Bước đầu nghiên cứu đánh giá tác động đến môi trường của việc phát triển công nghiệp ở thành phố Hà Nội

Lời mở đầu Đất nước chúng ta đang có những bước chuyển mình để trở thành một nước công nghiệp. Và Hà Nội vừa là Thủ đô, đồng thời cũng là một trong những trung tâm kinh tế xẫ hội của cả nước cũng đã có những bước phát triển đáng kể.trong những năm qua . Điều đó đã góp phần to lớn vào công cuộc phát triển kinh tế của cả nước. Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực như tạo ra công ăn việc làm, cải thiện đời sống của người dân… thì quá trình phát triển kinh tế cũng đã gây ra nhiều tác động t

doc100 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1385 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Bước đầu nghiên cứu đánh giá tác động đến môi trường của việc phát triển công nghiệp ở thành phố Hà Nội, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
iêu cực làm ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên của thành phố Cùng với cả nước Hà Nội đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Kèm theo đó là sự tăng lên số lượng các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội, và mở rộng quy mô của các cơ sở công nghiệp cũ.. Công nghiệp là một trong những ngành đóng góp lớn nhất vào sự phát triển của Hà Nội nhưng cũng là ngành gây tác động, làm thay đổi môi trường tự nhiên nhiều nhất. Sự phát triển này dẫn tới những tác động rất xấu tới môi trường tự nhiên và môi trường sống của người dân, ảnh hưởng tới sức khoẻ của họ. Vì vậy để có thể tiến hành hoạt động bảo vệ môi trường có hiệu quả thì đòi hỏi phải nắm bắt tìm hiểu được hiện trạng ô nhiễm tại các khu công nghiệp ra sao, từ đó mới có thể có những biện pháp hữu hiệu để có thể bảo vệ môi trường một cách có hiệu quả nhất. Do đó, công tác tìm hiểu, đánh giá tác động tới môi trưòng của các hoạt động sản xuất công nghiệp là rất cần thiết để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của Thủ đô . Chính vì vậy trong thời gian thực tập tốt nghiệp em đã lựa chọn đề tài “Bước đầu nghiên cứu đánh giá tác động đến môi trường của việc phát triển công nghiệp ở thành phố Hà Nội”. Mục đích nghiên cứu chính của chuyên đề này là đưa ra những số liệu về thực trạng môi trường ở thành phố Hà Nội do ảnh hưởng của các khu , các cụm công nghiệp. Từ đó có được những đánh giá chính xác về mức độ ảnh hưởng của phát triển công nghiệp tới môi trường giúp những nhà hoạch định chính sách có thể đưa ra những chính sách giúp cho công tác bảo vệ môi trườngxây dựng Thủ đô Hà Nội của chúng ta ngày càng xanh – sạch - đẹp. Chuyên đề này chỉ tập trung vào tìm hiểu và nghiên cứu về các khu cụm công nghiệp phân bố trong nội thành Hà Nội như : Pháp Vân, Văn Điển, Mai Động, …Các số liệu được sử dụng trong chuyên đề này được thu thập từ năm 1995 đến năm 2001. Các phương pháp được sử dụng để có thể làm được chuyên đề này là phương pháp thu thập điều tra các số liệu từ năm 1995 đến năm 2001 tại các khu công nghiệp bằng các phương pháp phân tích điều tra và thu thập số liệu qua các báo cáo và các tài liệu từ năm 1995 đến năm 2001 Nội dung của chuyên đề này gồm có ; Chương I: Cơ sở khoa học của việc đánh giá ảnh hưởng của công nghiệp tới môi trường. Chương II: ảnh hưởng của việc phát triển công nghiệp đến môi trường thành phố Hà Nội ChươngIII: Đánh giá tác động tới môi trường do phát triển công nghiệp ở Hà Nội Dù đã cố gắng để thực hiện thật tốt nhưng do năng lực bản thân vẫn còn hạn chế, chưa có điều kiện tiếp xúc thực tế nhiều nên bài luận văn của em không tránh khỏi những sai sót. Kính mong thầy, cô giáo cùng các bạn góp ý, sửa chữa để bài luận văn của em có thể hoàn chỉnh hơn. Em xin chân thành cảm ơn. Hà Nội ngày 30/4/2003 Sinh viên Nguyễn Anh Đức Lời cam đoan Tôi xin cam đoan nội dung báo cáo đã viết là do bản thân thực hiện, không sao chép, cắt ghép các báo cáo hoặc luận văn của người khác, nếu sai phạm tôi xin chịu kỷ luật với nhà trường. Hà Nội, ngày 30 – 4 – 2003 Ký tên Nguyễn Anh Đức Chương I Cơ sở khoa học của việc đánh giá ảnh hưởng của công nghiệp tới môi trường I. Vị trí và vai trò của ngành công nghiệp trong cơ cấu phát triển kinh tế của một địa phương. 1. Vị trí của ngành công nghiệp. Công nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nó gồm các ngành khai thác tài nguyên thiên nhiên, các ngành chế biến khoáng sản và các loại nguyên liệu động thực vật thành những tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu ding thích hợp, các ngành cơ khí, công nghiệp dệt… Công nghiệp khác với các ngành sản xuất vật chất khác về nhiều mặt. Công nghiệp dùng phương pháp cơ, lý, hoá và sinh vật học chủ yếu để trực tiếp tác động vào nguyên vật liệu chính trong quá trình sản xuất sản phẩm. Công nghiệp có thể chủ động sản xuất liên tục không phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, của thiên nhiên đồng thời tiến hành thực hiện các giai đoạn khác nhau của quá trình công nghệ để sản xuất ra sản phẩm Công nghiệp được phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội về sản xuất và đời sống. Sự phát triển của công nghiệp quan hệ mật thiết với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sở dĩ công nghiệp có vị trí quan trọng như vậy là xuất phát từ những lý do sau: - Công nghiệp là một bộ phận hợp thành cơ cấu công nghiệp-nông nghiệp-dịch vụ, do những đặc điểm vốn có của nó. Trong quá trình phát triển nền kinh tế sản xuất lớn, công nghiệp phát triển từ vị trí thứ yếu trở thành ngành có vị trí hàng đầu trong cơ cấu kinh tế - Mục tiêu cuối cùng của nền sản xuất xã hội là tạo ra sản phẩm để thoả mãn nhu câù ngày càng cao của con người. Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, công nghiệp là ngành không những chỉ khai thác tài nguyên mà còn tiếp tục chế biến các loại nguyên liệu nguyên thuỷ được khai thác và sản xuất từ các loại tài nguyên khoáng sản, động thực vật thành các sản phẩm trung gian để sản xuất ra sản phẩm cuối cùng nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần cho con người. - Sự phát triển của công nghiệp là một yếu tố có tính quyết định để thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Trong quá trình phát triển nền kinh tế lên nền kinh tế sản xuất lớn, tuỳ theo trình độ phát triển của bản thân công nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế, xuất phát từ những điều kiện và đặc điểm cụ thể của mỗi nước, mỗi thời kỳ cần phải xác định đúng đắn vị trí của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, hình thành phương án cơ cấu công nghiệp-nông nghiệp-dịch vụ và định hướng từ chuyển dịch cơ cấu đó một cách có hiệu quả. Đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng của việc tổ chức nền kinh tế, nhằm đạt được những mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của mỗi nước. 2. Vai trò của công nghiệp. Công nghiệp là ngành chủ đạo của nền kinh tế quốc dân. Nó có ảnh hưởng quyết định đến việc phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Đồng thời nó là mẫu mực để cải tạo và phát triển các ngành kinh tế quốc dân, góp phần tích cực chuyển nề sản xuất nhỏ tiến lên sản xuất lớn. Công nghiệp có vai trò chủ đạo vì nó sản xuất ra tư liệu sản xuất trang bị cho các ngành. Thông qua việc trang bị kỹ thuật, công nghiệp góp phần thúc đẩy việc cải tạo và phát triển các ngành kinh tế, nâng cao năng suất lao động, phân công lại lao động xã hội và cải tạo cách tổ chức sản xuất và quản lý của các ngành theo hình mẫu của mình. Qua đó, công nghiệp làm tăng thêm sức mạnh của con người đối với thiên nhiên, giải phóng lao động khỏi tình trạng thủ công lạc hậu, thúc đẩy quá trình xã hội hoá lao động làm cho lao động có năng suất cao hơn để xây dựng xã hội và nền kinh tế mới. Trong quá trình phát triển nền kinh tế nước ta theo định hướng XHCN, công nghiệp luôn giữ vai trò chủ đạo tức là ngành có khả năng tạo ra động lực và định hướng sự phát triển các ngành kinh tế khác lên nền sản xuất lớn.Vai trò chủ đạo đó được thể trên các mặt chủ yếu sau.: Do đặc điểm của phát triển công nghiệp, công nghiệp có những điều kiện tăng nhanh tốc độ phát triển khoa học công nghệ, ứng dụng các thành tựu khoa học – công nghệ đó vào sản xuất, có khả năng và điều kiện sản xuất hoàn thiện. Nhờ đó lực lượng sản xuất trong công nghiệp phát triển nhanh hơn các ngành kinh tế khác . Do quy luật “quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất “, trong công nghiệp có được hình thức quan hệ sản xuất tiên tiến. Tính tiên tiến về các hình thức quan hệ sản xuất, sự hoàn thiện nhanh về các mô hình tổ chức sản xuất đã làm cho công nghiệp có khả năng định hướng cho các ngành kinh tế khác tổ chức sản xuất đi lên nền sản xuất lớn theo hình mẫu, theo kiểu công nghiệp . Cũng do đặc diểm của sản xuất công nghiệp, đặc biệt là đặc điểm về công nghệ sản xuất, đặc điểm về công dụng sản phẩm của công nghiệp, công nghiệp là ngành duy nhất tạo ra sản phẩm làm chức năng tư liệu lao động trong các ngành kinh tế, nó có thể cung cấp cả nguyên liệu và các loại tư liệu lao động cho nhiều ngành của nền kinh tế quốc dân . Do đó mà công nghiệp có vai trò quyết định trong việc cung cấp các yếu tố đầu vào để xây dựng cơ sở vật chất cho toàn bộ các ngành kinh tế quốc dân. Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ trang bị cơ sở vật chất - kỹ thuật, và trình độ hoàn thiện về tổ chức sản xuất, hình thành một đội ngũ lao động có tính tổ chức, tính kỷ luật và trình độ trí tuệ cao, cộng với tính đa dạng của hoạt động sản xuất, công nghiệp là một trong những ngành đóng gáop phần quan trọng vào việc tạo ra thu nhập quốc dân, tích luỹ vốn để phát triển, từ đó, công nghiệp có vai trò quan trọng góp phần vào giải quyết những nhiệm vụ có tính chiến lược của nền kinh tế xẫ hội như: tạo việc làm cho lực lượng lao động, xoá bỏ sự cách biệt thành thị nông thôn, giữa miền xuôi với miền núi Trong quá trình phát triển nền kinh tế ở nước ta hiện nay, Đảng có chủ trương”coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu” giải quyết cơ bản vấn đề lương thực, cung cấp nguyên liệu động thực vật để phát triển công nghiệp và dẩy mạnh xuất khẩu nông sản hàng hoá nhằm tạo ra những tiền đề để thực hiện công nghiệp hoá. Để thực hiện những nhiệm vụ cơ bản đó, công nghiệp có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các yếu tố đầu vào”nước, phân, cần , giống” bằng những công nghệ ngày càng hiện đại để phát triển nông nghiệp, gắn công nghiệp chế biến với nông nghiệp, phát triển công nghiệp nông thôn, đưa nông nghiệp tiến lên nền sản xuất hàng hoá. Trong lĩnh vực về tư tưởng văn hoá,công nghiệp cũng đóng góp một phần không nhỏ. Chính nền sản xuất đại công nghiệp đã dẫn tới việc hình thành những ý thức mới, những tập quán mới của người lao động. Việc lao động có tổ chức, có kỷ luật, có hiệp đồng đã thay thế cách làm ăn tuỳ tiện, tản mạn của những người sản xuất nhỏ trước đây. Trong lĩnh vực đời sống văn hoá xã hội, công nghiệp đã làm thay đổi những quan niệm cũ về gia đình, về pháp quyền, về đạo đức…Sự biệt lập của các địa phượng được xoá bỏ để hình thành một thị trường toàn quốc, kết hợp kinh tế TW với kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất. Sự cách biệt giữa thành thị có nền kinh tế phát triển với vùng nông thôn lạc hậu được xoá bỏ… II. Quan hệ giữa phát triển công nghiệp và môi trường tự nhiên. 1. Môi trường tự nhiên và vai trò của nó đối với phát triển. Môi trường tự nhiên trên hành tinh hiện nay bao gồm: - Khí quyển có cấu tạo phức tạp với nhiều tầng, lớp khí khác nhau, trong đó mỗi tầng khí quyển là một hỗn hợp các chất khí có nồng độ và thành phần khác nhau, có tác động mạnh yếu khác nhau đến sự sống của con người. - Thuỷ quyển bao gồm các tầng nước khác nhau trong các đại dương, sông ngòi, ao hồ, nước ngầm trong lòng đất, kể cả sự sống trong các đại dương, sông ngòi đó. - Địa quyển là lớp vỏ trái đất, bao gồm bề mặt trái đât, cùng với sự sống và các tai nguyên khoáng sản nằm trong lòng đất. Môi trường tự nhiên là nền tảng cần thiết không thể thiếu được cho sự tồn tại và phát triển của con người và phát triển sản xuất, đặc biệt là sản xuất công nghiệp. Điều đó thể hiện ở chỗ: - Cung cấp và bảo đảm không gian cần thiết cho sự phát triển của các hoạt động sản xuất công nghiệp như: đất đai, không gian cần thiết cho tổ chức và phân bố sản xuất công nghiệp. - Là cơ sở nguyên liệu, năng lượng cho hoạt động sản xuất công nghiệp. Từ các dạng vật chất trong tự nhiên dưới dạng tài nguyên thiên nhiên, qua hoạt động chế biến công nghiệp chúng được biến thành các loại sản phẩm có ích cho con người. Những tài nguyên tự nhiên được ding làm cơ sở nguyên liệu công nghiệp bao gồm: + Nguồn tài nguyên có thể tái sinh là các loại động thực vật. Đặc điểm của nguồn này là có khả năng tái sinh phát triển. Chúng có sẵn trong tự nhiên và hết sức đa dạng phng phú. Khi sử dụng các nguồn này vượt qua giới hạn nhất định ngang bằng với tốc độ tái sinh chúng sẽ trở thành nguồn tài nguyeen khan hiếm, phá vỡ những cân bằng tự nhiên. + Nguồn tài nguyên không tái sinh là các loại khoáng sản. Đặc điểm của loại này là khi khai thác sử dụng trữ lượng sẽ giảm theo quy mô và tốc độ khai thác. Trong môi trường tự nhiên các loại tài nguyên này được hình thành qua một quá trình biến đổi lâu dài dưới tác động của những quy luật tự nhiên. Với tốc độ khai thác và sử dụng của con người như hiện nay lớn hơn hàng trăm nghìn lần tốc độ hình thành của chúng, tất yếu sẽ dẫn tới chỗ cạn kiệt. Sử dụng tiết kiệm triệt để nguồn tài nguyên khoáng sản là một đòi hỏi cấp bách trong sản xuất công nghiệp hiện nay. + Nguồn tài nguyên ít thay đổi sử dụng cho nhiều hoạt động sản xuất khác nhau như nước, không khí, đất. Nếu như trước đây, khi sản xuất công nghiệp còn phát triển ở trình độ và tốc độ thấp, nguồn tài nguyên như nước, không khí có thể coi là vô hạn, nhưng ngược lại ngày nay chúng đã trở thành các nguồn lực khan hiếm, do bị ô nhiễm nghiêm trọng và giảm nguồn nước sạch, tỷ lệ oxy cần thiết cho sự sống. + Nguồn tài nguyên tiềm năng hay còn gọi là tài nguyên tương lai, mà ở trình độ kỹ thuật hiện nay chưa biết đến hoặc chưa khai thác sử dụng được. 2. Phát triển sản xuất công nghiệp và tác động của nó đến môi trường tự nhiên. 2.1. Hoạt động sản xuất công nghiệp và vấn đề sử dụng tài nguyên Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất to lớn đóng vai trò chủ đạo, quyết định sự phát triển của các ngành khác và của toàn bộ nền kinh tế. Đại diện cho phương thức sản xuất tiếm bộ, cho sự ứng dụng các thành tựu khoa hc kỹ thuật vào sản xuất bằng những phương phát công nghệ và phương tiện kỹ thuật hiện đại, công nghiệp khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên trong môi trường tự nhiên, biến chúng thành những sản phẩm có ích đáp ứng nhu cầu của con người.. Các quá trình công nghiệp tạo ra những vòng tuần hoàn , chu chuyển mới của vật chất năng lượng trong hệ thống”sản xuất – môi trường”. Mối quan hệ giữa sản xuất công nghiệp và môi trường tự nhiên được biểu diễn theo sơ đồ sau: Các doanh nghiệp công nghiệp Kỹ thuật, công nghệ sử dụng Môi trường tự nhiên Sản xuất công nghiệp là quá trình biến đổi vật chất từ dạng tự nhiên của nó thành dạng vật chất có giá trị sử dụng khác nhau, là các loại sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người. Nguồn tài nguyên khai thác được trong môi trường tự nhiên trong sản xuất được biến đổi thành sản phẩm. Nhưng không phải tất cả tài nguyên khai thác được, sản xuất công nghiệp đều biến thành sản phẩm có ích cho tiêu dùng, mà một phần quay trở lại tự nhiên dưới dạng chất thải công nghiệp. Lượng chất thải này phụ thuộc vào bản thân sản xuất công nghiệp và trình độ công nghệ dùng trong quá trình sản xuất đó. Ngoài ra, các sản phẩm do công nghiệp chế biến ra sau một thời gian đưa vào tiêu dùng cũng hư hỏng, mất dần giá trị và quay trở lại tự nhiên dưới djng chất thải tiêu thụ. Như vậy toàn bộ hệ thống “Sản xuất công nghiệp – Môi trường” những yếu tố đầu vào là tài nguyên của môi trường và các yếu tố đầu ra là chất thải. Xét về mặt vật chất, không có sự thay đổi về khối lượng mà chỉ có sự thay đổi về chất của các yếu tố vật chất sau mỗi chu trình sản xuất tiêu dùng. Chúng không mất đi mà chỉ biến đổi từ dạng này sang dạng khác và cuối cùng đều quay trở lại tự nhiên dưới dạng chất thải tiêu dùng. Toàn bộ chu trình biến đổi mà công nghiệp tác động vào môi trường có thể thấy rõ qua sơ đồ: Môi trường tài nguyên Sản xuất công nghiệp Chất thải CN Sản phẩm có ích Quá trình tiêu dùng Chất thải 2.2. Quá trình phát triển công nghiệp và ảnh hưởng của nó đến môi trường tự nhiên. Cùng với quá trình phát triển của công nghiệp, mức độ tác động của nó đến môi trường tự nhiên cũng ngày càng tăng lên nhanh chóng. Khi loài người xuất hiện cùng với các hoạt động lao động sản xuất sơ khai của mình đã tác động vào tự nhiên, khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên phục vụ cho những hoạt động sống, qua đó lam biến đổi những nét đầu tiên của môi trường tự nhiên. Tuy nhiên những biến đổi do con người tạo ra trước kia rất nhỏ bé, bản thân môi trường tự nhiên có khả năng tự phục hồi, duy trì trạng thái cân bằng tự nhiên trong một thời gian dài. Mãi cho đến thế kỷ 18 khi cuộc cách mạng công nghiệp xảy ra, công nghiệp trở thành một ngành sản xuất vật chất độc lập, ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế, quyết định khả năng và tốc độ phat triển của các ngành khác. Những thành tựu khoa học kỹ thuật được nhanh chóng đưa vào sản xuất công nghiệp đã tác động mạnh mẽ đến môi trường. Sự phát triển với tốc độ cao của công nghiệp đã tác động rất mạnh đến môi trường, làm biến đổi môi trường tư nhiên. Sự phong phú và đa dạng của các hoạt động sản xuất công nghiệp, với một hệ thống ngành nghề ngày càng tăng, đã tạo ra hàng loạt những sự tác động khác nhau vào môi trường tự nhiên. 2.3. Những tác động chủ yếu của công nghiệp hiện nay đến môi trường Quy mô của sản xuất công nghiệp tăng không ngừng và với tốc độ rất nhanh. Hàng loạt các ngành công nghiệp mới ra đời , số lượng các doanh nghiệp công nghiệp xuất hiện ngày càng nhiều, đã khai thác sử dụng tài nguyên với một khối lượng lớn hơn trước rất nhiều lần, làm cho nguồn tài nguyên trở nên cạn kiệt. Công nghiệp khai thác khoáng sản phát triển nhanh, nhằm đáp ứng nhu cầu của các ngành chế biến khác đã tác động trực tiếp, to lớn vào môi trường tự nhiên, phá huỷ bề mặt trái đất, làm thay đổi địa hình, nhiều nguồn tài nguyên bị sử dụng lãng phí. Công nghiệp hoá cũng làm tăng lượng tiêu dùng năng lượng trong sản xuất và trong tiêu dùng. Nền kinh tế chuyển dần sang dựa trên cơ sở tiêu dùng năng lượng cao. Công nghiệp phát triển càng nhanh thì mức tiêu dùng năng lượng càng lớn. Ví dụ, năm 1990, tiêu dùng ở các nước phát triển lớn gấp 4 lần các nước trung bình, và 15 lần so với các nước kém phát triển. Công nghiệp năng lượng phát triển từ nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau đã gây ra những loại chất thải độc hại khác nhau như: than dầu, SO2, CO2, NH, điện từ trường… Các ngành công nghiệp Các nhân tố ảnh hưởng Môi trường đất Môi trường nước Môi trường không khí 1. Công nghiệp khai thác tài nguyên, khoáng sản - Tác động trực tiếp, to lớn vào môi trường tự nhiên, phá huỷ bề mặt trái đất, làm thay đổi địa hình. - Sử dụng lãng phí tài nguyên - Khai thác quá nhiều tài nguyên, tàn phá nhiều cánh rừng đầu nguồn, gây ra xói mòn, sạt lở đất…là nguyên nhân của thiên tai, lũ lụt. - Làm tăng nồng độ BOD, COD, PO4-, SO2, CO2…trong nước - Làm giảm chất kượng nước - Tác động xấu đến môi trường không khí, làm tăng nồng độ bụi trong không khí 2. Công nghiệp hoá chất - Hằng năm thải một lượng lớn vào môi trường đất - Những hoá chất sử dụng không hết lại thấm vào đất gây hậu quả nghiêm trọng , gây khó khăn cho một số vùng trồng cây nông nghiệp - Trong những năm gần đây toàn thế giới sử dụng khoảng 60.000 hoá chất trong đó 6.000 chất được coi là độc hại. - Trong nước thải ở các cơ sở công nghiệp hoá chất vẫn còn nhiều độc tố như: kim loại nặng, Fe, Mn, Pb, axít, SO2, NO2… - Làm tăng nồng độ CO2,SO2,NH…trong không khí 3. Công nghiệp năng lượng - Phá huỷ, gây xói mòn đất ở một số nơi do khai thác quá mức tài nguyên. - Thải vào nước nhiều loại chất thải độc hại làm ô nhiễm tầng nước mặt và nước ngầm - Sử dụng nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau đã gây ra nhiều loại chất thải độc hại như: than dầu, SO2, NO2, NH, điện từ trường… 4. Công nghiệp vật liệu xây dựng - Thải ra nhiều chất thải rắn khó tiêu huỷ gây nguy hại cho môi trường đất. - Làm suy giảm chất lượng các tầng nước do chất thải xây dựng - Gây ra một số tác động xấu đến môi trường không khí như tăng nồng độ bụi, tăng mức ồn vượt quá quy định cho phép 5. Công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm - Các chất cặn bã sau khi chế biến không được xử lý tốt gây ô nhiễm môi trường đất , làm chua, mặn đất - Làm ô nhiễm môi trường nước - Các chất thải gây ra mùi khó chịu như H2S, NH4… 6. Công nghiệp nhẹ (dệt, nhuộm…) - Nước thải công nghiệp nhẹ chứa một số chất độc hại khi chảy vào các ao hồ trong thành phố - Tăng hàm lượng Coliform, Niken..trong nước - Làm tăng nồng độ bụi trong không khí -Tăng nồng độ các khí SO2, CO2, CO, Nox… 2.4. Một số nguyên nhân cơ bản trong phát triển công nghiệp dẫn đến ô nhiễm môi trường. 2.4.1. Do quy trình công nghệ. Quy mô và tốc độ sản xuất công nghiệp tăng nhanh dẫn đến tốc độ khai thác sử dụng tài nguyên và lượng chất thải vào môi trường tăng lên. Tuy nhiên, nguyên nhân cơ bản và quan trọng nhất dẫn đến ô nhiễm môi trường tăng lên nhanh chóng là do trình độ công nghệ sử dụng trong quá trình sản xuất công nghiệp và trình độ công nghệ xử lý chất thải còn bị hạn chế bởi trình độ khoa học công nghệ hiện tại. Tài nguyên thiên nhiên không mất đi, chúng chỉ biến đổi hình thái và tính chất của chúng qua quá trình sản xuất công nghiệp và trở lại tự nhiên dưới dạng chất thải. Trình độ công nghệ sẽ có ý nghĩa quyết định đến lượng chất thải công nghiệp tạo ra. Công nghệ cao cho phép tận dụng được các chất có ích trong tài nguyên, biến chúng thành sản phẩm phục vụ nhu cầu của con người. Khối lượng và thành phần chất thải phụ thuộc chặt chẽ vào loại công nghệ sử dụng. Thực trạng công nghệ trong một số ngành công nghiệp hiện đang là một vấn đề đáng lo ngại hạn chế năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Cụ thể là: trình độ công nghệ và thiết bị của ngành điện tử thấp hơn so với các nước trong khu vực khoảng từ 15 – 20 năm. Phần lớn các thiết bị công nghệ của ngành cơ khí đã qua sử dụng trên 20 năm, lạc hậu về kỹ thuật, độ chính xác kém, quy trình sản xuất khép kín, thiếu sự chuyên môn hoá. Công nghệ và thiết bị sản xuất động cơ điêzen chủ yếu được dầu tư từ những năm 60 và 70 và có tỷ lệ đầu tư đổi mới rất hạn chế. Khoảng 30% sản lượng clinker được tạo ra từ những nhà máy có công nghệ cũ kỹ và lạc hậu và công nghệ sản xuất ở hầu hết các cơ sở nghiền ximăng đều ở mức dưới trung bình. Phần lớn thiết bị công nghệ sản xuất giấy in báo, giấy in bao bì lạc hậu từ 3-5 thập kỷ, sản xuất giấy in, viết đã qua sử dụng trên 20 năm. Công nghệ lạc hậu được đầu tư từ vài chục năm trước với quy mô nhỏ trong ngành thép chiếm khoảng 53% sản lượng toàn ngành, công nghệ trung bình chiếm khoảng 16% và công nghệ tiên tiến chiếm khoảng 31%. Trình độ công nghệ và thiết bị sản xuất các loại hoá chất cơ bản hiện tại rất lạc hậu và có quy mô sản xuất nhỏ từ vài trâưm tấn/năm đến tối đa hàng chục ngàn tấn/năm trong khi đó quy mô sản xuất của các nước trong khu vực đã đạt từ vài chục ngàn tấn/năm đến hàng trăm ngàn tấn/năm. Máy móc và công nghệ sản xuất phân bón hầu hết là lạc hậu, đã sử dụng trên 25-30 năm. Các nhà máy sợi, dệt, nhuộm trong ngành dệt may mới thay thế được khoảng 30% công nghệ thiết bị hiện đại, còn lại khoảng 70% công nghệ thiết bị đã sử dụng trên 20 năm và hầu như đã hết khấu hao. Ngoài ra, vấn đề chuyển giao công nghệ còn nhiều hạn chế. Kết quả khảo sát gần đây ở 90 doanh nghiệp công nghiệp với 147 công nghệ được chuyển giao cho thấy chất lượng và hiệu quả chuyển giao công nghệ còn hạn chế do thiếu sự lựa chọn công nghệ tối ưu, trình độ công nghiệp chưa phù hợp và đặc biệt là giá trị chuyển giao phần mềm về bí quyết công nghệ còn rất thấp( tỷ lệ phần mềm chỉ chiếm 17%, đầu tư trang thiết bị 83%). Có thể đánh giá chung trình độ công nghệ và trang thiết bị của ngành công nghiệp nước ta ở mức trung bình yếu, so với các nước công nghiệp phát triển là lạc hậu từ 2 đến 3 thế hệ; tỷ lệ trang thiết bị kỹ thuật cũ, công nghệ lạc hậu và trung bình chiếm 60-70%, công nghệ tiên tiến và hiện đại khoảng 30-40%. Điều này là một trong những nguyên nhân chính làm ảnh hưởng tới môi trường. 2.4.2. Do công tác quản lý. Ngoài nguyên nhân chủ yếu là do công nghệ lạc hậu thì việc yếu kém trong công tác quản lý cũng là một nguyên nhân không kém phần quan trọng. Công tác quản lý Nhà nước về môi trường vẫn còn nhiều bất cập, đội ngũ cán bộ quản lý còn thiếu quá nhiều không đủ để có thể giám sát và kiểm tra được đầy đủ các hoạt động của các cơ sở công nghiệp đang hoạt động. Bên cạnh đó, do còn hạn chế về trình độ hiểu biết và kỹ năng thực hành của đội ngũ kỹ sư, cán bộ kỹ thuật và công nhân vận hành yếu kém nên hiệu suất sử dụng các loại máy móc thực tế trong các cơ sở công nghiệp chỉ đạt tối đa 70-80% công suất, nhiều dây chuyền thiết bị đã qua sử dụng có ứng dụng công nghệ tự động điều khiển những cũng chỉ đạt hiệu suất sử dụng 50-60%. Tiếp đến, do hệ thống văn bản pháp quy quản lý môi trường do các cơ quan có thẩm quyền ban hành vẫn còn chưa đầy đủ, chưa đề cập đến tất cả các vấn đề liên quan đến môi trường. Hệ thống tổ chức quản lý môi trường chưa đáp ứng được nhiệm vụ nặng nề và phức tạp trong quản lý môi trường, lực lượng cán bộ quản lý môi trường còn thiếu về số lượng, yếu về trình độ. Đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường còn quá nhỏ bé so với yêu cầu, công tác kế hoạch hoá bảo vệ môi trường còn yếu. Chính vì vậy mà khả năng tuyên truyền về ý thức bảo vệ môi trường cho các tầng lớp dân cư còn gặp nhiều khó khăn, chưa tạo cho họ được những nhận thức đúng đắn về môi trường. III. Thiết lập mô hình thể hiện mối quan hệ giữa GDP/người của Hà Nội và nồng độ các khí thải do công nghiệp gây ra 1. Mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng GDP và nồng độ phát thải các khí trong không khí Trong những năm qua cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước thì Hà Nội có những bước tiến đáng kể. Với sự tác động tích cực của quá trình cải cách môi trường đầu tư và kinh doanh, các biện pháp khuyến khích và hỗ trợ của Nhà nước, sự chủ động linh hoạt và sáng tạo của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp Việt Nam đã đạt được những kết quả nổi bật: tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân khá cao, tỷ trọng của khu vực công nghiệp trong GDP liên tục tăng, cơ cấu ngành công nghiệp có xu hướng dịch chuyển theo hướng tăng dần, các trung tâm công nghiệp được hình thành và phát triển mạnh tại các vùng kinh tế trọng điểm. Hà Nội cũng nằm trong xu thế phát triển đó. Các ngàng công nghiệp ở Hà Nội cũng chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP của toàn thành phố . Cụ thể là Năm 1996 1997 1998 1999 2000 Tỷ lệ chiếm GDP của công nghiệp 34,9 35,3 36,1 37,5 38,5 Nguồn: Thống kê kinh tế xã hội 2001 Tuy nhiên, vấn đề gì cũng có hai mặt, cùng với quá trình phát triển công nghiệp thì nồng độ các khí độc hại, các chất thải rắn…cũng tăng lên đáng kể. Tỷ trọng đóng góp của công nghiệp tăng lên thì mức độ ô nhiễm cũng có phần tăng tỷ lệ thuận với nó. Sở dĩ xảy ra điều này là bởi vì ở các khu công nghiệp chưa có những chính sách phát triển thích hợp, chưa có sự gắn kết giữa công nghiệp nguyên liệu với công nghiệp chế biến sản phẩm cuối cùng, tốc độ đổi mới công nghệ chưa theo kịp với yêu cầu phát triển…Chính vì vậy mà ta có thể khẳng định rằng giữa sự phát triển GDP/người và mức độ phát thải ở các khu công nghiệp có mối quan hệ với nhau. 2. Mô hình thể hiện mối quan hệ giữa GDP/người của Hà Nội và nồng độ các khí thải do công nghiệp gây ra. Ta có thể xem xét mối quan hệ giữa sự tăng trưởng GDP/người và nồng độ các khí thải độc hại, cũng như các loại chất thải khác dựa vào phương pháp hồi quy và tương quan. Phương pháp hồi quy và tương quan là một phương pháp thường được sử dụng để nghiên cứu mối liên hệ tương quan. Phương pháp này nhằm giải quyết hai nhiệm vụ nghiên cứu sau đây: - Thứ nhất là các định phương trình hồi quy, tức là biểu diễn mối liên hệ dưới dạng một hàm số. Để giải quyết nhiệm vụ này đòi hỏi phải phân tích đặc điểm, bản chất của mối liên hệ giữa các hiện tượng để chọn dạng hàm số phù hợp – gọi là phương trình hồi quy và tính toán các tham số của phương trình này. - Thứ hai là đánh giá trình độ chặt chẽ của mối liên hệ tương quan, tức là nghiên cứu xem xét mối liên hệ giữa các hiện tượng chặt chẽ hay lỏng lẻo. Nhiệm vụ này được thực hiện qua việc tính toán hệ số tương quan, tỷ số tương quan… ở đây để xem xét mối quan hệ giữa sự tăng trưởng GDP/người và nồng độ các khí thải độc hại ta dùng mối liên hệ tương quan tuyến tính giữa hai tiêu thức số lượng. Ta có thể thay thế đường hồi quy thực tế bằng đường hhồi quy lý thuyết là một phương trình đường thẳng: = a + b.x Trong đó: x: trị số của tiêu thức nguyên nhân : trị số của tiêu thức kết quả a,b: các tham số quy định vị trí đường hồi quy lý thuyết. Tham số a, b được tính như sau: b = a = Sau khi đã tính được a, b thì ta sẽ được hàm số thể hiện mối quan hệ giữa hai hiện tượng cần xét. Và để dánh giá trình độ chặt chẽ của mối liên hệ tương quan tuyến tính ta có thể dùng hệ số tương quan r: r = b. Hệ số tương quan lấy giá trị trong khoảng: rẻ [-1;1] Khi r mang dấu dương ta có tương quan thuận giữa x và y, ngược lại khi mang dấu âm ta có tương quan nghịch. Khi r =1(hoặc r=-1) thì giữa x và y có mối liên hệ hàm số Khi r càng gần 1(hoặc –1) thì liên hệ tương quan càng chặt chẽ. Khi r = 0 thì giữa x và y không có liên hệ tuyến tính 3. Dự báo nồng độ các khí thải dựa vào phương trình hồi quy Trên cơ sở dãy số thời gian, người ta tìm một hàm số(gọi là phương trình hồi quy) phản ánh sự biến động của hiện tượng qua thời gian có dạng tổng quát như sau: = f(t,a0,a1,..,an) Trong đó: : mức độ lý thuyết a0,a1,..,an: các tham số t: thứ tự thời gian ở đây ta sử dụng phương trình đường thẳng = a0 + a1t áp dụng phương pháp bình quân nhỏ nhất sẽ có hệ phương trình sau đây để xác định giá trị của tham số a0 và a1 ồy = na0 + a1ồt ồty= a0ồt + a1ồt2 Có thể tiến hành bằng cách ngoại suy phương trình hồi quy yt+h = f(t+h,a0,a1,..,an) Trong đó : h = 1,2,3… yt+h : mức độ dự đoán ở thời gian t+h Chương II ảnh hưởng của phát triển công nghiệp đến môi trường thành phố Hà Nội I. Giới thiệu chung về thành phố Hà Nội 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: 1.1 Vị trí địa lý và khí hậu. Hà Nội nằm ở vị trí từ 20°57’ đến 21°25’ độ vĩ Bắc và 105°35’ đến 106°01’ độ kinh Đông. Từ Bẵc xuống Nam dài khoảng 93 km, từ Đông sang Tây rộng nhất khoảng 30 km. Hà Nội nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, độ ẩm trung bình trong năm là 80%, tháng cao nhất vào khoảng 85-86%. Nhiệt độ trung bình có chiều hướng tăng, năm 1985 là 23,5°C, trong thời kỳ 1991-1995 nhiệt độ trung bình là 24°C và năm 1996-2000 là 24,47°C (cá biệt năm 1998 là 25,1°C). Hằng năm bình quân có từ 8-10 cơn bão và áp thấp nhiệt đới đi qua. Tổng lượng mưa trong năm, theo thống kê những năm gần đây có những biến động lớn, cụ thể là: Năm 1995 1996 ._. 1997 1998 1999 2000 2001 Lượng mưa (mm) 1.245,0 1.595,6 1.871,6 1.338,7 1.557,6 1.278,0 2.247,0 Số ngày mưa từ 140-160 ngày/năm, lượng mưa lớn nhất trong 24 giờ là 200-400 mm, lượng mưa lớn nhất trong 1 giờ là 93,9 mm, lượng nước bốc hơi trung bình trong năm từ 800-1000 mm. Rõ ràng là xu thế biến đổi thời tiết từ năm 1995 đến nay là lượng mưa tăng, giảm khá nhiều và nhiệt độ trung bình hàng năm có xu thế gia tăng. Đặc biệt năm 1998 nhiệt độ trung bình các tháng vào mùa hè tăng nhiều. Hà Nội nằm trong vùng khí hậu gió mùa: Hàng năm có gió Đông Nam vào mùa hè và gió Đông Bắc vào mùa Đông. 1.2 Đặc điểm địa hình-thuỷ văn. Hà Nội nằm trong vùng châu thổ sông Hồng. Có các sông Hồng, sông Đuống, sông Nhuệ, sông Cầu, sông Cà Lồ và sông Công chảy qua địa phận. Khu vực nội thành và các huyện ven nội nằm giữa hai con sông là sông Hồng và sông Nhuệ. Độ cao nền địa hình thành phố trung bình từ 6-9 m thấp hơn mực nước sông Hồng (12-13 m) khi có lũ lớn. Đây là một trở ngại lớn cho thoát nước ở nội thành Hà Nội. Một đặc điểm quan trọng là Hà Nội có rất nhiều ao, hồ có tác dụng tham gia điều tiết trong hệ thống thoát nước và điều hoà tiểu khí hậu đô thị. Do vậy cần tập trung duy trì và bảo vệ. Nước ngầm tầng sâu ở Hà Nội khá phong phú và là nguồn cung cấp nước sạch cho sinh hoạt ở khu vực nội thành. 2. Vị trí chính trị . 2.1. Dân số và lao động. Hà Nội xét về số dân cư là đô thị lớn thứ hai của Việt Nam sau Thành phố Hồ Chí Minh, tính đến 31/12/2000 dân số Hà Nội là 2.756.000 người. Hà Nội có diện tích tự nhiên là 920,97 km2, chiếm bình quân 2,8% diện tích tự nhiên cả nước và mật độ dân số là 2.993 người/km2, co xu thế tăng lên so với 2.383 người/km2 vào năm 1995. Hà Nội có mật độ dân số lớn nhất trong cả nước (TP Hồ Chí Minh là 2.101 người/km2- đứng thứ hai và Kontum là 26 người/km2- thấp nhất trong cả nước). Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên của Hà Nội đã thay đổi tích cực, giảm liên tục và đang duy trì ở mức <10,9 o/oo , cụ thể là: Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 Tỷ lệ tăng dân số(o/oo) 14,75 14,21 13,72 13,24 10,84 10,87 Trong khi đó tốc độ tăng cơ học vào nội thành Hà Nội lại gia tăng mạnh do dòng người từ nông thôn đổ vào mỗi năm một nhiều mà chưa có biện pháp ngăn chặn, chưa có chính sách hữư hiệu nào xử lý được một cách lâu dài. Phân bố dân cư trên lãnh thổ Hà Nội rất không đều : Diện tích nội thành nhỏ(chỉ chiếm khoảng 9,2% tổng diện tích thành phố) nhưng lại có dân số lớn(chiếm hơn 53% tổng dân số toàn thành phố). Do vậy, mật độ dân số trong nội thành cao nhất toàn quốc : 17.489 người/km2(số kiệu vào thời điểm 31/12/2000-Cục thống kê Hà Nội). Tỉ lệ lao động chưa có việc làm trên tổng dân cư ngày càng được giảm xuống, cụ thể là 1,3% ; đến năm 2000 là; 1,04%. Hà Nội là trung tâm có tiềm lực khoa học-kỹ thuật lớn mạnh nhất trong cả nước. Có đội ngũ cán bộ thuộc nhiều lĩnh vực then chốt, có đủ năng lực đêr thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hiện đại hoá, văn minh hoá thủ đô. Chất lượng lao động khá nhất trong cả nước, có nhiều nghề tinh xảo ở đỉnh cao của quốc gia. Người Hà Nội có truyền thống văn minh , lịch sự và một nền văn hoá lâu đời sẽ có ý nghĩa to lớn trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của thành phố. 2.2. Tổ chức hành chính. Hà Nội hiện có 7 quận nội thành bao gồm; quận Hoàn Kiếm, quận Ba Đình, quận Hai Bà Trưng, quận Đông Đa, quận Tây Hồ, quận Thanh Xuân, quận Cầu Giấy và 5 huyện ngoại thành bao gồm: Thanh Trì, Từ Liêm, Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn. Hà Nội có tổng số 220 phường, xã và 8 thị trấn, các thị trấn này được phân bổ như sau: Sóc Sơn-1; Đông Anh-1; Gia Lâm-4; Từ Liêm-1 và Thanh Trì-1. 2.3. Tình hình phát triển kinh tế xã hội. Hà Nội có vị trí địa lý rất thuận lợi, là thủ đô của cả nước, là đầu mối giao thông quan trọng đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không nối với các địa phương trong cả nước, các nước trong khu vực và thế giới. Hà Nội cũng là nơi tập trung lao động dồi dào, nguồn nhân lực có trình độ và chuyên môn cao.Tốc độ tăng trưởng GDP của Hà Nội đạt tốc độ tăng trưởng GDP lớn hơn của cả nước trong thời kỳ 1996-2000 Hà Nội đang trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch và nông nghiệp. Sự chuyển dịch cơ cấu này kéo theo sự thay đổi về tỉ trọng của các ngành trong cơ cấu kinh tế, tỷ trọng công nghiệp có xu hướng tăng lên còn tỉ trọng nông nghiệp có xu hướng giảm đi. Cụ thể là : Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 Tỷ lệ chiếm GDP của công nghiệp 33,5 34,9 35,3 36,1 37,5 38,5 Tỷ lệ chiếm GDP của nông nghiệp 5,6 5,54 5,47 5,42 5,39 5,35 Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu thì theo đó sự phát triển của các ngành công nghiệp cũng được đẩy mạnh. Hà Nội là một trong hai trung tâm công nghiệp lớn nhất cả nước bao gồm khoảng 20 ngành chủ yếu như cơ khí , hoá chất, dệt , nhuộm, da giầy, thực phẩm…Hàng trăm các nhà máy , xí nghiệp, cơ sở sản xuất tập trung chủ yếu vào 9 khu công nghiệp: Minh Khai- Vĩnh Tuy, Thượng Đình, Văn Điển, Đông Anh, Trương Định…. Ngoài ra, Hà Nội còn là nơi tập trung nhiều trường dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học với số học sinh, sinh viên ngày càng tăng. Năm 2000 có 21 trường dạy nghề với 13.600 học sinh, 25 trường trung cấp kỹ thuật với gần 15000 học sinh và 44 trường đại học, cao đẳng với 370.000 học sinh, sinh viên. Hà Nội còn có 340 trường mẫu giáo, gần 500 trường phổ thông tiểu học và trung học với tổng số học sinh theo học ngày càng gia tăng, nhất là phổ thông trung học. Cơ sở y tế của thành phố Hà Nội năm 2000 có tổng số 29 bệnh viện, 228 trạm y tế xã/phường, 4 nhà hộ sinh quận với tổng số 7.933 giường bệnh, 1396 bác sỹ, 662 y sỹ và 687 dươc sỹ. Với những điều kiện nêu trên, Hà Nội cùng với Hải Phòng và Quảng Ninh hợp thành tam giác tăng trưởng lớn thứ hai Việt Nam sau tam giác tăng trưởng thành phố Hồ Chí Minh-Đồng Nai-Bà Rịa-Vũng Tàu. Do vậy, Hà Nội là trung tâm kinh tế lớn thứ hai của cả nước và có quan hệ chặt chẽ với các cực tăng trưởng khác như vận tải quốc tế, thu hút nguyên vật liệu từ các tỉnh, cung cấp hàng hoá công nghiệp và hàng tiêu dùng cho các tỉnh. Không những vậy, Hà Nội còn là trung tâm văn hoá, khoa học kỹ thuật của cả nước. Với tư cách là thủ đô, Hà Nội là trung tâm chính trị, nơi đóng trụ sở của các cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ, có quan hệ mạnh mẽ với Quốc tế và có ảnh hưởng quan trọng tới đời sống chính trị của cả nước. 3. Hiện trạng phát triển đô thị và công nghiệp ở thành phố Hà Nội. 3.1. Phát triển không gian đô thị và xây dựng nhà ở. Khu vực nội thành chỉ có 84,30 km2(chiếm 9,15% diện tích đất đai) nhưng dân số chiếm tới 53,35%. Điều đó cho thấy mật độ dân số nội thành cao hơn rất nhiều so với mật độ dân số các huyện ngoại thành. Nhà cửa được xây chen lấn, cơi nới không theo chỉ dẫn, thiếu sự quản lý chặt chẽ đã gây trở ngại cho hoạt động bảo vệ môi trường. Các khu dân cư mới chưa được chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng thoả đáng đã và đang là vấn đề bức xúc của Hà nội, bên cạnh đó các làng xã đang được “Phố hoá” cũng gây ra tình trạng suy thoái môi trường. 3.2. Hệ thống giao thông đô thị. Do tốc độ đô thị hoá cao, mặc dù các tuyến đường đã được chú ý nâng cấp song việc giải phóng mặt bằng để xây dựng những đường mới gặp nhiều khó khăn, hơn nữa các phương tiện giao thông lưu hành trên đường phố có xu thế tăng nhanh và còn một số lượng đáng kể có chất lượng kém đã thải ra lượng khí thải lớn. Điều đó đã gây ra tình trạng ùn tắc giao thông trong thành phố và gia tăng mức độ ô nhiễm môi trường không khí tại một số tuyến, nút giao thông của Hà Nội. Vấn đề giao thông tĩnh mới được quan tâm song vẫn còn thiếu. Đó là những tồn tại của hệ thống giao thông đô thị Hà Nội, hiện đang từng bước được lãnh đạo thành phố quan tâm và tìm cách khắc phục. 3.3. Hệ thống thoát nước. Hệ thống thoát nước của Hà nội là hệ thống thoát nước hỗn hợp, bao gồm cả hệ thống thoát nước chung cho cả ba loại nước thải sinh hoạt, sản xuất và nươc mưa. Hầu hết các tuyến cống của Hà Nội, kích thước bé, độ dốc thuỷ lực nhỏ, cấu tạo không hợp lý, bùn cặn lắng. Số lượng cống ngầm và cống ngang là hơn 120 km chỉ mới đạt xấp xỉ trên 60% tổng chiều dài đường phố. Vì thế khả năng thu và vận chuyển nước thải của hệ thông cống ngầm Hà Nội hiện nay là không đảm bảo. Có tới 16-17 km đường phố thuộc khu vực nội thành cũ không có công ngầm thoát nước. Tổng lượng nước thải sinh hoạt của Hà Nội hiện nay là hơn 458.00m3/ngày đêm( trrong đó nước thải sản xuất công nghiệp và dịch vụ chiếm 57,42% tổng lượng nước thải thành phố). Hà Nội có bốn con sông thoát nước chính với tổng chiều dài gần 40 km. Các sông mương nội thành và ngoại thành đóng vai trò chủ yếu là tiêu thoát nước mưa, nước thải cho nội thành Hà Nội. Tổng chiều dài các kênh mương hở Hà Nội hiện nay là 29,7 km. Những kênh mương hở này nối với hệthống cống ngầm và ao hồ thành một mạng lưới hình rẻ quạt mà tâm là khu phố cổ. Hà Nội có trên 100 ao, hồ, đầm trong đó có 16 hồ ở nội thành với tổng diện tích mặt nước là 592 ha(chiếm khoảng 17% diện tích nội thành) với tổng sức chứa khoảng trên 15 triệu m3 , đảm nhận các chức năng tạo cảnh quan, giải trí, điều hoà tiểu khí hậu, điều hoà nước mưa, nuôi cá và tiếp nhận một phần nước thải và có khả năng tự làm sạch đến một mức độ nhất định. Nước mặt ở kênh mương, sông, hồ ở Hà Nội hiện đã và đang bị ô nhiễm, nguyên nhân là do nước thải và chất thải của một số không nhỏ hộ gia đình đổ ra xung quanh các hồ và dọc sông mương thoát nước. Một trong những nguyên nhân khác là do nhiều xí nghiệp công nghiệp, bệnh viện chưa có trạm xử lý nước thải hoặc có trạm xử lý nước thải nhưng hoạt động không tốt. Cho đến nay mới có 30 xí nghiệp, nhà máy, 24 cơ sở dịch vụ lớn và 4 bệnh viện đã đầu tư xây dung xử lý nước thải. Lượng nước thải được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường mới chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, khoảng 5% tổng lượng nước thải của thành phố. Hiện thành phố đang triển khai các gói thầu của dự án thoát nước giai đoạn I bao gồm nạo vét sông, mương thoát nước; cải tạo các tuyến cống thoát nước chính và trạm bơm thoát nước đầu mối Yên Sở(công suất 4,5 m3/s ) cùng hồ điều hoà đã được xây dựng để chống úng ngập khi có mưa lớn. 3.4. Quản lý chất thải rắn. Hà Nội hiện tại có 400 xí nghiệp , nhà máy và khoảng 11.000 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, 29 bệnh viện(không kể nhà hộ sinh quận), ngoài ra còn có 55 chợ và hàng trăm nhà hàng, khách sạn và các cơ sở thương mại , dịch vụ. Tổng lượng chất thải rắn phát sinh của Hà Nội năm 2000 vào khoảng 668.825 tấn(bình quân khoảng 1.832 tấn/ngày) trong đó: - Chất thải sinh hoạt và đường phố : 534.928 tấn - Chất thải công nghiệp : 113.750 tấn - Chất thải bệnh viện : 147 tấn Công ty môi trường đô thị đã thu gom được 427.442 tấn(80% tổng lượng rác phát sinh). Những người đồng nát đã thu gom để tái chế, tái sử dụng 85.610 tấn(11%) và xí nghiệp chế biến phế thải Cầu Diễn đã xử lý 9.358 tấn(1,6%) để chế biến thành phân hữu cơ. Lượng chất thải còn lại là 21.402 tấn(4%) tại các ngõ, xóm bước đầu được tự quản việc thu gom và định kỳ các đợt tổng vệ sinh cuối tuần Công ty Môi trường đô thị tổ chức thu gom, vận chuyển lên khu vực chôn lấp của thành phố. Việc xử lý chất thải rắn ở Hà Nội chủ yếu là chôn lấp, các chất thải rắn công nghiệp hầu hết đang được chôn cùng với chất thải rắn sinh hoạt. Các khu chôn lấp chất thải sinh hoạt mới được đầu tư như Kiêu Kỵ(Gia Lâm) và Nam Sơn(Sóc Sơn) là những bãi chôn lấp được thiết kế, xây dung theo các tiêu chuẩn chôn lấp chất thải hợp vệ sinh đầu tiên ở nước ta. Chất thải độc hại và nguy hiểm ở các bệnh viện đã bước đầu được quản lý và xử lý tại lò đốt chất thải bệnh viện công suất 3,2 tấn/ngày. Chất thải nguy hại của các cơ sở công nghiệp hiện vẫn chưa được sàng lọc phân loại để xữ lý triệt để. 3.5. Phát triển công nghiệp ở Hà Nội. Từ khi bước vào thời kỳ đổi mới, sản xuất công nghệp Hà Nội đã có những thay đổi lớn như: + Những ngành sản xuất còn phù hợp với thị trường thì các xí nghiệp đã tong bước đổi mới công nghệ và thiết bị. + Các xí nghiệp có sản phẩm không được thị trường chấp nhận đã tìm hướng kinh doanh mới hoặc giải thể. + Công nghiệp lắp ráp hàng ngoại nhập phát triển nhanh , nhưng quy mô còn nhỏ. + Công nghiệp hiện đại công nghệ cao bắt đầu được hình thành ở một số khu công nghiệp tập trung mới được đầu tư xây dung, có hạ tầng kỹ thuật đầy đủ như Saì Đồng, Nội Bài, Bắc Thăng Long… Tuy nhiên thực tế vẫn tồn tại một số vấn đề sau: Tại một số cụm công nghiệp cũ vẫn còn một số xí nghiệp nằm phân tán. Phần lớn các cơ sở công nghiệp hiện có quy mô vừa và nhỏ, số lượng cơ sở công nghiệp còn ít, hiện trạng đất công nghiệp chiếm tỷ lệ 6,2% so với đất xây dựng đô thị là tỷ lệ thấp đối với một đô thị công nghiệp hoá. Hiện vẫn còn một số không ít cơ sở công nghiệp sử dụng công nghệ lac hậu của những năm 60, chỉ có một số xí nghiệp được đầu tư thiết bị, công nghệ mới để nâng cao chất lượng sản phẩm. Chưa hình thành tổ chức quản lý môi trường ở các cụm công nghiệp. Các biện pháp quản lý xây dung đô thị kém hiệu quả diễn ra trong nhiều năm với hiện tượng xây nhà ở không phếp, trái phép áp sát các xí nghiệp công nghiệp gây khó khăn cho việc cải tạo, phát triển cụm công nghiệp và làm cho ô nhiễm do công nghiệp đến khu vực dân cư tiếp gián tăng lên. Có thể nhận định thành phố Hà Nội hiện nay đang bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá; giải quyết những tồn tại do công nghệ lạc hậu, phân tán là một việc rất phức tạp và khó khăn. Điều đó vẫn là một thách thức lớn đối với vấn đề giải quyết ô nhiễm môi trường do công nghiệp ở Hà Nội. 3.6. Hiện trạng phân bố các khu công nghiệp ở Hà Nội Hiện nay sản xuất công nghiệp Hà Nội đang từng bước chuyển biến theo hướng đa dạng hoá sản phẩm, chất lượng sản phẩm được nâng lên và đã xuất hiện nhiều cơ sở, xí nghiệp, công làm ăn có hiệu quả. Hiện đã có 50 sản phẩm công nghiệp được đưa ra và chiếm thị phần đáng kể ở ngoài thành phố, trong đó có 13 mặt hàng thuộc ngành công nghiệp cơ kim khí, 9 mặt hàng dệt may, da giầy; 5 mặt hàng thực phẩm. Sản xuất công nghiệp đóng góp oảng 40% tổng thu ngân sách và trên 70% giá trị kim ngạch xuất khẩu. Đây là tình hình, diễn biến cụ thể trong phát triển công nghiệp ở Hà Nội. 1. Cụm công nghiệp Minh Khai – Vĩnh Tuy. Cụm công nghiệp nằm trong nội thành, thuận lợi cho tiêu thụ sản phẩm và thu hút lao động. Hình thành khu vực sản xuất công nghiệp dệt may-thực phẩm khá rõ rệt, do đó cho quá trình đầu tư tập trung, tuy nhiên đã gặp thách thức, khó khăn do nằm xen kẽ với các khu dân cư nên khả năng mở rộng giao thông hạn chế do đó với nhu cầu lưu chuyển hàng hoá và đi lại cao dễ gây ùn tắc giao thông. Mặt khác do xây dựng thiếu quy hoạch, việc bố trí sắp xếp tuỳ tiện, thiếu gắn bó nên đất đai còn nhưng khó bố trí , xây dựng thêm các xí nghiệp. Trong thời gian qua, trong khu đã có một số diễn biến: - Từng bước thay đổi các thiết bị, quy trình công nghệ, xem xét để có thể xây dựng thêm xí nghiệp. Đầu tư cải tạo để khu vực này trở thành một cụm công nghiệp hiện đại, sử dụng ít lao động, năng suất lao động cao( hiện đại và mở rộng nhà máy dệt 8/3, tăng thêm năng lực và quy mô nhà máy bia Việt Hà…) - Năm 2000 đạt 312 tỷ đồng giá trị sản lượng, lao động giữ ở mức 1,6 vạn, dự kiến 2010 các chỉ tiêu trên là 1250 tỷ và 1,6 vạn lao động. 2. Cụm công nghiệp Trương Định - Đuôi Cá Cũng giống như cụm công nghiệp Minh Khai – Vĩnh Tuy, cụm công nghiệp này nằm trong nội thành nên thuận lợi cho quá trình tiếp thị, tiêu thụ sản phẩm. Sản phẩm tương đối đồng nhất( chế biến lương thực thực phẩm) cho nên vấn đề đầu tư để tạo ra cụm công nghiệp tập trung có tác dụng hỗ trợ bổ sung cho nhau về sản xuất là có tính hiện thực. Tuy nhiên việc phát triển ở cụm công nghiệp này đang gặp trở ngại, đó là cơ sở hạ tầng xuống cấp, mức độ ô nhiễm cao, giao thông khó khăn, không phù hợp với những ngành có nhu cầu vận chuyển cao. Trong những năm qua thành phố đã chỉ đạo phát triển trong cụm theo hướng. - Không bố trí xây dựng thêm xí nghiệp, đầu tư đổi mới thiết bị là chủ yếu - Đầu tư để cải thiện môi trường( nước, không khí, giao thông…) - Khống chế lao động trong cụm ở mức 3.700 người trong giai doạn 2000 – 2010. Năm 2000 đạt giá trị sản lượng 83 tỷ và dự kiến năm 2010 đạt 330 tỷ. 3. Cụm công nghiệp Văn Điển – Pháp Vân Tại cụm công nghiệp này, các xí nghiệp được bố trí cạnh các đầu mối giao thông nên thuận lợi cho việc vận chuyển nguyên vật liệu và hàng hoá. Diện tích đất đai còn nên có khả năng mở rộng. Tuy nhiên do ở cụm công nghiệp này tập trung nhiều cơ sở thuộc ngành hoá chất nên mức độ ô nhiễm độc hại lớn. Vì vậy trong thời gian qua, việc phát triển sản xuất trong cụm được triển khai theo hướng - Đầu tư chiều sâu để đổi mới thiết bị tiên tiến, ít bị độc hại là hướng chủ yếu - Không bố trí thêm xí nghiệp hoá chất , tuy nhiên có thể bố trí bổ sung thêm một số phân xưởng, bộ phận nhằm tăng cường quy mô một số xí nghiệp. - Năm 2000 toàn cụm đạt giá trị sản lượng 105 tỷ và dự kiến năm 2010 đạt 420 tỷ 4. Cụm công nghiệp Thượng Đình Nằm trong khu vực nội thành, các xí nghiệp được bố trí gần điểm nút giao thông nên rất thuận lợi cho việc vận chuyển và tiêu thụ hàng hoá. Tuy nhiên, các cơ sở công nghiệp ở đây đều ở tình trạng thiết bị và quy trình công nghệ kém, mức độ ô nhiễm không khí nặng, khả năng mở rộng cụm hạn chế. Sự phát triển trong cụm những năm qua theo hướng - Đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị, tạo ra chất lượng sản phẩm cao là hướng chủ yếu( dây chuyền sợi, bao bì..). Đầu tư đổi mới dây chuyền của một số xí nghiệp, đầu tư mới một số xí nghiệp tương đương về công nghệ - Nghiên cứu để có thể sau 2005, chuyển một số xí nghiệp ra khỏi cụm: nhà máy xà phòng, cao su… - Năm 2000 toàn cụm đạt giá trị sản lượng 335 tỷ và dự kiến 2010 đạt 1340 tỷ 5. Cụm công nghiệp Cầu Diễn – Nghĩa Đô Thuận lợi cơ bản của cụm công nghiệp này đối với sự phát triển là đất xây dựng còn nhiều, nằm trong khu vực dự kiến phát triển của thành phố nên có nhiều khr năng bố trí thêm các xí nghiệp. Ngoài ra, cụm công nghiệp này gần các Viện nghiên cứu, các trường đại học lớn nên khả năng tiếp nhận và áp dụng khoa học kỹ thuật thuận lợi hơn. Tuy vậy trong khu vẫn gặp phải những thách thức, khó khăn, hàng hoá chủ là khu vực công nghiệp đa ngành nên sẽ khó khăn trong quá trình đầu tư tập trung, khả năng liên kết, hỗ trợ nhau về công nghệ kém. Trước tình hình đó, việc phát triển trong cụm triển khai theo hướng. - Đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị cũ, nhất là thiết bị sản xuất hoá chất, đầu tư thêm một số xí nghiệp, trước hết là các xí nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng. Bố trí diện tích để có thể chuyển một số xí nghiệp từ nội thành ra. - Giá trị sản lượng toàn cụm năm 2000 đạt 34 tỷ và dự kiến năm 2010 là 140 tỷ 6. Cụm công nghiệp Gia Lâm – Yên Viên Cụm công nghiệp này được xây dựng gần các tuyến đường( sắt , bộ,…) do đó rất thuận lợi trong quá trình vận chuyển lưu thông hàng hoá, có khả năng mở rộng về quy mô. Khó khăn chủ yếu hiện nay trong phát triển công nghiệp cụm công nghiệp này là: thiết bị lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật kém lại bị chia cắt nên việc bổ sung, hỗ trợ cho nhau khó thực hiện Đinh hướng phát triển trong những năm qua cũng như cụm công nghiệp khác, việc cải tạo thay thế các thiết bị cũ để cải tiến một bước về kỹ thuật và công nghệ để từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh là hướng chủ yếu. Bố trí thêm và di chuyển một số xí nghiệp từ nội thành ra, việc bố trí phải cân nhắc để đảm bảo tính tập trung, chuyên môn hoá trong cụm Năm 2000 giá trị sản lượng toàn cụm đạt 85 tỷ và dự kiến năm 2010 đạt 340 tỷ 7. Cụm công nghiệp Đông Anh Đây là khu vực tập trung cao công nghiệp kim khí tiêu dùng nên có điều kiện đầu tư, tổ chức và sắp xếp theo hướng tập trung, chuyên môn hoá, có nhiều khả năng mở rộng, song có trở ngại là thiết bị còn ở mức thấp, hạ tầng kỹ thuật chưa được đầu tư xây dựng đồng bộ Trong những năm qua cụm công nghiệp này đã được phát triển theo hướng - Tập trung đổi mới thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh của hàng hoá là hướng chính - Đầu tư thêm một số xí nghiệp mới như: lắp ráp ô tô, đồ điện… - Giá trị sản lượng toàn cụm năm 2000 đạt 73 tỷ và dự kiến năm 2010 đạt 290 tỷ, lao động ở mức 10.000 người 8. Cụm công nghiệp Chèm Cụm này nằm trong vùng quy hoạch của thành phố, đất cho công nghiệp lớn nên có khả năng mở rộng về quy mô song cũng gặp khó khăn về thiết bị, quy trình công nghệ lạc hậu, các xí nghiệp phân bố trên diện rộng, cơ sở hạ tầng đầu tư phân tán khó có thể bổ sung cho nhau. Vì vậy, cụm công nghiệp đã phát triển theo hướng - Hướng chính là đầu tư đổi mới thiết bị đảm bảo nâng cao năng lực sản xuất - Xây dựng bổ sung một số xí nghiệp vừa và nhỏ, chủ yếu là công nghiệp vật liệu xây dựng - Năm 2000 đạt giá trị sản lượng là 14,8 tỷ ; dự kiến năm 2010 đạt 30 tỷ 9. Cụm công nghiệp Cầu Bươu Đây là cụm có khả năng mở rộng về quy mô, diện tích nhà xưởng được xây dựng tốt và khả năng khai thác còn cao. Song tại khu vực cơ sở hạ tầng phân tán không đồng bộ, thiết bị đầu tư đã lâu, chem. được đổi mới nên lạc hậu. Chính vì vậy trong những năm qua phát triển được chỉ đạo theo hướng : từng bước đầu tư, đổi mới thiết bị, có thể xây dựng thêm một số xí nghiệp mới. Năm 2000 toàn cụm đạt giá trị sản lượng là 12 tỷ và dự kiến năm 2010 là 50 tỷ II. Hiện trạng môi trường không khí. 1. Chất lượng môi trường không khí. 1.1. Nguồn thải. Chất lượng không khí ở Hà Nội bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố trong đó phải kể đến các yấu tố như: CO, CO2, SO2, bụi hạt lơ lửng và một số chất ô nhiễm không khí độc hại khác(benzen, aldehyde..). Các khí trên được tạo ra từ những nguồn gây ô nhiễm như: Hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Giao thông cơ giới và xây dung. Sinh hoạt của cộng đồng. Kết quả điều tra ô nhiễm công nghiệp ở Hà Nội cho thấy có gần 400 cơ sở công nghiệp đang hoạt động tại 9 cụm khu công nghiệp cũ( Minh Khai, Thượng Đình, Trương Định, Văn Điển, Cầu Diễn, Yên Viên, Chèm, Cầu Bươu và Đông Anh) và một số khu công nghiệp tập trung như Sài Đồng, Bắc và Nam Thăng Long, Khu công nghiệp Nội Bài thuộc Sóc Sơn.. Theo số liệu thống kê của Sở khoa học công nghệ và môi trường và kết quả điều tra của dự án” Kiểm kê đánh giá các nguồn thải trên phạm vi toàn quốc” do Cục môi trường chủ trì năm 1997, trong các khu công nghiệp đó có khoảng 147 cơ sở công nghiệp có tiềm năng thải các chất thải gây ô nhiễm môi trường không khí. Các nguồn thải này rất đa dạng và thuộc các ngành sản xuất như: - Ngành năng lượng : 1 cơ sở - Ngành cơ khí, luyện kim, khai khoáng : 36 co sở - Ngành điện, điện tử : 9 cơ sở - Ngành hoá chất : 32 cơ sở - Ngành vật liệu xây dựng : 8 cơ sở - Ngành công nghiệp nhẹ : 32 cơ sở - Ngành công nghiệp thực phẩm : 29 cơ sỏ 1.2.Chất lượng không khí tại các khu, cụm công nghiệp ở Hà Nội Các nghiên cứu cho rằng những năm 1990 về chất lượng không khí ở Hà Nội đã chỉ ra rằng không khí ở hà nội chủ yếu bị ảnh hưởng bởi các hoạt động công nghiệp và giao thông vận tải. Do tác động của hướng gió Đông Nam, về mùa hè, chất lượng không khí của nội thành bị ảnh hưởng nhiều bởi các cơ sở công nghiệp tại các khu công nghiệp nằm ở phía nam thành phố như Mai Động-Vĩnh Tuy, Thượng Đình, Văn Điển-Pháp Vân. Bên cạnh đó một số cơ sở công nghiệp nằm rải rác cũng có ảnh hưởng tới môi trường không khí.Việc phân tán các chất ô nhiễm thường theo quy luật sau: Nồng độ các chất ô nhiễm tại các khu công nghiệp và khu lân cận các cơ sở công nghiệp thường cao hơn các khu dân cư thuần tuý. Nồng độ các chất ô nhiễm tại các khu công nghiệp có mật độ cao, tập trung nhiều loại hình công nghiệp có khả năng gây ô nhiễm như dệt nhuộm, hoá chất.. thường có xu hướng cao hơn các khu khác có mật độ thấp hơn. Chất lượng không khí ở ngoại thành, nơi sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, ít bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ô nhiễm nêu trên. Cụ thể là nồng độ các chất ô nhiễm không khí thường thấp hơn so với các khu vực nội thành và các khu có sản xuất công nghiệp thường thấp hơn so với nội thành. Ngoài ra tại một số làng nghề nơi sản xuất tiểu thủ công nghiệp ô nhiễm không khí cũng là một vấn đề quan tâm. Để đánh giá chất lượng không khí tại Hà Nội trong thời gian 5 năm, các số liệu sử dụng được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm: - Số liệu quan trắc môi trường do Sở khoa học Công nghệ và Môi trường và Phòng phân tích sắc ký quang phổ thuộc Viện hoá học của trung tâm KHTN&CN quốc gia thực hiện định kỳ hàng năm từ năm 1997 đến nay(các Báo cáo kết quả phân tích mẫu khí thải tại các khu công nghiệp thành phố Hà Nội 1997, 1998, 1999 và năm 2000). Số liệu quan trắc không khí tại các khu công nghiệp phục vụ các đề tài nghiên cứu về hiện trạng chất lượng không khí, các dự án về môi trường Hà Nội do Sở KHCN&MT chủ trì thực hiện, kết hợp với các trung tâm, viện nghiên cứu về môi trường ở Hà Nội từ năm 1994 đến nay, bao gồm: + Đề tài nghiên cứu thiết lập mạng lưới quan trắc chất lượng không khí tại các khu công nghiệp ở Hà Nội + Đề tài nghiên cứu Đánh giá tổng thể tình hình ô nhiễm công nghiệp, đề xuất các giải pháp cải thiện, kiểm soát và khống chế ô nhiễm trong quá trình phát triển công nghiệp ở Hà Nội. + Báo cáo cuối cùng của dự án Chương trình môi trường Việt Nam-Canada + Báo cáo của dự án JICA về “Nghiên cứu cải thiện môi trường Hà Nội”. 1.2.1. Bụi. Nhìn chung ô nhiễm do bụi là đáng kể nhất trong số các loại hình ô nhiễm không khí ở Hà Nội, đặc biệt tại các khu công nghiệp tâp trung, khu vực nội thành. Số liệu quan trắc từ nhiều nguồn khác nhau đều cho thấy nồng độ bụi tại phần lớn các khu công nghiệp và dân cư Hà Nội đều cao hơn nhiều lần tiêu chuẩn cho phép, kết quả số liệu quan trắc 1997-1999 của Sở Khoa Học Công nghệ và Môi trường và của Trung tâm môi trường đô thị và khu 0,2-1,2 mg/m3 * INEST(Viện khoa học và công nghệ môi trường) Báo cáo tóm tắt đề tài “Đánh giá tổng thể tình trạng ô nhiễm công nghiệp, đề xuất các giải pháp cải thiện, kiểm soát và khống chế ô nhiễm trong quá trình phát triển công nghiệp ở Hà Nội” 12-1999. . Số liệu quan trắc cũng cho thấy rằng trong số các khu công nghiệp tập công nghiệp(CEETIA) trong thời gian 1994-1996, nồng độ bụi dao động trong khoảng 1.5-3 lần. Trong một số trường hợp cá biệt, nồng độ bụi đo được lên tới vài chục lần tiêu chuẩn cho phép. Ví dụ, nồng độ bụi đo được tại các thời điểm khác nhau ở trên 70% số các nhà máy trong các khu công nghiệp dao động trong khoảng trung ở Hà Nội thì mức độ ô nhiễm bụi các khu công nghiệp cũ gần nội thành thường cao hơn các khu công nghiệp mới. Tình hình ô nhiễm bụi trong khu vực nội thành cũng đáng kể. Nguyên nhân chủ yếu là do tác động của các nguồn thải công nghiệp, hoạt động giao thông cơ giới, thi công xây dựng và sinh hoạt. Ô nhiễm bụi tại các nút và ven các trục giao thông cũng xó chiều hướng gia tăng do việc mật độ các phương tiện giao thông và mức đô hoạt động của các phương tiện này. Nồng độ bụi tại các nút giao thông này đều vượt xa tiêu chuẩn cho phép. ở khu vực ngoại thành, nơi mật độ dân cư thấp hơn nhiều và hoạt động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, nồng độ bụi nhìn chung là thấp hơn so với các khu công nghiệp tập trung và nội thành. Kết quả khảo sát chất lượng không khí ở một số điểm ở ngoại thành cho thấy ngoại trừ các điểm khảo sát gần các nhà máy công nghiệp hoặc trục giao thông chính nồng độ bụi đô được phần lớn nằm trong giới hạn cho phép về chất lượng không khí TCVN 5937-1995. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp tại một số làng nghề truyền thống ở vùng nông thôn ngoại thành cũng đã và đang ảnh hưởng tới chất lượng môi trường. Tình trạng ô nhiễm môi trường ở làng gốm Bát Tràng trong những năm qua là một trường hợp điển hình, kết quả cho thấy chất lượng môi trường tại đây cho thấy nồng độ bụi luôn cao hơn tiêu chuẩn cho phép. Bảng1: Kết quả quan trắc nồng độ bụi lơ lửng(TSP) ở 6 khu công nghiệp từ năm 1996 đến nay TT Khu công nghiệp Giá trị max cho phép theo TCVN 5937 – 1995 (TCCP) Trị số trung bình nồng độ TSP quan trắc được(mg/m3) Ghi chú 1996 1997 1998 1999 2000 2001 1 Thượng Đình 0,2 mg/m3 0,4750 0,6165 0,5425 0,5180 0,520 0,480 Vượt TCCP 2 Mai Động 0,7600 0,7660 0,8600 0,7470 0,770 0,690 Vượt TCCP 3 Văn Điển 0,6750 0,6950 0,7700 0,6410 0,670 0,600 Vượt TCCP 4 Cầu Diễn 0,4970 0,5492 0,6060 0,5050 0,520 0,560 Vượt TCCP 5 Pháp Vân 0,5750 0,5805 0,9100 0,7670 0,820 0,620 Vượt TCCP 6 Chèm 0,4870 0,5537 0,6400 0,5380 0,580 0,500 Vượt TCCP Nguồn: Phòng quản lý môi trường-Sở KHCN &MT Hà Nội 1.2.2. SO2 Theo số liệu quan trắc của sở khoa học công nghệvà Môi trường năm 2000 tại hầu hết các khu công nghiệp tập trung ở Hà Nội nồng độ SO2 dao động ở mức 0,05-0,11 mg/m3, thấp hơn so với tiêu chuẩn cho phép về chất lượng không khí xung quanh(TCVN 5937-1995: 0,3 mg/m3 trung bình một giờ). Tuy nhiên tại một số khu công nghiệp nồng độ SO2 phát hiện được cao hơn tiêu chuẩn và có thời điểm lên tới 20mg/m3(xem bảng 2). Số các nhà máy này chỉ chiếm 27%. Bảng2: Kết quả quan trắc khí SO2 ở 6 khu công nghiệp từ năm 1996 đến nay TT Khu công nghiệp Giá trị max cho phép theo TCVN 5937 – 1995 Trị số trung bình khí SO2 quan trắc được( mg/m3 ) Ghi chú 1996 1997 1998 1999 2000 2001 1 Thượng Đình 0,3 mg/m3 0,0798 0,0976 0,0630 0,0570 0,054 0,051 Dưới TCCP 2 Mai Động 0,0760 0,0940 0,0790 0,0700 0,057 0,048 Dưới TCCP 3 Văn Điển 0,0850 0,1096 0,0700 0,0590 0,054 0,051 Dưới TCCP 4 Cầu Diễn 0,0820 0,0902 0,0630 0,0550 0,047 0,039 Dưới TCCP 5 Pháp Vân 0,0900 0,1024 0,0500 0,0610 0,045 0,036 Dưới TCCP 6 Chèm 0,0790 0,0895 0,0590 0,0530 0,047 0,037 Dưới TCCP Nguồn: Phòng quản lý môi trường-Sở KHCN &MT Hà Nội 1.2.3. NOx. Các ô xít nitơ là các chất ô nhiễm do đốt nhiên liệu. Những chất ô nhiễm này phá huỷ tầng ôzôn và gây ra mưa axít. Không khí ô nhiễm trong thời gian lưu lượng giao thông lớn có chứa lượng NO2 lớn gây tổn thương các niêm mạc trong phổi và gây ra các bệnh hô hấp như viêm phế quản mãn tính. Bảng 3: Kết quả quan trắc khí NO2 ở 6 khu công nghiệp từ năm 1996 đến nay TT Khu công nghiệp Giá trị max cho phép theo TCVN 5937 – 1995 Trị số trung bìn._.hững so sánh về tác động tới môi trường của các khu công nghiệp này. Tiêu chuẩn cho phép Nhìn vào các bảng sơ đồ so sánh nồng độ các chất thải vào môi trường gây ô nhiễm không khí ta có thể có một vài nhận xét sau đây. Trong các loại khí thải do phát triển công nghiệp tạo ra tại các khu công nghiệp được quan trắc thì trong đó có 2 loại khí vượt quá tiêu chuẩn cho phép đó là khí CO2 và nồng độ bụi lơ lửng . ở sơ đồ1.1 ta có thể nhận thấy rằng là các khu công nghiệp trên đều có nồng độ bụi cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn quy định của quốc gia. Hâù hết các khu công nghiệp đều có nồng độ bụi gấp 2-3 lần tiêu chuẩn cho phép. Trong đó phải đáng kể đến là các khu công nghiệp Mai Động, Pháp Vân và Văn Điển. Cả 3 khu công nghiệp này đều có nồng độ bụi cao gấp 3 lần tiêu chuẩn. Điều này cho thấy ô nhiễm bụi trong khu vực nội thành là rất đáng kể. Trong sơ đồ 1.2 thì ta cũng có thể đễ dàng nhận thấy rằng nồng độ CO2 do các khu công nghiệp này tạo ra rất lớn, nổi bật là các khu công nghiệp Văn Điển, Pháp Vân, Thượng Đình, Mai Động. Còn các loại khí còn lại theo các sơ đồ 1.3, 1.4, 1.5 thì nồng độ của chúng đều ở dưới mức giới hạn cho phép, riêng khu công nghiệp Mai Động thì nồng độ CO vẫn cao hơn tiêu chuẩn cho phép. Ta thấy ở đây nổi bật lên khu công nghiệp Mai Động, đây là khu công nghiệp có nồng độ phát thải các khí khá cao, nồng độ bụi ở đây lớn hơn tiêu chuẩn cho phép 3,8 lần, nồng độ CO lớn hơn tiêu chuẩn cho phép 1,1 lần, nồng độ CO2 gấp 1,3 lần. Các khu công nghiệp khác thì nồng độ thấp hơn nhiều. Khu công nghiệp Văn Điển chỉ có nồng độ CO2 lớn hơn tiêu chuẩn cho phép 1,5 lần, nồng độ bụi lớn hơn 3,4 lần . Khu công nghiệp Thượng Đình có nồng độ bụi cao hơn tiêu chuẩn cho phép 2,5 lần và nồng độ khí CO2 lớn hơn 1,4 lần.Khu công nghiêp Pháp Vân có nồng độ khí CO2 vượt 1,4 lần, nồng độ bụi vượt 3,1 lần. Khu công nghiệp Chèm và Cầu Diễn có nồng độ bụi lớn hơn tiêu chuẩn cho phép là 2,9 và 2,5 lần. Còn lại các khu công nghiệp khác thì các nồng độ các chất khí độc hại khác như SO2, CO gây ra hoặc là nhỏ hoặc là không đáng kể do quy mô nhỏ hơn các khu công nghiệp Mai Động, Pháp Vân Tiêu chuẩn cho phép Tiêu chuẩn Tiêu chuẩn cho phép Ngoài ra ta cũng nhận thấy rằng các khu công nghiệp ở cách xa trung tâm thành phố thi nồng độ các chất khí thải ra cũng nhỏ hơn nhiều so với các khu công nghiệp ở trong thành phố. Lý do chủ yếu các khu công nghiệp này có nồng độ phát thải nhỏ hơn là do hầu hết đây là những khu công nghiệp quy mô nhỏ hoặc là những khu công nghiệp mới được hình thành trong thời gian gần đây. Đồng thời các khu công nghiệp này có không gian tiến hành sản xuất rộng lớn nên các khí có thể phát tán bay đi xa. Còn những khu công nghiệp trong thành phố thì do đông dân cư, mật độ giao thông cao nên các khí không phát tán được, tích tụ lại ngày càng nhiều Tiêu chuẩn cho phép Tiêu chuẩn cho phép 2. Mối quan hệ giữa sự tăng trưởng GDP/người và một số khí thải độc hại do phát triển công nghiệp gây ra. Công nghiệp là một trong những ngành đóng góp lớn vào GDP của Hà Nội trong những năm vừa qua. Do vậy mối quan hệ giữa sự tăng trưởng GDP và phát triển công nghiệp là rất lớn, chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhưng phát triển công nghiệp trong những năm qua đã gây ảnh hưởng nhiều tới môi trường, vì vậy tác động tới môi trường cũng có quan hệ với tốc độ tăng GDP/người. ở đây ta xem xét mối quan hệ giữa tăng GDP/người và nồng độ bụi lơ lửng và nồng độ phát thải khí CO2. Đây là 2 loại khí thải độc hại mà hàm lượng của chúng phát thải ra không khí là tương đối lớn và hầu như các khu công nghiệp được quan trắc đều có chỉ số phát thải 2 loại khí này vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Như ở trên ta đã phân tích thì khu công nghiệp Mai Động là khu công nghiệp có tác động về môi trường rõ rệt nhất. Do đó ta sẽ lấy số liệu của khu vực này làm khu vực đặc trưng để phân tích mối quan hệ giữa tốc độ tăng GDP/người và nồng độ bụi lơ lửng và nồng độ phát thải khí CO2. 2.1. Mối liên hệ giữa tốc độ tăng GDP/người của Hà Nội và nồng độ phát thải khí CO2 Theo các số liệu đã quan trắc được do Sở KHCN và MT Hà Nội thực hiện qua các năm và số liệu ở phụ lục 7ta có thể có được biểu đồ biểu diễn mối liên hệ sau Năm GDP/người Hà Nội (nghìn tỷ) x Nồng độ phát thải CO2 y xy x2 y2 1995 5,964 0,739 4,407 35,569 0,546 1996 6,906 0,748 5,165 47,692 0,559 1997 7,873 0,712 5,606 61,984 0,507 1998 9,187 0,684 6,293 84,401 0,469 1999 10,070 0,690 6,948 101,405 0,476 2000 10,806 0,720 7,780 116,769 0,518 2001 11,539 0,720 8,308 133,148 0,518 Tổng 62,345 5,014 44,508 580,970 3,595 Nhìn vào bảng số liệu ta thấy rằng khi GDP/người tăng thì nồng độ các chất thải cũng tăng lên. Các số liệu trên néu biểu diễn trên hàm số sẽ tạo ra đường gấp khúc có hướng đi lên, như vậy nó có mối liên hệ tuyến tính với phương trình tuyến tính đường hồi quy có dạng: = a + bx Trong đó y (x): trị số điều chỉnh của tiêu thức y theo quan hệ phụ thuộc với tiêu thức x x : là trị số của tiêu thức nguyên nhân a,b : Là các tham số quy định vị trí của đường hồi quy lý thuyết Tham số a, b được tính theo công thức b = a = theo các số liệu đã tính ở bảng ta có * = = = 8,906 = = = 0,719 = = = 6,375 * d2x = - ()2 = 3,697 d2y = - ()2 = 0,001 b = = = 0,0012 a = - b = 0,612 Vậy phương trình hồi quy thể hiện mối liên hệ giữa GDP/người của Hà Nội và nồng độ phát thải CO2 là = 0,612 + 0,012 x Để đánh giá độ chặt chẽ của mối liên hệ tương quan tuyến tính trên, ta có thể sử dụng hệ số tương quan : r = b. = 0,012. = 0,72 2.2. Mối liên hệ giữa tốc độ tăng GDP/người và nồng độ bụi lơ lửng Theo các số liệu đã quan trắc được do Sở KHCN và MT Hà Nội thực hiện qua các năm và số liệu ở phụ lục 7 ta có thể có được biểu đồ biểu diễn mối liên hệ như sau Năm GDP/người Hà Nội x Nồng độ bụi lơ lửng y x y x2 y 2 1995 5,964 0,754 4,496 35,569 0,569 1996 6,906 0,760 5,248 47,692 0,578 1997 7,873 0,766 6,031 61,984 0,589 1998 9,187 0,860 7,901 84,401 0,739 1999 10,070 0,747 7,522 101,405 0,558 2000 10,806 0,770 8,320 116,769 0,593 2001 11,539 0,820 9,462 133,148 0,672 Tổng 62,345 5,477 48,982 580,970 4,295 Ta tính tương tự như tính với CO2 Như vậy ta có * = = = 8,906 = = = 0,782 = = = 6,997 * d2x = - ()2 = 3,679 d2y = - ()2= 0,001 b = = = 0,011 a = + b = 0,7 Vậy phương trình hồi quy thể hiện mối quan hệ giữa tốc độ tăng GDP /người và nồng độ phát thải bụi (TSP) là: = 0,7 + 0,011 x Đồng thời ta có hệ số tương quan giữa GDP/người và nồng độ bụi lơ lửng là: r = b. = 0,011.= 0,67 Sau khi tính toán ta có được kết quả như sau hệ số tương quan giữa tốc độ tăng GDP/người của Hà Nội và nồng độ phát thải CO2 là 0,72 ; hệ số tương quan giữa tốc độ tăng GDP/người của Hà Nội và nồng dộ bụi lơ lửng là 0,67. Vì r nằm trong khoảng: r ẻ [ -1;1] . Như vậy là mối quan hệ giữa tốc độ tăng GDP /ngườivà việc tăng nồng độ các khí thải độc hại là mối quan hệ thuận và tương đối chặt chẽ. 3. Dự báo nồng độ bụi lơ lửng(TSP) và nồng độ khí CO2 trong những năm tới. 3.1. Dự báo nồng độ bụi CO2 trong những năm tới. ở đây ta lấy số liệu nồng độ bụi lơ lửng và nồng độ khí CO2 theo số liệu của khu công nghiệp Mai Động, là khu công nghiệp điển hình có nồng độ bụi lơ lửng và nồng độ khí CO2 hàng năm khá cao so với các khu công nghiệp khác. Dựa vào cách tính theo phương pháp hồi quy ta có thể đưa ra những số liệu giả thiết về nồng độ bụi lơ lửng và nồng độ khí CO2 trong những năm tới như sau theo phương trình đường thẳng = a0 + a1t áp dụng phương pháp bình quân nhỏ nhất sẽ có hệ phương trình sau đây để xác định giá trị của tham số a0 và a1 ồy = na0 + a1ồt ồty= a0ồt + a1ồt2 Năm Thứ tự thời gian (t) Nồng độ thải khí CO2(mg/m3) (y) ty t2 1995 1 0.739 0.739 1 1996 2 0.748 1.496 4 1997 3 0.712 2.136 9 1998 4 0.685 2.740 16 1999 5 0.69 3.450 25 2000 6 0.72 4.320 36 2001 7 0.72 5.040 49 Tổng 28 5.014 19.921 140 Từ bảng số liệu trên ta có thể tính được a0 và a1 một cách dễ dàng như sau áp dụng theo phương pháp bình phương nhỏ nhất ồy = na0 + a1ồt ồty= a0ồt + a1ồt2 Như vậy ta sẽ có hệ phương trình sau 5,014 = 7a0 + 28a1 19,921 = 28a0 + 140a1 Ta dễ dàng tính được a0 = 0,7355 và a1 = 0,0048 Từ đó ta có phương trình hồi quy theo thời gian = 0,7355 + 0,0018t Ta có thể dự đoán nồng độ CO2 đến năm 2005 (t + h = 10) y2005 = 0,7355 + 0,0018*10 = 0,7535 3.2. Dự báo nồng độ bụi lơ lửng trong những năm tới Ta có bảng số liệu về nồng độ bụi của khu công nghiệp Mai Động như sau Năm Thứ tự thời gian (t) Nồng độ bụi lơ lửng (y) ty t2 1995 1 0.754 0.754 1 1996 2 0.760 1.520 4 1997 3 0.766 2.298 9 1998 4 0.860 3.440 16 1999 5 0.747 3.735 25 2000 6 0.770 4.620 36 2001 7 0.820 5.740 49 Tổng 28 5.477 22.107 140 Tính tương tự đối với nồng độ khí CO2 ta có được phương trình hồi quy như sau: = 0,754 + 0,0061t Và như vậy ta có thể dự đoán nồng độ bụi đến năm 2005 là y2005 = 0,754 + 0,0061*10 = 0,815 Sau khi tính được số liệu về nồng độ thải khí CO2 và nồng độ bụi lơ lủng ta có thể thấy rằng các chỉ số này đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép tấ nhiều. Điều này có thể dễ dàng nhận thấy qua các số liệu ta tạm ước tính đến năm 2005. Nó cũng cảnh báo cho chúng ta biết được diễn biến của những khí thải độc hại trong tương lai gần. Nếu chúng ta không có những biện pháp giảm thiểu ngay từ bây giờ thì đến lúc đó có muốn giải quyết hậu quả cũng khó khăn hơn nhiều lần. II. Tác động của phát triển công nghiệp đến môi trường nước 1. Tác động đến môi trường nước mặt Trong các nguồn gây ô nhiễm nước mặt thì ngoài các loại nước thải từ bệnh viện, nước thải từ sinh hoạt thì nước thải từ nguồn sản xuất và dịch vụ là nguồn gây ô nhiễm chủ yếu. Các khu công nghiệp đều sử dụng rất nhiều nước trong các quá trình sản xuất của mình và tất nhiên kèm theo đó thì khối lượng nước thải ra cũng rất lớn. Tuy nhiên các khu công nghiệp ở thành phố Hà Nội hầu hết đều chưa có những công nghệ thích hợp để xử lý nước thải vậy mà khả năng gây ô nhiễm là rất cao. Dưới đây là số liệu tổng hợp về lượng nước thải và tình hình xử lý nước thải ở Hà Nội năm 2000 TT Loại nước thải Lượng nước thải Lượng nước thải đã được xử lý m3/ngày % m3/ngày % 1 Tổng lượng nước thải 460000 100 14690 3,2 2 Nước thải sinh hoạt 190000 41,2 0 0 3 Công nghiệp và dịch vụ 263000 57,2 12900 4,9 4 Nước thải bệnh viện 7000 1,5 1790 25,5 Nguồn: Báo cáo URENCO năm 2000 Như vậy qua bảng trên ta có thể nhận xét rằng khối lượng nước được xử lý là rất nhỏ so với khối lượng nước thải ra, do đó làm cho ô nhiễm nguồn nước mặt là rất nghiêm trọng. Hiện nay ở Hà Nội có 9 khu công nghiệp tập trung và một số khu công nghiệp mới, tổng số có tất cả 369 có sở sản xuất công nghiệp nhưng trong đó chỉ có 36 cơ sở là có hệ thống xử lý nước thải. Mà các hệ thống xử lý nươc thải này cũng chưa đạt được hiệu quả xử lý cao . Do vậy mà lượng nước thải được xử lý đạt tiêu chuẩn Việt Nam chiếm một tỷ lệ rất nhỏ. Nước thải của một số ngành công nghiệp như dệt nhuộm, chế biến thực phẩm, thuộc da, hoá chất, mạ…có nồng độ các chất gây ô nhiễm cao không được xử lý mà thải trực tiếp vào hệ thống thoát nước làm cho các sông thoát nước ở Hà Nội như Tô Lịch, Kim Ngưu,…bị ô nhiễm nặng. ở sông Tô Lịch thì nước sông phần lớn là nước thải,hàm lượng BOD,CDO, các chất hữu cơ, NH3, kim loại nặng…đều rất cao vào mùa khô; còn về mùa mưa thì nồng độ các chất này cũng đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép. Tại sông Kim Ngưu thì các chỉ tiêu BOD,COD và Colifrm cũng vượt quá tiêu chuẩn cho phép gây hiện tượng lên men kỵ khí, tạo ra H2S, CH4, CO2 và hàm lượng NH4 khá cao; ngoài ra thì hàm lượng kim loại nặng như: Cr, Cu ….cũng tăng lên rất nhiều… 2. Tác động đến môi trường nước ngầm Do những diễn biến ảnh hưởng đến môi trường và do khai thác nguồn nước ngầm khá mạnh trong quá trình đô thị hoá và phát triển công nghiệp trong nhiều năm qua đã có tác động làm suy giảm chất lượng nước dưới đất Do phát triển công nghiệp và các loại hình dịch vụ khác mà theo báo cáo nghiên cứu nhiễm bẩn nguồn nước ngầm ở Hà Nội vào những năm 80 vấn đề chất lượng nước chưa đáng lo ngại thì đến những năm90 diện tích tầng chứa nước bị nhiễm bẩn ngà càng loang rộng ra cả ỏ tầng trên lẫn tầng dưới và trở thành một vấn đề nóng bang, nhức nhối. Mặt khác, các kết quả phân tích định kỳ các khu công gnhiệp cho thấy các mẫu nước có hàm lượng chất hữu cơ trong nước thô của khu công nghiệp Pháp Vân, Mai Động…rất cao từ 4-6mg/l. Điều này cho phép ta nhận định rằng hàm lượng NH4 trong nước ngầm có thể được tạo ra từ các nguồn ô nhiễm hữu cơ Thành phần hoá học trong nước của tầng trên và tầng dưới nhìn chung tuơng tự nhau. Nước ngầm bị ô nhiễm do sự thẩm thấu từ các nguồn nươc mặt đã bị nhiễm bẩn như: nước thải sinh hoạt, công nghiệp bệnh viện không được xử lý Do việc xây dựng các bải chứa các loại chất thẩi công nghiệp và các loại rác không đạt tiêu chuẩn, như vậy đã vô tình làm phá vỡ màng bảo vệ tụ nhiên, tức là làm tăng khả năng gây nhiểm bẩn cho nước dưới đất Do việc triển khai xây dựng các khu công nghiệp, các xí nghiệp công nghiệp mới mà đã làm vỡ đường ống nước làm cho nước bẩn xâm nhập vào hệ thống nươc của thành phố III. Đề xuất một số biện pháp phát triển công nghiệp gắn với công tác bảo vệ môi trường ở thành phố Hà Nội 1. Lựa chọn công nghệ thích hợp vừa đảm bảo tốc độ tăng trưởng và phát triển công nghiệp hợp lý vừa đảm bảo các chỉ tiêu bảo vệ môi trường. Chính sách công nghệ trong những năm tới cần tập trung giải quyết những vấn đề cơ bản sau: ưu tiên các dự án có công nghệ sạch, công nghệ ít chất thải, sử dụng tiết kiệm nguyên liệu và năng lượng Các dự án quan trọng, quy mô lớn và có phạm vi ảnh hưởng rộng lớn, lâu dài, nhất thiết phải đầu tư công nghệ sạch Đối với các doanh nghiệp mới xây dựng, đòi hỏi phải đầu tư công nghệ ít nhất là đảm bảo những yêu cầu tối thiểu về bảo vệ môi trường. Các doanh nghiệp đang hoạt động với công nghệ hiện tại, nếu không đảm bảo các chỉ tiêu về môi trường, cần phải cải tiến, đầu tư lắp đặt thêm những thiết bị lọc và xử lý chất thải. Đối với những loại tài nguyên chiến lược, cần có quy định về tiêu chuẩn tối thiểu mức sử dụng nguyên liệu đối với công nghệ nhập. Có quy chế kiểm soát chặt chẽ về trình độ kỹ thuật, giá cả và khả năng bảo đảm chất lượng môi trường, nhằm tránh nhập phải công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm hoặc giá quá cao. Một vấn đề khác có ý nghĩa rất quan trọng trong chính sách chuyển giao công nghệ cho phát triển công nghiệp là đánh giá về ảnh hưởng của công nghệ đến môi trường và chi phí đầu tư ứng dụng công nghệ đó, để lựa chọn những phương án chuyển giao công nghệ có hiệu quả cả về mặt kinh tế và xã hội. 2. hàng năm thành phố Hà Nội nên đóng góp một khoản tiền để thực hiện các chương trình bảo vệ môi trường và cải thiện môi trường tại các khu công nghiệp theo tỷ lệ phần trăm của tốc độ tăng GDP hàng năm 3. Thực hiện chương trình phòng ngừa ô nhiễm công nghiệp, tiến hành trích tiền từ bao gồm các nội dung sau: + Tại các khu công nghiệp có nồng độ các khí thải và các chất thải lớn nên trích một khoản tiền hàng năm để tiến hành xử lý, nhamừ hạn chế ảnh hưởng đến môi trường + Đưa quy họạch môi trường vào quy hoạch phát triển khu công nghiệp + áp dụng các giải pháp phòng ngừa ô nhiễm có hiệu quả + Hoàn thiện chu trình kiểm soát ô nhiễm và cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường + Kiểm kê phân loại các cơ sở công nghiệp theo mức độ gây ô nhiễm môi trường. + Xây dựng và áp dụng các giải pháp quản lý môi trường đặc thù ( cưỡng chế, công cụ kinh tế, áp lực từ cộng đồng…) 4 Hỗ trợ và khuyến khích các doanh nghiệp bảo vệ môi trường bao gồm các nội dung: + áp dụng hệ thống EMS theo ISO 14001 + Đầu tư xây dựng hệ thống quan trắc môi trường doanh nghiệp + đầu tư giảm thiẻu ô nhiễm và xử lý nước thải 5 Tiếp tục đầu tư hoàn thiện khu liên hiệp xử lý chất thải rắn Nam Sơn – Sóc Sơn trong đó ưu tiên đẩy nhanh việc đầu tư khu vực xử lý chất thải công nghiệp nguy hại và các bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt kết hợp chế biến phân vi sinh tại các huyện ngoại thành Hà Nội. 6. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức và hướng dẫn hành động bảo vệ môi trường trong cộng đồng thành phố 7. Hình thành cơ sở dữ liệu môi trường thành phố trên cơ sở ứng dụng các thành quả của công nghệ thông tin để từng bước ứng dụng công nghệ vệ tinh và hệ thống thông tin địa lý(GIS) trong điều tra, giám sát và quản lý môi trường, đồng thời sớm áp dụng chương trình xã hội hoá thông tin, dữ liệu môi trường. 8. Tăng cường vai trò và hoàn thiện các công cụ quản lý của Nhà nước nhằm hạn chế tác động tiêu cực của phát triển công nghiệp đến môi trường. - Xây dựng, ban hành và chỉ đạo thực hiện những đạo luật, chính sách và quy chế bảo vệ tài nguyên và môi trường - Thiết lập hệ thống khiểm soát chỉ huy trong quản lý môi trường - Thực hiện hình thức thoả ước tự nguyện đối với các doanh nghiệp công nghiệp về vấn đề bảo vệ môi trường - Tập hợp và phối hợp tốt giữa các cán bộ quản lý Nhà nước về môi trường, các nhà nghiên cứu khoa học và các nhà quản lý doanh nghiệp trong việc nghiên cứu đề xuất những giải pháp bảo vệ môi trường, động viên toàn dân tham gia tích cực. Kết luận Qua các phân tích ở trên ta đã thấy được phần nào những tác động tiêu cực của việc phát triển công nghiệp đến môi trường thành phố Hà Nội. Rõ ràng đây đang là một vấn đề cấp thiết đối với thành phố Hà Nội hiện nay. Đây chỉ là những đánh giá bước đầu các tác động của phát triển công nghiệp đến môi trường thành phố Hà Nội nhưng có thể là cơ sở quan trọng để các nhà quản lý có thể biết được những diễn biến môi trường trong những năm qua. Từ đó có kế hoạch thích hợp cho thời gian phát triển tiếp theo của thành phố. Bước vào thế kỷ 21, Hà Nội vẫn tiếp tục trên con đường đổi mới với những chính sách nhằm đẩy nhanh công nghiệp hoá - hiện đại hoá trên cơ sở phát huy cao nhất mọi lợi thế, mọi tiềm năng của mình để phát triển. Trong đó cần phải nhấn mạnh đến nhiệm vụ bảo vệ môi trường, việc thực hiện các chương trình về nước sạch, xử lý nước, rác thải, các công trình công cộng khác để có thể cải thiện chất lượng môi trường và nâng cao chất lượng sống của người dân. Phấn đấu xây dựng thủ đô Hà Nội trở thành một thành phố Môi trường trong những năm tới để kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội Hà Nội ngày 30 – 4 -2003 Sinh viên Nguyễn Anh Đức. Phụ lục 1 Tiêu chuẩn chất lượng không khí xung quanh(TCVN 5937 – 1995) Bảng1 : Giá trị tới hạn các thông số cơ bản trong không khí xung quanh TT Thông số Trung bình 1 giờ Trung bình 8 giờ Trung bình 24 giờ 1 2 3 4 5 6 CO NO2 SO2 Pb O3 Bụi lơ lửng 40 0,4 0,5 - 0,2 0,3 10 - - - - - 5 0,1 0,3 0,005 0,06 0,2 Chú thích: Phương pháp lấy mẫu, phân tích, tính toán các thông số cụ thể được quy định trong các TCVN tương ứng. Phụ lục 2 Tiêu chuẩn khí thải công nghiệp đối với và các chất vô cơ (TCVN 5939 – 1995) Bảng 2 : Giới hạn tối đa cho phép của bụi và các chất vô cơ trong khí thải công nghiệp TT Thông số Giá trị giới hạn A B 1 Bụi khói: Nấu kim loại Bê tông nhựa Xi măng Các nguồn khác 400 500 400 600 200 200 100 400 2 Bụi: chứa sillic chứa amiăng 100 không 50 không 3 Antimon 40 25 4 Asen 30 10 5 Cadimi 20 1 6 Chì 30 10 7 đồng 150 20 8 Kẽm 150 30 9 Clo 250 20 10 Hcl 500 200 11 Flo, axit HF(các nguồn) 100 10 12 H2S 60 2 13 CO 1500 500 14 SO2 1500 500 15 Nox(các nguồn) 2500 1000 16 Nox (cơ sở sản xuất axit) 4000 1000 17 H2SO4(các nguồn) 300 35 18 HNO3 2000 70 19 NH3 300 100 Phụ lục 3 Tiêu chuẩn khí thải công nghiệp đối với các chất hữu cơ (TCVN 5940 – 1995) Bảng 3 : giới hạn tối đa cho phép các chất hữu cơ vào không khí TT Tên Công thức hoá học Giới hạn tối đa 1 Axeton CH3COCH3 2400 2 Axetylen tetrabromua CHBr2CHBR2 14 3 Axetaldehyd CH3CHO 270 4 Acrolein CH2=CHCHO 1,2 5 Amylaxetat CH3COOC5H11 525 6 Anilin C6H5NH2 19 7 Anhydrit axetic (CH3CO)2O 360 8 Benzidin NH2C6H4C6H4NH2 Không 9 Benzen C6H6 80 10 Benzyl clorua C6H5CH2CL 5 11 Butadiene C4H6 2200 12 Butan C4H10 2350 13 Butyl axetat CH3COOC4H9 950 14 n – butanol C4H9OH 300 15 Butylamin CH3(CH2)2CH2NH2 15 16 Creson CH3C6H4OH 22 17 Clorbenxen C6H5CL 350 18 Clorofom CHCL3 240 19 b - clopren CH2=CCLCH=CH2 90 20 Clopicrin CCL3NO2 0,7 21 Cyclohexan C6H12 1300 22 Cyclohexanol C6H11OH 410 23 Cyclohexanon C6H10O 400 24 Cyclohexen C6H10 1350 25 Dietylamin (C2H5)2NH 75 Phụ lục 4 Tiêu chuẩn chất lượng nước mặt (TCVN 5942 – 1995) Bảng 4 : Giá trị giới hạn cho phép của các thông số và nồng độ các chất ô nhiễm trong nước mặt TT Thông số Đơn vị Giá trị giới hạn A B 1 PH - 6 - 8,5 5,5 – 9 2 BOD5(20°C) Mg/l < 4 <25 3 COD Mg/l <10 <35 4 Oxy hoà tan Mg/l >=6 >=2 5 Chất rắn lơ lửng Mg/l 20 80 6 Asen Mg/l 0,05 0,1 7 Bari Mg/l 1 4 8 Cadimi Mg/l 0,01 0,02 9 Chì Mg/l 0,05 0,1 10 Crom(VI) Mg/l 0,05 0,05 11 Crom(III) Mg/l 0,1 1 12 Đồng Mg/l 0,1 1 13 Kẽm Mg/l 1 2 14 Mangan Mg/l 0,1 0,8 15 Niken Mg/l 0,1 1 16 Sắt Mg/l 1 2 17 Thuỷ ngân Mg/l 0,001 0,002 18 Thiếc Mg/l 1 2 19 Amoniac Mg/l 0,05 1 20 Florua Mg/l 1 1,5 21 Nitrat Mg/l 10 15 22 Nitrit Mg/l 0,01 0,05 23 Xianua Mg/l 0,01 0,05 24 Phenola Mg/l 0,001 0,02 25 Dầu, mỡ Mg/l Không 0,3 26 Chất tẩy rửa Mg/l 0,5 0,5 27 Coliorm MPN/100ml 5000 10000 28 Tổng hoá chất bảo vệ thực vật (trừ DDT) Mg/l 0,15 0,15 29 DDT Mg/l 0,01 0,01 30 Tổng hoạt động phóng xạ a Bq/l 0,1 0,1 31 Tổng hoạt động phóng xạ b Bq/l 1,0 1,0 Phụ lục 5 Tiêu chuẩn chất lượng nước ngầm (TCVN 5944 – 1995) Bảng 5 : giá trị giới hạn cho phép của các thông số và nồng độ các chất ô nhiễm trong nước ngầm TT Thông số Đơn vị Giá trị giới hạn 1 PH 6,5-8,5 2 Màu Pt – Co 5-50 3 Độ cứng(tính theo CaCO3) Mg/l 300-500 4 Chất rắn tổng số Mg/l 750-1500 5 Asen Mg/l 0,05 6 Cadimi Mg/l 0,01 7 Clorua Mg/l 200-600 8 Chì Mg/l 0,05 9 Crom(VI) Mg/l 0,05 10 Xianua Mg/l 0,01 11 Đồng Mg/l 1,0 12 Florua Mg/l 1,0 13 Kẽm Mg/l 5,0 14 Mangan Mg/l 0,1-0,5 15 Nitrat Mg/l 45 16 Phenola Mg/l 0,001 17 Sắt Mg/l 1-5 18 Sunfat Mg/l 200-400 19 Thuỷ ngân Mg/l 1,001 20 Selen Mg/l 0,01 21 Fecali coli MPN/100ml Không 22 Coliform MPN/100ml 3 Phụ lục 6 Nước thải công nghiệp , tiêu chuẩn thải(TCVN 5945 – 1995) Bảng 6 : Nước thải công nghiệp Giá trị giới hạn các thông số và nồng độ chất ô nhiễm TT Thông số Đơn vị Giá trị giới hạn A B C 1 Nhiệt độ °C 40 40 45 2 pH 6-9 5,5-9 5-9 3 BOD5(20°C) Mg/l 20 50 100 4 COD Mg/l 50 100 400 5 Chất rắn lơ lửng Mg/l 50 100 200 6 Asen Mg/l 0,05 0,1 0,5 7 Cadimi Mg/l 0,01 0,02 0,5 8 Chì Mg/l 0,1 0,5 1 9 Clo dư Mg/l 1 2 2 10 Crom(VI) Mg/l 0,05 0,1 0,5 11 Crom(III) Mg/l 0,2 1 2 12 Dầu mỡ khoáng Mg/l KPHĐ 1 5 13 Dầu động thực vật Mg/l 5 10 30 14 Đồng Mg/l 0,2 1 5 15 Kẽm Mg/l 1 2 5 16 Mangan Mg/l 0,2 1 5 17 Niken Mg/l 0,2 1 2 18 Photpho hữu cơ Mg/l 0,2 0,5 1 19 Photpho tổng số Mg/l 4 6 8 20 Sắt Mg/l 1 5 10 21 Tetracloetylen Mg/l 0,02 0,1 0,1 22 Thiếc Mg/l 0,2 1 5 23 Thuỷ ngân Mg/l 0,005 0,005 0,01 24 Tổng nitơ Mg/l 30 60 60 25 Tricloetylen Mg/l 0,05 0,3 0,3 26 Amoniac Mg/l 0,1 1 10 27 Florua Mg/l 1 2 5 28 Phenola Mg/l 0,001 0,05 1 29 Sunfua Mg/l 0,2 0,5 1 30 Xianua Mg/l 0,05 0,1 0,2 31 Coliform MPN/100ml 5000 10000 - 32 Tổng hoạt động phóng xạ a Bq/l 0,1 0,1 - 33 Tổng hoạt động phóng xạ b Bq/l 1,0 1,0 - Chú thích: KPHĐ - không phát hiện được Phụ lục 7 Số liệu về GDP/người của Hà Nội Năm GDP (tỷ đồng) Số dân (nghìn người) GDP/người (tr.đ/người) 1995 14499.4 2431.0 5.964 1996 17292.3 2503.9 6.906 1997 20306.3 2579.1 7.873 1998 24082.6 2621.5 9.178 1999 27038.8 2685.5 10.070 2000 29569.8 2736.4 10.806 2001 32792.9 2841.7 11.539 Nguồn: Thống kê kinh tế xã hội 2002 Tài liệu tham khảo Báo cáo hiện trạng thành phố Hà Nội năm 2001, 2002 – UBND thành phố Hà Nội – Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường. Báo cáo tổng thể tình trạng ô nhiễm công nghiệp, đề xuất các biện pháp cải thiện, kiểm soát và khống chế ô nhiễm trong quá trình phát triển công nghiệp ở Hà Nội – UBND Thành phố Hà Nội – Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường Hà Nội – Tháng 12/2000TS. GVC Lê Trọng Hoa - Giáo trình Quản lý Môi trường – Bộ môn Kinh tế và Quản lý Môi trường GS. TS Đặng Như Toàn; PGS. TS Nguyễn Thế Chinh; GVC lê trọng hoa- Bài giảng Kinh tế Môi trường – Bộ môn Kinh tế và Quản lý Môi trường - Đại học Kinh tế Quốc dân – hà Nội - 1998 GS. TS Nguyễn Đình Phan - Giáo trình Kinh tế và Quản lý Công nghiệp – Khoa Quản trị kinh doanh công nghiệp và xây dựng cơ bản - Đại học kinh tế quốc dân- Nhà xuất bản giáo dục – 1999 TS. Phan Công nghĩa - Giáo trình Lý thuyết Thống kê – Bộ môn Thống kê Kinh tế - Đại học Kinh Tế Quốc Dân- Nhà xuất bản thống kê - Hà Nội - 2000 Trần Ngọc Tuấn - ô nhiễm không khí và xử lý khí thải – Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật – Hà Nội - 2000 Thống kê kinh tế xã hội Việt Nam 2002 Thống kê 61 tỉnh thành Việt Nam 2002 Trước khi trời đầy mây – Hãy giữ không khí trong lành – Chương trình hợp tác Mỹ á - Hà Nội 2000 Tạp chí Chiến lược Chính sách Công nghiệp 2002, 2003 12 Tạp chí Bảo vệ Môi trường năm 2001, 2002, 2003 Mục lục Lời mở đầu 01 Lời cam đoan 03 ChươngI: Cơ sở khoa học của việc đánh giá ảnh hưởng của công nghiệp tới môi trường. 04 I. Vị trí và vai trò của ngành công nghiệp trong cơ cấu phát triển kinh tế của một địa phương. 04 1. Vị trí của ngành công nghiệp. 04 2. Vai trò của công nghiệp. 05 II. Quan hệ giữa phát triển công nghiệp và môi trường tự nhiên. 07 1. Môi trường tự nhiên và vai trò của nó đối với phát triển. 07 2. Phát triển sản xuất công nghiệp và tác động của nó đến môi trường tự nhiên. 09 2.1. Hoạt động sản xuất công nghiệp và vấn đề sử dụng tài nguyên 09 2.2. Quá trình phát triển công nghiệp và ảnh hưởng của nó đến môi trường tự nhiên. 11 2.3. Những tác động chủ yếu của công nghiệp hiện nay đến môi trường 12 2.4. Một số nguyên nhân cơ bản trong phát triển công nghiệp dẫn đến ô nhiễm môi trường. 15 2.4.1. Do quy trình công nghệ. 15 2.4.2. Do công tác quản lý. 16 III. Thiết lập mô hình thể hiện mối quan hệ giữa GDP của Hà Nội và nồng độ các khí thải do công nghiệp gây ra 17 1. Mối quan hệ giữa tốc độ phát triển GDP và nồng độ phát thải các khí trong không khí. 17 2. Mô hình thể hiện mối quan hệ giữa GDP của Hà Nội và nồng độ các khí thải do công nghiệp gây ra. 18 3. Dự báo dựa vào mô hình hồi quy 20 Chương II: ảnh hưởng của phát triển công nghiệp đến môi trường thành phố Hà Nội 21 I. Giới thiệu chung về thành phố Hà Nội 21 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: 21 1.1 Vị trí địa lý và khí hậu. 21 1.2 Đặc điểm địa hình-thuỷ văn. 22 2. Vị trí chính trị . 22 2.1. Dân số và lao động. 22 2.2. Tổ chức hành chính. 23 2.3. Tình hình phát triển kinh tế xã hội. 24 3. Hiện trạng phát triển đô thị và công nghiệp ở thành phố Hà Nội. 25 3.1. Phát triển không gian đô thị và xây dựng nhà ở 25 3.2. Hệ thống giao thông đô thị. 26 3.3. Hệ thống thoát nước. 26 3.4. Quản lý chất thải rắn. 27 3.5. Phát triển công nghiệp ở Hà Nội. 28 3.6. Hiện trạng phân bố các khu công nghiệp ở Hà Nội 35 II. Hiện trạng môi trường không khí. 35 1. Chất lượng môi trường không khí. 35 1.1. Nguồn thải. 35 1.2.Chất lượng không khí tại các khu, cụm công nghiệp ở Hà Nội 36 1.2.1. Bụi 37 1.2.2. SO2 39 1.2.3. NOx. 41 1.2.4. CO. 42 2. Ô nhiễm tiếng ồn. 43 II. Hiện trạng môi trường nước. 45 1.Hiện trạng môi trưòng nước các sông lớn. 45 2. Hiện trạng môi trường nước trong các sông , mương thoát nước của Hà Nội. 47 2.1. Các nguồn nước thải và chất lượng nước mặt Hà Nội. 47 2.2. Tình trạng ô nhiễm nước mặt ở Hà Nội. 48 3. Tình trạng khai thác nước ngầm và chất lượng nước ngầm 53 III.. Hiện trạng chất thải rắn ở Hà Nội. 55 Các nguồn thải chủ yếu. 55 . Nguồn rác thải công nghiệp 56 1.2. Nguồn rác thải bệnh viện 56 1.3. Nguồn rác thải sinh hoạt. 57 1.4. Nguồn thải nông nghiệp. 57 2. Hiện trạng và đặc điểm chất thải rắn ở thành phố Hà Nội. 57 2.1. Hiện trạng và đặc điểm chất thải rắn. 57 2.2. Chất thải độc hại. 59 IV. Hiện trạng quản lý về công tác bảo vệ môi trường ở thành phố Hà Nội. 59 1.Tổ chức quản lý môi trường ở Hà Nội. 59 2. Tình hình tổ chức thực hiện giám sát, kiểm tra thi hành luật bảo vệ môi trường ở thành phố Hà Nội. 60 2.1. Xây dựng các văn bản pháp quy để cụ thể háo Luật Bảo vệ môi trường ở Hà Nội. 60 2.2. Hoạt động giám sát kiểm tra việc thực thi Luật bảo vệ môi trường Hà Nội và quan trắc môi trường. 62 2.3. Hoạt động thẩm định ĐTM, cấp phép, cấp thoả thuận môi trường 64 2.4. Hoạt động phối hợp giữa Sở KHCN&MT Hà Nội với các cấp chính quyền và các Sở, ban, ngành liên quan cũng như các cơ quan Trung ương. 64 Chương III: Đánh giá tác động tới môi trường do phát triển công nghiệp ở Hà Nội 66 I. Tác động đến môi trường không khí 66 1. Đánh giá nồng độ phát thải khí của các khu công nghiệp 66 2. Mối quan hệ giữa sự tăng trưởng GDP và một số khí thải độc hại do phát triển công nghiệp gây ra 72 2.1. Mối liên hệ giữa tốc độ tăng GDP của Hà Nội và nồng độ phát thải khí CO2 73 2.2. Mối liên hệ giữa tốc độ tăng GDP và nồng độ bụi lơ lửng 76 3. Dự báo nồng độ bụi lơ lửng(TSP) và nồng độ CO2 trong những năm tới 3.1. Dự báo nồng độ bụi lơ lửng trong những năm tới 78 3.2. Dự báo nồng độ CO2 trong những năm tới 78 II. Tác động của phát triển công nghiệp đến môi trường nước 80 1. Tác động đến môi trường nước mặt 80 2. Tác động đên môi trường nước ngầm 82 III. Đề xuất môt số biện pháp phát triển công nghiệp gắn với công tác bảo vệ môi trường ở thành phố Hà Nội 83 Kết luận. 86 Phụ lục 87 Tài liệu tham khảo 95 ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc29741.doc
Tài liệu liên quan