Địa vị pháp lý của Công ty Cổ phần trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta

Lời nói đầu Từ sau Đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 - 1986) và lần thứ VII (tháng 6 - 1991), công cuộc đổi mới nền kinh tế nước ta đã và đang chuyển dịch sang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật. Sắp xếp và tổ chức lại khu vực kinh tế quốc doanh, thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần nhằm khai thác mọi tiềm năng sản xuất xã hội, nâng cao hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Phát triển gắn liền với mô hình kinh tế thị trường này, c

doc51 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1332 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Địa vị pháp lý của Công ty Cổ phần trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ác hình thức doanh nghiệp và công ty có những sự thay đổi lớn tác động đến những sự hình thành loại hình công ty mới, đó là "Công ty cổ phần" đã dần khẳng định được vai trò của vị thế của mình trong nền kinh tế quốc dân. Bởi lẽ, loại hình công ty này nó có vai trò và tác dụng; Thứ nhất là tập trung được vốn nhanh và nhiều để đủ sức thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh với quy mô không lỗ mà từng nhà doanh nghiệp, từng nhà tư bản không thể tự mình làm nổi; Thứ hai là do hình thức tự cấp phát tài chính bằng huy động các nguồn vốn trong dân cư buộc các công ty cổ phần phài đề cao trách nhiệm và phấn đấu nâng cao hiệu quả sử dụng tiền vốn; Thứ ba là khả năng phối hợp các lực lượng kinh tế khác nhau, duy trì được mối quan hệ kinh tế giữa các thành viên; Thứ tư là hình thức liên doanh tốt nhất để tranh thủ sự tham gia đầu tư của nước ngoài. Trong bối cảnh của nước ta hiện nay điều kiện kiên quyết để thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển kinh tế là cần phải huy động được nguồn vốn nhân rồi lớn trong dân cư và cần thiết thu hút vốn đầu tư nước ngoài bằng hình thức liên doanh góp vốn cổ phần. Việc thực hiện cổ phần hoá một số doanh nghiệp Nhà nước là một chủ trương lớn thu hút và phát huy các nguồn lực đóng góp cùng với sự tham gia quản lý đông đảo của nhân dân vào phát triển kinh tế. Nhưng trong bước khởi sự này, cồ phần hoá đang là một công việc khó khăn và phức tạp với những vấn đề cần phải nghiên cứu giải quyết kịp thời. Xét thấy tầm quan trọng của quá trình cổ phần hoá trong giai đoạn hiện nay, việc nghiên cứu công ty cổ phần hoá với những mục tiêu, nội dung, cách thức tiến hành... là cấp thiết. Bởi vậy, em đã chọn đề tài "Địa vị pháp lý của công ty cổ phần trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta". Do chưa có điều kiện tiếp xúc với thực tiễn và trong một khoảng thời gian nghiên cứu đề tài về mặt lý luận có hạn, nên không tránh khỏi những vấn đề sai sót trong việc trình bày, diễn đạt ý, từ ngữ không hợp cảnh. Em rất mong được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của thầy giáo, cô giáo để bài viết được hoàn thiện hơn. I. Sự hình thành và phát triển của công ty cổ phần 1. Khái niệm chung về công ty cổ phần. Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng nhau góp vốn cùng nhau chia lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của Công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào Công ty. 2. Lý do hình thànhCông ty cổ phần trong nền kinh tế. a, Do tác động của quy luật giá trị. Quá trình xã hội hoá tư bản tăng cường tích tụ và tập trungtư bản ngày càng cao dẫn đến cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà tư bản buộc họ phải tìm phương thức sản xuất sao cho giá trị hàng hoá cá biệt của mình thấp hơn hoặc bằng mức giá trị hàng hoá xã hội. Đây chính là nguyên nhân hàng đầu thúc đẩy công ty cổ phần ra đời. b. Do sự phát triển của lực lượng sản xuất. Do sự phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi vốn cố định ngày càng tăng, từng nhà kinh doanh không thể đáp ứng được yêu cầu trên phải có sự liên minh hùn vốn để cùng nhau kinh doanh. Hơn nữa, do sự ra đời và phát triển của nền đại công nghiệp cơ khí của tiến bộ kỹ thuật cùng với sự đa dạng hoá của các ngành nghề kinh doanh để tìm kiếm được nhiều lợi nhuận các nhà kinh doanh phải có được một lượng vốn lớn phân bổ kịp thời để sản xuất tạo ra một sản phẩm mới cập nhật, phù hợp với thị trường đã thúc đẩy huy động nguồn vốn từ công ty khác, các tổ chức kinh tế và trong dân cư. Từ đây hình thành nên công ty cổ phần c. Sự phát triển của phương thức sản xuất Sản xuất phát triển với trình độ kỹ thuật ngày càng cao dẫn đến cạnh tranh khốc liệt tạo ra rủi ro lớn trong kinh doanh. Để giảm bớt rủi ro công ty phải phân tán tư bản bằng cách phân chia cổ phần, phát hành cổ phiếu để huy động tập trung trí lực của các thành viên cùng tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh. d. Sự phát triển rộng rãi của chế độ tín dụng tạo động lực thúc đẩy công ty cổ phần ra đời và phát triển. Trong nền kinh tế thị trường tín dụng có vai trò to lớn trong quá trình cạnh tranh, làm giảm đi chi phí lưu thông và đẩy nhanh quá trình tái sản xuất. Tín dụng có vai trò động lực thúc đẩy việc hình thành và phát triển các công ty cổ phần vì: - Việc phát hành cổ phiếu trong công ty cổ phần không thể nào thực hiện được nếu không có thị trường tiền tệ phát triển, nếu không có doanh nghiệp và dân cư có nhu cầu sử dụng vốn tiền tệ trên thị trường. - Việc phát hành cổ phiếu chỉ được thực hiện thông qua ngân hàng. 3. Quá trình phát triển. Công ty cổ phần xuất hiện ngay từ đầu thế XVII, song phải đời đến cuối thế kỷ XIX mới được phát triển rộng rãi phổ biến: a. ở nước Anh (1) Công ty cổ phần đầu tiên là công ty Đông ấn Độ xuất hiện vào năm 1602. - Đến cuối thế kỷ XVII công ty cổ phần bắt đầu phát triển ở các ngành ngân hàng. - Đến giữa thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX công ty cổ phần xuất hiện trong lĩnh vực giao thông vận tải: đường sông, đường sắt đến 1837 số công ty cổ phần đường sắt là 46. - Đến năm 1930 có 86.000 công ty cổ phần và 90% tư bản chịu sự khống chế b. ở Mỹ 1 Trích trang 10 trong cuốn "Thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần" của Đoàn Văn Trường - Đến năm 1909 có tổng số 262.000 công ty cổ phần - Đến năm 1039 số công ty cổ phần chiếm 51,7% trong tổng số các xí nghiệp công nghiệp và chiếm 92,6% giá trị tổng sản lượng nông nghiệp. c. ở Việt Nam Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI thì nước ta bắt đầu phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đã xuất hiện một số xí nghiệp, công ty cổ phần với quy mô nhỏ bé, trình độ thấp nguồn vốn do các xí nghiệp đóng góp và đang trong giai đoạn sơ khai như: Xí nghiệp vận tải biển Hải Phòng, Ngân hàng công thương thành phố Hồ Chí Minh, Công ty tài chính TP Hồ Chí Minh... và hàng loạt các công ty cổ phần liên doanh với nước ngoài và các công ty cổ phần tư nhân khác: Tóm lại, sự hình thành công ty cổ phần là kết quả tất yếu của quá trình tập trung tư bản. Nó diễn ra mạnh mẽ cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp và sự tự do cạnh tranh. II. Thành lập mới một công ty cổ phần 1. Trước khi thành lập Một công ty cổ phần trước khi thành lập phải dự định hội đủ những điều kiện cần thiết: số người thành lập công ty cổ phần (tối thiểu phải có 7 người theo luật công ty Việt nam, dự thảo điều lệ công ty, đàm phán thoả hiệp về hình thức vốn của công ty... a. Sáng lập viên - Sáng lập viên là những người có sáng kiến muốn lập công ty đứng ra kết nạp hội viên, kêu gọi góp vốn thu thập tiền vốn và làm những thủ tục pháp lý cần thiết để cho công ty được thành lập. - Theo khoản 1 Điều 32 Luật công ty của Việt nam. Số thành viên phải có ít nhất là 7 người. Các sáng lập viên phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% số cổ phiếu dự tính phát hành của công ty. Trong trường hợp các sáng lập viên không đăng ký mua tất cả cổ phiếu của công ty, thì họ phải công khai gọi vốn từ những người khác. - Các sáng lập viên phải có nghĩa vụ đối với công ty khi không được thành lập. Họ phải chịu trách nhiệm đối với những người tham gia mua cổ phần khi mời các người này tham dự và chịu trách nhiệm về sáng kiến hoạt động của họ. b. Công bố và quảng cáo. Đăng báo về những vấn đề cơ bản của công ty như: Tên công ty, trụ sở của công ty, đối tượng của công ty, thời gian công ty hoạt động, số vốn của công ty, định suất của mỗi loại cổ phần, bảng tổng kết tài sản năm, các quyền lợi đặc biệt hứa cho sáng lập viên, cách thức triệu tập và nơi họp đại hội đồng. c. Các điều kiện thiết yếu để thành lập công ty cổ phần - Nộp đơn xin phép thành lập và bản dự thảo điều lệ. Điều 14 Luật công ty Việt Nam quy định các bước về vấn đề này như sau: Muốn thành lập công ty các sáng lập viên phải gửi đơn xin phép thành lập đến UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương nơi dự định đặt trụ sở chính. Đơn xin thành lập công ty phải ghi rõ: + Họ, tên, tuổi địa chỉ thường trú của các sáng lập viên; + Tên gọi trụ sở dự định của công ty; + Mục tiêu ngành, nghề, kinh doanh; + Vốn điều lệ và các thức góp vốn; + Biện pháp bảo vệ môi trường; + Chương trình xây dựng công ty; Đơn phải kèm theo phương án kinh doanh ban đầu và dự thảo điều lệ công ty. - Đăng ký mua toàn bộ số vốn của công ty: Đó là lý do để công ty cổ phần được thành lập hợp pháp. Việc đăng ký mua cổ phần khi nhận thấy đủ lượng vốn cần thiết. + Về hình thức : Việc đăng ký mua cổ phần được xác nhận bằng một tờ phiếu có chữ ký của người nhận mua hoặc người được uỷ nhiệm mua và của ít nhất một sáng lập viên, nội dung chi tiết tờ phiếu ghi rõ trong khoản 4 điều 32 luật công ty ã Tên công ty ã Mục tiêu hoạt động của công ty; ã Tổng số vốn gọi góp; ã Tổng số cổ phiếu dự định phát hành; ã Nơi gửi số tiền đã góp; ã Ngày và nơi nộp dự thảo điều lệ; ã Họ, tên, tuổi địa chỉ thường trú và nghề nghiệp của người đăng ký mua cổ phiếu và số cổ phiếu đăng ký mua: Số cổ phiếu đóng bằng tiền mặt, bằng hiện vật hoặc bản quyền sở hữu công nghiệp và cam kết đóng hết số còn lại theo quyết định gọi vốn của Hội đồng quản trị. + Về mặt nội dung: Sự đăng ký phải dứt khoát, vững chắc, không kèm theo điều kiện, phải thành thật, không giả định. - Công ty cổ phần tối thiểu phải có 7 hội viên (Điều 30 luật công ty) số lượng hội viên tối thiểu tuỳ theo quy định của mỗi nước, chẳng hạn như: ở Đức có 5 hội viên, ở Nhật bản có 7 hội viên2 "Công ty cổ phần ở một số nước" Tạp chí NCKT số 3/93 - Số tiền tối thiểu phải đóng góp: + Phần đóng góp bằng hiện vật, bản quyền sở hữu công nghiệp phải được hội đồng thành lập xem xét, chấp thuận,định giá và phải nộp đủ ngay khi công ty chính thức thành lập. + Phần góp vốn bằng tiền mặt (đồng VN, ngoại tệ hoặc vàng, ít nhất 1/2 trị giá cổ phiếu mà họ đã đăng ký mua và cam kết đóng đủ bằng tiền mặt (khoản 6 điều 32 Luật công ty). - Sáng lập viên phải kê khai việc đăng ký mua và việc đóng tiền. Luật công ty Việt Nam quy định các sáng lập viên phải lập tờ khai số vốn đã được đăng ký mua và số vốn đã được đóng tiền theo luật định. Phải kèm theo bản danh sách các người đăng ký mua với số tiền mỗi người đã đóng kèm theo bản điều lệ. 2. Những thủ tục chính thi thành lập và đăng ký kinh doanh đối với những công ty cổ phần theo luật công ty của Việt Nam. a. Hồ sơ xin thành lập công ty cổ phần. Theo Điều 14 Luật công ty của Việt Nam, muốn thành lập công ty các sáng lập viên phải gửi đơn xin phép thành lập công ty đến UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương nơi dự định đặt trụ sở chính. Ngoài đơn xin phép thành lập hồ sơ xin phép thành lập công ty còn bao gồm phương án kinh doanh ban đầu và dự thảo điều lệ công ty. - Đơn xin phép thành lập công ty ghi rõ những vấn đề sau: + Họ, tên, tuổi, địa chỉ của các sáng lập viên; + Tên gọi trụ sở dự định của công ty; + Mục tiêu, ngành, nghề kinh doanh; + Vốn điều lệ và cách thức góp vốn; + Biện pháp bảo vệ môi trường; + Chương trình xây dựng công ty. - Phương án kinh doanh ban đầu là ; phương án mà công ty dự kiến thực hiện khi công ty chính thức đi vào hoạt động. + Phương án kinh doanh phải thể hiện rõ về số lượng, chất lượng kinh doanh và hiệu quả kinh tế đạt được. + Trong quá trình hoạt động của công ty, tuỳ theo tình hình sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường mà các phương án kinh doanh ban đầu của công ty có thể thay đổi. Tuy nhiên, việc thay đổi có phải đăng ký lại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. - Dự thảo điều lệ của công ty. Điều lệ của công ty là bản cam kết của tất cả các thành viên về thành lập và hoạt động của công ty, được thông qua tại Đại hội đồng thành lập. Điều lệ của công ty có 9 nội dung chủ yếu được ghi chi tiết trong điều 10 của công ty. + Hình thức, mục tiêu, tên gọi, trụ sở, thời hạn hoạt động của công ty; + Họ, tên các sáng lập viên; + Vốn điều lệ trong đó có ghi giá trị phần vốn góp bằng hiện vật hoặc bằng các quyền sở hữu công nghiệp; + Mệnh giá cổ phiếu và số cổ phiếu phát hành; + Thể hiện hoạt động và thông qua quyết định của Đại hội đồng; + Cơ cấu quản lý kiểm soát công ty; + Các loại quỹ mức giới hạn các loại quỹ được lập tại công ty; + Thể lệ quyết toán và phân chia lợi nhuận; + Các trường hợp sáp nhập, chuyển đổi hình thức, giải thể công ty và thể thức thanh lý tài sản công ty. Dự thảo điều lệ công ty nó thể hiện phần lớn nội dung mà các cổđông nhất trí, nó có thể được sửa đổi trở thành điều lệ chính thức khi công ty cấp giấy phép kinh doanh và đi vào hoạt động. b, Điều kiện để được cấp giấy phép thành lập công ty cổ phần. - Đối với công ty cổ phần có phát hành cổ phiếu, pháp luật nước ta quy định phải có từ 7 thành viên trở lên mới được phép thành lập công ty cổ phần. Theo điều 6, điều 7, luật công ty nước ta, nghiêm cấm cơ quan Nhà nước, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản Nhà nước và công quỹ để góp vốn vào công ty hoặc tham gia thành lập công ty nhằm thu lợi riêng cho cơ quan đơn vị mình. Đồng thời không cho phép viên chức tại chức trong bộ máy Nhà nước, sĩ quan tại ngũ trong lực lượng vũ trang nhân dân những người mất trí, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án tù mà chưa được xoá án thì không được phép tham gia thành lập hoặc quản lý công ty. - Ngành, nghề xin đăng ký kinh doanh không thuộc diện Nhà nước cấm kinh doanh. - Mục tiêu, ngành nghề kinh doanh rõ ràng, có phương án kinh doanh ban đầu, có trụ sở giao dịch. (Khoản 1 Điều 15 luật công ty) - Có vốn điều lệ phù hợp với quy mô và ngành nghề kinh doanh. Vốn điều lệ không được thấy hơn vốn pháp định do Chính phủ quy định (Điều 15 luật công ty). - Người quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh phải có trình độ chuyên môn tương ứng mà pháp luật đòi hỏi đối với một số ngành nghề. - Đối với công ty cổ phần có phát hành cổ phiếu, các sáng lập viên phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% số cổ phiếu dự định phát hành của công ty. Trong trường hợp các sáng lập viên không đăng ký mua tất cả só cổ phiếu của công ty, thì họ phải công khai gọi vốn từ những người khác. Căn cứ vào hồ sơ, kết quả thẩm định các tài liệu và đối chiếu với các điều kiện mà pháp luật quy định, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét để ra quyết định lập công ty. Thời gian giải quyết cấp giấy phép không được quá 60 ngày kể từ ngày nhận đơn. c. Thành lập công ty Sau khi có quyết định cho phép thành lập của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công ty chính thức chuyển sang giai đoạn xúc tiến thành lập. - Triệu tập đại hội đồng thành lập công ty để xem xét, đánh giá và chấp nhận những hiện vật, bản quyền sở hữu công nghiệp... mà các cổ đông dùng để mua cổ phần của công ty, thảo luận xây dựng và thông qua điều lệ chính thức của công ty; bầu bộ máy quản lý và điều hành công ty. - Phải thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng về việc gọi vốn của nhân dân, khi các sáng lập viên không đăng ký mua hết các cổ phiếu mà công ty dự định phát hành. - Công ty phải gửi tất cả số tiền đã góp của người đăng ký mua cổ phiếu vào tài khoản phong toả tại một ngân hàng ở trong nước kèm theo danh sách những người đăng ký mua cổ phiếu và số tiền mà mỗi người đóng góp. Số tiền gửi chỉ được lấy ra khi công ty đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc sau 1 năm kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập mà công ty không thành lập được. d. Đăng ký kinh doanh (Điều 17 luật công ty) - Công ty phải đăng ký kinh doanh tại uỷ ban kế hoạch tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Hồ sơ đăng ký kinh doanh bao gồm: Giấy phép thành lập, điều lệ công ty và giấy tờ chứng thực trụ sở giao dịch của công ty. Việc đăng ký kinh doanh của công ty cổ phần phải được tiến hành trong thời hạn 1 năm, kể từ ngày được cấp giấy thành lập. Quá thời hạn nói trên, công ty chưa đăng ký kinh doanh nếu muốn tiếp tục thành lập công ty các sáng lập viên phải làm thủ tục xin phép thành lập. Trong trường hợp có lý do chính đáng, uỷ ban nhân dân đã cấp giấy phép thành lập không quá 90 ngày. - Việc tiến hành đăng ký kinh doanh qua xác nhận của các ngành các cấp được quy định trong Điều 18 Luật công ty: Khi đăng ký kinh doanh công ty được ghi tên vào sổ đăng ký kinh doanh và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Kể từ thời điểm đó công ty có tư cách pháp nhân và được tiến hành hoạt động kinh doanh. Trong thời gian 7 ngày kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, uỷ ban kế hoạch phải giữ bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh kèm theo hồ sơ của công ty cho cơ quan thuế, tài chính, thống kê và các cơ quan quản lý ngành kinh tế, kỹ thuật cùng cấp. - Việc thông báo công khai thành lập công ty được qui định trong điều 19 Luật công ty. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, công ty phải đăng báo địa phương và báo hàng ngày của trung ương trong 5 số liên tiếp các điểm chủ yếu sau: + Tên, loại hình công ty, trụ sở và mục tiêu ngành, nghề kinh doanh; + Họ, tên, địa chỉ thường trú của các sáng lập viên; + Vốn điều lệ; + Ngày được cấp giấy phép thành lập, ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; + Thời điểm bắt đầu hoạt động. - Trong trường hợp cần đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện ngoài Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương, nơi đặt trụ sở chính công ty phải thực hiện quy định trong điều 20 Luật công ty. + Xin phép UBND Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nơi đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện và đăng ký kinh doanh tại uỷ ban kế hoạch cùng cấp. + Thông báo bằng văn bản cho UBND đã cấp giấy phép thành lập công ty về việc mở chi nhánh hoặc văn phòng đại diện trong thời gian 15 ngày kể từ ngày chi nhánh hoặc văn phòng đại diện được cấp giấy đăng ký. III.Cổ đông, chủ nợ và cổ phiếu, trái phiếu của công ty. 1. Cổ đông. a, Khái niệm cổ đông. Cổ đông của công ty cổ phần là những cá nhân hay các tổ chức kinh tế xã hội trực tiếp tham gia góp vốn mua cổ phần của công ty cổ phần phát hành. Trong các công ty cổ phần có phát hành cổ phiếu, cổ đông sáng lập được phân biệt với các cổ đông khác ở chỗ: Cổ đông sáng lập là những cổ đông cùng nhau thoả thuận thành lập công ty cổ phần. Họ thường là những cổ đông chủ xướng, đứng ra lo việc thành lập công ty và tham gia góp vốn với số lượng lớn ít nhất phải bằng 20% số cổ phiếu dự định phát hành củacông ty, do đó họ thường dữ vai trò quan trọng trong việc quyết định các hoạt động của công ty. b, Các quyền lợi của cổ đông. - Quyền bỏ phiếu: gắn liền với sở hữu cổ phần, nên cổ đông không thể nhượng quyền bỏ phiếu cho người khác nếu không nhượng cổ phần hoặc uỷ quyền cho một người đại diện dự Đại hội đồng bỏ phiếu thay cho mình (Nếu điều lệ của công ty quy định số cổ phần tối thiểu) - Quyền hưởng tiền lãi và tiền dự trữ khi công ty làm ăn có lãi. - Quyền chuyển nhượng cổ phần. Cổ đông có quyền chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, đó là đặc trưng của cổ phần trong công ty đổi vốn. Nếu điều lệ của công ty có điều khoản nào cấm việc chuyển nhượng cổ phần thì điều khoản đó là vô hiệu. Chỉ có các cổ phần hiện vật là tạm thời không được phép chuyển nhượng trong thời hạn 2 năm và những cổ phần bảo đảm của quản trị viên tuyệt đối không được chuyển nhượng. - Quyền được thông báo về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty, có quyền kiểm tra sổ sách kế toán, chứng từ và các hoạt động khác trong kinh doanh khi có lý do chính đáng. - Cổ đông không được rút cổ phần hay vốn của mình ra khỏi công ty khi công ty chưa có chủ trương giảm bớt vốn hoặc quyết định giải thể hay nhượng bán. - Nhóm cổ động đại diện cho ít nhất 1/4 số vốn điều lệ có quyền yêu cầu triệu tập Đại hội đồng để xem xét và giải quyết những việc mà hội đồng quản trị và giám đốc bỏ qua. Trong trường hợp này, hội đồng quản trị hoặc giám đốc phải triệu tập Đại hội đồng trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhóm thành viên yêu cầu (Theo khoản 4 Điều 8 luật công ty VN). c, Nghĩa vụ của các cổ đông. - Cổ đông phải chấp hành đầy đủ những quy định được ghi trong điều lệ của công ty và những quy định pháp luật có liên quan. - Cổ đông phải chấp hành vô điều kiện các quyết định của Đại hội đồng cổ đông. - Cổ đông phải góp vốn đầy đủ và đúng thời hạn như đã thoả thuận và ghi trong điều lệ của công ty. - Cùng chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của công ty và những sự may rủi xảy ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. 2. Cổ phần và cổ phiếu. a. Khái niệm cổ phần, cổ phiếu. * Cổ phần là tượng trưng cho quyền sở hữu, nghĩa là người gửi cổ phần là chủ sở hữu một phần tài sản của công ty, có quyền nhường một phần lợi nhuận sau khi nộp thuế và trừ đi các khoản chi phí sản xuất kinh doanh. - Cổ phần có một lĩnh giá, nhưng không phải bao giờ cổ phầncũng vẫn giữ được lĩnh giá ấy khi bán lại. Giá trị của cổ phần lên xuống tuỳ theo tình trạng làm ăn phát đạt của công ty và theo tình trạng kinh tế trong nước và quốc tế. -Mỗi cổ phần là một đơn vị không thể phân chia được. * Cổ phiếu chính là giấy chứng nhận mỗi cổ phần. Giá danh nghĩa mỗi cổ phiếu cao hay thấp là tuỳ theo luật chơi cổ phần của từng nước quy định. Chẳng hạn như ở Pháp thường lưu hành cổ phiếu giá danh nghĩa 100 Fr ở Đức lưu hành cổ phiếu giá danh nghĩa 100 DM... - Cổ phiếu thường được mua bán trao tay theo kiểu giao giấy chứng nhận sở hữu cổ phần hoặc được mua bán bằng cách ghi tên người mua vào sổ đăng ký mua cổ phiếu. Số tiền ghi trên cổ phiếu chỉ là giá danh nghĩa dùng làm cơ sở để hưởng lợi tức cổ phần. Còn giá bán thực tế cổ phiếu (thị giá cổ phiếu) thì phụ thuộc vào khả năng sinh lợi của công ty phát hành cổ phiếu này. Như vây, bán cổ phiếu thực chất là bán quyền hưởng thụ số thu nhập mà cổ phiếu mang lại. - Mọi sự biến động về kinh tế, chính trị - xã hội ít nhiều đều ảnh hưởng đến thị giá cổ phiếu. Đầu cơ chứng khoán cũng có thể tạo ra sự tăng giá tạo thị giá cổ phiếu. b. Hình thức cổ phần. Cổ phần được cấp phát dưới hai hình thức: có ghi tên và không ghi tên: Cổ phần có ghi tên thì ghi tên chủ sở hữu, cổ phần không ghi tên chỉ ghi một con số. Mỗi cổ phần không ghi tên có kèm theo một tờ giấy được chia cắt thành những phiếu nhỏ, đó là các phiếu nhận lãi, đến hạn nhận tiền lãi, cổ đông sẽ xé một tờ phiếu mang đi nhận lãi. Cổ phần có ghi tên khi nhận lãi phải trình chứng khoán. - Cổ phần có thể được hoán cải, nghĩa là cổ phần có ghi tên đổi thành cổ phần không ghi tên hay ngược lại ngoại trừ trường hợp luật bắt buộc cổ phần phải giữ hình thức có ghi tên. - Cổ phần không ghi tên được chuyển nhượng rất dễ dàng, người bán chỉ việc trao tay tờ chứng khoán cho người mua là xong. - Cổ phần có ghi tên được chuyển nhượng bằng cách sang tên cổ phiếu cho người mua trong sổ sách do công ty giữ. c. Các loại cổ phần. Ngoài cổ phần bằng tiền mặt và cổ phần bằng hiện vật đóng góp vào công ty còn có một số loại khác: - Cổ phần hưởng thụ: là cổ phần cho quyền hưởng thụ một phần lãi của công ty, tuy là vốn đã được hoàn trả rồi. - Cổ phần ưu tiên: là cổ phần được hưởng mức lãi nhiều hơn các cổ phần khác, hoặc được trả lãi hay được hoàn vốn trước các cổ phần khác. Người có cổ phần ưu tiên được hưởng những quyền lợi mà các cổ đông khác không có. 3. Trái phiếu a. Khái niệm trái phiếu - Trái phiếu là một chứng khoán mà công ty phát hành để vay vốn. Mỗi một chứng khoán đại diện cho một khoản nợ của công ty đối với người chủ sở hữu của tờ phiếu. - Trái phiếu đôi khi còn được gọi là trái khoán. Thực chất đây là phiếu ghi nhận vay nợ, trong đó nói rõ số tiền vay, mức lãi (ổn định) thời hạn trả vốn và trả lãi. b. Điều kiện phát hành trái phiếu. Việc phát hành trái phiếu trước hết phải được đại hội đồng cổ đông quyết định về số tiền vay bằng trái phiếu, giá trị mỗi trái phiếu, lãi suất của trái phiếu, thời hạn vay và thời hạn thanh toán (hoàn trả) trái phiếu. Ngoài ra, việc phát hành trái phiếu phải được cơ quan có thẩm quyền của nhà nước cho phép theo điều 36 Luật công ty Việt Nam quy định điều kiện để phát hành trái phiếu của công ty là: + Có phương án kinh doanh cụ thể đòi hỏi vốn lớn; + Đã hoạt động ít nhất là 2 năm và chứng minh được hoạt động kinh doanh của công ty đang được quản lý tốt có hiệu quả; + Được Ngân hàng nơi công ty mở tài khoản chứng nhận số tiền còn lại ở Ngân hàng và được cơ quan công chứng chứng nhận trị giá số tài sản bằng hiện vật của công ty đủ đảm bảo cho tổng số vốn dự định vay còn có thể được một hoặc nhiều ngân hàng bảo lãnh; + Được ngân hàng đảm nhiệm giúp đỡ dịch vụ ngân quỹ và kế toán liên quan đến việc phát hành trái phiếu. Giấy phép phát hành trái phiếu phải được quy định rõ mức vốn được vay qua phát hành trái phiếu, mức lãi và thời gian hoàn trả vốn. Trên mỗi trái phiếu phải ghi rõ thứ tự giá trị của trái phiếu, tổng số vốn huy động bằng trái phiếu, mức lãi và thời hạn thanh toán. - Các trường hợp cấm không được phép phát hành trái phiếu. + Cấm tư nhân không được phát hành trái phiếu; + Cấm các công ty có vốn chưa được góp đầy đủ và công ty chưa lập xong bản cân đối tài khoản trong tài khoản thứ nhất. 4. Quyền lợi của chủ nợ đối với công ty a. Quyền được hưởng lợi tức. Người có trái phiếu được hưởng tiền lãi theo lãi suất đã ấn định khi công ty phát hành trái phiếu. Lãi suất này được tự do ấn định, không bị hạn chế, vì là lãi suất thương mại. Khi tiền tệ mất giá, các công ty áp dụng công thức mềm dẻo hơn là bù chênh lệch giá. b. Quyền được hoàn lại tiền vốn Khi phát hành trái phiếu, công ty đã ấn định kỳ hạn trả nợ, khi đến hạn, công ty phải hoàn lại tiền vốn cho các chủ nợ. Nếu không có vốn để trả, công ty có thể lại phát hành một đợt trái phiếu khác để dành cho các trái chủ cũ tham dự, đối với những người này trái phiếu cũ được hoán cải thành ra trái phiếu mới. Nhưng biện pháp thông thường của công ty đã trả nợ trái phiếu là biện pháp hoàn giảm, có nghĩa là giảm bớt món nợ, trả dần mỗi năm một số trái phiếu bằng cách bốc thăm. - Số tiền vốn được hoàn trả: Về nguyên tắc, chủ nợ được hoàn lại theo đúng mệnh giá của trái phiếu. Tuy nhiên công ty có thể phát hành dưới mệnh giá, mà lại hoàn trả cho chủ nợ theo đúng mệnh giá. Số sai biệt có tính cách một số tiền thưởng cho trái chủ, nó hợp pháp vì tất cả các chủ nợ đều được lợi như nhau. - Quyền bảo đảm: Một công ty cổ phần phát hành trái phiếu tuy là vay nợ, nhưng đặc điểm là người cho vay ở vào thế bất lợi, không ấn định được điều kiện với công ty, mà phải chấp nhận các điều kiện do công ty đơn phương định trước. Công ty là người đi vay nhưng thực ra lại ở vào thế mạnh. Do đó cần phải: + Bảo đảm do công ty ưng thuận: ã Công ty có thể được nhà nước đứng ra đảm bảo cho mình những trái phiếu phát hành. ã Công ty có thể dùng những chứng khoán của mình để đảm bảo cho trái phiếu, nghĩa là lấy nợ đảm bảo cho nợ, thí dụ bảo đảm bằng công trái quốc gia... ã Công ty cũng có thể bảo đảm bằng cách cam kết rằng trong tương lai sẽ không phát hành trái phiếu với lãi suất cao hơn. ã Công ty cũng có thể trực tiếp bảo đảm những trái phiếu của mình phát hành bằng cách thông thường là lấy bất động sản của mình, nhà cửa, tàu biển... làm đảm bảo. + Bảo đảm do luật pháp. Những bảo đảm trên chỉ nhằm vào việc kiện tụng về quyền lợi của các trái chủ trong cùng một kỳ phát hành. Nếu bản án xét xử là một chủ nợ thắng kiện có liên quan đến quyền lợi chung của tất cả, thì sẽ có hiệu lực chấp hành đối với những chủ nợ khác dù rằng những người này không có tham dự trong bản án ấy. Như vậy, chỉ cần một chủ nợ được xử thắng kiện, một quyền lợi có tính đại diện cho quyền lợi chung, thì các chủ nợ khác cũng có thể buộc công ty phải thi hành đối với mình. 5. Bản chất pháp lý của trái phiếu và cổ phiếu. Về mặt lý thuyết trái phiếu và cổ phần có nhiều chỗ giống nhau. Hai thứ cùng có giá trị bằng những chứng khoán có ghi tên hoặc không ghi tên. Hai thứ cùng không thể chia ra cho vốn nhỏ hơn được. Hai thứ cùng có tính cách động sản. Nhưng giữa hai thứ có nhiều điểm khác nhau: Về bản chất người có cổ phần là hội viên của công ty, người có trái phiếu là chủ nợ của công ty, khi nợ đã được thanh toán cả vốn và lãi thì quan hệ giữa hai bên chấm dứt. Ngoài ra còn có các khác biệt. - Lợi tức của trái phiếu thường tính theo một tỷ lệ nhất định, trái lại, lợi tức của cổ phần thì hay thay đổi bấp bênh, vì nó phụ thuộc vào số tiền lãi hàng năm của công ty. Vì vậy, cổ phần là loại chứng khoán đầu cơ, còn trái phiếu là loại chứng khoán cho vay kiếm lời. - Về mặt pháp lý, việc mua trái phiếu là hành vi dân sự, còn việc mua cổ phần được coi là hành vi thương mại. - Khi nào các chủ nợ chưa được trả lãi số tiền họ cho vay, các cổ đông không có quyền được chia lợi tức. Trong trường hợp thanh toán công ty , các cổ đông chỉ được hoàn lại tiền sau khi công ty đã trả hết cho các chủ nợ theo trị giá đăng ký ghi trên chứng khoán cũ trái phiếu. - Cổ đông là chủ sở hữu của công ty, họ có quyền tham dự đại hội đồng cổ đông bỏ phiếu bầu quản trị viên. Các chủ nợ cũng họp nhau thành đại hội đồng chủ nợ nhưng mục đích là để thảo luận và quyết nghị về quyền lợi riêng của họ, chứ không phải là sự điều hành công ty. IV. Tổ chức điều hành và hoạt động của công ty cổ phần . 1. Mô hình tổ chức của công ty cổ phần. Mô hình tổ chức quản lý của công ty cổ phần đựơc thể hiện qua sơ đồ sau: Đại hội đồng cổ đông Chủ tịch HĐQT; Ban kiểm soát Tổng giám đốc hoặc giám đốc điều hành Phó GĐ hoặc GĐ chuyên môn Phó GĐ hoặc GĐ chuyên môn Phó GĐ hoặc GĐ chuyên môn Phòng ban chuyên môn Phòng ban chuyên môn Phòng ban chuyên môn Phòng ban chuyên môn Phòng ban chuyên môn Phòng ban chuyên môn 2. Đại hội đồng cổ đông. Đại hội đồng cổ đông là đại hội của những người đồng sở hữu đối với công ty cổ phần. Đó là cơ quan cao nhất quyết định mọi vấn đề có liên quan đến sự tồn tại và hoạt động của công ty. Đại hội đồng cổ đông có 3 hình thức: - Đại hội đồng thành lập: được triệu tập để tiến hành các thủ tục thành lập, thảo luận và thông qua điều lệ công ty. - Đại hội đồng bất thường: được triệu tập để sửa đổi điều lệ công ty - Đại hội đồng thường niên: được triệu tập vào cuối năm tài chính hoặc bất kỳ lúc nào mà hội đồng quản trị kiểm soát viên thấy cần thiết để giải quyết các công việc thuộc hoạt động kinh doanh của công ty trong khuôn khổ điều lệ. a. Đại hội đồng thành lập Đại hội đồng thành lập được triệu tập để tiến hành các thủ tục thành lập, thảo luận và thông qua điều._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docI0162.doc