Đề tài Nghiên cứu và vận dụng phương pháp Cây kiến thức trong giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng môn học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin

Môc lôc LÒI NÓI ĐẦU.........3 MỞ ĐẦU........................4 CHƯƠNG1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CÂY KIẾN THỨC....7 1.1. Các khái niệm cơ bản.7 1.1.1. Phương pháp dạy học..7 1.1.2. Đặc điểm của quá trình dạy học..9 1.1.3. Phương pháp dạy học tích cực..11 1.2. Phương pháp dạy học Cây kiến thức15 1.2.1. Đặc điểm của phương pháp dạy học Cây kiến thức..15 1.2.2. Các bước tiến hành phương pháp giảng dạy Cây kiến thức..18 CHƯƠ

doc74 trang | Chia sẻ: huong20 | Ngày: 11/01/2022 | Lượt xem: 363 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Đề tài Nghiên cứu và vận dụng phương pháp Cây kiến thức trong giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng môn học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ƠNG 2. THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC VÀ VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP CÂY KIẾN THỨC TRONG GIẢNG DẠY MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MAC-LÊNIN20 2.1. Thực trạng dạy và học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin hệ cao đẳng khóa 520 2.1.1. Quá trình dạy.20 2.1.2. Quá trình học.21 2.2. Tổ chức thực nghiệm phương pháp Cây kiến thức vào giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin ..23 2.2.1. Đặc điểm môn học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin23 2.2.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình vận dụng phương pháp Cây kiến thức vào giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin25 2.2.3. Tổ chức thực nghiệm.27 2.2.4. Đánh giá chung và vấn đề đặt ra...38 CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP CÂY KIẾN THỨC VÀO GIẢNG DẠY MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN...39 3.1. Nhóm giải pháp đối với giáo viên39 3.2. Nhóm giải pháp đối với sinh viên41 Kết luận và khuyến nghị.43 Tài liệu tham khảo...44 LỜI NÓI ĐẦU. Qua thực tế giảng dạy môn học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, chúng tôi có thể nói rằng việc gây được hứng thú cho học sinh đối với môn học là vô cùng quan trọng vì: Nếu như các em có được hứng thú đối với môn học thì các em mới nỗ lực phấn đấu hết mình để đạt được kết quả cao trong học tập. Để làm được điều này thì việc đổi mới phương pháp giảng dạy là vấn đề mấu chốt. Vì thế, chúng tôi đã sử dụng phương pháp cây kiến thức- phương pháp dạy học tích cực trong quá trình giảng dạy của mình. Đây là phương pháp dạy học phù hợp với hình thức dào tạo tín chỉ và có nhiều điểm tương đồng với môn học. Đó là lý do chúng tôi mạnh dạn đưa ra đề tài này để cùng thảo luận, chia sẻ và rút kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy. Với kinh nghiệm còn non nớt, chắc chắn đề tài còn nhiều thiếu sót. Vì vậy, chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý từ quý thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn. Nhóm tác giả MỞ ĐẦU Lý do lựa chọn đề tài Đại hội Đảng lần thứ VII xác định chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Theo chủ trương đó, Bộ Giáo dục và đào tạo đã quy định môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin là môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo cao đẳng, đại học. Đây là môn học quan trọng nhằm trang bị cho sinh viên thế giới quan đúng đắn, nhân sinh quan khoa học và phương pháp luận biện chứng. Song lượng kiến thức rất lớn, thời lượng môn học ít (7,5 đơn vị học trình) đòi hỏi sinh viên phải có sự chú ý và đầu óc tư duy cao nên việc học, hiểu và nhớ các nguyên lý, quy luật, phạm trù, học thuyêt là rất khó khăn. Từ đó đòi hỏi người giảng viên khi giảng dạy phải có sự cân nhắc kỹ lưỡng trong việc lựa chọn phương pháp giảng dạy cho phù hợp, hiệu quả, thu hút sự chú ý của sinh viên. Đây là yếu tố quyết định chất lượng dạy và học của các môn học lý luận nói chung và môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin nói riêng. Ở trường Đại học Sao Đỏ, công tác giáo dục chính trị cho học sinh, sinh viên luôn được nhà trường chú trọng. Tuy nhiên, với đặc thù của một trường kỹ thuật, đa số sinh viên học khối tự nhiên nên thường có tâm lý ngại học các môn lý thuyết dẫn đến chất lượng và kết quả học tập của một số sinh viên chưa cao. Một trong những điểm yếu hiện nay của việc dạy và học môn học này đó là việc sử dụng và lựa chọn phương pháp còn nặng về truyền thụ một chiều, ít phát huy tính chủ động, sáng tạo của sinh viên. Người thầy vẫn giữ vị trí trung tâm trong các giờ học. Các phương pháp giảng dạy phát huy tính tích cực của người học cũng đã được áp dụng như phương pháp thảo luận nhóm, nêu vấn đề, đàm thoại, tự học... Tuy nhiên hiệu quả của việc sử dụng các phương pháp này chưa cao, quá trình thực hiện chưa được như mong muốn. Vấn đề cấp thiết là phải tìm ra một phương pháp mới vừa phát huy được sự chủ động, tính tích cực của người học vừa phù hợp với đặc thù của môn học lý luận chính trị. Đặc biệt trong thời gian tới chuyển sang hình thức đào tạo tín chỉ, các phương pháp giảng dạy mới cũng đang được khuyến khích đưa vào áp dụng. Để đáp ứng những đòi hỏi đó, chúng tôi đã đi khảo cứu nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau và nhận thấy Cây kiến thức là một phương pháp rất phù hợp và hữu hiệu. Phương pháp này có nhiều ưu điểm là làm cho kiến thức, thái độ, hành vi của học sinh được hình thành một cách tự nhiên, vững chắc, khiến cho các bài học lý thuyết không trở thành những bài thuyết giáo cứng nhắc, khô khan. Việc đánh giá kết quả học tập, lượng giá kiến thức của sinh viên cũng chính xác hơn. Trên cơ sở đó, chúng tôi lựa chọn vấn đề “Nghiên cứu và vận dụng phương pháp Cây kiến thức trong giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng môn học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-lênin” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình. 2. Tình hình nghiên cứu. Đổi mới phương pháp dạy học là nhiệm vụ cơ bản để nâng cao chất lượng giảng dạy. Vì thế vấn đề nghiên cứu, vận dụng các phương pháp giảng dạy tích cực đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Tuy nhiên, các công trình chỉ dừng lại ở việc hệ thống hóa các phương pháp hoặc nghiên cứu với tính cách là một phương pháp bộ phận mà ít đi sâu vào từng phương pháp giảng dạy. Đối với phương pháp Cây kiến thức, trong nước mới có PGS.TS Nguyễn Đăng Hải - Học viện Quản lý giáo dục nghiên cứu từ những tài liệu tiếng Pháp nhưng chỉ dừng lại ở việc xem xét Cây kiến thức với tư cách là một phương pháp giảng dạy cơ bản trong quá trình đào tạo theo học chế tín chỉ, chưa đi sâu vào việc áp dụng vào một môn học nào. Kế thừa những thành tựu đó chúng tôi tiếp tục phát triển theo hướng đi sâu vào việc vận dụng phương pháp cây kiến thức vào giảng dạy môn học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin. Ở trường Đại học Sao Đỏ chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề này. 3. Mục tiêu của đề tài. - Làm rõ cơ sở lý luận về phương pháp giảng dạy cây kiến thức - Đưa ra cách thức xây dựng và vận dụng hợp lý phương pháp cây kiến thức trong giảng dạy nhằm phát huy tính tích cực của sinh viên, nâng cao chất lượng dạy và học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Phương pháp cây kiến thức và việc vận dụng phương pháp cây kiến thức vào giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin 4.2. Phạm vi nghiên cứu. Nghiên cứu về phương pháp Cây kiến thức và quá trình vận dụng phương pháp cây kiến thức vào giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tại Trường Đại học Sao Đỏ. 5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài. 5.1.Ý nghĩa lý luận của đề tài. Đề tài góp phần bổ sung, phát triển lý luận về phương pháp Cây kiến thức, làm phong phú thêm lý luận về phương pháp giảng dạy. Xây dựng kỹ năng sử dụng phương pháp Cây kiến thức trong giảng dạy của giảng viên. Đề tài hoàn thành là nguồn tài liệu thiết thực cho những ai quan tâm đến vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục, dạy học hiện nay. 5.2. Ý nghĩa thực tiễn. Đề tài góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin ở trường Đại học Sao Đỏ nói riêng và các trường cao đẳng, đại học nói chung. 6. Phương pháp nghiên cứu. - Phương pháp khảo sát - Phương pháp so sánh - Phương pháp phân tích, tổng hợp - Phương pháp thực nghiệm 7. Kết cấu đề tài Đề tài gồm: Lời nói đầu, mở đầu, ba chương: Chương 1- Cơ sở lý luận về phương pháp dạy học Cây kiến thức; chương 2- Thực trạng quá trình dạy học và việc vận dụng phương pháp Cây kiến thức trong giảng dạy môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin; chương 3- Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng phương pháp Cây kiến thức vào giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và phần kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo. CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CÂY KIẾN THỨC 1.1. Các khái niệm cơ bản. 1.1.1. Phương pháp dạy học. Phương pháp dạy học là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình dạy học. Các yếu tố này tương tác với nhau tạo thành một chỉnh thể không tách rời trong quá trình giáo dục, đào tạo. Trong đó mối quan hệ giữa mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học là quan trọng nhất. Phương pháp dạy học không những phải phù hợp với mục tiêu, nội dung mà còn ảnh hưởng rất nhiều đến việc thực hiện nội dung và mục tiêu chương trình dạy học. Trước khi đề cập đến khái niệm phương pháp dạy học, chúng ta cần hiểu thế nào là phương pháp? Trong tác phẩm “ Bút kí triết học”, Lênin đã nêu lại định nghĩa của Hêghen về phương pháp: “ Phương pháp là ý thức về hình thức của sự tự vận động bên trong của nội dung”. Định nghĩa đó đã khẳng định giữa nội dung dạy học và phương pháp có sự thống nhất với nhau, không thể tách rời. Thuật ngữ phương pháp theo tiếng Hi Lạp là “ Methodos”, có nghĩa là con đường, cách thức hoạt động, nhằm đạt được mục đích nhất định. Vì vậy, phương pháp là hệ thống những hành động tự giác, tuần tự nhằm đạt được những kết quả nhất định. Từ đó phương pháp là cấu trúc bao gồm mục đích được đề ra, hệ thống những hành động (hoạt động), những phương tiện cần thiết (phương tiện vật chất, phương tiện thực hành, phương tiện trí tuệ), quá trình làm biến đổi đối tượng, kết quả sử dụng phương pháp (mục đích đạt được). Theo các nhà lý luận dạy học, phương pháp dạy học là cách thức, là con đường đi tới nhận thức sự vật hiện tượng khách quan hay là sự tập hợp các phương tiện để đạt đến mục đích đề ra. Cũng có các ý kiến cho rằng “phương pháp dạy học là tổ hợp các cách thức phối hợp hoạt động thống nhất của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học”. Như vậy, khi bàn đến phương pháp dạy học, tuy có nhiều cách hiểu khác nhau song tất cả đều hướng đến tính mục tiêu của quá trình dạy học và vai trò của giáo viên và học sinh trong quá trình  dạy học. Phương pháp dạy học có những đặc trưng riêng, khác với các phương pháp nói chung: trong phương pháp dạy học, chủ thể tác động - người thầy giáo và đối tượng bị tác động của mình - học sinh, còn học sinh lại là chủ thể tác động vào đối tượng của mình là nội dung dạy học. Vì vậy, người thầy giáo phải nắm vững những quy luật khách quan chi phối đối tượng tác động của mình vào học sinh và nội dung dạy học thì mới đề ra những biện pháp tác động phối hợp. Từ đó có thể nhận thấy đặc trưng của phương pháp dạy học, đó là người học là đối tượng tác động của giáo viên đồng thời là chủ thể, là nhân cách mà hoạt động của họ tương ứng với sự tác động của giáo viên phụ thuộc vào hứng thú, nhu cầu, ý chí của họ. Nếu giáo viên không gây cho học sinh có mục đích tương ứng với mục đích của mình thì không diễn ra hoạt động dạy và hoạt động học và phương pháp tác động không đạt kết quả mong muốn. Về cấu trúc của phương pháp dạy học: trước tiên là mục đích của người giáo viên đề ra và tiến hành một hệ thống hành động với những phương tiện mà họ có. Dưới tác động của người giáo viên làm cho người học đề ra mục đích của mình và thực hiện hệ thống hành động với những phương tiện mà họ có nhằm lĩnh hội nội dung học tập. Mỗi phương pháp dạy học luôn cấu thành từ 3 thành phần: - Phương pháp luận dạy học - tức là lý thuyết phương pháp dạy học, mô hình lý thuyết của phương pháp dạy học, triết lý hay nguyên tắc lý luận nào đó, được mô tả, giải thích trong sách báo khoa học. Đây là mô hình lý luận của phương pháp dạy học, nó xác định bản chất của phương pháp dạy học, làm cho phương pháp dạy học này khác phương pháp dạy học kia. - Hệ thống khái niệm phù hợp để thực hiện phương pháp luận này trong bài học với nội dung học vấn đặc trưng của lĩnh vực học tập đó (bài học Toán, Khoa học, Thể dục, khác nhau thì phương pháp luận đó đòi hỏi những khái niệm khác nhau) – chúng xác định với khả năng hành động thế nào và bằng cách nào giáo viên có thể biến phương pháp luận đã chọn thành phương thức tác động thật sự đến người học và quá trình học tập. - Những kỹ thuật, công cụ, phương tiện, được sử dụng để thực hiện các khái niệm (thiếu chúng thì các khái niệm không được thực thi) và được tổ chức theo phương pháp luận đã chọn – phương pháp dạy học có thực sự là phương pháp dạy học hay không là do phần vật chất này quyết định, vì chỉ có phần này của phương pháp dạy học mới tác động đến người học và quá trình học tập. Đây là hình thức vật chất của phương pháp dạy học, chẳng hạn lời nói, chữ viết, tranh, ảnh, dụng cụ thí nghiệm, tài liệu media, hành vi giao tiếp,... Sự tổ chức thống nhất của 3 phần này trong tư duy và trong hoạt động vật chất mới tạo nên một phương pháp dạy học cụ thể. Riêng phần 1 chỉ là phương pháp luận, phần 2 chỉ là khái niệm dạy học, còn phần 3 chỉ là phương tiện và kĩ thuật dạy học. Gộp cả 3 phàn lại một cách tùy tiện thì không thành phương pháp dạy học nào rõ ràng, mà phải tổ chức chúng theo một logic nhất định, trước hết là logic trình bày nội dung bài học. Trên cơ sở đó, có thể hiểu phương pháp dạy học là cách thức hoạt động có trình tự, phối hợp, tương tác với nhau của giáo viên và của học sinh nhằm đạt được mục đích dạy học. Nói cách khác, phương pháp dạy học là hệ thống những hành động có chủ đích theo một trình tự nhất định của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động thực hành của học sinh nhằm đảm bảo cho họ lĩnh hội nội dung dạy học và chính như vậy mà đạt được mục đích dạy học. Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học với sự tương tác lẫn nhau. Trong đó phương pháp dạy đóng vai trò chủ đạo còn phương pháp học có tính chất độc lập tương đối, chịu sự chi phối của phương pháp dạy. Song nó cũng ảnh hưởng trở lại phương pháp dạy. Đương nhiên phải thừa nhận phương pháp dạy học tồn tại hiện thực trên lớp học, trong quá trình dạy học thực tế, chứ không phải trên giấy, trên sách báo và bài giảng ở trường sư phạm. Các phương pháp dạy học xuất hiện ở mỗi bài học, trong sự tương tác giữa giáo viên và người học, giữa họ và các yếu tố của môi trường dạy học lúc đó. 1.1.2. Đặc điểm của quá trình dạy học. Quá trình dạy học là quá trình truyền thụ và lĩnh hội những kĩ năng, kĩ xảo và phương pháp nhận thức của con người. Dạy học là quá trình hoạt động kép có hai hoạt động chức năng khác nhau đan xen, tương tác lẫn nhau, trong đó giáo viên là chủ thể của hoạt động dạy, học sinh là chủ thể của hoạt động học thực hiện các mục đích dạy học. Nhiệm vụ dạy học trong nhà trường không chỉ đảm bảo một trình độ học vấn nhất định mà còn góp phần hình thành nhân cách con người của xã hội. Quá trình dạy học phản ánh tính chất hai mặt của quá trình dạy học: Quá trình dạy của giáo viên và quá trình học của học sinh. Hai quá trình này không tách rời nhau mà là một quá trình hoạt động chung nhằm hình thành nhân cách của con người mới đáp ứng yêu cầu của thời đại. Quá trình dạy học có những đặc điểm cơ bản sau: - Mục đích của quá trình dạy học: Mục đích của quá trình dạy học là giáo dục thế hệ trẻ một cách toàn diện và hài hòa, chuẩn bị cho học sinh những phẩm chất và năng lực cần thiết để đáp ứng nhu cầu của xã hội trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Như vậy dạy học, lao động sư phạm có giá trị như là một nhân tố xã hội quan trọng góp phần “sáng tạo ra con người”, góp phần tái sản xuất sức lao động xã hội. - Đối tượng của quá trình dạy học: Ứng với mục đích nêu trên, quá trình dạy học có đối tượng tác động là con người (chủ yếu là thế hệ trẻ) mang trong mình những nhân cách xác định, tồn tại và phát triển như một thực thể xã hội, có ý thức chủ động tiếp thu sự giáo dục. Với một đối tượng như vậy, kết quả lao động của người giáo viên không chỉ phụ thuộc vào năng lực, tài năng sư phạm của bản thân giáo viên mà còn phụ thuộc vào đặc điểm nhân cách của học sinh, vào thái độ của học sinh trong việc tiếp thu sự giáo dục và quan hệ của học sinh với giáo viên. Việc nắm bắt đối tượng giáo dục của mình một cách cụ thể, toàn diện làm cơ sở cho sự thành công trong quá trình lao động sư phạm của người giáo viên. K.Đ. Usinxki đã khẳng định: “Muốn giáo dục con người về mọi phương diện thì trước hết phải hiểu con người về mọi phương diện”. - Công cụ thực hiện quá trình dạy học: Với đối tượng lao động đặc biệt là những con người, công cụ lao động của quá trình dạy học cũng cần thiết phải được tương ứng một cách đặc biệt, đó là: + Hệ thống tri thức mà giáo viên sẽ truyền đạt cho học sinh. + Hệ thống các dạng hoạt động được tổ chức theo những mục đích sư phạm nhất định. + Nhân cách của chính bản thân người giáo viên. + Những phương tiện và đồ dùng dạy học. Có thể nói rằng, nếu trong lĩnh vực sản xuất vật chất, công cụ lao động là những đồ vật cụ thể mà người lao động dùng chúng tác động lên đối tượng lao động của mình, thì trong nghề dạy học phần lớn công cụ của giáo viên lại chính là bộ phận hữu cơ gắn bó với bản thân họ. - Sản phẩm của quá trình dạy học: Sản phẩm chính của quá trình dạy học là những con người được trang bị một cách toàn diện để đi vào cuộc sống theo những chuẩn mực xã hội quy định. Đó là những sự biến đổi về chất so với thời điểm xuất xứ của học sinh tính về mặt nhân cách. Với sản phẩm quý báu này, với quan điểm kinh tế, nó đứng hàng thứ hai sau lao động khoa học, nó là một dạng lao động sản xuất đặc thù- lao động sản xuất phi vật chất. 1.1.3. Phương pháp dạy học tích cực. Trong các yếu tố cấu thành quá trình giáo dục, dạy học thì phương pháp bao giờ cũng là yếu tố năng động và trực tiếp quyết định kết quả của quá trình. Sự lựa chọn, ra đời của mỗi phương pháp giáo dục, dạy học phụ thuộc vào mục đích giáo dục của mỗi thời đại, vào trình độ, phương thức của mỗi nền sản xuất. Mục tiêu của phương pháp dạy học tích cực do thời đại đòi hỏi thì đã rõ. Song, nội dung cụ thể và đặc biệt là lộ trình của phương pháp đó như thế nào thì các nhà lý luận dạy học hiện nay, kể cả trong và ngoài nước chưa khám phá được đầy đủ, chưa xây dựng được. Trong thực tiễn lập kế hoạch và tiến hành dạy học, người thầy giáo thường xuyên đối diện với câu hỏi: làm thế nào để lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp và có hiệu quả ? Các nhà lí luận dạy học, các nhà giáo học pháp bộ môn thường đưa ra lời khuyên: Mỗi phương pháp dạy học có một giá trị riêng, không có phương pháp dạy học nào là vạn năng, giữ vị trí độc tôn trong dạy học, cần phối hợp sử dụng các phương pháp dạy họcLời khuyên này không sai nhưng gần như không có tác dụng thao tác hoá; giá trị giúp đỡ đối với giáo viên quá ít nếu như không chỉ ra được các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp dạy học. Đặc biệt trong bối cảnh đang có sự đấu tranh (lúc công khai, lúc ngấm ngầm) giữa xu hướng muốn giữ nguyên trạng thái dạy học truyền thụ một chiều hiện hành, với xu hướng chủ trương đổi mới thì lời khuyên chung chung ở trên là một vị thuốc an thần, an ủi những người giữ nguyên lối dạy học truyền thống. Như vậy, cần phải góp phần trả lời câu hỏi: Việc lựa chọn phương pháp dạy học được tiến hành một cách tuỳ tiện, bất kì, hay bị ràng buộc bởi những tiêu chuẩn khoa học nào? Câu trả lời cần được tìm kiếm ở các mối quan hệ của phương pháp dạy học (hiểu theo cả 3 tầng nghĩa của nó) với các yếu tố liên quan, đó là: Với mục tiêu dạy học; với nội dung dạy học; với nhu cầu, hứng thú, thói quen học tập của học sinh; năng lực, sở trường, kinh nghiệm sư phạm của giáo viên; với điều kiện giảng dạy và học tập. Tạo hứng thú cho người học luôn là một vấn đề quan trọng trong hoạt động dạy- học. Bởi vì, như chúng ta biết, dạy - học là một hoạt động phức tạp, trong đó chất lượng, hiệu quả phụ thuộc rất lớn vào chủ thể nhận thức - người học. Và điều này lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: năng lực nhận thức, động cơ học tập, sự quyết tâm, môi trường học tập, người tổ chức quá trình dạy học và phụ thuộc rất lớn vào sự hứng thú trong học tập. Vì vậy, trong hoạt động dạy học cần phải lưu ý một cách nghiêm túc với vấn đề taọ hứng thú học tập của học sinh nhằm kích thích tư duy độc lập của học sinh, thúc đẩy các em tìm tòi chân lý, là cơ sở vững chắc để việc học tập của học sinh có hiệu quả. Trước hết, để hiểu về phương pháp dạy học tích cực, chúng ta cần tìm hiểu thế nào là tính tích cực học tập? Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người, bởi vì để tồn tại và phát triển con người luôn phải chủ động, tích cực cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội. Vì vậy, hình thành và phát triển tính tích cực xã hội là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục. Tính tích cực học tập - về thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong qúa trình chiếm lĩnh tri thức. Tính tích cực nhận thức trong hoạt động học tập liên quan trước hết với động cơ học tập. Động cơ đúng tạo ra hứng thú. Hứng thú là tiền đề của tự giác. Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tạo nên tính tích cực. Tính tích cực sản sinh nếp tư duy độc lập. Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo. Ngược lại, phong cách học tập tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập. Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ; chủ động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới; tập trung chú ý vào vấn đề đang học; kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản trước những tình huống khó khăn Tính tích cực học tập thể hiện qua các cấp độ từ thấp lên cao như: - Bắt chước: gắng sức làm theo mẫu hành động của thầy, của bạn - Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác nhau về một số vấn đề. - Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu. Từ việc nghiên cứu tính tích cực học tập, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về phương pháp dạy học tích cực như sau: Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động. Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Cách dạy chỉ đạo cách học, nhưng ngược lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy. Có trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng giáo viên chưa đáp ứng được, hoặc có trường hợp giáo viên hăng hái áp dụng phương pháp dạy học tích cực nhưng không thành công vì học sinh chưa thích ứng, vẫn quen với lối học tập thụ động. Vì vậy, giáo viên phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao. Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công. Như vậy, việc dùng thuật ngữ "Dạy và học tích cực" để phân biệt với "Dạy và học thụ động". Có thể so sánh đặc trưng của dạy học cổ truyền và dạy học mới như sau: Dạy học truyền thống Các mô hình dạy học mới Quan niệm Học là qúa trình tiếp thu và lĩnh hội, qua đó hình thành kiến thức, kĩ năng, tư tưởng, tình cảm. Học là qúa trình kiến tạo; học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lý thông tin, tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất. Bản chất Truyền thụ tri thức, truyền thụ và chứng minh chân lí của giáo viên. Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh. Dạy học sinh cách tìm ra chân lí. Mục tiêu Chú trọng cung cấp tri thức, kĩ năng, kĩ xảo. Học để đối phó với thi cử. Sau khi thi xong những điều đã học thường bị bỏ quên hoặc ít dùng đến. Chú trọng hình thành các năng lực (sáng tạo, hợp tác,) dạy phương pháp và kĩ thuật lao động khoa học, dạy cách học. Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai. Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân học sinh và cho sự phát triển xã hội. Nội dung Từ sách giáo khoa và giáo viên Từ nhiều nguồn khác nhau: Sách giáo khoa, giáo viên, các tài liệu khoa học phù hợp, thí nghiệm, bảo tàng, thực tế gắn với: - Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu của học sinh. - Tình huống thực tế, bối cảnh và môi trường địa phương - Những vấn đề học sinh quan tâm. Phương pháp Các phương pháp diễn giảng, truyền thụ kiến thức một chiều. Các phương pháp tìm tòi, điều tra, giải quyết vấn đề; dạy học tương tác. Hình thức tổ chức Cố định: Giới hạn trong 4 bức tường của lớp học, giáo viên đối diện với cả lớp. Cơ động, linh hoạt: Học ở lớp, ở phòng thí nghiệm, ở hiện trường, trong thực tế, học cá nhân, học đôi bạn, học theo cả nhóm, cả lớp đối diện với giáo viên. 1.2. Phương pháp dạy học Cây kiến thức 1.2.1. Đặc điểm của phương pháp dạy học Cây kiến thức * Khái niệm: Cây kiến thức là phương pháp dạy học tích cực trong đó người học giữ vị trí trung tâm còn người dạy có vai trò là người chỉ đường, hướng dẫn người học tự tạo ra cho mình sản phẩm trí tuệ, chủ động thiết kế kiến thức lý thuyết về dạng mô hình, sơ đồ. * Đặc điểm: - Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh. Trong phương pháp dạy học Cây kiến thức, người học - đối tượng của hoạt động "dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt. Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp "làm ra" kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo. Dạy theo cách này thì giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động. Chương trình dạy học phải giúp cho từng học sinh biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng. - Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học. Phương pháp dạy học Cây kiến thức xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học. Trong điều kiện xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão thì không thể nhồi nhét vào đầu óc học sinh khối lượng kiến thức ngày càng nhiều. Phải quan tâm dạy cho học sinh phương pháp học tự học. Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội. Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong qúa trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà, mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên. - Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác. Trong một lớp học trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối nên khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập. Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn. Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh. Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới. Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người thầy giáo. Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường. Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người. Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ. Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội. Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị...đánh giá được khả năng tiếp thu kiến thức của sinh viên, hơn nữa sẽ phân hóa được đối tượng sinh viên để có cách thức tác động, giảng dạy cho phù hợp. b. Kết quả thực nghiệm Tại các bài học đã vận dụng phương pháp cây kiến thức. Qua quá trình giảng dạy tại lớp, chúng tôi có nhận xét như sau: - Học sinh sôi nổi tích cực phát biểu ý kiến. - Về nhà các em tích cực thảo luận nhóm và đưa ra được sản phẩm cây kiến thức của riêng mình. - Kết quả học tập môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin của 210 học sinh 4 lớp trên. Điểm TB Khá , giỏi TBK TB Y K Số học sinh 105 82 23 0 0 Tỷ lệ 50% 39,1% 10,9% 0% 0% Qua kết quả tổng hợp phân tích chất lượng môn học tỷ lệ khá, giỏi chiếm tương đối cao(50%), Trung bình khá chiếm 39,1%, trung bình chiếm 10,9%. Qua phân tích bằng phiếu điều tra, qua trao đổi với giảng viên và sinh viên chúng tôi nhận thấy việc sử dụng phương pháp cây kiến thức được đánh giá cao: - Sinh viên rất hứng thú với các tiết học. - Đa số các em luôn chú ý nghe giảng và ghi nhớ kiến thức đã học. - Việc giảng dạy của giảng viên đạt hiệu quả cao hơn. Dạy theo cách thức đề tài đã nêu, các bài học luôn thể hiện được sự liên hệ với thực tế và có tính giáo dục cao. - Qua phương pháp Cây kiến thức, sinh viên phát triển các kỹ năng phát biểu trước đám đông một cách khúc chiết, mạch lạc, dễ hiểu; phân tích vấn đề một cách logic; hiểu biết thực tế sâu rộng, biết vận dụng linh hoạt lý thuyết để giải quyết các tình huống thực tế; biết phản biện, bảo vệ quan điểm cá nhân. - Sinh viên các lớp có áp dụng phương pháp cây kiến thức trong việc giảng dạy kết quả học tập cao hơn. Tỷ lệ khá, giỏi chiếm 50%, trong khi đó các lớp giảng dạy không áp dụng phương pháp cây kiến thức, tỷ lệ khá, giỏi chỉ chiếm 37,2% (kết quả đã tổng hợp phân tích ở một số lớp của cao đẳng khoá 05). - Tất cả các em đều có ý kiến cho rằng cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học đối với môn học. 2.2.4. .Đánh giá chung và vấn đề đặt ra. *. Ưu điểm của phương pháp Cây kiến thức: Với tư cách là một phương pháp giảng dạy tích cực, lấy người học làm trung tâm, phương pháp giảng dạy Cây kiến thức có những ưu điểm sau đây: Thứ nhất, phương pháp giảng dạy Cây kiến thức giúp học sinh dễ hiểu và dễ nhớ các vấn đề lý thuyết phức tạp, và nhớ lâu hơn các kiến thức đã học. Bằng việc tự xây dựng nên các cây kiến thức cho mình, sinh viên đã vô hình dung biến những kiến thức lý luận dài và khô khan thành một hệ thống sơ đồ dễ hiểu, ngắn gọn, xúc tích. Thứ hai, phương pháp giảng dạy Cây kiến thức giúp sinh viên kích thích được khả năng tư duy đáp ứng tâm lý lứa tuổi muốn khẳng định mình của sinh viên, nâng cao khả năng tư duy độc lập, sáng tạo. Nếu trong phương pháp giảng dạy truyền thống, quá trình tiếp nhận thông tin diễn ra gần như một chiều giữa giẩng viên và sinh viên, trong đó giảng viên là người truyền đạt tri thức và sinh viê là người tiếp nhận tri thức đó thì phương pháp giảng dạy Cây kiến thức tạo ra một môi trường học tập tích cực có sự tương tác giữa sinh viên và giảng viên, giữa các sinh viên với nhau. Trong đó, sinh viên được đặt vào trong một hoàn cảnh buộc họ phải ra quyết định để giải quyết yêu cầu của thầy và họ phải dùng hết khả năng tư duy, kiến thức vốn có của mình để tạo lập ra sản phẩm thể hiện trình độ của họ. Thứ ba, phương pháp này còn rèn luyện cho sinh viên khả năng làm việc nhóm, tinh thần phối hợp, cộng tác trong công việc. Đây cũng là đòi hỏi cần thiết đối với người lao động trong thời đại mới, đặc biệt trong lao động trí thức. Có thể chia sẻ tri thức, kinh nghiệm cho nhau; học được những ý kiến, quan điểm, thông tin từ những bạn học khác làm phong phú hơn vốn tri thức của họ. Thứ tư, phương pháp này rèn luyện cho sinh viên cách tư duy lôgic: Để xây dựng được một cây kiến thức đòi hỏi sinh viên phải tìm ra mối liên hệ giữa các tri thức liên quan, phải xác định được phần nào là mối liên hệ nhân – quả, phần nào có mối liên hệ chính- phụ, chủ yếu- thứ yếuTừ đó mới thể hiện các mối quan hệ dưới dạng sơ đồ. Nếu có tư duy lôgic người khác sẽ hiểu được ngay nội dung bài học qua sản phẩm của họ. Thứ năm, phương pháp Cây kiến thức giúp sinh viên rèn luyện được kĩ năng thuyết trình. Đây là những kỹ năng quan trọng và rất cần thiết trong thời đại mới mà rất nhiều sinh viên không có được. Thông qua việc trình bày sản phẩm trí tuệ của mình trước giáo viên và cả lớp, sinh viên sẽ được bồi đắp tinh thần mạnh dạn, tự tin, rèn luyện khả năng giảng giải vấn đề và hình thành kĩ năng giao tiếp Thứ sáu, phương pháp Cây kiến thức sẽ làm tăng sự hứng thú của sinh viên trong học tập và dần xóa bỏ được tư tưởng ngại học các môn lý luận. Với đặc trưng và đối tượng chủ yếu là sinh viên chuyên ngành kĩ thuật thì việc áp dụng hình thức mô hình hóa kiến thức lý luận sẽ giúp các em thấy gần gũi với môn học của mình hơn, các kiến thức lý luận rất dài được đưa về dạng mô hình gần gũi, dễ nhớ. Hơn nữa, trong phương pháp này sinh viên là người chủ động tìm kiếm tri thức và quyết định kiến thức nào cần được nghiên cứu và học hỏi. Việc thảo luận nhóm cũng làm tăng hứng thú của học sinh đối với việc học vì nó kích thích người học tham gia tích cực vào việc tìm hiểu vấn đề cần nghiên cứu, tìm ra giải pháp, tranh luận và lý giải vấn đề khoa học để bảo vệ quan điểm của mình. Sau khi thảo luận, sinh viên vẫn có nhu cầu tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề để trả lời những câu hỏi được đặt ra trong buổi thảo luận. Thứ bảy, đây là phương pháp giúp cho việc lượng giá được kiến thức của người học của giáo viên được tốt nhất. Nhìn vào cây kiến thức “ sum suê” hay “còi cọc” của sinh viên, giảng viên có thể thấy ngay mức độ tiếp thu, lĩnh hội tri thức và thậm chí cả những hiểu biết bên ngoài của mỗi sinh viên. Thông qua việc chỉ định bất kì thành viên trong nhóm trình bày sản phẩm của mình, giảng viên có thể bao quát được cả tinh thần, thái độ thảo luận của từng nhóm và từng cá nhân. Từ đó, giảng viên có thể phân loại được sinh viên để có cách tác đông, giáo dục cho phù hợp. Hơn nữa, giảng viên chia sẻ tri trức, kinh nghiệm cho học sinh, thậm chí cũng có thể học hỏi được những thông tin, giải pháp mới từ sinh viên để làm giàu vốn tri thức và phong phú hơn bài giảng của mình. Như vậy với những ưu điểm trên, phương pháp Cây kiến thức có thể đáp ứng được cả ba yêu cầu của giáo dục ngày nay là tri thức; kỹ năng, kĩ xảo và thái độ tích cực. * Những nhược điểm của phương pháp Cây kiến thức. Thứ nhất, phương pháp Cây kiến thức đòi hỏi cả người dạy và người học phải đầu tư nhiều thời gian và công sức hơn các phương pháp truyền thống. Với phương pháp học truyền thống, trong một khoảng thời gian nhất định, giáo viên có thể cung cấp một lượng kiến thức tương đối hoàn chỉnh, hệ thống và đầy đủ cho sinh viên . Cùng lượng kiến thức đó, trong phương pháp cây kiến thức, sinh viên phải tự mình tìm kiếm và đọc tài liệu, xử lý thông tin và đưa kiến thức về dạng sơ đồ hóa nên sẽ tốn thời gian hơn gấp nhiều lần so với phương pháp học truyền thống. Và người thầy cũng phải chuẩn bị kĩ càng hơn về kiến thức và nghiệp vụ trước khi lên lớp. Thứ hai, Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin là môn lý luận chính trị với lượng kiến thức dài và có tính chất mở, đặc biệt trong phần vận dụng. Vì thế, mỗi nhóm có thể có những sản phẩm rất khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau. Điều này đòi hỏi người giảng viên phải có sự linh hoạt, chủ động trong nhận xét, đánh giá, có bản lĩnh làm chủ mọi tình huống và có kinh nghiệm trong giảng dạy. Thứ ba, phương pháp này đòi hỏi tinh thần tự học, thái độ làm việc nghiêm túc và khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, năng động. Tuy nhiên, hiện nay có khá nhiều sinh viên chưa thực sự tích cực, đặc biệt đây là môn học được học vào kì đầu tiên nên hầu như sinh viên chưa thích ứng với cách học mới vẫn còn thói quen phổ thông và còn bị động không có kỹ năng làm việc nhóm, hay hợp tác không hiệu quả, lúng túng thậm chí không muốn bày tỏ ý kiến, quan điểm của mình. Thứ tư, về điều kiện tổ chức: Ở trường Đại học Sao Đỏ một lớp học thường có số lượng sinh viên đông và môn học thường được tổ chức theo lớp ghép nên công tác chia nhóm còn gặp nhiều khó khăn, và thời gian cho các nhóm trình bày sản phẩm của mình còn hạn hẹp. Sinh viên chủ yếu ở ngoại trú rất phân tán nên việc gặp gỡ, tập hợp thành viên trong nhóm còn nhiều trở ngại. * Vấn đề đặt ra. Từ quá trình tiến hành thực nghiệm chúng tôi thấy việc dạy và học bằng phương pháp Cây kiến thức khá công phu và phức tạp. Nó gồm nhiều yêu cầu khắt khe và nhiều công đoạn. Ở mỗi công đoạn đều có những yêu cầu và tiêu chuẩn riêng mà giáo viên và học sinh phải tuân thủ. Vì thế, để đem lại hiệu quả cao nhất trong quá trình sử dụng phương pháp đòi hỏi cả giảng viên và sinh viên phải có những cố gắng rất lớn. Thông qua việc phân tích những ưu, nhược điểm của phương pháp Cây kiến thức chúng tôi đưa ra một số vấn đề sau: Thứ nhất, cần phải hết sức chú ý đến những thông tin phản hồi của sinh viên về quá trình áp dụng phương pháp cây kiến thức trong giảng dạy. Đây là điều rất cần thiết, đặc biệt là trong giai đoạn đầu mới triển khai phương pháp này. Các thông tin phản hồi sẽ giúp cho giảng viên có những điều chỉnh và đúc rút kinh nghiệm kịp thời để hoàn thiện phương pháp cho phù hợp với đặc thù của nhà trường và với từng đối tượng người học. Việc thu thập thông tin phản hồi của sinh viên có thể thực hiện bằng nhiều cách thức khác nhau như cho sinh viên tích phiếu thăm dò, hay đơn giản hơn cho sinh viên viết nhận xét ngắn về bài học trong vòng một phút, hoặc viết ra điểm còn chưa hiểu nhất về bài giảng Thứ hai, đây là phương pháp có sự giao lưu rất thường xuyên giữa người dạy và người học, giữa người học và người học nên đòi hỏi người giảng viên nào có nghiệp vụ sư phạm tốt, có nghệ thuật trong giao tiếp, vừa tạo được sự gần gũi, gắn bó trong quan hệ thầy- trò, vừa dân chủ nhưng lại vừa nghiêm túc trong giờ học thì giảng viên đó sẽ thu được kết quả như mong đợi thông qua phương pháp giảng dạy Cây kiến thức. Thứ ba, phương pháp này bắt buộc sinh viên phải có sự chuẩn bị ở nhà, thời gian trên lớp sinh viên chỉ trình bày sản phẩm của mình. Nếu sinh viên không làm tốt điều này thì giảng viên rất dễ bị cháy giáo án. Thứ tư, để tránh tình trạng ỷ lại trong hoạt động nhóm và để đảm bảo mục tiêu không những đảm bảo về kiến thức mà còn rèn luyện về kĩ năng thì người giảng viên phải có nghệ thuật trong công tác kiểm tra và đánh giá. Thứ năm, sử dụng phương pháp Cây kiến thức cần có sự kết hợp hài hòa với các phương pháp dạy học khác và sự kết hợp đó phải linh hoạt, hài hòa. CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP CÂY KIẾN THỨC VÀO GIẢNG DẠY MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN 3.1. Nhóm giải pháp đối với giảng viên - Trước hết, những kiến thức đầy đủ khoa học, chính xác là những yếu tố không thể thiếu trong hành trang của người giảng viên. Vì vậy, giảng viên cần nghiên cứu, chuẩn bị chu đáo nội dung kiến thức và cách thức truyền đạt phù hợp trước khi lên lớp. Giảng viên phải hoạch định bài giảng sao cho vừa đảm bảo được kiến thức, vừa có các hoạt động phù hợp với đối tượng sinh viên, vừa phân bố thời gian hợp lý để có thể đạt được mục tiêu của bài học. Cụ thể như đối với đối tượng sinh viên trường kĩ thuật công nghiệp, ngại học các môn khoa học xã hội, lý luận chính trị nên giảng viên cần phải thiết kế các hoạt động học tập phù hợp với đối tượng này. Phương pháp giảng dạy Cây kiến thức đòi hỏi giảng viên phải là người làm chủ được kiến thức, có kiến thức sâu rộng không những về chuyên ngành mà cả kiến thức xã hội. Giải pháp để đáp ứng đòi hỏi này là giảng viên phải thường xuyên nghiên cứu, tìm hiểu tài liệu phục vụ giảng dạy. Tránh quan niệm không quan tâm đến những tri thức không đúng chuyên ngành của mình và tư tưởng ngại đọc sách khác lĩnh vực. Đồng thời mở rộng phạm vi tiếp cận tri thức qua nhiều kênh khác nhau. Để thực hiện tốt phương pháp này người giảng viên phải luôn tích cực, chủ động đổi mới, có tư duy sáng tạo, cập nhật thông tin, kiến thức và kỹ năng mới. Trong xã hội hiện đại, các điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội thay đổi từng ngày, và nó có sự tác động đến tri thức, đặc biệt đối với những kiến thức lý luận chính trị. Vì thế nếu không cập nhật thông tin, tri thức mới bài giảng sẽ bị lạc hậu nhanh chóng và giảm độ tin cậy. Thực tế này làm tăng đáng kể khối lượng công việc của giảng viên, cho nên để vừa đảm bảo giảng dạy tốt vừa hoàn thành các công việc khác người giảng viên phải có tâm huyết với nghề, yêu nghề và sắp xếp công việc một cách khoa học. - Để thực hiện phương pháp Cây kiến thức đòi hỏi người giảng viên phải có nghiệp vụ sư phạm rất tốt vì thế đối với mỗi giảng viên cần không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ bằng biện pháp cần thiết và đơn giản nhất là tích cực dự giờ đồng nghiệp, đặc biệt là những giảng viên lâu năm và có thành tích trong giảng dạy để học hỏi kinh nghiệm. Tích cực tham gia các hoạt động giao lưu, văn hóa, văn nghệ của khoa, trường; tích cực tham gia các cuộc thi của trường như thi giáo viên dạy giỏi, giáo viên chủ nhiệm giỏi, nữ công, - Giảng viên là chiếc cầu chuyển giao tri thức khoa học công nghệ giữa các thế hệ vì vậy mỗi người thầy phải có tri thức đạo đức và lối sống trong sáng ,và đặc biệt phải có phương pháp giảng dạy hiệu quả. Chính phương pháp giảng dạy tích cực của giảng viên góp phần rất lớn vào việc tạo sự hứng thú của sinh viên trong học tập. Vì vậy, trong quá trình giảng dạy, người thầy nên tìm hiểu về cách tạo sự hứng thú của sinh viên đối với bộ môn của mình.. Người giảng viên cần phải xác định được mục đích và nhiệm vụ giáo dục, hoàn cảnh tâm lí và đạo đức của học sinh những đặc điểm nhân cách của chính bản thân, hệ thống các phương pháp giáo dục và giảng dạy trong quá trình giao tiếp. Hơn nữa phải biết tôn trọng nhân cách đối tượng giao tiếp. Phải có quan điểm chỉ đạo định hướng cho hành vi, hành động tiếp xúc của họ nhằm đảm bảo kết quả của quá trình nhận thức. Để tạo động cơ học tập tích cực cho các em, giảng viên nên sử dụng các tình huống kích thích, hấp dẫn lôi cuốn các em vào các hoạt đông trên lớp vừa mang tính chất yêu cầu cao, vừa phù hợp với trình độ để các em có thể cảm nhận được sự tiến bộ của mình trong học tập. - Để đạt được mục tiêu kĩ năng, người giảng viên nên chú ý đến việc rèn cho sinh viên kỹ năng phân tích các vấn đề, xác định mục tiêu, nhiệm vụ học tập, kỹ năng tìm kiếm, thu thập thông tin từ giáo trình, tài liệu, thực tiễn cuộc sống, hướng dẫn học sinh xác định, lựa chọn, tập hợp các thông tin để giải quyết được nhiệm vụ học tập. Rèn luyện kỹ năng phân tích, tổng hợp các thông tin, hệ thống hoá, sơ đồ hoá biểu đạt thành kết quả. Phân tích các thông tin thu thập được để tìm ra dấu hiệu bản chất, mối quan hệ giữa các yếu tố tạo nên khái niệm, mối liên hệ giữa các khái niệm với nhau. Rèn kỹ năng kiểm tra, điều chỉnh, ghi nhớ và vận dụng. - Đối với môn lý luận chính trị, các phương tiện trực quan như tranh, ảnh, đồ vật thật, đều có thể gây hứng thú cho sinh viên trong học tập. Trong đó việc sử dụng đồ dùng trực quan là phương pháp gây hứng thú cho sinh viên hiệu quả nhất trong giảng dạy. Đối với môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, việc khai thác và sử dụng đồ dùng trực quan chính là một phương pháp quan trọng giúp giảng viên thành công trong quá trình giảng dạy. Triết học đã khẳng định “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng là quy luật của quá trình nhận thức”. Đây là một phương pháp dạy học vừa đạt hiệu quả cao lại vừa mang lại sự hưng phấn cho sinh viên trong giờ học. Vì vậy trong khi giảng dạy, giảng viên phải không ngừng nâng cao hiểu biết về khoa học công nghệ hiện đại để không những biết khai thác và sử dụng mà phát huy một cách tối đa linh hoạt và sáng tạo, đa dạng và phong phú. - Tính tìm tòi, sáng tạo, ham học hỏi là một đặc tính của tâm lý lứa tuổi. Đây cũng chính là biểu hiện của tinh thần muốn khai thác, tìm hiểu về những kiến thức mới lạ và cũng là động lực tinh thần giúp con người không ngừng phát minh sáng tạo. Do vậy trong quá trình giảng dạy môn học, giảng viên kỹ năng thiết kê câu hỏi và xây dựng các hoạt động nhằm kích thích trí tò mò và tính ham hiểu biết của sinh viên. Giảng viên cần có biện pháp thúc đẩy động cơ học tập của sinh viên. Như đã nói ở trên, sinh viên chỉ có được động cơ học tập khi các em cảm thấy hứng thú đối với môn học và thấy được sự tiến bộ của mình. Do vậy, ngoài việc sử dụng các tình huống có vấn đề nhằm hấp dẫn, lôi cuốn sinh viên vào những hoạt động trên lớp, giảng viên còn phải biết khích lệ, động viên các em trong học tập. Để giúp các em nhận thấy được sự tiến bộ trong học tập, giảng viên cần phải chú ý đến tính vừa sức trong dạy học, tránh không nên đưa ra những yêu cầu quá cao đối với sinh viên. Ngoài ra, giảng viên cần khuyến khích học sinh học theo phương châm thử nghiệm và chấp nhận mắc lỗi trong quá trình thực hành. Để khắc phục tình trạng ỷ lại của một số thành viên trong nhóm, giảng viên phải nghiên cứu đưa ra những biện pháp đánh giá công bằng, phù hợp, hiệu quả, có thưởng phạt nghiêm minh làm cơ sở thúc đẩy thi đua giữa sinh viên và giữa các nhóm. 3.2. Nhóm giải pháp đối với sinh viên - Phương pháp này đòi hỏi sinh viên phải có sự tích cực, chủ động rất lớn trong học tập muốn có được điều này trước tiên sinh viên phải trang bị cho mình một ý thức tự giác và động cơ học tập đúng đắn. Hơn nữa, để làm ra một sản phẩm trí tuệ hoàn chỉnh có sự kết hợp tư tưởng của nhiều thành viên thì sinh viên cũng phải học cách điều hòa quan hệ, sàng lọc ý kiến, xử lý thông tin, và xóa bỏ tính ích kỉ, bảo thủ, cá nhân. - Để xây dựng thành công Cây kiến thức của mình, sinh viên phải tích cực tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu mà giảng viên giới thiệu và các tài liệu liên quan từ nhiều kênh khác nhau đặc biệt qua internet và thậm chí từ cuộc sống. - Để có thể trình bày một cách dễ hiểu, xúc tích sản phẩm trí tuệ của mình, đồng thời khắc phục sự nhút nhát, rụt rè không dám thể hiện quan điểm của mình, sinh viên cần tích cực tham gia các hoạt động phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, các hoạt động tập thể và nắm chắc kiến thức đã học để củng cố sự tự tin. - Sinh viên cần có tinh thần làm việc tập thể ( theo nhóm). Học tập theo nhóm là một hình thức học hợp tác nâng cao chất lượng học tập và là biện pháp hay và có ý nghĩa quan trọng. Các em tìm được sự tiến bộ và cùng nhau tiến bộ. Những cuộc thảo luận thoải mái, vô tư đưa các em mục đích cuối cùng là kiến thức các em tiếp nhận được một cách tích cực và có hiệu quả. Theo cách học này, sinh viên sẽ có cơ hội đặt câu hỏi, thảo luận, trình bày quan điểm, và thực hiện hợp tác. Tuy nhiên, để có thể phát huy được những lợi ích của việc học nhóm, giảng viên phải cung cấp nền tảng cho sinh viên và tổ chức nhóm sao cho tất cả các thành viên trong nhóm đều tham gia vào hoạt động. Mỗi nhóm nên có một trưởng nhóm. Người này có vai trò kiểm soát hoạt động của các thành viên trong nhóm, hòa giải xung đột và tháo gỡ những phức tạp trong quá trình thảo luận. Học tập theo nhóm sẽ tạo một môi trường thoải mái, đầy hứng thú giúp sinh viên chia sẻ kiến thức, quan điểm, và học tập những ưu điểm từ bạn bè, từ đó sẽ gặt hái được nhiều kiến thức và tiến bộ trong học tập. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1. Kết luận Như vậy với việc giảng day bằng phương pháp Cây kiến thức sinh viên là người đóng vai trò là trung tâm, giáo viên đóng vai trò là người dẫn đường, hoạt động dạy không đơn thuần là dạy cái mà là dạy cách; hoạt động học không đơn thuần là học kiến thức mà còn học kĩ năng hoạt động, kĩ năng giao tiếp. Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng đề tài đã triển khai đúng tiến độ, thực hiện được các mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đề ra: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn; cách thức xây dựng và vận dụng phương pháp vào thực tiễn giảng dạy. Phương pháp Cây kiến thức còn có một số nhược điểm nhưng những nhược điểm đó là không lớn và có thể khắc phục được. Vì thế, nếu được vận dụng đúng và đầu tư đúng mức đây sẽ là phương pháp dạy học có tính khả thi cao, và có thể là phương pháp cơ bản trong đào tạo theo học chế tín chỉ, là một biện pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin và một số môn học khác. Khuyến nghị Đề tài nghiên cứu góp phần nâng cao chất lượng đào tạo mang lại hiệu quả ứng dụng trong thực tiễn, nhóm tác giả đề nghị Ban giám hiệu nhà trường cho phép sử dụng phương pháp giảng dạy Cây kiến thức mà đề tài đã lựa chọn vào đổi mới phương pháp giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin cho các hệ và chuẩn hóa. Nhà trường tiếp tục tăng cường đầu tư trang thiết bị, đồ dùng dạy học hiện đại để chất lượng giảng dạy ngày được nâng cao. Đặc biệt, để quá trình thảo luận được tốt hơn và tiết kiệm thời gian nhà trường cần trang bị bảng phụ cho sinh viên, mua tranh ảnh, tư liệu để làm dụng cụ trực quan cho sinh viên, máy phô tô, máy quay phim làm tư liệu. TÀI LIỆU THAM KHẢO. 1. Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010, NXB Giáo dục, 2002. 2. Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ thứ XXI – kinh nghiệm của một số quốc gia, Bộ Giáo dục và Đào tạo - Viện nghiên cứu phát triển giáo dục, NXB Chính trị quốc gia, 2002. 3. Dạy - học giải quyết vấn đề: Một hướng đổi mới trong công tác giáo dục, đào tạo, huấn luyện, Vũ Văn Tảo - Trần Văn Hà, Trường cán bộ quản lý giáo dục Hà Nội, 1996. 4. Dạy học hiện đại, Đặng Thành Hưng, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002. 5. Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường, Phan Trọng Ngọ, NXB Đại học sư phạm, 2005. 6. Giáo dục học hiện đại, Thái Duy tuyên, NXB Giáo dục, 1998. 7. Giáo dục học, Phạm viết Vượng, NXB Đại học Quốc gia Hà nội, 2000. 8. Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học-NXB giáo dục,2000. 9. Học và dạy cách học, Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên, NXB Đại học sư phạm, 2004. 10. Lý luận dạy học đại học, Lưu Xuân Mới, NXB Gáo dục, 2000. 11. Phương pháp giảng dạy Giáo dục công dân, Vương Tất Đạt chủ biên, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2009. 12. Phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làm trung tâm, Nguyễn Kỳ, NXB Gáo dục, 1995. 13. Phát triển chương trình và tổ chức quá trình đào tạo, Phan Thị Hồng Vinh, Hà Thế Tuyên. NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, 2003. 14. Phương tiện dạy học, Tô Xuân Giáp, NXB Giáo dục, 1998. 15. Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học, Tài liệu BDTX chu kỳ hè 1993 – 1996 cho GV PTTH, Nguyễn Ngọc Bảo, Bộ Giáo dục và đào tạo, vụ giáo viên, 1995. 16. Quá trình dạy - tự học, Nguyễn cảnh Toàn, NXB Giáo dục, 1998. 17. Tự học giáo dục học qua giải đáp các câu hỏi, Nguyễn Ngọc Bảo chủ biên, Hà Nội 2008. 18. Thử đi tìm phương pháp dạy học hiệu quả, Lê Nguyên Long, NXB Giáo dục, 1998. 19. Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập, Dương Thiệu Tống, ĐHSP Tp Hồ Chí Minh, 1995. 20. Tâm lý giáo dục, Trần Quốc Thành, Nguyễn Thị Thanh Bình, Trịnh Thúy Giang. NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, 2005. PHỤ LỤC . Mẫu phiếu khảo sát. BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SAO ĐỎ Số phiếu:................ ***** Ngày khảo sát:....../...../2011 PHIẾU KHẢO SÁT MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN ( Dành cho sinh viên hệ cao đẳng) I. THÔNG TIN CÁ NHÂN 1. Lớp:........................................................ 2. Giới tính: Nam £ Nữ £ 3. Xếp loại học lực môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin: Xuất sắc/Giỏi :£ Khá: £ TB-Khá: £ Trung bình: £ Yếu:£ 4. Anh/Chị đã tham gia khoảng bao nhiêu % buổi học của môn học: 1. £ < 50% 2. £ 50 - 70% 3. £ 70 - 90 % 4.£ 90 - 100% II. NỘI DUNG KHẢO SÁT Anh/Chị hãy cho biết ý kiến của mình bằng cách đánh dấu (X) vào mục mà Anh/Chị đồng ý.(Một câu hỏi có thể lựa chọn nhiều ý) 1. Anh /chị có thích học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin? 1. £ Rất thích 2. £ Thích 3. £ Bình thường. 4. £ Không thích 2. Anh /chị có hứng thú với các tiết học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin? 1. £ Rất hứng thú 2. £ Tương đối hứng thú 3. £ Ít hứng thú 4. £ Không hứng thú. 3. Nghe giảng. 1. £ Luôn chú ý. 2. £ Bình thường 3. £ Ít chú ý 4. £ Không chú ý. 4. Tham gia xây dựng bài 1. £ Tích cực 2. £ Một số nội dung 3. £ Ít 4. £ Không . 5.Ghi nhớ những kiến thức đã học. 1. £ Rất nhớ 2. £ Khó nhớ. 3. £ Chỉ nhớ một số nội dung 4. £ Không nhớ. 6. Ứng dụng bài học vào hành động trong thực tiễn. 1. £ Thường xuyên . 2. £ Ít 3. £ Không 7. Nội dung giảng dạy 1. £ Tốt. 2. £ Khá 3. £ Trung bình 8. Hiệu quả sử dụng phương pháp giảng dạy của giáo viên được đánh giá. 1. £ Tốt 2. £ Khá 3. £ Trung bình 4. £ Kém 9. Theo anh /chị cần đổi mới phương pháp dạy học trong môn học? 1. £ Rất cần thiết. 2. £ Chưa cần thiết. 3. £ Không cần thiết 10. Ý kiến khác (Ngoài những nội dung trên, theo Anh/Chị cần phải làm gì để nâng cao chất lượng dạy và học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin) ....................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................... Cảm ơn sự hợp tác của Anh/Chị. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỰ HỌC CHO SINH VIÊN TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ                                                                                     TS. Hoàng Thảo Nguyên                                                                          ThS. Nguyễn Thị Phương Thanh 1. Bản chất của học chế tín chỉ Cuộc cách mạng về khoa học và công nghệ trên thế giới cũng như ở Việt Nam đòi hỏi giáo dục và nhà trường phải chuyển biến theo cho phù hợp. Trong thời đại bùng nổ thông tin, thị trường lao động đòi hỏi nhà trường phải đào tạo những con người năng động, có khả năng thích ứng nhanh nhạy với biến đổi không ngừng của cuộc sống. Họ phải có khả năng tự học tự nghiên cứu để cập nhật thông tin, nhất là khi không còn ngồi trên ghế nhà trường. Học tập suốt đời là phương châm sống của mỗi người trong thời đại chúng ta. Do đó, nhà trường phải trang bị cho người học phương pháp tự học, tự nghiên cứu. Tinh thần cốt lõi của dạy học theo học chế tín chỉ chính là dạy học tích cực và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người học. Dạy học tích cực hay phương pháp tích cực đều có cùng đặc điểm với tinh thần “dạy học lấy người học làm trung tâm”. Cách dạy của thầy không còn là truyền thụ một chiều, chỉ cung cấp thông tin nữa mà là dạy cách học, cách học của trò không chỉ là tích lũy kiến thức mà phải nắm lấy cách tự học [3]. Các nghiên cứu về phương pháp dạy học trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã cho thấy chừng nào thầy còn dạy theo kiểu truyền thụ một chiều, trò còn học theo kiểu ghi nhớ kiến thức, kiểm tra đánh giá nặng về kiến thức, coi nhẹ kĩ năng, tư duy thì chất lượng đào tạo còn hạn chế, sản phẩm đào tạo không đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có quyết định số 43/2007/QĐ- BGDĐT ngày 15 tháng 8 năm 2007 về việc ban hành “Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”. Đó là bước đột phá chiến lược nhằm nâng cao chất lượng đào tạo bậc đại học, cao đẳng ở nước ta. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều giảng viên quan niệm: trong tiết dạy, cần diễn giảng sao cho hấp dẫn, cần có minh họa bài giảng sao cho đầy đủ, phong phú, cần đem đến cho người học nhiều thông tin bổ ích... như thế là tiết dạy tốt. Quan niệm trên đây đúng nhưng chưa đủ. Trong học chế tín chỉ: “Cấu trúc nội dung, chương trình dạy học và xây dựng đề cương môn học cũng như kĩ thuật soạn giảng cho các loại bài lên lớp theo tinh thần “dạy học là hướng dẫn cách học” phù hợp với các phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo học chế tín chỉ”; “Giảm số giờ lên lớp, không phải là cắt giảm khối lượng kiến thức môn học. Cần phải tích cực đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tận dụng các giờ lên lớp để hướng dẫn chi tiết, cụ thể cho việc tự học và giải đáp mọi thắc mắc của người học, giúp đỡ họ giải quyết khó khăn khi tiến hành tích lũy nội dung dạy học theo yêu cầu của môn học”. [1, tr. 80] 2. Với ba giai đoạn học tập của SV là trước, trong và sau khi dự học ở lớp, chúng tôi đề xuất một số biện pháp rèn luyện kỹ năng tự học cho sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ. 1) Hướng dẫn sinh viên tự học trước khi đến lớp dự học “Sinh viên dự học ở lớp” trước đây thường được gọi là “nghe giảng” (S...ọc, tự nghiên cứuảnh hưởng không nhỏ đến kết quả tự học, tự nghiên cứu của SV. Vì thế, việc tự học của SV cần được diễn ra trong một môi trường thuận lợi. Các yếu tố của môi trường này bao gồm: Sự hướng dẫn tự học chu đáo của GV (mục đích, yêu cầu , nội dung, cách thức tự học, tự nghiên cứu...); Hệ thống học liệu (tài liệu, giáo trình) đầy đủ; Công tác kiểm tra tự học của SV được tiến hành thường xuyên... Ngoài ra, cần quan tâm đến việc tổ chức các câu lạc bộ học tập theo ngành học của SV như: Câu lạc bộ “Nhà sử học trẻ” đối với SV ngành Lịch sử; Câu lạc bộ “Doanh nhân tương lai” đối với SV ngành Kinh tế; Câu lạc bộ “Tư vấn pháp lý” đối với SV ngành Luật...             Tóm lại: Gây áp lực tự học, tự nghiên cứu cho SV là một yêu cầu cấp thiết trong đào tạo theo HTTC. Để gây áp lực tự học, tự nghiên cứu cho SV cần thực hiện đồng bộ các biện pháp mà chúng tôi đề xuất ở trên.                                                  Tài liệu tham khảo      1. Nghị quyết 14/ 2005/NQ- CP của Chính phủ Về đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam, giai đoạn 2006 -2020.    2. Phạm Minh Hùng, Một số giải pháp nâng cao khả năng thích ứng với hoạt động dạy học của GV và SV trong đào tạo theo HTTC, Tạp chí Giáo dục, số 244/2010. 3. Quy chế 43/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 15/8/2007của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Về đào tạo ĐH và CĐ hệ chính quy theo HTTC. Dạy và học là hai quá trình nằm trong một thể thống nhất biện chứng. Thầy dạy – trò học, dạy như thế nào sẽ có cách học tương ứng. Thực tế giảng dạy chúng tôi nhận thấy rằng không thể phát huy được tư duy sáng tạo của sinh viên, với tính chủ động cao trong học tập khi giảng viên sử dụng phương pháp dạy học nặng về truyền thụ kiến thức.  Trong dạy học theo hệ thống tín chỉ, nhất thiết phải chuyển từ kiểu dạy học tập trung vào vai trò của giảng viên và hoạt động dạy sang kiểu tập trung vào vai trò của sinh viên và hoạt động học. Giảng viên không còn đóng vai trò là người truyền đạt kiến thức mà là người gợi mở, hướng dẫn, tổ chức, cố vấn cho các hoạt động tự học của sinh viên. Các môn Lý luận chính trị góp phần hình thành, bồi dưỡng cho sinh viên thế giới quan, phương pháp luận khoa học, trang bị những kiến thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng ta, góp phần định hướng suy nghĩ, hành động và hoàn thiện nhân cách cho thế hệ trẻ. Vì vậy, sinh viên đến lớp không phải để nghe những lời diễn giảng một chiều mang tính chủ quan nhất định từ người dạy, mà qua những kiến thức đó, sinh viên  nhận thức, đánh giá  và vận dụng vào thực tiễn như thế nào? Để đạt hiệu quả, ngoài vệc nghe giảng trên lớp sinh viên phải có phương pháp phù hợp để tự học, tự nghiên cứu. Nói cách khác, nếu sinh viên không nỗ lực, phấn đấu trong việc tự học thì việc dạy học các môn Lý luận chính trị không thể đạt hiệu quả như mong muốn. Tự học là một công việc tương đối phức tạp, đa dạng hóa, vì mỗi sinh viên đều có phương pháp học tập riêng, một thời gian riêng cho mình. Do vậy, để đưa ra những yêu cầu chung cho công tác tự học của sinh viên là một việc làm không dễ, với kinh nghiệm giảng dạy của cá nhân, chúng tôi đưa ra một số phương pháp nhằm giúp sinh viên nhà Trường tự học các môn Lý luận chính trị đạt hiệu quả cao hơn. 1. Chuẩn bị tài liệu và phương tiện theo sự hướng dẫn của giảng viên           Học là hoạt động nhận thức tích cực, tự giác và sáng tạo của sinh viên, hoạt động dạy của người giảng viên không có nghĩa là truyền thụ tri thức, truyền thụ những sản phẩm sẵn có, mà cần phải tổ chức, điều khiển hoạt động tự nhận thức của sinh viên, hình thành cho sinh viên nhu cầu thường xuyên học tập, tìm tòi kiến thức, kích thích năng lực sáng tạo, trang bị cho các em năng lực tổ chức lao động trí óc một cách hợp lý, làm cho các em định hướng được kiến thức bài học và tự khai thác tri thức. Để đạt được mục tiêu này, giảng viên cần yêu cầu sinh viên chuẩn bị bài kỹ trước mỗi buổi học. Bên cạnh giáo trình môn học, sinh viên cần chủ động sưu tầm tài liệu, thông tin trên các phương tiện; với các yêu cầu cụ thể như: sinh viên sẽ trả lời những câu hỏi nào? sử dụng phương tiện gì để phục vụ cho việc học tập? để khi tiến hành bài học trên lớp thì giảng viên và sinh viên cùng làm việc tránh tình trạng độc thoại của giảng viên. 2. Phương pháp nghe giảng và ghi chép Ở trình độ đại học, cao đẳng, sinh viên phải tiếp xúc một phương pháp nghe giảng và ghi chép mới. Thực tế giảng dạy chúng tôi nhận thấy rằng khi vào năm đầu tiên nhiều sinh viên còn lúng túng trước cách giảng của thầy các em không biết làm thế nào để ghi chép. Vậy làm thế nào để sinh viên có được phương pháp nghe giảng và ghi chép tốt nhất? Theo chúng tôi, sinh viên cần rèn luyện các khâu sau: 2.1. Chuẩn bị nghe giảng Để tiếp nhận bài giảng một cách tối ưu, sinh viên cần tìm hiểu đề cương chi tiết học phần để nắm chương trình môn học, biết được những vấn đề sẽ trình bày theo hướng nào? nội dung, phạm vi của bài học? vấn đề nào sinh viên sẽ tự học, tự nghiên cứu?  Sinh viên cần làm tốt công tác chuẩn bị, nên bắt đầu từ việc xem lại bài ghi lần trước, khi sinh viên nắm vững kiến thức đã học sẽ lĩnh hội nội dung bài mới tốt hơn. Khi nghiên cứu nội dung bài mới, những vấn đề khó hoặc chưa hiểu, sinh viên nên ghi chép lại để khi nghe giảng sẽ chú ý hơn và nếu bài giảng chưa giải thích rõ các em cần trao đổi với thầy hoặc bạn. 2.2. Nghe giảng và ghi chép trên lớp Nghe giảng trên lớp: Chúng ta đều biết rằng, cùng một lúc có nhiều tín hiệu khác nhau tác động vào các giác quan của sinh viên, nhưng không phải tất cả các tín hiệu đó đều đi vào ý thức, mà người học sẽ tiếp nhận những tín hiệu đó một cách có lựa chọn. Khi nghe giảng, sinh viên phải hoạt động tư duy hết sức tích cực, khẩn trương để có thể nắm được những vấn đề giảng viên gợi mở, trình bày. Ghi chép trên lớp: Nghe giảng và ghi chép là hai hoạt động cùng tiến hành đồng thời. Các nhà tâm lý học đã chỉ ra rằng, việc tiến hành đồng thời hai loại hoạt động chỉ có thể đạt được kết quả cao khi một trong hai hoạt đó đã trở nên thành thạo đến mức gần như tự động hóa. Cách ghi chép lại mang sắc thái cá nhân, mỗi môn học lại đòi hỏi một phương pháp ghi chép khác nhau, nhưng đều có một điểm chung là nếu sinh viên không hiểu bài thì không thể ghi chép tốt được. Vì vậy, qua cách ghi  của sinh viên, giảng viên có thể biết được mức độ nắm bài của sinh viên.  Như vậy, việc ghi lại bài giảng cũng là một nghệ thuật, luôn thay đổi tùy theo đặc trưng từng môn học và phong cách giảng của từng giảng viên. Đối với các môn Lý luận chính trị, cần đảm bảo tính chính xác và tính logic của các quan điểm, luận cứ, luận chứngVì vậy, bài ghi của sinh viên phải chính xác, đảm bảo yêu cầu về kiến thức và tính logic của bài học. Tuy nhiên, cách ghi  bài của mỗi sinh viên có thể khác nhau, tùy thuộc vào vốn hiểu biết và sự vận dụng sáng tạo của mỗi sinh viên. 2.3. Xem lại và chỉnh lý bài ghi Mặc dù trên lớp sinh viên tích cực động não và ghi chép, nhưng nếu sau đó sinh viên xếp vở ghi lại, đợi tới ngày ôn thi mới mở ra xem mà không chỉnh lý ngay thì việc tiếp thu bài không thể coi là hoàn chỉnh và tốt; ở trình độ đại học và cao đẳng các môn Lý luận chính trị có khối lựợng kiến thức rộng, mang tính trừu tượng được tổng hợp từ nhiều lĩnh vực, nên bài giảng của giảng viên trên lớp chỉ mang tính hướng dẫn, gợi ý chứ không phải trình bày hoàn chỉnh, trọn vẹn về một vấn đề. Vì vậy, việc xem lại và hoàn chỉnh bài ghi là việc làm tất yếu đối với sinh viên. Để giúp sinh viên có thể nghe giảng và ghi chép thuận lợi, giảng viên nên: - Giới thiệu trước những tài liệu cần đọc để phục vụ cho bài học và đề ra những yêu cầu cụ thể cho sinh viên khi đọc các tài liệu đó. - Cần có những hình thức, biện pháp kiểm tra việc đọc tài liệu và tự nghiên cứu của sinh viên. - Trình bày vấn đề một cách hệ thống, rõ ràng để sinh viên dễ theo dõi vấn đề và ghi chép, tránh tình trạng giáo viên trình bày bài giảng tản mạn, thiếu hệ thống, làm cho sinh viên dù phải tập trung chú ý cao độ nhưng vẫn không nắm bắt được nội dung cơ bản của vấn đề và không thể ghi chép được. 3. Phương pháp đọc giáo trình và tài liệu Đối với sinh viên ở trình độ đại học và cao đẳng, đọc sách không những là nhu cầu, hứng thú mà còn là một nhiệm vụ tất yếu. Đọc giáo trình, tài liệu để tự học, tự nghiên cứu là công việc chính của mỗi sinh viên. Trong quá trình học tập các môn Lý luận chính trị, 100% sinh viên phải có giáo trình, tài liệu cần thiết, theo chúng tôi để đọc giáo trình và tài liệu có kết quả, sinh viên cần lưu ý: - Sinh viên phải biết lựa chọn sách, báo, tạp chí, văn kiện, nghị quyết, phù hợp với từng bài học - Sinh viên cần xác định rõ mục đích đọc tài liệu: Đọc để tìm hiểu toàn bộ nội dung cuốn sách; để tìm hiểu một vấn đề; sưu tầm tài liệu bổ sung cho những vấn đề các em đang nghiên cứu hoặc thu thập thông tin để giải quyết một vấn đề thực tiễn nào đó. Nói chung, đọc sách vì mục đích gì thì sinh viên phải xác định được ngay từ đầu mới đạt hiệu quả thiết thực. - Đọc tài liệu để hiểu sâu kiến thức cơ bản của từng bài, từng chương và tiến tới cả học phần. - Sinh viên biết tự triển khai những vấn đề cụ thể của từng học phần như: thiết kế, chuẩn bị câu hỏi cho các giờ thảo luận trên lớp; phương án giải quyết vấn đề, sinh viên nên thiết kế theo hướng từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.           4. Sinh viên lập kế hoạch học tập  Nhằm tránh tình trạng chỉ tập trung học ở những thời điểm nhất định vào các kỳ thi, sinh viên cần thiết lập kế hoạch học tập của mình cho từng học phần, học kỳ, năm học. Để tạo điều kiện cho sinh viên vạch  kế hoạch học tập một cách thuận lợi và  khoa học, vào đầu mỗi học phần giảng viên cần cung cấp cho sinh viên đề cương chi tiết môn học, giới thiệu giáo trình, tài liệu tham khảo, số lượng bài kiểm tra, hình thức thảo luận trên lớp, hình thức thi kết thúc môn học, hướng dẫn sinh viên những nội dung tự học ở nhàtừ đó sinh viên lập kế hoạch học tập phù hợp với từng môn học, thời gian và đặc điểm tâm lý của bản thân.    Kế hoạch học tập của sinh viên phải thực tế và linh hoạt, không thể lập một kế hoạch mà trong đó mỗi công việc đều quy định thời gian cụ thể. Vì như vậy, các em có thể gặp những tình huống bất ngờ và kế hoạch bị phá vỡ. Do đó, kế hoạch học tập của sinh viên không phải là cứng nhắc, mà là một kim chỉ nam, một phương hướng để sinh viên hành động. Đặc biệt, trong đào tạo theo học chế tín chỉ, sinh viên có nhiều thời gian để tự học, nên các em phải có kế hoạch sử dụng quỹ thời gian hợp lý, có như vậy các em mới làm chủ được quỹ thời gian, không bị động trước nhiều nguồn tư liệu cần phải đọc và các công việc phải hoàn thành theo yêu cầu và sự hướng dẫn của giảng viên. Ngoài ra, để thực hiện tốt kế hoạch học tập, sinh viên phải có đủ phương tiện để học tập như: giáo trình, tài liệu tham khảo, cùng các phương tiện hỗ trợ khác... Tuy nhiên, việc tự học của sinh viên chỉ có kết quả khi có sự kiểm tra và đánh giá của giảng viên một cách thường xuyên hoặc sinh viên tự đánh giá, vì thông qua kiểm tra đánh giá giúp các em biết rõ ưu, nhược điểm của mình để có sự điều chỉnh hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả học tập.           Trên đây là những trao đổi của chúng tôi về một số phương pháp để sinh viên nhà Trường tham khảo nhằm nâng cao chất lượng tự học các môn Lý luận chính trị, rất mong nhận được sự trao đổi từ các em sinh viên và đồng nghiệp. Minh Duyên ( Bộ môn LLCT ) Chủ nhiệm đề tài: ThS. Đỗ Thu Hà Đơn vị công tác: Trung tâm nghiên cứu giáo dục Đại học và Nghề nghiệp, Viện KHGD Việt Nam. Thư điện tử: dothuha08@gmail.com Điện thoại: 04389423390 Thư ký đề tài: ThS. Đỗ Thu Hà Thành viên: ThS. Trần Thị Ninh Giang; ThS. Hoàng Thị Minh Anh; ThS. Đào Thanh Hải. Thời gian thực hiện: Từ 7/2009 đến 9/2010 Mục tiêu nghiên cứu Xác định được thực trạng sử dụng quỹ thời gian ngoài giờ lên lớp của sinh viên một số trường đại học trên địa bàn Hà Nội. Từ đó đề xuất một số khuyến nghị về việc sử dụng quỹ thời gian ngoài giờ lên lớp của sinh viên. Nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài; - Nghiên cứu xác định thực trạng việc sử dụng quỹ thời gian ngoài giờ lên lớp của sinh viên ở một số trường Đại học trên địa bàn Hà Nội; - Đề xuất một số khuyến nghị về việc sử dụng quỹ thời gian ngoài giờ lên lớp của sinh viên. Phương pháp nghiên cứu Hồi cứu tư liệu, so sánh đối chiếu, phân tích tổng hợp, điều tra khảo sát, xử lí thống kê KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 1/ Về lí luận Quỹ thời gian ngoài giờ lên lớp của sinh viên đại học là lượng thời gian sinh viên không bắt buộc phải có mặt ở lớp học hoặc phòng thí nghiệm, xưởng thực hành để thực hiện các nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục của nhà trường được tự do lựa chọn các hình thức thể hiện để thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Những hoạt động của sinh viên trong thời gian ngoài giờ lên lớp: Hoạt động tự học: bao gồm việc thực hiện các nhiệm vụ học tập mà giảng viên giao cho hay thực hiện các nhiệm vụ mà bản thân sinh viên đề ra. Song song với những hình thức mang tính cá nhân, đơn lẻ, hoạt động tự học còn thể hiện dưới các buổi tọa đàm, thảo luận chuyên đề, sinh hoạt ngoại khóa, sinh hoạt câu lạc bộ giao lưu giữa các khoa, các trường để trao đổi kinh nghiệm, tự học theo kinh nghiệm; tự học theo nhóm tại nơi ở hoặc trên thư viện Hoạt động chính trị xã hội: là những hoạt động tập thể vừa có mục đích phục vụ cộng đồng, vừa có mục đích phục vụ xã hội, cộng đồng, vừa có mục địch giáo dục.Theo qui chế của Bộ giáo dục và Đào tạo, hoạt động chính trị - xã hội là một trong năm nhiệm vụ của sinh viên. Hoạt động văn hóa, văn nghệ: là các hình thức sinh hoạt văn hóa văn nghệ nhằm nâng cao đời sống tinh thần cho sinh viên diễn ra khá đa dạng, phong phú. Những hình thức hoạt động văn hóa văn nghệ của sinh viên khá ưa chuộng hơn cả là các hội diễn văn nghệ, các cuộc thi nhằm tôn vinh vẻ đẹp tài năng của sinh viên, các hoạt động tham gia du lịch, tìm hiểu thực tếNhững hoạt động này vừa làm phong phú them đời sống tinh thần của sinh viên vừa giải tỏa những căng thẳng trong cuộc sống. Hoạt động thể dục thể thao: là các hoạt động diễn ra dưới nhiều hình thức như các môn thể thao luyện tập: bóng đá, cầu lông, bóng bàn, cờ vua.. Thời gian dành cho hoạt động thể thao ngoài giờ lên lớp của sinh viên cũng xuất phát từ nhu cầu cá nhân. Hoạt động vui chơi, giải trí: là hoạt động thư giãn sau những giờ học tập căng thẳng, mệt mỏi giúp sinh viên giữ được trạng thái cân bằng trong sinh hoạt và học tập giảm stress, có được sự thư thái, sảng khoái về tinh thần. Hoạt động vui chơi giải trí có thể diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc với nhiều hình thức khác nhau. Theo xu thế hiện nay, một số hình thức giải trí rất được sinh viên ưa chuộng là chơi Game, xem phim, nghe nhạc, trò chuyện với bạn bè (trực tiếp hoặc gián tiếp) Hoạt động tạo thu nhập: là những việc làm do sinh viên thực hiện để có thêm tiền trang trải cho sinh hoạt. Đây là một nhu cầu lớn đối với sinh viên hiện nay.Công việc làm thêm của sinh viên rất đa dạng nhưng còn tự phát, chưa được tổ chức chặt chẽ. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thời gian ngoài giờ lên lớp của sinh viên gồm yếu tố chủ quan và khách quan. Về yếu tố chủ quan: Nhận thức của sinh viên về vai trò của các hoạt động ngoài giờ lên lớp, tính kế hoạch và sự nỗ lực thực hiện kế hoạch, khả năng tham gia các hoạt động ngoài giờ lên lớp của sinh viên. Về những yếu tố khách quan: Điều kiện cơ sở vật chất, môi trường đáp ứng yêu cầu hoạt động sinh hoạt của sinh viên trong thời gian ngoài giờ lên lớp, mục tiêu đào tạo các trường đại học, những quy định của nhà trường về việc đánh giá kết quả làm việc ngoài giờ của sinh viên. 2/ Về thực tiễn Thực trạng sử dụng thời gian ngoài giờ lên lớp của sinh viên vào những hoạt động cụ thể: Thực trạng sinh viên sử dụng thời gian ngoài giờ lên lớp vào hoạt động tự học: Nhìn chung sinh viên nhận thức đúng đắn về hoạt động tự học ngoài giờ lên lớp và dành một thời gian đáng kể cho hoạt động này. Bên cạnh một bộ phân sinh viên rất nỗ lực rất nhiều cho tự học thì vẫn còn một bộ phận sinh viên không nhỏ dành rất ít cho hoạt động tự học. Có sự khác biệt rõ giữa những sinh viên các trường, ở các nơi cư trú, ở giới tính trong việc sử dụng thời gian ngoài giờ lên lớp có sinh viên. Thực trạng sinh viên sử dụng thời gian (TG) vào hoạt động chính trị xã hội: Kết quả khảo sát cho thấy thời gian tham gia hoạt động chính trị xã hội của sinh viên năm thứ 3 nhiều hơn so với sinh viên (SV) năm thứ hai; có sự khác biệt trong việc sử dụng thời gian cho hoạt động chính trị xã hội giữa các nhóm sinh viên ở nơi cư trú khác nhau. Nguyên nhân của thực trạng SV dành ít thời gian cho hoạt động chính trị xã hội trước hết là do tâm lí e ngại, cách tổ chức các hoạt động chính trị xã hội còn nghèo nàn. Thực trạng SV sử dụng TG vào hoạt động vui chơi giải trí: kết quả khảo sát cho thấy, mỗi tuần sinh viên dành 11,8 giờ cho hoạt động này. Song lượng thời gian dành cho vui chơi, giải trí giữa các nhóm sinh viên có sự chênh lệch đáng kể. Khác biệt giữa sinh viên giữa các trường, giữa SV năm thứ 2 và thứ 3, khác biệt giữa SV ở những nơi cư trú khác nhau. Thực trạng SV sử dụng TG vào hoạt động văn hóa, văn nghệ: Kết quả khảo sát cho thấy trung bình mỗi sinh viên sử dụng 2,23 giờ/tuần cho hoạt động văn nghệ. TG ngoài giờ lên lớp của sinh viên có sự khác nhau theo giới tính SV; theo từng trường đại học. Nguyên nhân cơ bản của thực trạng trên là do SV chưa ý thức được một cách sâu sắc tác dụng của hoạt động văn hóa, văn nghệ. Hình thức tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ chưa đa dạng, phong phú, ít hấp dẫn; kinh phí cho các hoạt động còn eo hẹp. Thực trạng SV sử dụng thời gian vào hoạt động tạo thu nhập: Kết quả khảo sát cho thấy, trung bình mỗi tuần SV sử dụng 3,1 giờ cho hoạt động tạo thu nhập.Việc đầu tư cho hoạt động tạo thu nhập cũng có cũng có sự khác nhau đáng kể giữa các nhóm SV, giữa các trường, giữa hai giới tính; giữa những sinh viên cư trú ở những nơi khác nhau. Mối quan hệ giữa việc sử dụng thời gian ngoài giờ lên lớp với kết quả học tập của sinh viên: Kết quả khảo sát cho thấy việc sử dụng quỹ thời gian ngoài giờ lên lớp với kết quả học tập của sinh viên có mối quan hệ với nhau. Trong đó tác động rõ nhất đối với việc học là việc sử dụng thời gian ngoài giờ lên lớp vào hoạt động tự học Việc đầu tư thời gian cho hoạt động tự học ngoài giờ lên lớp là một trong những điều kiện quan trọng để sinh viên tiến hành hoạt động học tập trên lớp đạt kết quả tốt. Song không có ý nghĩa là cứ đầu tư vào thời gian thì kết quả học tập tốt mà vấn đề còn ở cách học, phương pháp học Việc sử dụng thời gian cho các hoạt động ngoài giờ lên lớp có những mối liên hệ nhất định đến kết quả học tập của sinh viên. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của nó không ngang bằng nhau. Xem xét mức độ tác động của việc sử dụng thời gian ngoài giờ lên lớp của sinh viên tới kết quả học tập chỉ mạng tính chất tương đối bởi thực tế kết quả học tập còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác. Mặc dù vậy việc đầu tư thời gian hợp lí vào các hoạt động ngoài giờ lên lớp là một trong những vấn đề cần được sinh viên quan tâm bởi việc quản lý và chi tiêu thời gian nói chung của mỗi cá nhân đã và đang là một kỹ năng rất quan trọng và cần thiết trong thời đại ngày nay. 3/ Một số khuyến nghị Đối với Bộ giáo dục và Đào tạo: - Bộ giáo dục và Đào tạo cần tiếp tục xem xét, nghiên cứu, ban hành các văn bản hướng dẫn việc tổ chức, triển khai và quản lí kế hoạch thực hiện các hoạt động ngoài giờ lên lớp của sinh viên; có những chế độ ưu đãi, những qui định cụ thể khuyến khích sinh viên tích cực tham gia các hoạt động ngoài giờ lên lớp, nhất là những hoạt động tích cực trong việc rèn luyện và phát triển nhân cách của sinh viên; - Bộ chỉ đạo các trường Đại học tổ chức xây dựng nội quy, qui định để hướng dẫn sinh viên, xây dựng, quản lí việc sử dụng thời gian ngoài giờ; Đối với Nhà trường và các tổ chức đoàn thể: - Nhà trường cần hướng dẫn sinh viên năm thứ nhất lập kế hoạch sử dụng quỹ thời gian ngoài giờ; Nhà trường và các tổ chức đoàn thể cần có sự phối hợp để đưa ra một kế hoạch hoạt động ngoài giờ lên lớp dài hạn. Đối với gia đình: - Gia đình cần chú ý quan tâm tới việc sử dụng thời gian ngoài giờ lên lớp của con em mình qua những kênh thông tin khác nhau; Có sự trao đổi định kỳ giữa gia đình và Nhà trường. Đối với sinh viên: - Sinh viên cần nhận thức tầm quan trọng của việc quản lý, sử dụng thwoif gian lên lớp.Tinh thần và thái độ nghiêm túc tự giác của sinh viên là những yếu tố có ý nghĩa quyết định tới hiệu quả sử dụng thời gian; Sinh viên cần có kế hoạch cơ bản, lâu dài bên cạnh những kế hoạch chi tiết. Sử dụng thời gian lên lớp vào các hoạt động một cách hợp lí. TỪ KHÓA: 1/ Thời gian ngoài giờ lên lớp; 2/ sinh viên đại học; 3/ giáo dục Đại học Chi tiết xin liên hệ: Phòng Thư viện, số điện thoại: 04-39423754 hoặc theo địa chỉ thư điện tử: tttv@vnies.edu.vn  Vai trò của thầy giáo, cô giáo trong việc rèn luyện  tự học của sinh viên Giảng viên cần hướng dẫn sinh viên hình thành phương pháp tự học hiệu quả (ảnh minh hoạ) Giáo viên nên tăng cường các hình thức dạy học nhóm, trao đổi thảo luận, nêu lên chính kiến của mình...  Điều này sẽ buộc sinh viên phải nghiên cứu tài liệu, phân tích, mổ xẻ các vấn đề trên nhiều khía cạnh khác nhau để có thể tham gia đóng góp hoặc tranh luận để bảo vệ ý kiến của mình. Để định hướng cho sinh viên vạch ra kế hoạch tự học cá nhân, giảng viên cần đề ra kế hoạch dạy học cụ thể toàn bộ học phần (hoặc từng chương), cung cấp trước cho sinh viên nghiên cứu để biết mình sẽ làm gì và làm như thế nào trong quá trình học tập bộ môn. 5. Đặc điểm tự học của sinh viên ở các trường đại học Hoạt động dạy và học hay đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị-hành chính ở các Trường Chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là quá trình tổ chức, giáo dục, truyền bá một cách cơ bản, có hệ thống chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nướccho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt và dự nguồn của hệ thống chính trị các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở của địa phương. Từ đó, hình thành ở người học thế giới quan, phương pháp luận khoa học, nhân sinh quan cộng sản; nâng cao trình độ tư duy lý luận, năng lực lãnh đạo, quản lý và phẩm chất đạo đức cách mạng tạo nên bản lĩnh chính trị vững vàng, niềm tin vững chắc vào mục tiêu lý tưởng xã hội chủ nghĩa và tinh thần tự giác, tích cực trong quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Trong những năm qua, hoạt động dạy học ở Trường Chính trị tỉnh Bến Tre đã từng bước được đổi mới về nội dung, phương pháp, cách thức quản lýđã thu được những tiến bộ đáng nghi nhận, chất lượng đào tạo chuyển biến theo chiều hướng tích cực. Học viên sau khi tốt nghiệp đã phát huy tốt năng lực, vận dụng tốt kiến thức đã học và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Nhìn chung hoạt động dạy học Trường Chính trị tỉnh Bến Tre đã đạt những thành tựu đáng trân trọng về chất lượng đào tạo cán bộ, đáp ứng cơ bản nhu cầu cán bộ lãnh đạo các ngành, các cấp trong tỉnh. Tuy nhiên, hoạt động dạy học ở Trường Chính trị tỉnh Bến Tre còn bộc lộ những bất cập, hạn chế: Hiệu quả chưa cao, chưa có sự đồng đều về kết quả học tập giữa các môn học, phần học, giữa các học viên cùng lớp, học viên các hệ lớp chưa có sự ổn định cần thiết Hiện nay chúng ta còn phải đương đầu với không ít khó khăn và thách thức. Cuộc đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp vẫn đang diễn ra hết sức sâu sắc và quyết liệt. Các thế lực thù địch đang tìm mọi cách tấn công phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân, ra sức xuyên tạc lịch sử dân tộc, vu cáo Đảng và Nhà nước, chúng tấn công vào hệ tư tưởng, cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng và cách mạng nước ta. Cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ đang phát triển như vũ bão, trong khi trình độ nhận thức, trình độ trí tuệ của chúng ta còn nhiều hạn chế, không ít vấn đề lý luận và thực tiễn chưa được tổng kết hoặc chưa đủ cơ sở để làm sáng tỏ, cho nên còn những ý kiến khác nhau. Trước những yêu cầu và đòi hỏi nêu trên, hoạt động dạy học của nhà trường cần phải cải tiến, đổi mới hơn nữa nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở mà thực tiễn đang đặt ra, phục vụ đắc lực cho phát triển KT-XH của địa phương hiện nay và trong thời gian tới. Để nâng cao chất lượng đào tạo trong giai đoạn hiện nay ở Trường Chính trị tỉnh Bến Tre, bên cạnh việc đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, cách thức quản lý; vấn đề cần quan tâm là xây dựng và nâng cao ý thức tự học cho học viên. Tự học giúp phát huy tính tự giác, tích cực, năng lực đọc sách và nghiên cứu của người học để thực hiện nhiệm vụ giáo dục ở các trường, biến “quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo của học viên”. Do đó, tổ chức tốt việc tự học cho học viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của các trường trong điều kiện hiện nay là rất cần thiết. Tự học là quá trình nhận thức một cách tự giác, tích cực, tự lực không có sự tham gia hướng dẫn trực tiếp của giáo viên nhằm đạt được mục đích, nhiệm vụ của dạy học. Vì vậy, tự học chính là bước giúp học viên đào sâu suy nghĩ, hệ thống lại những tri thức đã được học, liên hệ nó với các hoạt động, biểu hiện trong thực tế và xây dựng kế hoạch nghiên cứu tài liệu sao cho những điều mình biết luôn có ích và không xa rời hiện thực. Tự học được tổ chức tốt không những cung cấp cho học viên những kiến thức mới, bổ ích mà còn giúp họ rất nhiều trong công tác sau này. Quá trình tự học sẽ rèn cho học viên thói quen độc lập suy nghĩ, giải quyết vấn đề khó khăn trong công việc, trong cuộc sống, qua đó giúp họ tự tin hơn trong mọi hoạt động. Khi tự học, học viên sẽ được tiếp cận nhiều thuật ngữ, nhiều cách đề cập một vấn đề, vì vậy họ trở nên năng động hơn, tự chủ hơn trong việc tiếp thu tri thức. Từ đó, thấy được tự học không chỉ là một nhân tố quan trọng trong lĩnh hội tri thức mà còn có ý nghĩa to lớn trong việc hình thành nhân cách người học. Tuy nhiên, hoạt động tự học của học viên Trường Chính trị tỉnh Bến Tre những năm gần đây rất hạn chế, không thường xuyên, chỉ tập trung trước các kỳ kiểm tra, thi. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả học tập của học viên. Phần lớn học viên các hệ lớp đào tạo Trung cấp lý luận Chính Trị - Hành chính nhất là những học viên chưa được đào tạo chuyên môn từ Cao đẳng trở lên, thường không tiến hành các hoạt động tự học một cách hợp lý, khoa học. Chỉ đến khi bắt buột phải học bài để kiểm tra hoặc thi hết môn mới bắt đầu học những nội dung theo câu hỏi ôn tập. Nhiều học viên không tự chuẩn bị nội dung ôn tập mà photo lại của người khác nên rất khó học thuộc. Thực tế cho thấy khi bước vào phòng thi nhiều học viên chỉ có thể nắm được rất ít nội dung ôn thi (học tủ), nếu đề thi “trật tủ” thì chép bài của người khác hoặc sử dụng tài liệu để làm bài. Nội dung tự học của học viên Trường Chính trị chủ yếu: Soạn đề cương theo câu hỏi ôn tập của giảng viên, làm bài tập, xem bài mới trước khi nghe giảng và đọc thêm những tài liệu tham khảo khác. Thực hiện hoạt động này giúp học viên hiểu sâu hơn, nắm chắc hơn những kiến thức từng môn học, từ đó giúp học viên phát triển tư duy, trí tuệ và nhận thức. Đây cũng là hoạt động nhằm nâng cao chất lượng học tập của học viên và chất lượng giáo dục của nhà trường. Để nâng cao ý thức tự học cho học viên ở Trường Chính trị tỉnh Bến Tre hiện nay, cần chú ý những vấn đề sau: Nâng cao nhận thức cho giảng viên, chủ nhiệm lớp và học viên chủ yếu là học viên các hệ lớp chưa qua đào tạo chuyên môn từ Cao đẳng trở lên về vấn đề tự học. Vì nhận thức nói chung là một thành tố trong cấu trúc tâm lý, nhân cách của con người, đóng vai trò vô cùng quan trọng đối hoạt động của con người, chỉ có nhận thức đúng thì mới có hành động đúng. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của học viên nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường, trước hết cần nâng cao nhận thức về nội dung, mục tiêu, ý nghĩa và tác dụng của vấn đề tự học cho đội ngũ giảng viên, chủ nhiệm lớp và học viên; xem đây là giải pháp hàng đầu và cần được thực hiện một cách thường xuyên. Đối với giảng viên giảng dạy những môn đầu tiên của khóa học và đội ngũ chủ nhiệm các lớp cần nắm rõ tác dụng và ý nghĩa của vấn đề tự học, ngay từ đầu khóa học cần giúp học viên các lớp hình thành ý thức tự học và tổ chức tự học một cách tích cực, tự giác. Kết hợp lòng ghép những nội dung hướng dẫn, bồi dưỡng phương pháp và kỹ năng tự học cho học viên trong quá trình giảng bài và sinh hoạt lớp. Chú ý tăng cường giáo dục động cơ, thái độ học tập cho học viên; hướng dẫn, chỉ đạo học viên xây dựng kế hoạch tự học. Giảng viên bộ môn thiết kế bài giảng theo một chuỗi tình huống có vấn đề và hướng dẫn học viên tự giải quyết. Lồng ghép bồi dưỡng phương pháp và kỹ năng tự học cho học viên ngay trên lớp, tạo điều kiện cho học viên bộc lộ khả năng tự học như: Phân tích, tổng hợp, khái quát, trừu tượng hóa vấn đề; đồng thời bồi dưỡng phương pháp đọc sách, tóm tắt, hệ thống hóa tài liệu và phương pháp nghiên cứu nói chung. Tác động, hướng dẫn và tạo điều kiện để từng học viên tự giác, độc lập xây dựng kế hoạch, phương pháp tự học phù hợp với bản thân. Tự năng động, tìm tòi, phân tích những sách vở, tài liệu liên quan để tự mình làm chủ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo ngoài giờ học trên lớp. Đảm bảo các điều kiện tự học cho học viên như xây dựng phòng đọc thư viện, tăng cường các thiết bị nghe nhìn, tạo điều kiện về thời gian, kinh phí cho hoạt động sinh hoạt ngoại khóa và nghiên cứu thực tiễn trong và ngoài tỉnh. Tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập một cách nghiêm túc, công bằng, khách quan nhằm kích thích sự nỗ lực, sự cố gắng và lòng say mê học tập của học viên làm tăng ý thức tự học cho từng học viên. Ngoài ra cần chú ý tạo động lực học tập cho học viên thông qua việc: Đổi mới phương pháp dạy học, tổ chức và điều khiển hợp lý các hoạt động học; nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng, đoàn thể nhằm nâng cao nhận thức về nhiệm vụ học tập, mục đích, ý nghĩa, tác dụng của việc học chương trình đào tạo Trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính để hình thành động cơ học tập nói chung và ý thức tự học của học viên. Mối quan hệ Khái niệm Mối quan hệ Khái niệm Mối quan hệ Khả năng – hiện thực Bản chất – hiện tượng

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docde_tai_nghien_cuu_va_van_dung_phuong_phap_cay_kien_thuc_tron.doc
Tài liệu liên quan