Báo cáo Lâp và kiểm tra kết quả kinh doanh của Doanh nghiệp

Lời mở đầu Trong nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay, một doanh nghiệp muốn hoạt đông hiệu quả và trở thành người chiến thắng trên thương trường thì doanh nghiệp đó phải biết rõ mình là ai? hoạt động như thế nào? hiệu quả kinh tế và tình hình tài chính ra sao? Để làm được điều đó thì họ phải có trong tay những công cụ quản lý hữu hiệu. Một trong những công cụ đó là các thông tin trên báo cáo tài chính. Sau mỗi chu kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiêp phải lập báo cáo tài chính

doc28 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1407 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Báo cáo Lâp và kiểm tra kết quả kinh doanh của Doanh nghiệp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
nhằm tổng hợp đánh giá một cách khái quát tình hình tài sản, công nợ, nguồn vốn và tình hình tài chính. Trên cơ sở những số liệu phản ánh trên báo cáo tài chính, doanh nghiệp sẽ đánh giá được thực trạng tình hình tài chính của mình đồng thời phân tích những nhân tố ảnh hưởng tới quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và tìm ra những giải pháp thích hợp để khắc phục cho những kỳ kinh doanh tiếp theo. Báo cáo tài chính không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp mà nó còn là đối tượng quan tâm của các nhà đầu tư, các nhà cho vay, các nhà cung cấp, ngân hàng, người lao động... Mỗi đối tượng quan tâm đến báo cáo tài chính của doanh nghiệp dưới một góc độ khác nhau. Song tất cả đều có một mục đích chung là nắm được thực trạng của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để dưa ra quyết định cuối cùng của mình. Tuy nhiên, các thông tin trên báo cáo tài chính chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó phản ánh chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp. Vì vậy, việc kiểm tra báo cáo tài chính là công việc cần thiết đầu tiên để đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc xét duyệt báo cáo quyết toán, đồng thời tạo niềm tin cho người sử dụng báo cáo tài chính. Về thực chất, kiểm tra báo cáo tài chính bao gồm những phương pháp phân tích, khảo sát, so sánh đối chiếu một cách có hệ thống các thông tin, dữ liệu qua các tài liệu, báo cáo và sổ sách kế toán nhằm phát hiện và sửa chữa những sai lầm, bảo đảm tính chính xác của số liệu. Có thể nói, so với hệ thống báo cáo tài chính áp dụng trong các doanh nghiêp trước đây, hệ thống báo cáo tài chính hiện hành là một bước đột phá căn bản. Hệ thống biểu mẫu đã được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán quốc tế. Số lượng báo cáo kế toán giảm đáng kể, việc lâp và xét duyệt đơn giản ít tốn kém về thời gian. tuy nhiên hệ thống báo cáo tài chính hiện hành vẫn chưa thực sự hoàn chỉnh, biểu mẫu vẫn còn quá cồng kềnh, phức tạp, chưa thực sự phù hợp với trình độ quản lý của Việt Nam.Trong phạm vi đề án này, em xin đi sâu vào việc lâp và kiểm tra báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Đề án này gồm hai phần: Phần I: Cơ sở lý luận về báo cáo tài chính. Phần II: Thực trạng và hướng hoàn thiện báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Phần I: Cơ sở lý luận về báo cáo tài chính Báo cáo tài chính không chỉ là đối tượng nghiên cứu của kế toán tài chính mà còn là đối tượng nghiên cứu của khoa học phân tích hoat động kinh doanh. Để tiến hành phân tích tình hình tài chính, người phân tích phải sử dụng rất nhiều tài liệu khác nhau, trong đó chủ yếu là các báo cáo tài chính. Báo cáo tài chính là nguồn thông tin hữu ích đối với việc quản trị doanh nghiệp và cũng là nguồn thông tin quý giá đối với người ngoài doanh nghiệp. báo cáo tài chính không những cho biết tình hình tài chính của doanh nghiệp tại một thời điểm mà còn cho biết những kết quả mà doanh nghiệp đó đạt được trong một kỳ kinh doanh. Thông qua việc phân tích tình hình tài chính, người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro trong tương lai. Bởi vậy, việc phân tích tình hình tài chính là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau. Mục đích quan trọng nhất của phân tích báo cáo tài chính là giúp những người sử dụng thông tin tài chính đưa ra quyết định tối ưu. Tuy nhiên, đối với môn học “kế toán công trong các đơn vị hành chính sự nghiệp” thì báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp thông tin về tình hình tài sản, tình hình cấp phát, tiếp nhận ngân sách của nhà nước, kinh phí viện trợ và tình hình sử dụng từng loại kinh phí. Ngoài ra, các đơn vị sự nghiệp kinh tế và các đơn vị có tiến hành hoạt động kinh doanh còn phải tổng hợp tình hình thu chi và kết quả của từng hoạt động sự nghiệp, hoạt động kinh doanh trong kỳ kế toán. Nói cách khác, báo cáo tài chính là những phương tiện trình bày việc tiếp nhận và sử dụng kinh phí cũng như khả năng sinh lời và thực trạng tài chính của đơn vị cho những người quan tâm. Bên cạnh đó, báo cáo tài chính còn cung cấp các thông tin kinh tế tài chính cần thiết cho việc kiểm tra, kiểm soát các khoản chi theo từng nguồn kinh phí, cung cấp thông tin cho việc quản lí tài sản của nhà nước, tổng hợp, phân tích, đánh giá các hoạt động của mỗi đơn vị nói riêng và toàn xã hội nói chung. Từ đó, chính phủ có cơ sở để khai thác các nguồn thu, điều chỉnh các khoản chi một cách hợp lý đồng thời định ra đường lối phát triển xã hội lành mạnh và đúng đắn. Đối với các đơn vị cơ sở, báo cáo tài chính là nguồn thông tin đáng tin cậy, là cơ sở cho việc lập kế hoạch kinh phí cho mỗi kỳ hoạt đông một cách hợp lý. Ngoài ra nó còn giúp cho các đơn vị phân tích được xu hướng phát triển, từ đó định ra chiến lược phát triển và biện pháp quản lý tài chính ở đơn vị. Tuy nhiên, chúng ta hãy cùng xem xét báo cáo tài chính dưới giác độ là đối tượng nghiên cứu của kế toán tài chính. I. Khái quát chung về hệ thống báo cáo tài chính. 1.Khái niệm, nội dung, bản chất của báo cáo tài chính Báo cáo kế toán là kết quả của công tác kế toán trong một kỳ kế toán. Nó cung cấp thông tin một cách toàn diện về tình hình tài sản, nguồn vốn cũng như kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ kế toán đó. Báo cáo kế toán là nguồn thông tin quan trọng không chỉ cho doanh nghiệp mà còn cho nhiều đối tượng khác ở bên ngoài có quyền lợi trực tiếp hoặc gián tiếp đối với hoạt động của doanh nghiệp trong đó có các cơ quan chức năng của nhà nước. Báo cáo kế toán của doanh nghiệp được phân thành báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị. Báo cáo tài chính là một phân hệ thuộc báo cáo kế toán cung cấp thông tin về tài sản, nguồn vốn, tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp để phục vụ cho yêu cầu quản lý của doanh nghiệp cũng như của các đối tượng khác ở bên ngoài nhưng chủ yếu là phục vụ cho các đối tượng ở bên ngoài. Báo cáo tài chính là báo cáo bắt buộc được nhà nước thống nhất về danh mục các báo cáo, biểu mẫu, hệ thống chỉ tiêu, phương pháp lập, nơi gửi báo cáo, thời gian gửi các báo cáo. Báo cáo tài chính được quy định cho doanh nghiệp gồm 4 biểu mẫu báo cáo. - Bảng cân đối kế toán. - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ. - Thuyết minh báo cáo tài chính. * Bảng cân đối kế toán: là báo cáo kế toán chủ yếu phản ánh tổng quát tình hình tài sản, nguồn vốn chủ yếu của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định dưới hình thái tiền tệ. Số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu của tài sản: nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn hình thành các tài sản đó. Căn cứ vào bảng cân đối kế toán có thể nhận xét đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp. * Báo cáo kết quả kinh doanh: là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh khái quát tình hình và kết quả kinh doanh trong một kỳ kế toán của doanh nghiệp, tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước về thuế và các khoản phải nộp khác. Báo cáo kết quả kinh doanh gồm 3 phần chính: + Phần I: Báo cáo lãi lỗ. + Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước. + Phần III: Thuế GTGT được khấu trừ, thuế GTGT được hoàn lại, thuế GTGT được giảm, thuế GTGT hàng bán nội địa. * Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: là báo cáo tài chính tổng hợp và phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh theo các hoạt động khác nhau. * Thuyết minh báo cáo tài chính: là một bộ phận hợp thành hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp, được lập để giải thích và bổ sung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các báo cáo tài chính khác không thể trình bày rõ ràng, chi tiết được. Thuyết minh báo cáo tài chính trình bày khái quát đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp. Nội dung một số chế độ kế toán được doanh nghiệp chọn để áp dụng, tình hình và lý do biến động của một số đối tượng tài sản và nguồn vốn quan trọng, phân tích một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu và các kiến nghị của doanh nghiệp. 2 - Mục đích, ý nghĩa của báo cáo tài chính: - Sau mỗi chu kỳ hoạt động sản suất kinh doanh, các doanh nghiệp lập báo cáo tài chính nhằm tổng hợp, đánh giá một cách khái quát tình hình tài sản, công nợ, nguồn vốn và tình hình tài chính của doanh nghiệp. - Báo cáo tài chính không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với chủ doanh nghiệp mà còn là nguồn thông tin chính đối với các chủ ngân hàng, các nhà đầu tư, nhà cung cấp... Mỗi nhóm người có nhu cầu thông tin khác nhau do vậy họ có xu hướng tập trung vào những khía cạnh riêng trong bức tranh tài chính của doanh nghiệp. + Đối với chủ doanh nghiệp, mối quan tâm hàng đầu của họ là kinh doanh có lãi và thanh toán được những khoản nợ đến hạn. Vì một doanh nghiệp nếu lỗ liên tục trong nhiều năm thì rốt cuộc cũng sẽ khánh kiệt và tất yếu dãan tới phá sản. Ngược lại, dú doanh nghiệp đó kinh doanh có lãi mà không thanh toán kịp các khoản nợ đến hạn thì cũng sẽ bị đóng cửa. Không những thế, các chủ doanh nghiệp còn phải giải quyết các vấn đề về nâng cao chất lượng sản phẩm, cung cấp hàng hoá với chi phí thấp, giải quyết công ăn việc làm cho công nhân...Như vậy, hơn ai hết, chính những người chủ doanh nghiệp cần phải nắm rõ các thông tin để có thể đánh giá thực trạng tình hình tài chính của mình, xem xét khả năng thanh toán, khả năng sinh lời, đánh giá những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hoạt động và dự đoán tình hình tài chính nhằm đề ra quyết định đúng đắn. + Đối với các chủ ngân hàng, những người cho vay tín dụng thì mối quan tâm của họ là khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Không có một chủ ngân hàng nào dám mạo hiểm cho vay tiền nếu họ không biết chắc rằng khoản tiền của họ sẽ được thanh toán khi đến hạn. Vì vậy, họ đặc biệt chú trọng tới lượng tiền và các tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền. Đồng thời, so sánh với số nợ ngắn hạn họ sẽ xác định được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp. Như vậy, các thông tin trên báo cáo tài chính đã giúp những người cho vay tín dụng, các chủ ngân hàng đưa ra quyết định liệu có nên cho doanh nghiệp vay tiền hay không. + Đối với nhà cung cấp vật tư, thiết bị, hàng hoá, dịch vụ họ phải đánh giá khẳ năng tài chính của khách hàng để quyết định xem liệu có cho phép khách hàng được thanh toán chậm hay không. + Đối với các nhà đầu tư, điều mà họ quan tâm là liệu số tiền họ đầu tư vào doanh nghiệp có đem lại cho họ thu nhập không. Vì vậy, các nhà đầu tư rất quan tâm tí khả năng điều hành hoạt động của các nhà quản trị, tính hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh các kỳ trước. Những điều đó sẽ giúp các nhà đầu tư tránh được rủi ro đồng thời phát huy hiệu quả của đồng vốn mà mình bỏ ra. + Đối với các cơ quan chủ quản tài chính, cơ quan thuế, cục thống kê, báo cáo tài chính của doanh nghiệp là tài liệu quan trọng trong việc kiểm tra, giám sát, hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện các chính sách, chế độ, thể lệ về tài chính kế toán. Có thể nói, báo cáo tài chính là một công cụ quan trọng trong quản lý kinh tế của các doanh nghiệp, các ngành và toàn bộ nền kinh tế quốc dân. 3 - Tiêu chuẩn của thông tin trên báo cáo tài chính: Để thông tin trên báo cáo tài chính thực sự hữu ích thì báo cáo tài chính phải đạt được các tiêu chuẩn sau: - Tính dễ hiểu: đây là đặc tính chủ yếu của thông tin trên báo cáo tài chính. Người sử dụng báo cáo tài chính đều là những người có kiến thức về kinh doanh và hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, những thông tin về các vấn đề phức tạp được trình bày trên báo cáo tài chính phải rõ ràng, tránh lẫn lộn khó hiểu. - Tính thích hợp: các thông tin phải thích hợp với những nhu cầu đề ra quyết định kinh tế của người sử dụng. Các thông tin chỉ thích hợp khi chúng giúp người sử dụng đánh giá được các sự kiện quá khứ, hiện tại, tương lai hoặc chỉnh lý xác nhận các đánh giá trong quá khứ của họ. Tính thích hợp của thông tin còn chịu ảnh hưởng bởi tính trọng yếu của thông tin đó. Các thông tin được coi là trọng yếu nếu bỏ sót hoặc xác định sai những thông tin đó có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyết định kinh tế của người sử dụng thông tin. - Tính đáng tin cậy: thông tin có chất lượng đáng tin cậy khi chúng không mắc những sai lầm nghiêm trọng hoặc phản ánh méo mó một cách cố ý. Để đảm bảo tính đáng tin cậy, thông tin trên báo cáo tài chính phải thoả mãn những tính chất sau: + Trình bày trung thực: cấc thông tin phải được trình bày một cách trung thực về những giao dịch và các sự kiện khác có liên quan. + Khách quan: các thông tin trên báo cáo tài chính phải khách quan, không bị xuyên tạc, bóp méo. Các báo cáo tài chính sẽ không được coi là khách quan nếu như bằng việc lựa chọn hoặc trình bày chúng có ảnh hưởng đến việc ra quyết định. + Thận trọng: Người lập báo cáo tài chính thường phải trình bày các nội dung về nhiều sự kiện, tình thế không chắc chắn. Ví dụ như khả năng thu hồi các khoản nợ khó đòi, đánh giá thời gian sử dụng của thiết bị máy móc...Các yếu tố đó cần được trình bày một cách thận trọng. Thận trọng bao gồm cả mức độ lường trước các sự kiện cần xét đoán trong quá trình hạch toán trên cơ sở những dữ liệu không thật chắc chắn. + Đầy đủ: các thông tin phải được phản ánh đầy đủ trong phạm vi của tính trọng yếu. Các thông tin sẽ không được coi là tin cậy nếu có sự bỏ sót dẫn đến sai lệch về bản chất của thông tin, ảnh hưởng đến việc ra quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính. - Tính so sánh được: những người sử dụng thông tin phải có khả năng so sánh các thông tin trên báo cáo tài chính giữa các kỳ với nhau để phân tích xu hướng phát triển của doanh nghiệp. Ngoài ra, người sử dụng báo cáo tài chính còn phải so sánh số liệu giữa các doanh nghiệp với nhau để đánh giá mối tương quan về tình hình tài chính, kinh doanh và sự biến động của chúng giữa các doanh nghiệp. Vì vậy việc xây dựng, tính toán và trình bày các sự kiện kinh tế lên báo cáo tài chính phải được tiến hành một cách nhất quán giữa các kỳ trong phạm vi một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp với nhau. 4 - Trách nhiệm, thời hạn lập và gửi báo cáo tài chính: - Tất cả các doanh nghiệp hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân đều phải lập và nộp báo cáo tài chính theo quy định của bộ tài chính. Riêng đối với báo cáo lưu chuyển tiền tệ, tạm thời chưa bắt buộc phải lập và gửi nhưng khuyến khích các doanh nghiệp lập và sử dụng báo cáo này. - Báo cáo tài chính được lập và gửi vào cuối mỗi quý để phản ánh hoạt động sản xuất kinh doanh đã diễn ra trong quý đó. - Báo cáo tài chính được gửi đi chậm nhất là sau 15 ngày kể từ ngày lập báo cáo tài chính quý và sau 30 ngày đối với báo cáo tài chính năm. - Các doanh nghiệp đều phải gửi báo cáo tài chính tới cơ quan thuế và thống kê. Riêng đối với doanh nghiệp nhà nước, báo cáo tài chính còn được gửi tới cơ quan tài chính còn doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải gửi báo cáo tới bộ kế hoạch và đầu tư. II - Phương pháp lập báo cáo kết quả kinh doanh: 1 - Phần 1: Lãi, lỗ - Cột “ kỳ trước “ lấy số liệu từ cột “ kỳ này “ của Báo cáo hoạt động kinh doanh lập ở kỳ trước. - Cột “ kỳ này “ lấy số liệu từ các tài khoản tổng hợp và chi tiết thuộc loại V, VI, VII, VIII, IX và tài khoản 421, 3334 thuộc kỳ này để ghi. * Tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: số liệu ghi vào chỉ tiêu này là tổng phát sinh bên có tài khoản 521 “ Doanh thu bán hàng nội bộ “ * Các khoản giảm trừ: phản ánh tổng hợp các khoản giảm trừ vào tổng doanh thu kỳ báo cáo gồm chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế Giá trị gia tăng ( đối với Doanh nghiệp. + Chiết khấu thương mại là số luỹ kế phát sinh Có tài khoản 521 “Chiết khấu bán hàng” trong kỳ báo cáo. + Giảm giá hàng bán lấy số phát sinh Có của tài khoản 532. + Giá trị hàng bán bị trả lại: phản ánh tổng số giảm giá hàng bán theo chính sách bán hàng của Doanh nghiệp. Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số luỹ kế phát sinh Có của tài khoản 531. + Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu phải nộp: Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là tổng luỹ kế phát sinh Có của tài khoản 3332, 3333. * Doanh thu thuần: chỉ tiêu phản ánh số doanh thu bán hàng hoá thành phẩm sau khi đã trừ các khoản giảm trừ. * Giá vốn hàng bán: chỉ tiêu này phản ánh tổng giá trị của hàng hoá, giá thành sản xuất của thành phẩm. Số liệu để ghi vào chỉ tiêu vào chỉ tiêu này là luỹ kế số phát sinh Có tài khoản 632 “Giá vốn hàng bán”. * Lợi nhuận gộp về hàng bán và cung cấp dịch vụ: chỉ tiêu này phản ánh số chênh lệch giữa doanh thu thuần với giá vốn. * Doanh thu hoạt động tài chính: chỉ tiêu này phản ánh các khoản thu từ hoạt động tài chính trong kỳ kế toán. Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là luỹ kế phát sinh Có tài khoản 515. * Chi phí tài chính: số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là phần phát sinh Nợ tài khoản 635. * Chi phí bán hàng: chỉ tiêu này phản ánh tổng chi phí bán hàng phân bổ cho thành phẩm, hàng hoá đã bán trong kỳ. Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là tổng phát sinh tài khoản 641 “Chi phí bán hàng” với phát sinh Có tài khoản 1422 chi tiết phần chi phí bán hàng đối ứng với nợ tài khoản 911. * Tổng chi phí quản lý doanh nghiêp: Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là tổng cộng số phát sinh Có tài khoản 642 với phát sinh Có tài khoản 1422 chi tiết phần chi phí quản lý Doanh nghiệp đối ứng nợ tài khoản 911. * Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh: chỉ tiêu này được tính toán trên cơ sở lợi tức gộp trừ đi chi phí bán hàng và chi phí quản lý phân bổ cho hàng hoá, thành phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ báo cáo. * Thu nhập khác: Chỉ tiêu này phản ánh các khoản thu nhập bất thường ngoài hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính phát sinh trong kỳ báo cáo. Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là phát sinh nợ tài khoản 711 đối ứng bên Có tài khoản 911. * Chi phí khác: Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là phát sinh Có tài khoản 811. * Lợi nhuận khác: Chỉ tiêu này phản ánh chênh lệch giữa khoản thu nhập bất thường với chi phí bất thường. * Tổng lợi nhuận trước thuế: chỉ tiêu này phản ánh tổng số lợi nhuận trước khi trừ thuế thu nhập từ hoạt động kinh doanh và các hoạt động bất thường khác. * Thuế thu nhập: Phản ánh số thuế mà Doanh nghiệp phải nộp tính trên lợi nhuận chịu thuế. Chỉ tiêu này căn cứ và phát sinh Có tài khoản 3334 đối ứng bên Nợ tài khoản 421. * Lợi nhuận sau thuế: là phần giá trị còn lại của tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động của Doanh nghiệp sau khi trừ đi thuế thu nhập Doanh nghiệp phải nộp phát sinh kỳ báo cáo. 2 - Phần 2: Tình hình thực hiện nghĩa vụ của Nhà nước. Phần này gồm các chỉ tiêu về thuế và các khoản phải nộp khác mà Doanh nghiệp phải nộp, đã nộp và còn phải nộp đến cuối kỳ. Mục I: Thuế là chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh tổng số tiền thuế phải nộp đã nộp và còn phải nộp theo từng loại thuế sau: Thuế Giá trị gia tăng + Thuế Giá trị gia tăng hàng nội địa căn cứ vào số phát sinh bên Nợ, Có tài khoản 33311. + Thuế Giá trị gia tăng hàng nội địa căn cứ vào số phát sinh bên Nợ, Có tài khoản 33312. Thuế tiêu thụ đặc biệt căn cứ vào số phát sinh tài khoản 3332. Thuế xuất nhập khẩu căn cứ vào số phát sinh tài khoản 3333. Thuế thu nhập Doanh nghiệp số phát sinh Nợ tài khoản 3334 để ghi vào cột 5, số phát sinh bên Có tài khoản 3334 để ghi vào cột 4. Thu trên vốn căn cứ vào số phát sinh Nợ, Có tài khoản 335. Thuế tài nguyên căn cứ vào số phát sinh Có tài khoản 3336. Thuế nhà đất căn cứ số phát sinh Nợ và Có tài khoản 3337. Tiền thuê đất căn cứ số phát sinh Nợ và Có tài khoản 3337 chi tiết. Các loại thuế khác căn cứ số phát sinh Nợ và Có tài khoản 3338. Mục II: Các khoản phải nộp khác. Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh các khoản phải nộp, đã nộp, còn phải nộp về các khoản khác theo quy định của Nhà nước, chi tiết theo các khoản sau: + các khoản phụ thu. + các khoản lệ phí, + các khoản phải nộp khác. Các khoản phải nộp khác căn cứ vào số phát sinh Nợ, Có chi tiết tài khoản 3339. Tổng số thuế phải nộp khác năm trước chuyển sang kỳ này: là chỉ tiêu phản ánh số thuế phải nộp của năm trước đến đầu kỳ báo cáo vẫn chưa nộp trong đó chi tiết riêng cho chỉ tiêu thuế thu nhập Doanh nghiệp. 3 - Phần III: Thuế Giá trị gia tăng được trừ, thuế Giá trị gia tăng được hoàn lại, thuế Giá trị gia tăng được miễn giảm, thuế Giá trị gia tăng hàng bán nội địa. a - Mục I: Thuế Giá trị gia tăng được khấu trừ: Chỉ tiêu 1: Số thuế Giá trị gia tăng còn được khấu trừ còn được hoàn lạiđầu kỳ: ssó liệu để ghi vào chỉ tiêu này được căn cứ vào số dư Nợ điều khoản của tài khoản 133. Chỉ tiêu 2: Số thuế Giá trị gia tăng được khấu trừ phát sinh: căn cứ vào số phát sinh bên nợ tài khoản 133 để xác định số thuế Giá trị gia tăng được khấu trừ trong kỳ báo cáo. Chỉ tiêu 3: Số thuế Giá trị gia tăng đã khấu trừ, đã hoàn lại, thuế Giá trị gia tăng hàng mua trả lại và không được khấu trừ trong kỳ. Số liệu ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào số phát sinh bên Có tài khoản 133. Trong đó: * Số thuế Giá trị gia tăng đã khấu trừ căn cứ vào số phát sinh bên Có tài khoản 133 đối ứng Nợ tài khoản 33311. * Số thuế Giá trị gia tăng đã hoàn lại dựa vào Sổ kế toán chi tiết tài khoản 133, chi tiết thuế Giá trị gia tăng hoàn lại, phần phát sinh bên có tài khoản 133 đối ứng Nợ tài khoản 111, 112. * Số thuế Giá trị gia tăng hàng mua trả lại, giảm giá hàng mua số liệu ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào số phát sinh bên Có tài khoản 133 đối ứng Nợ tài khoản 1111, 112, 331 * Số thuế Giá trị gia tăng không được khấu trừ: căn cứ vào số phát sinh Có tài khoản 133 đối ứng Nợ tài khoản 142,632. Chỉ tiêu 4: Số thuế Giá trị gia tăng còn được khấu trừ còn được hoàn lại cuối kỳ là số dư Nợ tài khoản 133. b - Mục II: Thuế giá trị gia tăng được hoàn lại. - Số thuế Giá trị gia tăng còn được hoàn lại đầu kỳ: căn cứ vào chỉ tiêu mã số 2 - 3 của Báo cáo kết quả kinh doanh - P3 kỳ trước. - Số thuế Giá trị gia tăng được hoàn lại phát sinh dựa vào thông báo được hoàn thuế trong kỳ hoặc căn cứ vào Sổ kê toán chi tiết thuế Giá trị gia tăng được hoàn lại. - Số thuế Giá trị gia tăng đã hoàn lại: căn cứ vào Sổ kế toán chi tiết tài khoản 133, chi tiết phần thuế Giá trị gia tăng đã hoàn lại, phần phát sinh Có tài khoản 133 đối ứng với bên Nợ tài khoản 111,112 hoặc căn cứ vào sổ kế toán chi tiết thuế Giá trị gia tăng được hoàn lại. c - Mục III: Thuế Giá trị gia tăng được giảm: - Số thuế Giá trị gia tăng được giảm đầu kỳ: căn cứ số liệu ghi trong sổ chi tiết thuế Giá trị gia tăng được giảm. - Số thuế Giá trị gia tăng được giảm phát sinh: căn cứ vào sổ kế toán chi tiết thuế Giá trị gia tăng được miễn giảm. - Số thuế Giá trị gia tăng được giảm : căn cứ vào sổ kế toán chi tiết thuế Giá trị gia tăng được giảm hoặc căn cứ vào số phát sinh Nợ tài khoản 13331 đối ứng với bên có tài khoản 721 hoặc số phát sinh Nợ tài khoản 111, 112 đối ứng bên Có tài khoản 721. - Số thuế Giá trị gia tăng còn được giảm cuối kỳ: căn cứ vào sổ kế toán chi tiết thuế Giá trị gia tăng được giảm. d - Mục 4: Thuế Giá trị gia tăng hàng bán nội địa. - Thuế Giá trị gia tăng hàng bán nội địa còn phải nộp đầu kỳ: số dư Có cuối kỳ trước tài khoản 33311. - Thuế Giá trị gia tăng đầu ra phát sinh: phản ánh toàn bộ số thuế Giá trị đầu ra của hàng bán nội bộ đã phát sinh trong kỳ luỹ kế đến cuôí kỳ. Số liệu ở chỉ tiêu này là số phát sinh Có tài khoản 33311. - Thuế Giá trị gia tăng đầu vào đã khấu trừ là số phát sinh có tài khoản 133 đối ứng Nợ tài khoản 33311. - Thuế Giá trị gia tăng hàng bán bị trả lại, bị giảm giá là số phát sinh Có tài khoản 111, 112, 131 đối ứng nợ tài khoản 33311. - Thuế Giá trị gia tăng được giảm trừ vào số thuế phải nộp là số phát sinh Có tài khoản 721 đối ứng Nợ tài khoản 33311. - Thuế Giá trị gia tăng hàng bán nội địa đã nộp vào ngân sách nhà nước là số phát sinh có tài khoản 111, 112 đối ứng nợ tài khoản 33311 chi tiết thuế giá trị gia tăng đã nộp ngân sách trong kỳ. - Thuế Giá trị gia tăng hàng bán nội địa còn phải nộp cuối kỳ: chỉ tiêu này căn cứ vào số dư có tài khoản 33311. Như vậy, so với hệ thống báo cáo tài chính của các nước phát triển như Pháp và Mỹ thì hệ thống báo cáo taì chính của chúng ta có rất nhiều điểm khác biệt. ở Mỹ, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được gọi là báo cáo thu nhập được lập theo mẫu sau: Chỉ tiêu Số tiền Doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ Doanh thu khác Tổng doanh thu Giá vốn hàng bán Chi phí bán hàng Chi phí quản lý Doanh nghiệp Các loại chi phí khác Tổng chi phí Lợi nhuận trước thuế Thuế thu nhập Doanh nghiệp Lợi nhuận sau thuế Lãi ( lỗ ) đặc biệt Lợi nhuận giữ lại Trong đó doanh thu bán hàng hoá dịch vụ được xác định bằng số phát sinh bên Có tài khoản " Doanh thu bán hàng". Doanh thu khác căn cứ vào số phát sinh bên Có tài khoản thu nhập khác. Chỉ tiêu tổng doanh thu sẽ bằng doanh thu bán hàng hoá dịch vụ cộng với doanh thu khác. Tổng chi phí = + ++ Chi phí khác Lợi nhuận trước thuế được xác định bằng cách lấy chỉ tiêu tổng doanh thu trừ đi tổng chi phí. Thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định dựa trên số lợi nhuận trước thuế và thuế xuất áp dụng cho từng doanh nghiệp. Sau khi lợi nhuận trước thuế trừ đi thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp ta được lợi nhuận sau thuế. Lợi nhuận sau thuế cộng (trừ) lãi (lỗ) đặc biệt ta có chỉ tiêu lợi nhuận giữ lại. Như vậy, Mỹ không phân thành hai loại thu nhập mà tính ra chỉ tiêu tổng doanh thu thuần, tổng chi phí rồi xác định lợi nhuận sau thuế. Ngoài ra, trong báo cáo thu nhập của Mỹ còn phản ánh thêm các khoản lãi hoặc lỗ đặc biệt. Trong khi đó, báo cáo kết quả kinh doanh của Pháp được gọi là bản kết quả niên độ. Chi phí Số tiền Thu nhập Số tiền I. Chi phí kinh doanh - TK từ 60 - 65 (Chi phí kinh doanh) - TK 681 niên khoản dự phòng chi phí kinh doanh. I. Thu nhập kinh doanh - TK từ 70 - 75 thu nhập kinh doanh. - TK 781 hoàn nhập khấu hao dự phòng thu nhập kinh doanh. Cộng chi phí kinh doanh Cộng thu nhập kinh doanh II. Chi phí tài chính - TK 66: Chi phí tài chính - TK 686: Niên khoản dự phòng chi phí tài chính II. Thu nhập tài chính - TK 76 thu nhập tài chính - TK 786 hoàn nhập dự phòng thu nhập tài chính Cộng chi phí tài chính Cộng thu nhập tài chính III. Chi phí đặc biệt - TK 67: chi phí đặc biệt - TK 687: niên khoản dự phòng chi phí đặc biệt III. Thu nhập đặc biệt - TK 77 thu nhập đặc biệt - Tài khoản 787: hoàn nhập dự phòng thu nhập đặc biệt. Cộng chi phí đặc biệt Cộng thu nhập đặc biệt IV. TK 691: phần tham gia của nhân viên và kết quả mở rộng của doanh nghiệp. V. TK 695 Thuế lợi tức bằng tổng lợi tức chịu thuế nhân với thuế suất. Tổng cộng chi phí ( I + II + III + IV+ V) Tổng cộng thu nhập (I + II + III) Lãi sau thuế Lỗ Như vậy trong báo cáo kêt quả niên độ của Pháp chi phí và thu nhập được chi tiết thành 3 hoạt động: hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và hoạt động bất thường. Còn báo cáo kết quả kinh doanh của ta thì phân thành hai loại hoạt động: hoạt động sản xuất kinh doanh ( trong đó bao gồm cả hoạt động tài chính) và hoạt động bất thường. III – Phương pháp kiểm tra báo cáo tài chính: 1 - Đối tượng kiểm tra báo cáo tài chính: Khái quát chung về đối tượng kiểm tra báo cáo tài chính: Kiểm tra báo cáo tài chính là công việc cần thiết đầu tiên để đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc xét duyệt báo cáo quyết toán. Đồng thời việc kiểm tra báo cáo tài chính nhằm phát hiện những gian lận và sai sót vi phạm pháp luật, chế độ, chính sách về quản lý kinh tế tài chính qua đod tạo niềm tin cho người sử dụng thông tin trên baó cáo tài chính. Hơn nữa, báo cáo tài chính là bộ phận cấu thành của hệ thống công cụ quản lý công tác kế toán cho nên chungs cần được kiểm tra, kiểm soát liên tục. Việc kiểm tra không ngoài mục đích đảm bảo tính chính xác, trung thực của tài liệu kế toán. Thực chất, kiểm tra kế toán nói chung và kiểm tra báo cáo tài chính nói riêng đều sử dụng các kỹ thuật và phương pháp phân tích, khảo sát, so sánh, đối chiếu một cách có hệ thống các thông tin và dữ liệu, báo các và sổ sách kế toán nhằm phát hiện và chấn chỉnh kịp thời những sai phạm đảm bảo tính chính xác của các số liệu. Như vậy, đối tượng của kiểm tra báo cáo tài chính là tìm kiếm các gian lận và sai sót. 2 – Phương pháp kiểm tra báo cáo tài chính: a – Phương pháp chọn mẫu: Các báo cáo tài chính thường chứa đựng nhiều nội dung, nhiều khoản mục khác nhau nên kế toán không thể kiểm tra chi tiết đối với từng khoản mục vì rất tốn thời gian và nhân lực. Bởi vậy, để có thể đưa ra ý kiến chính xác, kế toán cần phải lựa chọn một số khoản mục trọng yếu và đặc trưng. Phương pháp này rất hữu ích trong việc khoanh vùng các sai phạm. b – Phương pháp dựa vào dấu hiệu chỉ dẫn: Dấu hiệu chỉ dẫn là những dấu hiệu khả nghi phát sinh từ các tình trạng hoặc nghiệp vụ bất thường. Từ các dấu hiệu chỉ dẫn, người kiểm tra sẽ định hướng việc kiểm tra, tiến hành phân tích và tìm ra nguyên nhân của các dấu hiệu đó. Các dấu hiệu chỉ dẫn rất đa dạng như: + Số dư của một chỉ tiêu không đổi trong suốt một thời gian dài. + Số dư nợ của TK 111 thường xuyên quá lớn, vượt xa mức cần thiết so với hoạt động của doanh nghiệp. + Số dư nợ TK 131 gia tăng nhưng lượng hàng hoá không đổi. + Tỷ lệ giữa tiền lương phải trả và số tiền trích cho các quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ. + Tỷ lệ giữa doanh thu và số thuế GTGT phải nộp. + Tỷ lệ các khoản chi phí bán hàng, chi phí quản lý so với tổng chi phí trong khi các doanh nghiệp cùng loại có doanh thu tương đương lại có chi phí thấp hơn nhiều. c – Phương pháp phối hợp kiểm tra từ nhiều phía: Phương pháp này nhằm đối chiếu so sánh các nghiệp vụ, các đối tượng, các bút toán khác nhau nhưng quan hệ chặt chẽ với nhau. Đối chiếu lượng vật tư nhập kho với số lượng vật tư trên hoá đơn vận chuyển. Đối chiếu giữa lượng vật tư xuất dùng với lượng thành phẩm hoàn thành. d – Phương pháp kiểm tra vật chất: Là phương pháp sử dụng biện pháp cân, đông, đo ,đếm các loại vật tư thành phẩm, hàng hoá, tiền mặt...để xem xét sự phù hợp giữa giá trị ghi trên sổ sách với thực tế. Do khối lượng công việc cần kiểm tra rất lớn nên kế toán không thể tiến hành kiểm tra toàn bộ mà nên sử dụng phương pháp chọn mẫu dựa tren tiêu thức chọn trước hoặc dựa vào dấu hiệu chỉ dẫn để đỡ tốn thời gian và công sức. Khi kiểm tra các mẫu đã chọn, nếu phát hiện có vấn đề thì sẽ tiến hành kiểm tra sâu rộng hơn. 3 – Kiểm tra báo cáo kết quả kinh doanh: a – Kiểm tra các chỉ tiêu trong nội bộ báo cáo kết quả kinh doanh: Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tóm lược t._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc25150.doc
Tài liệu liên quan