Đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Công ty cổ phần SaPa – Geleximco

Tài liệu Đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Công ty cổ phần SaPa – Geleximco: PHẦN I MỞ ĐẦU 1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu Bất kì một tổ chức kinh doanh nào thì mục tiêu hàng đầu lợi nhuận nên các doanh nghiệp đều hướng mọi hoạt động, tìm mọi cách tận dụng mọi cơ hội để tạo ra lợi nhuận cao nhất với khả năng của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế hiện nay thì cạnh tranh là một xu thế tất yếu. Các doanh nghiệp muốn tồn tại trong thị trường cạnh tranh thì phải có vị trí nhất định. Đây là điều kiện để duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp trong thị trường, giúp doanh ... Ebook Đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Công ty cổ phần SaPa – Geleximco

doc77 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1790 | Lượt tải: 1download
Tóm tắt tài liệu Đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Công ty cổ phần SaPa – Geleximco, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
nghiệp đạt được mục tiêu lợi nhuận đề ra. Trong những năm vừa qua, quá trình hợp tác và hội nhập kinh tế diễn ra hết sức mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế giới, hình thành nên các liên kết khu vực và thế giới như AFTA, WTO…Trong xu thế đó, Việt Nam cũng đã trở thành thành viên của các tổ chức như AFTA, APEC, WTO… Như vậy, các sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam vừa có cơ hội để mở rộng và xâm nhập thị trường tiêu thụ đồng thời phải chịu sức ép cạnh tranh lớn hơn. Để có chỗ đứng trên thị trường các doanh nghiệp phải đặt lợi ích của khách hàng lên trước lợi ích của doanh nghiệp, có như thế mới tạo được lòng tin với khách hàng và đứng vững được trên thị trường. Công ty cổ phần SaPa – Geleximco Hưng Yên ra đời cùng với công ty mẹ GELEXIMCO tại Hà Nội đã trải qua nhiêu thử thách đến nay Công ty đã có chỗ đứng ổn định trên thị trường. Sản xuất bao bì PP là một trong những lĩnh vực kinh doanh chính của Công ty trên thị trường. Như đã biết, ngành nhựa nói chung và sản xuất bao bì nói riêng của nước ta là một ngành còn non trẻ nhưng không vì thế mà kém phát triển nó được thừa nhận là một ngành năng động trong nền kinh tế. Là một ngành còn non trẻ nên sự phát triển chưa toàn diện và chưa bao phủ được thị trường, trong khi nhu cầu của sản phẩm ở nước ta còn chưa được đáp ứng đủ, đây thưc sự là cơ hội cho các doanh nghiệp nhựa nói chung và sản xuất bao bì nói riêng. Các doanh nghiệp phải hoạt động hiệu quả và tạo chỗ đứng trên thị trường, phát huy nội lực của doanh nghiệp nhất là khâu tiêu thụ sản phẩm. Trong quá trình sản xuất kinh doanh thì tiêu thụ sản phẩm là một trong những khâu quan trọng của doanh nghiệp, quyết định đến sự tồn tại hay phát triển của doanh nghiệp. Tiêu thụ thực chất là quá trình nhà sản xuất đưa ra sản phẩm của mình lưu thông trên thị trường. Làm thế nào để tiêu thụ sản phẩm một cách có hiệu quả cũng chính là mục đích của tất cả các doanh nghiệp. Vì các lý do trên nên tôi chọn đề tài “Đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Công ty cổ phần SaPa – Geleximco”. 1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.2.1 Mục tiêu chung Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng về tiêu thụ sản phẩm của Công ty, đề xuất những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm của Công ty. 1.2.2 Mục tiêu cụ thể Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về tiêu thụ sản phẩm Phân tích, đánh giá đúng đắn thực trạng tiêu thụ sản phẩm của Công ty Phân tích rõ những yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm Đề xuất những định hướng và các giải pháp phù hợp nhằm đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp 1.3 Câu hỏi nghiên cứu Thực trạng tình hình tiêu thụ của Công ty như thế nào? Các nhân tố nào ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty? Các biện pháp nào cần thiết phải áp dụng để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm của Công ty? 1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.4.1 Đối tượng nghiên cứu Tiêu thụ sản phẩm, các vấn đề liên quan đến tiêu thụ sản phẩm và các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm của Công ty. 1.4.2 Phạm vi nghiên cứu Phạm vi về nội dung: Các vấn đề lý luận và thực tiễn về tiêu thụ sản phẩm, thực trạng tiêu thụ sản phẩm của Công ty, các biện pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm của Công ty Phạm vi về không gian: Công ty cổ phần SaPa - Geleximco Phạm vi về thời gian: Đề tài được nghiên cứu từ các số liệu được thu thập trong 3 năm(2006,2007,2008), thời gian nghiên cứu từ 1-2-2009 đến 10-5-2009. PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 2.1 Cơ sở lý luận 2.1.1 Một số khái niệm chủ yếu 2.1.1.1 Sản phẩm Đối với mỗi một doanh nghiệp thì việc sản xuất ra loại sản phẩm gì, sản xuất như thế nào là vấn đề dược đặt ra trước tiên khi thành lập. Xã hội ngày càng phát triển nên khái niệm về sản phẩm hàng hoá có nhiều quan điểm khác nhau: - Theo C.Mác: “ sản phẩm hàng hoá là những vật hữu hình có đặc tính vật lý, hoá học, được sản xuất ra chủ yếu để bán nhằm thoả mãn nhu cầu của con người”. - Theo quan niệm truyền thống: “Sản phẩm là tổng hợp các đặc tính vật lý, hoá học được tập hợp trong một hình thức đồng nhất mang giá trị sử dụng”. Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường đã làm cho khái niệm về sản phẩm hàng hoá được mở rộng hơn không chỉ là những vật phẩm thuần vật chất mà còn bao gồm các dịch vụ, các phát minh sáng chế, quyền sở hữu…Từ đó một số khái niệm khác bổ sung cho khái niệm về sản phẩm hàng hoá. - Sản phẩm hàng hoá nói chung là tất cả những gì có thể thoả mãn được nhu cầu hay mong muốn được đem ra trao đổi trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý hay tiêu dùng. - Sản phẩm là tất cả những gì được sản xuất ra nhằm đáp ứng thoả mãn tốt nhu cầu đòi hỏi của khách hàng và thị trường, thông qua đó doanh nghiệp đạt được những mục đích đặt ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. - Sản phẩm hàng hoá phải là tập hợp cho mọi sự thoả mãn về vật chất, tâm lý, xã hội…mà người mua nhận được từ việc mua sở hữu và tiêu dùng. * Phân loại sản phẩm Phân theo độ bền của sản phẩm: Hàng bền: là những hàng hoá cụ thể thường được sử dụng rất nhiều lần. Ví dụ như máy móc, quần áo, xe máy…Hàng bền thường được đòi hỏi bán trực tiếp và dịch vụ nhiều hơn, sinh lời cao hơn và đòi hỏi người bán phải đảm bảo nhiều hơn. Hàng không bền: là những hàng hoá cụ thể thường chỉ qua một vài lần sử dụng. Ví dụ bia, xà phòng…Do đặc điểm tiêu hao nhanh và phải mua sắm thường xuyên, nên người bán phải đảm bảo cho người mua có thể kiếm được chúng ở nhiều hơn, tiến hành quảng cáo mạnh mẽ để khuyến khích khách hàng dùng thử và tạo sở thích. Các dịch vụ: là những hoạt động hay các thoả mãn nhu cầu khác nhau được đưa ra chào bán. Các dịch vụ có tính đa năng, dễ thay đổi, không cụ thể, không phân chia được, sản xuất và tiêu dùng diễn ra cùng một lúc. Ví dụ như sửa chữa, cắt tóc… Đối với loại hàng này đòi hỏi phải kiểm tra chất lượng nhiều hơn, người cung cấp phải có tín nhiệm và khả năng thích ứng cao hơn. Phân theo mục đích sử dụng: Hàng tiêu dùng: căn cư vào thói quen mua sắm, hàng tiêu dùng được chia thành các loại: Hàng dễ mua: là những thứ hàng mà người tiêu dùng thường hay mua, không cần đắn đo suy nghĩ và mất ít thời gian để so sánh chúng. Bao gồm: hàng sử dụng thường xuyên được mua đều đặn để thoả mãn nhu cầu thiết yếu ( lương thực, thực phẩm…); hàng mua ngẫu hứng không có kế hoạch trước và thường được bán ở nhiều nơi, người tiêu dùng không bao giờ phải để công tìm kiếm( thuốc lá, các loại báo, tạp chí…); hàng mua khẩn cấp khi xuất hiện nhu cầu cấp bách( ô dù, áo mưa…) Hàng mua có lựa chọn là những thứ hàng mà trong quá trình lựa chọn và mua sắm người tiêu dùng thường so sánh mức độ phù hợp, cân nhắc các chỉ tiêu công dụng, chất lượng, giá cả và kiểu dáng…Ví dụ như đồ trang trí nội thất, quần áo, xe máy…Người bán phải đảm bảo có nhiều chủng loại đa dạng để đáp ứng những thị hiếu cá nhân khác nhau và cần có những nhân viên bán hàng được huấn luyện tốt để cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng Hàng đặc biệt là loại hàng có tính độc đáo hay nhãn hiệu đặc biệt mà người mua sẵn sàng bỏ công sức tìm kiếm nó. Ví dụ như các kiểu hàng thời thượng, dàn âm thanh nổi, thiết bị nghề ảnh… Hàng đặc biệt không làm cho người mua phai so sánh mà họ chỉ tìm đến những người bán có thứ hàng đó. Vì vậy người bán phải tìm mọi cách cho người mua tương lai biết được địa chỉ của mình. Hàng mua theo nhu cầu thụ động là những thứ hàng mà người tiêu dùng không biết tới, hay biết nhưng không nghĩ tới việc mua. Ví dụ bảo hiểm nhân thọ, Từ điển Bách khoa… Hàng tư liệu sản xuất: Vật tư và các bộ phận sản xuất rời là các hàng hoá tham gia vào toàn bộ sản phẩm của nhà sản xuất. Chúng gồm hai loại: nguyên liệu, nhiên liệu và phụ tùng. Đối với loại nguyên liệu nnông sản thường được mua qua các trung gian Marketing làm công việc thu gom, phân loại, bảo quản, vận chuyển và bán ra. Các nguyên liệu là khoáng sản được mua trực tiếp từ nhà sản xuất với khối lượng lớn, giá thấp. Giá cả và sự phân phối có tín nhiệm là những yếu tố chính để người mua lựa chọn. Trang thiết bị: là những loại hàng có thời gian sử dụng dài phục vụ cho quá trình sản xuất sản phẩm hay quản lí thành phẩm (máy phát điện, máy đục lỗ, máy tính, thang máy…). Vật tư phụ và dịch vụ là những thứ hàng không đi vào sản phẩm hoàn thành. Các vất tư phụ như các chất bôi trơn, giấy in, mực in… thường được bán qua trung gian và nhà sản xuất thường mua theo cách đặt hàng lại. Các dịch vụ như bảo trì và sửa chữa, tư vấn về luật pháp và tư vấn về quản lí thường được thực hiên theo hợp đồng. 2.1.1.2 Tiêu thụ sản phẩm Xã hội ngày càng phát triển nhu cầu mua – bán – trao đổi hàng hoá càng gia tăng, hoạt động tiêu thụ trở nên đa dạng và phức tạp. Chính vì vậy, có nhiều quan điểm về tiêu thụ khác nhau dựa trên các lĩnh vực khác nhau. - Theo nghĩa hẹp: Tiêu thụ là việc chuyển dịch quyền sở hữu sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đã thực hiện cho khách hàng đồng thời thu tiền hàng hoá. - Theo nghĩa rộng: Tiêu thụ sản phẩm hàng hoá là một quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu có mối quan hệ với nhau như nhu cầu thị trường, xây dựng nhu cầu khách hàng, đặt hàng và tổ chức sản xuất thực hiện các nghiệp vụ tiêu thụ xúc tiến bán hàng…nhằm mục đích thu lại hiệu quả kinh tế cao nhất. - Tiêu thụ là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hoá. Theo quan điểm này thì tiêu thụ được coi là hoạt động cuối cùng của một vòng luân chuyển vốn. Từ đây mới có các hoạt động tiếp theo để tiến hành tái sản xuất mở rộng, tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn. - “Tiêu thụ là quá trình trao đổi hàng hoá, tiền tệ trong đó người bán trao hàng cho người mua và người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền cho người bán. Theo định nghĩa này cho rằng tiêu thụ là một khâu quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó kết thúc một chu kỳ sản xuất kinh doanh và mở ra một chu kỳ sản xuất kinh doanh mới. - Tiêu thụ sản phẩm hàng hoá dịch vụ là quá trình đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng thông qua hình thức mua bán. Từ những quan điểm trên về tiêu thụ có thể khái quát lại như sau: Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của sản xuất kinh doanh, nó là yếu tố quyết định tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tiêu thụ sản phẩm tốt mới thực hiện được quá trình tái sản xuất. Do đó, tiêu thụ sản phẩm quyết định đến quá trình sản xuất kinh doanh, đến vòng quay của vốn lưu động và sự tiết kiệm của đồng vốn kinh doanh. 2.1.1.3 Chu kỳ sống của sản phẩm Sau khi tung sản phẩm mới ra thị trường, ban lãnh đạo doanh nghiệp muốn sản phẩm có một chu kì sống lâu dài và tốt đẹp. Tuy không thể hi vọng rằng sản phẩm sẽ bán được mãi mãi nhưng các nhà quản trị mong muốn đạt mức doanh số cao trong thời gian dài và thu được mức lợi nhuận tương đối đủ để trang trải cho mọi cố gắng và rủi ro gặp phải. Vậy phải hiểu rằng mỗi sản phẩm có một chu kì sống của riêng nó, tuy không thể biết chắc chắn hình dáng và mức độ kéo dài của nó như thế nào. Chu kì sống của sản phẩm (the typical product life-cycle, viết tắt là PLC) giúp cho nhà quản trị marketing hiểu rõ hơn quá trình vận động và biến đổi của sản phẩm trên thị trường, những động thái cạnh tranh của đối thủ và cách thức tiếp cận cần thiết của doanh nghiệp đối với những giai đoạn khác nhau của chu kì sống sản phẩm. Chu kì sống sản phẩm mô tả sinh động các giai đoạn trong quá trình tiêu thụ của một sản phẩm. Tương ứng với những giai đoạn này là những cơ hội và những vấn đề cần giải quyết đối với chiến lược marketing và khả năng sinh lời. Các sản phẩm khác nhau co chu kì sống khác nhau và các giai đoạn của chu kì sống có độ dài hay ngắn khác nhau, mức tiêu thụ và lợi nhuận ở những giai đoạn khác nhau cũng khác nhau. Điều đó cũng đòi hỏi doanh nghiệp phải có chiến lược marketing, tài chính, sản xuất, cung ứng và nhân sự khác nhau trong mỗi giai đoạn thuộc chu kì sống của mỗi sản phẩm. Chu kì sống điển hình của một sản phẩm có dạng hình sin và chia thành bốn giai đoạn rõ rệt: Doanh số Lợi nhuận Doanh số và lợi nhuận Triển khai Giới thiệu Phát triển Sung mãn Suy tàn Chu kì Sơ đồ 1: Doanh số và lợi nhuận theo chu kì sống của sản phẩm Giới thiệu là giai đoạn sản phẩm đang được đưa vào thị trường. Trong giai đoạn này doanh số tăng trưởng chậm, chưa có lợi nhuận vì phải chi phí nhiều cho việc giới thiệu sản phẩm ra thị trường. Phát triển là giai đoạn sản phẩm được thị trường tiếp nhận nhanh chóng và lợi nhuận tăng lên đáng kể. Sung mãn là giai đoạn doanh số tăng chậm lại, vì sản phẩm đã được hầu hết khách hàng tiềm năng chấp nhận. Lợi nhuận ổn định hoặc giảm xuống vì tăng chi phí marketing để bảo vệ sản phẩm chống lại đối thủ cạnh tranh. Suy tàn là giai đoạn doanh số có xu hướng giảm sút và lợi nhuận giảm dần Không phải tất cả các sản phẩm đều có dạng giống hình sin, ngoài ra còn có dạng hình sóng, dạng chu kì… 2.1.2 Vai trò của tiêu thụ sản phẩm Tiêu thụ sản phẩm có vai trò hết sức quan trong trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vai trò của tiêu thụ sản phẩm thể hiện: - Thứ nhất, tiêu thụ là một khâu trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, nó là khâu quyết định tái sản xuất của doanh nghiệp. Chỉ có tiêu thụ thì doanh nghiệp mới tiếp tục hoạt động của mình. - Thứ hai, thông qua tiêu thụ nhà sản xuất với người tiêu dùng có thể trực tiếp gặp gỡ và trao đổi nhau. Nó có thể coi là cầu nối giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng. Tại đó người sản xuất sẽ bằng lòng bán với giá nhất định, và người mua sẽ chấp nhận mua. - Thứ ba, tiêu thụ thể hiện được vai trò của sản phẩm, tính hữu ích của nó đối với cuộc sống, sự chấp nhận của khách hàng hay thị trường với nó. - Thứ tư, tiêu thụ sản phẩm góp phần quan trọng nhằm nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thể hiện được vau trò của nhà sản xuất đối với thị trường. - Tiêu thụ sản phẩm còn có một vai trò hết sức quan trọng nữa đó là thấy rõ được hiệu quả cũng như kết quả của sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, các doanh nghiệp cần chú ý tập trung đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm để đạt được các mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp đề ra. 2.1.3 Mục đích của tiêu thụ sản phẩm Tiêu thụ sản phẩm có rất nhiều mục đích, nhưng mục đích cơ bản là: - Bảo đảm việc tiêu thụ sản phẩm theo đúng kế hoạch, đúng hợp đồng đã kí kết trên quan điểm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho khách hàng. - Bảo đảm uy tín cho doanh nghiệp, tăng cường sự tin tưởng và gắn bó lâu dài giữa khách hàng và doanh nghiệp. - Bảo đảm ngày càng có nhiều khách hàng mới cho doanh nghiệp thông qua công tác giao dịch. 2.1.4 Kênh tiêu thụ 2.1.4.1 Khái niệm Kênh tiêu thụ sản phẩm là tập hợp những cá nhân hay những cơ sở kinh doanh phụ thuộc lẫn nhau liên quan đến quá trình tạo ra và chuyển sản phẩm hay dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Theo quan điểm tổng quát, kênh tiêu thụ sản phẩm là một tập hợp các doanh nghiệp và cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình đưa hàng hoá từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Nói cách khác, đây là một nhóm tổ chức cá nhân thực hiện các hoạt động làm cho sản phẩm hoặc dịch vụ sẵn sàng cho người tiêu dùng hoặc người sử dụng công nghiệp, để họ có thể mua và sử dụng. Các kênh tiêu thụ sản phẩm tạo nên dòng chảy hàng hoá từ người sản xuất qua hoặc không qua trung gian tới người mua cuối cùng. 2.1.4.2 Chức năng của kênh tiêu thụ Một kênh tiêu thụ hàng hoá làm công việc chuyển hàng hoá từ nhà sản xuất tới người tiêu dùng. Họ lấp khoảng cách về thời gian, không gian và quyền sở hữu giữa người tiêu dùng với các sản phẩm ( hay dịch vụ). Những thành viên của kênh tiêu thụ sản phẩm thực hiện một số chức năng chủ yếu sau: Thông tin: Thu thập thông tin cần thiết để hoạch định marketing và tạo thuận tiện cho sự trao đổi sản phẩm và dịch vụ. Cổ động: Triển khai và phổ biến thông tin có sức thuyết phục về sản phẩm nhằm thu hút khách hàng. Tiếp xúc: Tìm ra và truyền thông đến khách hàng tương lai. Cân đối: Định dạng nhu cầu và phân phối sản phẩm thích ứng với nhu cầu của khách hàng. Việc này bao gồm các hoạt động như sản xuất, xếp hàng, tập hợp và đóng gói. Thương lượng: Cố gắng đạt được sự thoả thuận cuối cùng về giá cả và những điều kiện khác có liên quan để có thể thực hiện được việc chuyển giao quyền sở hữu hay quyền sử dụng sản phẩm. Phân phối vật phẩm: Vận chuyển và tồn kho hàng hoá. Tài trợ: Huy động và phân bổ nguồn vốn cần thiết để dự trữ, vận chuyển, bán hàng và thanh toán các chi phí hoạt động của kênh tiêu thụ sản phẩm. Chia sẻ rủi ro: Chấp nhận những rủi ro liên quan tới việc điều hành hoạt động của kênh tiêu thụ sản phẩm. Năm chức năng đầu nhằm thực hiện được những giao dịch, ba chức năng sau nhằm hoàn thiện những giao dịch đã thực hiện. 2.1.4.3 Các yếu tố cấu thành nên hệ thống kênh tiêu thụ sản phẩm Người sản xuất Khách hàng tiêu dùng Đại lý cấp 1 Đại lý cấp 2 Đại lý cấp 3 Kênh không cấp Kênh một cấp Kênh hai cấp Kênh ba cấp 2 Sơ đồ 2: Các kênh tiêu thụ sản phẩm Người sản xuất: đóng vai trò chủ thể của lưu thông hàng hoá và là người đứng đầu kênh. Thành phần này quyế định chủng loại, mẫu mã, khối lượng và thời gian đưa sản phẩm ra thị trường. Người trung gian: là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Thành phần này gồm các nhà bán buôn, nhà bán lẻ, đại lí và môi giới. Người tiêu thụ cuối cùng: là thành phần đứng ở cuối kênh tiêu thụ. Đây chính là đối tượng để người sản xuất và giới trung gian giao quyền sở dụng và sở hữu sản phẩm. 2.1.5 Thị trường tiêu thụ sản phẩm 2.1.5.1 Khái niệm thị trường tiêu thụ sản phẩm Thị trường ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá. Từ đó đến nay, nền sản xuất hàng hoá đã phát triển và trải qua nhiều thế kỷ, có những thay đổi mang tính hiện đại và có những lưu trữ mang tính truyền thống. Việc tiêu thụ sản phẩm của người sản xuất thực hiện dịch vụ của các doanh nghiệp dịch vụ cũng như bán hàng của các doanh nghiệp thương mại đều diễn ra trên thị trường. Trong khi đó cạnh tranh phải đòi hỏi người sản xuất phải ra sức cố gắng giành vị thế cao trên thị trường. Dựa trên cơ sở chi phí kinh doanh tính trên một đơn vị sản phẩm đã tạo ra, người sản xuất có thể xác định được mức giá sản phẩm mà người sản xuất có thể chấp nhận được và nhất thiết phải được tiêu thụ trên thị trường vì các lý do sau: - Trong nền kinh tế hàng hoá, mỗi người sản xuất phải thực hiện cho được vấn đề tái sản xuất mở rộng với bốn khâu: sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng. Bốn khâu này vận động một cách thông suốt thì sản phẩm hàng hoá của người sản xuất nhất thiết phải được tiêu thụ trên thị trường. - Mỗi người sản xuất khi tiến hành xây dựng và thực hiện chiến lược kinh doanh phải dựa vào các chiến lược, kế hoạch, phương án những mặt hàng sản phẩm đã kí kết được hợp đồng tiêu thụ hoặc chắc chắn sẽ tiêu thụ được. - Hoạt động trong nền kinh tế thị trường, mỗi người sản xuất phải quán triệt quan điểm của Marketing: “ Chỉ sản xuất những cái mà thị trường cần, chứ không phải sản xuất những cái mà mình sẵn có”. Những luận cứ nêu trên vừa có cơ sở khoa học vừa có thực tiễn sâu sắc. Thị trường phong phú và đa dạng ở nhiều lĩnh vực khác nhau nên có nhiều định nghĩa khác nhau: Theo cách hiểu cổ điển: Thị trường là nơi diễn ra các quá trình trao đổi và mua bán. Hiểu theo cách khác cụ thể hơn: Thị trường là nơi mua bán hàng hoá, là nơi gặp gỡ để tiến hành hoạt động mua bán giữa người bán với người mua. C.Mác đã nói cơ sở chung của mọi nền sản xuất hàng hoá: Hễ ở đâu và khi nào có sự phân công xã hội và có sản xuất hàng hoá thì ở đó có và khi đó có thị trường. Thị trường là sự biểu hiện của phân công xã hội và do đó nó có thể phát triển vô cùng tận. Thị trường là sự biểu hiện thu gọn của quá trình mà thông qua đó các quyết định của các giai đoạn về tiêu dùng các mặt hàng nào, các quyết định của các giai đoạn về tiêu dùng của các mặt hàng nào, các quyết định của công ty về sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, và các quyết định của người công nhân về việc làm bao lâu cho ai đều được dung hoà bằng sự điều chỉnh giá cả → Thị trường là sự trao đổi ngang giá tất cả các mặt hàng, dịch vụ…cho các tổ chức và cá nhân. Thị trường là sự kết hợp giữa cung và cầu trong đó người mua và người bán bình đẳng cùng cạnh tranh. Số lượng hàng hoá nhiều hay ít phản ánh quy mô của thị trường lớn hay nhỏ. Việc xác định nên mua hay nên bán hàng hoá, dịch vụ với khối lượng và giá cả bao nhiêu do cầu và cung quyết định. Từ quan điểm này cho thấy, thị trường còn là nơi thực hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa hai khâu sản xuất và tiêu thụ hàng hoá. 2.1.5.2 Các yếu tố cấu thành thị trường Để hình thành nên thị trường cần có các yếu tố sau: - Những người cung ứng là những cá nhân hoặc tổ chức kinh doanh cung ứng cho doanh nghiệp hoặc các đối thủ cạnh tranh những nguồn vật tư cần thiết để sản xuất ra hàng hoá. Những biến đổi trong quá trình cung ứng có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. - Doanh nghiệp là các thành viên tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất hoặc quản lý sản xuất để tiêu thụ các sản phẩm. - Người trung gian đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường quá trình tiêu thụ sản phẩm, là cầu nối giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng. - Khách hàng là môi trường rộng lớn nhất cảu hoạt động Marketing, các cơ sở sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải nghiên cứu kỹ các nhóm khách hàng của mình nhất là khách hàng mục tiêu. - Các đối thủ cạnh tranh, các doanh nghiệp luôn đối mặt với đối thủ cạnh tranh nhất là khi họ hoạt động trong trạng thái cạnh tranh hoàn hảo. - Công chúng trực tiếp là những nhóm người bất kì bao gồm các thành phần khác nhau tỏ ra qua tâm thực sự đến sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp. Bên cạnh các yếu tố tác động đến thị trường thì cần phải xác định xem các yếu tố đó tác động đến thị trường như thế nào, động hay tĩnh. Đối với thị trường sản phẩm hàng hoá thì được xá định bởi các yếu tố sau: Khối lượng sản phẩm cung ứng: là số lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường. Các nhà sản xuất kinh doanh sẽ xác định xem số lượng bao nhiêu và có chiến lược phù hợp. Phương thức bán hàng: là những kiểu bán hàng khác nhau song khối lượng sản phẩm được tiêu thụ nhiều nhất, trao đổi giữa các nhà thuận tiện và nhanh nhất. Phương thức bán hàng đơn giản nhất là phương thức mà người bán và người mua trực tiếp gặp gỡ nhau. 2.1.5.3 Các quy luật của nền kinh tế thị trường a. Quy luật cung - cầu Cầu về một loại sản phẩm, dịch vụ hàng hoá nào đó là khối lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người mua sẵn sàng mua ở một mức giá khác nhau trong khoảng không gian và thời gian xác định. Cầu được thể hiện trong công thức sau: Qd = a-bQ + Qd: là nhu cầu về loại hàng hoá đó + P: giá của hàng hoá đó + a, b: các hằng số Dựa vào công thức ta thấy, khi giá hàng hoá tăng thì cầu về hàng hoá đó sẽ giảm và ngược lại. Để đo độ co giãn của cầu và giá ta sẽ có công thức: E = + dQ/dP: là đạo hàm của Q theo P + Q: là lượng cầu + P: là giá của sản phẩm hàng hoá Công thức này để lượng hoá sự thay đổi của cầu theo giá. Cung về một loại sản phẩm, dịch vụ hàng hoá nào đó là khối lượng sản phẩm hàng hoá dịch vụ mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau trong một không gian và thời gian nhất định. Cung về một loại hàng hoá náo đó thể hiện bởi công thức sau: Qs = a+bP + Qs: là nhu cầu về loại hàng hoá đó + P: là giá của hàng hoá + a, b: là các hằng số Khi giá tăng, cung hàng hóa sẽ tăng theo. Để đo độ thay đổi của cung theo giá người ta dùng hệ số co giãn và được thể hiện bởi công thức giống như công thức đo độ giãn của cầu theo giá chỉ khác ở chỗ là Q ở đây là lượng cung. Cân bằng cung cầu, cũng có thể hiện là sự hình thành giá cả trên thị trường. Có thể hiểu là tại một điểm nào đó mà người bán và người mua đều bằng lòng bán và bằng lòng mua. Tại đó xảy ra cân bằng cung - cầu của thị trường. Tại điểm này thì thặng dư của người sản xuất, người tiêu dùng, xã hội là lớn nhất. Qs = Qd Giá cả được hình thành. b. Quy luật giá trị Có thể hiểu quy luật giá trị là quy luật thể hiện hao phí lao động xã hội cần thiêt để sản xuất ra một loại hàng hoá nào đó. Khi trao đổi trên thị trường hao phí đó được tính toán và cụ thể hoá bằng tiền tệ. Sản phẩm hàng hoá thể hiện giá trị của nó được thoả thuận mua bán trên thị trường. c. Quy luật cạnh tranh Cạnh tranh là sự thúc đẩy sản xuất. Có cạnh tranh các doanh nghiệp sẽ tận dụng hết mọi khả năng, thuận lợi của mình để tham gia vào thị trường. Một doanh nghiệp nào không biết nắm thời cơ sẽ bị loại ra khỏi cuộc chơi. Trên thị trường với mục đích tối đa hoá lợi nhuận nên các doanh nghiệp bất chấp mọi thủ đoạn nhằm đem lại lợi ích lớn nhất cho mình. Chất lượng sản phẩm luôn là yếu tố cốt lõi trong sản xuất kinh doanh. Chất lượng còn thể hiện được uy tín, vị trí của Công ty trên thị trường nói chung và với khách hàng nói riêng. Như vậy quy luật cạnh tranh là quy luật của tất cả các thị trường. Nó là điều kiện để phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 2.1.5.4 Chức năng của thị trường a. Chức năng thừa nhận Trách nhiệm của các doanh nghiệp là phải nghiên cứu thị trường để cho ra đời các loại sản phẩm hay dịch vụ phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Hiệu quả kinh doanh phụ thuộc vào việc sản phẩm hay dịch vụ của các doanh nghiệp có được thị trường thừa nhận hay không? Thị trường thừa nhận các nội dung sau: Thị trường thừa nhận chủng loại và cơ cấu chủng loại sản phẩm hàng hoá Thị trường thừa nhận khối lượng sản phẩm hàng hoá Thị trường thừa nhận giá cả Thị trường thừa nhận phương thức trao đổi với một loại hàng hoá dịch vụ cụ thể nào đó. b. Chức năng thực hiện Thông qua chức năng này hàng hoá và dịch vụ sẽ hoàn thành quá trình chuyển từ hình thái hiện vật sang tiền tệ. Quá trình trao đổi hay mua bán là quá trình chủ yếu diễn ra trên thị trường. Thông qua quá trình này sản phẩm hay dịch vụ bằng quan hệ cung cầu sẽ hình thành nên giá cả, cơ sở để thanh toán và điều kiện thoả mãn nhu cầu. c. Chức năng điều tiết kích thích Trong hoạt động sản xuât kinh doanh của các doanh nghiệp thị lợi nhuận là mục đích cao nhất. Lợi nhuận được hình thành qua hoạt động thị trường. Vì vây thị trường vừa là môi trường kinh doanh vừa là động lực để điều tiết kích thích các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Sự điều tiết thể hiện ở các khía cạnh: Dựa vào nhu cầu các loại sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ trên thị trường, các doanh nghiệp có thể điều chỉnh các yếu tố sản xuất từ ngành hàng này, sản phẩm này sang ngành hàng khác, sản phẩm khác. Sự thay đổi nhu cầu và cơ cấu nhu cầu bắt buộc các doanh nghiệp phải thay đổi phương hướng kinh doanh cho phù hợp. Thị trường phải tạo ra động lực cạnh tranh. Những doanh nghiệp mạnh sẽ tạo ra lợi thế của mình để phát triển, các doanh nghiệp mới phải tìm cách đổi mới vươn lên tồn tại. Thị trường có vai trò to lớn trong việc điều tiết cung - cầu thông qua hệ thống giá cả. d. Chức năng thông tin Trên thị trường sẽ hình thành nên hệ thống thông tin đa chiều. Hệ thống thông tin Marketing là hệ thống hoạt động thường xuyên. Chức năng này bao gồm: Tổ chức hệ thống phương thức thông tin phù hợp với điều kiện thị trường và năng lực của doanh nghiệp Tổ chức thu thập thông tin Tổ chức phân tích thông tin đã thu thập Đánh giá kết quả thông tin 2.1.5.5 Phân loại thị trường Căn cứ vào quan hệ mua bán giữa các nước phân thành: - Thị trường trong nước - Thị trường quốc tế Căn cứ vào mức độ rộng lớn của thị trường phân thành: - Thị trường khu vực - Thị trường toàn quốc Căn cứ vào số lượng người mua và người bán phân thành: - Một người mua, nhiều người bán: thị trường độc quyền mua - Một số người mua, nhiều người bán: thị trường độc quyền bán - Một người bán, nhiều người mua: thị trường độc quyền bán - Một số người bán, nhiều người mua: thị trường độc quyền mua - Nhiều người bán, nhiều người mua: thị trường độc quyền hoàn hảo 2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm Chủng loại, bao gói và chất lượng sản phẩm Chủng loại, bao gói và chất lượng sản phẩm là yếu tố vô cùng quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung nhất là khâu tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy, sản phẩm phải đạt yêu cầu về hình thức và giá trị: Về mặt giá trị, sản phẩm mang lại lợi ích kinh tế cho các doanh nghiệp, các đợn vị sản xuất. Về mặt giá trị sử dụng, sản phẩm dùng để phục vụ cho cuộc sống sinh hoạt của con người Về chất lượng sản phẩm Chúng ta đều biết chất lượng sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp tới giá cả và khả năng tiêu thụ sản phẩm. Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì vần đề chất lượng sản phẩm là một trong những vũ khí sắc bén, là một yếu tố góp phần vào việc khẳng định vị trí của người sản xuất trên thị trường. Khi thu nhập của con người ngày càng cao thì nhu cầu về chất lượng sản phẩm ngày càng tăng, chỉ có những sản phẩm tốt mới gây được sự chú ý của người tiêu dùng. Chất lượng sản phẩm không chỉ thu hút được khách hàng mà tạo cho người sản xuất nâng giá bán một cách hợp lý làm tăng lợi nhuận. Đồng thời, chất lượng sản phẩm tạo điều kiện cho việc kéo dài chu kì sống của sản phẩm, đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, góp phần phát triển và mở rộng thị trường. Về mẫu mã, bao gói Đây là cảm nhận đàu tiên của khách hàng về sản phẩm hàng hoá. Ngày nay người ta thường đánh giá chất lượng sản phẩm thông qua bao bì. Vì vậy, doanh nghiệp nên chú ý thiết kế sao cho phù hợp với chất lượng và giá cả sản phẩm tiêu thụ. Giá bán sản phẩm Trong nghiên cứu kinh tế, giá được hiểu là “Sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá”. Trong kinh doanh và quản trị giá, giá cả được mô tả dơn giản và cụ thể hơn: “Giá là khoản tiền phải bỏ ra để đổi lấy một món hàng hay một dịch vụ” hoặc “ Giá là khoản tiền phải trả cho một thứ gì đó”. Thông thường giá là một yếu tố rất nhạy cảm trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động mua bán nói riêng, bởi giá liên quan đến lợi ích cá nhân có tính mâu thuẫn giữa người mua và người bán. Giá là số tiền biểu hiện giá trị của một sự chuyển đổi nào đó: giá mua thể hiện sự chuyển đổi lúc đầu vào, giá bán thể hiện sự chuyển đổi lúc đầu ra. Giá cả sản phẩm tiêu thụ là số tiền của đơn vị sản phẩm mà doanh nghiệp mong muốn có thể nhận được từ người tiêu dùng sau khi đã trao quyền sở hữu và sử dụng cho họ. Trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, việc ._.xác định giá cả hợp lý cho sản phẩm để phù hợp với thị trường là điều vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp. Giá cả được xem như tín hiệu tin cậy phản ánh tình hình biến động của thị trường. Khi giá cả biến động thì khối lượng sản phẩm tiêu thụ cũng biến động theo tuỳ theo mức độ của từng loại sản phẩm. Nếu doanh nghiệp định giá cao thì người tiêu dùng sẽ chuyển sang mua hàng hoá của đối thủ cạnh tranh làm cho doanh nghiệp bị thua thiệt về khối lượng sản phẩm bán ra và lợi nhuận thu được. Ngược lại, nếu doanh nghiệp định giá thấp thì khối lượng sản phẩm bán ra tuy có tăng nhưng không thu hồi được vốn để bù đắp chi phí và sẽ bị thua lỗ. Do đó, chỉ có định giá đúng mới đảm bảo cho doanh nghiệp tiêu thụ được sản phẩm và có lợi nhuận. Một số phương pháp định giá bán sản phẩm: Định giá dựa vào chi phí bình quân P = AFC + AVC + p + P: giá bán sản phẩm + AFC: Chi phí cố định bình quân + AVC: Chi phí biến đổi bình quân + p: Lợi nhuận Phương pháp này thể hiện tính an toàn vì giá bán sản phẩm không chỉ bù đắp chi phí mà còn có lãi. Định giá dựa vào cơ sở phân tích điểm hoà vốn Phv = + AVC + Phv : Giá tại điểm hoà vốn + FC: Tổng chi phí cố định + Qhv : Sản lượng hoà vốn + AVC: Chi phí biến đổi bình quân Từ đó sẽ biết được mức giá cần đặt ra để khi tiêu thụ hết sản lượng hoà vốn sản phẩm doanh nghiệp sẽ hoà vốn Định giá theo chi phí tăng thêm Giá bán = Chi phí nền + Phần tăng thêm + Nếu chi phí nền là chi phí sản xuất (gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung) thì phần tăng thêm để bù đắp chi phí ngoài sản xuất và tạo lãi. + Nếu chi phí nền là chi phí biến đổi thì phần tăng thêm để bù đắp chi phí cố định và tạo lãi. Thị trường tiêu thụ Do đặc điểm của từng ngành khác nhau nên việc tiêu thụ sản phẩm cũng có những nét đặc trưng khác nhau. Ngành sản xuất bao bì thường có chu kì sản xuất kinh doanh ngắn ít phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên. Nắm được đặc điểm của từng ngành nghề sản xuất mới có khả năng nghiên cứu và sử dụng các biện pháp thích hợp để phát triển và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá dịch vụ. Thị trường được coi là phạm trù trung tâm vì qua đó người sản xuất có thể nhận biết được sự phân phối các nguồn lực thông qua hệ thống tiêu thụ. Hình thức bán hàng: Người sản xuất có thể áp dụng nhiều hình thức bán hàng thông qua các kênh tiêu thụ sản phẩm Mạng lưới tiêu thụ: Trong nền kinh tế thị trường, người bán buôn, bán lẻ, môi giới, đại lý…được hình thành một cách khách quan. Để xác định được một mạng lưới tiêu thụ hợp lý và sử dụng các loại hình trung gian có hiệu quả nhằm thúc đẩy quá trình tiêu thụ nhanh, thu được lợi nhuận cao thì các doanh nghiệp phải căn cứ vào tính chất, đặ điểm của sản phẩm, cũng như các điều kiện cụ thể của doanh nghiệp mà sử dụng các mạng lưới tiêu thụ khác nhau. Thiết bị và công nghệ sản xuất Trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì sản xuất là một trong những phân hệ chính có ý nghĩa quyết định đến việc tạo ra sản phẩm và cung cấp dịch vụ cho xã hội. Điều hành tốt hệ thống sản xuất là cơ sở và yêu cầu thiết yếu để mỗi doanh nghiệp có thể đứng vững và phát triển trên thị trường. Tổ chức hệ thống sản xuất nhằm biến đổi đầu vào thành các yếu tố đầu ra sau mỗi quá trình biến đổi, tạo ra nguồn thu nhập cho tất cả các tác nhân có tham gia vào hoạt động của hệ thống tiêu thụ sản phẩm, đảm bảo cho sự tồn tại vào phát triển lâu dài của người sản xuất. Để tiêu thụ thuận lợi thì khâu sản xuất, công nghệ sản xuất phải đảm bảo chất lượng sản phẩm và dịch vụ theo đúng yêu cầu của khách hàng, rút ngắn thời gian sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ, xây dựng hệ thống sản xuất của doanh nghiệp có độ linh hoạt cao. Đối thủ cạnh tranh: Là những người có sản phẩm hàng hoá cùng loại với người sản xuất đang sản xuất kinh doanh hoặc những sản phẩm có thể thay thế lẫn nhau. Lực lượng này có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Số lượng đối thủ cạnh tranh càng nhiều thì việc tiêu thụ càng khó khăn và phức tạp. Tổ chức quảng cáo và hoạt động Marketing Trong môi trường cạnh tranh, quảng cáo sản phẩm không thể tách rời hoạt động kinh doanh, là vấn đề có tính chất chiến lược của sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hàng hoá. Quảng cáo sẽ cung cấp thông tin tới người tiêu dùng về sản phẩm, bản thân người sản xuất. Nhưng quảng cáo phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản: lượng thông tin cao nhất, nội dung phù hợp, đảm bảo tính pháp lý, tính nghệ thuật và tính trung thực của thông tin đưa ra, phù hợp với khả năng kinh phí của người sản xuất. Quảng cáo gắn liền với chữ tín, nếu quảng cáo sai sự thật thì sản phẩm sẽ bị tẩy chay trên thị trường. Các hoạt động dịch vụ khác: là các hoạt động hỗ trợ nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho khách hàng như vận chuyển, lắp đặt miễn phí, bảo hành sản phẩm, quà tặng kèm theo… 2.2 Cơ sở thực tiễn 2.2.1 Kinh nghiệm đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm của các nước trên thế giới a. Trung Quốc Trung Quốc trở thành thị trường tiêu thụ ô tô lớn nhất thế giới Trong tháng 1 năm 2009, số lượng ô tô tiêu thụ tại Trung Quốc đã đạt con số 790.000 xe, đưa Trung Quốc trở thành thị trường tiêu thụ ô tô lớn nhất thế giới. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc vượt qua Mỹ về số lượng tiêu thụ xe hơi. Mỹ xếp sau Trung Quốc với mức tiêu thụ trong tháng 1 là 657.000 xe. Thời gian gần đây, lượng xe ô tô bán ra ở Trung Quốc có giảm, nhưng tốc độ giảm không nhiều như ở Mỹ. Lượng xe bán ra ở Mỹ trong tháng 01/2009 đã giảm tới 37% so với cùng kỳ năm ngoái - mức thấp nhất trong 26 năm trở lại đây. Theo dự đoán của các nhà chuyên gia thì Trung Quốc sẽ còn giữ vị trí quán quân cho đến hết năm 2009 với mức dự đoán tiêu thụ 10,7 triệu xe, trong khi Mỹ tiêu thụ không quá 9,8 triệu xe. Hồi năm 2006, Trung Quốc đã vượt qua Nhật để trở thành thị trường tiêu thụ xe hơi lớn thứ 2 thế giới. Chính phủ Trung Quốc đã áp dụng nhiều biện pháp để kích thích sức mua ô tô như giảm thuế, ra các chính sách ưu đãi… Các doanh nghiệp sản xuất ô tô thì chuẩn bị rất kỹ lưỡng bằng cách học hỏi kinh nghiệm tiêu thụ sản phẩm của các đối tác nước ngoài, đã tiếp thu bí quyết sản xuất và quản lý của các đối tác, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, cạnh tranh bằng giá, xây dựng hình ảnh 2.2.2 Kinh nghiệm đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở Việt Nam a. Kinh nghiệm đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm của Công ty Thương mại thuốc lá Công ty Thương mại thuốc lá đạt được kết quả đáng khích lệ, hoàn thành tốt các chỉ tiêu cơ bản đề ra: Doanh thu tăng 20,37% so với cùng kỳ năm 2007; sản phẩm Vinataba dẫn đầu về sản lượng tiêu thụ trong các mác thuốc lá trung, cao cấp được sản xuất tại Việt Nam, tăng 24,65%; sản lượng nước tinh khiết Vinawa tăng 47,95% so với cùng kỳ năm 2007. Để đạt được kết quả trên là do thời gian qua Công ty luôn quan tâm và chỉ đạo sát sao mục tiêu tiêu thụ sản phẩm, thực hiện chính sách tiêu thụ sản phẩm phù hợp với từng vùng, miền; xây dựng và tổ chức kênh phân phối nhằm đưa sản phẩm đến từng kênh bán lẻ và người tiêu dùng trên khắp cả nước, giành được sự tín nhiệm của khách hàng đối với sản phẩm của Công ty.  Cụ thể, Công ty đã triển khai nhiều chương trình Maketting như: Đẩy mạnh công tác xây dựng hình ảnh, thương hiệu Vinataba, để người tiêu dùng đều biết Vinataba là sản phẩm có chất lượng cao và thương hiệu nổi tiếng; Nghiên cứu hoàn thiện chính sách bán hàng, công tác chăm sóc khách hàng, tạo sự gắn bó lợi ích trách nhiệm giữa Công ty, đại lý tiêu thụ với người tiêu dùng; Xây dựng đội ngũ nhân viên thị trường chuyên nghiệp, được đào tạo chu đáo về công tác thị trường, đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng; Kiểm tra, giám sát chặt chẽ giá bán, mạng lưới tiêu thụ của từng đại lý ở từng khu vực thị trường. Thực hiện chiến lược kinh doanh đa ngành của Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam, Công ty đã triển khai nhiều chương trình khuyến mãi, quảng cáo thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, tham gia các hội chợ triển lãm để quảng bá cho các sản phẩm kinh doanh đa ngành như: Nước tinh khiết Vinawa, bánh kẹo Hải Hà - Kotobuki... Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh của Công ty vẫn còn một số hạn chế nhất định như: Nhà nước đề ra các quy định kiểm soát thuốc lá ngày càng chặt chẽ; mức độ cạnh tranh sản phẩm ngày càng tăng; thuốc lá nhập lậu ngày càng nhiều... Đây là những vấn đề cần được khắc phục để thời gian tới có những chuyển biến tích cực, đem lại những thành quả khả quan hơn. Với những kết quả đạt được trong kinh doanh và hiệu quả thực tế từ những sản phẩm phục vụ người tiêu dùng, trong nhiều năm liền, sản phẩm Vinataba đã đạt giải thưởng “Cúp Vàng thương hiệu 2005” và “Sao Vàng đất Việt 2005”, được bình chọn là “Nhãn hiệu nổi tiếng quốc gia 2006”. Đặc biệt, tại Hội chợ Công  nghiệp quốc tế 2007 tại TP. Hồ Chí Minh, sản phẩm Vinataba đạt giải thưởng “Cúp Vàng thương hiệu hàng đầu Việt Nam 2007”.  Nước tinh khiết Vinawa với mặt hàng nước uống chủ lực là bình 20 lít, chiếm 63% tổng sản lượng. Bao bì và chất lượng sản phẩm nước tinh khiết được người tiêu dùng chấp nhận và đánh giá cao, được xem là loại nước uống cao cấp. Sản phẩm nước uống Vinawa vinh dự được chọn là một trong số ít nước uống tinh khiết phục vụ Hội nghị APEC tổ chức tháng 11 năm 2006; Đạt giải thưởng “Huy chương vàng” tại Hội chợ Công  nghiệp quốc tế 2007 tại TP. Hồ Chí Minh vừa qua. Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đã tạo nên những cơ hội mới, đồng thời cũng là những thách thức mới trong quá trình phát triển của cả nước nói chung và của Công ty Thương mại thuốc lá nói riêng. Vì vậy, để giữ vững và phát triển hơn nữa trong giai đoạn tới, Công ty Thương mại thuốc lá phát huy cao độ những thế mạnh, khắc phục khó khăn, tự tin trong hội nhập. Trước mắt, Công ty phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch năm 2007 đề ra như sau: Doanh thu đạt 3.026 tỷ đồng; Nộp ngân sách được 17.000 tỷ đồng; Sản lượng tiêu thụ sản phẩm đạt 385 triệu bao. Đồng thời, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại các thị trường tiềm năng, vùng sâu, vùng xa, thị trường cạnh tranh, thực hiện phương thức bán hàng linh hoạt phù hợp với thị trường; củng cố hệ thống kênh phân phối Vinataba theo huớng chuyên nghiệp, gọn nhẹ và hiện đại v.v… Đây cũng tạo đà để Công ty Thương mại thuốc lá thực hiện tốt nhiệm vụ kế hoạch của những năm tiếp theo. b. Việt Nam tiêu thụ ô tô lớn nhất từ trước đến nay Theo số liệu của Hiệp hội các DN ôtô Việt Nam (VAMA), 16 DN thành viên đã tiêu thụ được 110.186 xe các loại trong năm 2008. Nhiều DN đã có sự tăng trưởng ấn tượng với lượng xe bán ra tăng cao so với 2007. Sau tháng 11/2008 lượng xe tiêu thụ giảm mạnh, chỉ còn 5.174 xe, bước sang tháng 12/2008 số lượng xe bán ra của 16 DN thành viên đã tăng lên 9.239 xe. Trong đó nhiều DN đã có số lượng bán ra tăng mạnh. Chẳng hạn Toyota Việt Nam tháng 12/2008 bán được 2.605 xe, tăng 1.140 xe so với tháng 11/2008; Honda Việt Nam bán được 568 xe tăng 467 xe so với tháng 11/2008; Ford Việt Nam bán được 600 xe, tăng 302 xe so với tháng 11/2008; GM Daewoo bán được 917 xe, tăng 288 xe so với tháng 11/2008. Mẫu xe có số lượng bán ra tăng mạnh nhất thuộc về Innova của Toyota  với 1.712 xe tăng xấp xỉ 1.000 xe so với tháng 11/2008, các mẫu xe khác như Captiva (GM Daewoo),  Everesst 2 cầu (Ford), Civic (Honda) cũng có số lượng bán ra gấp 2-4 lần so với tháng 11/2008. Các DN ôtô 100% vốn trong nước như Trường Hải, Xuân Kiên (Vinaxuki), Tổng Công ty Công nghiệp  ôtô Việt Nam (Vinamotor) cũng có lượng xe tiêu thụ trong tháng 12/2008 tăng mạnh. Cụ thể Trường Hải bán được 1.448 xe tăng gấp hơn 2 lần so với tháng 11, Xuân Kiên bán được 526 xe, tăng hơn 200 xe so với tháng 11/2008 và Vinamotor bán được 1.351 xe, tăng hơn 400 xe so với tháng 11/2008. Lý do tiêu thụ xe tăng mạnh trở lại vì đây là tháng cuối cùng của năm 2008 các DN đẩy mạnh khuyến mãi, giảm giá,  nhiều mẫu xe có mức giảm tới 4.000USD nên thu hút được khách hàng. Bên cạnh đó nhiều khách hàng lo ngại sang năm 2009 chính sách thuế, phí với ôtô thay đổi, xe tăng giá nên đã nhanh chóng mua ngay vào dịp cuối năm cũng như cần xe phục vụ nhu cầu đi lại dịp Tết Nguyên đán. Với mức tiêu thụ xe kể trên thì năm 2008 được coi là năm có lượng xe tiêu thụ cao nhất từ trước đến nay. Nhiều DN ôtô có sản lượng bán ra cao hơn hẳn so với năm 2007. Cụ thể như Toyota Việt Nam, năm 2008 bán được 24.421 xe (năm 2007 bán được 20.113 xe); GM Daewoo bán được 11.036 xe (năm 2007  bán được 7.580 xe); Ford Việt Nam bán được 6.494 xe  (năm 2007 bán được 5.975 xe); Honda Việt Nam bán được 5.909 xe (năm 2007 bán được 4.260 xe); Vinaxuki bán được 8.070 xe (năm 2007 bán được 7.358 xe); Trường Hải bán được 16.373 xe (năm 2007 bán được 11.534 xe); Vinamotor bán được 20.887 xe (năm 2007 bán được 5.476 xe)... Tuy nhiên cũng có một số DN sản lượng bị giảm như Mercedes Benz, Vinastar (Mitsubishi), Isuzu...  trong đó Vinastar là DN có lượng xe bán ra giảm nhiều nhất, từ 4.595 xe  năm 2007 giảm xuống còn 2.925 trong năm 2008, giảm 1.670 xe; Isuzu từ 4.229 xe năm 2007 giảm xuống còn  3.385 trong năm 2008, giảm 844 xe... Nhưng xét cho cùng thì năm 2008 vẫn là năm làm ăn phát đạt của nhiều DN lắp ráp ôtô trong nước với sản lượng chung tăng tới xấp xỉ 30.000 xe so với năm 2007. Đóng góp lớn vào sự tăng trưởng này là do sức tiêu thụ ôtô tăng mạnh trong 6 tháng đầu năm 2008. Theo số liệu của VAMA thì trong 6 tháng đầu năm 2008 lượng xe bán ra của các DN thành viên là 68.609 xe, bằng hơn 85% tổng doanh số năm 2007. Các DN thực sự chỉ gặp khó khăn trong 2 tháng 10 và 11 năm 2008 khi lượng xe tiêu thụ giảm mạnh. Ngoài xe sản xuất lắp ráp trong nước tiêu thụ tăng thì xe nhập khẩu trong năm 2008 cũng tăng rất mạnh về số lượng. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2008 các DN đã nhập về 50.400 xe ôtô các loại với trị giá trên 1 tỷ USD, tăng gấp hơn 2 lần so với năm 2007 là 22.400 xe. Trong năm 2008 mặc dù thuế suất thuế nhập khẩu ôtô nguyên chiếc  đã  tăng 2 lần liên tiếp  vào tháng 3 và tháng 4, từ mức 60% lên 83%, nhưng lượng xe nhập khẩu tăng vọt. Lý giải dễ hiểu nhất chính là trong khi thị trường vẫn đang sôi động, các nhà nhập khẩu đã tiến hành nhập khẩu ồ ạt để tránh các mức thuế mới trong khi người tiêu dùng cũng tranh thủ mua để tránh mức giá mới được dự báo là sẽ tăng mạnh theo thuế. Cho đến nay số ôtô nguyên chiếc nhập khẩu về tồn đọng chưa bán được theo ước tính còn  khoảng 15.000 xe. Trừ đi con số này thì thị trường ôtô Việt Nam 2008 cũng đã vượt ngưỡng 140.000 xe và  đây là năm có lượng xe ôtô tiêu thụ cao nhất từ trước đến nay. c. Kinh nghiệm tiêu thụ nông sản hàng hóa qua hợp đồng ở An Giang An Giang thực hiện chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa (NSHH) thông qua hợp đồng theo từng bước khá bài bản, đem lại hiệu quả thiết thực. Bước một, UBND tỉnh chỉ đạo ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN-PTNN) chủ động phối hợp các ngành, các cấp tổ chức nhiều hội thảo với lãnh đạo các doanh nghiệp (DN) nhà nước trong và ngoài tỉnh để bàn và thống nhất các đối tượng, phương thức và những loại sản phẩm hàng hóa (SPHH) cần tiêu thụ thông qua hợp đồng. Bước hai, xây dựng kế hoạch tiêu thụ SPHH đối với từng vụ sản xuất. Bước ba, quy hoạch vùng sản xuất nông sản hàng hóa tập trung, với quy mô phù hợp lợi thế về đất đai, khí hậu, tập quán canh tác từng nơi; đồng thời bố trí các tổ hợp tác, hợp tác xã, hộ nông dân, xã viên, các trang trại sản xuất theo đơn đặt hàng của DN. Dựa trên nội dung hợp đồng nêu trên, từ năm 2002 đến nay, tỉnh An Giang đã thực hiện đồng bộ sáu phương thức hợp đồng (PTHÐ) tiêu thụ SPHH cho nông dân. Mỗi phương thức có hợp đồng riêng, quy định rõ các điều kiện để ràng buộc quyền và nghĩa vụ gắn với lợi ích giữa các đối tượng tham gia. Trong thực tế, chúng tôi thấy có hai PTHÐ được thực hiện phổ biến. Thứ nhất, PTHÐ tiêu thụ SPHH với giá sàn tối thiểu và có điều chỉnh theo sự biến động giá cả trên thị trường theo hướng có lợi cho nông dân. Cụ thể là tại thời điểm thu mua, giá sản phẩm thị trường cao hơn giá sàn, DN mua theo giá thỏa thuận. Ngược lại, nếu thấp hơn thì mua theo giá sàn. Thứ hai, PTHÐ đầu tư ứng trước vốn, vật tư, kỹ thuật cho sản xuất và bao tiêu sản phẩm với giá cố định theo nguyên tắc được cùng ăn, thua cùng chịu. DN sau khi thu gom sản phẩm đưa đi tiêu thụ trong nước hoặc xuất khẩu với giá cao hoặc thấp hơn so giá quy định, phần chênh lệch lãi hai bên cùng hưởng; lỗ cùng chia sẻ rủi ro. Nhìn chung PTHÐ này thường được áp dụng, thu được kết quả tốt đối với những sản phẩm có tính "đặc thù", có thị trường tiêu thụ ổn định, giá ít biến động. Chẳng hạn như lúa gạo Jasmine của Nhật Bản, bắp trái non, bắp lai làm giống, mè trắng V6, khoai mì công nghiệp,... Trước đây, hình thức thu gom nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến hoặc xuất khẩu, số đông các DN đều hợp đồng với lực lượng thương lái. Làm như thế, cả DN và người sản xuất phải phụ thuộc thương lái, rất bị động và thường thua thiệt do bị ép cấp, ép giá. Khắc phục tình trạng này, những năm gần đây, An Giang tiến hành tổ chức lại khâu tiêu thụ bằng việc DN hỗ trợ HTX về vốn, cung ứng giống cây, giống con, hướng dẫn quy trình kỹ thuật, thâm canh và mua lại SPHH theo hợp đồng. Trên cơ sở đó, HTX làm các dịch vụ đầu vào, đầu ra phục vụ quá trình sản xuất của từng hộ thành viên tham gia hợp đồng. Cách làm này đã giúp doanh nghiệp tiết kiệm đáng kể chi phí quản lý, nhất là chi phí trong khâu giao dịch ký hợp đồng, DN có điều kiện chủ động xây dựng vùng nguyên liệu ổn định, đi vào thâm canh, tăng năng suất, chất lượng nguyên liệu. Có thể nói, việc sản xuất, tiêu thụ SPHH thông qua hợp đồng đã góp phần giúp cho An Giang chuyển dịch nhanh cơ cấu sản xuất nông nghiệp hàng hóa, tham gia bình ổn giá cả trên thị trường, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân và củng cố, phát triển quan hệ sản xuất mới; hình thành mối liên kết "bốn nhà", góp phần thúc đẩy nền kinh tế chung của tỉnh phát triển. d. Kinh nghiệm tiêu thụ tivi LCD, Plasma Theo thống kê của các doanh nghiệp (DN), sức tiêu thụ tivi LCD, Plasma thời gian này tăng từ 4-6 lần so với cùng thời điểm năm 2007 vì giá các mặt hàng này giảm mạnh. Từ đầu tháng 12/2008 đến nay sức mua với mặt hàng LCD, Plasma tại các trung tâm điện máy ở Hà Nội và TPHCM đã tăng mạnh. Cụ thể hai trung tâm điện máy của Công ty cổ phần Pico tại Hà Nội có ngày đã tiêu thụ tới 600 chiếc tivi LCD các loại. Trung tâm mua sắm Nguyễn Kim Tràng Thi (Hà Nội) mỗi ngày bán được trên 200 chiếc LCD, Plasma. Vậy sức tiêu thụ tivi LCD, Plasma tăng mạnh như vậy là do các doanh nghiệp đã đẩy mạnh khuyến mại và giá tivi LCD, Plasma đã giảm rất mạnh và chiến lược khuyến mại năm nay khác các năm trước, sau khi thăm dò ý kiến khách hàng, con số tổng hợp được cho thấy 40% số người được hỏi muốn chuyển các chi phí khuyến mại vào giá để sản phẩm có giá bán rẻ, 30% muốn các chương trình khuyến mại có quà tặng trả ngay và chỉ 15% thích bốc thăm trúng thưởng. Vì thế xu thế bán hàng cuối năm nay các chương trình như bốc thăm trúng thưởng rất ít mà thay vào đó là giảm giá sản phẩm và có quà tặng kèm theo. Các năm trước nhiều trung tâm, siêu thị còn đưa ra chương trình như mua hàng trúng ôtô, đi du lịch nước ngoài... thì nay giảm hẳn, thay vào đó các chi phí khuyến mại được đưa thẳng vào giá làm cho nhiều sản phẩm giá giảm mạnh, bên cạnh đó là mua hàng được tặng quà ngay tại chỗ, chính vì vậy đã thu hút được rất nhiều khách hàng đến mua sắm. Hiện nay giá tivi Plasma, LCD 32 inch giảm khá mạnh. Mẫu LA 32A330 của Samsung còn 6.490.000 đồng... Mẫu 32LG10 của LG tại TP.HCM có trung tâm bán ra chỉ còn 5,3 triệu đồng/chiếc. Mẫu 32LG30 của LG giá hạ chỉ còn 6.790.000 đồng. Tivi Plasma cũng vậy, mẫu Viera TX32LE8 của Panasonic có giá bán 6.990.000 đồng/chiếc, TX32LX80 còn 7.890.000 đồng/chiếc, đặc biệt mẫu Plasma 32PC5 của LG chỉ còn 5,9 đồng/chiếc. Giá bán các mặt hàng này đã giảm thêm từ 5-10% so với cách đây hơn 1 tháng khi tivi LCD, Plasma đã có 1 đợt "xả hàng", đại hạ giá với mức giá giảm tới 20%. Một số trung tâm điện máy cho biết lượng khách mua hàng tăng mạnh với các mẫu tivi LCD, Plasma giá từ 5-7 triệu đồng, khiến cho nhiều sản phẩm bắt đầu thiếu hàng. Công ty PiCo cho biết các sản phẩm tivi giá từ 7 triệu đồng trở xuống nhiều mẫu đã không còn hàng để bán. Hầu hết các mẫu tivi giá từ 7 triệu đồng trở xuống là sản phẩm tồn kho, các DN không còn sản xuất nữa vì vậy không có thêm hàng để cung cấp. Tại Trung tâm mua sắm Nguyễn Kim tất cả các mẫu tivi LCD giá rẻ vẫn còn và không có chuyện thiếu hàng. Thiếu hàng có thể còn do kế hoạch, chiến lược kinh doanh của từng DN. Một số trung tâm chuẩn bị ít hàng trong khi sức mua tăng mạnh thì tất yếu sẽ thiếu. Do Nguyễn Kim đã chuẩn bị trước 1 lượng lớn hàng cho dịp cuối năm nên chưa có mẫu nào bị thiếu. Theo dự báo của các nhà chuyên gia thì lượng khách mua hàng được dự báo sẽ còn tăng mạnh vào tháng 1/2009. Nhiều khách hàng đang chờ đợi thời điểm sau 1/1/2009 khi thị trường bán lẻ Việt Nam mở cửa với hy vọng giá tivi LCD, Plasma sẽ còn giảm và hàng nhập khẩu tràn vào họ có thêm nhiều lựa chọn, cộng với thời điểm này cán bộ nhân viên được thưởng Tết, nhu cầu mua sắm nói chung đều tăng. Tuy nhiên, hiện một số DN đã nhập khẩu những lô hàng tivi LCD, Plasma giá rẻ từ các nước trong khu vực về và tung ra thị trường với giá rất thấp. Chẳng hạn tivi Plasma, LCD 32 inch của Daewoo, LG giá bán ra chỉ từ 4,5 triệu đồng/chiếc đến 5,9 triệu đồng/chiếc. Sau 1/1/2009 những sản phẩm này sẽ còn được đẩy mạnh nhập khẩu và trên thị trường sẽ còn xuất hiện nhiều loại tivi LCD, Plasma giá siêu rẻ, nhưng đó là những sản phẩm lỗi mốt có các chỉ số kỹ thuật thấp và không tiêu thụ được tại các nước này. PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Công ty cổ phần SaPa – Geleximco là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu, hạch toán kinh doanh độc lập, tự chủ về mặt tài chính, được mở tài khoản tại ngân hàng, sử dụng con dấu riêng, có tư cách pháp nhân và chịu sự quản lý của Nhà nước về hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu thông qua Bộ Thương Mại. Hoạt động kinh doanh theo quy định của Nhà nước và trực tiếp điều chỉnh bởi luật doanh nghiệp. Lúc đầu là chi nhánh của Công ty GELEXIMCO có trụ sở tại 64 Nguyễn Lương Bằng – Hà Nội. Công ty cổ phần SaPa – Geleximco được thành lập cùng với công ty mẹ theo quyết định số: 84QĐ – UB ngày 09/01/1993 của Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội, được cấp giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu số: 2053023 ngày 09/02/1993 và chứng nhận đăng kí kinh doanh số: 040684 ngày 18/09/1995. Đến ngày 23/03/2003 theo đề nghị của ban lãnh đạo công ty mẹ quyết định đưa chi nhánh lên thành Công ty TNHH xuất nhập khẩu tổng hợp Hưng Yên. Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh do Sở kế hoạch và đầu tư cấp theo số: 1387/Q§UB ngµy 23/03/2003. Tên Công ty: Công ty TNHH xuất nhập khẩu tổng hợp Hưng Yên Tên giao dịch: Hưng Yên General Export Import Company Limited Tên viết tắt: GELEXIMCO Hưng Yên Co.,Ltd Vốn điều lệ: 10.500.000.000 đ Trụ sở: Đình Dù – Văn Lâm – Hưng Yên Điện thoại: 03213.986529 Fax: 03213.986569 Để hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn và phù hợp với nền kinh tế hiện nay, Ban lãnh đạo Công ty quyết định đổi tên Công ty thành Công ty SaPa – Geleximco Hưng Yên vào ngày 11/06/2008 theo quyết định số 902/Q§UB. Cùng với sự phát triển của Công ty mẹ tại Hà Nội, Công ty cổ phần SaPa – Geleximco là một trong những Công ty đầu tiên được xuất nhập khẩu trực tiếp, chính trong những thuận lợi này Công ty đã có những bước phát triển cao. Là Công ty con của Công ty GELEXIMCO – Hà Nội nhưng Công ty có chế độ hạch toán độc lập và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. 3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực hoạt động của Công ty 3.1.2.1 Chức năng và nhiệm vụ Kinh doanh xuất nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp thực phẩm, hàng tiêu dùng thiết yếu, máy móc…Tổ chức thực hiện việc sản xuất bao bì PP phục vụ cho ngành đóng gói vật tư nông nghiệp, thức ăn gia súc. 3.1.2.2 Lĩnh vực hoạt động của Công ty Về hoạt động xuất khẩu Hàng xuất khẩu chủ yếu là bao bì PP. Thị trường chủ yếu là Nhật, Trung Quốc, các nước Đông Nam Á… Về hoạt động nhập khẩu Hàng nhập khẩu chủ yếu của Công ty là nguyên liệu, máy móc thiết bị, dây truyền phục vụ cho các ngành sản xuất công nghiệp. Thị trường chủ yếu là các nước có công nghệ cao như Nhật, Mỹ, Nga, Đức… Tự sản xuất Sản xuất bao bì PP phục vụ cho ngành vật tư nông nghiệp và thức ăn gia súc. Các hoạt động kinh doanh sản xuất bao bì là sản xuất theo đơn đặt hàng của các chủ hàng và sản xuất để phục vụ cho việc đóng gói sản phẩm vật tư nông nghiệp, thức ăn chăn nuôi do công ty cũng buôn bán những loại sản phẩm này. 3.1.3 Bộ máy tổ chức của Công ty Để kinh doanh có hiệu quả và phát huy được năng lực chuyên môn của từng bộ phận, từng phòng thì việc sắp xếp bộ máy tổ chức phải phù hợp với tổ chức mạng lưới của Công ty, phân xưởng và thuận lợi cho việc mua, bán xuất, nhập hàng hoá. Nhận thức được điều này nên Công ty rất quan tâm đến việc công tác tổ chức quản lý. Bộ máy quản lý của Công ty gồm các phòng ban chuyên trách giúp Giám đốc trong việc lập kế hoạch và quản lý điều hành công việc chịu trách nhiệm trước Giám đốc về nhiệm vụ và nội dung công việc được giao. Điều này được thể hiện qua sơ đồ sau: Phòng kế hoạch kinh doanh Xưởng 2 Xưởng 3 Xưởng 1 Phòng kế toán tài chính Phòng kỹ thuật Văn phòng xưởng Phòng tổ chức hành chính Ban giám đốc Sơ đồ 3: Bộ máy tổ chức của Công ty Ban giám đốc: điều hành mọi hoạt động của Công ty, ra quyết định quản trị, thống nhất hoạch định chiến lược kinh doanh cũng như chiến lược phát triển của Công ty. Ban giám đốc Công ty bao gồm một giám đốc và một phó giám đốc. Giám đốc Công ty là người nắm toàn bộ quyền hành, chỉ đạo chung toàn Công ty, là chủ tài khoản và quyết định mọi vấn đề của Công ty. Giám đốc là người chịu trách nhiệm cao nhất trước phát luật và trước cơ quan cấp trên về việc tổ chức mọi hoạt động của công ty cũng như nhiệm vụ do cấp trên giao. Giám đốc Công ty thực hiện chức trách của người chỉ huy, chịu trách nhiệm chỉ đạo và điều hành chung mọi hoạt động công tác thuộc lĩnh vực của Công ty theo quy định của cấp trên, quy định chức năng quyền hạn, mối quan hệ , cơ cấu tổ chức của Công ty và trực tiếp chỉ đạo các lĩnh vực: + Quy hoạch và kế hoạch chung về xây dựng phát triển Công ty. + Công tác tổ chức lực lượng và cùng các phòng ban chức năng có liên quan xem xét về công tác đào tạo, sắp xếp, bổ nhiệm cán bộ, công nhân viên. + Công tác đầu tư phát triển, tài chính, vật tư, kinh doanh, giá thành sản phẩm. + Chủ tịch Hội đồng thi đua khen thưởng Phó giám đốc: là người trực tiếp chỉ đạo các hoạt động kinh doanh và chịu trách nhiệm trước cấp trên của mình là Giám Đốc. Phòng tổ chức hành chính: + Bộ phận tổ chức cán bộ và chế độ: là bộ phận chịu trách nhiệm trong việc đăng ký kinh doanh, tăng cường công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công nhân viên. Hướng dẫn, kiểm tra các xí nghiệp, các phòng ban thực hiện tốt các chính sách và quy định của Nhà nước, quy định của Công ty. Trực tiếp quản lý và giải quyết khâu lao động, tiền lương, tiền thưởng, chế độ bảo hiểm… + Bộ phận hành chính quản trị: là bộ phận phụ trách công tác hành chính, pháp chế trong Công ty, quản lý nội bộ, khu làm việc, các thiết bị, máy móc… Phòng kế toán tài chính: Tổ chức hạch toán các hoạt động kinh doanh, thanh toán tiền lương, thưởng cho công nhân viên, hạch toán số tiền phải trả cho Nhà nước như các loại thuế, các bảo hiểm theo nghĩa vụ, giải quyết các vấn đề liên quan tới tài chính. Phòng kế hoạch kinh doanh: Có nhiệm vụ giúp ban Giám đốc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, điều độ sản xuất kinh doanh bảo đảm cho sản xuất ổn định, giao hàng kịp thời không có sai sót, quản lý thành phẩm sản xuất ra. Đồng thời phụ trách mảng xuất nhập khẩu hàng hóa. Phòng kỹ thuật: Có nhiệm vụ quản lý công nghệ, thiết bị, đôn đốc theo dõi các phân xưởng thực hiện quy trình công nghệ trong sản xuất. Tìm ra các biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến công nghệ trang thiết bị sao cho hạ gia thành sản phẩm và kết hợp cùng với các phân xưởng tổ chức triển khai thực hiện đúng tiến độ mà Công ty đề ra. Văn phòng xưởng: Trong Công ty gồm có 3 phân xưởng sản xuất với các nhiệm vụ sản xuất khác nhau. Trong các phân xưởng đều có một Quản đốc, một Phó quản đốc, một thống kê xưởng, một thủ kho và các tổ trưởng sản xuất. Quản đốc và Phó quản đốc sẽ trực tiếp điều hành sản xuất chung ở trong phân xưởng của mình, các kế toán thống kê có nhiệm vụ ghi chép số sản phẩm, số công của công nhân trong từng ngày, từng tháng và hàng năm. Thủ kho có nhiệm vụ bảo quản và theo dõi cũng như xuất nhập vật tư đầu vào cho sản xuất và thành phẩm sản xuất ra. Các tổ trưởng trong phân xưởng trợ giúp Quản đốc trong việc quản lý công nhân trong tổ mình và đốc thúc sản xuất. Các tổ chức khác trong Công ty: Tổ chức Đảng, phụ nữ, công đoàn, thanh niên. 3.1.4 Tình hình lao động của công ty Lao động là yếu tố quan trọng của quá trình SXKD. Bởi vậy vấn đề quản trị nguồn nhân lực luôn được các nhà quản lý quan tâm. Chất lượng lao động, cơ cấu lao động có ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất lao động cũng như kết quả và hiệu quả SXKD. Bảng 1: Tình hình lao động của Công ty Stt Chỉ tiêu Năm So sánh(%) 2006 2007 2008 07/06 08/07 BQ 1 Tổng số lao động 259 280 320 108,108 114,286 111,197 2 Phân theo trình độ Trên ĐH 2 3 3 150 100 125 ĐH 9 10 12 111,111 120 115,5555 CĐ, trung cấp 30 35 36 116,667 102,857 109,762 Lao động phổ thông 218 232 269 106,422 115,948 111,185 3 Phân theo chuyên môn Cán bộ quản lý 28 28 30 100 107,142 103,571 Cán bộ kỹ thuật 16 17 17 106,25 100 103,125 Công nhân sản xuất 215 235 273 109,302 116,17 112,736 4 Phân theo giới tính Nam 97 104 115 107,216 110,576 108,896 Nữ 162 176 205 108,652 116,478 112,56 5 Phân theo các phòng ban Phòng kế hoạch KD 12 12 13 100 108,333 104,167 Phòng kế toán tài chính 9 9 10 100 111,111 105,555 Phòng tổ chức hành chính 7 7 7 100 100 100 Phòng kỹ thuật 13 14 14 107,692 100 103,846 Xưởng 1 80 93 106 116,25 113,978 115,114 Xưởng 2 56 60 63 107,143 105 106,072 Xưởng 3 82 85 1._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc56. HUONG.doc
Tài liệu liên quan