Cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa ở nước ta

A. Phần mở đầu Việc nghiên cứu lý thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin về nền kinh tế thị trường là cần thiết không chỉ đối với những người nghiên cứu khoa học kinh tế, đối với cán bộ quản lý kinh doanh, với những người có nhiệm vụ hoạch định đường lối phát triển kinh tế của đất nước, mà nó rất cần thiết đối với mỗi sinh viên, mỗi con người mỗi gia đình trong xã hội. Lý thuyết về nền kinh tế thị trường của chủ nghĩa Mác Lênin là một nội dung hết sức to lớn và rất quan trọng trong học thuyết của chủ

doc12 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1300 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa ở nước ta, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
nghĩa Mác Lênin. Cùng với lý luận về giá trị thặng dư, học thuyết hình thái kinh tế xã hội, thì lý thuyết về nền kinh tế thị trường là một phát kiến vĩ đại của Mác mà sau này đã được Lênin phát triển và hoàn thiện, nó là hòn đá tảng của chủ nghĩa Mác Lênin, cho đến cả ngày hôm nay và mai sau. Trong bối cảnh đầy biến động của thị trường thế giới nói chung cũng như thị trường Việt Nam nói riêng. Đảng ta vẫn kiên định mục tiêu độ lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Để có cơ sở hiểu hơn lý thuyết của Mác-Lênin, có cơ sở cho thống nhất cao hơn đường lối của Đảng ta, vấn đề nghiên cứu, nắm vững lý thuyết về nền kinh tế thị trường của chủ nghĩa Mác Lênin là hết sức cần thiết. Em chọn đề tài: Cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Với đề tài này, bước đầu nghiên cứu một số vấn đề lý thuyết nền kinh tế thị trường qua đó làm rõ hơn xây dựng thêm lòng tin về đường lối mới của Đảng ta. B. Phần Nội Dung: I. Cơ chế thị trường: 1. Khái niệm về cơ chế thị trường : Cơ chế thị trường là tổng thể hữu cơ của các mối quan hệ kinh tế tiêu biểu ở các yếu tố cung, cầu và giá cả: chịu sự chi phối của “bàn tay vô hình” hay các quy luật kinh tế vốn có của kinh tế thị trường; đảm bảo nền kinh tế thị trường có thể tự vận động, tự điều chỉnh được. Khi nói tới cơ chế thị trường là nói tới bộ máy tự điều tiết quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá, điều tiết sự vận động của nền kinh tế thị trường. Cơ chế thị trường là tổng thể các nhân tố, quan hệ, môi trường, động lực và quy luật phân phối sự vận động của thị trường. Cũng có thể khái quát cơ chế thị trường chính là “bộ máy” kinh tế điều tiết toàn bộ sự vận động của kinh tế thị trường, điều tiết quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá thông qua sự tác động của các quy luật kinh tế của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là quy luật giá trị-quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và lưu thông hàng hoá. Sự hoạt động của quy luật giá trị có biểu hiện: giá cả thị trường lên xuống xoay quanh giá trị thị trường của hàng hoá. Nghĩa là sự hình thành giá cả trên thị trường phải dựa trên cơ sở giá trị thị trường. Ngoài giá trị thị trường, sự hình thành giá cả thị trường còn phải chịu tác động của quan hệ cung cầu hàng hoá. Tính quy luật của quan hệ giữa giá cả thị trường với giá trị trong tác động của quan hệ cung cầu được biểu hiện. Cung cầu trong cơ chế thị trường : Nếu cung lớn hơn cầu thì giá cả thị trường sẽ nhỏ hơn giá trị thị trường còn nếu cung nhỏ hơn cầu thì giá cả thị trường sẽ lớn hơn giá trị thị trường. Sự vận động của giá cả thị trường cũng có tác động tới quan hệ cung cầu hàng hoá. Nếu giá cả của một loại hàng hoá nào đó giảm xuống, nó sẽ kích thích mức cầu, làm cho mức cầu thị trường của loại hàng hoá này tăng lên. Đồng thời giá cả giảm xuống. Ngược lại, nếu giá cả của một loại hàng hoá nào đó tăng lên, nó sẽ kích thích mức cung làm cho mức cung giảm xuống. Ngược lại nếu giá cả của một loại hàng hoá nào đó tăng lên, đồng thời hạn chế mức cầu làm cho mức cầu giảm xuống. Như vậy có thể nhận biết được quan hệ cung cầu qua giá cả thị trường. Quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường là những biểu hiện của những người bán và những người mua cũng như quan hệ giưã những người sản xuất và những người tiêu dùng. Trên thị trường người bán luôn bán hàng hoá của mình với giá cao, còn người mua thì lại luôn luôn muốn mua hàng hoá với giá thấp. Trên cơ sở giá trị thị trường, giá cả thị trường là kết quả của sự thoả thuận giữa người mua với người bán. Cũng thông qua sự biến động của giá cả thị trường, quy luật giá trị có tác dụng điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá. Điều tiết sản xuất hàng hoá được hiểu theo nghĩa là điều tiết tư liệu sản xuất và sức lao động vào từng ngành kinh tế. Nếu giá cả của hàng hoá trong một ngành kinh tế nào đó tăng lên thì ngành đó sẽ thu hút lao động xã hội, làm cho quy mô sản xuất của ngành này tăng lên. Ngược lại, nếu giá cả của hàng hoá có xu hướng tăng lên sẽ làm cho những người sản xuất hàng hoá thu được nhiều lợi nhuận hơn. Điều này tạo ra động lực thúc đẩy những người sản xuất hàng hoá khai thác những khả năng tiềm tàng, tranh thủ giá cả cao, mở rộng quy mô sản xuất có xu hướng ngược lại, nghĩa là giá cả giảm xuống sẽ làm cho quy mô sản xuất thu hẹp lại. Như vậy, lợi nhuận là động lực thúc đẩy hoạt động của cơ chế thị trường. Giá cả trong cơ chế thị trường Thông qua sự biến động của giá cả thị trường, quy luật giá trị còn có tác dụng điều tiết lưu thông hàng hoá, nghĩa là chi phối luồng vận động của hàng hoá. Hàng hoá sẽ được vận chuyển từ những thị trường có giá thấp đến thị trường có giá cả cao. Khả năng tách rời giá trị của giá cả không phải là nhược điểm của quy luật giá trị mà trái lại nó là vẽ đẹp riêng biệt của quy luật giá trị: là cơ chế hoạt động của quy luật giá trị. Nếu giá cả của hàng hoá luôn ngang bằng với giá trị của nó thì không có sự hoạt động của quy luật giá trị, nói khác đi điều đó cũng có nghĩa là phủ định của quy luật giá trị. Trong giai đoạn tự do cạnh tranh, vì giá trị hàng hoá chuyển hoá thành giá cả sản xuất (giá cả sản xuất = chi phí sản xuất + lợi nhuận bình quân) cho nên hoạt động của quy luật giá trị trong giai đoạn này có thể biểu hiện: giá cả thị trường lên xuống xoay quanh giá cả sản xuất. Còn đối với giai đoạn độc quyền, sự hoạt động của quy luật giá trị có biểu hiện mới giá cả thị trường lên xuống xung quanh giá cả độc quyền. Giới hạn thấp nhất của giá cả thị trường là chi phí sản xuất (C+V) giá cả phải bù đắp được chi phí sản xuất. Giới hạn trên của giá cả tuỳ thuộc vào hoàn cảnh thị trường. Người bán phải biết bán với giá cao, nhưng giá cao quá sẽ có lợi cho đối thủ cạnh tranh vì người mua luôn muốn mua với giá thấp. Giá bán cao quá sẽ mất khách hàng, hàng hoá khó tiêu thụ, bước chuyển hoá thành tiền không thực hiện được. Vì vậy giới hạn trên của giá cả chính là nhu cầu có khả năng thanh toán của người mua. Qua đó ta có thể sơ lược về chức năng của giá cả thị trường như sau: - Chức năng thông tin: giá cả là phương tiện phát tín hiệu thông qua đó các doanh nghiệp biết được mình cần phải sản xuất những loại hàng hoá gì để thu được lợi nhuận cao, giá cả thấp sẽ không hấp dẫn các nhà kinh doanh. - Giá cả làm cân bằng cung cầu nếu các nguồn lực được sử dụng hợp lý. - Giá cả làm chức năng phân phối và phân phối lại của các tấng lớp dân cư trong xã hội - Giá cả là phương tiện nối liền hàng hoá với tiền tệ, người sản xuất với người tiêu dùng. nói tới cơ chế thị trường là nói tới cơ chế tự vận động của thị trường theo những quy luật nội tại của nó: quy luật nội tại, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ. Quy luật lưu thông tiền tệ xác định khối lượng tiền tệ trong lưu thông nhằm đảm bảo sự hoạt động nhịp nhàng của cơ chế thị trường. Việc thừa hoặc thiếu đều dẫn tới tác động tiêu cực. Nếu thiếu tiền, hàng hoá không lưu thông được. Nếu thừa tiền sẽ gây nên tình trạng lạm phát, giá cả hàng hoá tăng vọt, thị trường bất ổn định. Vậy chúng ta có thể nói sự tồn tại và phát triển của cơ chế thị trường là yêu cầu khách quan đối với những xã hội còn tồn tại nền kinh tế hàng hoá. Coi nhẹ hay bỏ qua vai trò của kinh tế thị trường là một trong những nguyên nhân sâu xa thất bại trên lĩnh vực kinh tế. Chính vì vậy mà cơ chế thị trường được phát hiện khá sớm. Cơ chế thị trường được coi là “ bàn tay vô hình” điều tiết sự vận động của nền kinh tế hàng hoá. 2. Những ưu điểm và khuyết điểm của cơ chế thị trường ã Ưu điểm: - Khi cơ chế thị trường phát triển thì kích thích mạnh việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng năng suất lao động, nâng cao trình độ xã hội hoá sản xuất. Kinh tế thị trường lấy lợi nhuận siêu ngạch làm động lực hoạt động. Động lực này đòi hỏi các doanh nghiệp thường xuyên hạ thấp chi phí lao động cá biệt xuống thấp hơn chi phí lao động xã hội cần thiết. Điều này đòi hỏi phải nâng cao năng suất lao động trên cơ sở áp dụng những thành tựu mới của khoa học kỹ thuật công nghệ. Cơ chế thị trường có tính năng động và khả năng thích nghi nhanh chóng. Sở dĩ như vậy là vì: trong kinh tế thị trường tồn tại một nguyên tắc ai đưa ra thị trường một loại hàng hoá mới và đưa ta sớm nhất sẽ thu được lợi nhuận nhiều nhất. Điều đó tất yếu đòi hoải phải năng động thường xuyên. Trong nền kinh tế thị trường hàng hoá rất phong phú đa dạng. Do vậy, nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thoả mãn ngày càng tốt hơn những nhu cầu vật chất, văn hoá và sự phát triển toàn diện của mọi thành viên xã hội. ã Những nhược điểm của cơ chế thị trường. Ngoài những ưu điểm thì nó cũng không ít những nhược điểm hạn chế như sau. Trước hết phải nói tới những bệnh gắn liền với sự hoạt động của cơ chế thị trường đó là: khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, lạm phát, phân hoá giầu nghèo và gây ô nhiễm môi trường sống nghiêm trọng. Khủng hoảng sản xuất “thừa” là căn bệnh cố hữu của các nền kinh tế thị trường phát triển, ở đây do mức cung hàng hoá vượt mức cầu có khả năng thanh toán cho nên dẫu đến tình trạng dư thừa hàng hoá. Nguyên nhân của tình trạng đó là do mâu thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Mâu thuẩn này được thể hiện ở tính cao độ trong từng doanh nghiệp với tính vô chính phủ trên toàn bộ nền sản xuất xã hội. Xu hướng mở rộng sản xuất vô hạn mâu thuẫn với sức mua có hạn của quần chúng. Mâu thuẩn đối kháng giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Gắn liền với khủng hoảng kinh tế là nạn thất nghiệp của người lao đọng, đây là một căn bệnh nan giải của kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường tạo ra sự phân hoá giai cấp, do đó nó cũng làm tăng thêm mâu thuẩn giai cấp. Tác động của kinh tế thị trường đã dẫn đến tình trạng một số người phát tài giầu có, còn một số người khác bị phá sản trở thành những người làm thuê. Sự đối kháng về kinh tế là cơ sở của đấu tranh giai cấp. Một khuyết tật của cơ chế thị trường cần thiết phải kể đến là gây ô nhiểm môi trường sinh tái, tàn phá đất đai, rừng đầu nguồn, khí thải công nghiêp làm cho nhiệt độ của trái đất ngày càng nóng lên. Chỉ do chạy theo lợi nhuận trước mắt mà không tính toán đến hiểm hoạ đang đe doạ toàn nhân loại. Tóm lại, cơ chế thị trường tác động điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá. Chi phối sự vận động của cơ chế thị trường. Những sự điều tiết đó mang tính chất mù quáng. Hơn nữa sự vận động của cơ chế thị trường tất yếu dẫn tới những mâu thuẩn và xung đột có người giầu lên lại có người ngèo đi. Cạnh tranh khó tránh kkhỏi sự lừa gạt, phá sản và thất nghiệp ... thị trường tất cả đã gây nên tình trạng không bình thường trong quan hệ kinh tế và dẫn tới sự mất ổn định xã hội. Vì vậy, xã hội đòi hỏi phải có sự kiểm tra, điều tiết, định hướng một cách có ý thức đối với sự vận động của cơ chế thị trường. Đó là lý do cần thiết lập vai trò quản lý của Nhà nước ở tất cả các nước có nền kinh tế thị trường, ở nước ta sự quản lý của Nhà nước nhằm hướng tới sự ổn định về kinh tế xã hội, sự công bằng và hiệu quả cũng như làm cho nền kinh tế ngày càng tăng trưởng và phát triển với tốc độ cao. II. các lý thuyết về cơ chế thị trường và sự quản lý của nhà nước: 1. Cơ chế thị trường trong nền KTTT cạnh tranh tự do (Học thuyết của A.Smith & D.Ricardo) Nghiên cứu cơ chế thị trường tự do cạnh tranh có hai nhà kinh tế học nổi tiếng: A. Smith và D. Ricardo. Học thuyết của hai ông đã đưa KTCT tư sản cổ điển phát triển đến đỉnh cao nhất ở Anh. a. A Smith (1723-1790) xuất thân trong một gia đình viên chức thuế quan, là giảng viên một số trường Đại học ở Anh, từng dạy nhiều khoa như: thần học, lý luận học, luật học... trước khi nghiên cứu chính trị học. Với thuyết “bàn tay vô hình”, cho rằng luôn có sự điều hoà tự nhiên giữa lợi ích chung của mỗi cá nhân với lợi ích chung của xã hội. Trong toàn bộ nền kinh tế, “bàn tayvô hình” cũng điều tiết các hoạt động làm cho nền kinh tế có khả năng điều chỉnh, tạo ra sự cân bằng. A. Smith cho rằng chính quyền cần có chính sách hoàn toàn tự do. Về sáng kiến cá nhân, tự nó có khả năng để thực hiện một trật tự tối ưu: khi một nhà sản xuất cố gắng làm cho sản phẩm của mình tốt lên thì họ chỉ nghĩ tới lợi ích của mình thôi nhưng chính việc đó lại có lợi ích cho xã hội. Mặc dù coi trọng “bàn tay vô hình” song A. Smith cũng nhận thấy đôi khi nhà nước cũng có những nhiệm vụ kinh tế nhất định, đó là các trường hợp các nhiệm vụ kinh tế vượt quá khả năng của các doanh nghiệp như làm đường, xây dựng... b. D .Ricardo (1772-1823) hoạt động trong lĩnh vưc giao dịch chứng khoán, ông nghiên cứu nhiều khoa kọc (toán, vật lý, địa chất học...) nghiên cứu kinh tế chính trị học từ 1807. Tư tưởng kinh tế Ricardo bbiỉu hiện ở luận điểm chủ yếu như lý luận về chính trị, lý luận về tiền lương, về lợi nhuận, về địa tô và đặc biệt là lý luận về mậu dịch quốc tế: cần huỷ bỏ mọi hàng rào htuế quan và thực hiện chính sách tự do mậu dịch có lợi cho mọi quốc gia. Vậy Ricardo cho rằng: Nhà nước cần có sự tự do nhất định, những mặt thoáng đối với cơ chế thị trường. Thực tế chỉ ra là nền kinh tế muốn phát triển nhanh đòi hỏi đất nước phải có cơ sở hạ tầng (phục vụ sản xuất và đời sống) hiện đại: làm cho các nhà kinh tế học thời kỳ này thấy rằng nền kinh tế phát triển càng cao xã hội hoá càng mở rộng, thị trường càng phát triển càng cần có sự quản lý kinh tế của nhà nước song họ vẫn coi tự do kinh tế là sức mạnh của nền KTTT, quy luật kinh tế là vô địch mặc dù chính sách kinh tế có thể làm kìm hãm hay thúc đẩy ở mức độ nhất định hoạt động của nó. 2. Lý thuyết về sự can thiệp, điều tiết của nhà nước (Học thuyết Keynes) Quan điểm của Keynes: tư tưởng cơ bản bác bỏ cách lý giải cổ điển về sự tự điều chỉnh dựa vào cơ chế giá cả và tiền công linh hoạt. Cơ chế thị trường không có khả năng đảm bảo tận dụng tối ưu các yếu tố sản xuất như phái cổ điển quan niệm bàn tay vô hình không cần khả năng điều tiết nền kinh tế thực hiện. Cuộc khủng hoảng kinh tế của chủ nghĩa tư bản (1929-1933) đã làm nền sản xuất suy sụp, thất nghiệp phổ biến, kéo dài là bằng chứng hiển nhiên làm phá sản học thuyết cổ điển và tự điều tiết kinh tế. Keynes cho rằng khủng hoảng, thất nghiệp là do chính sách kinh tế lỗi thời, bảo thủ do sự thiếu can thiệp của nhà nước vào kinh tế. Từ đó ông cho rằng muốn cân bằng kinh tế, điều tiết kinh tế vĩ mô bằng các chính sách thích hợp để kích thich và duy trì tốc độ gia tăng ổn định tổng cầu, dùng lãi suất, chính sách đầu tư, dùng lạm phát để điều tiết kinh tế. 3. Cơ chế thị trường và sự can thiệp của nhà nước (Lý thuyết nền kinh tế hỗn hợp của Samuelsin) Sự phối hợp “bàn tay vô hình” và “bàn tay hữu hình”. P. Samuel: nhà kinh tế học người Mỹ thuộc trường phái hiện đại. Ông có tư tưởng kết hợp “bàn tay vô hình” với chức năng quản lý kinh tế nhà nước để điều tiết nền kinh tế thị trường, cho rằng để hình thành một nền kinh tế không có cả chính phủ lẫn thị trường thì như người ta định vỗ tay bằng một bàn tay. Cơ chế thị trường có tầm quan trọng như nhau. Vậy nền kinh tế hiện đại theo trường phái kinh tế thị trường xã hội trở thành Kinh tế thị trường vẫn mang tính chất chịu sự chi phối “bàn tay vô hình” và “bàn tay hữu hình”, tuy nhiên tư tưởng can thiệp của nhà nước rất đa dạng. Vai trò nhà nước tạo ra môi trường cạnh tranh tự do, cạnh tranh xây dựng các đạo luật chống độc quyền, kiểm soát các hoạt đọng kinh tế bằnh các công cụ tài chính, tiền tệ, tổ chức ngân hàng, thương mại, trong đó ngân hàng trung ương cần cố gắng dự trữ, vừa làm chức năng điều khiển kiểm soát chi tiêu tự động cung ứng thông qua ngân hàng thương mại, xây dựng kết cấu hạ tầng của nền kinh tế. III. Sự quản lý của nhà nước trong nền KTTT, định hướng Xhcn ở Việt nam : 1. Sự cần thiết khách quan: Trong báo cáo chính trị của BCHTW khoá VIII trình Đại hội IX của Đảng ta đề cập: Nhà nước ta “quản lý kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân”. Cơ chế thị trường chịu sự chi phối của “bàn tay vô hình” hay chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế của thị trường. Cơ chế quản lý của nhà nước gắn với “bàn tay hữu hình”. Rõ ràng không thể điều tiết sự vận động của nền kinh tế hàng hoá hay nền kinh tế thị trường hiện nay, khi chỉ có cơ chế thị trường hoặc chỉ có nhà nước. Trong trường hợp này cũng giống như người ta định “vỗ tay bằng một bàn tay”. Đối với nước ta, giải quyết mối quan hệ giữa thị trường và Nhà nước trong điều tiết, quản lý nền kinh tế cũng còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn phải nghiên cứu như: Thứ nhất, sử dụng cơ chế thị trường (CTTT) đến đâu và như thế nào để phát huy được mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của nó. Thứ hai, với chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước thì kế hoạch hoá được sử dụng như một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô như thế nào để đạt được tăng trưởng lâu bền và đảm bảo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Kế hoạch hoá trong nền Kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa phải bao hàm tổng thể nền kinh tế quốc dân với nhiều thành phần kinh tế và nhấn mạnh đến vấn đề quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế-xã hội v.v. Sự phát triển nền kinh tế hiện nay lệ thuộc rất nhiều vào yếu tố môi trường, chứ không phải chỉ phụ thuộc vào sự điều hành và mong muốn của Chính phủ như yếu tố môi trường khu vực, môi trường quốc tế, môi trường địa kinh tế, môi trường thiên nhiên v.v. Vì thế, các kế hoạch chỉ mang tính dự báo, tinh định hướng và kế hoạch không bao gồm kế hoạch sản xuất-kinh doanh của các doanh nghiệp. Đối với kế hoạch hoá trong nền kinh tế thị trường đinh hướng Xã hội chủ nghĩa ở nước ta: cơ chế vận hành là cơ chế thị trưòng có sự quản lý của Nhả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Cơ chế đó đảm bảo tính hướng dẫn, điều khiển nền kinh tế nhiều thành phần hướng tới đích XHCN theo phương châm: Nhà nước điều tiêt vĩ mô, thị trường hướng dẫn doanh nghiệp. Cơ chế đó thể hiện ở hai mặt cơ bản: một là, Nhà nước XHCN là nhân tố đóng vai trò “nhân tố trung tâm” và điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Hai là, Cơ chế thị trường là nhân tố đóng vai trò “trung gian” giữa Nhà nước và doanh nghiệp 2. Nâng cao năng lực quản lý của nhà nước & các công cụ chủ yếu của nhà nước để quản lý vĩ mô có hiệu quả: Trong nền Kinh tế thị trường vận động theo cơ chế thi trường vó sự quản lý của Nhà nước, sự quản lý vĩ mô của Nhà nước phải thích hợp với yêu cầu của các quy luật kinh tế thị trường. Nhà nước phải sử dụng chủ yếu các công cụ, biện pháp kinh tế, luật pháp, quy hoạch, kế hoạch định hướng, chính sách kinh tế-xã hội và khả nãng, sức mạnh kinh tế Nhà nước để tác động tới thị trường, điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp cho phù hợp. Vì cơ chế thị trường có cả mặt tích cực và mặt tiêu cực do đó đặt cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải kết hợp hài hoà ba vấn đề : thứ nhất, kết hợp vấn đề lợi nhuận với vấn đề xã hội, đảm bảo cho các chủ thể kinh tế thị trường có được lợi nhuận cao, vừa tạo được điều kiện chính trị-xã hội bình thường cho sự phát triển kinh tế. Hai là, kết hợp chặt chẽ những nguyên tắc phân phối của CNXH và nguyên tắc của kinh tế thị trường như: phân phối theo lao động, theo vốn, theo tài năng... Trong đó nguyên tắc phân phối theo lao động là chính. Thứ ba, điều tiết phân phối thu nhập, một mặt, đồi hỏi Nhà nước phải có chính sách sao cho giảm bớt khoảng cách chênh lệch giữa người giàu, người nghèo và của toàn xã hội. Nội dung của kế hoạch không được phép chỉ giới hạn trong phạm vi khu vực kinh tế nhà nước mà phải mang tính tổng thể toàn nền kinh tế. Những công cụ thường được áp dụng trong nền kinh tế kế hoạch hoá trước kia phải được thay thế bằng công cụ, chính sách phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa. Nhà nước sử dụng nhóm yếu tố gắn với “bàn tay hữu hình” thể hiện qua các công cụ sau: ã Pháp luật, nhất là luật kinh tế với tính đồng bộ và hiệu lực để thực hiện nó. Thông qua công cụ này Nhà nước tạo hành lang đủ để lập và duy trì kỷ cương trật tự hướng dẫn các hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động theo pháp luật. ã Kế hoạch, công cụ giúp Nhà nước hoạch định các chương trình định hướng mục tiêu từng thời kỳ. ã Chính sách kinh tế-xã hội, công cụ góp phần tạo ra môi trường kinh tế-xã hội ổn định có lợi cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội. Trong các chính sách đó quan trọng nhất là chính sách tài chính, tiền tệ... Trong thời gian tới, chính sách tài chính phải nhằm mục tiêu thúc đẩy sản xuất phát triển, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tăng tích luỹ vốn để tạo vốn cho đầu tư phát triển, đáp ứng những nhu cầu chi thật sự cấp bách, cần thiết đảm bảo quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, góp phần khống chế lạm phát, xử lý đúng đắn mối quan hệ tích luỹ và tiêu dùng; tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp và tài chính dân cư; ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Trong bài có sử dụng một số tài liệu tham khảo: 1. Sách Giáo khoa Kinh tế chính trị Mac–Lê Nin. 2. Bài giảng Kinh tế chính trị Mac–Lê Nin lớp K46XD2. 3. Bàn thêm về KTTT theo định hướng XHCN (Nghiên cứu kinh tế Tháng 4/1999). 4. Thế nào là KTTT định hướng XHCN (Tạp chí cộng sản Tháng 7/1996). 5. KTTT và định hướng XHCN có đối lập nhau không (Tạp chí cộng sản số 4/1996). 6. Về thị trường theo đinh hướng XHCN (Tạp chí cộng sản Tháng 10/1999). 7. KTTT và định hướng XHCN (Tạp chí cộng sản Tháng 9/1996 và Tháng 8/1999). ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docU0305.doc
Tài liệu liên quan