Biện pháp đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào trong công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản

ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT LỜI NÓI ĐẦU ỨNG DỤNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ. 1 Khoa học và công nghệ và vai trò của khoa học và công nghệ 1.1 Khoa học công nghệ là gì? 1.1.1 Khoa học là gì? 1.1.2 Công nghệ là gì? 1.1.3 Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ. 1.2 Vai trò của khoa học và công nghệ trong các Nghị quyết của các Đại hội Đảng. 1.2.1 Hồ Chí Minh với khoa học và công nghệ. 1.2.2 Các Nghị quyết của các Đại Hội Đảng nói về vai trò của khoa học và công nghệ. 2. Ứng dụng khoa học và c

doc23 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1316 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Biện pháp đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào trong công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ông nghệ và sự cần thiết phải ứng dụng khoa học và công nghệ. 2.1 Ứng dụng khoa học công nghệ là gì? 2.2 Sự cần thiết phải ứng dụng khoa học và công nghệ. II THỰC TRẠNG CỦA ỨNG DỤNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VÀO TRONG CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG, LÂM, THỦY SẢN. Những mặt hạn chế trong ứng dụng khoa học và công nghệ vào trong công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản Cơ chế quản lý của nhà nước trong hoạt động khoa học và công nghệ của nước ta hiện nay gặp nhiều bất cập. Việc xác định và thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ chưa thực sự xuất phát từ nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội. Vai trò quản lý nhà nước đối với các tổ chức khoa học và công nghệ chưa phù hợp. Cơ chế chính sách tài chính chưa tạo động lực và điều kiện thuận lợi và sự tự chủ cao cho cá nhân tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ. Vai trò quản lý cán bộ khoa học và công nghệ chưa tạo động lực để phát huy năng lực sáng tạo của cán bộ khoa học và công nghệ. Vai trò quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ còn chưa đổi mới kịp với yêu cầu chuyển sang kinh tế thị trường. Thị trường công nghệ còn nhỏ bé, chậm phát triển. Nguyên nhân chủ yếu của các yếu kém trên. Những khó khăn yếu kém đối với các tổ chức, đơn vị nghiên cứu khoa học và công nghệ. Khó khăn yếu kém của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ. Khó khăn yếu kém của cán bộ quản lý khoa học và công nghệ. Cơ sở vật chất còn nghèo nàn, lạc hậu. Khó khăn trong việc thu hút và sử dụng vốn. Những khó khăn và yếu kém của các doanh nghiệp, cơ sở chế biến nông, lâm, thủy sản trong việc ứng dụng khoa học và kỹ thuật. Các doanh nghiệp, cơ sở chế biến chưa thấy rõ vai trò của việc ứng dụng khoa học và công nghệ vào trong sản xuất. Quy mô và vốn của các doanh nghiệp này còn rất”khiêm tốn” Trình độ của công nhân về khoa học và công nghệ còn kém. Khó khăn trong việc chuyển giao khoa học và công nghệ. Những mặt đạt được trong việc thúc đẩy ứng dụng khoa học và công nghệ vào chế biến nông, lâm, thủy sản. Khoa học và công nghệ đóng góp tích cực vào trong phát triển kinh tế xã hội. Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ từng bước đổi mới. Trình độ nhận thức và ứng dụng khoa học và công nghệ của nhân dân ngày càng được nâng cao. Ngày càng có nhiều công trình khoa học và công nghệ ứng dụng vào nghành công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản. III BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VÀO TRONG CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG, LÂM, THỦY SẢN. 1 Tạo lập và phát triển thị trường khoa học và công nghệ 2. Chính sách đối với cán bộ khoa học và công nghệ. 3. Phát động phong trào quần chúng tiến quân vào khoa học phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật 4. Tăng đẩu tư cho phát triển khoa học và công nghệ từ nhiều nguồn. 5. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cơ sở chế biến hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ. 6. Tăng cường kiểm soát, giám định công nghệ và chất lượng sản phẩm đối với doanh nghiệp và cơ sở chế biến. 7. Đổi mới hệ thống quản lý hoạt động khoa học và công nghệ. 8. Đẩy mạnh các hoạt động thông ti, tuyên truyền, phổ cập kiến thức khoa học và công nghệ. IV KẾT LUẬN. Lời nói đầu Ngày 11 tháng 07 năm 2006 chiếc búa đã được gõ xuống quyết định cho Việt Nam ra nhập thị trường chung thế giới (WTO). Tiếng búa này báo hiệu cho nền kinh tế Việt nam sẽ có những thuận lợi lớn : Được tiếp cận thị trường hàng hóa và dịch vụ ở tất cả các nước thành viên, môi trường kinh doanh của nước ta sẽ ngày càng được cải thiện, có vị thế bình đẳng như các thành viên khác trong việc hoạch định chính sách thương mại toàn cầu, thúc đẩy tiến trình cải cách trong nước, bảo đảm cho tiến trình cải cách đồng bộ và hiệu quả hơn, nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế . Đồng thời tiếng búa đó cũng báo hiệu cho nền kinh tế Việt nam sẽ phải đứng trước những thử thách lớn như : Cạnh tranh gay gắt với nhiều đối thủ trên bình diện rộng hơn, sâu hơn; sự phân phối lợi ích của toàn cầu hóa không đều và có thiệt đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt nam; tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia sẽ tăng và đặt ra những vấn đề mới trong bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc dân tộc. Việt nam ra nhập WTO có thể được ví như một “anh hàng rong” nay có một gian hàng đẹp ở trong “siêu thị”( WTO). “Siêu thị” này cạnh tranh rất khốc liệt. Nhưng vấn đề được đặt ra là “anh hàng rong” có trình độ khoa học công nghệ còn thấp kém, trình độ nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế dẫn đến sản phẩm hàng hóa, dịch vụ có chất lượng thấp, chi phí sản xuất cao, giá cả cao làm cho sản phẩm hàng hóa, dịch vụ có năng lực cạnh tranh yếu. Trong khi đó các “gian hàng” khác trình độ khoa học công nghệ hiện đại, có trình độ nguồn nhân lực cao làm cho sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của họ có chất lượng cao, chi phí sản xuất thấp làm cho sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của họ có năng lực cạnh tranh cao có nhiều lợi thế trong canh tranh. Vậy “anh hàng rong” này phải làm gì để nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng hóa, dịch vụ của mình để có thể cạnh tranh được với các “gian hàng” khác trước tiên là ngay trên “sân nhà ” đồng thời thâm nhậm vào thị trường của họ. Một trong những biện pháp quan trọng không thể không nói đến đó là đẩy mạnh ứng dụng những thành tựu của khoa học công nghệ vào sản xuất vì khoa học công nghệ là lực lượng sản xuất hàng đầu từ đó có thể nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, giảm chi phí sản xuất, sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu từ đó có thể nâng cao được năng lực cạnh tranh. Nước ta đang là một nước nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao, phần lớn lao động làm việc trong nông nghiệp. Người nông dân gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ vì nông sản chưa qua chế biến giá cả và chất lượng luôn luôn biến động làm cho nông dân thay đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo nhu cầu thị trường dẫn đến thu nhập của người dân không ổn định. Nông sản đã qua chế biến giá cả, chất lượng và thị trường tiêu thụ ổn định hơn. Vì vậy chúng ta nên quan tâm đến công nghiệp chế biến nông sản ở từng địa phương có tiềm năng và nguồn nguyên liệu sẵn có. Chính vì những lẽ trên cho nên em chọn vấn đề : “Biện pháp đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào trong công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản” làm đề án môn học kinh tế và quản lý công nghiệp của em. Em xin kính mong quý thầy cô giúp đỡ em để em có thể hòan thành tốt đề án của mình. Em xin chân thành cám ơn. I. ỨNG DỤNG THÀNH TỰU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ. Khoa học công nghệ và vai trò của khoa học công nghệ. Khoa học công nghệ là gì? Khoa học là gì? Trong lịch sử tư duy của nhân loại có rất nhiều các quan niệm khác nhau về khoa học. Một mặt nó phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội mặt khác phụ thuộc vào trình độ nhận thứ. Xét về phương diện xã hội : Khoa học là một hiện tượng xã hội có nhiều mặt, trong đ ó biểu hiện thống nhất giữa các yếu tố vật chất và những yếu tố tinh thần. Về phương diện triết học : Khoa học là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt. Đặc biệt bởi vì khoa học không chỉ phản ánh tồn tại xã hội, phụ thuộc vào xã hội. Những chân lý của nó được thưc tiễn xã hội kiểm nghiệm Về phương diện nhận thức luận : Khoa học là giai đoạn cao của nhận thức giai đoạn nhận thức luận. Ngày nay thì khoa học được quan niệm một cách phổ biến như sau: Khoa học là một hệ thống tri thức về tự nhiên, về xã hội, về con người và về tư duy của con người. Nó nghiên cứu và vạch ra những mối quan hệ nội tại, bản chất của các sự vật hiện tượng, quá trình từ đó chỉ ra những quy luật khách quan của sự vận động và phát triển của tự nhiên xã hội tư duy. Những hệ thống tri thức khoa học không chỉ là sự phản ánh thế giới hiện thực mà còn được kiểm nghiệm qua thực tế, hệ thống tri thức khoa học được coi là tri thức khoa học phải đảm bảo tính đúng đắn và tính chân thực. Khoa học đó là hệ thống chi thức chân thực về tự nhiên xã hội và tư duy. Khoa học là sự tìm tòi tổng hợp những gì về bản chất của thông tin và của nguyên lý đã được con người khám phá ra. Công nghệ là gì? Quan niệm về công nghệ phụ thuộc vào qun điểm, mức độ quan tâm, cách tiếp cận người ta có thể đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về công nghệ. Công nghệ theo nghĩa chung nhất có thể coi đó là tập hợp tất cả những sự hiểu biết của con người vào việc biến đổi cải tạo thế giới nhằm đáp ứng nhu cầu sống của con người, sự tồn tại và phát triển của xã hội. Công nghệ trong sản xuất là tập hợp các phương tiện vật chất các phương pháp, các quy tắc, các kỹ năng được con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm nào đó cần thiết cho xã hội. Ba nghĩa chủ yếu được sử dụng phổ biến: Công nghệ được coi là một môn khoa học ứng dụng triển khai (trong tương quan với khoa học cơ bản ) trong việc vận dụng các quy luật tự nhiên và nguyên lý khoa học nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của con người. Công nghệ được hiểu với tư cách như là các phương tiện vật chất kỹ thuật, hay đó là sự thể hiện cụ thể của tri thức khoa học đã được vật thể hóa thành các công cụ, các phương tiện kỹ thuật cần cho sản xuất và đời sống. Công nghệ bao gồm các cách thức, các phương pháp các thủ thuật, các kỹ năng có được nhờ dựa trên cơ sở tri thức khoa học và được sử dụng vào sản xuất trong các nghành khác nhau để tạo ra các sản phẩm. 1.1.3 Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ: Kiến thức là tổng hợp những gì thuộc về bản chất của thông tin và của những nguyên lý đã được con người khám phá ra. Khoa học là sự tìm tòi các kiến thức còn công nghệ là sự áp dụng kiến thức vào việc giải quyết những vấn đề của thực tế. Mối quan hệ giữa khoa học (trả lời câu hỏi tại sao) với công nghệ (trả lời câu hỏi như thế nào) mới được đề cập đến trong thời gian gần đây. Trong lịch sử phát triển của con người, lúc đầu khoa học và công nghệ không gắn bó chặt chẽ, nhiều công nghệ được sản sinh thông qua kinh nghiệm và thử đúng sai, chứ không dựa vào phát minh khoa học. Giai đoạn tiếp theo nhờ những thành tựu đạt được các nhà khoa học được cung cấp các phương tiện các công cụ để thực hiện những công trình nghiên cứu của mình, những phát minh khoa học mở rộng trong cuộc cách mạng công nghiệp đã được ứng dụng rộng rãi trong công nghệ. Nhờ áp dụng phát minh khoa học thời gian nghiên cứu triển khai đã rút ngắn. 1.2 Vai trò của khoa học & công nghệ trong các nghị quyết của các Đại hội Đảng: 1.2.1 Hồ Chí Minh với khoa học & công nghệ: Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh luôc qua tâm đến lĩnh vực khoa học & công nghệ. Người cho rằng, khoa học và kỹ thuật có ảnh hưởng rất lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước. Người không ngừng chăm lo bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ khoa học và kỹ thuật để phục vụ cho nước nhà. Có thể khẳng định, hiểu và đánh giá đúng về vai trò, sức mạnh của khoa học và công nghệ và biết cách phát huy tối đa sức mạnh đó cho sự nghiệp cách mạng chính là cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ. Khoa học phải từ sản xuất mà ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Hội phổ biến khoa học và kỹ thuật Việt nam. Bác Hồ cho rằng: “Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhăm nâng cao năng suất lao động và không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân, bảo đảm cho CNXH thắng lợi”. (Hồ Chí Minh toàn tập T11 trang 78). Theo người muốn công tác phổ biến khoa học kỹ thuật thành phong trào mạnh mẽ, phải dựa vào lực lượng to lớn của các tổ chức quần chúng như thanh niên, phụ nữ, công đoàn… đồng thời phải phối hợp chặt chẽ với các nghành chuyên môn và các tổ chức khoa học khác. Người đề cao nhiệm vụ dạy bảo các cháu thiếu niên về khoa học kỹ thuật làm cho các cháu ngay từ nhỏ đã biết yêu khoa học, để mai sau các cháu trở thành những người có thói quen sinh hoạt và làm việc một cách khoa học. 1.2.2 Các nghị quyết của Đại hội Đảng nói về vai trò của khoa học & công nghệ: Ngay từ khi bắt đầu quá trình Đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm hoàn thiện và đổi mới quan điểm, các chủ trương, chính sách trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị khóa 6 đã nêu rõ: “Đại hội lần thứ 6 của Đảng đề ra đường lối đổi mới, coi khoa học và công nghệ là môtj động lực mạnh mẽ của sự nghiệp đổi mới, ổn định tình hình và phát triển kinh tế xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa, coi những người làm khoa học và công nghệ là đội ngũ cán bộ tin cậy, quý báu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta”. Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa 7 trong phần về chủ trương phát triển khoa học và công nghệ đến năm 2000 đã nêu rõ quan điểm: “Khoa học công nghệ là nền tảng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh và hiện đại ở những khâu quyết định”. Trong báo cáo Chính trị tại Đại hội 8 Đảng lại nhấn mạnh:”Khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước ý chí quật cường, phát huy tài trí của người Việt nam quyết tâm đưa nước nhà ra khỏi nghèo nàn và lạc hậu bằng khoa học và công nghệ”. Từ những quan điểm của các Đại hội Đảng ta thấy được vai trò to lớn của Khoa học và công nghệ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta để nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp và năm 2020. 2. Ứng dụng khoa học công nghệ và sự cần thiết phải ứng dụng khoa học công nghệ: 2.1 Ứng dụng khoa học công nghệ: Ứng dụng khoa học công nghệ là việc đưa những kiến thức đưa những gì thuộc về bản chất của thông tin và của những nguyên lý đã được con người khám phá ra đưa các phương tiện vật chất các phương pháp các quy tắc, các kỹ năng được con người sử dụng để tác động và đối tượng lao động vào trong sản xuât kinh doanh để tạo ra năng suất sản xuất cao và tăng hiệu quả kinh tế, giảm hoạt động của con người. 2.2 Sự cần thiết phải ứng dụng khoa học kỹ thuật: Trong bối cảnh của đất nước ta hiện nay, đây là vấn đề hết sức quan trọng nước ta là một nước đang phát triển nhiều mặt còn lạc hậu làm sao để rút ngắn khoảng cách giữa các nước khác một trong những biện pháp là ứng dụng khoa học công nghệ vào trong sản xuất vì khoa học và công nghệ có vai trò lớn trong việc thúc đẩy sự phân công lại lao động xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, khoa học và công nghệ cho phép mở rộng khả năng khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực của đất nước, góp phần thúc đẩy quá trình hình thành và chuyển dich cơ cấu kinh tế. Khoa học công nghệ là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển bền vững đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã xác định vai trò quan trọng của khoa học công nghệ, có thể nói khoa học và công nghệ ở mức độ nào đó đóng vai trò vừa như là một giải pháp có tính động lực thúc đẩy, vừa như một yếu tố tác động trực tiếp vào quá trình phát triển góp phần làm tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế vì vậy việc ứng dụng khoa học và công nghệ vào trong sản xuất là rất cần thiết đối với tất cả các quốc gia trên thế giới hiện nay đặc biệt là đối với Việt nam năng suất lao động còn thấp, chất lượng kém, năng lực cạnh tranh yếu thì vấn đề ứng dụng khoa học công nghệ trở thành một yêu cầu tất yếu để có thể thành công trong nền kinh tế toàn cầu hóa. II. THỰC TRẠNG CỦA ỨNG DỤNG KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ VÀO CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG, LÂM, THỦY SẢN. 1. Những mặt hạn chế trong việc ứng dụng khoa học công nghệ vào công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản. Hiện nay nhiều địa phương có điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp chế biến, nhưng giá trị sản xuất công nghiệp chế biến so với tiềm năng sẵn có của từng địa phương còn thấp các cơ sở chế biến từ các sản phẩm nông, lâm, thủy sản có quy mô còn rất “khiêm tốn” hầu hết là các cơ sở chế biến nhỏ, chế biến bằng thủ công, vốn, sản lượng hàng hóa ít, chất lượng sản phẩm thấp chưa tương xứng với thế mạnh tiềm năng của từng vùng. Việc phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản phụ thuộc khá nhiều vào khả năng cung cấp nguyên liệu cả về số lượng và chất lượng. Bên cạnh đó phần lớn các nhà máy chậm đổi mới dây chuyền công nghệ nên chỉ dừng ở mức sơ chế, thiếu sản phẩm tinh chế, sản lượng sản phẩm thấp, mặt hàng đơn điệu, tính cạnh tranh kém. Để giải quyết vấn đề trên thì phải đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ vào trong công nghiệp chế biến nông, lâm. thủy sản để tạo ra giống cây trồng vật nuôi mới có năng suất cao, chất lượng tốt để đảm bảo tính ổn định của nguyên liệu đồng thời làm cho người nông dân có thu nhập ổn định hơn, không phải thay đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo nhu cầu của thị trường. Ứng dụng khoa học và công nghệ vào trong công nghiệp chế biến tạo ra máy móc thiết bị hiện đại phù hợp với quy mô từng vùng nguyên liệu làm cho chất lượng sản phẩm nâng cao, sức cạnh tranh cao. Có thể thấy việc ứng dụng khoa học và công nghệ vào công nghiệp nông lâm, thủy sản tạo ra thuận lợi và hiệu quả rất lớn nhưng trong công tác đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ vào công nghiệp chế biến nông lâm, thủy sản còn gặp những hạn chế, khó khăn sau: Cơ chế quản lý của nhà nước trong hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ ở nước ta hiện nay. Mặc dù hoạt động khoa học và công nghệ ở nước ta đã có những tiến bộ nhất định. Song nhìn chung cơ chế quản lý khoa học và công nghệ ở nước ta hiện na còn chưa được đổi mới cơ bản còn chưa phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với đặc thù của hoạt động khoa học và công nghệ xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế điều đó được thể hiện ở chỗ: Việc xác định và tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ chưa thực sự xuất phát từ các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội. Chưa định rõ quyền hạn, trách nhiệm của các nghành , các cấp trong việc xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Thiếu cơ chế hữu hiệu khắc phục tình trạng trùng lặp nhiệm vụ khoa học và công nghệ giữa các nghành các địa phương. Tiêu chuẩn lựa chọn và việc lựa chọn chuyên gia tham gia các hội đồng tư vấn để xác định, tuyển chọn và tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, đánh giá tiêu chuẩn chưa tương hợp với chuẩn mực quốc tế. Vai trò quảnlý của Nhà nước đối với các tổ chức khoa học và công nghệ chưa phù hợp. Vai trò quản lý của Nhà nước đối với các tổ chức khoa hoa học và công nghệ chưa phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo và kinh tế tị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thiếu quy hoạch các tổ chức khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành, lĩnh vực khoa học và công nghệ trọng điểm và nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội. Các tổ chức khoa học của Nhà nước chưa được thực hiện đầy đủ quyền tự chủ về kế hoạch tài chính, nhân lực và hợp tác quốc tế phát huy tính năng động, sáng tạo và gắn kết giữa nghiên cứu đào tạo và sản xuất, kinh doanh, chưa xâ dựng được các tiêu chí cụ thể đánh giá chất lượng và hiệu quả của hoạt động khoa học và công nghệ. Cơ chế chính sách tài chính chưa tạo động lực và điều kiện thuận lợi và sự tự chủ cao cho tổ chức, cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ. Đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho khoa học và công nghệ còn dàn trải, thiếu tập trung cho các lĩnh vực, công trình trọng điểm. Thiếu biện pháp hữu hiệu để huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước cho khoa học và công nghệ. Thiếu các nguồn vốn đầu tư mạo hiểm để khuyến khích nguyên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ vào trong sản xuất kinh doanh. Vai trò quản lý cán bộ khoa học và công nghệ chưa tạo động lực để phát huy năng lực sáng tạo của cán bộ khoa học và công nghệ: Chậm chuyển đổi từ cán bộ công chức sang cán bộ viên chức và hợp đồng, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu chuyển và đổi mới cán bộ. Thiếu cơ chế, biện pháp cụ thể xây dựng và nâng cao vai trò của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ đầu nghành và các tập thể khoa học và công nghệ mạnh. Chế độ tiền lương còn bất hợp lý chưa khuyến khích cán bộ toàn tâm với sự nghiệp khoa học và công nghệ. Chưa có chính sách cụ thể khuyến khích mạnh lực lượng khoa học và công nghệ ngoài nước tham gia đóng góp vào sự nghiệp phát triển đất nước. Vai trò quản lý Nhà nước về Khoa học công nghệ còn chưa đổi mới kịp với yêu cầu chuyển sang kinh tế thị trường. Thiếu cơ chế cụ thể để điều phối hoạt động quản lý Nhà nước về khoa học và công nghệ. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý Nhà nước đối với hoạt động khoa học và công nghệ còn thiếu, chưa cụ thể, thiếu đồng bộ, lạc hậu so với thực tiễn, nhiều quy định không khả thi. Thiếu phân công, phân cấp rõ ràng về quyền hạn và trách nhiệm giữa các Bộ, nghành và giữa trung ương và địa phương. Thị trường công nghệ còn nhỏ bé, chậm phát triển. Hoạt động mua bán công nghệ và lưu thông các kết quả nghiên cứu còn rất hạn chế do thiếu nhiều các tác nhân quan trọng, các yếu tố cấu thành thị trường và các quy định pháp lý cần thiết. Phần lớn các kết quả nghiên cứu còn dừng ở phạm vi phòng thí nghiệm, chưa tạo ra được nhiều công nghệ hoàn chỉnh có thể thương mại hóa. Chưa chú trọng việc mua sáng chế công nghệ của các nước tiên tiến để đổi mới công nghệ. Quy định về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ chưa khuyến khích các tổ chức thực hiện nghiên cứu quan tâm khai thác, thương mại hóa các kết quả nghiên cứu được tạo ra bằng kinh phí từ ngân sách Nhà nước. Hiệu lực về thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ thấp. Năng lực của các tổ chức trung gian, môi giới công nghệ còn yếu kém chưa thật sự đáp ứng vai trò cầu nối giữa cung và cầu. 1.1.7 Nguyên nhân chủ yếu của những yếu kém trên. Tựu chung lại cơ chế quản lý khoa học và công nghệ ở nước ta hiện nay còn chưa đồi mới cơ bản, còn chưa phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là do những nguyên nhân sau đây: Qua điểm khoa học và công nghệ là nền tảng là động lực phát triển đất nước đã được khẳng định trong các nghị quyết của Đảng, nhưng chưa được quán triệt đầy đủ để chuyển thành hành động thực tế của các cấp chính quyền, cac Bộ, nghành, địa phương trong xây dựng và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội. Nhiều chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ về phát triển khoa học và công nghệ chậm được thể chế hóa bằng văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng nhu cầu đổi mới trong thực tiễn; lãnh đạo các cấp thiếu kiên trì, kiên quyết trong chỉ đạo thực hiện đổi mới quản lý khoa học và công nghệ. Chậm đổi mới tư duy, phương pháp quản lý khoa học và công nghệ trong điều kiện chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế. Chưa làm rõ trách nhiệm của Nhà nước về đầu tư phát triển đối với một số các hoạt động khoa học và công nghệ như nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu mang tính công ích, nghiên cứu chiến lược, chính sách phát triển.v.v…chưa có chính sách phù hợp đối với hoạt động khoa học và công nghệ vần và có thể vận dụng cơ chế thị trường như hoạt động nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ. Chưa tách biệt vai trò quản lý hành chính Nhà nước với hoạt động sự nghiệp dẫn đến tình trạng các cơ quan quản lý Nhà nước trực tiếp thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ. Thiếu cơ chế hữu hiệu về thanh tra, kiểm tra và quy định trách nhiệm rõ ràng trong hoạt động khoa học và công nghệ. Chưa coi trọng tổng kết thực tiễn và điển hình tiên tiến Vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước hiện nay còn duy trì sự bao cấp gián tiếp của Nhà nước thông qua các ưu đãi, độc quyền trong nhiều lĩnh vực, khiến cho các doanh nghiệp Nhà nước ít quan tâm đến nghiên cứu ứng dụng và đổi mới công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh. Năng lực khoa học và công nghệ của doanh nghiệp còn nhiều bất cập, thiếu đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ trong các doanh nghiệp làm cầu nối cho ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất. Hệ thống tài chính tiền tệ kém phát triển cũng không tạo điều kiện cho doanh nghiệp tự huy động vốn để đầu tư cho khoa học và công nghệ. Những khó khăn, yếu kém đối với các tổ chức đơn vị nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ. Không thể không thừa nhận những thành tựu, những đóng góp của các tổ chức, đơn vị, cơ quan nghiên cứu khoa học và công nghệ đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhất là trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển kinh tế tri thức trên thế giới. Nhưng bên cạnh đó nó cũng còn bộc lộ những khó khăn, yếu kém có tác động xấu là kìm hãm ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh. Những khó khăn, yếu kém đó là: 1.2.1 Khó khăn yếu kém của đội ngũ đội ngũ cán bộ Khoa học và công nghệ. Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ tuy tăng về số lượng, nhưng tỷ lệ trên số dân còn thấp so với các nước trong khu vực, chất lượng chưa cao; còn thiếu nhiều cán bộ đầu nghành, chuyên gia giỏi, đặc biệt là các chuyên gia về công nghệ. Số đông cán bộ có trình độ đều đã lớn tuổi, đang có nguy cơ hẫng hụt cán bộ. Đời sống của cán bộ khoa học công nghệ còn nhiều khó khăn vì tiền lương còn chưa đáp ứng nhu cầu và tạo động lực cho họ cho nên không ít cán bộ khoa học và công nghệ chuyển đi làm việc khác hoặc đổi nghề, gây lên sự lãng phí chất xám nghiêm trọng. Bên cạnh đó chính sách tiền lương chưa thỏa đáng cho nên không thu hút được nnhững người tài vào làm việc cho các đơn vị khoa học và công nghệ họ thường làm việc cho các tổ chức nước ngoài trả lương cao hơn. Cán bộ khoa học và công nghệ còn chậm đổi mới tư duy, phương pháp nghiên cứu khoa học công nghệ trong điều kiện chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế. Dẫn đến hoạt động khoa học công nghệ chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhất là xu thế hội nhập kinh tế quốc tế là sự phát triển kinh tế tri thức trên thế giới. Các kết quả nghiên cứu chưa thực sự gắn kết với nhu cầu và hoạt động của các nghành kinh tế xã hội. Năng lực tạo ra công nghệ mới còn hạn chế, các cán bộ nghiên cứu khoa học và công nghệ thiếu sự liên kết, phối hợp với nhau dẫn đến hiệu quả còn thấp. Cán bộ khoa học và công nghệ tuy còn ít nhưng chưa được sử dụng tốt. Thiếu chiến lược quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nên còn mất cân đối về đào tạo và sử dụng. Nhiều chính sách cán bộ chưa thỏa đáng và không kịp thời đổi mới. Chế đội tiền lương mang nặng tính bình quân. Lao động trí óc chưa được đãi ngộ chính đáng. 1.2.2 Khó khăn yếu kém của cán bộ quản lý Khoa học và công nghệ. Có thể kể đến nhiều nguyên nhân làm cho khoa học và công nghệ nước nhà chậm phát triển, mặc dù chúng ta có thể tự hòa là người Việt thông minh, cần cù, sáng tạo. Có một nguyên nhân mà nhiều người có trách nhiệm thường hay nhắc đến là : “Các cơ quan quản lý tỏ ra yếu kém trong việc hoạch định các chính sách công nghệ, và chỉ thực hiện các mục tiêu khoa học và công nghệ. Hình thức tổ chức bộ máy quản lý khoa học và công nghệ rời rạc, chức năng trùng lặp, trách nhiệm từng nghành từng cấp không rõ ràng. Chỉ đạo không đến nơi đến chốn…”. Nhưng với tư duy cơ chế đang tồn tại thì nếu có sinh thêm 100 lần các cơ quan quản lý như hiện nay thì khoa học và công nghệ nước nhà cũng chẳng thay đổi được là bao. Bởi lẽ, chuyện chạy chức chạy bằng không phải là chuyện hiếm trong cuộc sống hàng ngày. Do đó chúng ta luôn luôn kêu gọi:” làm thế nào để có người có tài và sử dụng người tài”. Cơ cấu và việc phâm bố cán bộ khoa học và công nghệ chưa cân đối, còn nhiều bất hợp lý giữa đồng bằng và miền núi còn thiếu nhiều cán bộ khoa học và công nghệ. Quản lý khoa học và công nghệ trong cơ chế thị trường còn lúng túng bất cập. Việc tổ chức phân bổ lực lượng còn phân tán. Việc quản lý các công trình nghiên cứu còn mang nặng tính hành chính, còn dàn trải; chưa gắn chương trình nghiên cứu với chức năng và nhiệm vụ của cơ sở nghiên cứu, chưa đề cao tinh thần trách nhiệm và phát huy tính tự chủ của cơ sở; thiếu sự kết hợp giữa chương trình kinh tế xã hội với chương trình khoa học và công nghệ. Nhiều cơ quan khoa học chưa gắn với cơ sở sản xuất, chưa chủ động phối hợp với địa phương để ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ. 1.2.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu. Một tình trạng đáng báo động là trong các tổ chức, đơn vị nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ cơ sở vật chất kỹ thuật còn rất nghèo nàn, lạc hậu thông tin khoa học và công nghệ còn quá thiếu và không kịp thời làm cho những cán bộ khoa học và công nghệ không phát huy được năng lực khả năng hiện có của mình. Làm cho phần lớn kết quả nghiên cứu còn dừng ở phạm vi phòng thí nghiệm thời gian nghiên cứu triển khai quá dài có thể khoa học và công nghệ mới ra đời đã lạc hậu với khoa học và công nghệ của các nước trong khu vực và trên thế giới, chưa thể tạo ra nhiều công nghệ hoàn chỉnh có thể thương mại hóa. Chưa chú trọng việc mua sáng chế công nghệ của các nước tiên tiến đổi mới công nghệ. Vốn, ngân sách Nhà nước đầu tư cho các tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ còn ít và kém hiệu quả cho nên không thể hợp tác với các quốc gia có nền khoa học và công nghệ tiên tiến hiện đại để chuyển giao công nghệ, máy móc thiết bị cho các tổ chức đơn vị nghiên cứu để tạo điều kiện cho cán bộ nghiên cứu phát huy được khả năng của mình. Một nhà nguyên cứu khoa học giỏi cũng trở lên bất lực với những công trình nghiên cứu bình thường nếu không có công cụ và dụng cụ phù hợp và hiện đại. 1.2.4 Khó khăn trong việc thu hút và sử dụng vốn. Chính sách của Nhà nước không cho các doanh nghiệp thấy được vai trò, trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong việc phát triển khoa học và công nghệ của nước nhà, chưa nhận thức được đầu tư cho khoa học và công nghệ là đầu tư cho sự phát triển cho nên để họ tự bỏ vốn ra để đầu tư nghiên cứu rất khó khăn đặc biệt khó khăn hơn là các doanh nghiệp bỏ vốn ra đẩu tư cho các tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ làm cho các tổ chức đơn vị nghiên cứu khoa học và công nghệ gặp rất nhiều khó khăn trong việc huy động vốn từ các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất. Ngân sách Nhà nước đầu tư cho các tổ chức khoa học và công nghệ còn qua thấp. Nghị quyết 26 của Bộ chính trị (khóa VI) quy định mức đầu tư tối thiểu 2% tổng ngân sách Nhà nước cho khoa học và công nghệ không được chấp hành nghiêm chỉnh( trong nhiều năm tỷ lệ này dưới 1%). Việc phân bổ và sử dụng ngân sách cho khoa học và công nghệ chưa hợp lý, chưa sử dụng hiệu quả. Nhà nước chưa có cơ chế, chính sách phù hợp nhằm huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách cho phát triển khoa học và công nghệ. Nguồn vốn đầu tư cho phát triển ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docV0210.doc
Tài liệu liên quan