Báo cáo Thực tập tại Công ty điện toán & truyền số liệu - VDC

Chương I : giới thiệu về đơn vị thực tập và đề tài nghiên cứu I. công ty điện toán và truyền số liệu-vdc Được thành lập chính thức vào tháng 12/1989, với giấy phép đăng ký kinh doanh số: 109883 do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp ngày 20/06/1995, Công ty Điện Toán và Truyền Số liệu hoạt động trên các lĩnh vực tin học, Internet và truyền số liệu với các sản phẩm và dịch vụ chính: cung cấp các dịch vụ Truyền số liệu VIETPAC, Frame Relay trên phạm vi toàn cuốc và tới hơn 150 nước trên thế giới. VNN

doc17 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1405 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Báo cáo Thực tập tại Công ty điện toán & truyền số liệu - VDC, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
/Internet-dịch vụ Internet tốt nhất tại Việt Nam và các dịch vụ trên cơ sở giao thức IP với mạng trục quốc gia bao phủ trên tất cả các tỉnh thành phố. Dịch vụ điện thoại gọi 171, Fax giá rẻ qua giao thức Internet(VOIP, FOIP). Các dịch vụ trên Web và thương mại điện tử (E-Commerce). Các dịch vụ thông tin, dịch vụ trục tuyến, danh bạ và danh bạ điện tử. Các dịch vụ Multimedia: phát thanh, truyền hình trên mạng. Dịch vụ truyền báo-viễn ấn và chế bản-xuất bản điện tử, E-publishing. Các sản phẩm và dịch vụ tin học, giải pháp tích hợp. Đào tạo, tư vấn, khảo sát thiết kế, xây lắp, bảo trì chuyên ngành tin học truyền số liệu. Sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh các phần mềm tin học, vật tư, thiết bị công nghệ thông tin. Kinh doanh dịch vụ quảng cáo, quảng cáo trực tuyến-Online Advertising. Công ty Điện Toán và Truyền Số liệu là đơn vị hạch toán kinh tế trong khối thông tin bưu điện, có quyền tự chủ về sản xuất kinh doanh theo các quy định của tổng cục trưởng. Có tư cách pháp nhân được mở tài khoản ở ngân hàng, có con dấu theo tên gọi để giao dịch. Tại Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh, hai cơ sở máy tính của ngành bước đầu đã được trang bị một số máy vi tính XT và AT286. một ứng dụng đầu tiên và quan trọng nhất là mạng vi tính của hai cơ sở này qua kênh viễn thông. Tốc độ truyền lúc đó: 1.200bps, 2.400bps qua kênh điện thoại dùng Modem. Hệ thống truyền số liệu đầu tiên, bước đầu sử dụng phương thức đơn giản, điểm nối điểm (point to point). DATEC là chương trình phần mềm truyền tin (communication software) do CBCNV của Công ty Điện Toán bưu điện TP-hồ Chí Minh tự nghiên cứu, thực hiện ở các tỉnh phía Nam và bộ phận kỹ thuật tin học của trung tâm Thống kê và Tính toán ở Hà Nội tự nghiên cứu và thực hiện ở các tỉnh phía Bắc. Chương trình DATEC của công ty điện toán TP-Hồ Chí Minh được hội đồng khoa học kỹ thuật bưu điện thành phố và uỷ ban khoa học kỹ thuật TP-Hồ Chí Minh đánh giá xuất sắc và khen thưởng. Ngày 28/11/1995, thành lập Trung Tâm Điện Toán và Truyền Số liệu khu vực 1(VDC1) có trụ sở đặt tại 75 Đinh Tiên Hoàng(HN) và Trung tâm Điện Toán và truyền số liệu khu vực III(VDC3) có trụ sở đặt tại 12 Lê Thánh Tông(Đà Nẵng). Ngày 25/11/1997, thành lập trung tâm dịch vụ Gia Tăng Giá Trị(VASC) trụ sở tại 258 Bà Triệu. Công ty Điện Toán và Truyền Số liệu mở rộng phạm vi hoạt động trên địa bàn cả nước và hiện giờ công ty trở thành: VDC- nhà cung cấp dịch vụ kết nối Internet hàng đầu tại Việt Nam (IXP) VDC- nhà cung cấp dịch vụ Internet đầu tiênvà uy tín nhất tại Việt Nam (ISP) VDC-nhà cung cấp thông tin trên mạng Internet(ICP) Ban lãnh đạo công ty VDC1 VDC2 VDC3 PhongTổ chức lao động Phòng kinh doanh Phòng kế toán tài chính Phòng kế hoạch Phòng đầu tư phát triển Phòng hành chính Phòng nghiên cứu ứng dụng PM Phòng nc và pt hệ thống Phòng quản lý tin học Phòng danh bạ Phòng VDCA Phòng biên tập Phòng kỹ thuật điều hành Phòng tính cước Phòng quản lý chất lượng Sơ đồ tổ chức công ty VDC + Phòng hành chính Liên hệ: Tel:(84)45372754;Fax:(84)45372753; Email:vdc@vnn.vn Chức năng: phòng hành chính có chức năng về công tác văn thư-lưu trữ, lễ tân, đối ngoại, thông tin tuyên truyền, nội vụ và làm đầu mối thông tin phục vụ cho hoạt dộng sản suất kinh doanh của công ty. + Phòng kế hoạch Liên hệ: Tel:(84)45372763;Fax:(84)45372753; Email:vdc@.hn.vnn.vn Chức năng: phòng kế hoạch có chức năng về công tác kế hoạch; quản lý tài sản; cung ứng vật tư. + Phòng kinh doanh Liên hệ: Tel:(84)45372760;Fax:(84)45372761; Email:vdc@vnn.vn Chức năng: Phòng kinh doanh có chức năng về công tác marketing; Kinh doanh sản phẩm; Dịch vụ; Bán hàng; Hợp tác kinh doanh. + Phòng kỹ thuật điều hành Liên hệ: Tel:(84)45372836;Fax:(84)45372835; Email:phviet@vnn.vn Chức năng: Phòng kỹ thuật điều hành có chức năng về kỹ thuật công nghệ, điều hành khai thác mạng và thiết bị. + Phòng kế toán tài chính Liên hệ: Tel:(84)45372762;Fax:(84)45372753; Email:ptlan@vnn.vn Chức năng: phòng kế toán tài chính có chức năng về công tác kế toán, thống kê, tài chính của công ty. + Phòng đầu tư Phát triển Liên hệ: Tel:(84)45372837; Fax:(84)45372753; Email:hainq@vnn.vn Chức năng: Phòng đầu tư và phát triển có chức năng về công tác đầu tư xây dựng cơ bản, phát triển sản xuất. + Phòng tổ chức lao động Liên hệ: Tel:(84)45372759; Fax:(84)45372753; Email:tcld.vdc@vnn.vn Chức năng: Phòng tổ chức lao động có chức năng vêv công tác tổ chức bộ máy, nhân sự, tiền lương, đào tạo, thi đua, an ninh an toàn, chính sách đối với người lao động. + Ban biên tập báo điện tử Liên hệ: Tel:(84)45372784; Fax:(84)45372788; Email:vdcmedia@vnn.vn Chức năng: Ban biên tập báo điện tử có chức năng về thông tin quảng bá. + Phòng tính cước Liên hệ: Tel:(84)48257216; Fax:(84)48261595; Email:biling@vnn.vn Chức năng: Phòng tính cước có chức năng về công tác tính cước và các vấn đề liên quantới việc tính cước phí các loại hình dịch vụ trên mạng của toàn công ty. + Phòng nghiên cứu ứng dụng phần mềm Liên hệ: Tel:(84)45372786; Fax:(84)45372753; Email:tvdan@vnn.vn Chức năng: Phòng nghiên cứu ứng dụng phần mềm là bộ phận sản suất, có chức năng về công tác nghiên cứu công nghệ tin học và sản suất các sản phẩm tin học. + VDC A Liên hệ: Tel:(84)45372841; Fax:(84)45372753; Email:natqs@vnn.vn Chức năng: ban dự án VDC A có chức năng về quản lý hoạt động, thực hiện và hỗ trợ thực hiện các dự án được công ty giao. + Phòng tích hợp và phát triển hệ thống Liên hệ: Tel:(84)45372780; Fax:(84)45372753; Email:anhchien@vnn.vn Chức năng: Phòng tích hợp và phát triển hệ thống có chức năng chính trong công tác nghiên cứu triển khai công nghệ, tư vấn, xây dựng và phát triển các giải pháp tích hợp phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh và điều hành quản lý của công ty. + Phòng danh bạ thực hiện các công việc về cơ sở dữ liệu danh bạ toàn cuốc trên Web. Sản xuất đĩa CD-ROM danh bạ. Phát triển các dịch vụ liên quan đến danh bạ. Chủ động thực hiện các quan hệ hợp tác phục vụ cho các nhiệm vụ trên. Thực hiện các nhiệm vụ khác do giám đốc công ty giao. + Phòng quản lý tin học Liên hệ: Tel:(84)45372841; Fax:(84)45372753; Email:vdc@vnn.vn Phòng quản lý tin học có chức năng về quản lý khoa học công nghệ và sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực tin học. + Ban quản lý chất lượng Phòng hành chính có chức năng về công tác văn thư-lưu trữ, lễ tân, đối ngoại, thông tin tuyên truyền, nội vụ và làm đầu mối thông tin phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. II. đề tài nghiên cứu Công việc quản lý bán hàng là rất cần thiết đối với các cửa hàng, bởi vì mục tiêu chính trong công tác quản lý bán hàng của cửa hàng là làm sao có thể kiểm soát được những hoạt động trong cửa hàng đó một cách hiệu quả và hợp lý nhất, ví dụ như để quản lý được các công việc xuất bán hàng, nhập hàng, hàng tồn kho, các công nợ phải trả, phải thu… đòi hỏi các nhân viên trong cửa hàng phải thực hiện một loạt các công việc như cập nhật và lưu trữ các thông tin mới, lập hoá đơn nhập hàng, xuất hàng, các hoá đơn thanh toán… Tất cả những công việc này đều cần có một chương trình quản lý bán hàng phù hợp để phục vụ cho những công việc trên. Từ những lý do trên cùng với sự giúp đỡ của cán bộ hướng dẫn trong công ty Điên Toán và Truyền Số Liệu-VDC, và giáo viên hướng dẫn thực tập Ts.Trần Thị Song Minh đã gợi ý nên tôi đã quyết định chọn đề tài là viết chương trình quản lý bán hàng tại cửa hàng sách 292- Tây Sơn. Mục đích của chương trình quản lý bán hàng : Quản lý được lượng tiền bán sách trong một khoảng thời gian nhất định. Quản lý được lượng sách bán ra trong một khoảng thời gian nhất định theo một chủng loại, một nhóm hay tất cả các loại sách. Quản lý được lượng tiền và số lượng sách nhập vào . Quản lý được số lượng sách tồn trong kho. In ra được các báo cáo theo đúng yêu cầu. … Để thực hiện được công việc này ngôn ngữ sử dụng của tôi là Visual Basic và csdl Microsoft Access. Chương II: Phương pháp luận về phân tích và thiết kế hệ thông thông tin quản lý sự cần thiết khi phát triển một hệ thống thông tin Việc phát triển hệ thống thông tin là cung cấp cho các thành viên của tổ chức những công cụ quản lý tốt nhất. Phát triển một hệ thống thông tin bao gồm việc phân tích hệ thống đang tồn tại, thiết kế một hệ thống mới, thực hiện và tiến hành cài đặt nó. Phân tích một hệ thống bắt đầu từ việc thu thập dữ liệu và chỉnh đốn chúng để đưa ra được chuẩn đoán về tình hình thực tế. Thiết kế là nhằm xác định các bộ phận của hệ thống mới có khả năng cải thiện tình trạng hiện tại và xây dựng các mô hình lô gíc, và mô hình vật lý ngoài của hệ thống đó. Việc thực hiện hệ thống thông tin liên quan tới xây dựng mô hình vật lý trong của hệ thống mới và chuyển mô hình đó sang ngôn ngữ tin học. Cài đặt một hệ thống là tích hợp nó vào hoạt động của tổ chức. Vấn đề cần chú ý trong việc phát triển một hệ thống thông tin mới là cái gì bắt buộc một tổ chức phải tiến hành phát triển hệ thống thông tin? Như chúng ta đã biết, sự hoạt động tồi tệ của hệ thống thông tin, những vấn đề về quản lý và việc thâm thủng ngân quỹ là nguyên nhân đầu tiên thúc đẩy một yêu cầu phát triển hệ thống. Nhưng cũng còn một số nguyên nhân khác nữa như yêu cầu của nhà quản lý, công nghệ thay đổi và cả sự thay đổi sách lược chính trị. Có thể tóm lược các nguyên nhân đó như sau: Những vấn đề về quản lý. Những yêu cầu mới của nhà quản lý. Sự thay đổi công nghệ. Thay đổi sách lược chính trị. Từ những vấn đề xảy ra trên thì việc phân tích và phát triển một hệ thống thông tin trong quản lý là rất quan trọng đối với các nhà hoạt động sản suất kinh doanh giúp cho họ có được những công cụ quản lý tốt nhất và phù hợp với việc phát triển của khoa học công nghệ mới hiện nay. Thật vậy việc xuất hiện công nghệ mới cũng có thể dẫn đến việc một tổ chức phải xem lại những thiết bị hiện có trong hệ thống thông tin của mình. Khi các hệ quản trị cơ sở dữ liệu ra đời nhiều tổ chức phải rà soát lại các hệ thống thông tin của mình để quyết định những gí họ phải cài đặt khi muốn sử dụng những công nghệ mới này. Phương pháp phát triển hệ thống thông tin Mục đích chính xác của dự án phát triển một hệ thống thông tin là có được một sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng, mà nó được hòa hợp vào trong các hoạt động của tổ chức, chính xác về mặt kỹ thuật, tuân thủ các giới hạn về tài chính và thời gian định trước. Không nhất thiết phải theo đuổi một phương pháp để phát triển một hệ thống thông tin, tuy nhiên nếu không có phương pháp ta có nguy cơ không đạt được những mục tiêu định trước. Bởi vì một hệ thống thông tin là một đối tượng phức tạp. Để làm chủ được sự phức tạp đó, phân tích viên cần phải có một cách tiến hành nghiêm túc, một phương pháp. Một phương pháp được định nghĩa như một tập hợp các bước và các công cụ cho phép tiến hành một quá trình phát triển hệ thống chặt chẽ nhưng dễ quản lý hơn. Phương pháp được đề nghị ở đây dựa vào ba nguyên tắc cơ sở chung của nhiều phương pháp hiện đại có cấu trúc để phát triển hệ thống thông tin. Ba nguyên tắc đó là: Sử dụng các mô hình. Chuyển từ cái chung sang cái riêng. Chuyển từ mô hình vật lý sang mô hình lôgic khi phân tích và từ mô hình lôgic sang mô hình vật lý khi thiết kế. Trước hết chúng ta cần hiểu rõ ba mô hình của hệ thống thông tin: Mô hình lo gíc: mô tả hệ thống làm gì ? dữ liệu mà nó thu thập, xử lý mà nó phải thực hiện, các kho chứa kết quả hoặc dữ liệu để lấy ra cho các xử lý và những thông tin mà hệ thống sinh sản ra. Nó không quan tâm tới phương tiện được sử dụng cũng như thời điểm hoặc địa điểm mà dữ liệu được xử lý. Mô hình của hệ thống được gắn ở quầy tự động dịch vụ khách hàng. Mô hình vật lý ngoài: mô hình này chú ý đến khía cạnh nhìn thấy được của hệ thống như là các vật mang dữ liệu và vật mang kết quả cũng như hình thức đầu vào và đầu ra của thông tin. Mô hình này chú ý cũng đến khía cạnh thời gian của hệ thống, nghĩa là về thời điểm mà các hoạt động xử lý dữ liệu khác xảy ra. Mô hình này được gắn ở quầy giao dịch rút tiền ở ngân hàng. Mô hình vật lý trong: mô hình này liên quan đến những khía cạnh của hệ thống tuy nhiên không phải cái nhìn của người sử dụng mà là của nhân viên kỹ thuật. Bằng cách cùng mô tả về một đối tượng chúng ta đã thấy ba mô hình này được quan tâm từ những góc độ khác nhau. Phương pháp phát triển hệ thống được thể hiện cũng dùng tới khái niệm của những mô hình này và do đó cần phải luôn luôn phân địng rõ ràng ba mức trong tâm trí chúng ta. Nguyên tắc đi từ chung đến riêng là một nguyên tắc của sự đơn giản hoá. Thực tế người ta khẳng định rằng để hiểu tốt một hệ thống thì trước hết phải hiểu các mặt chung trước khi xem xét chi tiết. Sự cần thiết áp dụng nguyên tắc này là hiển nhiên. tuy nhiên những công cụ được sử dụng đầu tiên để phát triển ứng dụng tin học cho phép tiến hành mô hình hoá một hệ thống bằng các khía cạnh chi tiết hơn. nhiệm vụ lúc đó sẽ khó khăn hơn. Nhiệm vụ phát triển sẽ đơn giản hơn bằng cách ứng dụng nguyên tắc thứ ba, có nghĩa là đi từ vật lý sang lo gíc khi phân tích và di từ lo gíc sang vật lý khi thiết kế. Như đã kể ra ở trên, phân tích bắt đầu từ thu thập dữ liệu về hệ thống thông tin đang tồn tại và về khung cảnh của nó. Nguồn dữ liệu chính là những người sử dụng, các tài liệu và quan sát. Cả ba nguôn này cung cấp chủ yếu sự mô tả mô hình vật lý ngoài của hệ thống. Các giai đoạn của việc phát triển hệ thống Một hệ thống thông tin trong một tổ chức cần phải thực hiện đầy đủ 7 giai đoạn dưới đây: Giai đoạn I: Đánh giá yêu cầu Giai đoạn đánh giá yêu cầu có mục đích giúp cho lãnh đạo tổ chức hoặc hội đồng giám đốc những dữ liệu đích thực để ra quyết định về thời cơ, tính khả thi và hiệu quả của một dự án phát triển hệ thống. Giai đoạn này được thực hiện tương đối nhanh và không đòi hỏi chi phí lớn. Nó bao gồm các công đoạn sau: Lập kế hoạch đánh giá yêu cầu. Làm rõ yêu cầu. Đánh giá khả năng thực thi. Chuẩn bị và trình bày báo cáo đánh giá yêu cầu. Giai đoạn II: Phân tích chi tiết Phân tích chi tiết được tiến hành sau khi có sự đánh giá thuận lợi về yêu cầu. Những mục đích chính của phân tích chi tiết là hiểu rõ các vấn đề của hệ thống đang nghiên cứu, xác định những nguyên nhân đích thực của những vấn đề đó, xác định những đòi hỏi và những ràng buộc áp đặt đối với hệ thống và xác định mục tiêu mà hệ thống thông tin mới phải đạt được. Trên cơ sở nội dung báo cáo phân tích chi tiết sẽ quyết định tiếp tục tiến hành hay thôi phát triển hệ thống mới. Để làm những việc đó giai đoạn phân tích chi tiết bao gồm những giai đoạn sau đây: Lập kế hoạch phân tích chi tiết. Nghiên cứu môi trường của hệ thống đang tồn tại. Nghiên cứu hệ thống thực tại. Đưa ra chuẩn đoán và xác định các yếu tố giải pháp. Đánh giá lại khả thi. Thay đổi đề xuất của dự án. Chuẩn bị và trình bày báo cáo phân tích chi tiết. Giai đoạn III: Thiết kế logic Giai đoạn này nhằm xác định tất cả các thành phần lôgic của một hệ thống thông tin, cho phép loại bỏ được các vấn đề của hệ thống thực tế và đạt được những mục tiêu đã thiết lập ở giai đoạn trước. Mô hình lôgic của hệ thống mới sẽ bao hàm thông tin mà hệ thống mới sẽ sản sinh ra, nội dung của cơ sở dữ liệu, các xử lý và hợp thức hoá sẽ phải thực hiện và các dữ liệu sẽ phải nhập vào. Mô hình lôgic sẽ phải được những người sử dụng xem xét và chuẩn y. Thiết kế lôgic bao gồm những công đoạn sau: Thiết kế cơ sở dữ liệu. Thiết kế xử lý. Thiết kế các luồng dữ liệu vào. Chỉnh sửa dữ liệu cho mức lôgic. Hợp thức hoá mô hình lôgic. Giai đoạn IV: Đề xuất phương án của giải pháp Mô hình lôgic của hệ thống mới mô tả cái mà hệ thống này sẽ làm. Khi mô hình được xác định và chuẩn y bởi người sử dụng, thì phân tích viên hoặc nhóm phân tích viên phải nghiêng về các phương tiện để thực hiện hệ thống này. Đó là việc xây dựng các phương án khác nhau để cụ thể hoá mô hình lôgic. Mỗi một phương án là một phác hoạ của mô hình vật lý ngoài của hệ thống nhưng chưa phải là một mô tả chi tiết. Tất nhiên là người sử dụng sẽ dễ dàng hơn khi lựa chọn dựa trên những mô hình vật lý ngoài được xây dựng chi tiết nhưng chi phí cho việc tạo ra chúng là rất lớn. Để giúp những người sử dụng lựa chọn giải pháp vật lý thoả mãn tốt hơn các mục tiêu đã định ra trước đây, nhóm phân tích viên phải đánh giá các chi phí và lợi ích (hữu hình và vô hình) của mỗi phương án và phải có những khuyến nghị cụ thể. Một báo cáo sẽ được trình lên những người sử dụng và một buổi trình bày sẽ được thực hiện. Những người sử dụng sẽ chọn ra một phương án tỏ ra đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của họ mà vẫn tôn trọng các ràng buộc của tổ chức. Sau đây là các công đoạn của giai đoạn đề xuất các phương án giải pháp: Xác định các ràng buộc tin học và ràng buộc tổ chức. Xây dựng các phương án của giải pháp. Đánh giá các phương án của giải pháp. Chuẩn bị và trình bày báo cáo của giai đoạn đề xuất các phương án của giải pháp. Giai đoạn V: Thiết kế vật lý ngoài Giai đoạn này được tiến hành sau khi một phương án của giải pháp được lựa chọn. Thiết kế vật lý bao gồm hai tài liệu cần có: Trước hết là một tài liệu chứa tất cả các đặc trưng của hệ thống mới sẽ cần cho việc cho việc thực hiện kỹ thuật; và tiếp đó là tài liệu dành cho người sử dụng và nó mô tả phần thủ công và cả những giao diện vơí những phần tin học hoá. Những công đoạn chính của thiết kế vật lý ngoài là: Lập kế hoạch thiết kế vật lý ngoài Thiết kế chi tiết các giao diện (vào/ra) Thiết kế cách thức tương tác với phần tin học hoá Thiết kế các thủ tục thủ công Chuẩn bị và trình bày báo cáo về thiết kế vật lý ngoài Giai đoạn VI: Triển khai kỹ thuật hệ thống Kết quả quan trọng của giai đoạn thực hiện kỹ thuật là phần tin học hoá của hệ thống thông tin, có nghĩa là phần mềm. Những người chịu trách nhiệm về giai đoạn này phải cung cấp các tài liệu như bản hướng dẫn sử dụng và thao tác cũng như các tài liệu mô tả về hệ thống. Các hoạt động chính của việc triển khai thực hiện kỹ thuật của hệ thống là như sau: Lập kế hoạch thực hiện kỹ thuật Thiết kế vật lý trong Lập trình Thử nghiệm hệ thống Chuẩn bị và trình báo cáo về thiết kế vật lý ngoài Giai đoạn VII: Cài đặt và khai thác Cài đặt hệ thống là pha trong đó việc chuyển từ hệ thống cũ sang hệ thống mới được thực hiện. Để việc chuyển này được thực hiện với những va chạm ít nhất, cần phải lập kế hoạch một cách cẩn thận. Giai đoạn này bao gồm các công đoạn sau: Lập kế hoạch cài đặt Chuyển đổi Khai thác và bảo trì Đánh giá những vấn đề lý luận chung về quản lý bán hàng Nói chung tất cả các cửa hàng kinh doanh, từ quy mô lớn đến quy mô vừa và nhỏ muốn kinh doanh có lãi và tồn tại lâu dài thì các nhà quản lý hay các ông chủ cửa hàng đều cần có một kế hoạch, một chương trình quản lý sao cho có thể kiểm soát được các công việc bán hàng trong cửa hàng. Việc quản lý bán hàng là rất quan trọng nó giúp cho nhà quản lý nắm bắt được tình hình hoạt động của cửa hàng từ đó có thể điều chỉnh việc bán hàng của cửa hàng một cách hợp lý và thấy ra những điểm yếu để khắc phục đồng thời cần phát huy những điểm mạnh đang có, thí dụ như nó giúp cho họ biết được những mặt hàng nào là bán chạy trên thị trường để từ đó nhập thêm để tăng cường bán mặt hàng đó, những mặt hàng nào bán chậm thì hạn chế không nhập thêm nữa, biết được số lượng hàng còn tồn đọng trong kho dưới mức tối thiểu hoặc trên mức tối đa để thực hiện các quá trình lên kế hoạch, kiểm tra và tổ chức các công việc khác một cách dễ dàng nhanh chóng…. Từ những lý luận trên đây thí quản lý bán hàng là công việc rất cần thiết đối với các cửa hàng kinh doanh hàng hoá, đồng thời giúp cho nhá quản lý khắc phục những sai sót để có được một hệ thống thông tin hoàn thiện hơn cho công việc quản lý bán hàng. Tổng quan về ngôn ngữ sử dụng - Visual Basic Ngôn ngữ lập trình Visual Basic ngày càng được sử dụng nhiều trong các chương trình, các đề án của các công ty, doanh nghiệp trong và ngoài nước. Visual Basic là một công cụ lập trình hướng đối tượng rất mạnh. Lập trình hướng đối tượng (Object Oriented Programing-OOP) giúp lập trình dễ dàng hơn. Nó rất phù hợp khi được dùng để phát triển các ứng dụng khách. Bất chấp phê phán trong các giai đoạn đầu, Visual Basic đã được nhìn nhận rộng rãi trong cộng đồng kinh doanh là thích ứng tốt trong việc phát triển các ứng dụng khách. Một số phê phán cho rằng Visual Basic không được biên dịch thành mã cấp máy, như C hay C++. Thay vì thế, nó được biên dịch thành P_code, cần 1 trình biên dịch thời gian thực hiện VBRUN500.DLL. Giờ đây, đúng thực chúng ta có thể biên dịch các ứng dụng Visual Basic của mình, theo thiển ý, Visual Basic là ngôn ngữ tốt nhất trên thị trường để phát triển rất nhanh các ứng dụng khách hay tự hành. Visual Basic có một bản chất toàn diện nên việc sử dụng và liên hợp với các tính năng của Office trở nên dễ dàng hơn, bao gồm Word, Excel, PowerPoint và Access. Từng sản phẩm này tác động như một OLE Server xuất khẩu một số tính chất, phương pháp và sự kiện sẵn cho thế giới bên ngoài. Visual Basic có thể sử dụng công năng này. Cách đây nhiều năm, mỗi công ty thường dùng một kiểu cơ sở dữ liệu. Khi các cơ sở dữ liệu trở nên cơ động hơn và các công ty cần kết nối dữ liệu ở qui mô xí nghiệp, thì bắt đầu nảy sinh nhu cầu cần có một cơ sở dữ liệu mã để có thể truy xuất nhiều cơ sở dữ liệu. Vì thế ODBC được sáng chế. Nó cho phép nhà phát triển viết một ứng dụng có thể truy xuất nhiều kiểu cơ sở dữ liệu . Visual Basic vận dụng ODBC thông qua phương pháp Opendatabase, sẽ trả về một tham chiếu đến một đối tượng database. Visual Basic đã phát triển qua rất nhiều phiên bản, Basic là ngôn ngữ lập trình phi cấu trúc. Basic hầu như không còn được sử dụng trong suốt một thời gian dài vì ngôn ngữ không có cấu trúc chặt chẽ nhưng sau đó được hồi sinhvới sự xuất xuất hiện ồ ạt của máy vi tính. Cho đến nay Visual Basic đã ra phiên bản Visual Basic 6. Nó có rất nhiều tính năng mới so với các phiên bản khác. Các điều khiển mới cho phép ta viết các chương trình ứng dụng kết hợp giao diện, cách xử lý và tính năng của office 2000 và trình duyệt WEB Internet Explorer. Không nhất thiết phải có một Instance của điều khiển trên biểu mẫu, VB6 cho phép ta lập trình để thêm điều khiển vào đề án tự động và ta có thể tạo ra các điều khiển ActiveX hiệu chỉnh. Ta cũng có thể viết các ứng dụng phía máy chủ (Server-Side) dùng HTML động nhúng kết với các thư viện liên kết động của Internet information Server. Một vài cải tiến cho phép làm việc với các ứng dụng truy cập dữ liệu ở tầm vĩ mô liên quan đến hàng trăm, hàng nghìn người sử dụng qua mạng hay qua Internet. Trong thế giới lý tưởng, mọi người sử dụng sẽ có một máy tính với bộ xử lý chạy nhanh nhất, bộ nhớ dồi dào, không gian đĩa không giới hạn, và nối mạng nhanh chóng. Thực tế cho thấy rằng đối với hầu hêt mọi ứng dụng, khả năng thi hành thực sự của một ứng dụng sẽ bị ràng buộc bởi một hay nhiều nhân tố. Khi ta tạo ra các ứng dụng ngày càng lớn và tinh vi, lượng bộ nhớ mà ứng dụng cần dùng và tốc độ để chúng thi hành càng trở nên quan trọng hơn. Ta có thể tối ưu hoá ứng dụng bằng cách làm cho nó trở nên nhỏ hơn và tăng tốc độ tính toán và hiển thị. Trong khi thiết kế và lập trình ứng dụng, có rất nhiều kỹ thuật khác nhau được dùng để tối ưu hoá khả năng hoạt động. Một số kỹ thuật làm cho ứng dụng chạy nhanh hơn; một số khác làm cho ứng dụng nhỏ hơn.Visual Basic chia sẻ hầu hết các tính năng ngôn ngữ với Visual Basic for Application, một trình ứng dụng chứa trong Microsoft office và nhiều ứng dụng khác. Visual Basic, scripting edition hay còn gọi là VBScript, là một ngôn ngữ dùng cho các kịch bản Internet, nó cũng là một tập hợp con của ngôn ngữ Visual Basic. Nếu đã từng làm việc với Visual Basic for Application hay VBScript, ta có thể chia sẻ một số đoạn chương trình giữa các ngôn ngữ này. Ngoài ra Visual Basic còn một số ưu điểm cụ thể sau: Làm cho cơ sở dữ liệu dễ bảo trì hơn. Khi dùng Visual Basic, ta có thể tạo ra các hàm theo ý mình để tính ra một giá trị theo những công thức hay qui trình phức tạp. Báo lỗi hay xử lý lỗi theo ý mình: Visual Basic có thể giúp ta phát hiện lỗi của người dùng, hiện ra những thông báo dễ hiểu (bằng tiếng Việt) và đôi khi có thể tự động sửa lỗi. Tạo và điều khiển các đối tượng: dùng Visual Basic, ta có thể điều khiển tất cả các đối tượng trong cơ sở dữ liệu và cả bản thân cơ sở dữ liệu nữa. Tiến hành các hành động ở mức hệ thống: Với Visual Basic, ta có thể kiểm tra xem một tệp có thể tồn tại trong hệ thống hay không, có thể giao lưu với các ứng dụng khác như Excel thông qua Automation (một cách giao tiếp với các ứng dụng của một ứng dụng từ những ứng dụng khác) hay Dynamic Data Exchange (DDE-một giao thức để trao đổi dữ liệu giữa hai ứng dụng dựa trên Windows) và có thể dùng các hàm trong Dynamic-Link Libraries (DLLs-thư viện liên kết động: tập hợp các chương trình con có thể gọi được từ các thủ tục Visual Basic rồi nạp và kết nối với các ứng dụng khi thực hiện). Khi dùng Visual Basic ta có thể thiết kế giao diện của chương trình rất đa dạng, phong phú và thân thiện với người sử dụng vì nó có thể giao lưu với rất nhiều các ứng dụng khác. Tuy vậy ngoài những ưu điểm trên thì Visual Basic cũng tồn tại một số nhược điểm như sau: Hạn chế của đề án: Một đề án duy nhất có thể chứa lên đến 32000 định danh, bao gồm không hạn chế các biểu, điều khiển, Mô-đun, biến, hằng, thủ tục, hàm và đối tượng. Tên biến trong Visual Basic có thể không dài hơn 255 ký tự, và tên biểu mẫu (form), điều khiển, Mô-đun và lớp không thể dài hơn 40 ký tự. Visual Basic không hạn chế số lượng thực sự các đối tượng riêng biệt trong một đề án. Hạn chế của điều khiển: Mỗi một điều khiển không phải đồ họa (nghĩa là tất cả các điều khiển hình dạng, đoạn thẳng, điều khiển ảnh và nhãn) sử dụng một cửa sổ. Mỗi một cửa sổ sử dụng tài nguyên hệ thống nên nó hạn chế số cửa sổ tồn tại ở một thời điểm. Giới hạn chính xác tùy thuộc vào tài nguyên hệ thống hiện có và loại điều khiển đang sử dụng. Để giảm sự tiêu tốn tài nguyên hệ thống , dùng các điều khiển hình ảnh, đoạn thẳng, nhãn và điều khiển ảnh thay cho các điều khiển hộp hình để tạo hoặc hiển thị đồ hoạ. Tổng số điều khiển: Số điều kiển tối đa cho phép trên một biểu mẫu duy nhất tuỳ thuộc vào loại điều khiển được dùng và các tài nguyên hiện có. Tuy nhiên, có một giới hạn cố định là 254 tên của điều khiển trên một biểu mẫu. Một mảng điều khiển chỉ tính là một đối với giới hạn này bởi vì tất cả các phần trong một mảng dùng cùng một tên. Giới hạn trên chỉ mục của mảng điều khiển là từ 0 đến 32767 đối với tất cả các phiên bản. Nếu ta xếp chồng các điều khiển lên nhau, như là sử dụng một vài điều khiển khung lồng nhau, Visual Basic nói chung chỉ chấp nhận không nhiều hơn 25 lớp. Từ những ưu điểm trên của Visual Basic thì tôi đã đi đến quyết định chọn ngôn ngữ sử dụng để viết chương trình là Visual Basic6.0 và cơ sở dữ liệu Microsoft Access trong môi trường Windows98. ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBC974.doc