Chất lượng sản phẩm với việc nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty Bánh kẹo Hải Hà

Mở đầu 1. ý nghĩa và tính cấp thiết của đề tài. Xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới ngày càng trở nên không thể đảo ngược được. Đó là một trong những thách thức, sức ép lớn nhất đối với các doanh nghiệp, các quốc gia trong kinh doanh và xây dựng các chương trình kinh tế. Các doanh nghiệp và các quốc gia ngày càng nhận thức sâu sắc rằng để đứng vững và phát triển được trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt này, họ không còn cách lựa chọn nào khác là phải kinh doanh hướng vào chất lư

doc88 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1292 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Chất lượng sản phẩm với việc nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty Bánh kẹo Hải Hà, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ợng, coi chất lượng là một trong những mục tiêu hàng đầu. Chất lượng đã trở thành yếu tố chính, yếu tố quyết định trong chiến lược kinh doanh trong bất kể môi trường kinh doanh nào. Vai trò của chất lượng trong cạnh tranh toàn cầu Sau đại chiến thế giới thứ hai, các công ty và các quốc gia trên thế giới ngày càng quan tâm nhiều hơn đến vấn đề chất lượng. Từ giữa thập kỷ 70, các công ty của Nhật đã trở thành những người tiên phong trong lĩnh vực chất lượng. Sản phẩm của các công ty hàng đầu Nhật đã được khách hàng ở mọi nơi trên thế giới tiếp nhận vì có chất lượng cao và giá bán hạ. Sau những thành công tuyệt vời của Nhật, các quốc gia trên thế giới đã không còn có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải chấp nhận cuộc cạnh tranh bằng con đường chất lượng. Muốn tồn tại và phát triển, bên cạnh họ giải quyết nhiều yếu tố khác, chất lượng trở thành yếu tố then chốt và quyết định. Xu thế toàn cầu hoá và các trào lưu của làn sóng kinh tế tri thức trong những năm gần đây đã tạo ra những thách thức mới trong kinh doanh, khiến các doanh nghiệp ngày càng coi trọng vấn đề chất lượng. Để thu hút khách hàng, các công ty đã đưa chất lượng vào nội dung hoạt động quản lý của mình. Ngày nay khách hàng ngày càng đòi hỏi cao về chất lượng sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ. Hầu hết khách hàng đều mong đợi người cung ứng cung cấp cho họ những sản phẩm đáp ứng nhu cầu mong muốn ngày càng cao hơn của họ. Bên cạnh đó với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đặc biệt là sự bùng nổ của công nghệ tin học, các công ty và các quốc gia ngày càng có các điều kiện thuận lợi hơn để thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Điều đó làm cho mức độ cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn. Muốn phát triển trong môi trường cạnh tranh này, các công ty buộc phải không ngừng cải tiến, hoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, đồng thời phải không ngừng nghiên cứu, thiết kế sản phẩm mới, tạo ra những đặc trưng khác biệt của sản phẩm hàng hoá và dịch vụ để thoả mãn tốt nhất nhu cầu khách hàng, nhằm duy trì và mở rộng thị trường. Nếu trước đây các quốc gia còn dựa vào các hàng rào thuế quan, hàng rào kỹ thuật để bảo vệ nền sản xuất trong nước, thì trong bối cảnh quốc tế hoá mạnh mẽ hiện nay, với sự ra đời của tổ chức thương mại thế giới (WTO) và thảo ước về hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT), các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ ngày càng tự do vượt ra khỏi biên giới quốc gia. Sự phát triển mang tính toàn cầu đã tao điều kiện để hình thành nên thị trường tự do khu vực và quốc tế. Trong bối cảnh như vậy các công ty và các nhà quản lý trở nên năng động hơn, thông minh hơn dẫn đến sự bão hoà của nhiều thị trường chủ yếu tạo ra sự suy thoái kinh tế phổ biến trong khi các đòi hỏi về chất lượng ngày càng trở nên cao hơn. Các đặc điểm trên đã làm cho chất lượng trở thành yếu tố cạnh tranh hàng đầu. Các công ty đã chuyển vốn đầu tư vào các khu vực có khả năng thoả mãn khách hàng và đem lại lợi nhuận cao hơn. Sản phẩm có thể được thiết kế và sản xuất tại một nước và được bán ở mọi nơi trên thế giới. Các nhà sản xuất, phân phối và khách hàng ngày nay có quyền lựa chọn sản phẩm có chất lượng cao giá cả phù hợp, phương thức giao nhận hàng thuận tiện ở bất kỳ nơi nào trên thế giới. Cuộc đua tranh đối với công ty thực sự mang tính toàn cầu.Thực tế đã chứng minh rằng những công ty thành công trên thương trường là những công ty đă nhận thức và giải quyết tốt bài toán chất lượng. Họ đã thoả mãn tốt nhu cầu khách hàng trong và ngoài nước. Cuộc cạnh tranh toàn cầu đã và sẽ trở nên mạnh mẽ hơn với quy mô và phạm vi ngày càng rộng lớn. Sự phát triển của khoa học, công nghệ ngày nay đã tạo ra cơ hội cho các nhà sản xuất, kinh doanh nhạy bén có khả năng tận dụng lợi thế riêng của mình, cung cấp những sản phẩm hàng hoá và dịch vụ có chất lưọng cao, thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng và tạo lợi thế cạnh tranh. Có thể nói rằng, xu thế phát triển mới đã làm nảy sinh xu hướng và tốc độ cạnh tranh mới. Cuộc đua tranh hiện nay đang và sẽ còn sôi nổi hơn bao giờ hết trên thương trường phần thắng sẽ thuộc về công ty, những quốc gia có chiến lược kinh doanh đúng đắn trong đó có chiến lược chất lượng. Cũng như các nước khác Việt Nam cũng không thế nằm ngoài vòng xoắy của tiến trình hội nhập. Thời gian qua chúng ta đã thực sự tham gia vào tiến trình hội nhập của nền kinh tế thế giới và chúng ta đã gặp không ít những khó khăn, thách thức khi tham dự tiến trình này. Một trong những thách thức lớn nhất đối với các doanh nghiệp hiện nay là năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam còn thấp hơn rất nhiều so với các nước khác trong khu vực và trên thế giới. Mặc dù vậy các doanh nghiệp Việt Nam đã bất đầu chú trọng đến chất lượng, đến năng suất song nhìn tổng thể thì chất lượng và năng lực cạnh tranh của các sản phẩm hàng hoá sản xuất tại các công ty Việt Nam vẫn còn yếu kém. Để các doanh nghiệp Việt nam thực sự có sức cạnh tranh trong môi trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay, cần phải tiến hành một bước đổi mới triệt để cả về quan điểm nhận thức lẫn phương cách điều hành quản lý. Các doanh nghiệp Việt Nam phải từng bước chuyển dần từ mô hình quản lý cũ sang mô hình quản lý mới mà ở đó có sự phát triển cao về nguồn nhân lực, có môi trường để thúc đẩy khả năng sáng tạo trong lao động, có điều kiện để áp dụng các công nghệ tiên tiến mà trước hết, cơ sở nền tảng của nó phải dựa trên triết lý và chiến lược kinh doanh đúng đắn là: Mọi nỗ lực tập trung vào việc không ngừng cải tiến và nâng cao chất lượng để tạo lợi thế cạnh tranh và sự bền vững trong tương lai. Xuất phát từ thực tế đó, trong thời gian thực tập ở Công ty bánh kẹo Hải Hà tôi đã lựa chọn đề tài: “Chất lượng sản phẩm với việc nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty Bánh kẹo Hải Hà” 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài Đề tài này dựa trên cơ sở lý luận chung về chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh và căn cứ vào tình hình thực tế ở Công ty Bánh kẹo Hải Hà đánh giá một cách xác thực tình hình sản xuất kinh doanh nói chung và tình hình chất lượng sản phẩm nói riêng ở Công ty. Từ đó xác định các ưu nhược điểm về vấn đề chất lượng, tìm ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường của Công ty. 3. Phạm vi nghiên cứu. Công ty Bánh kẹo Hải Hà là một doanh nghiệp Nhà nước thuộc Bộ Công nghiệp quản lý có tên giao dịch là haihaco, chuyên sản xuất kinh doanh các mặt hàng bánh kẹo,chế biến thực phẩm. Hiện nay Công ty có ba trụ sở đặt ở Hà Nội, Nam Định, Việt Trì. Phạm vi nghiên cứu của đề tài này chỉ tập trung vào nghiên cứu phân tích và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm ở Công ty Bánh kẹo Hải Hà có trụ sở đặt tại số 25 đường Trương Định-Quận Hai Bà Trưng- Hà Nội. 4. Phương pháp nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận khoa học kinh tế, trong quá trình phân tích đánh giá và đưa ra các giải pháp chủ yếu có sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp lôgic, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh... 5. Kết cấu của Luận văn. Ngoài lời nói đầu, kết luận , danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm ba chương chính: - Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh - Chương 2: Thực trạng chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh của Công ty Bánh kẹo Hải Hà . - Chương 3: Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng khả năng cạnh tranh của Công ty Bánh kẹo Hải Hà . Chương I Những vấn đề lý luận chung về chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh I. Các khái niệm chất lượng sản phẩm. 1. Các quan niệm về chất lượng sản phẩm. Chất lượng sản phẩm là một phạm trù phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Có nhiều định nghĩa, khái niệm về chất lượng sản phẩm bởi lẽ vấn đề này được hầu hết các tổ chức và các quốc gia trên thế giới quan tâm nghiên cứu nhưng chúng ta có thể xem xét nghiên cứu một số quan niệm sau. Theo quan điểm của triết học, chất lượng là một phần tồn tại cơ bản bên trong của các sự vật và hiện tượng. Theo Mác thì chất lượng sản phẩm là mức độ, là thước đo biểu thị giá trị sử dụng của nó. Giá trị sử dụng của một sản phẩm làm nên tính hữu ích của sản phẩm đó chính là chất lượng sản phẩm. Theo quan điểm của hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây mà Liên Xô là đại diện thì “ Chất lượng sản phẩm là tổng hợp những đặc điểm kinh tế kỹ thuật nội tại, phản ánh giá trị sử dụng và chức năng của sản phẩm đó đáp ứng những nhu cầu định trước cho nó trong những điều kiện về kinh tế kỹ thuật”. Đứng trên góc độ xem xét sản phẩm ta quan niệm chất lượng sản phẩm là toàn bộ các thuộc tính phản ánh chức năng, công dụng, tác dụng của sản phẩm. Những đặc tính này có thể đo lường một cách chính xác và số lượng các thuộc tính càng nhiều thì chất lượng sản phẩm càng cao. Với các quan niệm trên, chất lượng sản phẩm được nhìn tách rời khỏi thị trường, khỏi nhu cầu. Chất lượng được coi là một chỉ tiêu tĩnh dẫn đến sản phẩm sản xuất ra chưa chắc đã bán được. Hơn nữa các nhà sản xuất quá quan tâm đến những chỉ tiêu, thuộc tính của sản phẩm mà không xem xét chúng trong mối quan hệ với nhu cầu thị trường luôn thay đổi sẽ dẫn đến nguy cơ làm cho chất lượng sản phẩm bị tụt hậu so với nhu cầu. Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu thị trường được coi là xuất phát điểm của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh thì những quan niệm trên sẽ không còn phù hợp nữa. Quan niệm về sản phẩm phải gắn liền với nhu cầu của người tiêu dùng, với chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp. Philip Crosby, nhà làm công tác chất lượng hàng đầu của thế giơí, người Mỹ cho rằng: “ Chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu hay đặc tính nhất định”. Định nghĩa này rất có ý nghĩa trong sản xuất hàng loạt lớn và sử dụng lắp lẫn các chi tiết. Giá trị của định nghĩa này là ở chỗ nó cho phép đo được chất lượng. Khi đã đo được thì có thể đánh giá được hoạt động chất lượng. Còn theo Feigen Baun thì “ Chất lượng của sản phẩm là tập hợp các đặc tính kỹ thuật, công nghệ và vận hành của sản phẩm, nhờ chúng mà sản phẩm đáp ứng được các nhu cầu của người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm”. Joseph Juran, nhà chất lượng người Mỹ, đã nhận thấy rằng các yêu cầu về quy phạm có thể là những thứ mà ban quản lý và các nhà thiết kế cho là phù hợp nhưng lại không phải là cái mà khách hàng cần. Do đó, theo ông “ Chất lượng là sự phù hợp với mục đích”. Định nghĩa này của Juran thừa nhận rằng một sản phẩm hay một dịch vụ được tạo ra với ý đồ là để thoả mãn một nhu cầu nào đó của khách hàng. Phần lớn các chuyên gia về chất lượng trong nền kinh tế thị trường coi chất lượng sản phẩm là sự phù hợp với các nhu cầu hay mục đích sử dụng của người tiêu dùng. Các đặc điểm kinh tế kỹ thuật phản ánh chất lượng sản phẩm khi chúng thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Chất lượng được nhìn từ bên ngoài, Chất lượng là do khách hàng xác định chứ không phải do người sản xuất. Chỉ có những đặc tính đáp ứng được nhu cầu khách hàng mới là chất lượng sản phẩm. Theo ISO8402-1994 thì “ Chất lượng là tổng thể các chỉ tiêu, những đặc trưng của sản phẩm thể hiện được sự thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng của sản phẩm mà người tiêu dùng mong muốn”. Theo TCVN 5814-1994 thì: “Chất lượng sản phẩm của một sản phẩm nào đó là tổng hợp tất cả các tính chất biểu thị giá trị sử dụng phù hợp với nhu cầu của xã hội nhất định, đảm bảo các yêu cầu của người sử dụng nhưng cũng đảm bảo các tiêu chuẩn thiết kế và khả năng sản xuất của từng nước”.\ Theo ISO 9000: 2000. “Chất lượng là mức độ của tập hợp các đặc tính vốn có phù hợp với yêu cầu”. Theo định nghĩa này thì chúng ta cần hiểu: Đặc tính là đặc trưng để phân biệt và một đặc tính có thể là vốn có hoặc có thể gắn thêm vào, có thể định tính hoặc định lượng. Yêu cầu là nhu cầu hay mong đợi đã được công bố được ngầm hiểu chung hoặc bắt buộc. Sự thoả mãn của khách hàng là sự đảm nhận của khách hàng về mức độ đáp ứng yêu cầu. Các quan niệm trên là khác nhau nhưng tựu chung lại ta thấy khi nói đến chất lượng sản phẩm cần chú ý đến các điểm sau: - Chất lượng sản phẩm phải được xem xét thông qua các chỉ tiêu đặc trưng. - Chất lượng sản phẩm phải phù hợp với công dụng, với mục đích chế tạo, với nhu cầu của thị trường. - Chất lượng sản phẩm mang tính dân tộc thể hiện ở truyền thống tiêu dùng, thị hiếu tiêu dùng của người dân. 2. Các đặc tính của chất lượng sản phẩm. 2.1.Chất lượng sản phẩm là một phạm trù kinh tế– xã hội – kỹ thuật. Tuy chất lượng sản phẩm được tạo nên phụ thuộc phần lớn vào công nghệ kỹ thuật nhưng nó phải phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội. Trong các xã hội khác nhau với cơ chế quản lý kinh tế khác nhau thì quan niệm về chất lượng sản phẩm cũng khác nhau. Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, chất lượng chỉ đơn thuần là thoả mãn các chỉ tiêu kỹ thuật nhưng trong cơ chế thị trường chất lượng sản phẩm phải thoả mãn nhu cầu người tiêu dùng. Khi kinh tế phát triến,nhu cầu xã hội ngày càng tăng cả về mặt lượng và mặt chất, dẫn đến sự thay đổi trong nhận thức của người tiêu dùng khi lựa chọn sản phẩm hoặc một phương án tiêu dùng. Do đó yêu cầu về chất lượng sản phẩm cũng thay đổi theo. Vì vậy nói đến chất lượng là nói đến sự kết hợp 3 yếu tố kinh tế- xã hội- kỹ thuật. 2.2.Chất lượng sản phẩm có tính tương đối. Chất lượng sản phẩm luôn thay đổi theo không gian và thời gian, chất lượng của hôm nay và chất lượng của ngày mai là khác nhau, ở thời điểm này có thể là cao nhưng ở thời điểm khác lại là thấp. Chất lượng là yếu tố động, vì vậy nó chỉ có tính tương đối. Chất lượng sản phẩm cũng phụ thuộc vào loại thị trường, sản phẩm có thể là chất lượng cao ở thị trường này nhưng lại không được đánh giá cao ở thị trường khác. Nó phụ thuộc vào không gian từng thị trường bao gồm các yếu tố văn hoá- kinh tế- xã hội. 2.3.Chất lượng sản phẩm có thể đo lường và đánh giá thông qua các chỉ tiêu và tiêu chuẩn cụ thể. Thực tế cho thấy rằng không thể tạo ra một mức chất lượng sản phẩm cao nếu chỉ dựa trên những ý tưởng, những nhận xét về mặt định tính đối với các nguyên nhân gây ra những sai lệch về chất lượng. Phát triển kỹ thuật đo lường và sử dụng các phương pháp thống kê để thu thập phân tích là một đặc tính của chất lượng sản phẩm Mỗi sản phẩm được đặc trưng bằng các tính chất, đặc điểm riêng biệt nội tại của bản thân sản phẩm đó. Những đặc tính đó phản ánh tính khách quan của sản phẩm thể hiện trong quá trình hình thành và sử dụng sản phẩm đó. Những đặc tính khách quan này phụ thuộc rất lớn vào trình độ thiết kế quy định cho sản phẩm đó. Mỗi tính chất được biểu thị bởi các chỉ tiêu cơ lý hoá nhất định có thể đo lường và đánh giá được. Vì vậy nói đến chất lượng sản phẩm phải đánh giá thông qua hệ thống chỉ tiêu, tiêu chuẩn cụ thể. đặc điểm này khẳng định những quan điểm sai lầm cho rằng chất lượng sản phẩm là cái không thể đo lường đánh giá được. 2.4.Chất lượng sản phẩm biểu thị ở hai cấp độ và phản ánh hai mặt khách quan và chủ quan hay còn gọi là hai loại chất lượng: Chất lượng tuân thủ thiết kế và chất lượng của thiết kế. Chất lượng trong tuân thủ thiết kế thể hiện ở mức độ chất lượng sản phẩm đạt được so với các tiêu chuẩn thiết kế đã đề ra. Khi sản phẩm sản xuất ra có những đặc tính kinh tế kỹ thuật càng gần với tiêu chuẩn thiết kế thì chất lượng càng cao được phản ánh thông qua các chỉ tiêu như tỷ lệ phế phẩm, sản phẩm hỏng loại bỏ, sản phẩm không đạt yêu cầu thiết kế. Chất lượng này có tác động rất lớn đến khả năng giảm chi phí, là cơ sở để cạnh tranh về giá. Chất lượng của thiết kế hay còn gọi là chất lượng trong sự phù hợp thể hiện mức độ phù hợp của sản phẩm đối với nhu cầu khách hàng. Chất lượng ở đây được thể hiện thông qua các thuộc tính có tính thu hút khách hàng, thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Vì vậy, chất lượng trong sự phù hợp phụ thuộc rất lớn vào trình độ thiết kế, trình độ thiết kế càng cao thì chất lượng càng cao; nó phản ánh những đặc tính chủ quan vì nó phụ thuộc vào những nhận thức của khách hàng. Khi nâng cao chất lượng thiết kế sẽ có tác động rất lớn đến khả năng tiêu thụ của sản phẩm và khi tăng chất lượng thì chi phí tăng theo. 2.5.Chất lượng sản phẩm của mỗi loại sản phẩm được xác định trong những điều kiện sử dụng cụ thể với những mục đích cụ thể tương ứng với một đối tượng tiêu dùng. Chất lượng sản phẩm phải thoả mãn được nhu cầu người tiêu dùng trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể về kinh tế kỹ thuật của mỗi nước, mỗi vùng. Trong kinh doanh không thể có chất lượng như nhau cho tất cả các vùng mà cần căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể để đề ra các phương án chất lượng cho phù hợp về mọi mặt với yêu cầu của khách hàng. 3.Phân loại chất lượng sản phẩm: * Chất lượng sản phẩm được phản ánh thông qua các loại chất lượng sau: - Chất lượng thiết kế là: giá trị riêng của các thuộc tính được phác thảo ra trên cơ sở nghiên cứu trắc nghiệm của sản xuất và tiêu dùng.Đồng thời có so sánh với các hàng tương tự của nhiều nước.Chất lượng thiết kế là giai đoạn đầu của quá trình hình thành chất lượng sản phẩm . - Chất lượng tiêu chuẩn là: giá trị riêng của những thuộc tính của sản phẩm được thừa nhận, được phê chuẩn trong quản lý chất lượng sản phẩm. Chất lượng tiêu chuẩn là nội dung tiêu chuẩn của một loại hàng hoá. Chất lượng tiêu chuẩn có ý nghĩa pháp lệnh buộc phải thực hịên nghiêm chỉnh trong quá trình quản lý chất lượng. Chất lượng tiêu chuẩn có nhiều loại: Tiêu chuẩn quốc tế là: những tiêu chuẩn do tổ chức chất lượng quốc tế đề ra được các nước chấp nhận và xem xét áp dụng cho phù hợp với điều kiện của từng nước. + Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) là: tiêu chuẩn nhà nước,được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật,áp dụng kinh nghiệm tiêu biểu và tiêu chuẩn quốc tế phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội ở Việt Nam. + Tiêu chuẩn nghành (TCN) là: các chỉ tiêu về chất lượng do các Bộ,các tổng cục xét duyệt, ban hành, có hiệu lực đối với tất cả các đơn vị trong nghành,địa phương đó. + Tiêu chuẩn doanh nghiệp (TCDN) là: các chỉ tiêu về chất lượng do các doanh nghiệp tự nghiên cứu và áp dụng trong doanh nghiệp mình cho phù hợp với điều kiện riêng của doanh nghiệp đó. - Chất lượng thực tế là: chỉ mực độ thực tế đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của sản phẩm, bao gồm chất lượng thực tế trong sản xuất và chất lượng thực tế trong tiêu dùng. - Chất lượng cho phép là: dung sai cho phép mức sai lệch giữa chất lượng thực tế với chất lượng tiêu chuẩn. Chất lượng cho phép phụ thuộc vào điều kiện kỹ thuật của từng nước, phụ thuộc vào trình độ lành nghề của công nhân. Khi chất lượng thực tế của sản phẩm vượt quá dụng sai cho phép thì hàng hoá sẽ bị xếp vào loại phế phẩm. Chất lượng tối ưu là: biểu thị khả năng thoả mãn toàn diện nhu cầu của thị trường trong những điều kiện xác định với những chi phí xã hội thấp nhất.Thường người ta phải giải quyết được mối quan hệ chi phí và chất lượng sao cho chi phí thấp nhất mà chất lượng vẫn đảm bảo. Biểu đồ 1: Sơ đồ Siro về mối quan hệ giữa chất lượng và chi phí Chi phí (b) (a) Q1 Q2 Q3 Chất lượng (a): là đường cong giá bán sản phẩm. (b): là đường cong gía thành sản phẩm. (Q1): chất lượng thấp giá thành thấp. (Q2): ứng với khoảng cách lớn nhất giữa hai đường cong là mức chất lượng có lợi nhuận lớn nhất. (Q3): sản phẩm có chất lượng cao nhưng lợi nhuận không cao. Quyết định mức chất lượng như thế nào cho phù hợp là một vấn đề quan trọng. Điều đó phụ thuộc vào đặc điểm tiêu dùng của từng nước, của từng vùng và phụ thuộc vào mục tiêu của doanh nghiệp. 4.Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng sản phẩm. Chỉ tiêu chất lượng là đặc trưng định lượng của các thuộc tính cấu thành nên chất lượng sản phẩm. Những đặc trưng này được xem xét đánh giá trong những điều kiện nhất định của quá trình hình thành và sử dụng sản phẩm. Khi đề cập đến chỉ tiêu chất lượng sản phẩm của hàng hoá, người ta thường phân ra hai hệ thống chỉ tiêu chất lượng: ăHệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu xác định chất lượng trong chiến lược phát triển kinh tế. ăHệ thống các chỉ tiêu kiểm tra đánh giá chất lượng sản phẩm hàng hóa trong sản xuất kinh doanh. 4.1. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu xác định chất lượng trong chiến lược phát triển kinh tế. Thường có các nhóm chỉ tiêu sau: - Chỉ tiêu công dụng: đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho các thuộc tính sử dụng của sản phẩm hàng hoá như giá trị dinh dưỡng, hệ số tiêu hoá, độ bền thời gian sử dụng. - Chỉ tiêu công nghệ: Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho qui trình chế tạo sản phẩm có chất lượng cao, tiết kiệm nguyên vật liệu, hạ chi phí. - Chỉ tiêu thống nhất hoá: Đặc trưng cho tính lắp lẫn của các linh kiện, các phụ tùng. - Chỉ tiêu độ tin cậy: Đặc trưng cho tính chất của sản phẩm đảm bảo các thông số kỹ thuật làm việc trong khoảng thời gian nhất định. - Chỉ tiêu an toàn: Đảm bảo thao tác an toàn đối với công cụ sản xuất cũng như đồ dùng sinh hoạt trong gia đình. - Chỉ tiêu kích thước: Thể hiện gọn nhẹ, thuận tiện trong sử dụng, vân chuyển. - Chỉ tiêu sinh thái: Đặc trưng các tính chất của sản phẩm có khả năng tạo ra những khí thải không gây độc hại đến môi trường. - Chỉ tiêu lao động: Đề cập đến những quan hệ giữa người sử dụng với sản phẩm. - Chỉ tiêu thẩm mỹ: Đặc trưng một sản phẩm đẹp phải có tính chân thật, mang trong mình các yếu tố hiện đaị, sáng tạo, đồng thời hình dáng kiểu cách cũng như trang trí hoạ tiết phải thể hiện tính cách dân tộc. - Chỉ tiêu về sáng chế phát minh: Đặc trưng cho khả năng giữ bản quyền. 4.2. Hệ thống các chỉ tiêu kiểm tra đánh giá chất lượng sản phẩm hàng hóa trong sản xuất kinh doanh. - Nhóm chỉ tiêu sử dụng bao gồm: Thời gian sử dụng, mức độ an toàn trong sử dụng, khả năng sửa chữa thay thế các chi tiết, hiệu quả sử dụng. Đây là nhóm chỉ tiêu chất lượng mà người tiêu dùng khi mua hàng thường quan tâm để đánh giá chất lượng sản phẩm hàng hoá. - Nhóm chỉ tiêu kỹ thuật công nghệ: Đây là nhóm chỉ tiêu mà các cơ quan nghiên cứu thiết kế, sản xuất, kinh doanh thường dùng để đánh giá giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hoá. Các chỉ tiêu kích thước, chỉ tiêu cơ lý, chỉ tiêu thành phần hoá học. - Nhóm chỉ tiêu hình dáng trang trí thẩm mỹ: Nhóm này bao gồm các chỉ tiêu về hình dáng sản phẩm, tính chất các đường nét, sự phối hợp của các yếu tố tạo hình chất lượng trang trí, mằu sắc, tính thời trang, tính thẩm mỹ. - Nhóm các chỉ tiêu kinh tế: Bao gồm chi phí sản xuất, giá cả, chi phí cho quá trình sử dụng. Các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm đã nêu không tồn tại độc lập tách rời mà có liên quan chặt chẽ với nhau. Vai trò ý nghĩa của từng chỉ tiêu rất khác nhau đối với các sản phẩm khác nhau. Mỗi loại sản phẩm sẽ có những chỉ tiêu mang tính trội và quan trọng hơn những chỉ tiêu khác. Mỗi doanh nghiệp phải căn cứ vào đặc điểm sử dụng của sản phẩm và nhiều yếu tố như tình hình sản xuất, quan hệ cung cầu, điều kiện xã hội mà chọn những chỉ tiêu chủ yếu và những chỉ tiêu bổ sung cho thích hợp. Hiện nay, một sản phẩm được coi là có chất lượng cao ngoài chỉ tiêu an toàn đối với người sử dụng và xã hội, môi trường ngày càng quan trọng, trở thành bắt buộc đối với các doanh nghiệp. Để sản xuất kinh doanh một sản phẩm nào đó doanh nghiệp phải xây dựng tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, phải đăng ký và được các cơ quan quản lý chất lượng nhà nước ký duyệt. Chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp phải đạt mức chất lượng đã đăng ký, đó là cơ sở để kiểm tra đánh giá sản phẩm sản xuất. Ngoài ra, để đánh giá và phân tích tình hình thực hiện chất lượng giữa các bộ phận, giữa các doanh nghiệp đối với hầu hết các loại sản phẩm ta còn có các chỉ tiêu cụ thể sau: * Tỷ lệ sai hỏng: để phân tích tình hình sai hỏng trong sản xuất. Dùng thước đo hiện vật, ta có. Số lượng sản phẩm sai hỏng Tỷ lệ sai hỏng = ´ 100 Tổng số sản phẩm sản xuât Trong đó sản phẩm sai hỏng bao gồm sản phẩm hỏng có thể sửa chữa được và sản phẩm hỏng không thể sửa chữa được. Dùng thước đo giá trị ta có. Chi phí sản xuất sản phẩm hỏng Tỷ lệ sai hỏng = ´ 100 Tổng chi phí sản xuất sản phẩm *Tỷ lệ đạt chất lượng: Số sản phẩm đạt chất lượng. Tỷ lệ đạt chất lượng = ´ 100 Tổng sản phẩm sản xuất * Hệ số thiệt hại sản phẩm hỏng: Thiệt hại sản phẩm hỏng + Thiệt hại sửa chữa sản phẩm hỏng sửa chữa được Hh= ´100 Tổng chi phí sản xuất sản phẩm 5.Các nhân tố tác động đến chất lượng sản phẩm. 5.1. Nhóm nhân tố bên ngoài. a. Nhu cầu thị trường Nhu cầu là xuất phát điểm của quá trình quản lý chất lượng tạo lực hút, định lượng cải tiến và hoàn thiện chất lượng sản phẩm. Cơ cầu, tính chất, đặc đỉêm và xu hướng vận động của nhu cầu tác động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. Chất lượng sản phẩm có thể được đánh giá cao ở thị trường này nhưng lại không được đánh gía cao ở thị trường khác. Điều đó đòi hỏi phải tiến hành nghiêm túc, thận trọng công tác nghiên cứu nhu cầu thị trường, phân tích môi trường kinh doanh, xác định chính xác nhận thức của khách hàng, thói quen, truyền thống, phong tục, tập quán, văn hóa, lối sống, mục đích sử dụng sản phẩm và khả năng thanh toán... nhằm đưa ra nhứng sản phẩm phù hợp với từng loại thị trường. Thông thường khi mức sống xã hội còn thấp, sản phẩm khan hiếm thì yêu cầu của người tiêu dùng chưa cao, người ta chưa quan tâm tới chất lượng sản phẩm. Nhưng khi đời sống xã hội được cải thiện thì đòi hỏi về chất lượng sản phẩm sẽ tăng cao, ngoài tính năng sử dụng còn có giấ trị thẩm mỹ. Người tiêu dùng có thể chấp nhận giá cao để có được những sản phẩm ưng ý. Chính vì vậy, các nhà sản xuất phải sản xuất những sản phẩm có chất lượng đáp ứng được nhu cầu thị trường. Lúc đó, việc nâng cao chất lượng sản phẩm mới đi đúng hướng. b. Trình độ tiến bộ khoa học công nghệ. Trong thời đại ngày nay không có sự tiến bộ kinh tế, xã hội nào lại không gắn liền với tiến bộ khoa học công nghệ trên thế giới. Bắt đầu từ cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ nhất, chủng loại và chất lượng sản phẩm không ngừng thay đổi với tốc độ tương đối nhanh. Tiến bộ khoa học công nghệ có tác động như một lực đẩy tạo khả năng đưa chất lượng sản phẩm không ngừng tăng lên. Nhờ khả năng to lớn của tiến bộ khoa học công nghệ đã sáng chế ra những sản phẩm mới, tạo ra và đưa vào sản xuất với công nghệ mới có các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật cao hơn, thay thế nguyên liệu mới tốt hơn và rẻ hơn, hình thành phương pháp và phương tiện kỹ thuật quản trị tiên tiến góp phần giảm chi phí đồng thơì nâng cao chất lượng sản phẩm. c. Cơ chế quản lý Khả năng cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc rất chặt chẽ vào cơ chế quản lý của mỗi nước. Cơ chế quản lý vừa là môi trường vừa là điều kiện cần thiết tác động đến phương hướng, tốc độ cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm ở các doanh nghiệp. Kế hoạch hoá phát triển kinh tế cho phép xác định trình độ chất lượng và mức chất lượng tối ưu, xác định cơ cấu mặt hàng, xây dựng chiến lược con người trong tổ chức phù hợp với đường lối phát triển chung. Hệ thống giá cả cho phép các doanh nghiệp xác định đúng giá trị sản phẩm của mình, doanh nghiệp có thể xây dựng các chiến lược cạnh tranh và tìm mọi cách nâng cao chất lượng sản phẩm mà không sợ bị chèn ép về giá. Chính sách đầu tư quyết định quy mô và hướng phát triển của sản xuất. Dựa vào đó các nhà sản xuất có kế hoạch đầu tư cho công nghệ, huấn luyện đào tạo để nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Chính sách thương mại về chất lượng tổ chức hệ thống quản lý chất lượng đều có những vai trò nhất định đối với chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp. Tóm lại thông qua cơ chế, chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước điều kiện kích thích: - Tính độc lập, tự chủ sáng tạo trong cải tiến chất lượng sản phẩm ở các doanh nghiệp - Hình thành môi trường thuận lợi cho việc huy động công nghệ mới, tiếp thu ứng dụng những phương pháp quản trị chất lượng hiện đại. - Sự cạnh tranh công bằng, lành mạnh, xoá bỏ sức ỳ và tâm lý ỷ lại, không ngừng phát huy sáng kiến cải tiến hoàn thiện chất lượng sản phẩm. 5.2. Nhóm nhân tố bên trong. a. Lực lượng lao động trong doanh nghiệp Đây là nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng sản phẩm. Cho dù trình độ công nghệ có hiện đại đến đâu nhân tố con người vẫn được coi là nhân tố căn bản nhất tắc động đến chất lượng các hoạt động sản xuất sản phẩm và các hoạt động dịch vụ. Trình độ chuyên môn, tay nghề kinh nghiêm, ý thức trách nhiệm, tính kỷ luật, nắm bắt thông tin của mọi thành viên trong doanh nghiệp tác động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. Sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trước hết phụ thuộc vào chất lượng của tập thể những người lao động mà đứng đầu là người lãnh đạo các doanh nghiệp. Quan tâm đầu tư phát triển và không ngừng nâng cao nguồn nhân lực là nhiệm vụ quan trọng trọng qủan lý chất lượng của các doanh nghiệp. Đó cũng là con đường quan trọng nhất nâng cao khả năng cạnh tranh về chất lượng của mỗi quốc gia. b. Khả năng về công nghệ máy móc thiết bị của doanh nghiệp Đối với mỗi doanh nghiệp, công nghệ luôn là một trong những yếu tố cơ bản có tác động mạnh mẽ đến chất lượng sản phẩm. Mức độ chất lượng sản phẩm trong mỗi doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào trình độ hiện đại, cơ cấu đồng bộ, tình hình bảo dưỡng duy trì khả năng làm việc theo thời gian của máy móc thiết bị công nghệ, đặc biệt là những doanh nghiệp tự động hoá cao, dây chuyền và tính chất sản xuất hàng loạt. Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp không tách rời trình độ công nghệ trên thế giới. Muốn sản phẩm có chất lượng đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường đặc biệt là thị trường quốc tế mỗi doanh nghiệp cần có chính sách công nghệ phù hợp cho phép sử dụng những thành tựu khoa học trên thế giới đồng thời khai thác tối đa nguồn công nghệ nhằm tạo ra sản phẩm với chất lượng cao chi phí hợp lý. c. Vật liệu, nguyên liệu và hệ thống tổ chức đảm bảo vật tư nguyên liệu của doanh nghiệp. Nguyên vật liệu là yếu tố tham gia trực tiếp cấu thành nên sản phẩm. Những đặc tính của nguyên liệu sẽ được đưa vào sản phẩm vì vậy chất lượng của nguyên liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm sản xuất ra. Không thể có chất lượng sản phẩm cao từ những nguyên liệu có chất lượng tồi. Chủng loại, cơ cấu,tính đồng bộ và chất lượng nguyên vật liệu đều có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. Ngoài ra, chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp còn phụ thuộc rất lớn vào việc thiết lập hệ thống cung ứng ngu._.yên vật liệu thích hợp trên cơ sở tạo dựng mối quan hệ lâu dài, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau giữa người sản xuất và người cung ứng, đảm bảo khả năng cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác đúng nơi cần thiết. d. Trình độ tổ chức quản trị và tổ chức sản xuất của doanh nghiệp. Trình độ quản trị nói chung và trình độ quản lý chất lượng nói riêng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy tốc độ cải tiến, hoàn thiện chất lượng sản phẩm ở các doanh nghiệp. Các chuyên gia quản trị chất lượng đồng tình cho rằng trong thực tế có tới 80% những vấn đề về chất lượng là do quản trị chất lượng gây ra. Vì vậy, nói đến quản trị chất lượng ngày nay người ta cho rằng trước hết đó là chất lượng của quản trị. Các yếu tố sản xuất như nguyên liệu, máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất và người lao động dù ở trình độ nào nhưng nếu không được tổ chức một cách hợp lý tạo ra sự phối hợp đồng bộ nhịp nhàng giữa các khâu, các yếu tố của quá trình sản xuất thì không thể tạo sản phẩm có chất lượng cao. Thậm chí trình độ quản lý tồi còn làm giảm chất lượng sản phẩm gây lãng phí nguồn lực sản xuất dẫn đến làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trình độ tổ chức quản trị các hoạt động sản xuất kinh doanh được thể hiện ở các phương pháp quản trị, cách thức quản tri, triết lý quản trị, đạo đức kinh doanh, phương pháp quản lý công nghệ. Mỗi doanh nghiệp cần phải tổ chức tốt bộ máy qủan trị kỹ thuật và kiểm tra chất lượng sản phẩm, chú trọng trang bị các phương tiện kiểm tra kỹ thuật giám định chất lượng sản phẩm. Muốn có chất lượng sản phẩm cao cần theo dõi kiểm tra toàn bộ quá trình sản xuất, giám sát việc thực hiện các qui trình, qui phạm kỹ thuật để có biện pháp kịp thời khi phát hiện ra các sai sót và xử lý ngay. Chất lượng sản phẩm còn phụ thuộc rất lớn vào cơ cấu và cơ chế quản trị, nhận thức, hiểu biết về chất lượng và trình độ của các cán bộ quản trị, khả năng xác định chính xác các mục tiêu, chính sách chất lượng và chỉ đạo tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch chất lượng. Chất lượng là một vấn đề hết sức quan trọng do đó không thể phó mặc cho các nhân viên kiểm tra chất lượng sản phẩm. Các doanh nghiệp phải coi chất lượng là vấn đề thuộc chất lượng của toàn bộ doanh nghiệp. II. Vai trò của việc nâng cao chất lượng sản phẩm với việc tăng khả năng cạnh tranh. 1. Khái niệm và đặc điểm của cạnh tranh. Trong hình thức trao đổi hàng hóa trực tiếp sự trao đổi đã được thoả thuận, nhu cầu được xác định qua kinh nghiệm tiêu thụ của cả hai bên mua và bán. hàng hoá sản xuất ra gần như phù hợp với nhu cầu của mỗi bên. Vì vậy chưa phát sinh tính cạnh tranh. Cạnh tranh đặc biệt phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Theo Mác “Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ để thu lợi nhuận siêu ngạch”. Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh là một điều kiện yếu tố kích thích kinh doanh, động lực phát triển sản xuất. Đối với doanh nghiệp, cạnh tranh có nghĩa là đảm bảo duy trì và phát triển vị trí trên thị trường trong nước và thế giới. Một doanh nghịêp được coi là có sức cạnh tranh là đánh giá nó có thể dứng vững cùng với các nhà sản xuất khác,với mức giá thấp hơn cho sản phẩm cùng loại, bằng cách cung cấp các sản phẩm tương tự với các đặc tính về chất lượng hay dịch vụ ngang bằng hoặc cao hơn. Như vậy ,với một doanh nghiệp, cạnh tranh khả năng có thể bán được nhiều sản phẩm hơn, tăng thị phần, tăng lợi nhuận và tăng mức sống của người lao động. Chất lượng, chi phí, thời gian và điều kiện phân phối là những tiêu chuẩn quan trọng phản ánh khả năng cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp. Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm có giá thấp hơn,mức thoả mãn khách hàng cao hơn và phục vụ nhanh kịp thời sẽ có khả năng cạnh tranh cao hơn. Trong cạnh tranh, doanh nghiệp phải tuân theo quy luật đào thải và chọn lọc nghĩa là phải thích ứng với thị trường thì mới tồn tại và phát triển được. Cạnh tranh trên thị trường được phân loại theo nhiều loại khác nhau nhưng xét theo phạm vi ngành kinh tế, cạnh tranh được chia thành hai loại: cạnh tranh giữa các ngành và cạnh tranh trong nội bộ ngành. Cạnh tranh giữa các ngành là sự cạnh tranh giữa các nhà doanh nghiệp mua bán hàng hoá dịch vụ khác ngành với nhau nhằm thu lợi nhuận và có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với vốn đã bỏ ra. Trong quá trình cạnh tranh này các chủ doanh nghiệp luôn say mê với những ngành đầu tư có lợi nhuận nhất lên đã chuyển vốn từ ngành ít lợi nhuận sang ngành có nhiều lợi nhuận hơn. Sự điều chỉnh tự nhiên theo tiếng gọi của lợi nhuận này sau một thời gian nhất định vô hình dung hình thành lên sự phân phối vốn hợp lý giữa các ngành sản xuất để rồi dẫn đến kết quả cuối cùng là sự bình quân hoá lợi nhuận giữa các nhà doanh nghiệp đầu tư ở các ngành khác nhau với số vốn bằng nhau. Cạnh tranh trong nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng kinh doanh một loại hàng hoá hay dịch vụ nhằm giành lấy các điều kiện có lợi nhất trong việc sản xuất tiêu thụ hàng hoá hay dịch vụ ấy. 2.Các hình thức cạnh tranh. Các doanh nghiệp trên thương trường đã tìm ra nhiều cách thức khác nhau để đạt được lợi thế cạnh tranh song ta có thể tóm tắt chúng thành một số các hình thức chính sau: 2.1.Cạnh tranh bằng sản phẩm Đây là một trong những hình thức cạnh tranh quan trọng nhất, chữ tín của doanh nghiệp tạo ra lợi thế có tính quyết định trong cạnh tranh. Xuất phát từ tầm quan trọng của việc nắm bắt nhu cầu thị trường với các doanh nghiệp hiện nay, chất lượng của sản phẩm, tính thích dụng của sản phẩm được coi là những khía cạnh quan trọng trong cạnh tranh bằng sản phẩm. Tuỳ theo sản phẩm khác nhau các doanh nghiệp phải lưạ chọn những nhóm chỉ tiêu có tính chất quyết định trình độ sản phẩm. Doanh nghiệp sẽ thắng trong cạnh tranh nếu như lựa chọn trình độ sản phẩm có ưu thế và phù hợp với nhu cầu thị trường. Doanh nghiệp cũng có thể cạnh tranh thông qua việc xác định và đưa ra thị trường những sản phẩm có chất lượng cao hơn. Những sản phẩm này có ưu thế rât lớn trên thương trường, tuy nhiên cần phải chú ý giải quyết mối quan hệ giữa nâng cao chất lượng và giá bán để đảm bảo lợi thế của sản phẩm có chất lượng cao. Ngoài ra cạnh tranh bằng sản phẩm còn thông qua phương diện bao bì, mẫu mã, nhãn mác, biểu tượng, đặc thù của từng loại sản phẩm. Sự điển hình về thiết kế hoặc danh tiếng sản phẩm, đặc tính của các sản phẩm tạo uy tín cho doanh nghiệp, nâng cao lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. 2.2.Cạnh tranh bằng giá Các doanh nghiệp đưa sản phẩm của mình vào thị trường đối thủ cạnh tranh, sử dụng giá thấp hoặc giá ưu đãi để bán hàng. Như vậy doanh nghiệp sẽ thu hút được người tiêu dùng và hơn nữa thu hút được cả lực lượng bán hàng của đối thủ cạnh tranh chuyển sang bán sản phẩm của doanh nghiệp vì họ sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn tuy nhiên, nếu định giá so vơi đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp phải khảo sát giá của đối thủ, tìm hiểu các lợi thế của đối thu để xem lợi thế của doanh nghiệp mình có mạnh hơn không. Doanh nghiệp có thể cạnh tranh thông qua việc hạ giá. Biện pháp này thực chất là chú trọng đến việc quản lý chặt chẽ, tiết kiệm chi phí và do đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có một sự lựa chọn công nghệ và thiết bị, lãnh đạo doanh nghiệp phải có đường lối đúng đắn và mọi thành viên trong doanh nghiệp phải tuân thủ đường lối đó. Khi thực hiện biện pháp hạ giá, doanh nghiệp phải chuẩn bị về nguồn lực tài chính. Nếu như khối lượng bán sản phẩm tăng lên do giá bán giảm đi không bù lại được do việc giảm giá đơn vị sản phẩm làm cho lợi nhuận tính cho một đơn vị sản phẩm giảm thì việc hạ giá để cạnh tranh chỉ có ý nghĩa trong khoảng thời gian chiếm lĩnh thị trường. Khi thị trường đã chiếm lĩnh được doanh nghiệp có thể lại hoàn giá theo mức cũ hoặc tương đương. Trong cạnh tranh bằng giá, hạ giá là biện pháp được sử dụng nhiều nhất. Cạnh tranh bằng việc dùng giá ưu đãi là một trong những công cụ có thế lực rất mạnh trong thương trường, giá ưu đãi thường là mức giá thấp hoặc rất thấp, do đó nó trở thành yếu tố lợi ích hấp dẫn đối với người mua. Chính vì vậy nó có khả năng rất lớn để lôi kéo nhu cầu xã hội về sản phẩm của doanh nghiệp. Tuy nhiên, biện pháp này chỉ được thực hiện với những doanh nghiệp có thế lực tài chính mạnh, khối lượng hàng bán ra lớn và cần có sự trợ giúp của Nhà nước về mặt cơ chế. Khi thu nhập của người dân còn thấp thì giá cả là vấn đề nhạy bén: Một sự giảm giá có thể đảy nhanh tốc độ tiêu thụ, một sự tăng gía có thể chắt lọc thị trường. Nhưng khi thu nhập cao, người tiêu dùng quan tâm nhiều hơn đến công dụng, đến giá trị sử dụng của sản phẩm, giá cả là vấn đề quan trọng nhưng không phải là vấn đề quan trọng nhất,. Vì vậy, định gía sản phẩm phải được kết hợp với các công cụ cạnh tranh khác như phương thức thanh toán, hệ thống bán hàng.. thì mới tạo cho doanh nghiệp vị thế cạnh tranh tốt. 2.3. Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối và bán hàng. Hình thức này được thực hiện thông qua hệ thống kênh bán hàng phong phú của các doanh nghiệp. Trước đây, trong cơ chế bao cấp, các doanh nghiệp ( hầu hết là các doanh nghiệp Nhà nước) không phải lo việc tiêu thụ sản phẩm mà chỉ chú trọng vào việc sản xuất ra càng nhiều sản phẩm theo chỉ định của Nhà nước và việc cung cấp sản phẩm tới đâu là do Nhà nước. Nhưng khi bước sang cơ chế thị trường, các doanh nghiệp phải tự lo vấn đề tiêu thụ. Sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ được càng nhiều thì quá trình sản xuất của doanh nghiệp càng có hiệu quả. Và để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tiêu thụ, các doanh nghiệp này đã xây dựng những hệ thống phân phối cho riêng mình. Đó có thể là các đại lý hoặc cửa hàng và những người trung gian bán hàng cho doanh nghiệp tạo thành kênh tiêu thụ. Doanh nghiệp có biện pháp để kết dính các thành viên trong kênh lại với nhau, có các biện pháp để quản lý chặt chẽ và điều khiển những người bán hàng. Và như vậy hệ thống kênh tiêu thụ trở thành một thế mạnh trong cạnh tranh của doanh nghiệp. 2.4.Cạnh tranh bằng các dịch vụ bán và dịch vụ sau khi bán. Có thể thấy đây là hình thức cạnh tranh mà các doanh nghiệp thường xuyên sử dụng. Thông qua hình thức này doanh nghiệp đánh trực tiếp vào tâm lý người tiêu dùng bằng các biện pháp như tạo điêù kiện thuận lợi nhất trong việc thanh toán cho cả hai bên, có biện pháp tiếp nhận thông tin phản hồi của khách hàng một cách nhanh nhất. Các dịch vụ bán hàng có thể là đưa hàng đến tận nơi khách hàng yêu cầu, hướng dẫn cách sử dụng hoặc lắp đặt cho khách hàng.. Doanh nghiệp cũng đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng một cách tốt nhất, công bằng nhất, thường xuyên cung cấp những dịch vụ sau khi bán hàng cho người sử dụng, đặc biệt là với những sản phẩm có bảo hành. Khuyến mãi cũng là một biện pháp trong hình thức cạnh tranh này. Với biện pháp này, doanh nghiệp tạo ra lợi ích vật chất cho mỗi khách hàng tuy không lớn nhưng lại có tác dụng kích cầu rất mạnh. 2.5. Cạnh tranh bằng thời cơ thị trường. Doanh nghiệp nào dự báo được thời cơ thị trường và nắm được thời cơ thị trường thì sẽ chiến thắng trong kinh doanh. Thời cơ thị trường thường xuất hiện do sự thay đổi của các yếu tố môi trường, xu thế và trào lưu tiêu dùng, quan hệ tạo lập được của từng doanh nghiệp.. Cạnh tranh bằng thời cơ thị trường được thể hiện ở chỗ doanh nghiệp dự báo đựoc sự thay đổi, từ đó có chính sách khai thác thị trường hợp lý và sớm hơn các doanh nghiệp khác, tuy nhiên cạnh tranh bằng thời cơ thị trường cũng còn được thể hiện ở chỗ doanh nghiệp tìm ra được một số lợi thế trong kinh doanh đưa vào khai thác thị trường và làm cho một loạt sản phẩm của các doanh nghiệp khác sớm bị bão hoà. 2.6. Cạnh tranh bằng thời gian và không gian. Hình thức cạnh thức cạnh tranh này xuất hiện khi những vấn đề về chính sách sản phẩm và chính sách giá ở trên thị trường của các doanh nghiệp tương đối ổn định, sự chênh lệch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh không lớn. Trong trường hợp như vậy, thời cơ và thời gian có vai trò cực kỳ quan trọng và nó quyết định về việc buôn bán, những doanh nghiệp nào có quá trình buôn bán thuận tiện nhất, nhanh nhất sẽ chiến thắng trong cạnh tranh. Để thực hiện việc bán hàng thuận tiện và nhanh cần xử lý một loạt những vấn đề như ký kết hợp đồng nhanh, thực hiện các điều kiện bán hàng và thủ tục thanh toán nhanh, tạo lập chữ tín giữa người mua và người bán. 3. Mối quan hệ giữa nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng khả năng cạnh tranh: Chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Chất lượng sản phẩm là một trong những giải pháp quan trọng nhất để tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Ngược lại, doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao tạo điều kiện quan trọng cho tăng cường đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Một doanh nghiệp có hệ thống quản lý chất lượng tiến tiến thích hợp sẽ là điều kiện để đảm bảo thực hiện tốt các yêu cầu tăng khả năng cạnh tranh. Nâng cao chất lượng sản phẩm có tầm quan trọng sống còn đối với các doanh nghiệp. Trong điều kiện kinh tế mở như hiện nay, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải tìm được thế mạnh cạnh tranh của mình. Chất lượng sản phẩm là một trong những chiến lược cạnh tranh cơ bản của rất nhiều doanh nghiệp trên thế giới. Nhờ chất lượng sản phẩm dịch vụ cao làm tăng danh tiếng, uy tín của doanh nghiệp, giữ được khách hàng cũ, thu hút thêm khách hàng mới, mở rộng thị trường, tạo cơ sở cho sự phát triển lâu dài và bền vững của doanh nghiệp. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, nhu cầu của người dân không ngừng được nâng cao, ngày càng trở lên đa dạng và phong phú. Trong nền kinh tế bao cấp khi cung nhỏ hơn cầu, người tiêu dùng không có quyền lựa chọn, họ phải mua các mặt hàng thiết yếu bất kể chất lượng tốt xấu. Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng có quyền lựa chọn những sản phẩm phù hợp với nhu cầu cũng như khả năng thanh toán của họ. Với điều kiện giá cả không còn là mối quan tâm duy nhất của người tiêu dùng thì chất lượng là công cụ cạnh tranh hữu hiệu nhất của người sản xuất. Chất lượng sản phẩm là tiêu chuẩn tạo nên sức cạnh tranh của sản phẩm, làm cho sản phẩm chiếm được sự mến mộ của khách hàng, tạo nên tài sản vô hình cho doanh nghiệp. Nâng cao chất lượng đồng nghĩa với nâng cao tính hữu ích của sản phẩm, thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng đồng thời giảm chi phí trên một đơn vị sản phẩm nhờ hoàn thiện quá trình, đổi mới, cải tiến các hoạt động, giảm những lãng phí phế phẩm hoặc công việc phải sửa chữa lại. Kết quả là một chuỗi các phản ứng: giảm chi phí, tăng mức thoả mãn nhu cầu, thu hút thêm khách hàng, mở rộng và chiếm lĩnh thêm thị trường, tăng vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp, tạo nhiều việc làm, thoả mãn nhu cầu của người lao động. Tăng khả năng cạnh tranh là tạo ra càng nhiều hơn các ưu thế về tất cả các mặt: giá cả, giá trị sử dụng của sản phẩm tiêu thụ được nhiều hơn, thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng cơ cấu sản phẩm, tăng thị phần, chiếm lĩnh thị trường mới, tăng sức cạnh mạnh kinh tế, nâng cao thu nhập của người lao động, tăng khả năng tái đầu tư phát triển tài sản và quá trình. Điều đó lại tạo điều kiện cho năng suất, chất lượng tăng lên và nó lại tiếp tục làm tăng khả năng cạnh tranh. Nâng cao khả năng cạnh tranh là nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm, vì vậy phải sử dụng tổng hợp các biện pháp khác nhau tuy nhiên nâng cao chất lượng sản phẩm được coi là biện pháp “số một”. Như vậy, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp có mối quan hệ tỷ lệ thuận, bổ sung cho nhau, tạo điều kiện cho nhau trong chiến lược phát triển của bất kỳ doanh nghiệp nào. Công thức cạnh tranh sau đây cho thấy tác động của năng suất chất lượng đến khả năng cạnh tranh của các nước và các doanh nghiệp. Khả năng cạnh tranh = Quá trình cạnh tranh ´ Tài sản cạnh tranh trên thế giới -Thị phần -Chất lượng - Cơ sở hạ tầng -Lợi nhuận - Thời gian - Tài chính -Tăng trưởng -Thoả mãn khách hàng - Công nghệ -Tính dài hạn - Dịch vụ - Con người Như vậy, cạnh tranh trước hết là khả năng cạnh tranh về tất cả các yếu tố sản xuất, cạnh tranh về quá trình nhằm sử dụng các nguồn lực tiết kiệm hơn, có hiệu quả hơn nhưng tạo ra chất lượng cao hơn thoả mãn nhu cầu của thị trường với chi phí thấp nhất. Theo quan niệm truyền thống, khả năng cạnh tranh phụ thuộc vào những lợi thế so sánh về nguồn tài nguyên và nhân lực. Nhưng ngày nay điều này không thể giải thích được cho các nước có nguồn tài nguyên nghèo nàn nhưng khả năng cạnh tranh lại cao do năng suất cao hơn, sử dụng tối ưu các nguồn lực. Để hiểu hơn về công thức trên ta quan sát sơ đồ sau: Sơ đồ 1: Tác động của năng suất, chất lượng đến khả năng cạnh tranh. Cạnh tranh cao hơn -Sức mạnh cạnh tranh được duy trì. -Thị phần cao hơn Đáp ứng nhu cầu khách hàng -Chất lượng sản phẩm cao. Tài sản Cơ sở hạ tầng- Tài chính- Công nghệ- Con người Quá trình cạnh tranh Chất lượng- Thời gian- Thoả mãn khách hàng- Dịch vụ. Sự trao đổi thông qua năng suất cao hơn Phần phân phối lớn hơn -Lượng cao hơn -Lợi nhuận cao hơn. -Đầu tư cao hơn. Chi phí lao động đơn vị thấp. -Đầu ra lớn hơn. -Chi phí thấp hơn Có thể thấy khả năng cạnh tranh phụ thuộc vào hai yếu tố là giảm chi phí và tăng mức thoả mãn nhu cầu. Nó phải được tạo ra từ chất lượng cao hơn trong quản lý, sử dụng tối ưu các nguồn lực thông qua tăng năng suất và hiệu quả của nguồn tài sản và các quá trình. Khi tài sản và các quá trình được quản lý một cách có hiệu quả thì sẽ đạt được chất lượng cao, chi phí đơn vị sản phẩm giảm nhưng vẫn thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng và xã hội. Chất lượng cao là con đường cạnh tranh cơ bản giải quyết mẫu thuẫn giữa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao với giảm chi phí sản xuất. Kết quả cuối cùng của nâng cao khả năng cạnh tranh phải là kết hợp đồng thời, hài hoà giữa các chỉ tiêu trước mắt và chỉ tiêu dài hạn. Nó không chỉ biểu hiện thông qua việc tăng tốc độ tăng trưởng, tăng lợi nhuận mà còn là khả năng chiếm lĩnh và mở rộng thị trường đảm bảo sự phát triển dài hạn bền vững của doanh nghiệp. III. Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm. 1.Giải pháp về kinh tế Nâng cao chất lượng sản phẩm bằng giải pháp kinh tế thực tế là dùng đòn bẩy kinh tế kết hợp với kích thích lợi ích vật chất và rằng buộc trách nhiệm vật chất đối với người lao động. Trong đó giải pháp quan trọng nhất là dùng đòn bẩy tiền lương, tiền thưởng. Trước đây vấn đề này chủ yếu phụ thuộc vào số lượng sản phẩm sản xuất ra còn vấn đề chất lượng sản phẩm bị coi nhẹ gây ra tỷ lệ phế phẩm cao. Vì vậy, công tác tiền lương, tiền thưởng trong sản xuất công nghiệp nhất thiết phải gắn liền với chất lượng sản phẩm làm ra. Dùng tiền lương tiền thưởng kích thích vật chất đối với người sản xuất ra chất lượng sản phẩm cao đồng thời phải rằng buộc trách nhiệm đối với người sản xuất ra sản phẩm không đạt yêu cầu về chất lượng bằng cách giảm tiền lương tiền thưởng của họ. Đối với doanh nghiệp bố trí theo dây chuyền, từng bước công việc, từng công đoạn có thể áp dụng đến những biện pháp khoán sản phẩm cuối cùng có như vậy mới đảm bảo sản xuất sản phẩm ra với chất lượng cao. Mặt khác, để nâng cao chất lượng sản phẩm ta phải xây dựng đơn giá tiền lương cho từng công đoạn của sản xuất một cách hợp lý, tính đúng, tính đủ mọi chi phí sản xuất vận động mọi người tiết kiệm ở mọi khâu. Cần phải công khai, dân chủ công bằng nhằm khích thích người lao động sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng cao. 2. Giải pháp tổ chức quản lý. Các giải pháp tổ chức quản lý rất quan trọng đối với việc sản xuất kinh doanh nói chung và về chất lượng sản phẩm nói riêng. Vì vậy, khi xây dựng hệ thống quản lý phải hướng vào việc cải tiến và nâng cao chất lượng, phải tiến hành các biện pháp tổ chức quản lý cho phù hợp với từng khâu: từ khâu đưa nguyên liệu vào sản xuất đến khâu xuất xưởng sản phẩm. Những giải pháp tổ chức quan lý nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm chủ yếu được áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp: -Tổ chức nâng cao chất lượng vật tư, nguyên liệu bằng cách tìm nguồn cung cấp có chất lượng cao. -Tổ chức và nâng cao bồi dưỡng đội ngũ lao động, nâng cao trình độ chuyên môn tay nghề cho cán bộ công nhân viên, chấp hành nghiêm chỉnh quy trình công nghệ, kỷ luật lao động trong quá trình sản xuất. -Tổ chức bảo quản và tiêu thụ sản phẩm sao cho chất lượng sản phẩm không bị giảm đi trong thời gian bảo quản và mang đi tiêu thụ. -Ngoài ra, doanh nghiệp cần phải tổ chức, điều tra thăm dò chất lượng sản phẩm trên thị trường, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh nói chung và kinh nghiệm về quản lý chất lượng nói riêng, vận dụng vào từng điều kiện của từng doanh nghiệp sao cho sản phẩm của từng doanh nghiệp sản xuất ra ngày càng có chất lượng cao. 3. Giải pháp kỹ thuật. Việc nâng cao chất lượng sản phẩm bằng những giải pháp kỹ thuật được áp dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp: -Hoàn thiện và hiện đại hoá cơ sở kỹ thuật đặc biệt với những doanh nghiệp sản xuất sản phẩm có trình độ kỹ thuật phức tạp đòi hỏi phải tiến hành hàng loạt những giải pháp chuẩn bị trước khi đưa vào sản xuất: tổ chức thiết kế kết cấu sản phẩm, sản xuất thử, soạn thảo tài liệu kỹ thuật… -Việc nâng cao chất lượng sản phẩm còn phụ thuộc vào việc cải tiến và đổi mới công nghệ sản xuất từ khâu đầu đến khâu cuối của quá trình sản xuất. -Phải coi trọng và tuân thủ khâu tiêu chuẩn hoá và quy cách sản phẩm không được làm sai và vượt quá mức giới hạn cho phép. -Ngày nay với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, với tiềm năng về tài nguyên, lao động các doanh nghiệp nước ta chắc chắn sẽ đạt được các yêu cầu về chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế. Chương II Thực trạng chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng và khả năng cạnh tranh ở Công ty bánh kẹo Hải Hà I. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty bánh kẹo Hải Hà. 1. Lịch sử phát triển của công ty. Công ty bánh kẹo Hải Hà với tên giao dịch là Hai Ha Company ( Gọi tắt là HAIHACO) là một trong những Công ty chuyên sản xuất kinh doanh các loại bánh, kẹo phục vụ nhu cầu hàng ngày của mọi tầng lớp nhân dân. Trụ sở chính: Đặt tại 25 Đường Trương Định – Quận Hai Bà Trưng- Hà Nội. Được thành lập theo quyết định số 216 CNN/ TCLĐ ngày 24/3/1993 của Bộ công nghiệp nhẹ. Căn cứ theo Nghị định 388-HĐBT ngày 2/1/1991. * Giai đoạn 1959-1961. Tháng 11/1959, Tổng công ty Nông Thổ Sản Miền Bắc đã xây dựng một cơ sở thực nghiệm nghiên cứu hạt chân trâu với 9 cán bộ công nhân viên của tổng công ty gửi sang. Đến năm 1960, thực hiện chủ trương của công ty đã đi sâu nghiên cứu và sản xuất các mặt hàng miến từ đậu xanh và cung cấp cho nhu cầu của nhân dân. Trên cơ sở đó, 25/12/1960, Xưởng Miến Hoàng Mai ra đời đánh dấu một bước ngoặt đầu tiên cho sự phát triển sau này. * Giai đoạn 1962-1967 Đến 1962, Xí nghiệp Miến Hoàng Mai trực thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ quản lý. Thời kỳ này, xí nghiệp đã thử nghiệm thành công và đưa vào sản xuất các mặt hàng như dầu, tinh bột, ngô cung cấp cho nhà máy pin Văn Điển. Năm 1966, Đây là cơ sở vừa sản xuất vừa thử nghiệm các đề tài thực phẩm để từ đó phổ biến cho các địa phương. Từ đó nhà máy đã đổi tên thành nhà máy thực nghiệm thực phẩm Hải Hà. Ngoài sản xuất tinh bột ngô nhà máy còn sản xuất viên đạm, trao tương, nước chấm lên men, nước chấm hoa quả, bánh mỳ… và bước đầu tiên nghiên cứu mạch nha. * Giai đoạn từ 1968-1991. Năm 1968 nhà máy trực thuộc Bộ Lương thực Thực phẩm quản lý; Tháng 6/1970 nhà máy mang tên mới là nhà máy thực phẩm Hải Hà với số cán bộ công nhân viên là 555 người và nhiệm vụ chính là sản xuất kẹo nha, giấy tinh bột. Đến tháng 12/1976 nhà máy phê chuẩn thiết kế với công xuất bánh kẹo 6000tấn/ năm. Đến 1980, Nhà máy chính thức có 2 tầng nhà với diện tích sử dụng là 2500m2 được đưa vào sản xuất với 900 cán bộ công nhân viên. Năm 1988, nhà máy trực thuộc Bộ Nông Nghiệp và Công nghiệp thực phẩm quản lý. Thời kỳ này nhà máy mở rộng và phát triển thêm nhiều dây chuyền sản xuất. Năm 1976 bánh kẹo Hải Hà đã được tiêu thụ rộng rãi khắp cả nước và xuất khẩu đi các nước Đông Âu. Một lần nữa nhà máy đổi tên là nhà máy kẹo xuất khẩu Hải Hà. Tốc độ tăng sản lượng hàng năm từ 10%-15% sản xuất từ chỗ thủ công đã dần dần tiến tới cơ giới hoá 70%-80% với số vốn Nhà nước giao là 5454 triệu đồng . * Giai đoạn từ 1992 đến nay. Tháng 1/1992 nhà máy chuyến về trực thuộc Bộ Công Nghiệp nhẹ quản lý. Tháng 5/1992, Hải Hà chính thức liên doanh với Nhật Bản, Hàn Quốc. Việc liên doanh với nước ngoài nâng cao uy tín của công ty về chất lượng cũng như chủng loại đáp ứng nhu cầu thị trường. Tháng 7/1992 nhà máy xuất khẩu Hải Hà quyết định đổi tên Công ty bánh kẹo Hải Hà với tên giao dịch HAIHACO trực thuộc Bộ công nghiệp nhẹ quản lý. Mặt hàng sản xuất chính là bánh kẹo các loại: kẹo sữa, kẹo hoa quả, kẹo cà phê, bánh bisciut, bánh kem xốp. Hiện nay Công ty có 5 xí nghiệp trực thuộc: xí nghiệp kẹo, xí nghiệp bánh, nhà máy thực phẩmViệt trì, xí nghiệp phụ trợ, nhà máy bột dinh dưỡng Nam Định . Ngoài ra công ty còn liên doanh với một số công ty nước ngoài như liên doanh Hải Hà - KOTOBUKI, liên doanh với công ty Miwoon. 2. Chức năng và nhiệm vụ của công ty. Thực hiện nghị quyết 7 của BCHTW Đảng CNH-HĐH đất nước đến năm 2000 Công ty bánh kẹo Hải Hà xác định mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu của mình trong thời kỳ này: -Tăng cường chiều sâu với mục đích không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động, đa dạng hoá chủng loại sản phẩm nhằm mở rộng thị trường từ nông thôn đến thành thị, từ trong nước đến ngoài nước đủ sức cạnh tranh với thị trường trong nước và thị trường ngoài nước. Phát triển mặt hàng mới nhất là các loại bánh kẹo truyền thống dân tộc . Đi sâu nghiên cứu thị trường, ổn định và không ngừng nâng cao hiệu quả thị trường cũ, mở rộng thị trường mới, nhất là thị trường trong Nam và thị trường xuất khẩu. Ngoài việc sản xuất kẹo là chính, công ty sẽ kinh doanh các mặt hàng khác để khgông ngừng nâng cao đời sống và thúc đẩy sự phát triển ngày càng mạnh của công ty . Ngoài chức năng nhiệm vụ trên Công ty bánh kẹo Hải Hà còn có các nhiệm vụ sau: +Bảo toàn và phát triển nguồn vốn được giao. +Thực hiện các nhiệm vụ và nghĩa vụ đối với nhà nước. +Thực hiện phân phối theo lao động: Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ công nhân viên, nâng cao trình độ chuyên môn… II. Một số đặc điểm kinh tế- kỹ thuật ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm của Công ty bánh kẹo Hải Hà 1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty. Sơ đồ 2: bộ máy tổ chức quản lý của công ty Tổng giám đốc Phó TGĐ tài chính Phòng tài vụ Các công ty liên doanh Liên doanh Miwoon Liên doanh kotobuki Văn phòng Tổ chức Bảo vệ Nhà ăn Vệ Sinh Hành chính Phó TGĐ điều hành thương mại Cửa hàng Kho Tiếp thị Phòng kinh doanh Phó TGĐ Kỹ thuật sản xuất XN Kẹo mềm XN kẹo cứng XN bánh XN phụ trợ Nhà máy thực phẩm việt trì Phòng kỹ thuật Phòng KCS Nhà máy bột dinh dưỡng trẻ em Nam Định Đứng đầu bộ máy lãnh đạo của công ty là Tổng Giám Đốc (TGĐ) do cấp trên bổ nhiệm sau khi đã tham khảo ý kiến của Đảng bộ và phiếu tín nhiệm của cán bộ, công nhân viên trong toàn công ty. Tổng Giám Đốc công ty quản lý công ty theo chế độ một thủ trưởng có quyền quyết định điều hành hoạt động của công ty theo đúng kế hoạch chính sách, Pháp luật của Nhà nước và Nghị quyết đại hội công nhân viên chức, chịu trách nhiệm trước Nhà Nước, tập thể người lao động về kết quả hoạt động sản xuất kiinh doanh của công ty. Tổng Giám Đốc là đại diện toàn quyền của Công ty trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh . Phó TGĐ điều hành thương mại: Chịu trách nhiệm về quản lý nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của công ty luôn đúng tiến độ và đạt các yêu cầu đặt ra. Phó TGĐ tài chính: chịu trách nhiệm về hoạt động tài chính, kiểm tra và giám sát phòng tài vụ . Phó TGĐ kỹ thuật- sản xuất: chịu trách nhiệm về chỉ đạo, kiểm tra kỹ thuật để đảm bảo hoàn thành kế hoạch sản xuất, cụ thể là giám sát hoạt động của phòng kỹ thuật và các xí nghiệp trên khía cạnh an toàn sản xuất, an toàn lao động, nghiên cứu và bảo dưõng thiết bị máy móc, đào tạo bồi dưỡng tay nghề. Phòng tổ chức hành chính: Lập định mức thời gian cho các loại sản phẩm, tuyển dụng lao động, phụ trách vấn đề bảo hiểm, an toàn lao động, vệ sinh công nghệ, phục vụ tiếp khách. Phòng kinh doanh gồm: Phòng Marketing, hệ thống cửa hàng, hệ thống kho làm nhiệm vụ tiếp cận thị trường, thu thập số liệu, xác định phương án kinh doanh. Phòng kỹ thuật: nghiên cứu, triển khai đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kiểm tra chất lượng sản phẩm, nghiên cứu chế thử sản phẩm mới. Bảo vệ, nhà ăn, y tế: Có chức năng kiểm tra, bảo vệ cơ sở vật chất, kỹ thuật của công ty, nhà ăn phục vụ cơm ca cho toàn công ty. Phòng tài vụ có nhiệm vụ huy động vốn sản xuất, tính giá thành, thanh toán ( nội bộ, vay bên ngoài) xử lý và cung cấp thông tin cho tổng giám đốc nhằm phục vụ tốt cho công tác quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh. 2. Đặc điểm về sản phẩm Hiện nay công ty sản xuất hơn 100 loại sản phẩm bánh kẹo. Các loại bánh được chia thành các nhóm cơ bản sau : Bảng 1: Cơ cấu sản phẩm của công ty bánh kẹo Hải Hà Mặt hàng Loại sản phẩm Sản phẩm Số loại sản phẩm của mỗi chủng loại Bánh Bánh Biscuits 9 Bánh Cracker 10 Bánh hộp 16 Bánh kem xốp 4 Kẹo Kẹo cân 5 Kẹo mềm Kẹo mềm 3 Kẹo mềm gói gối 10 Kẹo mềm gói xoắn 7 Kẹo Caramen mềm 3 Kẹo cứng Kẹo caramen cứng 5 Kẹo cứng gói gối 9 Kẹo cứng có nhân 14 Kẹo dẻo Kẹo gôm 1 Kẹo Jelly chip chip 3 Kẹo Jelly cốc 2 Bột canh Bột canh thường 1 Bột canh hảo hạng 1 Công ty thực hiện chính sách đa dạng hoá sản phẩm để phục vụ nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng. Tuy nhiên việc đa dạng hoá sản phẩm cũng có những nhược điểm nhất định như thiếu sự chú ý, quan tâm đến việc đầu tư theo chiều sâu vào sản phẩm nên không đáp ứng được nhu cầu khắt khe của khách hàng. Cuộc sống ngày càng nâng cao, giờ đây người dân ăn không chỉ để no mà còn phải biết thưởng thức vị ngon của hàng hoá. Hơn nữa do đặc điểm của bánh kẹo không phải là hàng hoá thiết yếu cho sinh hoạt hàng ngày của người dân mà họ chỉ mua sắm trong các dịp lễ, tết, đám hỏi, đám cưới ..Vì vậy tiêu chí chất lượng và mẫu mã sản phẩm đang trở thành tiêu chí hàng ._. chất lượng sản phẩm. Trên đây là những gợi ý sơ lược về chiến lược chất lượng của Công ty và để xây dựng được chiến lược chất lượng kết gắn với khả năng cạnh tranh, công ty bánh kẹo Hải Hà cũng như các doanh nghiệp Việt Nam phải quan tâm nghiên cứu đối thủ cạnh tranh để tìm những điểm mạnh, điểm yếu về sản phẩm, khả năng công nghệ và tình hình tài chính của họ. Tuy nhiên, chiến lược cạnh tranh phải dựa trên khai thác, sử dụng tối ưu nguồn lực, biến chúng thành tài sản có khả năng cạnh tranh,đảm bảo phát triển cả trong hiện tại và lâu dài. Chiến lược cạnh tranh không chỉ dựa vào lợi thế so sánh mà cần phải chủ động tạo ra lợi thế từ chiến lược nâng cao chất lượng toàn bộ quá trình. 2. Hoàn thiện cơ cấu lao động và nâng cao trình độ tay nghề, ý thức kỷ luật của cán bộ công nhân viên Đào tạo bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, kỹ năng tay nghề và những kiến thức về quản lý chất lượng là khâu có ý nghĩa quyết định đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của các doanh nghiệp. Đó cũng chính là các tiền đề cần thiết nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam. Thông qua các chiến lược và chương trình đào tạo cụ thể trong công ty nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ lao động là một việc làm cần thiết đối với Hải Hà để tạo ra một lực lượng lao động có đủ khả năng tiếp thu, thích ứng với những thách thức của môi trường kinh doanh hiện nay. Việc đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân phải tiến hành đồng thời những nội dung chủ yếu sau: Thứ nhất: Đào tạo nâng cao tay nghề, trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ công nhân viên tới cán bộ quản lý đến công nhân lao động trực tiếp. Đây là điều kiện tiền đề cho cá nhân nâng cao chất lượng công việc của mình nhờ có kiến thức chuyên môn vững vàng thu được qua đào tạo. Việc các nhà lãnh đạo nhận thức đúng đắn vấn đề nâng cao chất lượng sản phẩm để dáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng, của thị trường, quyết tâm đầu tư và áp dụng nhiều biện pháp để giải quyết vấn đề chất lượng là điều vô cùng quan trọng để phát triển chất lượng nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì lại không đủ. Nếu những người lãnh đạo doanh nghiệp mới quan tâm đầu tư cho chất lượng nhưng lại không làm cho mọi cán bộ công nhân trong doanh nghiệp mình quan tâm đến chất lượng thì kết quả cũng rất hạn chế. Việc người lao động có trình độ văn hoá ở mức cần thiết, có hiểu biết cặn kẽ về công việc mình đang làm hoặc có trình độ năng lực tương xứng với nhiệm vụ được giao là điều kiện tối cần thiết để đảm bảo được chất lượng công việc, đảm bảo được chất lượng sản phẩm do mình tạo ra. Cùng với điều kiện đó nếu như có thêm sự hăng hái, nhiệt tình , sự chủ động, sáng tạo của người lao động trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, sự phối hợp nhịp nhàng, sự hợp tác chặt chẽ với nhau ở những khâu có liên quan thì kết quả sẽ nhân nên rất nhiều lần. Nhưng để đạt được điều đó, công ty cần có kế hoạch phát triển nhân lực, xây dựng được chương trình đào tạo phù hợp. Căn cứ vào chiến lược phát triển kinh doanh trong từng giai đoạn để xây dựng kế hoạch đào tạo thích hợp, Công ty nên dành một khoản chi phí nhất định cho đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng, tay nghề cho cán bộ công nhân viên. Thứ hai: Đào tạo những kiến thức có liên quan đến chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh của công ty. Đây là những kiến thức rất cần thiết cho cán bộ quản lý doanh nghiệp. Trong điều kiện hiện nay, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trước hết là cạnh tranh về kỹ năng và trình độ quản lý thì với cùng điều kiện môi trường kinh doanh và những thách thức như nhau doanh nghiệp nào có đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ cao, khả năng thích ứng nhanh với những biến động trên thị trường sẽ tranh thủ được thời cơ, tạo ra lợi thế cạnh tranh. Vì vậy, đào tạo những kiến thức về thị trường, cạnh tranh và chất lượng cho đội ngũ cán bộ quản lý cần được đặc biệt quan tâm . Về việc tổ chức thực hiện, các biện pháp cụ thể được tiến hành như sau. -Biện pháp đào tạo. Thường xuyên mở lớp đào tạo bồi dưỡng nâng cao tay nghề, trình độ chuyên môn cho cán bộ kỹ thuật. Để làm được điều đó, hàng quý hàng năm công ty phải tổ chức kiểm tra tay nghề của công nhân. -Biện pháp dáo dục. Đây là biện pháp tác động về mặt tinh thần cho nên nó có vai trò quan trọng trong việc tạo ra con người mới. ở đây có thể là giáo dục đường nối chủ trương, ý thức lao động đồng thời xoá bỏ tâm lý, phong cách của người quản lý nhỏ xây dựng tác phong hiện đại, công nghiệp, có tinh thần tập thể có tính kỷ luật cao. -Biện pháp kinh tế: Đây là biện pháp tác động gián tiếp của người quản lý nên đối tượng quản lý thông qua các hình thức trung gian như đòn bẩy kinh tế và lợi ích kinh tế. -Biện pháp hành chính: Đây là biện pháp tác động trực tiếp của người quản lý nên đối tượng bị quản lý thông qua thể chế hoá hình thức nhằm đưa ra các tiêu chuẩn, định mức cho mỗi chức danh cán bộ, nhân viên trong công ty. Biện pháp này đòi hỏi phải nâng cao chất lượng khi ra quyết định. -Biện pháp tổng hợp: Biện pháp này thực chất là sự kết hợp của tất cả các biện pháp đã trình bày ở trên. Trong thực tế, các biện pháp này có mối quan hệ chặt chẽ, khó có thể áp dụng tách rời trong việc phát triển nguồn nhân lực của công ty. Công ty có đội ngũ công nhân lành nghề có ý thức kỷ luật tốt, có tác phong sản xuất công nghiệp sẽ là cốt lõi để công ty có thể thực hiện công tác đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm, là điều kiện quan trọng để công ty thực hiện công tác quản lý chất lượng theo một hệ thống chất lượng nhất định, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty ở thị trường trong nước cũng như quốc tế. 3. Đổi mới và cải tiến công nghệ thiết bị Kể từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường Công ty bánh kẹo Hải Hà đã không ngừng đầu tư máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ của nước ngoài nhưng vẫn bị hạn chế về vốn. Những năm gần đây do nhu cầu phát triển sản xuất công ty đã phải sử dụng nguồn vốn vay ngắn hạn, trung hạn để đầu tư mua sắm một số máy móc thiết bị như máy gói kẹo, dây chuyền sản xuất kẹo Caramel. Đây là một điều rất mạo hiểm mà hầu hết các doanh nghiệp ít sử dụng tuy nhiên việc nhập các dây chuyền công nghệ này được tính toán, phân tích kỹ lưỡng cho nên nó đã và đang mang lại nhiều lợi ích cho công ty do sản phẩm có chất lượng cao. Đây chính là một biện pháp mà không phải doanh nghiệp nào cũng có thể áp dụng được: Đó là đầu tư có trọng điểm. Việc đầu tư có trọng điểm vào hệ thống máy móc, dây chuyền công nghệ dựa trên cơ sở phân tích kỹ lưỡng về mặt kỹ thuật, kinh tế cho nên sẽ giảm được rủi ro rất nhiều. Cũng do nguyên nhân nguồn vốn hạn hẹp nên công ty chưa thể thay thế toàn bộ máy móc cũ, chưa đồng bộ hoá các dây chuyền sản xuất nên công ty phải áp dụng các biện pháp thay thế dần các thiết bị cũ, lạc hậu, dần dần tiến tới đồng bộ hoá dây chuyền sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm là một biện pháp hợp lý. Như thực trạng hiện nay, công ty cần đầu tư vào xí nghiệp kẹo nhiều hơn vì trên cơ sở dữ liệu về máy móc thiết bị của công ty thì phần lớn máy móc thiết bị của xí nghiệp kẹo đã quá cũ và lạc hậu như: - Hệ thống nồi nấu kẹo nhập của Balan năm 1975 nay đã xuống cấp gây ra hiện tượng kẹo bị hồi đường cần phải được thay thế. - Hệ thống làm lạnh thủ công cũng sớm phải được thay thế. - Hệ thống quật kẹo còn phải làm gia công tại chỗ nên kẹo không có sự tơi xốp đồng đều, tạo ra hiện tượng kẹo bị dai khi ăn bị dính. Công tác đầu tư thiết bị cần phải nhgiên cứu kỹ tránh tình trạnh muốn đầu tư mới nhưng lại mua phải thiết bị cũ như một số doanh nghiệp khác đã gặp phải. Trước khi bỏ một lượng vốn lớn để mua máy móc thiết bị cần nghiên cứu một số vấn đề sau: - Nghiên cứu về thị trường như khả năng cạnh tranh trên thị trường về giá cả, kiểu dáng, chất lượng, dự kiến phụ tùng thay thế khi cần thiết. - Nghiên cứu về kỹ thuật: Công suất của máy móc thiết bị đầu tư, quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm bằng máy móc thiết bị mới và các yếu tố rủi ro trong quy trình công nghệ. - Nghiên cứu sự phù hợp với nội lực của công ty như phù hợp về vốn, về trình độ của công nhân. Cùng với các dây chuyền công nghệ hiện đại mới nhập công ty phải có kế hoạch bảo dưỡng, bảo quản sửa chữa theo định kỳ, bảo đảm thực hiện tốt các mắt xích tu sửa nhằm đáp ứng nhu cầu tiến độ sản xuất, năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. 4.Tổ chức quản lý nguyên vật liệu ở tất cả các khâu trong nội bộ doanh nghiệp. Thứ nhất: Tổ chức tiếp nhận nguyên vật liệu là khâu quan trọng và là khâu mở đầu của việc quản lý nguyên vật liệu. Việc thực hiện tốt khâu này sẽ tạo điều kiện cho người quản lý nắm chắc số lượng, chất lượng, chủng loại của nguyên vật liệu trong kho. ở Công ty bánh kẹo Hải Hà, tất cả các nguyên vật liệu tiếp nhận đều được thủ kho kiểm tra, kiểm nghiệm ký về chất lượng nếu phát hiện nguyên vật liệu không đảm bảo yêu cầu thì công ty sẽ trả lại cho người cung ứng. Do tính cấp thiết đã nêu trên, theo tôi tổ chức tiếp nhận nguyên vật liệu phải đảm bảo tốt hai nhiệm vụ sau. - Phải tiếp nhận một cách chính xác về số lượng chủng loại, nhưng tuyệt đối phải đảm bảo chất lượng theo đúng nội dung và điều khoản đã kí kết trong hợp đồng kinh tế. - Phải vận chuyển một cách nhanh nhất để đưa nguyên vật liệu từ khâu tiếp nhận vào kho của doanh nghiệp, tránh được hư hỏng, mất mát và sẵn sàng cấp phát cho sản xuất theo đúng yêu cầu. Đây là nhiệm vụ rất quan trọng đối với Công ty bánh kẹo Hải Hà bởi vì phần lớn các nguyên vật liệu đều phải nhập ngoaị, quãng đường vận chuyển xa, các thủ tục nhập khẩu thường rất phức tạp trong khi đó các nguyên vật liệu để sản xuất bánh kẹo hầu hết dễ bị hư hỏng. Thứ hai: Tổ chức quản lý kho, Kho là nơi tập trung dự trữ nguyên vật liệu thiết bị máy móc, dụng cụ chuẩn bị cho quá trình sản xuất đồng thời cũng là nơi tập trung thành phẩm của doanh nghiệp trước khi đem đi tiêu thụ. Do tính chất phức tạp và đa dạng của nguyên vật liệu nên hệ thống kho của công ty phải có nhiều loại khác nhau phù họp với nhiều loại nguyên vật liệu. Hiện nay kho nguyên vật liệu của công ty đã có sơ đồ sắp xếp, phân loại theo quy cách phẩm chất của nguyên vật liệu. Các cán bộ quản lý với một hệ thống sổ sách theo dõi rõ ràng nên nắm vững chất lượng và lượng tồn kho. Việc thực hiện kiểm tra thường xuyên và xử lý kịp thời đã hạn chế được lượng vật tư hư hỏng. Tuy nhiên, hiện nay kho nguyên vật liệu của công ty đã được nâng cao, vấn đề quản lý kho cũng được chú trọng nhiều hơn song vẫn chưa đảm bảo được các điều kiện cần thiết. Do vậy để quản lý kho tốt, đảm bảo chất lượng nguyên vật liệu cần thực hiện một số biện pháp sau: - Công tác sắp xếp nguyên vật liệu dựa vào tính chất và đặc biệt nhưng cũng phải dựa trên nền tảng là kho tàng vật chất của công ty để đảm bảo vừa tiết kiệm được diện tích kho vừa đảm bảo được chất lượng nguyên vật liệu. - Bảo quản nguyên vật liệu phải thực hiện theo đúng quy trình, quy phạm của nhà nước ban hành để đảm bảo an toàn chất lượng nguyên vật liệu bằng cách xây dựng và thực hiện nội quy, chế độ trách nhiêm và kiểm tra kho thường xuyên. Thứ ba: Tổ chức cấp phát nguyên vật liệu. Việc cấp phát nguyên vật liệu một cách chính xác kịp thời khoa học sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tận dụng được thời gian, tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Dựa trên đặc điểm sản xuất của sản phẩm của Công ty bánh kẹo Hải Hà thì nên cấp phát theo thời gian tiến độ kế hoạch (còn gọi là cáp phát theo định mức). Đây là hình thức cấp phát theo quy định cả về số lượng và thời hạn nhằm tạo ra sự chủ động cho các bộ phận sử dụng và bộ phận cấp phát. Việc cấp phát được tiến hành theo hình thức này là hợp lý bởi vì đối với mỗi loại bánh kẹo công ty đã có những tiêu chuẩn định mức riêng. Tóm lại, nguyên vật liệu là một yếu tố tạo nên thực thể của sản phẩm. Nếu thiếu nguyên vật liệu thì sản xuất bị gián đoạn hoặc không thể sản xuất được; nếu chất lượng nguyên vật liệu không tốt sẽ không tạo ra được sản phẩm có chất lượng cao. Chính vì vậy, biện pháp tổ chức và quản lý chất lượng nguyên vật liệu ở tất cả các khâu trong nội bộ Công ty bánh kẹo Hải Hà là một biện pháp không thể thiếu. 5.Tập chung đầu tư cho công tác nghiên cứu thiết kế sản phẩm mới. Nâng cao năng lực thiết kế sản phẩm là một trong những biện pháp chủ động tích cực nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh của Hải Hà nói riêng cũng như các doanh nghiệp Việt Nam nói chung. Khả năng cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc vào mức độ thu hút hấp dẫn khách hàng. Mức độ hấp dẫn phụ thuộc vào sự đa dạng của sản phẩm. Vì vậy Hải hà cần quan tâm đến công tác thiết kế sản phẩm nhằm tạo ra nhiều sản phẩm mới hấp dẫn hơn, thu hút được nhiều khách hàng hơn. Trong những năm vừa qua, công ty đã cho ra đời sản phẩm mới như kẹo Jelly, bánh Cracker… nhưng những sản phẩm đó có tốc độ tiêu thụ nhanh chỉ trong một thời gian ngắn sau đó lại lắng xuống. Và thông thường những đợt tiêu thụ đó gắn liền với những đợt quảng cáo dầm dộ trên các phương tiện truyền thông. Vì vậy cần một khoản chi phí lớn do đó làm cho lợi nhuận giảm. Hơn nữa Hải Hà chưa thực sự có những sản phẩm cao cấp. Chính vì vậy công ty cần phải đầu tư cho việc thiết kế được sản phẩm mới đó là kết quả của sự phối hợp giữa năng lực của công ty với nhu cầu thị trường. Mẫu mã phong phú hợp thị hiếu là một tiêu chí cạnh tranh rất lớn. Nhận thức được điều đó chỉ trong một thời gian ngắn bộ mặt sản phẩm của Hải Hà đã thay đổi rất nhiều: màu sắc trên bao gói hài hoà, hấp dẫn , trước đây gói kẹo chủ yếu là gói gấp, gói xoắn, nay thêm hình thức gói bì thư, gói gối làm cho kiểu dáng đẹp hơn, thời gian bảo hành lâu hơn. Tuy nhiên sự thay đổi, cải tiến mẫu mã, phải được chọn lọc với những sản phẩm thích hợp với những sản phẩm đang trong giai đoạn tăng trưởng thì không nên thay đổi kiểu dáng mẫu mã. Phát triển được sản phẩm mới sẽ tăng khả năng cạnh tranh của công ty nhưng để làm được điều đó đoì hỏi công ty phải động viên thu hút được đội ngũ lao động kỹ thuật vào nâng cao năng lực nghiên cưú, triển khai phát triển sản phẩm mới. Trong nghiên cứu thiết kế sản phẩm mới phải luôn luôn xuất phát từ nhu cầu thị trường nhằm thoả mãn khách hàng ngày càng cao hơn. 6.Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng theo ISO9000:2000 Từ cách đổi mới nhận thức về chất lượng và quản lý chất lượng, công ty cần có một hệ thống quản lý chât lượng phù hợp với yêu cầu đặt ra và áp dụng quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO9000: 2000 là một bước đi đũng đắn nhất. Công ty bắt đầu quản lý về lề lối, có ý thức về chất lượng nhưng các hoạt động chưa có nề nếp ổn định. Các cán bộ lãnh đạo trong công ty đã cảm nhận được sự cần thiết phải quản lý công việc bằng chất lượng. Khi áp dụng ISO9000 thành công thì sản phẩm của công ty sẽ có tính cạnh tranh cao cả trong và ngoài nước, sản phẩm sẽ dễ dàng hơn trong việc thâm nhập vào thị trường thế giới bởi công ty đã có giấy thông hành là ISO9000. ISO9000:2000 cũng là nền tảng để từ đó công ty có thể tiến hành áp dụng thêm các hệ thống quản lý chất lượng khác như: TQM, HACCP, GMP .. Để xây dựng hệ thống chất lượng theo tiêu chuẩn ISO9000, đầu tiên công ty phải thành lập một ban chỉ đạo gồm Tổng giám đốc và các cán bộ chuyên trách, lãnh đạo của công ty, đại diện là Tổng giám đốc đưa ra cam kết, định hướng và cung cấp nguồn lực để thực hiện. Trong ban chỉ đạo ISO, bầu ra một người đại diện lãnh đạo về chất lượng để làm đầu mối liên lạc và theo dõi giám sát tiến trình thực hiện, có trách nhiệm thường xuyên báo cáo ban lãnh đạo về các hoạt động chất lượng. Tiếp đó công ty thành lập một ban trực tiếp hành động. Ban này gồm các cán bộ quản lý của các phòng ban, các xí nghiệp sản xuất có trách nhiệm trực tiếp triển khai các hoạt động. Các thành viên của ban này có nhiệm vụ đánh giá thực trạng của công ty theo các yêu cầu của tiêu chuẩn ISO đã chọn. Việc đánh giá định kỳ toàn bộ hệ thống chất lượng ISO9000 trong giai đoạn đầu áp dụng có thể là một tháng một lần. Trong quá trình áp dụng, Công ty phải thường xuyên quan tâm đến việc đào tạo và tự đào tạo, sử dụng các công cụ thống kê để xác định đúng các nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm và dịch vụ từ đó đề ra các giải pháp thích hợp để giảm sự biến động so với tiêu chuẩn chất lượng. Một trong những công cụ thống kê sử dụng đó là sơ đồ nhân quả và biểu đồ kiểm soát X - R. - Sơ đồ nhân quả: Sơ đồ 5: Sơ đồ xác định nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm Con người Máy móc thiết bị Nguyên vật liệu Thái độ An toàn Tinh thần TĐ công nghệ Chủng loại Nguồn gốc Kỹ năng Tính đồng bộ Chất lượng CLSP Dụng cụ đo Bầu không khí Cơ sở vật chất hạ tầng Người đo P. pháp đo Mối quan hệ nghề nghiệp Hệ thống đo Môi trường - Biểu đồ kiểm soát. Đây là đồ thị có các đường thống kê đặc trưng để kiểm soát độ biến thiên của quá trình, đảm bảo sự ổn định của hệ thống. Có nhiều dạng biểu đồ kiểm soát như : Biểu đồ X-R, biểu đồ P, biểu đồ C VD: Có bảng đo chi tiết một sản phẩm kẹo như sau Với A2= 0,775, D3= 0, D4= 2,12 Với giới hạn dưới quy định là 65, giới hạn trên là 80. Nhóm mẫu Kết quả đo tại lúc `X R 7 giờ 8giờ 9giờ 10giờ 11giờ 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 70 80 65 78 81 71 82 79 63 69 75 60 72 62 76 69 80 79 82 81 68 78 82 80 67 79 79 82 80 76 72 69 70 64 72 80 78 80 72 76 75 73 71 77 78 82 79 69 71 69 72 72 72 72,2 74,8 76,2 79,6 77,8 73,6 73,8 7 20 17 18 14 13 4 13 19 14 Ta có: S Xi X = = 74,4 m S R `R = = 13,9 m Biêủ đồ kiểm soát: `X UCLx= `X + A2. `R = 85,17 X LCLx = `X- A2. `R = 63,62 Biểu đồ kiểm soát: R UCL = D4. `R = 29,468 R LCL = D3. `R = 0 Đồ thị: 85,17 UCLx= 85,17 X 75 X = 74,4 63,62 LCLx= 63,62 29,468 UCL = 29,468 R 13,9 `R= 13,9 0 UCL= 0 iII. ảnh hưởng của các giải pháp tới giá thành sản phẩm và khả năng cạnh tranh trên thị trường Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một điều kiện và yếu tố kích thích trong kinh doanh, là môi trường động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động và tạo đà cho sự phát triển xã hội nói chung. Như vậy, cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hoá, là nội dung cơ chế vận động của thị trường. Sản xuất càng phát triển, hàng hoá bán ra càng nhiều, số lượng người cung ứng càng tăng thì cạnh tranh càng gay gắt. Kết quả cạnh tranh sẽ là sự loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả và sự tồn tại phát triển của những doanh nghiệp làm ăn tốt. Đó là quy luật của sự phát triển, là cơ sở tiền đề cho sự thành công của mỗi quốc gia trong vấn đề thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Vấn đề đặt ra ở đây đó là việc giải quyết được mâu thuẫn giữa việc nâng cao chất lượng sản phẩm với hạ giá thành của sản phẩm. Như chúng ta đã biết chiến lược sản phẩm (trong đó có việc nâng cao chất lượng sản phẩm) và chiến lược giá cả là hai trong số những biện pháp cơ bản để nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường. Nếu chúng ta thực hiện đầy đủ những biện pháp nêu trên tất yếu phải bỏ ra thêm một số chi phí nhất định như: Chi phí đào tạo nâng cao tay nghề cho công nhân, chi phí cải tổ bộ phận thành lập phòng marketing, chi phí đổi mới máy móc thiết bị… Tất cả những chi phí này đều có ảnh hưởng đến việc nâng cao giá thành sản phẩm. Vậy câu hỏi đưa ra: “Chất lượng cao nhưng cũng làm tăng giá thành sản phẩm liệu có làm giảm khả năng cạnh tranh của Công ty trên thị trường?”. Sau đây là một số ý kiên về vấn đề này: Thứ nhất: Nhu cầu tiêu dùng càng phát triển thị trường càng đòi hỏi phải có các loại sản phẩm có chất lượng cao. Vì vậy, theo xu hướng hiện nay cạnh tranh về giá cả xẽ có xu hướng dịch chuyển sang cạnh tranh về chất lượng. ở phần này chỉ nhấn mạnh đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng cường sức cạnh tranh. Như chúng ta đã biết chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, các đặc trưng kinh tế kỹ thuật, thể hiện được sự thoả mãn nhu câù trong những điều kiện tiêu dùmg xác định, phù hợp với công dụng mà người tiêu dùng mong muốn. Như vậy những biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ phải quan tâm đến cả hai khía cạnh đó là: Chất lượng với các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật và chất lượng với sự phù hợp với nhu cầu thị trường. Một khi đã phù hợp với nhu cầu thị trường khách hàng sẽ mua nhiều hàng hoá của Công ty hơn có khả năng dẫn đến thị phần tăng, doanh thu tăng, vị thế và uy tín được củng cố… đó là hàng loạt các yếu tố làm tăng khả năng cạnh tranh của một công ty trên thị trường. Thứ hai: Như câu hỏi đã đặt ra để thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm của Công ty cần có một số chi phí cần thiết có thể gọi là “ Chi phí làm tốt chất lượng”. Gồm hai nhóm chính: - Chi phí phòng ngừa: Là loại chi phí mà Công ty dùng trong quá trình thiết kế sản xuất sản phẩm, cố gắng sao cho không có thành phẩm nào không phù hợp với đặc tính kinh tế kỹ thuật. Nói đơn giản nó là những chi phí nhằm ngăn chặn không cho những sản phẩm kém chất lượng tới tay người tiêu dùng. Chính sách phòng ngừa phản ánh triết lý chất lượng là: “Làm tốt ngay từ đầu “ và đó cũng là mục tiêu cuối cùng của phần lớn các chương trình chất lượng. Thí dụ về các chi phí phòng ngừa như là: Chi phí đặt kế hoạch chất lượng, chi phí thiết kế sản phẩm, chi phí kiểm soát quá trình, chi phí đào tạo… - Chi phí đánh giá thử nghiệm: Đây là những chi phí về đo lường phân tích nguyên vật liệu, các quá trình sản xuất nhằm đảm bảo các đặc tính chất lượng phù hợp với yêu cầu. Thí dụ về các chi phí đánh giá kiểm nghiệm như: Chi phí kiểm tra và thử nghiệm tính năng, các nguyên vật liệu mà người bán giao cho, chi phí phục vụ cho việc kiểm tra quá trình vận hành của dây truyền sản xuất, dịch vụ kỹ thuật, chi phí cho việc dùng để duy trì các thiết bị kiểm tra và bảo dưỡng sao cho chúng luôn ở trong tình trạng làm việc tốt, chi phí về thời gian người điều khiển máy thu thập số liệu kiểm tra chất lượng sản phẩm… Như một điều không thể phủ nhận đó là: Tuy công ty đã bỏ ra thêm một khoản chi phí không nhỏ để đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm đến tay người tiêu dùng nhưng Công ty lại giảm được một loạt các chi phí do chất lượng sản phẩm kém gây ra ví dụ như: Chi phí sai sót bên trong: Là những chi phí do sản phẩm kém chất lượng phát hiện trước khi giao chúng cho khách hàng. Các chi phí này gồm: + Lãng phí: Là chi phí nảy sinh do phải tiến hành những việc làm không cần thiết do nhầm lẫm, do tổ chức tồi, chọn nguyên vật liệu sai… + Phế phẩm: Sản phẩm có khuyết tật không thể sửa chữa, không thể dùng hoặc bán được. Những chi phí liên quan đến phế phẩm như chi phí loại bỏ sản phẩm kém chất lượng, chi phí hao tốn nguyên vật liệu, hao tốn nhân công… + Chi phí gia công lại sản phẩm không đủ tiêu chuẩn chất lượng. + Chi phí kiểm tra lại các sản phẩm sau khi sửa chữa. + Chi phí ngừng việc để sửa chữa máy móc. Chi phí sai sót bên ngoài: Những chi phí phát sinh do sản phẩm không đủ tiêu chuẩn chất lượng từ trong quá trình gia công nhưng chỉ được phát hiện khi đã giao cho khách hàng. Các chi phí về sai sót bên ngoài như: + Chi phí do khách hàng khiếu nại: Những chi phí này nảy sinh khi Công ty tiến hành điều tra và làm khách hàng vừa ý sau khi đã khiếu nại về chất lượng sản phẩm. + Chi phí do mất doanh số bán là chi phí cơ hội bán thêm hàng do khách hàng không mua thêm nữa vì mất lòng tin vào sản phẩm của Công ty… Như vậy, khi thực hiện các giải pháp để nâng cao chất lượng sản phẩm cần một khoản chi phí nhưng đồng thời cũng giảm được một số chi phí do sản phẩm kém chất lượng gây ra. Vậy không hẳn các giải pháp này sẽ làm tằng tới mức mà người tiêu dùng không chấp nhận sản phẩm của công ty mà ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của công ty. Hơn nữa, chất lượng sản phẩm được đảm bảo sẽ làm tăng được uy tín của sản phẩm, giúp công ty mở rộng được thị trường nhờ thu hút được khách hàng, đây là yếu tố rất cần thiết để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Thứ ba: Trong các biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm thì việc đầu tư đổi mới máy móc thiết bị đòi hỏi phải có một nguồn vốn lớn đây là yếu tố có thể làm giá thành sản phẩm tăng cao, có khả năng ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh trên thị trường. Chúng ta sẽ xem xét riêng giải pháp này như sau: - Tình trạng máy móc, thiết bị và công nghệ là một trong những yếu tố có ảnh hưởng sâu sắc tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nó là yếu tố vật chất quan trọng bậc nhất thể hiện năng lực sản xuất của một doanh nghiệp và tác động trực tiếp tới chất lượng sản phẩm, đến giá thành và giá bán sản phẩm. Không có một doanh nghiệp nào có thể nói là có khả năng cạnh tranh cao mà trong tay họ là cả một hệ thống máy móc thiết bị cũ kỹ với công nghệ sản xuất lạc hậu. Do đó, việc đổi mới công nghệ là một giải pháp tất yếu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm đồng thời tăng khả năng cạnh tranh của Công ty. - Hơn nữa, trong điều kiện như hiện nay sự tiến bộ nhanh chóng không ngừng của khoa học công nghệ cùng với sự phát triển ngày càng cao của nhu cầu thị trường làm cho vòng đời sản phẩm bị rút ngắn, doanh nghiệp cần có nhiều chủng loại sản phẩm hàng hoá để hỗ trợ lẫn nhau, thay thế lẫn nhau. Do vậy, việc đổi mới dây truyền công nghệ không chỉ đảm bảo chất lượng mà còn tạo ra những sản phẩm mới đáp ứng được nhu cầu thị trường rất đa dạng phong phú và phức tạp. Đây chính là một lợi thế cuả Công ty trong việc cạnh tranh trên thị trường. Điều này đã được chứng minh trên thực tế ở Công ty bánh kẹo Hải Hà đó là Công ty đã đổi mới dây truyền sản xuất kẹo cứng ở Công ty. Sản phẩm kẹo cứng có nhân là loại sản phẩm lần đầu tiên được sản xuất ở Việt Nam tại Công ty bánh kẹo Hải Hà như: Kẹo cứng nhân dừa, kẹo cứng nhân sô cô la, kẹo cứng nhân dứa…. Loại kẹo này có mùi đặc trưng, ròn, hương vị được nhiều người ưa thích và trong thời gian đầu số lượng tiêu thụ sản phẩm loại này tăng rất nhanh đem lại nhiều lợi nhuận cho Công ty do đây là sản phẩm mới lạ lại hợp khẩu vị người tiêu dùng. - Đó là, những dây truyền công nghệ mới để sản xuất các sản phẩm mới mang đặc trưng riêng biệt, còn đối với việc nhập công nghệ mới để sản xuất các sản phẩm truyền thống cũng thực sự cần thiết. Việc nhập các dây truyền này tất yếu sẽ làm tăng giá thành sản xuất sản phẩm nhưng chúng ta có thể xem xét việc nhập ở khía cạnh lợi ích mà nó mang lại: Dây truyền mới tốt hơn, đồng bộ hơn sẽ làm cho năng suất tăng lên, chất lượng tăng lên cũng làm giảm được những chi phí sai hỏng… Hơn nữa, Công ty có thể áp dụng biện pháp tính giá chia đều cho các tháng trong quí hoặc năm sẽ giải quyết được việc tăng giá một cách đột ngột làm ảnh hưởng đến sự cạnh tranh của Công ty do giá thành cao. Kết luận Cùng với sự phát triển của kỹ thuật trong nền công nghiệp hiện đại, những yêu cầu về chất lượng đã trở nên cao hơn. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, cuộc cạnh tranh diễn ra hết sức gay gắt. Hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam đang chịu sức ép rất lớn bởi: Môi trường kinh doanh đã thay đổi như: cung > cầu Sự cạnh tranh diễn ra không chỉ trong mỗi nước mà mang tính toàn cầu. Luật quốc tế và luật quốc gia ngày càng gay gắt hơn. Sức ép của thị trường trong nước và quốc tế. Việt Nam ra nhập ASEAN, chương trình thiết lập khu mậu dịch tự do (AFTA) vào năm 2003. Theo chương trình này, thuế nhập khẩu của hầu hết các mặt hàng sẽ giảm về 0%-5%, xoá bỏ các biện pháp hạn định về số lượng, các hàng rào phi thuế quan. Tham gia AFTA hàng hoá Việt Nam có cơ hội thâm nhập vào thị trường các nước ASEAN khác và ngược lại cánh cửa của thị trường Việt Nam được mở rộng hơn để đón nhận hàng hoá từ các nước ASEAN vào. Thông qua chương trình AFTA Việt Nam có cơ hội để đẩy mạnh xuất khẩu vào các nước ASEAN. Tuy nhiên, để thâm nhập và giữ được thị trường của mình, điều trước tiên là hàng hoá phải có sức cạnh tranh về giá cả và chất lượng. Như vậy, chất lượng sản phẩm đã trở thành vấn đề sống còn của mỗi doanh nghiệp, chỉ bằng cách nâng cao chất lượng sản phẩm thì mới có thể phục vụ tại chỗ và xuất khẩu cũng như mới có thể đứng vững trong cuộc cạnh tranh thị trường đầy gay gắt. Một câu hỏi luôn được đặt ra với các nhà quản trị đó là làm thế nào để nâng cao chất lượng sản phẩm của công ty. Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: “Chất lượng sản phẩm với việc nâng cao khả năng cạnh tranh ở công ty bánh kẹo Hải Hà”. Luận văn tốt nghiệp đã dựa trên cơ sở lý luận khoa học quản lý về chất lượng như các khái niệm, đặc điểm, các nhân tố ảnh hưởng, các chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm cũng như các lý thuyết về sự cạnh tranh như khái niệm đặc điểm và các hình thức cạnh tranh. Kết hợp với đó luận văn tốt nghiệp đề cập tới kết quả hoạt động kinh doanh của công ty bánh kẹo Hải Hà trong những năm gần đây và tình hình chất lượng sản phẩm khả năng cạnh tranh của công ty nói riêng từ đó rút ra những điểm mạnh, điểm yếu và các nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, khó khăn. Căn cứ vào các vấn đề cơ bản nêu trên chuyên đề mạnh dạn đưa ra một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng tính cạnh tranh của sản phẩm bánh kẹo Hải Hà, những ý kiến trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa việc nâng cao chất lượng sản phẩm với giá thành sản phẩm. Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo cùng với sự nhiệt tình giúp đỡ của các cô chú phòng kinh doanh và các phòng ban khác của công ty bánh kẹo Hải Hà, qua đó đã giúp tôi hoàn thiện luận văn tốt nghiệp. Tôi xin chân thành cảm ơn! Tài liệu tham khảo 1. Chiến lược cạnh tranh thị trường - Nguyễn Hữu Thân 2. Chất lượng năng suất và sức cạnh tranh- Phạm Huy Hân và Nguyễn Quang Hồng. 3. Chiến lược cạnh tranh - Pokter M.E 4. Đổi mới quản lí chất lượng trong thời kì mới. - Hoàng Mạnh Tuấn. 5. Quản trị chất lượng trong doanh nghiệp. - Đặng Minh Trang. 6. Quản lí chất lượng trong các doanh nghiệp Việt Nam. -Nguyễn Quốc Cừ. 7. Quản lý chất lượng trong doanh nghiệp theo TCVN ISO9000: Nguyễn Kim Định - Nhà xuất bản thống kế 1998. 8. Nguyễn Quang Toản: TQM và ISO9000, Nhà xuất bản Thống kê 1996 9. Hệ thống tiêu chuẩn chất lượng Việt nam 1999. Tổng cục TC-ĐL-CL 10. Tạp chí Viện Thông tin Khoa học-Học viện Hành chính quốc gia, 12/1997. 11. Một số tạp chí kinh tế và phát triển. 12. Tạp chí tiêu chuẩn đo lường chất lượng số 2, số 7/ 2000, số12/2001, số 4/2001, số 5/2001 13. Báo cáo tổng kết 2001 của công ty bánh kẹo Hải Hà. ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docJ0044.doc