Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm trên thị trường miền Bắc ở Công ty cổ phần Cao su Sao Vàng

Tài liệu Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm trên thị trường miền Bắc ở Công ty cổ phần Cao su Sao Vàng: ... Ebook Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm trên thị trường miền Bắc ở Công ty cổ phần Cao su Sao Vàng

doc54 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1290 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm trên thị trường miền Bắc ở Công ty cổ phần Cao su Sao Vàng, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI NÓI ĐẦU Tiêu thụ sản phẩm là một trong sáu chức năng hoạt động cơ bản của doanh nghiệp, bao gồm: tiêu thụ, sản xuất, hậu cần, kinh doanh, tài chính, kế toán và quản trị doanh nghiệp. Mặc dù sản xuất là chức năng trực tiếp tạo ra sản phẩm song tiêu thụ lại đóng vai trò là điều kiện tiền đề không thể thiếu được để sản xuất có thể có hiệu quả. Chất lượng của hoạt động tiêu thụ sản phẩm (doanh nghiệp sản xuất thương mại) phục vụ khách hàng (doanh nghiệp dịch vụ ngân hàng…) quyết định hiệu quả hoạt động sản xuất hoặc chuẩn bị dịch vụ. Đặc biệt là trong cơ chế thị trường hiện nay khi mà mọi doanh nghiệp gắn mình với thị trường thì hoạt động tiêu thụ lại càng có vị trí quan trọng hơn. Đối với các doanh nghiệp sản xuất chỉ có thể và phải bán cái mà thị trường cần chứ không phải bán cái mà doanh nghiệp có. Việc xác định cái mà thị trường cần là một bước trong khâu tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Nhận thức được tầm quan trọng như vậy của tiêu thụ nên nhiều doanh nghiệp hiện nay dã không ngừng chú trọng đến khâu tiêu thụ. Tuy nhiên việc áp dụng phương pháp nào để thúc đẩy công tác tiêu thụ lại hoàn toàn không giống nhau ở các doanh nghiệp. Nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: đặc điểm của sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất, các điều kiện hiện có của doanh nghiệp…Doanh nghiệp phải biết lựa chọn các biện pháp phù hợp để không ngừng nâng cao hiệu quả của hoạt động tiêu thụ. Có như vậy thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp mới nâng cao và giúp doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu đề ra. Sau một thời gian thực tập tại công ty Cổ phần Cao Su Sao Vàng, em đã chọn đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp của em như sau: “Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm trên thị trường miền Bắc ở công ty cổ phần Cao Su Sao Vàng”. Chuyên đề của em gồm các phần sau đây: Chương I: Giới thiệu chung về Công ty cổ phần Cao Su Sao Vàng Chương II: Phân tích thực trạng hoạt động tiêu thụ của công ty cổ phần Cao Su Sao Vàng Chương III: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác tiêu thụ tại Công ty Cổ phần Cao su Sao Vàng. Trong quá trình thực hiện em đã nhận được sự giúp đỡ hướng dẫn tận tình của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Ngọc Huyền. Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn giúp đỡ quý báu của thầy. Do trình độ có hạn và thời gian tìm hiểu còn hạn chế đây nên em không khỏi mắc những sai sót. Kính mong thầy giáo xem xét và sửa giúp em. Trong quá trình thực tập tại Công ty cổ phần Cao Su Sao Vàng, em cũng đã nhận được sự giúp đỡ quý báu từ các anh chị, cô chú trong công ty nói chung và trong phòng Tiếp thị Bán hàng nói riêng . Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn đến quý công ty. Em xin chân thành cảm ơn! Sinh viên Đỗ Đoan Trang HỆ THỐNG BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ CHƯƠNG I GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN CAO SU SAO VÀNG 1. Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của Công ty cổ phần Cao Su Sao Vàng ( SRC) Công ty cổ phần cao su Sao Vàng là một trong những doanh nghiệp lâu đời ở nước ta. Doanh nghiệp này đã phải trải qua nhiều khó khăn khi phát triển từ một xưởng đắp lốp nhỏ để đến với một công ty cổ phần qui mô như hiện nay, để phát triển từ thời kì kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường. Một số thông tin chung về công ty cổ phần cao su Sao Vàng như sau: Tên giao dịch quốc tế: Saovang Rubber Joint Stock Company Trụ sở chính: 231, Nguyễn trãi, Quận Thanh Xuân. Hà Nội Điện thoại: 043 858 3656 Fax: 043 8583644 Tư cách pháp nhân, quyền và nghĩa vụ dân sự Có con dấu riêng theo qui định của nhà nước TKVN: 300 – 1101 – 00138 tại ngân hàng Công thương Đống Đa – Hà Nội TK ngoại tệ : 220 – 110370.569 tại ngân hàng Ngoại thương – Hà Nội - Ngày 07/10/1956, xưởng đắp lốp được thành lập tại số 02 Đặng Thái Thân thành lập. - Ngày 23/05/1960, Nhà máy Cao su Sao vàng được thành lập. - Ngày 27/08/1992, Nhà máy Cao su Sao Vàng được đổi tên thành Công ty Cao su Sao Vàng theo quyết định số 645/CNNG  - Chuyển đổi sở hữu thành công ty cổ phần: Ngày 24/10/2005 Công ty Cổ phần Cao su Sao Vàng được thành lập theo quyết định số 3500/QĐ-BCN về việc chuyển Công ty Cao su Sao Vàng thành Công ty cổ phần Cao su Sao Vàng. Ngày 03/04/2006, Công ty cổ phần Cao su Sao Vàng được Sở kế hoạch đầu tư thành phố Hà Nội cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh lần đầu với vốn điều lệ là 49.048.000.000 đồng. Ngày 07/12/2006, Công ty thay đổi lại đăng ký kinh doanh lần đầu với số vốn điều lệ là: 80.000.000.000 đồng. Ngày 27/07/2007, Công ty thay đổi đăng ký kinh doanh lần 2 với số vốn điều lệ là: 108.000.000.000 đồng.       - Niêm yết: năm 2009, cổ phiếu của Công ty được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty CP Cao su Sao Vàng được cổ phần hóa từ doanh nghiệp nhà nước là Công ty Cao su Sao Vàng theo Quyết định số 3500/QĐ-BCN ngày 24 tháng 10 năm 2005 của Bộ trưởng Công nghiệp về phê duyệt Phương án và chyển Công ty Cao su Sao Vàng thành Công ty CP Cao su Sao Vàng có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty cổ phần số 0103011568 do Sở kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp ngày 03 tháng 04 năm 2006. Trong quá trình hoạt động Công ty lần lượt được Sở kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp các Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh sửa đổi lần 1 ngày 07 tháng 12 năm 2006 và lần 2 ngày 27 tháng 7 năm 2007. Theo đó, ngành nghề kinh doanh của Công ty được quy định bao gồm: -  Kinh doanh các sản phẩm cao su; -  Kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư, máy móc, thiết bị hóa chất phục vụ sản xuất ngành công nghiệp; -  Chế tạo, lắp đặt và mua bán máy móc thiết bị phục vụ ngành cao su; -  Cho thuê cửa hàng, văn phòng nhà xưởng, kho bãi; -  Mua bán, sửa chữa, bảo dưỡng ô tô, xe máy và phụ tùng thay thế; -  Mua bán hàng kính mắt thời trang; thiết bị quang học; - Mua bán hàng điện, điện tử, điện lạnh, điện gia dụng, đồ dùng cá nhân và gia đình; -  Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hóa. Công ty có trụ sở tại 231 Nguyễn Trãi, Quận Thanh Xuân, TP Hà Nội và các đơn vị trực thuộc sau: -   Chi nhánh Công ty Cổ phần Cao su Sao Vàng tại Thái Bình có trụ sở tại xã Tiền phong, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. - Chi nhánh Công ty Cổ phần Cao su Sao Vàng tại thành phố Đà Nẵng có trụ sở tại Quốc lộ 1A, xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng -  Chi nhánh Công ty Cổ phần Cao su Sao Vàng tại thành phố Hồ Chí Minh có trụ sở tại số 63 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Đến ngày 30 tháng 6 năm 2009, tổng số cán bộ nhân viên Công ty là 1.556 người. Trong đó, số nhân viên quản lý là 181 người. Công ty cổ phần cao su Sao Vàng là một trong ba công ty kinh doanh sản phẩm cao su của tổng công ty hoá chất Việt Nam. Với sự nỗ lực không ngừng qua nhiều năm, hiện nay công ty đã xây dựng nên một hệ thống kênh phân phối rộng khắp các vùng miền. Cái tên cao su Sao Vàng giờ đây đã rất quen thuộc với người tiêu dùng Việt Nam và hơn hết công ty tự hào là doanh nghiệp duy nhất ở Việt Nam hiện nay sản xuất lốp máy bay 2. Bộ máy tổ chức của công ty cổ phần cao su Sao Vàng Hình 1: Sơ đồ bộ máy quản lý của SRC H ỘI Đ ỒNG QU ẢN TR Ị BAN KI ỂM SOÁT TỎNG GIÁM ĐỐC PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC 1.PH Ụ TR ÁCH N ỘI CH ÍNH 2.PH Ụ TR ÁCH XDCB V À KT 3.PH Ụ TR ÁCH SX P. TỔ CHỨC NHÂN SỰ P. KỸ THUẬT C Ơ NĂNG P. XÂY DỰNG CƠ BẢN P. KỸ THUẬT CAO SU P.TIÊU THỤ BÁN HÀNG TRUNG TÂM CHẤT LƯỢNG P.XUẤT NHẬP KHẨU P.QUẢN TRỊ BẢO VỆ P. KHO VẬN VP CÔNG TY P.MT- AT XI NGHI ỆP CAO SU 1 XI NGHI ỆP CAO SU 2 XI NGHI ỆP CAO SU 3 XI NGHI ỆP CƠ ĐIỆN XI NGHI ỆP NĂNG LƯ ỢNG XI NGHI ỆP CSKT XI NGHI ỆP LXH P.TÀI CHÍNH KẾ TOÁN P.KH VẬT TƯ CHI NHÁNH THÁI BÌNH ( Nguồn: Phòng Tổ chức) SRC là công ty cổ phần được thành lập bằng phương thức cổ phần hoá DNNN. Công ty có nhiều chủ sở hữu, mỗi chủ chỉ chịu trách nhiệm cao nhất bằng số vốn cổ phần của họ. Quyền sở hữu và quyền kinh doanh trong doanh nghiệp thường được phân biệt rõ ràng. 2.1. Hội đồng quản trị: là những người nắm giữ lượng cổ phiếu lớn nhất, đại diện cho quyền sở hữu. Những thành viên hội đồng quản trị không nhất thiết là những người trực tiếp điều hành công ty. Nhưng trong công ty cổ phần cao su Sao Vàng, những thành viên nắm cổ phần lớn chính là những nhà quản trị cấp cao của công ty. Những thành viên của hội đồng quản trị bao gồm: - Ông Nguyễn Gia Tường : Chủ tịch hội đồng quản trị, phó tổng giám đốc tổng công ty Hoá chất Việt Nam với số lượng cổ phần nắm giữ          : 2.334.666 cổ phần. Trong đó, sở hữu cá nhân : 66.666 cổ phần Được uỷ quyền đại diện phần vốn của nhà nước: 2.280.000 cổ phần - Ông Lê Công An: là thành viên hội đồng quản trị đồng thời cũng là tổng giám đốc của công ty cổ phàn Cao Su Sao Vàng. Tổng giám đốc là người đứng đầu bộ máy quản lý của công ty. Giám đốc có quyền cao nhất trong ban giám đốc, được thực thi các quyền hạn trong đó: quyết định các vấn đề liên quan tới hoạt động sản xuất kinh doanh, bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức danh quản lý từ trưởng phó các phòng ban trở xuống, quyết định về chi phí và cùng với hội đồng quản trị quyết định các khoản đầu tư, chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị quyền và nghĩa vụ được giao. Số lượng cổ phần nắm giữ                                                    :   49.767 cổ phần.         Sở hữu cá nhân                                                                 :  49.767 cổ phần.  - Ông Nguyễn Quang Rong: là thành viên hội đồng quản trị, phó tổng giám đốc công ty phụ trách xây dựng cơ bản và kĩ thuật. Là người phụ trách mặt kĩ thuật của các sản phẩm doanh nghiệp sản xuất cũng như các cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình hoạt động, kinh doanh của công ty, chịu trách nhiệm trước tổng giám đốc và chủ tịch hội đồng quản trị về kết quả làm việc của bộ phận mình phụ trách. Số lượng cổ phần nắm giữ                                               :  5.000 cổ phần.        Sở hữu cá nhân                                                                 :  5.000 cổ phần. - Ông Lê Văn Cường: là thành viên hội đồng quản trị, phó tổng giám đốc công ty phụ trách sản xuất. Là người phụ trách hoạt động của các xí nghiệp sản xuất, đảm bảo sản xuất đúng hạn, và có hiệu quả (so với kế hoạch đã đề ra), tìm ra, kiến nghị phương pháp tốt nhất sao cho hiệu quả sản xuất cao. Số lượng cổ phần nắm giữ                                               : 33.104 cổ phần.         Sở hữu cá nhân                                                                 : 33.104 cổ phần. - Ông Nguyễn Quang Hào: thành viên hội đồng quản trị, phó tổng giám đốc công ty phụ trách nội chính Số lượng cổ phần nắm giữ                                                 : 29.419 cổ phần. Sở hữu cá nhân                                                               : 29.419 cổ phần. -Ông Lại Cao Hiến: thành viên hội đồng quản trị ,trưởng ban tổ chức nhân sự Tổng Công Ty Hoá Chất Việt Nam Số lượng cổ phần nắm giữ                                              : 2.162.000 cổ phần.              Sở hữu cá nhân                                                     :   2.000 cổ phần.             Được ủy quyền đại diện phần vốn Nhà nước       : 2.160.000 cổ phần. -Bà Đào Thị Hoa : thành viên hội đồng quản trị, kế toán trưởng công ty Số lượng cổ phần nắm giữ                                                          : 1.137.169 cổ phần.             Sở hữu cá nhân                                                                  :     57.169 cổ phần.           Được ủy quyền đại diện phần vốn Nhà nước                : 1.080.000 cổ phần. 2.2. Ban kiểm soát : Là bộ phận tham mưu, giúp hội đồng quản trị trong việc tiến hành việc kiểm tra giám sát hoạt động của công ty . Thành viên ban kiểm soát gồm: - Bà Phạm Thúy Anh - Thành viên ban Kiểm soát, chuyên viên Ban tổ chức nhân sự Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam. - Ông Nguyễn Thanh Tùng - Thành viên ban Kiểm soát, phó phòng Tài chính kế toán, Thành viên Ban kiểm soát Công ty cổ phần Cao su Sao Vàng. Số lượng cổ phần nắm giữ                                                          : 4.194 cổ phần.          Sở hữu cá nhân                                                                 : 4.194 cổ phần.              Được ủy quyền đại diện phần vốn Nhà nước                   :        0 cổ phần. 2.3. Cơ cấu các phòng, ban của SRC Phòng tổ chức nhân sự - nằm trong bộ máy hoạt động của công ty làm các công tác về mặt tổ chức, lao động, đào tạo, khen thưởng, kỷ luật. Phòng có chức năng tham mưu, giúp việc cho giám đốc công ty các công tác trên, có nhiệm vụ thực hiện các công tác do giám đốc công ty phân công hay uỷ quyền Phòng tài chính kế toán- 1 tổ chức thuộc bộ máy quản lý nghiệp vụ của công ty cổ phần cao su Sao Vàng, có chức năng giúp Giám đốc Công ty trong quản lý và thực hiện công tác tài chính, huy động vốn, sử dụng vốn và quản lý vốn có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn trong toàn công t. Tổ chức và thực hiện công tác kế toán, kiểm soát nội bộ của công ty theo đúng qui định hiện hành của Nhà Nước Phòng xây dựng cơ bản – là đơn vị thành viên trong hệ thống quản lý của công ty, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc công ty, chức năng tham mưu cho giám đốc công ty trong việc điều hành công tác đầu tư phát triển mở rộng sản xuất, quản lý việc sử dụng tài sản cố định, vệ sinh công nghiệp môi trường. Phòng xuất nhập khẩu – là một phòng nghiệp vụ nằm trong hệ thống quản lý của công ty, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc công ty, Với chức năng tham mưu giúp giám đốc công ty điều hành công tác nhập khẩu vật tư, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, xuất khẩu các sản phẩm của công ty ra nước ngoài. Phòng vật tư kế hoạch – là phòng tham mưu, giúp việc cho Giám đốc công ty trong việc xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, mua sắm vật tư và quản lý vật tư. Phòng môi trường – an toàn là đơn vị thành viên trong hệ thống quản lý của công ty, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của giám đốc công ty, với chức năng tham mưu cho Giám đốc Công ty trong việc kiểm tra, giám sát, điều hành công tác môi trường – an toàn và tham gia vào chương trình phát triển mở rộng Công ty trong lĩnh vực MT-AT Phòng kĩ thuật cơ năng là đơn vị thành viên trong hệ thống quản lý của công ty, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của giám đốc công ty, phó giám đốc công ty theo phân công và uỷ quyền với chức năng là phòng tham mưu cho giám đốc công ty trong việc điều hành công tác Cơ điện- năng lượng và tham gia vào chương trình phát triển mở rộng của công ty trong lĩnh vực thiết bị Phòng kỹ thuật cao su- là phòng tham mưu, giúp việc cho giám đốc công ty, phó giám đốc công ty trong lĩnh vực kỹ thuật sản xuất các sản phẩm cao su Các công việc liên quan tới kỹ thuật và công nghệ cao su thuộc các ván đề thiết kế, pha chế, công nghệ nghiên cứu triển khai, sáng kiến cải tiến - hợp lý hoá, tiêu chuẩn hoá thuộc chức năng của phòng kĩ thuật cao su . Các hoạt động nghiên cứu triển khai và quản lý kỹ thuật công nghệ cao su phải tuân thủ theo hệ thống các văn bản quản lý kỹ thuật của Công ty và pháp luật nhà nước. Phòng Kho vận – là phòng tham mưu, giúp việc cho giám đốc công ty trong việc quản lý, bảo quản, vận chuyển vật tư hàng hoá của công ty. Phòng quản trị bảo vệ – là phòng tham mưu, giúp việc cho Giám đốc công ty trong việc tổ chức , chỉ đạo, kiểm tra thực hiện các công tác : Bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tài sản CNXH, phòng chống cháy nổ, tổ chức tự vệ và chính sách hậu phương quân đội trong công ty.Mọi hoạt động về bào vệ chính trị, bảo vệ trật tự trị an, bảo vệ tài sản XHCN, dân quân tự về đều phải tuân thủ theo các qui định, các chỉ thị và luật pháp của nhà nước. Chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người lao động trong toàn công ty Tổ chức thưởng trực cấp cứu 24/24 h cho 3 ca sản xuất Tổ chức khám sức khoẻ định kì cho CBCNV theo đúng qui định của nhà nwocs và của ngành Tham gia giải quyết để người lao động được hưởng các chế độ BHYT, BHXH. Tổ chức huấn luyện sơ cấp cứu ban đâu, phòng chống bệnh nghề nghiệp cho người lao đồng Làm tốt công tác KHHGĐ trong toàn công ty Tổ chức bữa ăn giưũa ca cho CBCNV Tham gia giới thiệu và giữu uy tín sản phẩm cho toàn công ty Phòng tiêu thụ bán hàng – là phòng tham mưu, giúp giám đốc công ty trong việc xây dựng kế hoạch tiếp thị quảng cáo và tổ chức hoạt động kinh doanh tiêu thụ sản phẩmvà quản lý sản phẩm hàng hoá trong kho thanh phẩm công ty. Trung tâm chất lượng là bộ phận kiểm tra chất lượng nguyên vật liệu, án thành phẩm và sản phẩm chuyên trách. Sản phẩm chủ yếu của công ty là săm lốp kỹ thuật phức tạp, đòi hỏi chất lượng, đặc biệt là độ an toan cao khi sử dụng nên phải tổ chức bộ phận chuyên sâu trong lĩnh vực quản lý thí nghiệm, thử nghiêm, kiểm tra các tính năng cơ- lý – hoá của nguyên vật kiêu, bán thành phẩm và sản phẩm. Hoạt động kiểm tra, quản lý thí nghiệm phải tuân thủ theo các hệ thống văn bản quản lý chung của công ty, các tiêu chuẩn qui định và luật pháp Nhà nước. 2.4. Các xí nghiệp sản xuất Xí nghiệp cao su 1- là đơn vị sản xuất của Công ty cổ phần cao su Sao vàng tại Hà Nội hạch toán kinh tế nội bộ, không có tư cách pháp nhân. Xí nghiệp hoạt động trên cơ sở điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty cổ phần Cao su Sao Vàng. Xí nghiệp có trách nhiệm sản xuất những mặt hàng sau: Săm lốp xe máy Săm xe đạp Săm, yếm ôtô Màng lưu hoá lốp Săm máy bay các loại Gia công bán thành phẩm cho đơn vị bạn và khách hàng khi được công ty giao Giám đốc xí nghiệp chịu trách nhiệm trước pháp luật trước cấp trên trực tiếpvà cơ quan chủ quản của công ty về các hoạt động của xí nghiệp Xí nghiệp cao su số 2 – là đơn vị sản xuất của công ty cổ phần Cao su Sao Vàng tại Hà Nội hạch toán kinh tế nội bộ, không có tư cách pháp nhân.Xí nghiệp hoạt động trên cơ sở điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty cổ phần Cao su Sao Vàngvà chiuh sự quản lý trực tiếp và toàn diện của Công ty cổ phần Cao su Sao Vàng. Xí nghiệp có trách nhiệm tổ chức sản xuất các mặt hàng : -Lốp xe đạp các loại -Gia công bán thành phẩm cho đơn vị bạn và khách hàng khi được công ty giao Xí nghiệp cao su số 3 – là đơn vị sản xuất của công ty cổ phần cao su Sao Vàng tại Hà nội hạch toán kinh tế nội bộ, không có tư cách pháp nhân. Xí nghiệp hoạt động trên cơ sở điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần Cao su Sao Vàng. Xí nghiệp chịu trách nhiệm tổ chức sản xuất mặt hàng: Lốp ô tô các loại Lốp máy bay các loại Gia công bán thành phẩm cho đơn vị bạn hoặc khách hàng khi được công ty giao. Xí nghiệp cao su kĩ thuật là đơn vị sản xuất của Công ty cổ phần Cao su Sao Vàng tại Hà nội hạch toán kinh tế nội bộ, không có tư cách pháp nhân. Xí nghiệp hoạt động trên cơ sở điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần Cao su Sao Vàng và chịu sự quản lý trực tiếp và toàn diện của Công ty . Xí nghiệp chịu trách nhiệm tổ chức sản xuất mặt hàng cao su kĩ thuật các loại theo đơn đặt hàng của các đơn vị trong Công ty và khách hàng khi được công ty giao. Xí nghiệp năng lượng là đơn vị sản xuất của Công ty cổ phần Cao su Sao Vàng tại Hà Nội hạch toán kinh tế nội bộ, không có tư cách pháp nhân. Xí nghiệp hoạt động trên cơ sở điều lệ tổ chức và hoạt động vủa công ty và chịu sự quản lý trực tiếp và toàn diện của Công ty cổ phần Cao su Sao Vàng. Xí nghiệp có trach nhiệm tổ chức sản xuất hơi nước, khí nén, điều phối nước, điện phục vụ sản xuất. Xí nghiệp cơ điện là đơn vị sản xuất của Công ty cổ phần Cao su Sao Vàng tại Hà Nội hạch toán kinh tế nội bộ, không có tư cách pháp nhân. Xí nghiệp có nhiệm vụ: chế tạo khuôn mẫu, dụng cụ công nghệ các loại đáp ứng nhu cầu của sản xuất kinh doanhcủa các xí nghiệp thành viên và công ty.; sản xuất chế tạo phụ tùng thiết bị cơ khí, điện, đo lường đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh cảu công ty; thiết kế chế tạo các loại máy móc, thiết bị về cơ khí, điện, đo lường đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; sửa chữa, kiểm định Nhà nước các loại đồng hồ áp lực (hơi nóng, khí nén) và đồng hồ áp lực dầu; sửa chữa, kiểm định nội bộ các loại cân đo lường ( từ 0÷ 1000kg) ; sửa chữa kiểm định nội bộ các loại đồng hồ Vôn – ampe. Xí nghiệp luyện cao su Xuân Hoà là đơn vị sản xuất của Công ty cổ phần cao su Sao Vàng tại phường Xuân Hoà - thị trấn Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc, không có tư cách pháp nhân, xí nghiệp hoạt động trên cơ sở điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần Cao su Sao vàng, chịu sử quản lý quản lý trực tiếp và toàn diệnc ủa công ty. Xí nghiệp chịu trách nhiệm sản xuất mặt hàng ; cao su bán hành phảm các loại ; gia công cao su bán thành phẩm cho khách hàng khi được công ty giao. Chi nhánh cao su Thái Bình là đơn vị sản xuất cả Công ty có trụ sở tại phường Tiền Phong, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Chi nhánh cao su Thái Bình không có tư cách pháp nhân nhưng có con dấu riêng (dấu tròn) 3. Một số thành tựu SRC đạt được trong thời gian qua: 3.1. Thành tựu trong hoạt động sản xuất - kinh doanh Công ty CP Cao su Sao vàng đã đầu tư rất nhiều kinh phí, nhân lực và vật lực để phát triển sản xuất, nhằm đưa ra thị trường những sản phẩm cao su mang thương hiệu *SRC có khả năng đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, có những tính năng đặc biệt phù hợp với điều kiện đường xá, đặc điểm sử dụng và thời tiết của Việt nam. Năng lực sản xuất những sản phẩm chính: Săm lốp ô tô các loại: trên 500.000 bộ/năm Lốp xe máy: 2.500.000 chiếc/năm Săm xe máy: 7.000.000 chiếc/năm Lốp xe đạp: 8.000.000 chiếc/năm Săm xe đạp: 10.000.000 chiếc/năm Để cụ thể hóa những cam kết về chất lượng sản phẩm, Công ty biệt chú trọng khâu giám sát chất lượng từng công đoạn sản xuất. Sản phẩm mang nhãn hiệu *SRC hiện nay được đảm bảo bởi hệ thống Quản lý Chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 do Tổ chức quốc tế BVQI chứng nhận. Bằng những sản phẩm chất lượng cao nổi tiếng, sản phẩm Cao su Sao Vàng đã đoạt nhiều giải thưởng uy tín: Giải Vàng – giải thưởng Chất lượng Việt Nam do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường trao tặng; Giải Sáng tạo Khoa học Công nghệ VIFOTEC cho đề tài Nghiên cứu Sản xuất săm lốp máy bay phục vụ Quốc phòng; 5 năm liền đoạt giải TOP-TEN hàng tiêu dùng Việt Nam; Vị trí thứ nhất trong TOP-5 Sản phẩm hàng Việt nam chất lượng cao – Ngành hàng Xe và Phụ tùng; Danh hiệu THƯƠNG HIỆU MẠNH năm 2006 do người tiêu dùng bình chọn. Mọi nỗ lực của Công ty CP Cao su Sao vàng đều hướng tới mục tiêu: "LỐP VIỆT VÌ LỢI ÍCH NGƯỜI VIỆT " Với những thành tưu đạt được, SRC đã chứng tỏ sức mạnh và vị thế của mình trên thị trường sản phẩm cao su. Và điều này một lần nữa được khẳng định qua kết quả kinh doanh của công ty. Bảng 1: Báo cáo tài chính qua các năm 2006 – 2008 (đv: triệu đồng) STT Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 1 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 486.685 897.154 926.251 2 Các khoản giảm trừ doanh thu 3.001 1.237 5.959 3 Doanh thu thuần vê bán hàng và cung cấp dịch vụ 483.684 895.917 920.292 4 Giá vốn hàng bán 419.330 794.004 829.847 5 LN gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ 64.353 101.913 90.445 6 Doanh thu hoạt động tài chính 246 680 1.014 7 Chi phí tài chính 23.677 26.418 47.077 8 Chi phí bán hàng 19.356 25.948 24.381 9 Chi phí quản lý doanh nghiệp 13.349 25.051 19.704 10 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh     8.218 25.177 296 11 Thu nhập khác 1.486 2.273 1.022 12 Chi phí khác 136 1.429 177 13 Lợi nhuận khác 1.349 844 846 14 Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 9.567 26.020 1.141 15 Thuế thu nhập doanh nghiệp 348 16 Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp 9.567 26.020 794 (Nguồn: Phòng kế toán) Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong giai đoạn 2006- 2008 như sau: Từ năm 2006 – 2008 doanh thu thuần từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty liên tục tăng qua các năm . Ở năm 2006, con số này chir đạt 486 tỷ nhưng ở năm 2007 đã đạt 897 tỷ, gần gấp đôi năm 2006. Nhưng năm 2008, con số này chỉ đạt 926 tỷ, một con số khá khiêm tốn so với đà phát triẻn của doanh nghiệp. Năm 2007 có sự phát triên đáng kể như vậy là nhờ chiến lược đúng đắn của doanh nghiệp. Trong năm 2007 Công ty khai thác hiệu quả dự án đầu tư dây chuyền sản xuất săm lốp ô tô trước đây, nâng cao năng lực sản xuất và tiêu thụ với sự tăng trưởng sản xuất lốp ô tô tăng 39,75% và tiêu thụ tăng 55,27% so với cùng kỳ năm 2006. Ở năm 2008, sự tăng chậm của doanh thu nói riêng và của kết quả sản xuất kinh doanh nói chung là do năm 2008 là năm mà nền kinh tế có rất nhiều biến động, các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn. Tăng trưởng chung của cả nước đạt thấp, lạm phát tăng cao ở những tháng đầu năm và chuyển sang suy giảm ở những tháng cuối năm; giá cả nguyên vật liệu và tỷ giá ngoại tệ thất thường, diễn biến khó lường; các ngân hàng áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ, lãi suất cho vay ở mức rất cao... Với những nguyên nhân đó, rất nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng khủng hoảng,sản xuất kinh doanh đình đốn, người lao động thiếu việc làm nghiêm trọng. Do có sự biến động giá cả trên thị trường nên sự tăng trong doanh thu thuần không lột tả hết tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Ta sẽ tìm hiểu tình hình kinh doanh thông qua số lượng sản phẩm tiêu thụ đặc biệt trong năm 2007 - 2008 Bảng 2: Số lượng sản phẩm tiêu thụ năm 2007 – 2008 Đơn vị: Chiếc Sản phẩm Năm Lốp XĐ Săm XĐ Lốp XM Săm XM Lốp ôtô Năm 2007 5.032.340 5.415.239 1.206.541 5.281.004 397.820 Năm 2008 4.667.001 4.685.849 860.720 4.220.553 331.001 Sản lượng giảm 355.339 729.390 345.821 1.060.451 66.819 ( Nguồn: Phòng tiếp thị - bán hàng) Thực tế, theo bảng số liệu trên, số lượng săm lốp xe đạp là lượng sản phẩm được tiêu thụ nhiều nhất trong số các sản phẩm chính của doanh nghiệp. So với năm 2007, sản lượng tiêu thụ năm 2008 có phần thấp hơn nhưng không nhiều. Doanh nghiệp vẫn duy trì được mức sản lượng nhất định dù trong hoàn cảnh nền kinh tế khó khăn chung. Qua 2 năm, săm lốp xe đạp chứng tỏ thế mạnh trong số lượng sản phẩm bán ra tuy nhiên doanh thu của doanh nghiệp lại do lốp ôtô chiếm phần lớn. Điều này được thể hiện rõ qua kết quả tiêu thụ của doanh nghiệp trong năm 2008. Bảng 3: Tình hình tiêu thụ theo sản phẩm năm 2008 STT Tên sản phẩm ĐVT Số lượng Tiền 1 Lốp xe đạp các loại Ch 4.730.731 111.894.894.058 2 Săm xe đạp các loại Ch 4.728549 47.494.836.791 3 Lốp xe máy các loại Ch 1.009.513 78.603.640.209 4 Săm xe máy các loại Ch 4.744.618 103.159.628.707 5 Lốp ôtô các loại Ch 337.370 504.956.633.697 6 Săm ôtô các loại Ch 293.808 34.644.994.226 7 Yếm ôtô Ch 157.027 7.159.334.189 8 Lốp máy bay Ch 1.161 5.235.636.450 9 Săm máy bay Ch 1.177 10 Yếm máy bay Ch 11 Các SP cao su kĩ thuật Ch 2.278.002 23.327.456.884 Tổng cộng 916.497.055.211 ( Nguồn: Phòng tiếp thị - bán hàng) Những sản phẩm này tạo nên doanh thu chủ yếu cho toàn doanh nghiệp và xứng đáng là ngành nghề kinh doanh mũi nhọn của công ty. Theo báo cáo tài chính năm 2008, tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp là 926.251 triệu đồng. Vậy doanh thu từ việc bán sản phẩm cao su đã chiếm 98,9% doanh thu toàn công ty và trong đó sản phẩm săm lốp ôtô chiếm 58,9% trong tổng doanh thu do việc tiêu thụ các sản phẩm cao su đem lại. Những sản phẩm cao su đã thể hiện vai trò quan trọng và vị trí kinh doanh mũi nhọn của mình trong hoạt động sản xuất kinh doanh của toan doanh nghiệp. Tương ứng với doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp cũng có sự biến động khá lớn và thể hiện qua bảng sau đây: (Nguồn : Phòng kế toán) Nhìn vào biểu đồ, ta có thể thấy từ năm 2007, lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế của công ty đều tăng: năm 2006, lợi nhuận trước thuế là 9,567 triệu đồng, lợi nhuận sau thuế là 9,567 triệu đồng, năm 2007, lợi nhuận trước thuế là 26,020, lợi nhuận sau thuế là 26,020, đều tăng 2,73 lần so với năm 2006. Năm 2008, lợi nhuận trước thuế là 1,141triệu đồng. lợi nhuận sau thuế là 794 triệu đồng, so với 2007, lợi nhuận lại bị giảm xuống. Tình hình như trên xảy ra một phần do ảnh hưởng của môi trường kinh doanh nhưng một phần là do doanh nghiệp muốn tién hành bước mạo hiểm để nhằm giúp doanh nghiệp thu lợi nhuận cao hơn trong tương lai, mở rộng ra ngành kinh doanh mới , tạo hình ảnh một cao su Sao Vàng đầy tiềm năng phát triển trong mắt đối tác và khách hàng . Doanh nghiệp đã đầu tư nhằm nâng cao năng lực sản xuất các sản phẩm phục vụ cho các doanh nghiệp sản xuất và lắp ráp xe gắn máy và ô tô tại Việt Nam. Và việc đầu tư cũng đã đem lại một số kết quả nhất định. Công ty đang có các khách hàng chiến lược trong ngành sản xuất và lắp ráp xe ô tô như: Công ty cổ phần ô tô TMT, Công ty TNHH SX$LR ô tô Chu Lai Trường Hải, nhà máy ô tô Xuân Kiên… Đó là lý do tại sao chi phí trong kì hoạt động này tăng lên. Và tin chắc rằng trong tương lai ngắn, lợi nhuận doanh nghiệp sẽ tiếp tục tăng. Về tiền lương cho nhân viên: Do hiÖu qu¶ s¶n xuÊt kinh doanh cña c«ng ty ngµy cµng t¨ng lªn, cïng víi sù quan t©m cña ban l·nh ®¹o c«ng ty, mµ trong nh÷ng n¨m qua thu nhËp cña ng­êi lao ®éng ®­îc n©ng lªn nhanh chãng. §iÒu nµy ®­îc thÓ hiÖn th«ng qua c¸c sè liÖu vÒ tæng quü l­¬ng trong b¶ng vÒ tæng quü l­¬ng vµ thu nhËp trung b×nh cña c¸n bé c«ng nh©n viªn cña c«ng ty vµi n¨m gÇn ®©y. Bảng 4: Bảng tổng quĩ lương và thu nhập bình quân đầu người giai đoạn 2006 – 2008 Năm ĐVT 2006 2007 2008 Tổng quĩ lương Triệu đồng 28.755 61.486 54.976 Thu nhập bình quân Ng.đồng/người/tháng 2.239 3.212 2.838 (Nguồn: Phòng tổ chức – nhân sự) Từ bảng số liệu trên, ta có thể nhận thấy, năm 2006, tổng quĩ lương là 28.755 triệu đồng , thu nhập bình quân là 2.239 nghìn đồng/ người/tháng . Sang tới năm 2007, hai con số này lần lượt là 61.486 và 3.212, vậy thu nhập bình quân đầu người đã tăng thêm 50% so với năm cũ. Đây là một minh chứng cho kết quả kinh doanh cao và sự quan tâm của ban lãnh đạo tới nhân viên trong công ty. Nhưng năm 2008 , tổng quĩ lương và lương bình quân có sự sụt giảm. Đó là do kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong năm này không đạt được mức chỉ tiêu kế hoạch. Bảng 5: Tình hình tài chính của công ty giai đoạn 2006-2008 đơn vị: đồng   Năm Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Tổng tài sản 469,166,304,814 100% 473,130,984,845 100% 558,385,928,163 100% Tài sản ngắn hạn 214,923,467,135 46% 246,847,351,287 52% 290,850,386,537 52% Tài sản dài hạn 254,242,837,679 54% 226,283,633,558 48% 267,535,541,626 48% Tổng nguồn vốn 469,166,304,814 100% 473,068,818,443 100% 558,385,928,163 100% Nợ phải trả 385,704,648,762 82% 316,447,534,422 67% 414,851,021,856 74% Vốn chủ sở hữu 83,461,656,052 18% 156,683,450,423 33% 143,534,906,307 26% ( Nguồn : Phòng kế toán) Nhìn vào bảng số liệu, ta thấy tình hình tài chính của doanh nghiệp khá là “sạch”. Trong cơ cấu thì tổng tài sản ._.cuãng như nguồn vốn có xu hướng tăng lên qua các năm. Trong cơ cấu tài sản của công ty thì tài sản ngắn hạn thường ở mức 45% - 55%, điều này chứng tỏ doanh nghiệp có lượng vốn lưu động khá cao ( tiền, tương đương tiền, các khoản phải thu ngắn hạn,..). Trong cơ cấu nguồn vốn, khoản nợ phải trả có xu hướng giảm xuống, vốn chủ sở hữu và tài sản dài hạn nói chung cũng tăng hơn có xu hướng tăng lên qua các năm tuy nhiên tài sản ngắn hạn tăng nhanh hơn. Cơ cấu tài sản và nguồn vốn khá hợp lý, đảm bảo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thuận lợi. 3.2. Những thành tựu trong hoạt động khác - Về văn hoá, thể thao: hàng năm, doanh nghiệp đều tổ chức Hội thao cho toàn doanh nghiệp với các môn như kéo co, cầu lông, bóng bàn, bóng đá mini... Mỗi thành viên của doanh nghiệp đều được tham gia. Trong năm, doanh nghiệp thực hiên các cuộc phát động như Chiến sĩ thi đua trên mặt trận sản xuất, Chiến sĩ thi đua trên mặt trận dân số… - Hàng năm, doanh nghiệp tổ chức cho anh chị em công nhân viên đi nghỉ mát hàng năm như ở Đồ Sơn, Ninh Bình, Cửa Lò… Doanh nghiệp đã thực sự có những hoạt động quan tâm nhân viên về mặt tinh thần. Doanh nghiệp có riêng bộ phận công đoàn để tiếp nhận ý kiến của nhân viên công ty và đồng thời cũng là bộ phận tổ chức những hoạt động mang ý nghĩa cổ vũ tinh thần anh chị em công nhân viên. 4. Một số đặc điểm kinh tế - kĩ thuật cơ bản ảnh hưởng tới hoạt động tiêu thụ sản phẩm trên thị trường miền Bắc của Công ty 4.1. Đặc điểm của sản phẩm săm lốp. - Thứ nhất, trên khía cạnh kinh tế, săm lốp xe nói chung hiện nay là loại sản phẩm thiết yéu. Cùng với sự phát triển của xã hội, con người được nâng cao cuộc sống, mỗi gia đình dù nghèo cũng phải có ít nhất 1 chiếc xe đạp hoặc một chiếc xe máy để kiếm sống. Mặt khác, quan sát mật độ dân cư di chuyển ở các đô thị ta cũng nhận thấy được mức độ sử dụng xe máy, xe đạp, ôtô cao như thế nào. Hiện nay, trên thị trường VN và trên thế giới chưa phát triển sản phẩm thay thế cho loại sản phẩm săm lốp. Vì vậy sản phẩm này có một chỗ đứng vững chắc và trở thành nhu cầu thiết yếu cho mỗi người tiêu dùng. - Thứ 2, săm lốp được sản xuất từ nguyên liệu chủ tếu là cao su thiên nhiên và cao su tổng hợp. Cao su thiên nhiên được chiết suất từ mủ cây cao su, một loại cây công nghiệp trồng nhiều ở nước ta. Tính đến nay, vừa tròn 110 năm cây cao su được du nhập vào VN (1897) và 100 năm hình thành những đồn điền kinh doanh (1907). Diện tích trồng cây cao su đã tăng rất nhanh, từ 7.077 ha tập trung tại các tỉnh Đông Nam Bộ vào năm 1920; đã tăng lên đến 480.200 ha trên cả nước, cho tổng sản lượng mủ khai thác đạt 468.600 tấn. Những số liệu ghi nhận được cho thấy, việc phát triển mạnh mẽ cây cao su trong cả nước chỉ được bắt đầu từ sau năm 1975. Nhất là từ năm 1982, Nhà nước có chiến lược đẩy mạnh tốc độ phát triển ngành cao su, và diện tích trồng mới đã tăng nhanh từ 5.000 ha/năm lên 20.000 ha/năm. Trong những năm 1990, cao su tiểu điền lại được khuyến khích phát triển không chỉ trong những dự án của Nhà nước, mà phần lớn do dân tự đầut ư. Theo thống kê năm 1976, tổng diện tích cao su mới chỉ có 76.600 ha (riêng các tỉnh phía Bắc có khoảng 5.000 ha), với sản lượng 40.200 tấn. Năm 2005, cả nước đã có 480.000 ha, và đạt sản lượng 468.600 tấn mủ. Riêng khối quốc doanh có khoảng 287.800 ha (chiếm 72,7%) và 380.500 tấn (81,2%) với năng suất khá cao, do áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và giống cao sản. Diện tích cao su tiểu điền và tư nhân ước khoảng 194.370 ha (chiếm 40,5% tổng diện tích) và sản lượng khoảng 88.000 tấn (chiếm 19% tổng sản lượng). Ông Lê Quang Thung xác nhận, vị thế của ngành cao su VN trên thế giới ngày càng được khẳng định. Trước năm 2005, VN là nước sản xuất cao su thiên nhiên đứng thứ 6 trên thế giới (sau các nước Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Ấn Độ và TrungQuốc). Năm 2005, nhờ sản lượng tăng nhanh hơn Trung Quốc, VN đã vươn lên hàng thứ 5. Riêng về xuất khẩu, từ nhiều năm qua VN đứng hàng thứ 4, với sản lượng tăng dần qua các năm, từ 273.400 tấn (năm 2000), lên 308.100 tấn (2001), 454.800 tấn (2002), 433.106 tấn (2003), 513.252 tấn (2004), 587.110 tấn (2005) và 690.000 tấn (năm 2006). Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao su của VN trong giai đoạn 2001-2006 bình quân đạt 17,66%/năm, là cao nhất so với các nước Thái Lan (2,37%), Indonesia (5,27%), Malaysia (3,52%). Năm 2005, tổng kim ngạch xuất khẩu cao su đạt 804 triệu USD (xếp thứ 2 trong số các mặt hàng nông sản xuất khẩu sau gạo); năm 2006 đã đạt 1,27 tỷ USD và là mức cao nhất từ trước tới nay.Theo tính toán, năm 2006, bình quân mỗi ha cao su đã đạt mức tổng thu khoảng 46 triệu đồng (đối với khối quốc doanh), và khoảng 27 triệu đồng (đối với cao su tiểu điền), riêng của Tổng công ty Cao su VN đạt mức bình quân hơn 50 triệu đồng/ha. Ngoài hiệu quả kinh tế như đã được ghi nhận, cây cao su còn góp phần giải quyết việc làm cho khoảng 110.000 lao động khối quốc doanh và trên 77.000 hộ nông dân tiểu điền. Những năm gần đây, do thị trường và giá cả thuận lợi, năng suất lại gia tăng..., nên thu nhập của người trồng cao su có nhiều cải thiện đáng kể; nhiều địa phương đã sử dụng cây cao su như một giải pháp xóa đói giảm nghèo.Thực tế, tại các vùng trồng cây cao su, hệ thống giao thông vận chuyển được đầu tư mới và nâng cấp nhiều, góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới mới phát triển cây cao su trong những năm gần đây.Với diện tích năm 2006 khoảng 500.000 ha, cây cao su cũng còn được các chuyên gia đánh giá là đã góp phần đáng kể vào việc che phủ và chống xói mòn đất, nhất là tại các vùng đồi núi khu vực Tây Nguyên và duyên hải miền Trung. Công ty có lợi thế lớn về nguồn nguyên liệu. Tuy nhiên, hiện nay cao su thiên nhiên trong nước có xu hướng tăng nhanh vì theo nhận định của hiệp hội cao su Việt nam, khí hậu thất thường do hiện tượng El Nino, gây thiệt hại cho nhiều lhu vực trồng cao su, nguồn cung bị ảnh hưởng nặng nề. Giá cả cao su thiên nhiên thế giới ( Thái Lan, Malaysia, Indonesia..) tăng nhanh, các nước xuất khẩu cao su mạnh đang phải hạn chế lượng xuất khẩu để tiêu dùng đủ trong nước. Bên cạnh đó, cao su tổng hợp được lấy từ dầu mỏ, với giá dầu đang biến động, nguồn cung cao su tổng hợp cũng gặp nhiều khó khăn. - Thứ ba, trên khía cạnh kĩ thuật, mọi chiếc lốp đều gồm : + Có nhiều lớp vải mành cường lực cao + Các vòng tanh + Mặt lốp nhiều thành phần với các rãnh hoa văn Chức năng của các bộ phận của lốp: + Các vòng tanh mỗi bên gót có tác dụng giữ chặt lốp trên vành + Mặt lốp tiếp xúc với mặt đường, có các rãnh hoa văn để tăng độ bám đường và chuyền sức kéo. + Mặt lốp và các vòng tanh liên kết chặt chẽ với thân lốp. + Thân lốp gồm nhiều lớp vải cường lực cao, có khả năng chịu áp suất bơm hơi lớn để có thể mang tải. + Lớp cao su trong lòng (da dầu) có tác dụng bảo vệ lòng lốp và săm khi chúng tiếp xúc với nhau và tránh hơi ẩm thẩm thấu vào các lớp vải. Công ty cổ phần Cao Su Sao Vàng cũng như mọi doanh nghiệp sản xuất khác trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu của doanh nghiệp là thu lợi nhụân cao, đạt được hiệu quả kinh doanh cao nhất trong điều kiện hoạt động của công ty, xây dựng một hình ảnh Cao Su Sao Vàng mạnh trong mắt người tiêu dùng. Để đạt được những mục tiêu đó, doanh nghiệp phải tiêu thụ được sản phẩm và sản phẩm phải được khẳng định chất lượng thông qua sự tiêu dùng của khách hàng. Kinh tế thị trường đồng nghĩa với việc doanh nghiệp trong nền kinh tế ấy phải “cung những gì khách hàng cần” chứ không phải là “cung những gì doanh nghiệp có”. Cao Su Sao Vàng đã thực hiện tốt công việc này. Vì công nghệ sản xuất săm lốp cao su nhập về Việt Nam khá tương đồng nên sản phẩm làm ra không mấy khác biệt về tính chất cơ lý, về qui cách sản phẩm. Nhưng điều quan trọng là doanh nghiệp đã đưa sản phẩm tới đúng đối tượng đứng người tiêu dùng, tạo cho khách hàng sự thoả mãn trong tiêu dùng. Đó là do doanh nghiệp đã khéo léo năm bắt được đặc điểm thị trường để có sự điều chỉnh sản phẩm thích hợp 4.2. Đặc điểm thị trường Tương ứng với từng thị trường, công ty nhận thức được sự khác biệt trong nhu cầu của người tiêu dùng và từ đó đã có những thay đổi nhất định về sản phẩm cung cấp cho thị trường đó. Về lốp xe đạp : Trước kia, xe đạp không chỉ là phương tiên vận chuyển chủ yếu mà còn là phương tiên chở hàng. Với nhu cầu như vậy, lốp xe đạp ngày xưa đơn giản, không màu mè, vân lốp cũng bình thường nhưng số lớp vải nhiều hơn để xe chịu mài mòn và tải trong, va đập. Còn ngày nay, nhu cầu của khách hàng đã thay đổi, xe đạp thậm chí không còn là phương tiện đi lại chính trong nội thành, ở cùng nông thôn, miền núi, xe đạp cũng chỉ còn là phương tiên đi lại chứ không để chở hàng. Trước nhu cầu đó, sản phẩm lốp xe đạp thay đổi như thế nào? Lốp xe đạp được công ty phân loại thành hai loại thích hợp với nhóm khách hàng mục tiêu. Đó là lốp cho xe trong thành phố và lốp cho xe trong vùng nông thôn. Trong thành phố, lượng sử dụng xe đạp thấp tính cơ động trong đi lại của nó không còn cạnh tranh được với xe máy vì vậy nâng cấp kiểu dáng, vẻ ngoài chiếc xe là điều quan trọng để thu hút khách hàng, và chiếc lốp xe đạp cũng được thay đổi. Ở thành phố, ta sẽ bắt gặp nhiều chiếc lốp có hai màu (đen trắng, vàng trắng, ) có khi cả lốp trắng, lốp đỏ và ít gặp những chiếc lốp đen đơn thuần. Để làm ra những chiếc lốp xinh đẹp như vậy, đó là do trong quá trình luyện cao su, người công nhân đã cho thêm chất hoá học vào đề tạo thành lốp màu. Những vân lốp của xe cũng kiểu cách hơn tạo vẻ đẹp mắt cho người tiêu dùng để thu hút khách hàng. Và ở vùng nông thôn thì sao? Với nhóm khách hàng này, doanh nghiệp đã tìm hiểu điều kịên sử dụng, mục đích sử dụng của họ và đưa đến cho khách hàng này sản phẩm có đặc điểm như sau lốp đen, số lớp vải ở thân lốp nhiều hơn. Về lốp xe máy: doanh nghiệp cũng dựa trên điều kiện sử dụng của người iêu sùng để tạo nên 2 loại sản phẩm chính có tính năng cơ lý khác nhau. Thứ nhất, loại lốp dùng cho xe máy đi trong nội thành. Loại lốp này sẽ được sản xuất như thông thường với 4 lớp vải ở thân lốp, hoa văn lốp sẽ cầu kì và độ bám đường của hoa lốp không yêu cầu cao. Lốp xe máy của các xe trong nội thành có đặc điểm này là vì đường đi trong nội thành là nhăn, ít bị gồ ghề, dù trời mưa, đường nhựa độ trơn trượt không cao. Thứ hai, loại lốp dùng cho xe máy đi ở vùng nông thôn. Loại lốp này được sản xuất với 6 lớp vải, có khi 8lớp vải, 10 lớp vải. Hoa lốp được sản xuất theo kiểu tạo sự bám đường cao. Lốp xe máy đi ở vùng nông thôn được sản xuất như vậy vì điều kiện đường xá ở vùng nông thôn, miền núi còn xấu. Nhiều chỗ đường đất vẫn còn sỏi đá, khi trời mưa trở thành bùn độ trơn trượt rất cao vì vậy đồi hỏi loại lốp bám đường cao để đảm bảo an toan. Mặt khác, những khách hàng này mua xe không chỉ để đi lại mà còn nhằm mục đích chở hàng hoá, làm phương tiện kiếm sống. Vì vậy, lốp xe phải được cấu tạo thêm lớp vải để lốp chịu được tải. Về lốp ô tô: tương tự, doanh nghiệp có hai loại lốp chính đó là lốp dùng trong công trình (lốp công trình) và lốp di chuyển trên đường thường (lốp thường). Công trình là nơi diễn ra việc xây dựng, khai thác… vì vậy không thể tránh khỏi sỏi đá và có khi còn có chường ngại vật lớn. Lốp công trình cần có mặt lốp chịu được va đập và việc này đã được thực hiện trong khâu sản xuất của doanh nghiệp. Số lớp vải lớn vì xe công trình thường sử dụng để chở nguyên vật liệu nên cần có sức chịu tải cao, hoa lốp tạo tính bám đường cao. Lốp thường đi trên đường nhựa thông thường, lốp xe được sản xuất theo qui cách thông thường. Lượng lớp vải tuỳ theo tải trọng từng xe mà được sản xuất. Xét ở thị trường miền Bắc, những đặc điểm thị trường nào ảnh hưởng tới việc tiêu thụ sản phẩm của SRC: Mật đồ dân cư ngoài Bắc mà đại diện là Hà Nội, thủ đô của cả nước là 3.490người/km2 một mật độ dân cư cao. Vùng đồng bằng sông Hồng khoảng trên 1.200 người/km2, nhiều tỉnh “thuần nông”, như: Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên, Bắc Ninh mật độ dân số cũng lên tới trên 1.100 người/km2. Trong khi đó, miền nam, đại diện là thành phố Hồ Chí Minh, mật độ dân cư là 2.909 người/ km2. Với lượng dân cư đông như vây, miền Bắc thực sự là thị trường tiêu thụ sản phẩm đầy tiềm năng. Về đặc điểm khí hậu, miền Bắc có cả mùa mưa, mùa khô khiến cho sản phẩm lốp , săm có xu hướng bị mòn, hư hại sớm hơn. Nắm được vấn đề này, SRC đã tăng cường thêm tính chất cơ lý của sản phẩm bằng cách cho thêm thành phầm hoá học trong quá trình luyện cao su. Về thị hiếu tiêu dùng của khách hàng miền Bắc, dân cư miền Bắc khá kĩ tính và họ ít thay đổi thưong hiệu sản phẩm mình đang tiêu dùng sang một thương hiệu khác. Khác với miền nam, việc tiêu dùng của khác hàng miền Nam thoải mái hơn, họ có thể thay đổi thương hiệu mà mình tiêu dùng sang một thương hiệu khác. Đặc điểm này là lợi thế cho SRC và công ty đã thực sự có chỗ đứng vững chắc trong lòng người tiêu dùng miền Bắc. Đối thủ cạnh tranh của công ty trên thị trường này tương đối mờ nhạt. Hệ thống các đại lý phân bố rộng khắp các tỉnh thành miền Bắc. (Nguồn: Phong tiếp thị – bán hàng) Dựa vào đồ thị trên, ta nhận thấy doanh thu thị trường miền Bắc tăng dần đều và khá ổn định qua các năm và chiếm tỉ lệ các trong tổng doanh thu của công ty nhưng khu vực miền Trung và miền Nam thì ngược lại. 4.3. Đặc điểm về thiết bị máy móc, cơ sở vật chất Để tạo ra sản phẩm bán ra ngoài thị trường, yếu tố máy móc, thiết bị công nghệ là vô cùng quan trọng. Nhiều trường hợp chất lượng máy móc sẽ có ảnh hưởng tới chất lượng của sản phẩm tạo ra và vì vậy sản lượng tiêu thụ chịu ảnh hưởng của những đặc điểm của máy móc. Hiện nay công nghệ sản xuất săm lốp ở nước ta chưa có nhiều biến chuyển vì vậy ta sẽ đề cập việc sử dụng công nghệ đó trong thực tế. Doanh nghiệp sử dụng thế nào? Khấu hao tài sản ra sao? Công ty có kế hoạch mua săm máy móc mới không? Tương tự như vậy cơ sở vật chất ảnh hưởng lớn tới chất lượng sản phẩm. Cơ sở vật chất là những điều kiện như nhà xưởng, khu văn phòng, nhà ăn…của công ty, nó tạo nên môi trường làm việc cho người công nhân. Và tất nhiên, một môi trường tiện nghi bao giờ cũng tạo động lực cũng như giúp người công nhân có sự sáng suốt, cẩn thận trong quá trình lao động. Thực tế, SRC có qui mô sản xuất lớn, máy móc phục vụ sản xuất nhiều, vì vậy ta khó lòng đánh giá hết tình hình sử dụng, công suất sử dụng của tất cả các máy móc ở mỗi xí nghiệp sản xuất mà chỉ có thể lựa chọn những đối tượng tiêu biểu để đánh giá. Trước hết, ta sẽ nhìn nhận tình hình sử dụng nhà cửa, kiến trúc của SRC. Bảng 6: Khấu hao cơ bản 6 tháng đầu năm 2009 Đơn vị: đồng STT Tên kiến trúc Năm sử dụng KHCB 6 tháng Thời gian khấu hao Thời gian đã trích 1 Nhà cán tráng ép suất mới 2003 218,089,487 22 8 2 Nhà sản xuất săm 2 tầng 1993 96,823,328 20 11 3 Nhà sản xuất chính 1999 0 20 9 4 Nhà văn phòng 2000 0 20 8 5 Nhà kho 2003 16,412,301 15 5.5 Từ bảng tính khấu hao trên, ta nhận thấy khu sản xuất chính và khu văn phòng, dù mới chỉ đem vào sử dụng được 9 năm và 8 năm nhưng tài sản này đã khấu hao hết. Trong khi đó, thực tế dự định thời gian khấu hao của mỗi tài sản này là 20 năm. Bên cạnh dó, nhà cán tráng ép suất mới được đưa vào sử dụng từ năm 2003, đến nay là 6 năm nhưng đã trích khấu hao cho 8 năm, trích khấu hao khá nhanh. Xảy ra tình hình này có thể do những năm vừa qua, tăng trưởng của donh nghiệp khá cao, đơn hàng nhiều, khiến cho việc sản xuất nhiều hơn, thường xuyên hơn, vì vậy hiện trạng kiến trúc bị yếu đi nhanh chóng. Nhưng công ty cũng cần ruít ra bài học, phải quản lý việc xây dựng, việc sử dụng kiến trúc, khu văn phòng, nhà máy, một cách chặt chẽ hơn, tránh tình trạng để khu vực làm việc hư hỏng nhanh, ảnh hưởng tới công nhân làm việc cũng như ảnh hưởng tới một hình ảnh SRC quy mô, bề thế. Tiếp theo, ta theo dõi bảng sau đây. Bảng 7: Khấu hao cơ bản 6 tháng thiết bị động lực của SRC XN STT Tên thiết bị Năm sử dụng Tg khấu hao Tg đã trích KHCB 6 tháng XNCS1 1 Máy nén khí HTA 65 H 1997 8 9.8 0 2 Bình nén khí 3 m3 1998 6 10 0 3 Bơm chân không 1998 6 8 0 4 Máy hút chân không 2000 8 7.4 0 5 Máy hút chân không 2002 6 6 0 6 Máy bơm chân không BCK 2004 6 4.7 1,874,506 7 Bơm BCK 20 – 680 động cơ 11kw 2007 6 2 2,216,642 XNCS 2 1 Hệ thống lọc thô khí nén lưu hoá 2003 6 2 1,380,988 XNCS3 1 Máy nén khí 120-70715 2000 8 7.4 1,205,189 2 Hệ thống máy nén khí trục vít 2005 12 6.7 33,599,289 3 Hệ thống máy sấy khí+phin lọc 2003 10 5.6 2,600,703 4 Tháp giải nhiệt FRK 2003 10 5.8 3,884,846 5 Hệ thống hút chân không 2002 8 5.6 15,613,715 6 Bình chân không V3000L 2000 6 6.8 0 7 Máy bơm MN 50 – 250C (cán tráng) 2003 6 5.75 843,280 8 Bơm nước nóng HPK Y80-400 2001 6 6.2 0 XNCS4 1 Máy nén khí TA-100 2003 8 5.8 1,844,655 2 Tháp giải nhiệt FRK60 1999 8 8.2 0 Dựa vào bảng khấu hao trên, ta nhận thấy SRC đã sử dụng hiệu quả, khai thác tối đa khả năng sử dụng của các thiết bị động lực, đồng thới cũng có sự bổ sung những máy móc mới . Tuy nhiên, những thiết bị hết thời gian sử dụng chiếm một tỷ lệ lớn, vì vậy công ty cần có kế hoạch bổ sung máy móc sớm, đảm bảo quá trình sản xuất được xuyên suốt. 4.4 Đặc điểm về chất lượng đội ngũ nhân viên phòng tiêu thụ bán hàng Con người, một trong những nhân tố tạo nên tiềm lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Ở đây ta đanh xét tới vấn đề tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp vì vậy con người, những nhân viên phòng tiêu thụ bán hàng chính là những người góp phần quyết định tới doanh số, doanh thu tiêu thụ. Phòng tiêu thụ bán hàng hiện nay có 15 người. Trong đó, số lượng tốt nghiệp đại học : 11 Số lượng tốt nghiệp cao đẳng : 3 Số lượng tốt nghiệp trung cấp: 1 Tuy nhiên chất lượng làm việc không phản ánh hoàn toàn qua bằng cấp mà qua hiệu quả làm việc thực tế của nhân viên do trưởng phòng đánh giá. Phần lớn lực lwongj nhân sự của phòng đều trẻ, từ độ tuổi 35 trở xuống, làm việc lâu dài tại công ty nên có kinh nghiêm. Mặt khác, công ty luôn chú trọng đào tạo ngưòi mới ( những nhân viên cũ có nhiều kinh nghiệm sẽ là người đảm nhận công việc này) đồng thời tạo điều kiện nâng cao năng lực nhân viên thông qua các khoá đào tạo, hỗ trợ đi học… 4.5. Phương thức bán SRC là một doanh nghiẹp sản xuất với qui mô lớn. Với khối lượng khách hàng lớn, trải rộng nhiều tỉnh, doanh nghiệp đã lựa chọn phương thức bán thích hợp đó là: bán hàng thông qua các đại lý. Đại lý của SRC có mặt ở khắpc các miền Bắc, Trung, Nam. Đây là hình thức mang lại nguồn doanh thu lớn nhất cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng có tổ chức bán lẻ tại trụ sở công ty. Hình thức này đang có xu hướng bị loại bỏ trong tiêu thụ sản phẩm của công ty. CHƯƠNG II PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ CỦA CTCP CAO SU SAO VÀNG TẠI THỊ TRƯỜNG MIỀN BẮC Phân tích tình hình số lượng sản lượng tiêu thụ sản phẩm Ngành sản xuất săm lốp là một ngành công nghiệp lâu đời ở nước ta. Cùng với sự phát triển của xã hội, của nền kinh tế trong nước, ngành đã có nhiều sự thay đổi. Sản phẩm săm lốp hiện nay đã và đang gắn chặt với người tiêu dùng Việt Nam, kết quả kinh doanh của nó còn đóng góp vào ngân sách nhà nước, tạo điều kiện để xây dựng đất nước. Vì vậy, việc sản xuất ra những sản phẩm chất lượng cao nhằm thúc đẩy tiêu thụ đáp ứng nhu cầu khách hàng, nâng cao kết quả kinh doanh là một yêu cầu hết sức cần thiết đối với công ty. Sản phẩm của công ty gồm nhiều chủng loại, bao gồm: Bảng 8: Các loại sản phẩm của SRC STT TÊN SẢN PHẨM VÍ DỤ 1 Lốp xe đạp các loại ( >30 loai) 37 – 548(đỏ, đen, hai màu), 322 – 622 (đen trắng, hai màu), 37 – 590 (đen, 2màu), 37- 540(đỏ, đen,2màu)….. 2 Săm xe đạp các loại (>20 loại) 650,680,540…. 3 Lốp xe máy các loại(>45 loại) 250 -17 4PR; 250- 17 SR; 2:25 – 16 4PR; 2: 75 – 16 6PR; 3: 50 – 10; 4 Săm xe máy các loại(>11 loại) 2:50 17 4PR; 2:75- 17 TR4; 3:00 -18 TR; 2:25 – 16 TR4 5 Lốp ôtô các loại(>60 loại) 1200 – 20;11:00 – 20; 9:00 – 20:6:50 – 16; 6:50 -14; 8:25 – 16;6:00 -12; 4:00-10 6 Săm ôtô các loại 1200 – 20; 900 – 20; 650 -14…. 7 Sản phẩm cao su kĩ thuật 8 Lốp máy bay TU-134(930x305); IL18; MIG – 21( 800x200) ( Nguồn: Phòng tiếp thị - bán hàng) Vì qui mô sản xuất của SRC lớn, những sản phẩm tạo ra nhiều, chuyên đề chỉ đề cập phân tích tới những sản phẩm chính của doanh nghiệp đem lại lợi nhuận cao cho công ty, đó là sản phẩm săm lốp các loại. Bảng 9: Số lượng sản phẩm tiêu thụ qua các năm 2005- 2006 -2007 – 2008 tại thị trường miền Bắc Đơn vị: Chiếc Sản phẩm 2005 2006 2007 2008 Lốp xe đạp 3,115,854 3,215,489 3,635,353 3,643,606 Săm xe đạp 3,458,720 3,985,412 4,365,841 3,988,249 Lốp xe máy 821,564 890,254 984,935 775,507 Săm xe máy 3,824,862 4,165,482 4,943,673 4,000,864 Lốp ôtô 125,245 148,627 197,014 184,354 (Nguồn: Phòng tiếp thị - bán hàng) Từ bảng trên ta thấy, nhìn chung sản phẩm của doanh nghiệp đều tăng khoảng 7- 10%. Đây là mức tăng trưởng ổn định và khá là cao. Sản phẩm săm lốp xe đạp chiếm tỷ trọng khá cao trong số sản phẩm tiêu thụ. Mức sản lượng tiêu thụ của loại sản phẩm này vẫn tăng nhưng có xu hướng tăng chậm hơn. Năm 2007, năm mà ban lãnh đạo công ty đánh giá là năm sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao nhưng mức tăng sản lượng tiêu thụ của sản phẩm săm lốp xe đạp được 10 %. Trong khi đó sản phẩm săm xe máy đã thể hiện sự phát triển nhanh chóng về sản lượng sản phẩm, tăng 18,7% trong sản lượng tiêu thụ. Sự thay đổi này phù hợp với sự thay đổi nhu cầu tiêu dùng của người dân. Trong khoảng 10 năm trở lại đây, mật độ sử dụng xe đạp càng ngày càng giảm, xe đạp không còn giữ vị trí chính yếu trong phương tiện giao thông, phương tiện chuyên chở như trước mà thay vào đó là xe máy. Lưu lượng xe máy ngày càng đông hơn đặc biệt trong giờ cao điểm. Bạn thử tưởng tưởng đường Trường Chinh lúc 17h30, khắp nơi chỉ thấy xe máy và mũ bảo hiểm. Ta có thể nhận thấy được mức độ sử dụng xe máy cao như thế nào. Và tương lai, cùng sự phát triển của xã hội, sản phẩm lốp ôtô cũng sẽ ngày càng phát triển. Tính tới thời điểm này, sản lượng sản phẩm lốp ôtô bán được ít nhưng nó đang dần tăng lên và vì giá sản phẩm này cao hơn các sản phẩm khác nên nó luôn góp phần khá cao trong doanh thu của toàn công ty. Tuy nhiên, sự phát triển của công ty cũng gặp phải không ít khó khăn. Trong đó, ta nhận thấy được vấn đề: sự ảnh hưởng của môi trường kinh doanh. Nếu năm 2007 là năm doanh nghiệp phát triển thuận lợi thì sự phát triên này như sự bình lặng trước cơn bão năm 2008. Năm 2008, khủng hoảng kinh tế thế giới và ảnh hưởng tới kinh tế Việt Nam. Kinh tế Việt nam gặp sáng gió do nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể tới vấn đề lạm phát. Giá sản phẩm tăng lên, dẫn tới doanh thu tiêu thụ tăng nhưng thực tế sản lượng sản phẩm tiêu thụ lại giảm xuống rõ rệt so với năm 2007. Theo như bảng số liệu trên, sản phểm săm lốp xe máy, lốp ôtô chịu ảnh hưởng mạnh, sản lượng tiêu thụ của lốp xe máy giảm 21%, của săm xe máy giảm 19,1%, của lốp ôtô giảm 6,4%. Bảng 10: Mức độ hoàn thành kế hoạch sản lượng tiêu thụ 2006- 2008 Đơn vị: Chiếc Sản phẩm 2006 2007 2008 KH Thực hiện % HTKH KH Thực hiện %HTKH KH Thực hiện %HTKH Lốp xe đạp 3,156,821 3,215,489 101,9 3,354,478 3,635,353 108,4 3,805,487 3,643,606 95,7 Săm xe đạp 3,843,205 3,985,412 103,7 4,142,570 4,365,841 105,4 4,450,482 3,988,249 89,6 Lốp xe máy 845,632 890,254 105,3 914,358 984,935 107,7 970,548 775,507 79,9 Săm xe máy 4,089,458 4,165,482 101,9 4,289,478 4,943,673 115,3 4,810,874 4,000,864 83,2 Lốp ôtô 135,654 148,627 109,6 160,584 197,014 122,7 205,847 184,354 89.6 (Nguồn : Phòng kế hoạch+ phòng tiếp thị bán hàng) Dựa vào bảng số liệu trên, ta thấy rằng công ty hoàn thành khá tốt kế hoạch sản lượng mà mình đề ra. Năm 2008, công ty cũng đã dự đoán trước được tình hình kinh tế trong nước nên đặt kế hoạch thấp hơn nhưng kết quả thực tế có thể nói là thịt hại cao hơn so với dự đoán của ban lãnh đạo công ty. Năm 2007, những phát triển vượt bậc của công ty thực sự phản ánh nỗ lực của ban lãnh đạo công ty , của từng nhân viên trong công ty đặc biệt là những công nhân sản xuất, những nhân viên phong nguyên liệu đầu vào, và những nhân viên phòng tiếp thị bán hàng. Toàn thể ban lãnh đạo của công ty cần phải tiếp tục giữ vững và đưa SRC thoát khỏi khủng hoảng tiếp tục tăng trưởng. Phân tích mặt hàng tiêu thụ Nền kinh tế thị trường khác nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung ở một điểm rất cơ bản. Đó là doanh nghiẹp trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung không phải lo về đầu vào , khong phải lo tiêu thụ ở đâu, dự trữ thế nào. Công việc này là của Nhà Nước và doanh nghiệp chỉ phải lo sản xuất. Nhưng trong kinh tế thị trường, doanh nghiệp phải đảm nhận các khâu đó. Doanh nghiệp phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn tồn tại thì phải cạnh tranh. Có nhiều phương thức, nhiều công cụ để doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường. Một trong số đó chính là sản phẩm. Doanh nghiệp phải nhận thức được sản phẩm của mình có lợi thế gì, đem lại lợi ích khác biệt nào cho khách hàng mà đối thủ không cung cấp được. Với những doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm thì việc xác định mặt hàng mang tính cạnh tranh cao là điều cần thiết. Hãy quan sát bảng số liệu sau: Bảng 11: Tổng doanh thu tiêu thụ theo mặt hàng giai đoạn 2005- 2008 trên thị trường miền bắc Năm 2005 2006 2007 2008 Tổng doanh thu (NĐ) 338,562,796 451,856,103 594,376,229 656,240,707 Lốp xe đạp(chiếc) 3,115,854 3,215,489 3,635,353 3,643,606 Săm xe đạp 3,458,720 3,985,412 4,365,841 3,988,249 Lốp xe máy 821,564 890,254 984,935 775,507 Săm xe máy 3,824,862 4,165,482 4,943,673 4,000,864 Lốp ôtô 125,245 148,627 197,014 184,354 (Nguồn: Phòng tiếp thị bán hàng) Từ bảng trên , ta nhận thấy loại sản phẩm chiếm ưu thế sản xuất là lốp xe đạp, săm xe đạp và săm xe máy. Trong tổng sản lượng sản phẩm sản xuất ra, năm 2007, lốp xe đạp chiếm 25,7%, săm xe đạp chiếm 30,9%, săm xe máy chiếm 34,97%; năm 2008 lốp xe đạp chiếm 28,9%, săm xe đạp chiếm 31,7%, săm xe máy chiếm31,8%. Tuy nhiên, sản phẩm đem tới phần lớn doanh thu cho doanh nghiệp là sản phẩm lốp ôtô vì sản phẩm này có giá cao hơn hẳn lốp, săm xe đạp, xe máy nên phần giá trị nó thu về cũng cao hơn, thường chiếm khoảng 40% doanh thu của cả doanh nghiệp. Phân tích thị trường Thị trường ở đây được hiểu bao gồm thị trường yếu tố đầu vào và thị trường các yếu tố đầu ra. Thị trường yếu tố đầu vào là nơi doanh nghiệp mua các nguyên vật liệu, nhiên liệu, máy móc phục vụ cho quá tình sản xuất. Những thông tin chuẩn xác về thị trường này sẽ giúp doanh nghiệp đưa ra những quyết định kinh doanh đúng đắn. Trong thị trường này, công ty đóng vai trò người mua. Thị trường đầu ra là nơi doanh nghiệp bán, tiêu thụ sản phẩm mà doanh nghiệp tao ra. Trên thị trường này, doanh nghiệp đóng vai trò người bán. Thị trường đầu ra sẽ quyết định lượng sản phẩm bán ra, lượng tiền thu về, vòng luân chuyển vốn và từ đó ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Với chuyên đề này, ta đi sâu phân tích về thị trường tiêu thụ. Với mỗi doanh nghiệp kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, có lẽ điều ban lãnh đạo doanh nghiệp lo sợ nhất không phải là doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ mà là khi sản phẩm doanh nghiệp tạo ra không có được sự đón nhận của người tiêu dùng, không được thị trường chấp nhận. Doanh nghiệp có thể thua lỗ khi ban đầu gia nhập thị trường, thua lỗ nhưng sản phẩm vẫn bán được, khi trong tình huống này, ban lãnh đạo hoàn toàn có thể kì vọng vào một tương lai cho sản phẩm của mình. Nhưng nếu sản phẩm tạo ra lại không có khách mua, hàng bị trả lại, hay tồn kho quá mức kế hoạch thì sản phẩm đó đã thất bại, thị trường không chấp nhận sản phẩm này. Quả thật, thị trường là một yếu tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng lớn tới tiêu thụ. Doanh số, doanh thu của công ty có thể tăng cao khi doanh nghiệp đó nắm trong tay một thị trường mới và ngược lại. Trở lại với công ty cổ phần Cao Su Sao Vàng, có thể nói vấn đề thị trường đã và đang được doanh nghiệp xử lý khá tốt. Bằng chứng là riêng khu vực miền Bắc, doanh nghiệp đã chia nhỏ thành các thị trường nhỏ hơn (chia theo địa lý) để quản lý. Phòng tiếp thị bán hàng chịu trách nhiệm về từng khu vực thì trường nhỏ. Những nhân viên của bộ phận thị trường trong phòng có nhiệm vụ theo dõi thị trường mình chịu trách nhiệm và thông báo với trưởng phòng về doanh thu, về đối thủ, về hoạt động của đại lý, về phản ứng của người tiêu dùng. Với cách làm việc như hiện nay, công ty đã năm được vêf thị trường khá rõ. Tuy nhiên cách làm việc này ẩn chứa nguy cơ to lớn, đó là đánh giá thị trường hoàn toàn chỉ do một, hai người nhân viên thị trường phụ trách thị trường đó thực hiên, khiến việc đánh giá nhiều lúc có thể mang tính khách quan, khó dự đoán hết nguy cơ của thị trường. Tuy còn có yếu điểm này nhưng thực sự doanh nghiệp đã đạt nhiều thành quả trong giám sát thị trường tiêu thụ của mình. Bảng 12: Doanh thu tiêu thụ mỗi tỉnh thành trên thị trường miền Bắc STT Tên địa phương 2007 2008 1 Hà Nội 224,653,359 277,391,862 2 Hoà Bình 757,225 819,730 3 Lào Cai 4,784,509 3,921,728 4 Phú Thọ 3,228,472 923,076 5 Vĩnh Phúc 31,124,484 34,170,296 6 Sơn La 8,310,593 10,429.592 7 Lai Châu 1,911,677 2,074,797 8 Bắc Giang 26,247,517 32,411,341 9 Bắc Ninh 22,093,668 19,004,599 10 Lạng Sơn 2,024,165 1,927,182 11 Cao Bằng 5,420,160 6,158,130 12 Tuyên Quang 8,203,209 7,743.201 Đơn vị: Nghìn đồng STT Tên địa phương 2007 2008 13 Thái Nguyên 10,160,130 8,982,921 14 Bắc Cạn 100,605 15 Yên Bái 36,170,018 29,804,769 16 Ninh Bình 15,223,690 16,578,642 17 Hải Phòng 22,161,204 28,814,592 18 Hải Dương 19,107,666 17,182,701 19 Hưng Yên 13,483,619 11,110,642 20 Quảng Ninh 62,576,073 62,136,764 21 Hà Tây (cũ) 29,689,341 31,925,108 22 Nam Định 19,767,846 19,636,067 23 Hà Nam 5,825,652 4,873,662 24 Thanh Hoá 21,351,347 28,219,306 Tổng 594,376,229 656,240,707 ( Nguồn: Phòng tiếp thị - bán hàng) Từ bảng số liệu trên ta có thể thấy được hiệu quả tiêu thụ ở từng thị trường, từng tỉnh thành trên thị trường lớn miền Bắc. So với năm 2006, ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc31187.doc
Tài liệu liên quan