Báo cáo Thực tập tại Công ty TNHH Nhà nước 1 thành viên Dệt 19/5 Hà Nội

LỜI MỞ ĐẦU Sau khi xóa bỏ cơ chế bao cấp, thúc đẩy phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã thúc đẩy nhiều mô hình kinh tế, các loại hình doanh nghiệp phát triển. Cùng với sự phát triển của nhiều loại ngành công nghiệp khác, ngành dệt may Việt Nam cũng có những bước tăng trưởng cao trong những năm vừa qua. Mặc dầu còn nhiều khó khăn do sự cạnh tranh khốc liệt của các nước khác, đặc biệt là dệt may Trung Quốc, bên cạnh đó l

doc32 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1201 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Báo cáo Thực tập tại Công ty TNHH Nhà nước 1 thành viên Dệt 19/5 Hà Nội, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
à những rào cản kinh tế và các vụ kiện bán phá giá làm cho việc tìm kiếm thị trường và ổn định thị trường càng khó khăn. Năm 2008,2009 với sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu càng làm cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành dệt may nói riêng đang đứng trước những khó khăn và thách thức lớn. Là một doanh nghiệp nhà nước, Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Dệt 19/5 HÀ NỘI đã và đang có những bước đi đúng đắn để hoàn thành xuất sắc các mục tiêu được giao. Với những kế hoạch và bước đi đúng đắn, cùng đội ngũ Cán bộ- Công nhân viên nhiệt tình tâm huyết cống hiến hết mình. Không ngừng tiếp thu KH-CN và nâng cao trình độ kỹ thuật của đội ngũ công nhân. Công ty đã đạt được những thành công về kinh doanh và đang cố gắng tìm hướng đi đúng đắn để thoát khỏi đợt suy thoái kinh tế toàn cầu và dần khẳng định mình trên trường quốc tế. Chương I: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY DỆT 19/5 HÀ NỘI 1-Thông tin chung về doanh nghiệp Tên công ty : Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Dệt 19/5 Hà Nội Tên tiếng Anh : Hanoi May 19 Textile Company Tên giao dịch : Hatexco Địa chỉ : số 203 - Nguyễn Huy Tưởng – Thanh Xuân – Hà Nội Điện thoại : 04.8.584.551 -04.8.584.616 Fax : 048585392 Email : hatex_co@hn.vn.vnn Số ĐKKD : 108.747 - Cấp ngày 28/07/1993 Mã số thuế : 0100.100.495 Cục thuế Thành phố Hà Nội Số tài khoản : 0.021.000.000.73-8 Ngân hàng Ngoại Thương Hà Nội Ngân hàng giao dịch: Ngân hàng ngoại thương HN - CN Thành Công Ngân hàng Công Thương Hà Tây (cầu Am- Hà Đông- Hà Tây). Số tài khoản : 710A-30945. Các kho bạc Nhà nước quận Đống Đa HN. Số tài khoản: 932.01.023. Ngành nghề kinh doanh : Sản xuất sợi cotton các loại; Sản xuất vải bạt các loại; Sản phẩm may thêu; Xây dựng dân dụng... Hiện nay công ty dệt 19/5 Hà Nội có 4 cơ sở sản xuất chính và 2 liên doanh với nước ngoài (Singapo) : Cơ sở 1 : tại 203 Nguyễn Huy Tưởng, Thanh Xuân, Hà Nội Cơ sở 2 : tại 89 Lĩnh Nam, Mai Động, Hoàng Mai, Hà Nội Cơ sở 3 : tại Thôn Văn, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội Cơ sở 4 : tại khu công nghiệp Đồng Văn, Hà Nam Liên doanh 1 : Norfolk hatexco được thành lập năm 2002 Liên doanh 2 : Công ty TNHH tập đoàn sản xuất hàng dệt may 19/5 được thành lập năm 1993 Có 4 nhà máy : Nhà máy Dệt Hà Nội Nhà máy Sợi Hà Nội Nhà máy May Thêu Hà Nội Nhà máy Dệt Hà Nam Vốn điều lệ : 40 tỷ đồng. 2-Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Dệt 19-5 2.1-Giai đoạn từ 1959 đến năm 1964: Trải qua hơn 45 năm, từ ngày đầu thành lập (năm 1959) cho đến nay, sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống pháp, Miền Bắc bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Thủ đô Hà nội được sống trong hòa bình, thực hiện công cuộc cải tạo tư doanh. Xí nghiệp dệt 8/5 được hình thành trên cơ sở hợp nhất một số trụ sở kinh doanh tư nhân, với những trang thiết bị cũ kỹ, lạc hậu, với trụ sở chính ở số 4 ngõ 1 Hàng Chuối Hà Nội, sản xuất các mặt hàng phục vụ quốc phòng và ngành bảo hộ lao động (ngày họp quốc hội lần đầu tiên của kỳ họp thứ 2 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa). Năm 1964, đất nước có chiến tranh, thực hiện chủ trương của thành phố, xí nghiệp chuyển sang chế độ sản xuất thời chiến, vừa sản xuất, vừa chiến đấu, một bộ phận của xí nghiệp được chuyển về nơi sơ tán tại Thôn Văn, xã Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội. Khó khăn chồng chất khó khăn, song được sự quan tâm của Đảng, nhà nước, xí nghiệp đã được đầu tư 50 máy dệt Trung Quốc mới để thực hiện nhiệm vụ sản xuất vải bạt phục vụ quốc phòng, điều này đã khích lệ tinh thần hăng say lao động quên mình của anh chị em với khẩu hiệu “tất cả vì miền Nam ruột thịt, hậu phương phục vụ tiền tuyến lớn để đánh thắng kẻ thù xâm lược”. 2.2-Giai đoạn 1965-1988: Xí nghiệp dệt 8/5 được đổi tên thành “xí nghiệp dệt bạt Hà Nội” với nhiệm vụ sản xuất và tiêu thụ vải bạt cho nhà nước để cung cấp cho quốc phòng và một số ngành kinh tế khác. Năm 1980 trước yêu cầu nhiệm vụ được nhà nước giao tăng từ 1,8 triệu mét/năm lên 2,7 triệu mét/năm, Nhà máy đước xây dựng thêm cơ sở mới tại Nhân Chính, Từ Liêm, Hà Nội (nay là 203-Nguyễn Huy Tưởng, Thanh Xuân, Hà Nội và được đầu tư mới 100 máy dệt Tiệp Khắc.Thành công lớn nhất của giai đoạn này là đội ngũ công nhân kỹ thuật đã lắp đặt đưa vào sản xuất ra sản phẩm số lượng máy dệt Tiệp Khắc mà không cần có chuyên gia nước ngoài. Năm 1982 một vinh dự lớn đến với nhà máy là được UBND Thành phố quyết định Nhà máy được mang tên ngày sinh nhật Bác “Nhà máy dệt 19/5 Hà Nội”. 2.3-Giai đoạn 1989 đến 1999: Đây là thời kỳ chuyển đổi cơ chế quản lý bao cấp sang kinh tế thị trường. Có thể nói đây là thời kỳ khó khăn nhất của nhà máy, nhu cầu sản xuất vải bạt phục vụ nghành giầy giảm mạnh do Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, dây chuyền dệt kim vừa được trang bị do Liên Xô trực tiếp bao tiêu sản phẩm, vừa nhập thì Liên Xô tan rã. “Cái khó ló cái khôn” năm 1993 nhà máy được chuyển sang hoạt đông theo luật doanh nghiệp nhà nước và được đổi tên thành Công ty Dệt 19/5 Hà Nội. Đây là sự thuận lợi cơ bản cho việc mở rộng quan hệ quốc tế tìm đối tác liên kết. Công ty đã mầy mò chủ động tìm kiếm đối tác liên doanh liên kết với đối tác Singapore, để hình thành liên doanh Viêt-Sin giải quyết vấn đề tiêu thụ sản phẩm dệt kim và tiếp nhận số công nhân của 19/5 chuyển sang đang phải nghỉ chờ việc. Cho đến nay doanh nghiệp duy trì lớn mạnh và không ngừng phát triển. Năm 1998 để tháo gỡ khó khăn do nguồn nguyên liệu đầu vào, sợi khan hiếm, Công ty đã mạnh dạn đầu tư dây chuyền sợi với công suất thiết kế giai đoạn 1 là 250 tấn/năm.Có thể nói việc đầu tư dây chuyền kéo sợ đã chứng tỏ Công ty chớp đúng thời cơ, bước đầu tạo thêm ngành hàng mới để bước vào thập kỷ 20 với việc chuyển giao thế hệ phát huy truyền thống vẻ vang và những kinh nghiệm quý báu của thế hệ đi trước. 2.4-Giai đoạn 2000 đến nay: Tiếp tục phát huy truyền thống công ty, cùng với sự nỗ nực của tập thể cán bộ công nhân viên Công ty, cho đến nay Công ty đã tiến một bước dài trên con đường hình thành và phát triển của mình. + Năm 2001 Công ty đầu tư mở rộng thành lập nhà máy kéo sợi công suất 1250 tấn /năm. Năm 2002 thành lập nhà máy may thêu có công suất 500.000sp may và 12 máy thêu. Năm 2005 thành lập nhà máy dệt Hà Nam, phá vỡ thế độc canh để có nhiều nghành hàng chia sẻ rủi ro trong cơ chế thị trường nhiều biến động, mở ra một hướng đi mới cho công ty thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo các Nghị quyết của Đảng bộ Công ty đã đề ra. - Tốc độ tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước từ 15%-25% . - Luôn hoàn thành tốt chỉ tiêu nộp ngân sách. - Đời sống CBCNV không ngừng được cải thiện. - Hệ thống chính trị luôn đạt vững mạnh. Bên cạnh chỉ tiêu kinh tế đạt tăng trưởng cao, công tác an ninh an toàn đã được giữ vững, phong trào thi đua văn hóa văn nghệ, TDTT đã được duy trì có nề nếp tạo môi trường sinh hoạt lành mạnh, thu hút đông đảo CB-CNV tham gia, công tác đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đã được chú trọng: - Năm 2001 Công ty đã xây dựng 01 nhà tình nghĩa tại Nam Đàn quê Bác. - Năm 2003 xây dựng 01 nhà tình nghĩa tại xã Hiền Ninh-Sóc Sơn-Hà nội. - Năm 2004 đã xây dựng 01 nhà tình nghĩa tại Quảng Nam. -Năm 2005 xây dựng 01 nhà tình nghĩa cho bà mẹ Việt Nam Anh Hùng tại tỉnh Quảng Nam. -Năm 2006 tham gia xây dựng 01 nhà tình nghĩa tại quận Hai Bà Trưng-Hà Nội. -Bên cạnh đó công ty còn luôn quan tâm giúp đỡ tài trợ hướng nghiệp cho các cháu ở trung tâm nuôi dưỡng trẻ em mồ côi Hà Cầu –Hà Đông. Đây là những nét đẹp truyền thống của công ty nhằm giáo dục lòng nhân ái cho các CB-CNV và đã để lại những tình cảm thân thương, sâu nặng cho các gia đình chính sách và các cháu mồ côi. Kể từ khi thành lập đến nay, qua 46 năm hình thành xây dựng và phát triển. Công ty Dệt 19/5 Hà Nội đã đón nhận huân chương lao động hạng 3 (năm 1976); huân chương lao động hạng nhì (1083);huân chương lao động hạng nhất (1996),huân chương chiến công hạng 3 (1996); nhiều năm liên tục đạt đơn vị quản lý giỏi của sở và được nhân cờ, bằng khen của Thành Phố; nhiều năm liên tục đạt Đảng bộ trong sạch vững mạnh và Đảng bộ vững mạnh xuất sắc tiêu biểu năm; nhiều năm liên tục Công đoàn và Đoàn thanh niên đạt vững mạnh xuất sắc cấp Quận, Thành Phố. Thực hiện nghị quyết TW III của BCH TW Đảng khóa 9 về việc tiếp tục sắp xếp đổi mới phát triển và nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước. Ngày 13/5/2005 Thành phố đã có quyết định số 2903/QĐ-UB cho phép Công ty Dệt 19/5 Hà Nội chuyển đổi thành công ty TNHH Nhà nước một thành viên Dệt 19/5 Hà Nội. Theo quyết định này kể từ ngày 01/9/2005 Công ty Dệt 19/5 Hà Nội chính thức hoạt động theo pháp nhân mới là công ty TNHH Nhà nước một thành viên Dệt 19/5 Hà Nội. Chương II: ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU CỦA CÔNG TY DỆT 19/5 HÀ NỘI TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 1-Hình thức pháp lý và loại hình kinh doanh 1.1-Hình thức pháp lý Ngày 01/09/2005 theo quyết định số 2903/QĐUB của Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội ký ngày 28/05/2005 công ty dệt 19/5 Hà Nội chuyển sang công ty TNHH Nhà nước một thành viên dệt 19/5 Hà Nội với vốn điều lệ là 40 tỷ đồng. Công ty TNHH Nhà nước một thành viên dệt 19/5 Hà Nội là doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, có tư cách pháp nhân đầy đủ, được đăng ký và hoạt động theo luật doanh nghiệp, luật doanh nghiệp Nhà nước nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty TNHH Nhà nước một thành viên được uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội phê duyệt. 1.2-Loại hình kinh doanh Kinh doanh các sản phẩm bông, vải, sợi, may mặc và giầy dép các loại, hàng dệt thoi, dệt kim, hàng thêu và các sản phẩm phụ trợ. Sản xuất và cung cấp hơi nước, nước nóng. Xuất nhập khẩu các sản phẩm của công ty và sản phẩm liên doanh liên kết. Nhập khẩu và mua bán thiết bị, máy móc, vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu, hoá chất phục vụ nhu cầu sản xuất của công ty và thị trường. lắp ráp và mua bán máy móc, thiết bị điện, điện tử, điện lạnh, tin học, thiết bị viễn thông. Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, cơ sở hạ tầng. Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hoá. Cho thuê nhà xưởng, nhà ở, văn phòng, siêu thị, trung tâm thương mại, kho tàng, bến bãi và máy móc thiết bị. Kinh doanh các ngành nghề khác căn cứ vào năng lực của công ty, nhu cầu thị trường và được luật pháp cho phép. 2-Cơ cấu tổ chức của công ty Vì là đơn vị hạch toán độc lập, bộ máy quản lý của công ty được tổ chức theo mô hình trực tuyến chức năng. Ta có thể xem sơ đồ tổ chức của công ty để có thể hiểu rõ hơn cơ cấu tổ chức của công ty. Ban lãnh đạo công ty gồm: - Tổng giám đốc. - Ba phó tổng giám đốc trong đó: 01 phó giám đốc phụ trách kinh doanh, 01 phó giám đốc phụ trách nội chính, 01 phó tổng giám đốc phụ trách công tác kỹ thuật và đầu tư. - Các phòng ban nghiệp vụ có chức năng tham mưu cho Tổng giám đốc điều hành công việc, bao gồm 7 phòng: - Phòng KHTT: Lập kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. - Phòng KTSX: Quản lý công tác kỹ thuật, đầu tư và điều độ sản xuất. - Phòng tài vụ: Hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh, chuẩn bị vốn cho sản xuất kinh doanh, thu hồi công nợ của khách hàng, phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, thu chi tài chính kế toán. - Phòng LĐTL: Tuyển dụng, đào tạo nhân lực, bố trí lao động, giải quyết chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội, kỷ luật lao động. - Phòng QLCL: Kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá mua về và hàng sản xuất của công ty, thường trực ISO. - Phòng vật tư: Cung ứng vật tư cho sản xuất kinh doanh, bảo quản kho tàng, vận chuyển hàng hoá. - Phòng hành chính tổng hợp: Đảm bảo an ninh, an toàn trong công ty và chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người lao động. Công ty bố trí theo mô hình này có ưu điểm là không quá phức tạp, các quyết định, thông tin từ ban giám đốc và các phòng ban được cập nhật nhanh chóng, có sự phân chia công việc rõ ràng giữa các phòng ban. Chủ tịch công ty kiêm TGĐ công ty Phó TGĐ kỹ thuật và đầu tư Phó TGĐ TC_nội chính Phòng tổ chức lao động Phòng tài vụ Phòng hành chính tổng hợp Phòng KH -TT Phòng vật tư Phòng kỹ thuật Phòng quản lý chất lượng Phó TGĐ phụ trách kinh doanh Nhà máy dệt Hà Nội Các chi nhánh Khu vực liên doanh liên kết của công ty Các nhà máy Nhà máy sợi Hà Nội Nhà máy thêu Hà Nội Nhà máy dệt Hà Nam Chi nhánh công ty tại Hà Nam Chi nhánh công ty tại TPHCM Sơ đồ tổ chức công ty TNHH Nhà nước một thành viên dệt 19/5 Hà Nội 3-Một số hoạt động quản trị Bên cạnh việc tập trung cho sản xuất kinh doanh, ban lãnh đạo còn có một số hoạt động đáng chú ý như: - Chăm lo cải thiện đời sống vật chất cho người lao động, thu nhập bình quân cho một lao động đạt năm sau cao hơn năm trước. - Chăm lo bữa ăn giữa ca, ca sáng ca 3 cho người lao động đạt chất lượng cao - Chăm lo sức khoẻ cho CB_CNV : hàng năm khám sức khoẻ định kỳ để phát hiện bệnh nghề nghiệp và giải quyết cho 100% CB_CNV đi nghỉ mát - Tặng quà sinh nhật cho CB_CNV ( theo cùng một tháng sinh), tiêu chuẩn 50.000 đồng. - Trang bị nhu cầu cần thiết cho lao động nữ - Làm tốt công tác đền ơn đáp nghĩa: chăm lo cho gia đình thương binh liệt sỹ, gia đình CB_CNV có khó khăn, quyên góp tiền để xây dựng nhà tình nghĩa cho Bà mẹ Việt Nam anh hùng, giúp đỡ trẻ em nghèo ở trại trể mồ côi Hà Cầu. Năm 2001 xây dựng 1 nhà tình nghĩa ở Nam Đàn. Năm 2004 xây dựng 1 nhà tình nghĩa ở Sóc Sơn-Hà Nội. Năm 2005 xây dựng 1 nhà tình nghĩa ở Quảng Nam. - Tuyên dương và tặng thưởng quà cho con CB_CNV đạt học sinh giỏi. - Tổ chức vui tết Trung thu, tặng quà ngày 1 – 6 cho con CB_CNV . - Tổ chức phong trào văn nghệ, thể dục thể thao trong CB_CNV qua đó đã đạt được nhiều giải về chạy, cầu lông, bóng bàn… - Sau 49 năm hoạt động, công ty đã được tặng thưởng: - 01 huân chương lao động hạng nhất - 01 huân chương lao động hạng nhì - 01 huân chương lao động hạng ba - 01 huân chương chiến công hạng ba - Đảng bộ công ty nhiều năm liền đạt tiêu chuẩn Đảng bộ trong sạch vững mạnh và năm 2004 đạt tiêu chuẩn vững mạnh xuất sắc. Công đoàn công ty nhiều năm liền được Liên đoàn lao động thành phố Hà Nội tặng cờ và danh hiệu đơn vị có hoạt động Công đoàn vững mạnh xuất sắc. Đoàn thanh niên Cống sản Hồ Chí Minh công ty đạt danh hiệu vững mạnh. - Hệ thống quản lý chất lượng của công ty đã được tổ chức QMS cấp chứng chỉ IS 9002 và đã triển khai TQM và ISO 14000, triển khai SA 8000. - Sản phẩm của công ty đạt nhiều giải vàng, giải bạc tại hội chợ triển lãm trong nước và quốc tế. 4-Đặc điểm về lao động Cũng như các doanh nghiệp dệt may Việt Nam nói chung, lao động chủ yếu của công ty là lao động nữ (chiếm khoảng 80% lao động của toàn công ty). Trong các khâu chính hầu hết là nữ, nam giới chỉ tập trung ở các khâu, các bộ phận sửa chữa, bảo vệ, hành chính. Tổng số lao động toàn công ty tăng qua các năm, năn 2006 chỉ tăng 34 người tương ứng với 0,12%. Năm 2007 tăng nhanh hơn ở mức 94 người tương ứng với 10,79%. Sở dĩ có sự tăng nhanh về số lượng lao động như vậy là do công ty tích cực đầu tư mở rộng cơ sở sản xuất mới. Hiện nay công ty đang tiếp tục tuyển chọn khá lớn lượng lao động để làm việc ở cơ sở Hà Nam. Trước đây, trong thời kỳ bao cấp tổng số lao động của công ty lên đến 1500 người. Hiện nay, do nhu cầu tăng giảm lao động gján tiếp cùng với quá trình tổ chức sắp xếp lại lao động ở các phân xưởng sản xuất, tổng số lao động hiện nay của công ty là 965 người. Do đặc điểm của ngành dệt may nói chung là đò hỏi đội ngũ lao động thủ công tương đối cao, trình độ tay nghề phải tương đối cao, đặc biệt đối với loại hàng dùng cho xuất khẩu vì yêu cầu của khách hàng là rất khắt khe về chất lượng, quy cách sản phẩm. Bảng 2.1: Tổng hợp lao động toàn công ty Công nhân Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Nam 173 199 245 Nữ 637 672 720 Tổng số 810 871 965 Nguồn: Phòng Lao động tiền lương - Công ty d ệt 19/5 H à N ội Do đặc trưng của ngành dệt may nên lao động nữ chiếm chủ yếu trong toàn công ty, tỷ lệ lao động nam chiếm 25.39%, nữ chiếm 74,61%. Nhìn chung lao động trong công ty là lao động trẻ, ở khoảng tuổi 16-34 chiếm 65,49%, khoảng tuổi 35-44 chiếm 59,1% đối với nữ, đối với nam giới thì mức độ tuổi trung niên chiếm tỷ lệ cao hơn, cao nhất là ở khoảng tuổi 45-54 chiếm 63.33%. Bảng 2.2: Cơ cấu lao động toàn công ty năm 2007 Tuổi tuổi Số lượng Tổng số Tỷ số giới tính tỷ lệ nam(%) Tỷ lệ nữ(%) Nam Nữ 16-34 190 618 808 23,51 30,74 69,36 35-44 36 72 108 40,9 50 50 45-54 19 30 49 38,8 36,67 63,33 Nguồn: phòng lao động tiền lương Trình độ tay nghề của lao động là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến công tác quản trị cung ứng NVL, trong tổng số lao động với cơ cấu được nêu trong bảng dưới đây, thì trình độ lao động có tay nghề cao trong công ty tăng lên qua các năm, năm 2003 lao động có trình độ đại học, cao đẳng chỉ có 51 người, năm 2007 đã lên tới 113 người tức là đã tăng nhiều hơn 2 lần, đặc biệt đội ngũ thợ bậc cao tăng khá nhanh: năm 2007 tăng 84% so với năm 2003 (từ 75 lên 138 người), tăng 47% so với năm 2006 (từ 94 lên 138 người). Do quy mô của công ty tăng lên nên đội ngũ lãnh đạo chủ chốt cũng có xu hướng tăng lên, năm 2007 tăng 45% so với năm 2003 (từ 29 lên 42 người). Từ đó ta thấy rằng công ty có tiềm lực tương đối lớn mạnh về lao động, như vậy, sẽ là điều kiện tốt để quản lý và sử dụng có hiệu quả NVL, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, tuy nhiên còn một số tồn tại cần khắc phục như công ty cần phải có sự quan tâm hơn nữa đến đội ngũ lao động chất lượng cao, nâng cao trình độ cho người lao động và bộ phận KCS. Bộ phận KCS trong thời gian tới có xu hướng tăng lên vì đây là bộ phận quan trọng trong quá trình kiểm tra chất lượng từ lúc bắt đầu sản xuất đến khi tới tay người tiêu dùng. Cơ cấu về lao động được thể hiện dưới bảng sau: Bảng 2.3: Cơ cấu lao động của công ty Đơn vị: người. TT Năm 2003 2004 2005 2006 2007 1 Theo tính chất công việc Lao động trực tiếp 564 666 759 784 845 Lao động gián tiếp 58 74 78 87 120 2 Theo trình độ và cấp bậc kỹ thuật Đại học 45 66 75 86 98 Cao đẳng 6 6 8 10 15 Trung học 8 8 8 12 15 CNKT bậc 5-7 75 80 87 94 138 CNKT bậc 1-4 550 590 659 669 692 3 Theo chức năng công việc Lãnh đạo đơn vị 4 4 4 4 4 Cán bộ chủ chốt 29 34 36 38 42 Cán bộ nghiệp vụ kỹ thuật 28 36 38 40 44 Nhân viên thường 5 6 Công nhân kỹ thuật 562 665 723 741 754 4 Theo bộ phận Phân xưởng dệt 160 187 191 194 198 Phân xưởng sợi 198 216 254 262 283 Phân xưởng may - thêu 196 255 296 298 298 Văn phòng 62 74 78 87 120 Bộ phận hoàn thành 7 8 10 9 12 Bộ phận KCS 6 8 8 11 10 Thông qua bảng số liệu trên ta cũng phần nào thấy được tình hình sử dụng lao động và thu hút lao động tại công ty. Song song với việc sử dụng thì công ty cũng có nhiều chính sách đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực, cụ thể như sau: Đối với lao động mới: đào tạo kiến thức cho người lao động về mô hình tổ chức sản xuất cũng như các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong thời gian gần đây và kế hoạch của công ty trong thời gian sắp tới. Đối với lao động trực tiếp: hàng năm công ty có tổ chức các lớp học và thi nâng cao tay nghề được đảm nhiệm bởi phòng lao động và phòng kĩ thuật. Đối với lao động kĩ thuật: nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ thông qua các đợt tập huấn, các khóa học ngắn hạn, dài hạn hoặc qua các đợt tham quan, học tập ở nước ngoài. Các cán bộ chủ chốt được nâng cao trình độ tay nghề qua quá trình chuyển giao công nghệ. 5-Đặc điểm về sản phẩm Sản phẩm sợi Công ty sản xuất các loại sợi 100% cotton có chi số từ Ne 8 đến Ne 45 với Ne chỉ loại sợi cotton thiết diện có chỉ số từ 8 đến 45. Sản phẩm sợi của công ty phục vụ cho phân xưởng dệt và bán cho các bạn hàng trong nước, được đánh giá cao về chất lượng. Doanh thu từ sợi hàng năm chiếm 60% tổng doanh thu của Công ty. Sản phẩm sợi của doanh nghiệp chiếm 30% thị phần cả nước. Sản phẩm vải Công ty sản xuất các loại vải có độ dầy từ 80 g/m2 vải đến 600 g/m2 vải, trong đó sản phẩm chủ yếu là bạt 2, bạt 3, bạt 8, bạt 10 phục vụ cho may công nghiệp, tẩy nhuộm công nghiệp, công nghiệp giày da, công nghiệp khai thác các loại. Sản phẩm may thêu Sản phẩm may thêu được Công ty đầu tư và đưa vào sản xuất tháng 12/2002. Sản phẩm chính là quần áo xuất khẩu các loại; T-shirt, Jacket, quần áo dệt kim và các sản phẩm thêu các loại. 6-Đặc điểm về khách hàng và thị trường Giai đoạn đầu của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, Công ty chủ yếu sản xuất sản phẩm chính là sợi các loại và vải bạt các loại phục vụ chủ yếu cho quân dội và một số doanh nghiệp sản xuất giày. Song do tính cạnh tranh của các loại sản phẩm này ngày càng quyết liệt và nhu cầu về sản phẩm mới của Công ty tăng lên nên trong một vài năm gần đây Công ty đã mở rộng sang một số lĩnh vực kinh doanh khác như: kinh doanh sản phẩm may mặc, sản phẩm thêu và kinh doanh khác. Cho đến nay sản phẩm của Công ty đã được nhiều khách hàng trong nước chứng nhận là sản phẩm có chất lượng tốt, Công ty không ngừng cải thiện, nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như cung cách bán hàng nên cho đến nay thương hiệu sản phẩm của Công ty dệt 19/5 đã được nhiều khách hàng công nhận. Ngày nay, sản phẩm vải không chỉ là để đáp ứng về số lượng, nhiều doanh nghiệp cùng sản xuất nên khách háng có quyền lựa chọn những doanh nghiệp cung cấp những sản phẩm vừa đảm bảo về chất lượng, thời hạn giao hàng…mà còn phải đảm bảo về tính thẩm mỹ, kiểu dáng. Sản phẩm vải Công ty sản xuất chủ yếu là phục vụ cho việc sản xuất giày do đó thị trường chính trong một vài năm gần đây là các đơn vị sản xuất giày trong và ngoài nước. Thị trường trong nước chủ yếu là các công ty giày, dệt, may như: Công ty sợ Phúc Tân, Công ty bông Việt Nam, Công ty giày Thụy Khê, Công ty dệt Minh Khai, Công ty dệt Thành Công, Công ty giày Hiệp Hưng, Công ty giày An Lạc, Công ty giày Bình Định…Trong một vài năm gần đây, thị trường của Công ty chủ yếu là thị trường miền Nam, thị trường quân đội và thị trường miền Bắc có xu hướng giảm xuống, do vậy Công ty đã chủ động trong việc tìm thị trường nước ngoài đó là xuất khẩu sang thị trường Mỹ và EU. Với thị trường ngoài nước sản phẩm chủ yếu Công ty cung cấp là sản phẩm may thêu chất lượng cao. Do đó sản lượng tiêu thụ vải bạt và doanh thu của công ty trong những năm gần đây tăng lên đáng kể. 7-Đặc điểm về mặt bằng và công nghệ sản xuất 7.1-Đặc điểm về mặt bằng sản xuất 7.1.1-Phân xưởng sản xuất Nếu chỉ tính diện tích hiện tại của Công ty dệt 19/5 tại khu vực đường Nguyễn Huy Tưởng thì tổng diện tích khoảng hơn 4, 5 ha; trong đó diện tích của các phân xưởng khoảng gần 2 ha, bao gồm ba phân xưởng chính là phân xưởng dệt, phân xưởng may – thêu và phân xưởng sợi. Bên cạnh các phân xưởng thì hệ thống các kho của Công ty cũng chiếm một diện tích tuơng đối lớn, hệ thống kho bao gồm kho chứa nguyên vật liệu, kho chứa thành phẩm… Vài năm gần đây, Công ty không chỉ tăng về diện tích hoạt động của các phân xưởng mà nhìn chung các phân xưởng cũng đều được tu sửa, bảo dưỡng lại và hiện nay được đánh giá là tương đối hiện đại so với các công ty khác trong cùng ngành dệt may. Bên cạnh các phân xưởng cũ thì trong năm 2003 Công ty có mở rộng ra thêm phân xưởng may – thêu. Các phân xưởng sản xuất đều đảm bảo tiêu chuẩn về độ cao, an toàn, thoáng mát phù hợp với việc bố trí các trang thiết bị máy móc hiện đại. Các phân xưởng được tổ chức bố trí đảm bảo tính hiệu quả nhất của quá trình sản xuất và tối thiểu hoá chi phí vận chuyển giữa các khâu. Đây là mô hình bố trí sản xuất hiệu quả nhất đảm bảo đúng theo qui trình công nghệ, đồng thời tiết kiêm thời gian và chi phí nhất trong sản xuất, vừa tân dụng được các loại nguyên liệu có chất lượng chưa thực sự được tốt, tối thiểu hoá được chi phí sản xuất. 7.1.2-Hệ thống cơ sở quản lý hành chính Không chỉ có hệ thống nhà xưởng của Công ty được tu sửa, bảo dưỡng mà hệ thống cơ sở quản lý hành chính của Công ty cũng không ngừng được nâng cấp. Các bộ phận phòng ban trong công ty được tổ chức khép kín nhưng việc trao đổi qua lại giữa các phòng ban cũng hết sức thuận tiện. Công ty trang bị cả một hệ thống máy tính phục vụ cho công tác quản lý của công ty với tổng số máy là 32 máy, Các máy này được nối mạng Lan trong toàn Công ty để tiện trao đổi, quản lý thông tin. Ngoài ra Công ty còn có một số máy SƠ ĐỒ 2: BẢNG BỐ TRÍ SỬ DỤNG MÁY MÓC THIẾT BỊ Cơ cấu bố trí sản xuất Phân xưởng sợi Phân xưởng dệt Phân xưởng may Phân xưởng hoàn thành Máy chải Máy đậu Máy đo KCS Máy ghép Máy se Máy cắt Đo gấp Máy thô Máy ống Máy may Nhuộm Máy sợi con Máy suốt Máy mắc Đóng kiện Máy đánh ống Máy dệt Máy nối trục (Nguồn: Phòng kỹ thuật sản xuất – Công ty dệt 19/5 Hà Nội) Khác kết nối mạng internet để cán bộ các phòng ban thu thập những thông tin cũng như thực hiện một số giao dịch bằng thương mại điện tử. Với 6 máy in phục vụ cho 7 phòng ban chính và một máy photo nhằm phục vụ cho công tác phô tô tài liệu cần thiết. Hiện tại Công ty được đánh giá là có hệ thống trang thiết bị đảm bảo yêu cầu của sản xuất. 7.2-Đặc điểm về công nghệ sản xuất 7.2.1-Quy trình công nghệ sản xuất Hiện nay công ty có 5 phân xưởng: Phân xưởng sợi: sản xuất các loại sợi 100% cotton phục vụ cho sản xuất vải bạt. Cung bông Chải Ghép Thô Sợi con Đánh ống Sợi đơn Đậu sợi (dọc, ngang) Se sợi (dọc , ngang) Đánh ống Sợi dọc - Mắc sợi dọc Sợi ngang - suốt tự động Dệt Phân xưởng dệt: sản xuất chủ yếu các loại vải phục vụ cho ngành công nghiệp may giày. Phân xưởng may: thực hiện gia công sản phẩm may mặc xuất khẩu cho công ty liên doanh Norfolk – Hatexco, công ty TNHH tập đoàn sản xuất 19/5 Chải vải Giáp mẫu Cắt May Phân xưởng thêu: gồm 10 máy Northphenix với công xuất 15.000 mũi/máy. Ngành hoàn thành: Soạn hàng KCS Đo gấp Đóng kiện Nhập kho Nhuộm Tổ chức bộ máy ở các phân xưởng: - Quản đốc phân xưởng: được tổng giám đốc bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước tổng giám đốc về mọi hoạt động của phân xưởng. - Trưởng ca sản xuất: là người giúp việc cho quản đốc phân xưởng và chịu trách nhiệm trước quản đốc phân xưởng về công việc mà mình phụ trách. Sơ đồ quy trình sản xuất PX May PX Sợi PX Dệt PX Thêu Ngành hoàn thành 7.2.2-Máy móc công nghệ sản xuất Nhìn chung máy móc thiết bị của Công ty trong hững năm gần đây đã từng bước được hiện đại hoá, một số khâu trong dây truyền sản xuất mới. Đặc biệt cuối năm 1998 đầu năm 1999 công ty đã đầu tư 24 máy dệt UTAS của Tiệp với số tiền lên tới 60 tỷ đồng. Tiếp đó đầu năm 2002 Công ty tiếp tục mua 2 máy đậu và một máy se để hoàn thiện và nâng cao năng suất. Tuy nhiên hiện nay các máy móc thiết bị của Công ty có sự đan xen cuả nhiều thế hệ, nhưng chủ yếu vẫn là những máy móc có từ những năm 60 tới nay đã lạc hậu nhưng vẫn sử dụng được. Trải qua nhiều năm hoạt động sản xuất kinh doanh cho đến nay tổng số máy móc thiết bị của công ty có khoảng hơn 100 máy các loại như: máy đậu của Trung Quốc, Ba Lan, Tiệp Khắc ;máy se của Trung Quốc, máy ống, máy suốt, máy chải, máy ghép, máy OE. Theo các bảng số liệu trên ta thấy công nghệ dệt ở tình trạng rất lạc hậu, công nghệ kéo sợi nhập từ Trung Quốc, có những máy móc thiết bị đã khấu hao hết, thậm chí tái khấu hao đến nhiều lần song vẫn đang còn sử dụng. Chính hiện trạng của máy móc thiết bị như vậy đã ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm sản xuất ra, ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu của khách hàng. Bảng 2.4: Thống kê máy móc hiện tại công ty đang sử dụng Tên máy Số lượng Năm đầu tư Nguyên giá một chiếc (đồng) Máy đậu TQ 2 1996 5.147.000 Máy đậu Ba Lan 2 1994 19.307.000 Máy đậu Tiệp 2 2002 21.000.000 Máy se TQ A631 17 1966 25.500.000 Máy se TQ A813 2 1993 49.000.000 Máy se TQ A814 2 1993 58.000.000 Máy se TQ 1 2002 37.600.000 Máy ống TQ 2 1966 5.800.000 Máy ống Ba Lan 2 1990 8.900.000 Máy suốt LX 4 1988 30.000.000 Máy mắc Pháp 1 1966 15.600.000 Máy mắc TQ 2 1993 20.500.000 Máy dệt TQ 44 1966 8.000.000 Máy dệt UTAS 24 1999 6.500.000 Máy chảy 3 1998 7.260.000 Máy ghép 1 1998 3.400.000 Máy thô 1 1998 7.200.000 Máy sợi con 4 1998 4.500.000 Máy thêu - Australia 10 2003 20.000.000 (Nguồn: Phòng kỹ thuật sản xuất – Công ty dệt 19/5 Hà Nội) 7.3-Xác định cầu NVL trong kỳ kế hoạch Căn cứ để lập kế hoạch NVL: Theo cơ chế mới của công ty, mỗi phòng ban chức năng được giao nhiệm vụ cụ thể, phòng vật tư là nơi quản lý vật tư cho sản xuất kinh doanh, nguyên vật liệu, thiết bị phụ tùng, vận chuyển, bốc dỡ…bởi vậy ,việc lập kế hoạch cung ứng nguyên vật liệu do phòng vật tư và phòng kế hoạch đảm nhiệm. Căn cứ vào đơn hàng đã kí kết, định mức tiêu dùng nguyên vật liệu sẽ lên kế hoạch cụ thể cho từng đơn hàng. Dựa vào định mức để xác định tổng hạn mức là 101.5% định mức, có tỷ lệ dôi ra này nhằm phòng trừ tỷ lệ sai sót. Từ đó phòng vật tư sẽ lên kế hoạch mua vật tư, với tỷ lệ là 105% so với định mức phòng khi thiếu hụt. Bảng 2.5 : Nhu cầu nguyên vật liệu năm 2007 Đơn vị: 1000 đồng STT Tên nguyên liệu ĐVT Nhu cầu Đơn giá Thành tiền 1 Vải 0289 K160 m 399.000 16,0 6.384.000 2 Vải 0289 K160 TP m 210.000 16,5 3.465.000 3 Vải HNOI m 245.000 18,5 5.532.500 4 Vải HNAM m 125.000 16,3 2.037.500 5 Vải cân m 95.000 11,2 1.064.000 6 Vải 0726 K160 m 364.000 17,5 6.370.000 7 Vải 0726 K160 TP m 180.000 18 3.240.000 8 Vải 0614 K150 tẩy trắng m 170.500 22 3.751.000 9 Vải 0525 K165 m 143.000 17,8 2.545.400 10 Vải 0511K SK160 m 129.000 14 1.806.000 Nguồn. Phòng kế hoạch thị trường Phương pháp xác định nhu cầu nguyên vật liệu Công ty Dệt 19/5 là loại hình doanh nghiệp sản xuất hàng loạt, với nhiều chủng loại sản phẩm khác nhau, sản phẩm được sản xuất bởi mỗi loại vật liệu khác nhau, vì vậy em chỉ xin trình bày phương pháp tính toán của loại NVL chính. - Công thức tính lượng NVL thứ i để sản xuất ra sản phẩm k: Qik = S[(Đik*Qk)*(1+Tk)] Trong đó: Qik : Cầu NVL thứ i để sản xuất sản phẩm k trong kỳ kế hoạch Đik : Định mức tiêu dùng loại NVL thứ i để sản xuất ra một sản phẩm k Tk : Tỷ lệ hao hụt NVL Qk : Số lượng sản phẩm thứ k được sản xuất trong kỳ kế hoạch - Chi phí NVL i để sản xuất số sản phẩm k trong kỳ kế hoạch: Cik = Qik* Pi Trong đó: Cik : Chi phí NVL i để sản xuất sản phẩm k Pi : Giá NVL i Ví dụ: Nhu cầu vải 0614 K150 tẩy trắng để sản x._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc22594.doc
Tài liệu liên quan