Thực trạng Xuất khẩu hàng nông sản của các địa phương & TP. ở nước ta hiện nay

Tài liệu Thực trạng Xuất khẩu hàng nông sản của các địa phương & TP. ở nước ta hiện nay: MỤC LỤC CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÀ THÀNH PHỐ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1. Tổng quan về tình hình kinh tế Việt Nam sau hơn một năm gia nhập WTO 1.1. Tình hình kinh tế chung Sau hơn một năm gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đạt tăng trưởng ở mức 8,5% trong năm 2007, thêm một năm tiếp tục đà phát triển trên 8% kể từ 2005. Các yếu tố góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ ở Việt Nam là sản xuất công nghiệp và dịch vụ với tốc độ tăng trưởng mạ... Ebook Thực trạng Xuất khẩu hàng nông sản của các địa phương & TP. ở nước ta hiện nay

doc82 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 30/04/2013 | Lượt xem: 979 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Thực trạng Xuất khẩu hàng nông sản của các địa phương & TP. ở nước ta hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
nh. Xuất khẩu vững chắc và các hoạt động đầu tư tăng mạnh là nhân tố chính đảm bảo những thành quả của sản xuất công nghiệp. Trong lĩnh vực dịch vụ, kim ngạch bán lẻ đóng góp đáng kể nhất với tốc độ tăng trưởng tính chung là 22,7%  (năm 2007) so với năm 2006, thêm vào đó là động lực thúc đẩy từ các hoạt động thương mại, giao thông vận tải, và kinh doanh bất động sản. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế cao cũng như giá cả của nhiều loại hàng hóa tăng lên đã dẫn tới tỷ lệ lạm phát cao tại Việt Nam trong năm 2007. Các nhà đầu tư cả trong nước và nước ngoài dường như đều kỳ vọng vào năm thứ hai sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nhờ đó quy mô đầu tư năm 2008 sẽ được mở rộng thêm 10% so với 2007. Kim ngạch xuất khẩu do tương ứng với đầu tư trực tiếp nước ngoài nên sẽ tăng 12%, và nhờ vậy lĩnh vực sản xuất công nghiệp sẽ tăng trưởng ở mức hai con số là 10,8%. Nhờ có ảnh hưởng lan tỏa của đầu tư trực tiếp nước ngoài, và với vai trò dẫn đầu của các ngành thương mại, giao thông vận tải, du lịch và bất động sản, lĩnh vực dịch vụ dự báo sẽ tiếp tục phát triển với mức 8,8% trong năm 2008.Như vậy, các lĩnh vực sản xuất công nghiệp và dịch vụ phát triển mạnh mẽ được kỳ vọng sẽ dẫn hướng nền kinh tế Việt Nam phát triển với tốc độ 8,7% trong năm 2008. Hơn nữa, giá cả các nông sản ổn định hơn có thể sẽ giúp giảm sức ép lạm phát mà sự phát triển kinh tế liên tục đã gây ra, phản ánh ở tỷ lệ lạm phát năm 2008 ước tính là 8,1%. Theo báo cáo của Bộ Công thương và Bộ Kế hoạch-Đầu tư, tính đến hết năm 2007, vốn đăng ký đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đạt trên 16 tỷ USD so với mức hơn 10,5 tỷ USD của năm 2006. Dự kiến đến năm 2008, tổng vốn đầu tư nước ngoài có thể đạt xấp xỉ 29 tỷ USD. Nhiều dự án có quy mô lớn, trị giá trên dưới 1 tỷ USD được các tập đoàn xuyên quốc gia đầu tư vào Việt Nam, điển hình tại các địa phương như TPHCM , TP Hà Nội, Đà Nẵng, Phú Yên, Bà Rịa-Vũng Tàu, Hậu Giang… Cộng đồng các nhà tài trợ vừa qua đã cam kết cung cấp tín dụng 5,4 tỷ USD trong năm 2008. Về xuất khẩu, Việt Nam tăng trên 20% so với năm 2006, trong đó có sự thay đổi cơ cấu: giảm tỷ lệ xuất khẩu nguyên liệu thô, tăng xuất khẩu các mặt hàng chế tạo. Đối với một số mặt hàng nhập khẩu quan trọng có kim ngạch nhập khẩu cao, ta còn chủ động cắt giảm thuế xuống thấp hơn mức cam kết trong WTO, chẳng hạn như thuế nhập khẩu ô tô được giảm thêm 20% so với cam kết, thuế nhập khẩu sữa, các loại thịt cũng được giảm thấp hơn mức cam kết. Theo đánh giá của Diễn đàn Thương mại Liên hiệp quốc, Việt Nam đã vươn lên thành một trong 10 nền kinh tế có triển vọng thu hút đầu tư nhất trên thế giới.Tuy nhiên, sau 1 năm gia nhập sân chơi toàn cầu, thủ tục hành chính tại Việt Nam vẫn còn quá rườm rà, nhiều cơ chế, chính sách đi ngược xu hướng chung của thế giới. 1.2. Tình hình kinh tế ngành Nông nghiệp Việt Nam sau hơn một năm gia nhập WTO đã phát triển theo hướng tích cực với tốc độ tăng trưởng 3,25%, giá trị xuất khẩu nông nghiệp chiếm 19,8% GDP cả nước, đặc biệt 7 chương trình trọng tâm nhằm tăng cường tính bền cững cho nông nghiệp, nông thôn được triển khai hiệu quả, tạo sức bật mạnh mẽ cho nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện. Về xuất khẩu nông sản, kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt 12,6 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2006, chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước và đã vượt mục tiêu đề ra cho năm 2010 tới 1,5 tỷ USD. Hầu hết hàng nông sản năm 2007 đều được giá nên giá trị xuất khẩu tăng mạnh với nhiều mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ USD trở lên như gạo, thuỷ sản, cà phê, cao su, sản phẩm gỗ. Cà phê là mặt hàng đạt chỉ tiêu sớm nhất với khoảng 1,8 tỷ USD tăng gần 50% so với năm 2006 (năm 2006 đạt khoảng 1,2 tỷ USD). Mặt hàng gỗ chế biến đạt khoảng 2,34 tỷ USD tăng 21% so với năm 2006; cao su trên 1,4 tỷ USD, tăng 10%; gạo là 1,48 tỷ USD tăng 16%, trong khi đó thuỷ sản vẫn dẫn đầu với mốc 3,75 tỷ USD. Ngoài ra, hàng loạt nông sản khác cũng được cải thiện đáng kể về chất lượng, giá trị mà đáng chú ý nhất là hồ tiêu với giá trị xuất khẩu bình quân 3.500 USD/tấn (năm 2006 là 1.500 USD/tấn), vì vậy dù lượng xuất khẩu năm 2007 giảm khoảng 15% so với năm 2006, nhưng kim ngạch vẫn đạt 300 triệu USD, tăng 57,9%. Trong thời gian qua, chúng ta đã tập trung phát triển tập trung những loại nông sản có lợi thế, có thị trường xuất khẩu, nông nghiệp Việt Nam tiếp tục đạt được những thành công bất chấp những khó khăn của thiên tai, dịch bệnh, giá cả leo thang...Diện tích lúa vẫn đạt gần 7,4 triệu ha cùng sản lượng đạt 35,8 triệu tấn đảm bảo an ninh lương thực trong nước và phục vụ xuất khẩu. Diện tích ngô 1,1 triệu ha, có sản lượng 4,3 triệu tấn (tăng trên 500.000 tấn), các loại cây công nghiệp như cao su, cà phê, chè, điều, mía... đạt khoảng 2 triệu ha. Trong khi đó, dù dịch cúm gia cầm, lợn “tai xanh”, lở mồm long móng diễn ra trên diện rộng nhưng ngành chăn nuôi vẫn tăng trưởng khá với tổng sản lượng thịt hơi 3,83 triệu tấn, tăng 12,6% so với năm 2006, góp phần đưa tỷ trọng chăn nuôi trong cơ cấu nông nghiệp lên 27%. Đặc biệt, quan hệ sản xuất trong nông nghiệp có bước chuyển mạnh mẽ với 83.000 trang trại, 8.320 hợp tác xã, 310/329 doanh nghiệp trực thuộc với số vốn trên 6.000 tỷ đồng. Tuy nhiên nền nông nghiệp nước ta vẫn có năng suất, chất lượng và hiệu quả cạnh tranh thâpso với nhiều nước trên thế giới. Việc thực hiện chủ trương nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành, tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm nông lâm thuỷ sản chưa được nhiều. Vấn đề dịch bệnh trên cây trồng, gia súc, gia cầm và vệ sinh an toàn thực phẩm đang đặt ra hết sức bức xúc. Thế nhưng, việc hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp trình độ cao mới chỉ manh nha do quy hoạch và quản lý quy hoạch nông nghiệp kém, trình độ lao động nông thôn thấp, khả năng ứng dụng các thành tựu khoa học nông nghiệp và thực tiễn hạn chế... Nhằm khắc phục từng bước những vấn đề còn đang tồn tại trong năm 2007, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã đưa ra 6 nhóm nhiệm vụ cấp bách cần tập trung chỉ đạo trong năm 2008 để đạt mục tiêu tăng trưởng 3,5%, kim ngạch xuất khẩu đạt 13,5 tỷ USD. Theo đó, diện tích đất nông nghiệp trồng cây lương thực (lúa, ngô) sẽ tiếp tục giảm do chuyển đổi mục đích sử dụng nên công tác giống chống sâu bệnh được đặt lên hàng đầu để sản lượng của 7,25 triệu ha lúa đạt 36 – 36,5 triệu tấn, sản lượng ngô đạt 5 triệu tấn. Ngành chăn nuôi chủ yếu tập trung phát triển mạnh đàn lợn, đàn bò và trâu thịt trong đó đặc biệt lưu ý các biện pháp đảm bảo an toàn dịch bệnh, đảm bảo tốc độ tăng trưởng 9,4%. Trong đó, sản lượng thịt hơi đạt 4,18 triệu tấn, sữa tươi 282.000 tấn, thức ăn chăn nuôi là 9 triệu tấn. Ngành thuỷ sản phấn đấu đạt 4,1 triệu tấn sản phẩm với mục tiêu ổn định khai thác bền vững, tăng nôi trồng. Bên cạnh đó những chương trình hỗ trợ xuất khẩu, phát triển thuỷ lợi và cơ sở hạ tầng nông thôn, nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ ...sẽ góp phần duy trì tốc độ phát triển bền vững cho nông nghiệp. 1.3. Tình hình xuất khẩu hàng nông sản của các địa phương và Thành phố ở nước ta hiện nay 1.3.1. Tổng kết về xuất khẩu hàng Nông sản của Việt Nam 10 năm qua Trong quá trình đổi mới, hội nhập kinh tế hàng nông sản Việt Nam đã có mặt trên nhiều nước và đã góp phần thu ngoại tệ để phát triển kinh tế đất nước. Lợi thế phát triển hàng hóa nông sản xuất khẩu của ta có nhiều nhưng cũng không ít khó khăn, bất lợi – mà điều khó khăn bất lợi đó chúng ta có thể khắc phục được nếu như chúng ta có biện pháp thích hợp và kiên quyết. Trong bối cảnh mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu của các nước là thước đo đánh giá kết quả của quá trình hội nhập quốc tế và phát triển trong mối quan hệ tuỳ thuộc vào nhau giữa các quốc gia. Sự độc lập phát triển của các quốc gia là sự phụ thuộc của quốc gia đó vào thế giới phải cân bằng với sự phụ thuộc của thế giới vào quốc gia đó. Hoạt động xuất khẩu còn là yếu tố quan trọng nhằm phát huy mọi nguồn nội lực, tạo thêm vốn đầu tư để đổi mới công nghệ, tăng thêm việc làm, thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Trong 10 năm qua, lĩnh vực xuất khẩu của Việt Nam đã giành được nhiều thành tựu đáng kể: Tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước ngày một tăng, năm sau cao hơn năm trước. Nếu như năm 1997, nước ta xuất khẩu đạt 9.087 triệu USD thì đến năm 2007 đã đạt tới 56.308 triệu USD gấp 6,19 lần, trong đó kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt 12,6 tỷ USD, tăng hơn năm 1997 là 3,9 lần và chiếm 25% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Nhịp độ tăng trưởng bình quân của GDP là trên 8%/năm tức là tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nhanh hơn tốc độ tăng trưởng GDP tới 3,2 lần. Kim ngạch xuất khẩu tính trên đầu người bình quân năm 1997 là 110 USD, năm 2005 là 276 USD và đến năm 2007 đạt 310 USD (đây là mức của các quốc gia có nền phát triển ngoại thương bình thường). Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu cũng được cải thiện theo chiều hướng đa dạng hoá, giảm tỷ trọng hàng nông, lâm, hải sản, giảm tỷ trọng loại hàng hoá chưa qua chế biến. Năm 1997 kim ngạch xuất khẩu hàng nông, lâm thuỷ sản chiếm tới 52,6% trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, còn hàng hoá ngành công nghiệp nặng và khoáng sản là 33,4% và tỷ trọng hàng công nghiệp nhẹ – tiểu thủ công nghiệp là 14%. Đến năm 2007 tỷ trọng các loại hàng hoá đã thay đổi với cơ cấu tương ứng là 30,1% hàng nông nghiệp, 35,6% hàng công nghiệp nặng và 34,3% hàng công nghiệp nhẹ. Như vậy là đã có sự thay đổi về mặt hàng và về chất của quá trình xuất khẩu. Thị trường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam ngày càng mở rộng và thay đổi về cơ cấu thị trường. Sau khi hệ thống XHCN tan rã, thị trường này không còn nữa thì các nước Châu á đã nhanh chóng trở thành các bạn hàng xuất khẩu chính của ta. Trong số các nước ở Châu á thì Nhật Bản và ASEAN đóng vai trò lớn, tuy nhiên tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của ta sang các nước đó cũng đã thay đổi theo hướng giảm dần và tăng ở các nước khối EU và Châu Mỹ. Nhìn chung, trong 10 năm qua cơ cấu thị trường xuất khẩu tuy đã có nhiều chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn chậm và chưa rõ nét, mang nặng tính tình thế, đối phó, nhất là thị trường xuất khẩu nông sản, các bạn hàng lớn còn ít và không ổn định. Chiến lược thị trường chưa được xây dựng trên thế chủ động từ các yếu tố lợi thế cạnh tranh của các mặt hàng. Trong giai đoạn vừa qua, hàng nông sản vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản của Việt Nam. Bình quân thời kỳ 1997 – 2007 kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản chiếm khoảng 60% và hàng thuỷ sản chiếm 35% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm , thuỷ sản. Trong hàng nông sản xuất khẩu, lúa gạo vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất (23,8%), thứ đến là cà phê (13,5%), hạt điều (4,4%) và cao su (3,2%), còn rau quả chiếm tỷ trọng quá nhỏ ( mới chiếm từ 0.5% đến 1,4%), chưa tương xứng với tiềm năng của ngành. Nhưng xét về tốc độ gia tăng giá trị kim ngạch thì rau quả đã tăng rất tương ứng với tiềm năng của ngành. Nhưng xét về tốc độ gia tăng giá trị kim ngạch thì rau quả đã tăng rất nhanh, năm 2000 đạt 52 triệu USD, thì năm 2005 là 615 triệu USD và năm 2007 đạt 905 triệu USD tăng gần 1.5 lần so với năm 2005. Thứ đến là hồ tiêu hạt với chỉ số tăng 51% rồi đến cà phê 28% và cao su 22%. Bên cạnh những tồn tại về quy mô sản phẩm xuất khẩu còn nhỏ bé, thị phần trên thị trường thấp, chất lượng sản phẩm còn yếu kém, thì xuất khẩu nông sản của nước ta còn gặp nhiều khó khăn về giá cả xuất khẩu. Trong thời gian qua, giá cả thị trường thế giới luôn luôn biến động bất lợi cho hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam. Việc gấp rút phân tích và đánh giá đúng đắn các lợi thế so sánh và các mặt bất lợi trong việc phát triển sản xuất- kinh doanh từng loại nông sản xuất khẩu, để đề ra một đối sách thích hợp là rất quan trọng, tất nhiên phải dựa vào việc xem xét các đối thủ cạnh tranh, thị trường trong nước và thế giới, về các chi phí cơ hội của từng mặt hàng trong điều kiện sinh thái tự nhiên và kinh tế – xã hội của nước ta... Những lợi thế. Thứ nhất:So với các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu như hàng dệt may, giầy da hay cơ khí, điện tử lắp ráp... thì trong cùng một lượng kim ngạch xuất khẩu thu về như nhau, tỷ lệ chi phí sản xuất có nguồn gốc ngoại tệ của hàng nông sản rất thấp, do đó thu nhập ngoại tệ ròng của hàng nông sản xuất khẩu sẽ cao hơn nhiều. Ví dụ: Chi phí sản xuất gạo xuất khẩu có nguồn gốc ngoại tệ (phân bón, thuốc sâu bệnh và các loại hoá chất, xăng dầu...) chỉ chiếm từ 15% đến 20% giá trị xuất khẩu kim ngạch gạo điều đó có nghĩa là kim ngạch xuất khẩu gạo đã tạo ra từ 80% đến 85% thu nhập ngoại tệ thuần cho đất nước, chỉ số này đối với nhân hạt điều xuất khẩu là 27% và 73%. Đây là lợi thế ban đầu của các nước nghèo, khi chưa có đủ nguồn ngoại tệ để đầu tư xây dựng các nhà máy lớn, khu công nghiệp để sản xuất- kinh doanh các mặt hàng tiêu tốn ngoại tệ. Thứ hai: Ngành nông, lâm , thuỷ sản là ngành sử dụng nhiều lao động vào quá trình sản xuất kinh doanh. Đây là một ưu thế quan trọng hiện nay của ngành, vì hàng năm nước ta phải giải quyết thêm việc làm cho 1,4 triệu người bước vào tuổi lao động. Ví dụ, để trồng và chăm sóc 1 hecta dứa hay 1 hecta dâu tằm mỗi năm cần sử dụng tới 20 lao động. Trong khi đó, giá nhân công Việt Nam rẻ hơn các nước khac trong khu vực, phổ biến với mức 1 đến 1,2 USD/ ngày công lao động trong sản xuất lúa, cà phê. Hiện nay, một số công việc nặng nhọc như đánh bắt cá ngừ, thu hoạch mía hay thu hoạch lúa ở đồng bằng sông Cửu Long với giá nhân công cao cũng mới chỉ là 2 đến 2,5USD/ngày công lao động, nhưng vẫn còn rẻ hơn so với Thái Lan từ 2 đến 3 lần. Tất nhiên lợi thế này sẽ không tồn tại lâu do sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước và thế giới. Thứ ba:Điều kiện sinh thái tự nhiên của nhiều vùng nước ta rất thuận lợi cho việc phát triển sản xuất một số loại rau quả vụ đông có hiệu quả như cà chua, bắp cải, tỏi, khoai tây... trong khi cũng vào thời gian này ở cả vùng Viễn Đông của Liên bang Nga và thậm chí ở cả Trung Quốc đang bị tuyết dầy bao phủ không thể trồng trọt được gì, nhưng những nơi này lại là thị trường tiêu thụ lớn và tương đối dễ tính. Các đối thủ cạnh tranh như Thái Lan, Philipin lại kém lợi thế hơn so với Việt Nam cả về điều kiện tự nhiên sinh thái, cả về kỹ năng, kinh nghiệm sản xuất và tính cần cù lao động của người nông dân trong việc tròng trọt các loại rau quả đó. Thứ tư: Một số ít nông sản được các nước phát triển ở Châu Âu; Bắc Mỹ ưa chuộng như nhân hạt điều, dứa, lạc lại có thể trồng ở Việt Nam trên các đất bạc màu, đồi núi trọc ( như điều ) hay trên đất phèn, mặn (như dứa), lạc vụ 3 xen canh nên không bị các cây trồng khác cạnh tranh, mà trên thực tế vẫn còn có khả năng mở rộng sản xuất. Thứ năm: Các nước Đông Âu, SNG và Trung Quốc vốn là thị trường truyền thống với quy mô lớn và tương đối dễ tính đối với cacs mặt hàng nông sản của Việt Nam. Mặt khác, trên các nước này hiện có một lượng doanh nhân và doanh nghiệp Việt Nam đang làm ăn phát đạt ở đó. Đây là một lợi thế lớn để nối lại thị trường tiêu thụ mà bấy lâu nay nước ta đã bỏ qua chưa khai thác có hiệu quả. Thứ sáu: Nhiều tư liệu sản xuất dùng trong quá trình sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản vẫn còn phải nhập khẩu, mà phần lớn phải nhập với giá cao hơn giá thế giới, chi phí để sản xuất các loại tư liệu đó trong nước rất cao. Do vậy mở cửa hội nhập kinh tế, tự do hoá thương mại sẽ làm cho giá nhập khẩu mặt hàng này rẻ hơn, làm cho giá thành sản xuất và chế biến các loại hàng nông sản phẩm của nước ta giảm xuống một lượng đáng kể do đó sẽ tạo thêm ưu thế cạnh tranh. Thứ bảy: Thể chế chính trị ổn định, môi trường đấu tư và hệ thống pháp luật của Việt Nam ngày càng được cải thiện và điều chỉnh thích ứng dần với tiến trình tự do hoá thương mại trong khu vực và toàn cầu. Những bất lợi: Thứ nhất: Nhìn chung, tuy Việt Nam đã bước đầu hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung nhưng khối lượng hàng hoá còn nhỏ bé, thị phần trên thế giới thấp, chất lượng chưa đồng đều và ổn định. Việt Nam chưa hình thành được các vùng chuyên canh sản xuất hàng tươi sống và vùng nguyên liệu tập trung cho các nhà máy chế biến lớn theo yêu cầu kỹ thuật kinh tế. Gạo của Việt Nam chưa đảm bảo độ đông nhất về quy cách chất lượng ngay trong từng lô gạo, bao bì đóng gói kém hấp dẫn và chưa có nhãn thương hiệu của doanh nghiệp mình trên vỏ bao bì. Điều đó làm cho giá xuất khẩu của nông sản Việt Nam thấp hơn các nước khác. Thứ ha: Phần lớn các loại giống cây con hiện đang được nông dân sử dụng có năng xuất và chất lượng thấp so với các nước trên thế giới và các đối thủ cạnh tranh trong khối ASEAN. Trên địa bàn cả nước chưa hình thành một hệ thống cung ứng giống cây con tốt cho người sản xuất, từ giống tác giả, giống nguyên chủng cho đến giống thương phẩm. Hầu hết nông dân đã tự sản xuất giống cây con cho mình từ vụ thu hoạch trước hoặc mua giống trên thị trường trôi nổi mà không có sự đảm bảo về chất lượng đặc biệt là giống các loại cây ăn quả, cây lương thực, cây rau... Năng suất lúa của Việt Nam chỉ bằng 61% năng suất lúa của Trung Quốc và thấp thua nhiều so với lúa của Nhật Bản, Iatlia, Mỹ. Năng suất cà chua của ta chỉ bằng 65% năng suất cà chua thế giới, cao su Việt Nam mới chỉ đạt năng suất 1,1 triệu tấn/ha, so với năng suất thế giới là 1,5 – 1,8 tấn/ha thấp hơn tới 30% - 40%. Thứ ba: So với các đối thủ cạnh tranh, Việt Nam có công nghệ chế biến lạc hậu, chưa đảm bảo chất lượng sản phẩm theo yêu cầu tiêu dùng của các thị trường khó tính như Nhật Bản, EU, Bắc Mỹ. Mặt khác, kết cấu hạ tầng phục vụ cho việc vận chuyển, bảo quản dự trữ, bôc xếp hàng hoá nông sản, nhất là hàng tươi sống rất yếu kém nên giá thành sản phẩm và phí gián tiếp khác tăng nhanh. Ví dụ: Do công suất bốc xếp ở cảng Sài Gòn là 1000 tấn/ngày chỉ bằng 1/2 công suất cảng Băng Cốc (Thái Lan), cho nên cảng phí cho một tàu chở gạo 10000 tấn ở Việt Nam là 40000 USD, còn ở cảng Băng Cốc là 20000 USD, như vậy là chi phí tại cảng trong khâu bốc xếp của Việt Nam đã cao hơn gấp đôi so với cảng Băng Cốc. Thứ tư: Năng lực quản lý sản xuất kinh doanh, chế biến và xuất khẩu nông sản chưa đáp ứng được nhu cầu trong điều kiện tự do hoá thương mại, đặc biệt là khâu marketing, dự tính báo thị trường. Mối liên kết kinh tế giữa các khâu sản xuất – chế biến – xuất khẩu, giữa khâu cung ứng vật tư đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra, giữa khâu kỹ thuật với khâu kinh tế... chưa thiết lập được một cách vững chắc để đảm bảo sự ổn định về số lượng và chất lượng cũng như hiệu quả sản xuât kinh doanh hàng nông sản xuất khẩu theo yêu cầu của thị trường. Thứ năm: Tuy chủng loại hàng hoá xuất khẩu của ta đa dạng hơn nhưng nhìn chung thì diện mặt hàng vẫn còn khá đơn điệu, chưa có sự thay đổi đột biến về chủng loại, về chất lượng, xuất khẩu chủ yếu vẫn dựa vào một vài mặt hàng chủ lực, truyền thống như gạo, cà phê, cao su, hải sản...mà phần lớn chúng ta đều tiềm ẩn nguy cơ tăng trưởng chậm dần do gặp phải những hạn chế mang tính cơ cấu như diện tích có hạn, năng suất có hạn.. và khả năng cnạh tranh ngày càng giảm dần. Thứ sáu: Bộ máy quản lý hành chính Nhà Nước vẫn còn quan liêu trì trệ, chưa thông thoáng và bảo thủ đã làm nản lòng câc nhà đầu tư kinh doanh trong và ngoài nước và làm tăng giá thành sản xuất và giá thành sản phẩm xuất khẩu. Do vậy, lợi thế tiềm năng không được phát huy hết. Thứ bảy: Trong quá trình tự do hoá thương mại, một số doanh nghiệp kinh doanh hàng nông sản làm ăn thua lỗ, không có khả năng cạnh tranh sẽ bị phá sản theo quy định của luật. Điều bất lợi này Việt Nam cũng phải chấp nhận một cách tự nhiên, bình thường theo vận hành của quy luật kinh tế thị trường. Một số mặt hàng nông sản tiêu thụ nội địa trong nhiều năm qua sẽ bị cạnh tranh và dảm dần hoặc mất thị trường ngay trên quê hương mình. Điều đó cũng dễ hiểu và chúng ta phải chấp nhận nó như một việc bình thường, không phải chỉ với chúng ta mà đối với tất cả các nước khác. Nhưng trước mắt, điều bất lợi này sẽ gây ra những tác động tiêu cực tạm thời cả lĩnh vực kinh tế - xã hội và chính trị. Tóm lại, xét về tổng thể, hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam tuy đã đạt được nhiều thành tích đáng khích lệ và có nhiều lợi thế cần khai thác nhưng vẫn còn nhiều tồn tại và bất lợi. Những tồn tại và bất lợi này đều có sự liên quan chặt chẽ với nhau, vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của nhau đòi hỏi phải được xử lý một cách dứt điểm và toàn diện. Nền nông nghiệp Việt Nam đang trên đà phát triển và hoà nhập vào xu thế chung của nông nghiệp các nước trong khu vực và toàn cầu, tuy nhiên theo tiến trình này về mức độ và hiệu quả không chỉ phụ thuộc vàp bản thân sự cố gắng của phái Việt Nam, mà còn phụ thuộc vào xu thế chung của thị trường hàng hóa nông sản thế giới. Trong định hướng phát triển nông nghiệp của mình vấn đề quan trọng được đặt ra là khả năng thực sự về mức độ đáp ứng của sản xuất- xuất khẩu đối với nhu cầu đến đâu, không chỉ về số lượng mà còn yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm, đẹp về hình thức, phong phú đa dạng về chủng loại và giá cả hợp lý nhằm tăng sức hấp dẫn đối với người tiêu dùng. Do vậy nâng cao khả năng sản xuất, phát huy các lợi thế cạnh tranh của hàng nông sản của Việt Nam trên thị trường là vấn đề cốt lõi trong chiến lược phát triển nông nghiệp hướng ra xuất khẩu của Việt Nam , trước hết có thể tập trung vào các mặt hàng nông sản chủ yếu có nhiều lợi thế nhất. 1.3.2. Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng nông sản chủ yếu Nông nghiệp được coi là lĩnh vực chịu nhiều tác động nhất trong quá trình gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) của Việt Nam. Nhiều lo ngại về sức mạnh của Nông sản Việt Nam trên sân chơi lớn này xuất phát từ những hạn chế trong năng lực sản xuất, chế biến, tạo dựng thương hiệu và uy tín lớn của từng mặt hàng nông sản. Nhìn từ khía cạnh xuất khẩu nông sản, sau một năm gia nhập WTO, những mặt hàng chủ lực của nền nông nghiệp Việt Nam vẫn đang chứng tỏ thế và lực của một đất nước với không ít sản phẩm nông nghiệp được ghi danh trên thương trường thế giới. Theo đánh giá của Vụ Kế hoạch (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), năm 2007 tiếp tục là năm thành công trong xuất khẩu nông sản. Năm 2007 kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản của cả nước đã đạt 15,5 tỷ USD. So với năm 2006, năm cũng được coi là rất thành công trong xuất khẩu nông sản của Việt Nam, con số này đã tăng tới 20%. Năm 2007, xuất khẩu gạo đã vượt chỉ tiêu với sản lượng xuất khẩu 6,5 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu tăng 18% (1,42 tỷ USD). Cà phê Việt Nam vượt ngưỡng xuất khẩu 1 triệu tấn với tổng giá trị kim ngạch 1,65 tỷ USD. Hiện đã có tới 5 mặt hàng là thuỷ sản, gỗ và sản phẩm gỗ, cà phê, gạo và cao su đạt giá trị xuất khẩu từ 1-3 tỷ USD. Cùng với những ưu thế sẵn có của nông sản Việt Nam, việc gia nhập WTO tiếp tục tạo đà thuận lợi cho xuất khẩu nông sản. Bên cạnh những bạn hàng truyền thống, hầu hết các ngành hàng xuất khẩu trong năm nay đều tiếp nhận thêm những bạn hàng mới. Nếu như nhiều năm trước đây, xuất khẩu cao su của Việt Nam chủ yếu tập trung vào thị trường Trung Quốc thì năm qua đã có sự chuyển dịch rõ rệt. Từ đầu năm đến nay  sản lượng cao su xuất khẩu sang Trung Quốc giảm chỉ còn khoảng 59%, trong khi xuất sang các thị trường khác như Hàn Quốc, Đài Loan, Malaixia, Đức lại tăng đáng kể. Cà phê đang là mặt hàng dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu trong nhóm hàng nông, lâm sản và là một trong tám mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1 tỉ USD. Các chuyên gia cho rằng cà phê VN có tính cạnh tranh cao nhờ môi trường và khí hậu ưu đãi, chi phí sản xuất thấp, sản lượng thuộc hàng cao nhất thế giới. Tuy nhiên, cà phê VN có chất lượng tương đối thấp do thiết bị chế biến, sấy khô nghèo nàn, công nghệ sau thu hoạch lạc hậu. Cà phê VN chưa có thương hiệu và các nhà XK thiếu kỹ năng tiếp thị, do vậy chỉ chào bán được mức giá thấp hơn so với giá trung bình của thế giới. Song điều quan trọng là VN có tiềm năng nâng cao chất lượng thông qua việc đầu tư công nghệ sau thu hoạch, lưu kho và chế biến. Với vị trí vững chãi đã có trên thị trường thế giới, nếu có chiến lược cải thiện được chất lượng đúng đắn, cà phê VN sẽ ở hàng "bá chủ". Bên cạnh đó, sản lượng cao su xuất sang thị trường Malaixia trong năm nay đã tăng 3 lần so với năm trước và đây được đánh giá là thị trường chiến lược của cao su Việt Nam trong tương lai. Với ngành chè, những nỗ lực cải thiện chất lượng chè Việt Nam sau khi gia nhập WTO còn mang lại kết quả rõ nét hơn. Theo Hiệp hội hội Chè Việt nam, sau những nỗ lực của ngành chè trong việc đầu tư phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến chè theo quy hoạch, đồng thời tổ chức lại ngành chè theo hướng từng bước hiện đại hoá, tăng nhanh tỷ lệ các sản phẩm chè tinh chế, có chất lượng cao và đa dạng hoá sản phẩm, năm nay giá chè xuất khẩu của Việt Nam đã được cải thiện đáng kể với mức tăng khoảng 25%, tương ứng mức tăng 270-280 USD/tấn. Tuy nhiên, nếu lĩnh vực xuất khẩu đạt được nhiều thành công thì việc thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài trong nông nghiệp lại chưa chứng tỏ được lợi thế. Năm 2007 tỷ trọng FDI cho ngành nông nghiệp vẫn còn rất thấp (chỉ chiếm 10,6% số dự án và 6,5% số vốn đầu tư đăng ký). Đáng chú ý, mặc dù có tới 42 quốc gia, vùng lãnh thổ tham gia đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, nhưng chủ yếu là các nhà đầu tư đến từ châu Á. Việt Nam hiện chưa thu hút các nhà đầu tư của một số nước có tiềm năng, thế mạnh lớn về nông nghiệp như Mỹ, Canada, Ôxtrâylia…. Điều này phản ánh khả năng vận động, xúc tiến đầu tư của Việt Nam trong lĩnh vực này còn hạn chế. Đồng thời, theo các chuyên gia kinh tế, đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam luôn tiềm ẩn rủi ro đối với các nhà đầu tư nước ngoài do điều kiện tự nhiên khó khăn, thường xuyên bị ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, sản phẩm nông nghiệp thường có tỉ suất lợi nhuận thấp. Chính vì vậy, mặc dù là một trong những lĩnh vực mà Chính phủ Việt Nam chú trọng ưu đãi cho các nhà đầu tư, nhưng sau khi gia nhập WTO nông nghiệp – nông thôn vẫn không đạt được tốc độ tăng trưởng FDI như những lĩnh vực khác. Trên cơ sở nhận diện những thuận lợi và hạn chế sau một năm gia nhập WTO, Bộ NN & PTNT xác định tiếp tục xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá có năng suất, chất lượng, hiệu quả và có sức cạnh tranh cao gắn với hội nhập kinh tế quốc tế. Bên cạnh đó, nhu cầu thị trường cũng đã và đang hướng nông dân sản xuất theo tiêu chí sản xuất những sản phẩm thị trường cần với giá thành hạ, năng suất tăng, chất lượng tăng và đặc biệt là bán được giá cao. Tuy nhiên, thực tế là hiện nay trình độ sản xuất của nông dân còn ở mức độ thấp, bộc lộ nhất là giống cây trồng, vật nuôi vẫn chưa kiểm dịch đầy đủ và cũng chưa kiểm soát nguồn gốc. Thứ hai là chưa kiểm soát tốt phân hoá học, phân bón. Thứ ba là công tác bảo quản sau thu hoạch, bao bì, nhãn hiệu hàng hoá thương hiệu vẫn chưa đáp ứng theo chuẩn mực yêu cầu của quốc tế trong quá trình hội nhập. Thứ tư là quy mô sản xuất nhỏ lẻ, bình quân diện tích đất còn rất thấp, khoảng 0,7-1 ha/hộ, vì vậy muốn sản xuất với quy mô lớn, chất lượng đồng đều là rất khó. Thứ năm là giá thành sản xuất vẫn còn cao, chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm chưa được quan tâm đầy đủ khi đưa sản phẩm ra thị trường… Để nông nghiệp-nông thôn và nông dân thực sự vững vàng với WTO, thì cùng với việc quy hoạch, định hướng sản xuất và tăng cường ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp, việc tăng cường nâng cao trình độ, năng lực sản xuất, ứng dụng khoa hoạ kỹ thuật và nắm bắt xu thế thị trường của các doanh nghiệp nông nghiệp và nông dân vẫn là nhiệm vụ quan trọng. 2. Nông sản phẩm và vai trò của Nông sản phẩm trong xuất khẩu của các địa phương và Thành phố Sản xuất nông nghiệp không những cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người, đảm bảo nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm mà còn sản xuất ra những mặt hàng có giá trị xuất khẩu, tăng thêm nguồn thu ngoại tệ. Hiện tại cũng như trong tương lai, nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người, không ngành nào có thể thay thế được. Trên 40% số lao động trên thế giới đang tham gia vào hoạt động nông nghiệp. Đảm bảo an ninh lương thực là mục tiêu phấn đấu của mỗi quốc gia, góp phần ổn định chính trị, phát triển nền kinh tế. Chúng ta đều biết, Việt Nam là một nước nông nghiệp, vấn đề sản xuất và xuất khẩu nông sản giữ vị trí quan trọng đối với tăng trưởng nông nghiệp nói riêng và tăng trưởng kinh tế nói chung. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã nổi lên là một nước xuất khẩu nông sản mạnh so với khu vực và thế giới, có những mặt hàng Việt Nam còn được coi là “đại gia” như cà phê, gạo, hạt điều… Tuy nhiên, mức độ tác động của xuất khẩu nông sản đối với tăng trưởng nông nghiệp còn bấp bênh, chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của nó. Sản phẩm của nông nghiệp bao gồm nông sản, lâm sản và thuỷ sản, trong đó nông sản chiếm tỷ trọng lớn nhất. Vì vậy, xuất khẩu nông sản có những vị thế đặc biệt trong quá trình phát triển kinh tế xã hội nước nhà như: Một là, xuất khẩu nông sản tác động đến việc mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp. Khi xuất khẩu nông sản tăng, khối lượng nông sản được sản xuất ra ngày càng lớn, do đó sẽ tạo điều kiện cho việc mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp. Mặt khác, khi xuất khẩu nông sản tăng còn tạo nguồn thu lớn cho người sản xuất, từ đó họ có thể tăng vốn để tái sản xuất mở rộng, tăng năng suất lao động, tăng chất lượng sản phẩm, nâng cao giá trị hàng xuất khẩu. Hai là, xuất khẩu góp phần giải quyết tốt vấn đề công ăn, việc làm. Một trong những đặc điểm rất quan trọng của Việt Nam và một số nước đang phát triển khác là tốc độ tăng lực lượng lao động nhanh, từ đó việc làm luôn là vấn đề nóng và cần quan tâm của nền kinh tế. Để giải quyết được tình trạng này phải tăng cầu lao động và xuất khẩu tăng cũng là một trong những biện pháp để mở rộng quy mô ngành sản xuất nông sản, từ đó tạo thêm việc làm cho người lao động. Mặt khác, xuất khẩu nông sản tăng kéo theo sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, từ đó nhu cầu lao động bổ sung tăng lên. Khi người lao động có việc làm, thu nhập ổn định sẽ tạo tâm lý yên tâm phấn khởi và người lao động (đặc biệt là lao động nông nghiệp) sẽ làm việc ngay tại quê hương mình, giảm tải tình trạng di cư của lao động ra các khu c._.ông nghiệp, thành thị để tìm kiếm việc làm. Ba là, xuất khẩu nông sản góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp. Nguồn lực trong nông nghiệp bao gồm: đất đai, cơ sở hạ tầng, người lao động, kinh nghiệm sản xuất… Mỗi quốc gia đều có những cách thức khác nhau trong việc sử dụng các nguồn lực của mình sao cho có hiệu quả nhất và tận dụng hết các lợi thế của vùng. Mỗi vùng khác nhau sẽ có lợi thế về một loại nông sản khác nhau, do đó khi xuất khẩu nông sản tăng lên, thị trường được mở rộng sẽ tạo điều kiện cho vùng đó sử dụng nguồn lực đạt hiệu quả cao nhất. Đây cũng là lý do tại sao Việt Nam lại tạo những điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh xuất khẩu gạo của đồng bằng sông Cửu Long, cà phê của các tỉnh miền Trung Tây Nguyên, vải Lục Ngạn, nhãn Hưng Yên, thanh long Bình Thuận, bưởi Diễn… Bốn là, xuất khẩu nông sản góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá quy mô lớn gắn với công nghiệp chế biến và thị trường, đưa thiết bị, công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp, thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ sinh học và công nghệ thông tin nhằm nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp trên thị trường. Vì vậy, xuất khẩu nông sản tạo điều kiện giải quyết tốt vấn đề đầu ra cho nông sản, thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá quy mô lớn, điều này rất phù hợp với điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay. Mặt khác, xuất khẩu nông sản còn có vai trò tích cực trong việc cung cấp thông tin cho người sản xuất, tạo ra sự phù hợp tốt hơn giữa người sản xuất và thị trường. Năm là, xuất khẩu nông sản góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Xuất khẩu nông sản tăng làm đa dạng hoá sản phẩm xuất khẩu, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, từ đó góp phần thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá có giá trị cao, đảm bảo vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của thị trường thế giới. Xuất khẩu nông sản tăng hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hoá, tạo thuận lợi cho việc chăm sóc, áp dụng tiến bộ kỹ thuật và xoá bỏ dần cách thức sản xuất manh mún, nhỏ lẻ trước đây. Từ những vấn đề trên, có thể thấy rằng, về mặt lý thuyết xuất khẩu nông sản và tăng trưởng nông nghiệp có mối quan hệ thuận chiều, nhưng trên thực tế các quốc gia có phát huy được mối quan hệ này hay không còn phụ thuộc rất lớn vào tình hình cụ thể của quốc gia đó và tăng trưởng nông nghiệp không chỉ chịu tác động của một nhân tố đó là xuất khẩu nông sản. Xuất khẩu nông sản và tăng trưởng nông nghiệp của các địa phương và Thành phố. Thực tế, trong những năm qua ngành nông nghiệp Việt Nam đã có những bước chuyển mình, tạo ra sự thay đổi lớn trong sản xuất, cơ cấu, chất lượng, giá cả sản phẩm và uy tín của nông sản trên thị trường quốc tế. Chúng ta có thể nhìn nhận sự thay đổi đó thông qua một số số liệu ở Bảng 1. Bảng 1. Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp và tốc độ tăng trưởng XK nông sản (%) Chỉ tiêu 2004 2005 2006 2007 Tốc độ TTXKNS(1) 11,5 26,6 61,5 26,5 Tốc độ TTNN(2) 3,62 4,36 4,04 3,4 Nguồn: (1) Tác giả tự tính; (2) Niên giám Thống kê 2007 Từ Bảng 1 có thể thấy, trong giai đoạn từ 2004 – 2006 xuất khẩu nông sản của Việt Nam đã có sự tăng trưởng đều đặn từ 11,5% năm 2004 lên 26,6% năm 2005 và 61,5% năm 2006. Sự tăng trưởng này làm cơ sở cho tăng trưởng nông nghiệp cũng tăng đều đặn từ 3,62% năm 2004 lên 4,04% năm 2006. Riêng năm 2007, kinh tế Việt Nam nói chung và nông nghiệp nói riêng gặp nhiều khó khăn. Đó là thiên tai (hạn hán, bão số 1( Chin Chu), bão số 6 (Xangsane), lốc mưa đá, bão số 9 (Durian)), dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng… Điều này làm cho việc sản xuất và xuất khẩu nông sản gặp nhiều khó khăn và ảnh hưởng lớn đến nông nghiệp Việt Nam vì nông nghiệp là ngành chịu tác động lớn nhất của điều kiện tự nhiên. Kết quả là tốc độ tăng của xuất khẩu nông sản chỉ đạt 26,5% và nông nghiệp đạt 3,4%. Nhưng đạt được kết quả này cũng đã thể hiện sự nỗ lực phấn đấu hết sức mình của người dân Việt Nam để đạt được mục tiêu đề ra (năm 2007 vẫn đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 8,%). Chúng ta có thể nhìn nhận mối quan hệ này ở góc độ trực tiếp hơn, đó là mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nông sản và xuất khẩu nông nghiệp. Bảng 2. Mối quan hệ giữa tăng trưởng XK nông sản và tăng trưởng XK nông nghiệp Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007 Kim ngạch XKNS (triệu USD) (1) 2396,6 2672,0 3383,6 5463,3 6910,0 TTXKNS (%) - 11,5 26,6 61,5 26,6 Kim ngạch XKNN(triệu USD) (1) 4616,1 5066,9 5972,5 9023,8 10520,3 TTXKNN(%) - 9,8 17,9 51,1 16,6 Tỷ trọng XKNS/XKNN(%) 51,9 52,7 56,7 60,5 65,7     Nguồn: (1) Niên giám Thống kê 2007 số liệu từ 2003 – 2007 Từ Bảng 2 có thể nhận thấy, trong các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam, nông sản chiếm tỷ trọng khá lớn. Năm 2003 tỷ trọng của XKNS/XKNN là 51,9% đến năm 2006 là 65,7%. Điều này nói lên tầm quan trọng của xuất khẩu nông sản đối với xuất khẩu nông nghiệp và sự biến động của xuất khẩu nông sản sẽ kéo theo sự biến động của xuất khẩu nông nghiệp Việt Nam. Biến động này qua các năm được thể hiện: năm 2004 tốc độ tăng xuất khẩu nông sản là 11,5% tương ứng tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nông nghiệp là 9,8%, năm 2005 là 26,6% tương ứng là 17,9%, 2006 là 61,5% tương ứng 51,1% và năm 2007 là 26,5% tương ứng là 16,6%. Từ việc nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn mối quan hệ giữa xuất khẩu nông sản và tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam qua một số năm, có thể đưa ra một số nhận xét sau: Thứ nhất, các nước đang phát triển tương tự Việt Nam, khi nông nghiệp là một ngành kinh tế cơ bản thì xuất khẩu nông sản có mối quan hệ chặt chẽ với tăng trưởng nông nghiệp. Do đó sự biến động của xuất khẩu nông sản sẽ kéo theo sự biến động của tăng trưởng nông nghiệp và muốn đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng nông nghiệp thì cần phải bắt đầu từ các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu nông sản. Thứ hai, trong điều kiện Việt Nam đã là thành viên của WTO, vấn đề xuất khẩu nông sản đứng trước những cơ hội và thách thức lớn, vì vậy Chính phủ cần có những chính sách hợp lý đối với xuất khẩu nông sản để tận dụng những cơ hội, giảm bớt những thách thức và biến thách thức thành cơ hội từ đó thúc đẩy xuất khẩu nông sản, góp phần thúc đẩy tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam. 3. Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng nông sản của các địa phương và Thành phố và hệ thống chỉ tiêu đánh giá động thái phát triển XK hàng nông sản của các địa phương 3.1. Các nhân tố ảnh hưởng hưởng đến hoạt động xuất khẩu hàng nông sản 3.1.1. Nhân tố thuộc môi trường vĩ mô a. Môi trường văn hoá xã hội. Yếu tố văn hoá xã hội luôn bao quanh hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, ảnh hưởng lớn tới hoạt động xuất khẩu các mặt hàng của ngành nông nghiệp. Có thể nghiên cứu các yếu tố từ những giác độ khác nhau tuỳ vào mục tiêu nghiên cứu. Các yếu tố thường được nghiên cứu là: Dân số, xu hướng vận động của dân số, sự dịch chuyển dân cư và xu hướng vận động b. Môi trường chính trị luật pháp. Các yếu tố thuộc lĩnh vực chính trị và luật pháp chi phối mạnh mẽ sự hình thành cơ hội thương mại và khả năng thực hiện mục tiêu xuất khẩu hàng nông sản. Sự ổn định của môi trường chính trị đã được xác định là một trong những điều kiện tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, sự thay đổi điều kiện chính trị có thể ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của hoạt động xuất khẩu. Các yếu tố cơ bản thuộc môi trường này thường được lưu ý là: - Quan điểm, mục tiêu định hướng phát triển xã hội và nền kinh tế của đảng cầm quyền. - Chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện các quan điểm mục tiêu của Chính phủ và khả năng điều hành của Chính phủ. - Mức độ ổn định chính trị – xã hội. - Thái độ và phản ứng của các tổ chức xã hội, của các nhà phê bình xã hội. - Thái độ và phản ứng của dân chúng. - Hệ thống pháp luật với mức độ hoàn thiện của nó và hiệu lực thực hiện luật pháp trong đời sống kinh tế xã hội. c.Yếu tố cơ sở hạ tầng và điều kiện tự nhiên. Các yếu tố cơ sở hạ tầng là điều kiện thuận lợi hoặc khó khăn cho hoạt động kinh doanh.Cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống giao thông vận tải, hệ thống thông tin, hệ thống cảng... Các nước có nền kinh tế phát triển thường có hệ thống cơ sở hạ tầng tốt, đó là một điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh. Điều kiện tự nhiên là yếu tố cần được quan tâm, những biến động của tự nhiên như nắng mưa, bão lũ, các dịch bệnh cần được chú ý để phòng ngừa vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của nông sản phẩm. d. Môi trường kinh tế và công nghệ. Ảnh hưởng của các yếu tố thuộc môi trường kinh tế và công nghệ đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là rất lớn. Các yếu tố thuộc môi trường này quy định cách thức doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế trong việc sử dụng tiềm năng của mình và qua đó cũng tạo cơ hội kinh doanh cho từng mặt hàng xuất khẩu. Các yếu tố quan trọng của môi trường này và tác động của nó đến cơ hội kinh doanh: - Tiềm năng của nền kinh tế: Yếu tố tổng quát, phản ánh các nguồn lực có thể được huy động và chất lượng của nó: tài nguyên, con người, vị trí địa lý, dự trữ quốc gia... - Các thay đổi về cấu trúc, cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân. - Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Xu hướng phát triển chung của nền kinh tế hoặc từng ngành liên quan đến hoạt động xuất khẩu của ngành, liên quan trực tiếp đến khả năng xuất khẩu, khả năng mở rộng thị trường, quy mô thị trường... - Lạm phát và khả năng điều khiển lạm phát. - Tỷ giá hối đoái và khả năng chuyển đổi của đồng tiền quốc gia (nội tệ). - Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của nền kinh tế. - Khả năng nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nền kinh tế/ngành kinh tế. 3.1.2. Nhân tố thuộc môi trường ngành a. Môi trường cạnh tranh. Cạnh tranh được xác định là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường với nguyên tắc ai hoàn thiện hơn, thoả mãn nhu cầu tốt hơn, hiệu quả hơn người đó sẽ thắng, sẽ tồn tại và phát triển. Duy trì khả năng cạnh tranh lành mạnh và đúng luật là trách nhiệm của Chính phủ. b. Khách hàng (bạn hàng). Khách hàng được đề cập ở đây là các quốc gia có nhu cầu về mặt hàng nông sản phẩm và có quan hệ kinh tế với Việt Nam. Hiện nay, quá trình toàn cầu hoá kinh tế diễn ra ngày một rộng rãi và Việt Nam cũng nằm trong xu thế tất yếu đó, đây có thể coi là một thuận lợi lớn cho mặt hàng nông sản phẩm của ta vì sản phẩm của Việt Nam đa dạng và phong phú, nhiều mặt hàng Việt Nam là nhà cung cấp lớn nhất nhì thế giới và khu vực. Tuy nhiên không phải không có những khó khăn khi trình độ khoa học công nghệ của ta còn lạc hậu, khả năng ứng dụng các tiến bộ khoa học và nông nghiệp còn hạn chế thì chúng ta không đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật của bạn hàng nhất là những bạn hàng lớn trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Đức,... 3.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới sản phẩm Nông sản các địa phương và Thành phố của nước ta hiện nay 3.2.1. Các nhân tố tự nhiên Các nhân tố tự nhiên là tiền đề cơ bản để phát triển và phân bố nông nghiệp. Mỗi loại cây trồng, vật nuôi chỉ có thể sinh trưởng và phát triển trong những điều kiện tự nhiên nhất định. Các điều kiện tự nhiên quan trọng hàng đầu là đất, nước và khí hậu. Chúng sẽ quyết định khả năng nuôi trồng các loại cây, con cụ thể trên từng lãnh thổ, khả năng áp dụng các quy trình sản xuất nông nghiệp, đồng thời có ảnh hưởng lớn đền năng suất cây trồng, vật nuôi. a) Đất đai Đất đai là cơ sở đầu tiên, quan trọng nhất để tiến hành trồng trọt, chăn nuôi. Quỹ đất, tính chất đất và độ phì của đất có ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu, năng suất và sự phân bố cây trồng, vật nuôi. Đất nào, cây ấy. Kinh nghiệm dân gian đã chỉ rõ vai trò của đất đối với sự phát triển và phân bố nông nghiệp.Nguồn tài nguyên đất nông nghiệp trên thế giới rất hạn chế, chỉ chiếm 12% diện tích tự nhiên, trong khi số dân vẫn không ngừng tăng lên. Tuy diện tích đất hoang hoá còn nhiều, nhưng việc khai hoang, mở rộng diện tích đất nông nghiệp rất khó khăn, đòi hỏi nhiều công sức và tiền của. Đó là chưa kể đến việc mất đất do nhiều nguyên nhân như xói mòn, rửa trôi, nhiễm mặn và chuyển đổi mục đích sử dụng. Vì vậy, con người cần phải sử dụng hợp lí diện tích đất nông nghiệp hiện có và bảo vệ độ phì của đất. b) Khí hậu và nguồn nước Khí hậu và nguồn nước có ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc xác định cơ cấu cây trồng, thời vụ, khả năng xen canh, tăng vụ và hiệu quả sản xuất nông nghiệp ở từng địa phương. Sự phân chia các đới trồng trọt chính trên thế giới như nhiệt đới, cận nhiệt, ôn đới và cận cực liên quan tới sự phân đới khí hậu. Sự phân mùa của khí hậu quy định tính mùa vụ trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.Các điều kiện thời tiết có tác dụng kìm hãm hay thúc đẩy sự phát sinh và lan tràn dịch bệnh cho vật nuôi, các sâu bệnh có hại cho cây trồng. Những tai biến thiên nhiên như lũ lụt, hạn hán, bão… gây thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất nông nghiệp. Chính điều này làm cho ngành nông nghiệp có tính bấp bênh, không ổn định. c) Sinh vật Sinh vật với các loài cây con, đồng cỏ và nguồn thức ăn tự nhiên là cơ sở để thuần dưỡng, tạo nên các giống cây trồng và vật nuôi, cơ sở thức ăn tự nhiên cho gia súc và tạo điều kiện cho phát triển chăn nuôi. 3.2.2. Các nhân tố kinh tế - xã hội Các nhân tố  kinh tế - xã hội có ảnh hưởng quan trọng tới phát triển và phân bố nông nghiệp. a) Dân cư và nguồn lao động Dân cư và nguồn lao động ảnh hưởng tới hoạt động nông nghiệp ở hai mặt: vừa là lực lượng sản xuất trực tiếp vừa là nguồn tiêu thụ các nông sản. Các cây trồng và vật nuôi cần nhiều công chăm sóc đều phải phân bố ở những nơi đông dân, có nhiều lao động. Truyền thống sản xuất, tập quán ăn uống của các dân tộc có ảnh hưởng không nhỏ tới sự phân bố cây trồng, vật nuôi. b) Các quan hệ sở hữu ruộng đất Các quan hệ sở hữu ruộng đất có ảnh hưởng rất lớn tới con đường phát triển nông nghiệp và các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp. Việc thay đổi quan hệ sở hữu ruộng đất ở mỗi quốc gia thường gây ra những tác động rất lớn tới phát triển nông nghiệp. c) Tiến bộ khoa học – kỹ thuật Tiến bộ khoa học – kỹ thuật trong nông nghiệp thể hiện tập trung ở các biện pháp cơ giới hoá (sử dụng máy móc trong các khâu làm đất, chăm sóc và thu hoạch), thuỷ lợi hoá (xây dựng hệ thống kênh tưới tiêu, hoặc áp dụng tưới tiêu theo khoa học), hóa học hoá (sử dụng rộng rãi phân hoá học, thuốc trừ sâu, diệt cỏ, chất kích thích cây trồng…), điện khí hoá (sử dụng điện trong nông nghiệp), thực hiện cuộc cách mạng xanh (tạo ra và sử dụng các giống mới có năng suất cao) và áp dụng công nghệ sinh học (lai giống, biến đổi gen, cấy mô…) Nhờ áp dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học – kỹ thuật, con người hạn chế được những ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, chủ động hơn trong hoạt động nông nghiệp, nâng cao năng suất và sản lượng. d) Thị trường Thị trường tiêu thụ có tác động mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp và giá cả nông sản. Thị trường còn có tác dụng điều tiết đối với sự hình thành và phát triển các vùng chuyên môn hoá nông nghiệp. Xung quanh các thành phố, các trung tâm công nghiệp lớn ở nhiều nước trên thế giới đều hình thành vành đai nông nghiệp ngoại thành với hướng chuyên môn hoá sản xuất rau, thịt, sữa, trứng cung cấp cho nhu cầu của dân cư. Ngoài ra, đường lối chính sách phát triển kinh tế nói chung, phát triển nông nghiệp nói riêng cũng có ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp. 3.3. Chỉ tiêu cho hoạt động xuất khẩu hàng nông sản 3.3.1. Tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản của tỉnh (Thành phố): Trong đó: TXKNS: Tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản tỉnh (Thành phố) SLi: Sản lượng xuất khẩu mặt hàng (i) Pi : Giá xuất khẩu mặt hàng (i) tương ứng. J: Tổng số mặt hàng nông sản xuất khẩu của Tỉnh (Thành phố) Chỉ tiêu này phản ánh tổng giá trị xuất khẩu hàng nông sản của địa phương, mức độ đóng góp của mặt hàng nông sản vào sự phát triển kinh tế của địa phương và Thành phố. Chỉ tiêu này còn giúp hoạch định chính sách phát triển xuất khẩu nông sản, xây dựng các chỉ tiêu phù hợp... 3.3.2. Tỷ trọng xuất khẩu nông sản của Tỉnh( Thành phố). Trong đó: YXKNS: Tỷ trọng xuất khẩu nông sản TXKNS: Tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản của Tỉnh (Thành phố) TXK: Tổng kim ngạch xuất khẩu chung của toàn tỉnh (Thành phố) Chỉ tiêu này cho thấy tỷ trọng của mặt hàng nông sản trong toàn bộ hoạt động xuất khẩu chung của địa phương, chỉ tiêu này cho ta thấy rõ mức độ đóng góp của nông sản, thông qua đó có những biện pháp phát triển những mặt hàng có thế mạnh. 3.3.3. Lượng hàng xuất khẩu tăng giảm so với kỳ trước và so với kỳ kế hoạch. 3.3.4. Giá trị kim ngạch đạt được của từng mặt hàng, từng thị trường, từng khách hàng, so với kỳ trước và kế hoạch. 3.3.5. Mức độ chiếm lĩnh thị trường đối với những mặt hàng, nhóm hàng quan trọng, tăng giảm và nguyên nhân. 3.3.6. Các ý kiến phản hồi của khách hàng, của cơ quan quản lý về hàng hoá xuất khẩu. CHƯƠNG II THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÀ THÀNH PHỐ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1. Xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam qua các thời kỳ 1.1. Tổng kim ngạnh xuất khẩu hàng Nông sản 1.1.1. Tình hình xuất khẩu hàng nông sản năm 2007, năm đầu tiên gia nhập WTO Năm 2007, nông nghiệp Việt Nam phát triển theo hướng tích cực với tốc độ tăng trưởng 3,25% giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm 19,8% GDP cả nước. Sau một năm gia nhập WTO, “bức tranh” xuất khẩu nông sản đẹp hơn bao giờ hết với tổng giá trị xuất khẩu đạt 12,6 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2006, chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước và đã vượt mục tiêu đề ra cho năm 2010 tới 1,5 tỷ USD. Hầu hết hàng nông sản năm nay đều được giá nên giá trị xuất khẩu tăng mạnh với nhiều mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD như gạo, cà phê, cao su, sản phẩm gỗ. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, năm 2007, các mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam vẫn ở xu thế thuận lợi về giá cả và thị trường xuất khẩu. Ngoài sản lượng xuất khẩu gạo sụt giảm do điều chỉnh định mức xuất khẩu, các mặt hàng khác như cà phê, chè, cao su tăng cả về sản lượng và kim ngạch xuất khẩu nên không những bù đắp được sự giảm sút của mặt hàng gạo mà còn tạo sự tăng trưởng bước đầu cho xuất khẩu nông sản trong năm 2007. Cà phê chiếm ngôi đầu bảng. Tăng trưởng mạnh nhất trong tháng đầu tiên của năm 2007 phải kể đến ngành hàng cà phê. Nhờ giá xuất khẩu ổn định ở mức cao, nguồn cung tăng mạnh đã đưa sản lượng cà phê xuất khẩu đạt mức kỷ lục - 130.000 tấn với kim ngạch 182 triệu USD. Đây là tháng có sản lượng và kim ngạch cà phê xuất khẩu cao nhất trong vòng nhiều năm qua của ngành cà phê Việt Nam. Do giá cà phê xuất khẩu tháng này bình quân đạt 1.402 USD/tấn, cao hơn năm trước 28% nên so với năm trước, sản lượng cà phê xuất khẩu tăng 60% và giá trị kim ngạch gấp hơn 2 lần. Với kết quả này, cà phê chiếm ngôi đầu bảng, trở thành mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản năm 2007. Điều này chứng tỏ lợi thế của xuất khẩu cà phê trong năm 2007. Theo dự báo của Tổ chức cà phê Quốc tế (ICO), sản lượng cà phê toàn thế giới niên vụ 2007-2008 đạt 135 triệu bao (tương đương 8,56 triệu tấn) tăng 11,6 triệu bao so với niên vụ 2006-2007 do cà phê năm 2007 được giá, nhiều quốc gia sản xuất cà phê đã tăng diện tích trồng cà phê. Tuy nhiên, nhu cầu cà phê thế giới cũng được dự báo tiếp tục tăng nên giá cà phê có thể ổn định ở mức cao trong thời gian tới. Tiếp đà tăng trưởng của năm 2006, năm 2007 thị trường thuận lợi đã đưa cao su lên vị trí thứ 2 về kim ngạch xuất khẩu trong nhóm hàng nông sản. Giá cao su xuất khẩu tiếp tục ổn định ở mức cao nên với sản lượng xuất khẩu 720.000 tấn (tăng 13% so với năm trước), kim ngạch xuất khẩu cao su lên tới 1460 triệu USD (tăng 18% so với năm trước) - chiếm tới 28% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản trong năm 2007. Năm 2006, lần đầu tiên mặt hàng cao su gia nhập top các nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD và việc tiếp tục đứng trong top này là mục tiêu chính của ngành cao su trong năm 2007. Cùng trong nhóm hàng có sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cùng tăng trong năm 2007 là mặt hàng chè. Trong năm 2007, sản lượng chè xuất khẩu của cả nước đạt 76.000 tấn, đóng góp vào kim ngạch gần 89 triệu USD. So với năm trước sản lượng chè xuất khẩu tăng 35%, giá trị xuất khẩu tăng 30%. Gạo - thấp nhất trong vòng 7 năm qua. Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu thấp nhất trong năm 2007 lại chính là mặt hàng có lợi thế nhất của nông sản Việt Nam. Năm 2007, sản lượng gạo xuất khẩu của cả nước chỉ đạt khoảng 420.000 tấn với kim ngạch gần 15 triệu USD, bằng 14% về lượng và 19% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức xuất khẩu gạo thấp nhất trong vòng 7 năm qua. Tuy nhiên, nguyên nhân của hiện tượng này không xuất phát từ thị trường mà do chủ trương chủ động hạn chế xuất khẩu để đảm bảo an ninh lương thực trong nước. Theo nhận định của Hiệp hội Lương thực Việt Nam, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam sẽ tiếp tục giữ ở mức cao và tình hình xuất khẩu thuận lợi do dự báo thương mại gạo toàn cầu năm 2007 tăng so với năm trước và các thị trường nhập khẩu gạo truyền thống của Việt Nam vẫn giữ nguyên hoặc tăng mức nhập khẩu trong năm nay. Việc chủ động được tình hình xuất khẩu cũng chứng tỏ vị thế của gạo Việt Nam trên thị trường thế giới. Cùng trong nhóm hàng có sản lượng và kim ngạch xuất khẩu giảm là hồ tiêu và hạt điều. Năm 2007, xuất khẩu hồ tiêu đạt khoảng 4.000 tấn với kim ngạch 7,6 triệu USD. So với năm trước sản lượng hồ tiêu xuất khẩu giảm 33%. Nguyên nhân do thời kỳ giáp vụ thu hoạch hồ tiêu, sản lượng hồ tiêu một số nơi giảm do hiện tượng dịch bệnh trên cây tiêu. Tuy sản lượng giảm nhưng do giá hồ tiêu xuất khẩu đang ở mức cao, khoảng 1.914 USD/tấn (tăng 33% so với năm trước) nên giá trị kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu chỉ giảm khoảng 8%. Còn với mặt hàng hạt điều kim ngạch xuất khẩu lại giảm mạnh hơn sản lượng xuất khẩu do giá xuất khẩu hạt điều đang giảm. Do đó, với 67.000 tấn hạt điều xuất khẩu, kim ngạch thu về chỉ đạt 128 triệu USD (giảm 16%). Tuy nhiên, theo đánh giá chung của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ngoài giá xuất khẩu hạt điều và chè giảm nhẹ (khoảng 3-3,5%), còn tất cả các mặt hàng nông sản xuất khẩu hiện nay đều có giá ổn định ở mức cao. Đây chính là lợi thế để xuất khẩu nông lâm sản đạt được những tăng trưởng bước đầu trong năm đầu tiên Việt Nam gia nhập WTO. 1.1.2. Tình hình xuất khẩu hàng nông sản năm 2008 Xuất khẩu gạo tháng 2/2008 đạt mức tăng trưởng cao do nhu cầu trên thế giới tăng mạnh trong khi nguồn cung hạn hẹp; các doanh nghiệp trong nước và các đối tác đang gấp rút hoàn thành các hợp đồng đã ký trước tháng 3. Theo thống kê tháng 2 cả nước đã xuất 275.400 tấn gạo, kim ngạch 139,01 triệu USD, tăng 146,97% về lượng và tăng 168,13% về kim ngạch so tháng 1, đồng thời cũng tăng tới 68,64% về lượng và 120,77% về kim ngạch so cùng kỳ.Giá xuất khẩu trung bình tháng 2 đứng ở mức cao 504,77USD/tấn, tăng 119,18USd/tấn so cùng kỳ và tăng 39,84USD/tấn so tháng 1. Dự báo thời gian tới giá vẫn ở mức cao, do nguồn cung khan hiếm. Trong tháng 2 gạo 25% tấm vẫn là chủng loại xuất khẩu chủ yếu, với 143.130 tấn, kim ngạch 61,6 triệu USD, tăng 80,35% về lượng và 75,06% về kim ngạch so tháng 1. Chủng loại gạo này được xuất sang 2 thị trường là Philippines và Ả rập Xê út; trong đó xuất sang Philippines chiếm 99% tổng kim ngạch xuất khẩu chủng loại này. Tiếp theo là gạo 5%tấm, 15% tấm và 10% tấm cũng là những chủng loại được xuất nhiều trong tháng 2.Thị trường xuất khẩu: tháng 2 xuất sang 40 thị trường, Philipinnes đứng đầu về kim ngạch, nhưng xuất sang Pháp lại được giá nhất đạt 983,18USD/tấn, cao hơn 521,84USD/tấn so với giá trung bình xuất sangPhilippines. Bên cạnh đó, Nauy, Nam Phi, Malaysia, Ucraina cũng là những thị trường xuất khẩu được giá trong tháng 2/2008 với giá xuất trung bình lần lượt đạt 835,94USD/tấn; 761,32USD/tấn; 750,99USD/tấn và 748,85USD/tấn. Năm 2008 dự báo kim ngạch xuất khẩu sẽ tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng khả quan. Theo mục tiêu của Bộ Công thương, kim ngạch xuất khẩu năm 2008 ước tăng 20-22%, đạt 57-58 tỷ USD. Mục tiêu trên dựa vào những cơ sở sau: + Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng công nghiệp chủ lực như dệt may, sản phẩm điện tử, vi tính và linh kiện, sản phẩm nhựa, sản phẩm gỗ, cao su, cà phê…sẽ tiếp tục tăng cao và ổn định. + Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh trong những năm vừa qua sẽ là cơ sở để xuất khẩu của  nước ta không chỉ tăng cao trong năm 2008 mà cả trong những năm tiếp theo. + Lợi thế về tỷ giá hối đoái của VND so với đồng USD và so với các ngoại tệ  khác. Năm 2008: hoạt động xuất khẩu của nước ta vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức đó là: - Nguồn cung các mặt hàng nông, lâm sản đã cạn. - Tỷ giá USD/VND có xu hướng tăng cũng là một hạn chế đối với xuất khẩu. - Kinh tế thế giới tiềm ẩn nhiều bất ổn, cùng với đó những thay đổi trong chính sách thương mại của một số nền kinh tế lớn cũng sẽ là những trở ngại cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. 1.2 Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Nông sản Việt Nam 1.2.1 Tình hình xuất khẩu cà phê Cà phê đang là mặt hàng dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu trong nhóm hàng nông, lâm sản và là một trong tám mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1 tỉ USD. Các chuyên gia cho rằng cà phê VN có tính cạnh tranh cao nhờ môi trường và khí hậu ưu đãi, chi phí sản xuất thấp, sản lượng thuộc hàng cao nhất thế giới. Tuy nhiên, cà phê VN có chất lượng tương đối thấp do thiết bị chế biến, sấy khô nghèo nàn, công nghệ sau thu hoạch lạc hậu. Cà phê VN chưa có thương hiệu và các nhà XK thiếu kỹ năng tiếp thị, do vậy chỉ chào bán được mức giá thấp hơn so với giá trung bình của thế giới. Song điều quan trọng là VN có tiềm năng nâng cao chất lượng thông qua việc đầu tư công nghệ sau thu hoạch, lưu kho và chế biến. Với vị trí vững chãi đã có trên thị trường thế giới, nếu có chiến lược cải thiện được chất lượng đúng đắn, cà phê VN sẽ ở hàng "bá chủ". Theo nhận định của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, giá cà phê trong niên vụ mới theo chiều hướng tăng và xuất khẩu cà phê vẫn tiếp tục thuận lợi. Hiện giá FOB xuất khẩu cà phê robusta tại TP.HCM đang ở mức 1.690 USD/tấn, giá mua cà phê nhân tại Đắc Lắc 26.300đồng/kg. Tuy nhiên, theo phân tích của các chuyên gia thị trường, cà phê VN xuất khẩu đang ở vào tình trạng lượng tăng, giá thấp. Trong niên vụ 2006-2007 vừa qua, sản lượng cà phê xuất khẩu của cả nước đạt 844.000 tấn, tăng 74% so niên vụ trước, giá trị cả niên vụ đạt 1,4 tỉ USD.Tuy đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu cao nhưng giá cà phê xuất khẩu của VN vẫn thấp hơn các nước sản xuất cà phê khác khoảng 50-70 USD/tấn. Theo phó chủ tịch Hiệp hội Cà phê ca cao VN Đoàn Triệu Nhạn, nguyên nhân là do VN mua bán cà phê không theo qui trình, tiêu chuẩn của thị trường thế giới. Nông dân trồng cà phê vẫn chưa bỏ thói quen thu hái cà phê cả hạt xanh lẫn hạt chín, phơi và chế biến thủ công khiến chất lượng giảm. Cả người bán và người mua vẫn có thói quen sử dụng tiêu chuẩn cũ chỉ đánh giá chất lượng cà phê dựa trên ba tiêu chí là hàm lượng ẩm, hạt đen vỡ và tạp chất. Trong khi đó, tiêu chuẩn mới đánh giá theo số lỗi của hạt cà phê. Về khối lượng và kim ngạch xuất khẩu: Tỷ lệ cà phê xuất khẩu chiếm 90% sản lượng cà phê gieo trồng của cả nước. Tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu còn chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam (hàng năm chỉ chiếm dưới 10%). Mặt khác, cà phê xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là cà phê Rubusta (cà phê vối), sản lượng xuất khẩu tăng với tốc độ cao. So với lượng cà phê vối trên thị trường thế giới, Việt Nam chiếm tỷ trọng ngày càng lớn, trở thành nước đứng đầu về sản xuất và xuất khẩu loại cà phê này. Về thị trường xuất khẩu: Việt Nam đã mở rộng thị trường xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới như Đức: 17,8%; Mỹ: 13,8%; Anh: 12,7%; Bỉ: 7,3%; Tây Ba Nha: 6,9%; Italia: 5,6%; Nhật Bản: 3,2%... Tuy nhiên, điểm yếu nhất của việc xuất khẩu cà phê của Việt Nam là chất lượng cà phê. Trong thời gian qua, chất lượng cà phê Việt Nam đã không ngừng được nâng cao, song những chuyển biến đó mới chỉ là bước đầu, vẫn chưa thật ổn định và chưa phản ánh đúng bản chất vốn có của cà phê Việt Nam. Thực chất cà phê Việt Nam từ lâu được liệt vào loại có chất lượng tự nhiên cao và có hương vị đậm đà do được trồng ở độ cao nhất định so với mặt biển.Nhưng do yếu kém trong khâu thu hái, phơi sấy, chế biến... do đó ảnh hưởng đến chất lượng vốn có của nó. Điều đó đã làm giá bán cà phê Việt Nam thường thấp hơn cùng loại của nước ngoài từ 100-150 USD/tấn và dẫn đến tình trạng khối lượng xuất khẩu tăng nhưng kim ngạch thì không thay đổi nhiều. Mặt khác, chủng loại cà phê xuất khẩu của Việt Nam chưa phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của thị trường thế giới. Hiện nay, thị trường thế giới có nhu cầu lớn về cà phê ARABICA (chiếm 70-80% nhu cầu cà phê hàng năm), trong khi đó 65% diện tích cà phê ở Việt Nam lại là cà phê Rubusta. Vì vậy, trong thời gian tới chuyển đổi cơ cấu cà phê là vấn đề bức xúc cho việc sản xuất cà phê và xuất khẩu cà phê của Việt Nam. 1.2.2 Tình hình xuất khẩu rau quả của Việt Nam. Theo số liệu Hải quan, trong tháng 12/2007, xuất khẩu hàng rau quả của nước ta đạt 20,95 triệu USD, giảm trên 9% so với tháng 11/2007 và giảm trên 3% so với cùng kỳ năm 2006. Như vậy, trong năm 2007, kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả của nước ta đạt 259,08 triệu USD, tăng 10,02% so với năm 2006 và tăng 44,86% so với năm 2005. Trong 2 tháng đầu năm 2008, xuất khẩu hàng rau quả của nước ta sang các thị trường châu Á đang tăng mạnh, bên cạnh đó, nguồn cung trong nước cũng dồi dào hơn. Trong tháng 12/2007, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu hàng rau quả lớn nhất của nước ta với kim ngạch đạt 2,36 triệu USD, tăng trên 7% so với tháng 11/2007 nhưng vẫn giảm tới trên 40% so với cùng kỳ năm 2005. Cũng trong tháng 12/2007, xuất khẩu hàng rau quả của nước ta sang nhiều thị trường tăng mạnh như: Nga, Singgapore, Đức, Pháp, Malaixia, Anh… Ngược lại, xuất khẩu sang Đài Loan, Thái Lan, Hồng Kông, Hà Lan giảm mạnh so với tháng 11/2007. Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Nga và Mỹ lần lượt là năm thị trường xuất khẩu hàng ra._.ản xuất và xuất khâu nông sản năm 2008 Trong sản xuất và xuất khẩu nông sản cần phải chú ý đáp ứng 3 yêu cầu: +Góp phần quan trọng để ổn định mặt bằng giá lương thực đồng thời đảm bảo nông dân vẫn có lãi; +Đảm bảo giữ vững an ninh lương thực cho đất nước trong mọi tình huống, không để xảy ra tình trạng mất cân đối cục bộ; +Phải có biện pháp tiêu thụ được hết lúa hàng hóa của nông dân, không để nông dân bị thiệt thòi do rớt giá. Đồng thời nhằm đảm bảo an ninh lương thực trong năm 2008, chỉ xuất khẩu tối đa 3,5 - 4 triệu tấn gạo. Hiệp hội Lương thực Việt Nam chỉ đạo các doanh nghiệp xuất khẩu chưa ký thêm các hợp đồng mới và chỉ ký hợp đồng theo từng quý (quý III và quý IV), đồng thời cần nghiên cứu kỹ dự báo thị trường trước khi ký hợp đồng, tránh những bất lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu và đảm bảo có lợi cho nông dân. Thủy sản- lĩnh vực được nhận định còn nhiều tiềm năng phát triển và là mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Do đó cần tháo gỡ những vướng mắc để phát triển sản xuất và xuất khẩu. Cụ thể, hướng dẫn các địa phương phát triển sản xuất thủy sản theo đúng quy hoạch để phát triển bền vững; tập trung sản xuất các loại giống có chất lượng tốt, đủ cung cấp cho người nuôi trên tất cả các loại hình mặt nước, yêu cầu tổng cục Hải quan tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu, trước hết là cải tiến các thủ tục hành chính, đặc biệt là thủ tục tạm nhập tái xuất nguyên liệu chế biến thủy sản. 2. Định hướng phát triển xuất khẩu Nông sản phẩm của các địa phương và Thành phố Trong quá trình đổi mới về kinh tế, nông nghiệp là lĩnh vực đạt được những thành tựu hết sức to lớn. Sản xuất lương thực, chăn nuôi, rau quả và cây công nghiệp đều có những bước phát triển mạnh mẽ. Liên tục trong nhiều năm, nông nghiệp đạt mức tăng trưởng trên 4,5%/năm. Cùng với việc đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu thị trường nội địa, xuất khẩu nông sản cũng tăng nhanh cả về sản lượng và kim ngạch. Thị trường tiêu thụ nông sản đã được mở rộng, ngoài các khách hàng tiêu thụ truyền thống như Trung Quốc, ASEAN, Nga và các nước Đông Âu, nông sản Việt Nam cũng đã bước đầu thâm nhập thị trường Trung Đông, EU, Mỹ và châu Phi. Tuy nhiên, trong cơ cấu giá trị xuất khẩu hàng hoá, tỷ trọng trị giá hàng nông sản xuất khẩu còn chiếm vị trí khiêm tốn và có xu hướng giảm. Điều đáng quan tâm là sức cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế còn thấp kém, do vậy hiệu quả xuất khẩu chưa cao, chưa tạo được thế đứng vững chắn trên thị trường quốc tế. Lâu nay, xuất khẩu nông sản của các địa phương và thành phố chủ yếu phát triển theo số lượng trên cơ sở khai thác các khả năng sẵn có, mặt số lượng được coi trọng hơn mặt chất lượng. Đó chính là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho xuất khẩu nông sản của chúng ta tương xứng cới tiềm năng vốn có, chưa đáp ứng tốt nhu cầu của các thị trường khác nhau, hiệu quả xuất khẩu thấp và người sản xuất gặp khó khăn trong tiêu thụ hàng hoá. Việc hình thành một chiến lược phát triển có luận cứ khoa học được coi là điều kiện tiền đề để áp dụng các thành tựu tiến bộ khoa học và công nghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả xuất khẩu nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế. Chiến lược phát triển xuất khẩu nông sản trong điều kiện kinh tế thị trường phải xuất phát từ nhu cầu cụ thể của thị trường, bảo đảm khả năng đáp ứng tốt nhất nhu cầu thị trường về chủng loại, số lượng, chất lượng, thời gian và chi phí. Điều này hoàn toàn trái với tư duy kiểu cũ trong xây dựng chiến lược: dựa vào cơ sở khả năng để hoạch định phương hướng sản xuất. Trong quá trình hoạch định chiến lược phát triển nông nghiệp, phải coi trọng công tác dự báo nhu cầu trung hạn và dài hạn theo từng loại nông sản và theo từng khu vực thị trường để vừa có cơ sở định hướng phát triển sản xuất, vừa có chính sách thích ứng đảm bảo khả năng xâm nhập thị trường và củng cố vị thế của hàng hoá trên từng thị trường cụ thể. Chiến lược phát triển xuất khẩu nông sản phải hướng tới hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung nhằm tạo điều kiện đầu tư ứng dụng các thành tựu mới của khoa học và công nghệ, nâng cao chất lượng và giá trị nông sản hàng hoá. Chiến lược này phải được sử dụng như một trong những công cụ trọng yếu để Nhà nước định hướng phát triển sinh học và xây dựng các cơ chế chính sách thúc đẩy các nhà sản xuất đầu tư theo định hướng đó. Đầu tư nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ. Nâng cao trình độ khoa học và công nghệ là điều kiện cơ bản làm tăng sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường. Sự phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp trong những năm qua có phần đóng góp quan trọng của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ sinh học. Để khoa học và công nghệ góp phần tích cực vào phát triển xuất khẩu nông sản phẩm , trong những năm trước mắt cần chú trọng tập trung nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ cao vào việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, khai thác các lợi thế của từng vùng sinh thái cừa đảm bảo phát triển bền vững, vừa nâng cao năng suất, chất lượng, giảm giá thành, nâng cao sức cạnh tranh của nông sản, tăng giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích. Với từng vùng, từng loại cây trồng, vật nuôi, cần chú ý đổi mới công nghệ đồng bộ ở các khâu trước, trong và sau sản xuất theo hướng hiện đại. Đẩy mạnh việc phát triển công nghệ sinh học trong nông nghiệp bằng việc sử dụng các giống cây trồng và vật nuôi mới có năng suất, chất lượng cao bảo đảm được những tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm nghiêm ngặt nhất theo yêu cầu thị trường trong nước và quốc tế. Cùng với đó, cần hết sức coi trọng nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ vào khâu sau thu hoạch nhằm giảm tổn thất, nâng cao hiệu quả sản xuất đáp ứng tốt yêu cầu của người tiêu dùng. Ngoài việc hiện đại hoá kỹ thuật phơi sấy, cần chú trọng nghiên cứu các phương pháp bảo quản, đảm bảo đưa đến người tiêu dùnng những nông sản tươi sống hấp dẫn cảm quan bằng màu sắc, hương vị và bảo đảm tuyệt đối vệ sinh an toàn thực phẩm. Phát triển công nghiệp chế biến nông sản. Phát triển công nghiệp chế biến là cách nâng cao giá trị gia tăng của nông sản và thu hẹp tình trạng xuất khẩu sản phẩm thô, đồng thời tạo nên thị trường nội địa to lớn và ổn định cho sản xuất nông nghiệp. Hiện nay, công nghiệp chế biến nông sản của Việt Nam còn nhỏ bé, công nghệ lạc hậu, tỷ trọng nông sản chế biến trong tổng sản lượng sản xuất còn rất thấp. Để phát triển mạnh công nghiệp chế biến, cần giải quyết nhiều vấn đề, trong đó chủ yếu là: - Quy hoạch xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung, quy mô lớn theo định hướng xuất khẩu. Từ đó tập trung tập trung đầu tư thâm canh, ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ mới để đáp ứng tốt yêu cầu chế biến xuất khẩu. - Tăng cường đầu tư phát triển công nghiệp chế biến nông sản gần với vùng nguyên liệu. Có những chính sách ưu đãi kích thích sự tham gia của tất cả các thành phần kinh tế đầu tư phát triển công nghiệp chế biến xuất khẩu. Thực hiện song song 2 hướng: đầu tư đổi mới hiện đại hoá thiết bị công nghệ của các doanh nghiệp chế biến nông sản hiện có; đầu tư xây dựng các doanh nghiệp chế biến mới với trình độ công nghệ hiện đại. - Thiết lập và củng cố mối quan hệ giữa các chủ thể sản xuất nguyên liệu và chủ thể chế biến nguyên liệu nông sản. Vấn đề quan trọng là đề cao trách nhiệm và sự hợp tác của các bên trong việc thực hiện điều đã cam kết. Các giải pháp thị trường và hỗ trợ xuất khẩu - Trợ giúp nâng cao năng lực thị trường cho các chủ thể sản xuất nông sản. Chỉ khi nào bản thân người sản xuất hàng hoá có đầy đủ thông tin hiểu biết về thị trường và các quan hệ thị trường thì họ mới biết cách điều chỉnh sản xuất của mình theo yêu cầu của thị trường. Đây chính là mặt yếu của những người sản xuất hàng hoá ở nông thôn hiện nay. Do vậy, họ dễ bị điều tiết một cách tự phát bởi các quan hệ thị trường, dễ bị thua thiệt trong hành xử trên thị trường. Công tác khuyến nông, khuyến thương cần đặc biệt quan tâm đến việc cung cấp những kiến thức cơ bản về thị trường và nâng cao năng lực thị trường của các chủ thể sản xuất hàng hoá ở nông thôn. - Trợ giúp các chủ thể sản xuất nông sản xây dựng thương hiệu hàng hoá, trước hết với những cây, con đặc sản ở từng vùng. Đây vừa là cách thức thâm nhập và củng cố vị thế của hàng hoá trên thị trường quốc tế, vừa là cách thức hữu hiệu bảo vệ quyền lợi của ngưới sản xuất trong cạnh tranh quốc tế. - Tạo điều kiện công nghiệp các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tham gia trực tiếp vào việc tìm kiếm thị trường, khách hàng và tổ chức sự phối hợp hành động giữa các chủ thể ấy trong việc xử lý các tình huống khác nhau trên cùng một thị trường và cùng một loại hàng hoá. - Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại nông sản thông qua việc tham gia hội chợ triển lãm trong và ngoài nước, quảng bá hàng hoá và doanh nghiệp sản xuất hàng hoá, tiến tới thành lập các trung tâm giao dịch nông sản ở các vùng sản xuất hàng hoá tập trung… Liên kết quốc tế trong sản xuất và xuất khẩu nông sản. So với một số nước Đông Nam Á, Việt Nam có điều kiện tự nhiên và cơ cấu sản xuất nông nghiệp khá tương đồng, song các nước này lại có lợi thế hơn chúng ta ở trình độ khoa học công nghệ và kinh nghiệm hoạt động thương mại quốc tế. Trong điều kiện đó, để bảo đảm hiệu quả của xuất khẩu và nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản, cần coi trọng việc mở rộng quan hệ liên kết quốc tế trong cả sản xuất và xuất khẩu. Quan hệ liên kết này có thể bao gồm những nội dung chủ yếu sau: - Phối hợp trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ để tạo ra những giống cây trồng, vật nuôi có khả năng cạnh tranh cao; - Phối hợp xây dựng hệ thống dịch vụ kiểm dịch động thực vật xuất khẩu theo tiêu chuẩn quốc tế; - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển nông nghiệp và nông thôn. - Phối hợp các chính sách thương mại của các nước trong khu vực trong thực hiện hoạt động xuất khẩu nông sản; - Hình thành các hiệp hội theo ngành hàng để phối hợp hành động trên thị trường quốc tế. Thành phố Hồ Chí Minh đã đi đầu trong công tác định hướng phát triển xuất khẩu nông sản bằng chương trình xuất khẩu “ Hướng tới xuất khẩu nông sản phẩm ứng dụng công nghệ khoa hoc kỹ thuật, có hiệu quả kinh tế cao”.Theo đó,các mặt hàng nông - lâm - thủy sản được xem là trọng tâm xuất khẩu gồm: thủy hải sản, cà phê, gạo, rau quả, cao su, tiêu, chè, hạt điều, thực phẩm chế biến..., việc xuất khẩu hiện có xu hướng giảm dần do hạn chế về nguồn nguyên liệu, thị trường đòi hỏi chất lượng cao, vì vậy cần gia tăng hàm lượng chế biến để nâng cao giá trị xuất khẩu. Về mặt hàng chế biến thuỷ sản, dự kiến đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt 759 triệu USD (năm 2007 đạt 576,37 triệu USD). Hiện nay, do không còn lợi thế về nguồn cung cấp nguyên liệu và khó khăn trong vấn đề xử lý môi trường, đối với mặt hàng chế biến thuỷ sản,vì thế nên thành phố khuyến khích DN đầu tư phát triển theo chiều sâu bằng thiết bị và công nghệ tiên tiến, đa dạng hóa chủng loại sản phẩm, đảm bảo các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm, chú trọng sản xuất những sản phẩm tinh chế có giá trị gia tăng cao. Từ nay đến năm 2010, Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, châu Phi, Trung Quốc và Nam Mỹ vẫn là những thị trường nhập khẩu chính mặt hàng này. 3. Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu Nông sản phẩm của các địa phương và Thành phố trong những năm tới 3.1. Nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo của các cán bộ địa phương, nhằm quản lý có hiệu quả các chương trình và dự án của Nhà nước Ðẩy mạnh quá trình chuyển đổi, tích tụ ruộng đất, phát triển các loại hình kinh tế hợp tác, HTX và kinh tế trang trại để tạo điều kiện thích hợp cho việc đẩy mạnh CNH, HÐH nông nghiệp, nông thôn. Tiếp tục thực hiện các chương trình nâng cao năng suất đất đai, sử dụng hợp lý nguồn nước, áp dụng các mô hình sản xuất kết hợp nông, lâm, ngư nghiệp phù hợp điều kiện sinh thái của từng vùng nhằm sử dụng tổng hợp và có hiệu quả các nguồn tài nguyên đất, nước, khí hậu, điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn vốn đầu tư và lao động như: chương trình an ninh lương thực, thực phẩm, chương trình lúa chất lượng cao, chương trình ba giảm, ba tăng, chương trình khuyến nông... Mở rộng sản xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp sạch, chú trọng khâu kiểm tra chất lượng sản phẩm nhằm tạo niềm tin cho người tiêu dùng vào mức độ vệ sinh, an toàn của nông sản, thực phẩm khi sử dụng. Phối hợp, đề xuất với các ngành chức năng trong việc thúc đẩy công nghiệp chế biến các sản phẩm chăn nuôi và các sản phẩm rau quả để thúc đẩy ngành chăn nuôi và ngành sản xuất rau quả phát triển nhanh, bền vững. Ða dạng hóa cơ cấu sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực ngành nghề nông thôn nhằm tạo thêm việc làm tại chỗ, nâng cao thu nhập, phân công lại lao động nông thôn và tạo điều kiện cho việc định canh ổn định, giảm bớt sức ép di dân từ nông thôn ra thành thị. Nghiên cứu để hình thành mạng lưới làm công tác tư vấn, đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật nhằm phát triển ngành nghề và các làng nghề truyền thống ở nông thôn, hạn chế khả năng gây ô nhiễm. Hỗ trợ nhân dân trồng và bảo vệ rừng, sử dụng có hiệu quả đất rừng được giao khoán. Khuyến khích cải thiện đời sống thông qua sử dụng bền vững rừng và quản lý theo các nhóm cộng đồng dân cư. Trao các hợp đồng bảo vệ rừng cho các cá nhân, hộ gia đình, các nhóm cộng đồng dân cư để bảo đảm công tác bảo vệ và quản lý phù hợp các khu rừng phòng hộ ven biển; tăng cường quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững các khu rừng đặc dụng do Nhà nước quản lý và các vườn chim tư nhân để phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, phát triển du lịch sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học. Áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp (nông học, hóa học, cơ học...) và đầu tư thâm canh sử dụng đất theo chiều sâu. Phổ cập các mô hình canh tác hợp lý  (lúa - màu; lúa - cá, tôm; rừng - tôm; tôm - rừng...) để thực hiện tuần hoàn hữu cơ trong đất; thực hiện quản lý tốt lưu vực để bảo vệ đất và nước, phát triển hệ thống thủy lợi, giữ cân bằng sinh thái và điều hòa các tác động lẫn nhau giữa ba tiểu vùng sinh thái trong tỉnh và các tỉnh trong khu vực bán đảo Cà Mau. Nghiên cứu và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học về giống mới có năng suất, chất lượng và sức chống chịu sâu bệnh cao, không bị thoái hóa, không làm tổn hại đến tính đa dạng sinh học. Mở rộng việc sản xuất nông nghiệp hữu cơ, thực hiện phổ cập quy trình phòng trừ tổng hợp (IPM) trong sản xuất lúa, rau màu, cây ăn trái... và quy trình ba giảm, ba tăng trong sản xuất lúa. Khuyến khích nông dân sử dụng phân bón hữu cơ, phân bón vi sinh, phân bón phân giải chậm phục vụ phát triển nền nông nghiệp sinh thái. Bảo tồn nguồn gien giống cây trồng, vật nuôi của địa phương. Ðẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng công nghệ tiên tiến để bảo quản, chế biến nông, lâm, thủy sản. Nghiên cứu, áp dụng các giải pháp kỹ thuật phòng và chống cháy rừng và các thảm họa môi trường liên quan  việc mất rừng (xói lở bờ biển, triều cường, xâm nhập mặn...); khuyến khích việc nghiên cứu và áp dụng các tri thức bản địa trong việc sử dụng và bảo tồn đa dạng sinh học; thực hiện xóa đói giảm nghèo, phát triển bền vững trong nông nghiệp, nông thôn. 3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng nông sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của Nông sản các tỉnh và Thành phố Nước ta đang đứng trước những thách thức là tốc độ đô thị hóa tại khu vực và trên thế giới ngày càng tăng, thu nhập của nhân dân các nước cũng ngày càng tăng dẫn đến khẩu phần gạo trong bữa ăn giảm ( làm cho xuất khẩu lương thực không tăng mạnh như hiện nay). Trên thị trường, mặt hàng lương thực, thực phẩm chuyển vào các siêu thị sẽ tăng mạnh. Việc bày bán lương thực, thực phẩm tại các chợ nhỏ lẻ sẽ bị thu hẹp. Hệ thống sản xuất lương thực trên thế giới cũng không còn nhỏ lẻ. Điều này không phù hợp với tập quán sản xuất và hệ thống phân phối ở nước ta hiện nay là vẫn còn sản xuất manh mún. Phần lớn các doanh nghiệp thích mua hàng trôi nổi, tìm nơi bán rẻ nhất thì mua. Nông dân thích bán hàng cho thương lái hơn là cho doanh nghiệp. Giữa nông dân và doanh nghiệp còn ít gắn bó, thậm chí mất lòng tin với nhau. Thị trường thế giới hiện nay cần hàng hóa chất lượng cao, đồng nhất, khối lượng lớn, giao hàng cùng một thời điểm với giá cả cạnh tranh. Đây là những yêu cầu mà ta chưa đáp ứng tốt. Trong quá trình hội nhập với thế giới, nhiều qui định và điều lệ mới về đăng ký gia nhập và kiểm soát sản phẩm sẽ được áp dụng trong khi nông dân ta chưa sẵn sàng. Ngoài ra, nông dân nước ta còn phải đối phó với qui định tự do mậu dịch... Cần đẩy mạnh hơn nữa công tác hợp tác hóa trong nông nghiệp; thay đổi mạnh hơn hệ thống sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, thâm canh với qui mô ngày càng lớn hơn. Chính sách cần có là tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nông dân, giúp nông dân tham gia vào hệ thống sản xuất lớn. Cái tối cần thiết hiện nay là hiện đại hóa nông nghiệp trong khuôn khổ phát triển nông thôn mới để nông dân đủ điều kiện sản xuất hàng đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Nhà nước cần ban hành chính sách về an toàn thực phẩm; mở rộng sản xuất nông thủy sản sạch; mở rộng hợp tác trong khu vực để củng cố tính cạnh tranh của nông sản. Riêng vùng đồng bằng sông Cửu Long cần phát huy thế mạnh các cây trồng đặc sản triển vọng như: xoài, bưởi, vú sữa, sầu riêng, cam... các loại cây gia vị, các loại tôm, cá nước ngọt, lợ, mặn. Nhà nước cần quy hoạch kế hoạch sử dụng đất, hình thành các vùng nguyên liệu tập trung gắn với tăng cường xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu, nhằm từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam trong thời gian tới. 3.2.1. Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu nông sản của Đắc Lắc Ðắc Lắc đã đề ra các giải pháp xuất khẩu tập trung vào những mặt hàng thế mạnh của địa phương, đẩy mạnh quảng bá những sản phẩm có giá trị cao thông qua các hội chợ. Mặt hàng cà-phê chiếm gần 90% kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, năm nay dự kiến xuất 300 nghìn tấn sang các thị trường Nhật Bản, Mỹ, Hà Lan, Singapore... và các nước khác. Mật ong, mặt hàng cũng đang dần có uy tín với thế giới, Ðắc Lắc xuất khẩu 5.000 tấn, chủ yếu sang thị trường Mỹ, Ðức, Hồng Công. Cao-su trong năm qua đã mang lại kim ngạch xuất khẩu đứng vào hàng thứ hai của tỉnh; năm nay, dự kiến xuất khẩu từ 16 đến 18 nghìn tấn. Thời gian qua, các ngành chức năng trong tỉnh đã tổ chức, tham gia nhiều cuộc hội trợ, triển lãm trong và ngoài nước nhằm quảng bá sản phẩm trong tỉnh. Những hoạt động này giúp Ðắc Lắc có nhiều bạn hàng, đẩy nhanh xuất khẩu. Ngoài ra UBND tỉnh còn tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong hợp tác kinh tế quốc tế, xúc tiến thương mại và động viên, hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng thương hiệu. Ðắc Lắc tiếp tục sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước nhằm nâng cao tính kinh doanh trong các mặt hàng xuất khẩu, giúp các doanh nghiệp đủ mạnh để nâng cao chất lượng mặt hàng, đủ vốn để mở rộng thị trường và xúc tiến thương mại với các đối tác nước ngoài. Củng cố hệ thống thu mua, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp giữ vai trò chủ đạo của mình trong lĩnh vực xuất khẩu. Tổ chức triển khai chương trình phát triển xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ từ nay đến năm 2010, Ðắc Lắc tiến hành khảo sát, đánh giá khả năng cạnh tranh của các nhóm mặt hàng có lợi thế nhằm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, hỗ trợ xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu để các doanh nghiệp này đủ sức vươn lên, tập trung vào những mặt hàng cà-phê, hồ tiêu, tinh bột sắn, gỗ... chú trọng xây dựng tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa. Ðắc Lắc quan tâm đào tạo một đội ngũ cán bộ có nghiệp vụ trong xuất khẩu, trước hết là tập huấn cho các doanh nghiệp về giao dịch, khảo sát thị trường, để đẩy nhanh công tác xúc tiến thương mại. Với những giải pháp cụ thể, hàng hóa nông sản ở Ðắc Lắc sẽ có mặt ngày càng nhiều trên thị trường thế giới. 3.2.2. Giải pháp nâng cao chất lượng nông sản thông qua xây dựng các chỉ dẫn địa lý, nhằm nâng cao giá trị kinh tế cho sản phẩm gạo Tám Nam Định VN là một nước nông nghiệp truyền thống, và nông sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của VN. Tuy nhiên, để nâng cao năng lực cạnh tranh cho nông sản VN đang là vấn đề vướng mắc chưa tìm được giải pháp tháo gỡ. Việc bảo hộ và khai thác chỉ dẫn địa lý cho nông sản được coi là một hướng đi hiệu quả nhằm nâng cao cạnh tranh cho sản phẩm, nâng cao giá trị kinh tế - xã hôi, đồng thời giúp phát triển bền vững nông nghiệp - nông thôn vùng sản xuất sản phẩm. Tại VN, trong thời gian qua, một số địa phương, tổ chức cũng đã triển khai các hoạt động xây dựng, quản lý chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm và đã thu được những thành quả nhất định. Tuy nhiên, việc sử dụng chỉ dẫn địa lý như một công cụ bình ổn chất lượng và nâng cao năng lực cạnh tranh cho nông sản VN còn nhiều hạn chế. Hiệu quả từ xây dựng chỉ dẫn địa lý Huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định là nơi nổi tiếng từ lâu với sản phẩm gạo Tám xoan. Gạo Tám được trồng ở vùng này có hạt trắng, cơm dẻo, mùi thơm và luôn được người tiêu dùng trên cả nước ưa chuộng. Mặc dù đặc sản Tám xoan đã đưa Hải Hậu trở thành địa danh nổi tiếng, nhưng thời gian qua, người dân địa phương lại không mặn mà và tâm huyết với việc trồng và kinh doanh sản phẩm này, diện tích trồng lúa Tám xoan chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng diện tích lúa của cả huyện. Nguyên nhân chủ yếu là người nông dân sản xuất đặc sản này không có lãi bằng các giống lúa mới cho năng suất cao như Tám tiêu, Tám ngố và cả Bắc hương của Trung Quốc. Đứng trước đòi hỏi cần phải bảo tồn, phát triển giống lúa Tám xoan, phát triển kinh tế - xã hội thông qua cây trồng này, hàng loạt biện pháp nhằm bình ổn và nâng cao chất lượng cho sản phẩm, hỗ trợ nông dân về kỹ thuật, giống, vốn, tiêu thụ sản phẩm, góp phần bảo tồn, phát triển giống lúa Tám xoan cổ truyền đã được triển khai. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nam Định đã phối hợp với Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp VN xây dựng, chuẩn hóa và hỗ trợ bà con áp dụng mô hình quản lý sản phẩm cho tất cả các giai đoạn từ gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch cho đến các hoạt động thu mua, chế biến, đóng gói, tiếp thị, tiêu thụ. Song song với việc xây dựng hệ thống quản lý canh tác và thương mại cho sản phẩm, ngày 8/6/2006, Hiệp hội Gạo Tám xoan Hải Hậu đã có đơn gửi Cục SHTT đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý ''Hải Hậu'' cho sản phẩm gạo Tám xoan. Ngày 31/5/2007 vừa qua, chỉ dẫn địa lý ''Hải Hậu'' cho sản phẩm gạo Tám xoan đã chính thức được Cục SHTT công nhận bảo hộ. Với việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý, giá trị kinh tế của sản phẩm gạo Tám xoan mang chỉ dẫn địa lý ''Hải Hậu'' đã được nâng lên đáng kể: những hộ nông dân trước đây canh tác lúa tám quy mô nhỏ đã gia nhập vào Hiệp hội, cùng tiến hành việc canh tác, chế biến lúa tám theo 1 quy trình chuẩn. Người dân được hỗ trợ, hướng dẫn về kỹ thuật; sản phẩm được tiêu thụ theo kênh thị trường riêng, do đó, giá bán gạo cao hơn giá bán theo kênh phân phối tự do từ 800 - 1.000 đ/kg... Nhờ đó, các giống lúa tám truyền thống được bảo tồn và phát triển. Hiện nay, chỉ có duy nhất sản phẩm gạo Tám xoan mang chỉ dẫn địa lý ''Hải Hậu'' của Hiệp hội là tuân thủ các quy định của tên gọi xuất xứ. Có thể nói gạo Tám xoan là sản phẩm đầu tiên của nông nghiệp VN thực hiện xây dựng tên gọi xuất xứ theo thể thức mới, đặc biệt là xây dựng được hệ thống quản lý chất lượng trong quá trình sản xuất, chế biến và thương mại. 3.3. Giải pháp về thị trường xuất khẩu Khi Việt Nam hòa nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới thì việc xuất khẩu hàng nông sản sẽ không giản đơn như lâu nay chúng ta vẫn làm. Xu hướng phát triển của thị trường nông sản thế giới sẽ chịu tác động lớn của các cuộc thương lượng mậu dịch mang tầm quốc tế. Việc nông sản Việt Nam phải cạnh tranh với các sản phẩm nông nghiệp của các nước thành viên của WTO cả ở thị trường trong và ngoài nước là điều không phải bàn cãi. Sản xuất nông nghiệp vẫn lạc hậu, năng suất, chất lượng sản phẩm thấp, chi phí cao và nhất là sự yếu kém của ngành công nghiệp chế biến sẽ là những thách thức rất lớn của nông sản Việt Nam. Theo cam kết gia nhập WTO, mức thuế nông nghiệp bình quân của Việt Nam sẽ là 21% và lộ trình cắt giảm từ 3 - 7 năm (tùy từng nhóm hàng). Điều đáng chú ý là trong quá trình sản xuất, sản phẩm nông nghiệp Việt Nam phải có chứng chỉ an toàn để chứng minh mặt hàng này luôn đảm bảo an toàn vệ sinh, chẳng hạn như chứng chỉ xác định nguồn gốc giống (chứng chỉ xác nhận giống không thuộc loại cây biến đổi gen), chứng chỉ báo cáo chất lượng (hàm lượng protein, chống oxy hóa...).Cách tiếp cận thị trường nước ngoài của hàng nông sản Việt Nam từ trước đến nay vẫn theo kiểu truyền thống là chủ yếu, chưa có được những quy trình kiểm định nghiêm ngặt. Tuy nhiên, xét trên bình diện bền vững thì chính những thách thức hôm nay, là cơ hội cho chúng ta khẳng định mình trong tương lai. Những người có trách nhiệm liên quan đến việc sản xuất, chế biến cũng như xuất khẩu ngành hàng này sẽ phải vận hành công việc của mình bằng tư duy của thời hội nhập. Theo đánh giá của Bộ NN&PTNT, thị trường xuất khẩu nông sản của Việt Nam trong những năm qua đã được mở rộng đáng kể. Ngoài các thị trường truyền thống như Trung Quốc, ASEAN, Nga, các nước Đông Âu, hàng hóa nông sản Việt Nam bước đầu đã thâm nhập vào những thị trường đầy tiềm năng và cũng rất khó tính như EU, Mỹ... Các chuyên gia kinh tế nhận định, nếu chúng ta biết khẳng định thương hiệu trên thị trường truyền thống và “đột phá vùng đất mới”, thì xuất khẩu nông sản của Việt Nam sẽ gặt hái được những thành công đáng kể. Theo dự báo, trong những năm tới, các thị trường nhập khẩu nông sản của Việt Nam đều có khả năng tăng kim ngạch nhập khẩu. Theo đó, đối với thị trường Trung Quốc, kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam sẽ tăng từ 400 - 500 triệu USD/năm hiện nay lên 700 - 800 triệu USD/năm, gồm các mặt hàng chủ yếu là cao su, hạt điều, tinh bột sắn. Đối với thị trường Mỹ, hiện nay, kim ngạch xuất khẩu hàng nông, lâm sản của chúng ta mới chiếm khoảng 0,4 -0,5% tổng kim ngạch nhập khẩu nông, lâm sản của nước này. Đây thực sự là một con số khiêm tốn so với tiềm năng hiện có của ngành nông sản Việt Nam cũng như nhu cầu nhập khẩu của thị trường Mỹ. Sỡ dĩ khả năng thâm nhập thị trường Mỹ của hàng nông sản Việt Nam còn hạn chế, chính là do năng lực cạnh tranh kém, vấn đề này cần được nhanh chóng giải quyết nếu không, hàng nông sản của chúng ta không thể thâm nhập vào những thị trường lớn mất đi những hợp đồng lớn. Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang các nước thuộc khối ASEAN vẫn luôn phập phù, dao động từ 400 - 900 triệu USD/năm với mặt hàng chủ yếu là gạo. Theo dự báo, Hiệp định AFTA sẽ tạo cơ hội để nước ta xuất khẩu cà phê, vật tư, thiết bị phục vụ công nghiệp chế biến sang khu vực này. Hội nhập kinh tế quốc tế là cả một quá trình lâu dài, ở đó cơ hội và thách thức luôn song hành với nhau. Không có con đường nào khác, nếu muốn thâm nhập thị trường quốc tế, hàng nông sản Việt Nam phải khẳng định được khả năng cạnh tranh của mình. Trách nhiệm đó không chỉ phó thác cho những nhà sản xuất, nhà chế biến, mà còn cả những cơ quan hoạch định chiến lược quốc gia. Để cùng cả nước hướng tới mục tiêu 7-8 tỷ USD xuất khẩu nông sản, Thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu Nông sản như: - Đẩy mạnh việc triển khai các chương trình giống, công nghệ sinh học, cải thiện năng suất, chất lượng sản phẩm, đổi mới thiết bị, công nghệ sau thu hoạch tăng tỷ lệ nông sản chế biến và giá trị gia tăng. - Phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ thương mại nông sản: đường giao thông, hệ thống chợ bán buôn, trung tâm giới thiệu hàng hoá... - Phát triển hệ thống thông tin thị trường nông sản. - Thúc đẩy các hoạt động xúc tiến thương mại: tổ chức các triển lãm, hội chợ trong nước và ngoài nước, các cuộc thi sản phẩm vv... Hướng dẫn các doanh nghiệp về thương mại điện tử, xây dựng các trang web về nông sản. - Lập Hiệp hội ngành hàng . - Mở rộng hợp tác song phương, đa phương, đàm phán mở thị trường cho các hoạt động xuất nhập khẩu. 3.4. Thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng khoa học vào thực tiễn, hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp trình độ cao Xây dựng các đề án phát triển nông nghiệp trình độ cao, đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ nhằm nâng cao chất lượng Nông sản phẩm, nhằm nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nông sản, thực phẩm: - Công nghệ sơ chế: Đẩy mạnh nghiên cứu, áp dụng công nghệ trong sơ chế, phân loại, làm sạch, đóng gói với những loại bao bì thích hợp, màng thông minh nhằm tạo ra các nông phẩm chất lượng cao, ổn định và đồng nhất phục vụ xuất khẩu và nhu cầu trong nước. Tập trung giải quyết các công nghệ có quy mô nhỏ và vừa phục vụ yêu cầu sơ chế tại chỗ của các hộ, nhóm hộ, nhằm cung cấp nguyên liệu có chất lượng tốt cho các cơ sở chế biến tập trung. - Công nghệ bảo quản: Chú trọng phổ cập các công nghệ làm khô lúa và hoa màu sau thu hoạch. Tiếp thu và phổ cập các công nghệ bảo quản lạnh, công nghệ an toàn thực phẩm để bảo quản rau, hoa, quả tươi, các mặt hàng thủy sản, các sản phẩm chăn nuôi phục vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Nghiên cứu sử dụng chất bảo quản sinh học, chất bảo quản có nguồn gốc tự nhiên, từng bước thay thế chất bảo quản hóa học có tính độc cao. - Công nghệ chế biến: Tận dụng mọi khả năng để tiếp cận các công nghệ chế biến tiên tiến phù hợp để đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh trên thị trường trong, ngoài nước. Đặc biệt, cần chú trọng nâng cấp, hiện đại hóa công nghệ chế biến đối với một số sản phẩm có lợi thế và có triển vọng xuất khẩu của nước ta như: gạo, thủy sản, cà phê, chè, điều, cao su, sản phẩm thịt, sữa, rau, quả, nước quả, dầu thực vật v.v... - Hiện đại hóa hệ thống kiểm tra chất lượng nông sản, thực phẩm chế biến theo công nghệ tương hợp với tiêu chuẩn quốc tế và khu vực nhằm đáp ứng yêu cầu chất lượng hàng xuất khẩu và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong nước. Những công nghệ nêu trên có thể được nâng cấp theo các phương thức sau: - Đối với dây chuyền công nghệ tương đối phức tạp, vượt quá khả năng tự tạo trong nước, cần làm tốt khâu lựa chọn, tiếp nhận và làm chủ công nghệ nhập từ ngoài. - Đối với những công nghệ không quá phức tạp, có nhu cầu lớn trong nước, cần liên kết lực lượng trong nước, tập trung giải quyết đồng bộ từ nghiên cứu đến phát triển để có công nghệ ổn định, giá cả hợp lý, có thể sớm phổ biến và nhân rộng trong thực tiễn. ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc10032.doc
Tài liệu liên quan