải tạo, sind hoá đàn bò, nâng cao số lượng đàn bò sữa, lạc hoá đàn lợn để tăng nguồn thu nhập cho hộ nông dân. *Ngành trồng trọt. Cũng như chăn nuôi, ngành trồng trọt của huyện Chương Mỹ có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển theo hướng đa dạng hoá. Với điều kiện tự nhiên khá phức tạp, đất đai gồm nhiều loại: đất bãi, đất đồi núi thích hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau. Hơn nữa vị trí của huyện khá thuận tiện cho việc đi lại với thị xã Hà Đông, thủ đô Hà Nội và tỉnh Hoà Bình nên càng tạo điều kiện thúc đẩy nền nông nghiệp hàng hoá phát triển. Trước đây, người nông dân thường trồng cây gì mình có và mình cần để phục vụ cho nhu cầu của chính gia đình mình thì ngày nay họ đã biết trồng cây gì mà thị trường chưa có và thị trường đang cần. Do vậy mà cơ cấu cây trồng đã thay đổi rất nhiều. Biểu 7: Xét quy mô và kết quả cây trồng hàng năm của huyện trong hai năm gần đây( 2001 và 2002) ta cũng thấy được sự thay đổi khá rõ nét. Nhìn vào biểu 7 ta thấy: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm của toàn huyện năm 2001 là 25.605 ha, trong đó cây lương thực chiếm 86,05%; cây công nghiệp chiếm 6,30%. Trong nhóm cây lương thực thì cây lúa vẫn chiếm phần chủ yếu với 86,54%, sau đó đến cây khoai lang với 6,17% và cây ngô với 5,52%. Sang năm 2002 tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm lên đến 27.120 ha tăng 5,92% so với năm 2001, trong khi đó thì tỷ lệ diện tích cây lương thực giảm. Trong nhóm cây lương thực thì tỷ lệ cây lúa giảm còn 84,47%; cây Ngô và cây Khoai lang có cơ cấu diện tích tăng, cây Ngô tăng lên 6.17%, cây khoai lang tăng lên7,74%; diện tích gieo trồng sắn, dong riềng và các cây lương thực khác thì giảm. Diện tích gieo trồng Ngô tăng lên vì ngành chăn nuôi phát triển, cần nhiều lương thực mà chủ yếu là Ngô, mặt khác diện tích trồng Ngô nếp lấy bắp cung cấp cho thị trường Hà Nội cũng tăng, vì vậy mà cây Ngô cho thu nhập khá 300.000-400.000 đồng/sào/vụ. Diện tích trồng Khoai lang tăng nhanh vì ngoài cung cấp rau cho lợn thì thiện nay còn tiêu thụ ngọn rau lang và củ khoai lang cho thị trường Hà Nội. Bên cạnh cây lương thực thì diện tích trồng cây công nghiệp cũng tăng với tốc độ tăng 15,94% so với năm 2001 và tỷ trọng cây công nghiệp trong tổng diện tích gieo trồng hàng năm cũng tăng lên từ 7,64% (năm 2001) tăng lên 8,37% (năm 2002). Trong đó cây công nghiệp cây đậu tương vẫn giữ vai trò chủ đạo, chiếm 57,49% (năm 2001) và vai trò đó càng được khẳng định trong năm 2002 với tỷ trọng 65,76% trong tổng diện tích cây công nghiệp, tốc độ tăng diện tích gieo trồng của cây đậu tương lên đến 32,44%. Tiếp đến là cây lạc chiếm 28,84% năm (2001) đến năm 2002 diện tích gieo trồng lạc tăng với tốc độ 7,36% nhưng cơ cấu trong tổng cây công nghiệp thì giảm và còn 27,63%. Ngoài đậu tương và lạc thì các cây công nghiệp khác hầu như đều giảm diện tích gieo trồng. Cùng với sự gia tăng về diện tích gieo trồng cây lương thực và cây công nghiệp thì cây thực phẩm cũng tăng về diện tích gieo trồng nhưng không lớn, với tốc độ tăng 14,19%. Cây thực phẩm chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng diện tích gieo trồng hàng năm với 6,30% (năm 2001) và tăng lên 6,79% (năm 2002). Mặc dù chiếm một phần rất nhỏ nhưng cây thực phẩm có vai trò quan trọng trong các bữa ăn hàng ngày, đặc biệt là các loại rau. Đời sống kinh tế đã khá lên nhiều song trong các bữa ăn hàng ngày không thể thiếu những món rau xanh, do đó mà diện tích trồng rau các loại cũng tăng lên năm 2001 diện tích trồng rau chỉ chiếm 72,43% cơ cấu diện tích trồng cây thực phẩm (với 1169 Ha), đến năm 2002 tỷ lệ này đã lên đến 85,51% (với diện tích 1576). Như vậy diện tích trồng rau tăng nhanh với tốc độ tăng là 34,82% đã cung cấp đủ lượng rau xanh cho toàn huyện và còn đem bán ra thị trường Hà Đông, Hà Nội. Còn các cây thực phẩm đang có xu hướng giảm vì đa số các cây thực phẩm đều khó trồng, phải chăm bón nhiều và đặc biệt là nhiều sâu bệnh cần phải phun thuốc liên tục nên người tiêu dùng còn lo ngại khi dùng các cây thực phẩm do đó tiêu thụ gặp nhiều khó khăn nên người ta chuyển sang trồng các loại rau dẽ trồng dễ chăm bón mà lạiđạt hiệu quả kinh tế cao. Nhìn chung năng suất cây trồng hàng năm tăng cao, trong đó cây lương thực và cây công nghiệp tăng nhiều hơn còn cây thực phẩm thì năng suất năm 2002 giảm so với năm 2001. Cơ cấu diện tích cây trồng hàng năm đã có nhiều thay đổi, năng suất cây trồng tăng nhưng còn ở mức chậm. Vì địa hình, chất đất rất phức tạp nên chọn cây gì để phù hợp với từng loại đất, từng vùng là rất khó khăn, đa số người dân trồng trọt theo kinh nghiệm và học hỏi trên đài báo, vô tuyến, bạn bè, hàng xóm. Để đẩy mạnh phát triển ngành trồng trọt và nâng cao giá trị thu hoạch trên một ha đất canh tác phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện đã thực hiện đề tài khoa học “nghiên cứu xây dựngs mô hình canh tác có hiệu quả kinh tế cao trên các vùng đất của huyện Chương Mỹ”. Ngoài ra mỗi hợp tác xã còn có một cán bộ khuyến nông phụ trách về cây trồng. 4.1.2. Đánh giá kết quả và hiệu quả của phát triển Biogas. 4.1.2.1. phân tích kết quả phát triển Biogas. Phát triển Biogas mang lại nhiều kết quả tốt và hiệu quả cao. Để phát triển Biogas thì trước hết phải phát triển chăn nuôi. * Kết quả chăn nuôi của hai xã Thuỵ Hương Biểu 8: Tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm của hai xã nghiên cứu năm 2002. I II III IV V chỉ tiêu ĐVT Thuỵ Hương Trung Hoà IV/III 1. Tổng số hộ chăn nuôi Hộ 1.472 1.728 1.17 Tỷ lệ trong tổng số hộ % 92 96 1.04 2. Tổng đàn chăn nuôi Con - Trâu, Bò Con 570 131 0.23 - Lợn Con 5.200 7.160 1.38 - Gà CP Con 45.500 16.800 0.37 - Gà, Vịt thả vườn Con 34.600 25.000 0.72 3. Chỉ số bình quân Con - Trâu, Bò BQ/ hộ Con 0,39 0,08 0.21 - Lợn BQ/ hộ Con 3,53 4,33 1.23 - Gia cầm BQ/ hộ Con 54,42 24,19 0.44 4. Mức độ chăn nuôi tập trung - Nuôi Trâu, Bò từ 1-2 con Hộ 378 81 0.21 -. Nuôi Trâu, Bò từ 3-4 con Hộ 5 3 0.60 -. Nuôi trâu bò trên 4 con Hộ 1 0 0.00 -. Nuôi lợn từ 1-3 con Hộ 1.178 1.109 0.94 -. Nuôi lợn từ 4-7 con Hộ 236 510 2.16 -. Nuôi lợn trên 7 con Hộ 58 109 1.88 - nuôi gà vịt dưới 100 con Hộ 819 304 0.37 -. Nuôi gà vịt từ 100-300 con Hộ 105 57 0.54 -. Nuôi gà vịt trên 300 con Hộ 31 48 1.55 Với đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội thuộc hai vùng khác nhau của huyện nên hai xã Thụy Hương và Trung Hoà có tập quán chăn nuôi cũng rất khác nhau. Đây là hai xã có phong trào chăn nuôi phát triển mạnh của huyện, với tỷ lệ hộ chăn nuôi rất cao: 92% số hộ ở xã Thụy Hương có tham ra chăn nuôi; còn ở xã Trung Hoà tỷ lệ này cao hơn với 96% số hộ tham ra chăn nuôi. Như vậy tỷ lệ hộ có chăn nuôi ở xã Trung Hoà bằng 1,04 lần tỷ lệ có chăn nuôi ở xã Thụy Hương. Đàn trâu, bò ở xã Thụy Hương có 570 con trong khi đó đàn trâu bò ở xã Trung Hoà chỉ có 131 con bằng 0,23 lần so với xã Thụy Hương. Xã Thuỵ Hương có đàn trâu, bò có số lượng tương đối lớn là do xã có diện tích đất màu cao (chiếm 40% so với diện tích đất canh tác) nên cây hoa màu rất phát triển do đó có nhiều sản phẩm phụ làm thức ăn cho trâu, bò đồng thời Trâu, Bò còn được dùng vào làm đất màu, bình quân số lượng Trâu, Bò trên hộ là 0,39 con/hộ. So với nhiều năm trước đây thì số lượng Trâu, Bò của xã Thụy Hương đã giảm đi rất nhiều song so với các xã khác trong huyện thì đàn Trâu, Bò ở xã Thuỵ Hương vẫn ở mức cao. Xã Thuỵ Hương thuộc vùng đất đồi gò ven sông bùi có điều kiện đồng cỏ thuận tiện cho chăn thả gia súc nhưng đàn Trâu, Bò của xã kém phát triển chỉ có 131 con, bình quân 0,08 con/ hộ. Vì đặc điểm kinh tế xã hội của xã Trung Hoà chú trong phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, mây tre đan xuất khẩu, nấu rượu nuôi lợn nên mọi nguồn lực trong gia đình kể cả người già và trẻ em đều được huy động vào việc sản xuất tại gia đình, dẫn đến người dân ở đây thường xem nhẹ việc đồng ruộng và không quan tâm đến việc chăn thả Trâu, Bò, do đó đàn Trâu, Bò kém phát triển. Vì xã Trung Hoà có nghề nấu rượu nuôi lợn nên tổng đàn lợn của xã có tới 74.800 con cao nhất trong toàn huyện và băng 1,44 lần so với đàn lợn của xã Thuỵ Hương. Số lợn bình quân trên một hộ ở xã Trung Hoà là 4,33 con/hộ còn ở xã Thuỵ Hương bình quân là 3,53 con/hộ. Số lượng gia cầm ở xã Thuỵ Hương tương đối lớn với 45.5000 con gà công nghiệp chăn gia công cho tập đoàn CP và 34.600 gà, vịt thả vườn. Xã Trung Hoà vì có diện tích đất ở bình quân thấp nên đàn gia cầm chăn thả ở vườn không có điều kiện phát triển mà chủ yếu là chăn thả vịt, ngan ở các ao, hồ. Mặc dù xã Trung Hoà có diện tích đất ở bình quân/hộ thấp nhưng lại có mức độ chăn nuôi tập trung cao, đặc biệt là chăn nuôi lợn. Toàn xã Trung Hoà có khoảng 619 hộ nuôi từ 4 con lợn trở lên, trong đó có khoảng 109 hộ nuôi từ 7 con lợn trở lên. Thức ăn để chăn nuôi lợn chủ yếu là bỗng rượu(bỗng rượu do tự các hộ nấu rượu có được) cùng với bèo(thả hoặc mua). Do thức ăn để chăn nuôi lợn được tận dụng từ nghề nấu rượu nên chi phí thức ăn cho chăn nuôi lợn là rất ít, vì thức ăn đó là sản phẩm phụ của nghề nấu rượu nên mọi chi phí đã được tính vào chi phí nấu rượu. Tuy bỗng rượu là sản phẩm phụ của nghề nấu rượu như._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docG0023.doc
Tài liệu liên quan