Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước - Thực trạng và giải pháp

Giới thiệu Từ năm 1981 trở về trước, khu vực kinh tế nhà nước ở nước ta hoạt động trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp, tăng trưởng với tốc độ thấp, thất thường và hiệu quả kinh tế – xã hội thấp. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến trình đổi mới kinh tế – xã hội của đất nước, nó có ý nghĩa như là một cải cách toàn diện, đồng bộ và triệt để. Đại hội VII, VIII, IX của Đảng tiếp tục khẳng định thực hiện nhất quán, lâu dài chính s

doc17 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1329 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước - Thực trạng và giải pháp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời đề ra chủ trương sắp xếp và đổi mới kinh tế nhà nước. Sau hơn10 năm đổi mới ta đã gặt hái được nhiều thành công nhưng bên cạnh những thành công đó chúng ta đã mắc phải một số sai lầm trong cơ cấu nền kinh tế và định hướng nền kinh tế đó. Để thay thế nền kinh tế cũ chúng ta phát triển nền kinh tế thị trường hàng hoá nhiều thành phần thì việc cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần là vấn đề rất quan trọng và cấp bách. Vì vậy mà bản thân tôi chọn đề tài Cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước để tìm hiểu sâu hơn về sự cần thiết cũng như tính ưu việt của các công ty cổ phần, thực trạng của Việt Nam. Đề tài gồm 3 phần : Khái niệm Thực trạng cổ phần hoá DNNN ở Việt Nam Đề suất I. Khái niêm 1. Khái niệm công ty cổ phần Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.Người hùn vốn ( cổ đông), sẽ mua một số cổ phần đó. - Các loại cổ phần: Cổ phần ưu đãi biểu quyết: là cổ phần có số biểu quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông( nhiều hơn bao nhiêu là do điều lệ của công ty). Chỉ có tổ chức được Chính phủ uỷ quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết. Cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực 3 năm kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Sau đó thì chuyển thành cổ phần phổ thông. Cổ phần ưu đãi cổ tức là cổ phần được trả cổ tức cao hơn so với cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hàng năm. Tuy nhiên, cổ đông sở hữu cổ phần này không có quyền biểu quyết, không có quyền dự họp đại hội cổ đông, không có quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát. Cổ phần ưu đãi hoàn lại: là cổ phần sẽ được công ty hoàn lại vốn bất cứ khi nào theo yêu cầu của người sở hữu hoặc điều kiện ghi trên cổ phiếu. Cũng giống như cổ phần ưu đãi cổ tức, người sở hữu cổ phần này không có quyền biểu quyết, không có quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông, không có quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát. Cổ phần của cổ đông sáng lập: theo luật doanh nghiệp, trong 3 năm đầu kể từ ngày công ty được cấp giấy phép kinh doanh, các cổ đông phải nắm giữ ít nhất 20% số cổ phần phổ thông được chào bán. Cổ phần phổ thông là cổ phần không được ưu đãi về biểu quyết, không được ưu đãi về cổ tức, không được ưu đãi về hoàn lại…, không chuyển đổi được thành cổ phần ưu đãi. Số thành viên (có thể là cá nhân hay tổ chức) gọi là cổ đông tối thiểu là 3, không hạn chế tối đa. Chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty gọi là cổ phiếu. Cổ phiếu có ghi tên: chỉ được phép chuyển nhượng khi có sự đồng ý của hội đồng quản trị. Cổ phiếu không ghi tên: được tự do chuyển nhượng. Đối với sáng lập viên, thành viên hội đồng quản trị phải là cổ phiếu có ghi tên. Trên cổ phiếu của công ty phải ghi rõ tên, trụ sở công ty, số lượng cổ phần và loại cổ phần, mệnh giá cổ phần, mệnh giá số cổ phần ghi trên cổ phiếu, chữ kí của người đại diện của công ty và dấu của công ty, ngày phát hành cổ phiếu… Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Công ty cổ phần có quyền phát hành các loại chứng khoán theo qui định của pháp luật. Công ty cổ phần chỉ được chi trả cổ tức cho các cổ đông khi công ty kinh doanh có lãi( sau khi đã nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác). Cơ cấu bộ máy của công ty cổ phần gồm có: Hội đồng quản trị (đứng đầu là Chủ tịch Hội đồng quản trị), Giám đốc(Tổng giám đốc), với công ty cổ phần có trên 11 cổ đông phải có Ban kiểm soát. Đại hội cổ đông gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan cao nhất của công ty cổ phần. Đại hội cổ đông có quyền quyết định các loại cổ phần, tổng số cổ phần chào bán, mức cổ tức hàng năm, bầu, bãi, miễn nhiệm thành viên của Hội đồng quản trị, thành viên ban kiểm soát; quyết định tổ chức lại và giải thể công ty; quyết định sửa đổi; bổ sung Điều lệ của công ty và các quyết định quan trọng khác. Hội đồng quản trị có quyền bổ nhiệm một người trong Hội đồng quản trị hoặc người khác làm Giám đốc công ty. Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể kiêm làm Giám Đốc (Tổng giám đốc công ty). 2. Tính ưu việt của công ty cổ phần: Công ty cổ phần đã giải quyết thành công trong vấn đề huy động vốn. Do tính chất của cổ phần thường có mệnh giá cổ phiếu có giá trị thấp nên có khả năng khai thác được ngay cả những số tiến rất nhỏ của dân chúng. Sự có mặt của thị trường chứng khoán đã giúp họ có cơ hội để đầu tư một cách có lợi và an toàn trong khoản vốn của mình. Hình thái công ty cổ phần đã thực hiện được việc tách quan hệ sở hữu khỏi quá trình kinh doanh, tách quyền sở hữu với quyền quản lý, tạo nên một hình thái xã hội hoá sở hữu. Các cổ phiếu và trái phiếu thông thường của Công ty cổ phần có quyền chuyển nhượng dễ dàng trên thị trường chứng khoán. Các cổ đông có thể dễ dàng rút vốn của mình bằng cách bán các cổ phiếu, trái phiếu và mua cổ phiếu, trái phiếu của công ty khác. Các cổ phiếu, trái phiếu của công ty cổ phần chỉ được thanh lý khi công ty phá sản. Vì thế mà các cổ phiếu, trái phiếu của công ty có bị mua đi bán lại, đổi chủ bao nhiêu lần chăng nữa thì công ty vẫn hoạt động bình thường mà không bị ảnh hưởng. Cùng với sự phát triển và hoàn thiện thị trường chứng khoán khả năng huy động vốn đầu tư được mở ra hết sức rộng rãi, nó cung cấp cơ hội đầu tư đa dạng, đơn giản và thuận tiện cho công chúng. Thị trường chứng khoán không chỉ là nơi cung cấp vốn mà còn là nơi phân phối lại cơ hội đầu tư theo nhu cầu đầu tư của công ty và của công chúng. ở đây, vai trò của chủ Ngân hàng và những người buôn bán cổ phiếu rất quan trọng. Họ góp phần chuyển đổi các khoản đầu tư thông qua mua bán cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường cho mọi người và khuyến khích các công ty mới ra đời huy động vốn và đứng vững trong kinh doanh… Do những ưu điểm của nó mà hình thái Công ty cổ phần vừa mới ra đời đã chiếm lĩnh được nhiều ngành. Trải qua thời gian, hình thái công ty cổ phần ngày càng được hoàn thiên, phát triển và đa dạng. II. Thực trạng cổ phần hoá DNNN ở Việt Nam 1. Tính tất yếu của Cổ phần hoá DNNN Trong thập kỷ 80, quá trình chuyển đổi sở hữu nhà nước đã trở thành một hiện tượng kinh tế mang tính toàn cầu. Làn sóng cổ phần hoá DNNN, bắt đầu từ cuối thập kỷ 70 tại Vương quốc Anh. Kết quả là đến năm 1991 nhà nước đã thu được 34 tỉ bảng qua cổ phần hoá. Sau đó là các nước công nghiệp phát triển với nhiều hình thức phong phú. Cổ phần hoá để chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế quốc dân cho hợp lý hơn và hiệu quả hơn. Dưới tác động nhiều mặt của quá trình công nghiệp hoá ở các nước phát triển, các nước đang phát triển cũng tham gia vào trào lưu đó. Tính đến nay đã có trên 100 quốc gia tiến hành cổ phần hoá. Cổ phần hoá là một trong những nội dung chủ yếu của công cuộc cải cách kinh tế và chính trị hiện nay ở nhiều nước đang phát triển. Đối với các nước Xã hội chủ nghĩa (XHCN), trên cơ sở nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung cao độ, chuyển đổi sở hữu Nhà nước đã trở thành thử thách chủ yếu đối với cam kết của Nhà nước tạo ra hệ thống đồng bộ và cho phép nền kinh tế tư nhân tồn tại và hoạt động. Quá trình cổ phần hoá DNNN ở các nước này phát triển nhanh chóng làm cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp năng động hơn, nâng cao hiệu quả kinh doanh, xoá bỏ hệ thống kế hoạch hoá và điều hành quan liêu trước đây. ở nước ta, vấn đề cổ phần hoá đã được đặt ra từ năm 1991, xuất phát từ tình hình kinh tế thế giới và đặc biệt là tình hình kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên tốc độ cổ phần hoá diễn ra chậm, do nhiều nguyên nhân khác nhau. Hiện nay có khoảng 5740 doanh nghiệp nhà nước, nằm 58% tổng số vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế, nhưng chỉ có 50% doanh nghiệp làm ăn có lãi ( trên thực tế chưa đến 30%). Trên danh nghĩa, DNNN nộp 70%- 80% tổng doanh thu cho ngân sách nhà nước. Tuy nhiên thực tế chỉ khoảng 30%, DNNN không tạo ra được tích luỹ. Nguyên nhân là do tài sản cố định, cụ thể là máy móc thiết bị quá cũ, lạc hậu so với thế giới 2 đến 3 thế hệ , có khi là 4 đến 5 thế hệ. Hiện nay có khoảng 54% doanh nghiệp nhà nước và74% doanh nghiệp địa phương còn sản xuất bằng công nghệ thủ công. Qui mô doanh nghiệp còn nhỏ bé, vốn ít. Với thực trạng kỹ thuật và tài chính như trên, DNNN hầu như không có khả năng đổi mới công nghệ nhằm nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường. Ngân sách nhà nước không có khả năng cung cấp vốn như trước đây, Ngân hàng cho vay cũng đòi hỏi phải có tài sản thế chấp, khả năng kinh doanh để tính đến khả năng thu hồi vốn. Các DNNN thiếu vốn kinh doanh nhưng không huy động được. Hiện nay, vấn đề cổ phần hoá DNNN có thể coi là giải pháp tối ưu để khắc phục các khó khăn trên, nhằm tạo ra môi trường huy động vốn dài hạn cho doanh nghiệp, đổi mới công nghệ và sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh, tạo ra sức bật mới trong sản xuất kinh doanh. 2. Thực chất của cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước. Xét về mặt hình thức, cổ phần hoá là việc nhà nước bán một phần hay toàn bộ giá trị cổ phần của mình cho các đối tượng tổ chức hoặc tư nhân trong và ngoài nước hoặc cho cán bộ quản lý và công nhân của xí nghiệp bằng đấu giá công khai hay thông qua thị trường chứng khoán để hình thành các công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần. Xét về mặt thực chất, cổ phần hoá chính là phương thức thực hiện xã hội hoá sở hữu, chuyển hình thái kinh doanh một chủ với sở hữu Nhà nước trong doanh nghiệp thành công ty cổ phần với nhiều chủ sở hữu để tạo ra một mô hình doanh nghiệp phù hợp với nền kinh tế thị trường và đáp ứng được yêu cầu của kinh doanh hiện đại. 3. Mục tiêu của cổ phần hoá DNNN Cổ phần hoá một số DNNN, chuyển chúng thành công ty cổ phần nhằm đáp ứng nhu cầu tăng vốn, nâng cao năng lực và hiệu quả kinh doanh tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Mục tiêu của cổ phần hoá bao gồm: Chuyển một phần quyền sở hữu tài sản của Nhà nước thành sở hữu của các cổ đông nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Huy động một khối lượng vốn nhất định ở trong và ngoài nước để đầu tư cho sản xuất kinh doanh. Tạo điều kiện để người lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp. Với ba mục tiêu trên có thể thấy rằng hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các DNNN cần được giải quyết một cách cơ bản. Cổ phần hoá là một biện pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề cơ bản này, đồng thời tạo ra một mô hình doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường và đáp ứng yêu cầu của kinh doanh hiện đại. Nếu thực hiện được các mục tiêu đó sẽ tạo điều kiện thực hiện các mục tiêu khác: giảm gánh nặng trợ cấp từ ngân sách nhà nước, thu hút được các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường… 4. Thuận lợi và khó khăn của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước a. Thuận lợi Môi trường pháp lý đã được xác lập về cơ bản, đặt tất cả các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Nhà nước đã nhận thức được tầm quan trọng và tính cấp bách của vấn đề cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước. Đã có các văn bản luật và dưới luật được ban hành nhằm thực hiện chương trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, như: Luật công ty, Nghị định số 202- HĐBT ngày 7/5/1996 của Chính phủ về “chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần”, Nghị định số 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 của Chính phủ “về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần”. Tình hinh kinh tế- tài chính có nhiều chuyển biến tích cực: Giá hàng hoá trên thị trường tương đối ổn định, mức lạm phát ở mức độ thích hợp, lãi suất ở mức khuyến khích đầu tư. Đặc biệt là thị trường chứng khoán nước ta đã chính thức đi vào hoạt động từ ngày 20-7-2000, tạo môi trường xúc tiến cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước. Chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đã làm cho thu nhập của người dân tăng lên, có nhiều khoản tiết kiệm trong dân chúng. Đây là một nguồn vốn tương đối lớn có thể đáp ứng được nhu cầu bán chứng khoán phát hành tại các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần. Với luật đầu tư nước ngoài và sự xuất hiện của nhiều chi nhánh ngân hàng kinh doanh của nước ngoài tại Việt Nam đã góp phần tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư cổ phiếu vào DNNN sẽ được cổ phần hoá. Học hỏi được những kinh nghiệm quí báu về cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước của các quốc gia trên thế giới. b. những khó khăn Khó khăn lớn nhất trong quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là khu vực kinh tế tư nhân qúa nhỏ bé và yếu ớt. Nó phản ánh trình độ chậm phát triển của nền kinh tế thị trường, hình thái kinh doanh một chủ là chủ yếu, hình thái công ty cổ phần còn xa lạ với hầu hết mọi người. Điều này làm cho cả người đầu tư lẫn người sử dụng vốn dưới hình thức cổ phiếu đều bỡ ngỡ và lúng túng. Thị trường vốn kém phát triển, tình trạng thiếu vắng của thị trường chứng khoán với tư cách là trung tâm phản ánh hoạt động cuả các công ty cổ phần. Nó vừa là tấm gương phản chiếu, vừa là điều kiện cho các công ty cổ phần ra đời và hoạt động. Chính sách kinh tế- tài chính của nước ta chưa ổn định, nhiều chính sách ra đời chồng chéo, mâu thuẫn nhau và thường thay đổi đột ngột không dự báo trước được. Quá trình đổi mới của hệ thống ngân hàng và cơ chế hoạt động tín dụng diễn ra chậm gây bất lợi cho đầu tư trong nước. Các doanh nghiệp nhà nước có trang bị máy móc cũ kỹ, lạc hậu, thiếu tính cạnh tranh… nên khó cổ phần hoá. Một số doanh nghiệp chưa có ý định cổ phần hoá. Xử lý vốn của Nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá là một vấn đề phức tạp. Về mặt tư tưởng, tâm lý của đa số thành viên trong xã hội còn chưa quen với cổ phần hoá DNNN. Phần lớn các giám đốc và cán bộ quản lý còn ngần ngại, thậm chí còn phản đối vì phải chuyển từ địa vị “người chủ” sang"người làm thuê cao cấp”. Hệ thống kiểm toán chưa trở thành một hoạt động phổ biến, thống nhất gây khó khăn cho việc đánh giá giá trị của doanh nghiệp, thực trạng và triển vọng kinh doanh của các doanh nghiệp cổ phần hoá. Do vậy dẫn đến thiếu thông tin trung thực cho các nhà đầu tư. 5. Tình hình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở nước ta Cổ phần hoá DNNN được bắt đầu từ những năm 90, đã trải qua các thời kỳ thí điểm đến thực hiện một cách bình thường. Thời kỳ thí điểm (1992- 1996), các doanh nghiệp nhà nước do Chính phủ chỉ đạo thí điểm chuyển thành công ty cổ phần: Nhà máy xà bông miền Nam ( thuộc Liên hiệp Công ty bột giặt miền Nam, tổng công ty hoá chất II, Bộ công nghiệp nặng). Nhà máy diêm Thống Nhất (thuộc Liên hiệp sản xuất- xuất nhập khẩu gỗ diêm, Bộ công nghiệp nhẹ). Xí nghiệp nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc (thuộc công ty chăn nuôi và thức ăn gia súc I, Bộ Nông nghiệp và Công nghệ thực phẩm). Xí nghiệp chế biến gỗ Long Bình (thuộc Tổng công ty dịch vụ, sản xuất và nhập khẩu lâm sản 3, Bộ lâm nghiệp). Xí nghiệp sản xuất bao bì (thuộc công ty kinh doanh và chế biến lương thực Hà Nội, Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội). Xí nghiệp may mặc (thuộc công ty dệt- da- may Legamex, Uỷ ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh). Sau một thời gian làm thử , 7 doanh nghiệp nhà nước được chọn thí điểm đều xin rút lui hoặc không đủ điều kiện để tiến hành cổ phần hoá. Trong 30 doanh nghiệp đã đăng kí với Bộ tài chính để thực hiện cổ phần hóa thì có 5 doanh nghiệp nhà nước chuyển thành công ty cổ phần là: Công ty cổ phần đại lý liên hiệp vận chuyển (Bộ giao thông vận tải). Công ty cổ phần cơ điện lạnh ( thành phố Hồ Chí Minh). Công ty cổ phần giầy Hiệp An (Bộ công nghiệp). Công ty cổ phần chế biến hàng xuất khẩu Long An (tỉnh Long An). Công ty cổ phần chế biến thức ăn gia súc (Bộ Nông nghiệp). Thời kỳ mở rộng thí điểm và thực hiện bình thường (1996- 2000): Công tác cổ phần hoá được nhà nước quan tâm hơn, các ngành, các cấp đã thực hiện được một số việc sau: Củng cố tổ chức, bổ sung ban chỉ đạo cổ phần hoá ở địa phương. Tổ chức hội nghị truyền đạt chủ trương, chính sách về cổ phần hoá DNNN cho đội ngũ cán bộ chủ chốt. Có 30 tỉnh, thành phố, bộ, ngành và các tổng công ty 91 đã đăng ký cổ phần hoá hơn 200 doanh nghiệp nhà nước, nhưng đến đầu năm 1998 mới chỉ có 18 DNNNthực hiện cổ phần hoá, chuyển sang hoạt động theo luật công ty. Trong đó, ngành giao thông vận tải có 4 doanh nghiệp; ngành công nghiệp có 7 doanh nghiệp; ngành xây dựng có 1 doanh nghiệp; ngành chế biến nông, lâm, thuỷ sản có 3 doanh nghiệp, ngành dịch vụ có 3 doanh nghiệp. Như vậy so với yêu cầu thì số lượng DNNN tiến hành cổ phần hoá là ít, tốc độ cổ phần hoá chậm. Cổ phần hoá DNNN có chuyển biến rõ rệt và đáng khích lệ từ khi có Nghị định 44/1998/NĐ- CP ngày 29-6-1998 của Chính phủ “về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần”. Riêng sáu tháng cuối năm 1998 đã cổ phần được 90 DNNN, năm 1999 cổ phần hoá được 250 DNNN. Như vậy đến đầu năm 2000 cả nước đã cổ phần hoá được 370 DNNN. Bộ công nghiệp cho biết năm 2004 sẽ cổ phần 62 doanh nghiệp, tuy nhiên tiến độ rất chậm. Hiện nay mới có 18 doanh nghiệp tổ chức lựa chọn các công ty kiểm toán để xác định giá trị doanh nghiệp. Nguyên nhân của sự chậm trễ là do việc thực hiện quyết toán thuế với chi cục thuế địa phương, một số đơn vị khó khăn trong vấn đề tài chính… Bộ công nghiệp có kế hoạch từ nay đến năm 2005 sẽ đưa 3 nhà máy điện Sông Hinh- Vĩnh Sơn; Thác Bà và Ninh Bình vào danh sách các doanh nghiệp cổ phần hoá. Theo đó, nhà nước sẽ vẫn giữ cổ phần chi phối 51%, khu vực đầu tư nước ngoài nếu được tham gia thì tỉ lệ cổ phần mà họ nắm giữ không quá 30%. III. Giải pháp đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá ở nước ta 1. Môi trường pháp lý cần thiết cho sự ra đời và hoạt động của công ty cổ phần. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, tất cả mọi hoạt động kinh tế đều phải chịu sự định chế của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật. Đó là các bộ luật và văn bản dưới luật có ý nghĩa như là những điều kiện để xác lập và ổn định các mối quan hệ kinh tế ở tầm vĩ mô, tạo ra khung khổ pháp lý cho sự hoạt động của các đơn vị kinh tế phù hợp với lợi ích phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường và chuyển đổi doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty cổ phần không thể thực hiện được nếu Nhà nước không tạo lập môi trường pháp lý cần thiết làm điều kiện và cơ sở cho quá trình này. Nói chung, ở các nước có nền kinh tế thị trường hoặc đang chuyển sang nền kinh tế thị trường đều có một số bộ luật cơ bản như : Luật công ty, Luật đầu tư trong và ngoài nước, Luật thương mại, Luật phá sản, Luật lao động và bảo hiểm, Luật doanh nghiệp nhà nước, Luật về thị trường chứng khoán và sở giao dịch chứng khoán. Luật thống kê, kế toán và kiểm toán... Một số nước còn bổ sung thêm Luật tư nhân hoá để tạo cơ sở pháp lý cho quá trình tư nhân hoá và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước. Trong vấn đề này Nhà nước nên có sự nghiên cứu và ban hành một bộ luật đặc biệt để làm cơ sở căn bản cho quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, đó là Luật chuyển đổi sở hữu nhà nước. Như ở trên chúng ta đã trình bày, trong nền kinh tế thị trường hỗn hợp có sự tham gia và hoà nhập của sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân dưới hình thức các công ty cổ phần thì quá trình chuyển đổi sở hữu bằng cổ phần hoá và quốc doanh hoá diễn ra song song với nhau. Với chế độ tham dự thông qua phát hành và mua bán trái phiếu, cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, cả hai quá trình trên diễn ra liên tục nhằm chu chuyển các nguồn vốn đầu tư và cơ cấu lại mối quan hệ giữa hai khu vực này trong nền kinh tế và không bao giờ có điểm kết thúc. Vì vậy, cần quan niệm quá trìn cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước không phải chỉ có tính chất tạm thời trong một giai đoạn nhất định cũng như sẽ không còn diễn ra quá trình quốc doanh hoá trở lại các doanh nghiệp cổ phần tư nhân. Luật chuyển đổi sở hữu nhà nước ban hành sẽ khẳng định sự cam kết của Nhà nước đi theo con đường phát triển nền kinh tế thị trường, tạo những điều kiện pháplý cần thiết cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước cũng như dân chúng thực hiện một cách yên tâm công cuộc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước với quy mô rộng lớn, khó khăn và lâu dài của Nhà nước. Đạo luật này cũng sẽ quy định những nguyên tắc chung thể hiện về mặt pháp lý quan điểm nhất quán của Nhà nước trong các vấn đề như doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành và lĩnh vực nào được cổ phần hoá và có sự tham gia của khu vực tư nhân, quy trình định giá doanh nghiệp và phương thức tiến hành cổ phần hoá, hệ thống tổ chức quyết định và thi hành cổ phần hoá, quản lý và sử dụng các nguồn vốn do bán cổ phiếu cũng như xử lý các hành vi làm dụng, cố ý làm trái nguyên tắc... Bên cạnh Luật công ty và Luật doanh nghiệp nhà nước, Luật chuyển đổi sở hữu nhà nước sẽ đóng vai trò bảo đảm về mặt pháp lý cho bước trung gian chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần 2. Từng bước xây dựng thị trường chứng khoán và sở giao dịch chứng khoán Thị trường chứng khoán là trung tâm phản ánh hoạt động kinh tế của các công ty, là nơi cung ứng các nguồn vốn và phân phối các cơ hội đầu tư cho công ty và công chúng. Trên thực tế, thị trường chứng khoán là điều kiện cho sự ra đời và hoạt động của các công ty cổ phần. Vì vậy, cùng với sự ra đời và hoạt động của các công ty cổ phần theo Luật công ty và quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước cần phải gấp rút tạo điều kiện để xây dựng thị trường chứng khoán và các sở giao dịch chứng khoán. Thông thường thị trường chứng khoán bao gồm hai bộ phận : - Thị trường sơ cấp là thị trường phát hành các chứng khoán mới. - Thị trường thứ cấp là thị trường mua, bán các chứng khoán đã phát hành. Hoạt động của thị trường này được thực hiện qua các trung gian tài chính có tác dụng "cầu nối" giữa công chúng và công ty. Các trung gian tài chính thường là các công ty tài chính, các ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm, quỹ tiết kiệm, quỹ hưu trí... Các cơ quan này hoạt động trong hệ thống sở giao dịch chứng khoán theo nguyên tắc phát hành các phiếu ghi nợ (sổ tiết kiệm, tín phiếu...) hoặc được uỷ quyền phát hành cổ phiếu cho các công ty để thu hút tiền vốn của công chúng, sau đó dùng tiền này đầu tư vào các lĩnh vực để thu lợi nhuận như mua trái phiếu, cổ phiếu của các công ty và Nhà nước, đầu cơ bất động sản... Nhờ hoạt động với quy mô lớn và thành thạo nghiệp vụ đầu tư, các tổ chức này đã góp phần làm cho nguồn vốn trong xã hội được phân phối một cách có hiệu quả, giúp cho công chúng giảm thiếu được các rủi ro trong việc lựa chọn và giữ các loại chứng khoán, đồng thời sự cạnh tranh giữa các tổ chức này sẽ làm cho lãi suất bị hạ thấp xuống, nhưng nguồn vốn thực tế được đầu tư vào kinh doanh đạt được mức cao nhất. Điều đó làm tăng khả năng tích luỹ trong nội bộ nền kinh tế và cho phép đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế. ở nước ta, tuy đã có các ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư phát triển sau khi đã chuyển đổi hệ thống ngân hàng từ một cấp thành hai cấp, nhưng phương thức và phương pháp hoạt động còn chưa đổi mới kịp với những đòi hỏi của thị trường vốn trong xã hội. Hệ thống các quỹ tín dụng và ngân hàng cổ phần mới ra đời và hoạt động trong thời gian ngắn, chưa đủ thực lực và kinh nghiệm để làm điều kiện cho các công ty cổ phần ra đời và hoạt động. Hiện nay, nhận thức được tính cấp bách của vấn đề này, Chính phủ đã cho phép chính quyền ở hai thành phố Hồ Chí Minh và Hàn nội xúc tiến việc nghiên cứu và xây dựng thị trường chứng khoán mà bước đầu là xây dựng thị trường sơ cấp. Phải chuẩn bị một số điều kiện sau : - Nhà nước phải gấp rút xây dựng bộ Luật về thị trường chứng khoán và sở giao dịch chứng khoán làm cơ sở pháp ly cho sự ra đời và hoạt động của loại thị trường này bao gồm các quyết định về phát hành, mua bán, chuyển nhượng chững khoán và các loại văn tự có giá khác; trách nhiệm, quyền hạn và xử lý vi phạm đối với các chủ thể tham gia, vai trò, chức năng, quy chế hoạt động và trách nhiệm của sở giao dịch chứng khoán... - Xây dựng hệ thống kiểm toán độc lập và có những văn bản luật quy định vai trò chức năng, quyền hạn và trách nhiệm hoạt động của tổ chức này. - Đẩy mạnh hoạt động bảo hiểm đến mọi đối tượng và thành lập các công ty bảo hiểm như là một tổ chức tài chính quan trọng sẽ tham gia vào hoạt động của thị trường chứng khoán. - Ngoài việc củng cố và tiếp tục đổi mới hoạt động của các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư phát triển và các quỹ tín dụng để làm nòng cốt cho việc tổ chức bước đầu phát hành chứng khoán cho các công ty, thực hiện các nghiệp vụ về mua bán chứng khoán, chiết khấu và tái chiết khấu, lựa chọn, các cơ hội đầu tư và phân tán rủi ro... Nhà nước cần thành lập một Công ty tài chính quốc gia có trách nhiệm quản lý, sử dụng và kinh doanh nguồn vốn thuộc sở hữu nhà nước trong các doanh nghiệp được cổ phần hoá. Công ty này sẽ góp phần quan trọng cho sự ra đời và hoạt động của thị trường chứng khoán, đồng thời cũng là một công cụ điều tiết của Nhà nước đối với hoạt động của thị trường này. - Nhà nước cũng cần soạn tháo những quy định cụ thể nhằm chọn lựa, cho phép một số tổ chức tài chính quốc tế tham gia vào thị trường này để tạo môi trường và động lực cạnh tranh đối với các tổ chức tài chính của Việt nam, qua đó, học tập, rút kinh nghiệm, dần dần nâng cao trình độ ngang tầm với đòi hỏi của hoạt động thị trường chứng khoán trong nước và quốc tế. 3. Thành lập cơ quan Nhà nước có quyền lực để thực hiện chương trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước. Thực tiễn quá trình cổ phần hoá ở các nước, đặc biệt là ở Đông Âu cũng như giai đoạn thí điểm vừa qua ở nước ta đã cho thấy sự cần thiết phaỉ có một cơ quan được Nhà nước thành lập và uỷ quyền để giải quyết các vấn đề đổi mới khu vực kinh tế nhà nước, trong đó chuyên trách theo dõi, chỉ đạo và có đầy đủ thẩm quyền quyết định các vấn đề liên quan đến công việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước. Tên gọi đối với cơ quan này tuy có sự khác nhau ở mỗi nước, như Bộ cải cách sở hữu (hay phủ Hunggari, Hội đồng thác quản ở Đức... Nhưng đều có cơ quan này có nhiệm vụ và quản lý và thực hiện sự chuyển đổi và đa dạng hoá sở hữu đúng với pháp luật trong các doanh nghiệp nhà nước, chống lại sự trục lợi, tham nhũng, tẩu tán tài sản của Nhà nước. Vì vậy, ở nước ta cần gấp rút thành lập một cơ quan nhà nước có đủ thẩm quyền với sự tập hợp của các chuyên gia am hiểu về các lĩnh vực như tài chính, ngân hàng, quản trị kinh doanh, luật pháp... để chỉ đạo và điều hành có kết quả chương trình cổ phần hoá đầy khó khăn và phức tạp này. Dựa trên đề án tổng thể đổi mới khu vực kinh tế nhà nước và các luật có liên quan như Luật doanh nghiệp nhà nước. Luật công ty, Luật chuyển đổi sở hữu nhà nước... cơ quan này có đủ quyền hạn để quyết định những vấn đề liên quan đến cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước. Sự tồn tại và hoạt động của cơ quan này trong thời gian bao lâu là tuỳ thuộc vào mục tiêu và kết quả của quá trình đổi mới khu vực kinh tế nhà nước, phạm vi và mức đôi cho phép chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước sang hình thức công ty cổ phần. Tài liệu tham khảo 1. Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước – PGS.TS phạm Ngọc Côn 2. Văn kiện Đại hội Đảng bộ toàn quốc lần thứ VII, VIII. 3. Giáo trình kinh tế chính trị Mác- Lênin. 4. Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn. PTS: Phạm Ngọc Quang. 5. Bộ kế hoạch và đầu tư Mục lục Trang ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc35559.doc