Định hướng phát triển & Một số giải pháp thay đổi cơ cấu cây ăn quả tại vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long

Tài liệu Định hướng phát triển & Một số giải pháp thay đổi cơ cấu cây ăn quả tại vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long: LỜI MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Trên thế giới, những nước càng có mức sống cao thì nhu cầu tiêu thụ sản phẩm trái cây càng lớn đặc biệt là hoa quả tươi. Chúng là một phẩn không thể thiếu trong mỗi bữa ăn của họ. Hoa quả tươi là một món ăn rất có ích nó không chỉ cung cấp chất khoáng và nhiều loại Vitamin khác nhau, hoa quả còn có tác dụng rất tốt trong việc tiêu hoá thực phẩm. Ở một nước phát triển, cây ăn quả được coi là một ngành kinh tế quan trọng, thúc đẩy sự phát triển ngành nông ... Ebook Định hướng phát triển & Một số giải pháp thay đổi cơ cấu cây ăn quả tại vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long

doc72 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1688 | Lượt tải: 1download
Tóm tắt tài liệu Định hướng phát triển & Một số giải pháp thay đổi cơ cấu cây ăn quả tại vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
nghiệp nói riêng và nền kinh tế xã hội nói chung. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, một số nước không có điều kiện để phát triển cây ăn quả hoặc trình độ sản xuất cây ăn quả nằm ở mức thấp, không tự đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng hoa quả do đó Nhà nước phải có những chính sách nhập khẩu quả tươi. Sự điều phối thị trường mua bán hoa quả cả sản phẩm tươi cũng như sản phẩm chế biến, tạo nên sự giao lưu hàng hoá ngày càng rộng rãi và trở thành một nhân tố kích thích cho sự phát triển cây ăn quả trên phạm vi toàn thế giới. Ở Việt Nam, sau khi vấn đề lương thực được giải quyết một cách cơ bản thì nhu cầu trái cây tươi ngày càng một gia tăng ( bình quân tiêu dùng trái cây/ đầu người một năm là 60kg trong năm 2000 và dự báo đến năm 2010 là 70kg). Sự giao lưu hàng hoá trái cây giữa các vùng miền trong cả nước diễn ra khá sôi động. Tạo ra một thị trường trái cây phong phú và đa dạng. Trong những năm trước đây việc sản xuất trái cây chưa đựơc quan tâm đúng mực, tốc độ phát triển chậm và còn mang tính tự phát, kim ngạch xuất khẩu trái cây thấp, ngay cả tiêu thụ nội địa cũng chưa đáp ứng nhu cầu. Ngày nay đời sống được nâng lên đồng nghĩa với việc nhu cầu trái cây đang có xu hướng ngày càng tăng đứng trước điều đó nhà nước ta nhận thấy được tầm quan trọng của ngành cây ăn trái đối với nền kinh tế. Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long được coi là vựa trái cây lớn nhất cả nứơc, vùng có rất nhiều trái cây đặc sản như sầu riêng, xoài, chôm chôm, măng cụt, mãng cầu… Trong thời gian qua, Đồng Bằng Sông Cửu Long mặc dù có nhiều chương trình quan tâm đến sản xuất cây ăn quả nhưng nhận thấy kết quả sản xuất vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của vùng. Thực trạng sản xuất trái cây của vùng còn chưa hình thành các khu vực trồng cây ăn quả tập trung với quy mô lớn với các loại cây ăn quả chiến lược. Việc chú trọng đầu tư vào khâu thu hoạch và khâu bảo quản còn chưa cao dẫn đến hiệu quả kinh tế chưa cao. Phát triển cây ăn qủa là một giải pháp tốt cho việc giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội: Phát triển sản xuất một cách lâu dài và ổn định, phù hợp với nền nông nghiệp của vùng. Với ý nghĩa đó, chuyên đề “Định hướng phát triển và một số giải pháp thay đổi cơ cấu cây ăn quả tại vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long” đã ra đời. 2. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu hiện trạng sản xuất, chế biến và tiêu thụ trái cây, từ việc đánh giá những kết quả đã đạt đựơc trong thời gian qua đến những tồn tại cần phải được khắc phục. Nghiên cứu quá trình chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng ở trong vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long qua đó xác định được giống cây trồng cho chất lượng kinh tế cao. Đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất cây ăn quả của vùng, đồng thời đề xuất những giải pháp thực hiện, tiêu thụ trái cây của vùng. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu Giống cây ăn trái chủ lực được trồng và phát triển ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Mối quan hệ giữa thị trường trái cây trong và ngoài nước. Các nhân tố thúc đẩy phát triển, các nhân tố đang là rào cản và từ đó đưa ra các phương hướng và giải pháp phát triển. 3.2 Phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu tiến hành trên phạm vi toàn bộ vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long 4. Nội dung của đề tài bao gồm LỜI MỞ ĐẦU NỘI DUNG Chương I: Vai trò của ngành trông cây ăn quả trong quá trình phát triển kinh tế xã hội tại Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long Chương II: Phân tích thực trạng và quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành trồng cây ăn quả tại Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Chương III: Định hướng và một số giải pháp thay đổi cơ cấu cây ăn quả tại Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long KẾT LUẬN NỘI DUNG Chương I: Vai trò của ngành trông cây ăn quả trong quá trình phát triển Điều kinh tế xã hội tại Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long 1.1 Điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế xã hội của Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long: Đồng bằng sông Cửu Long nằm ở cực Nam nước ta, kéo dài từ 110 đến khoảng 8030’vĩ độ Bắc. Toàn vùng nằm trong vòng đai nhiệt đới ẩm điển hình, có khí hậu nóng ẩm quanh năm. Diện tích tự nhiên là 40604.7 km2, chiếm khoảng 12% diện tích cả nước. Theo số liệu thống kê năm 2006, dân số ở đây là 17.415.500 người, chiếm 22% dân số của cả nước, mật độ dân số trung bình là 429 người/km2. Đồng Bằng Sông Cửu Long gồm các tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Kiên Giang, An Giang, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau. Đây là vùng trọng điểm lương thực và thực phẩm của nước ta. 1.1.1 Vị trí địa lý, khí hậu. 1.1.1.1 Vị trí địa lý. Đồng Bằng Sông Cửu Long có một lịch sử hình thành khá phức tạp. Đây là vùng châu thổ tạo thành nằm ở cửa sông Mê Kông, chảy qua nhiều nước mới đến Việt Nam. Đồng Bằng Sông Cửu Long bao gồm bộ phận châu thổ chính là phần thượng châu thổ, hạ châu thổ và dải đồng bằng phụ cận bán đảo Cà Mau. Phần thượng châu thổ là dải phù sa rất phì nhiêu, phần lớn bề mặt gồm những vùng trũng rộng lớn như ở Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên. Phần hạ châu thổ bắt đầu từ nơi hai con sông Tiền và sông Hậu phân nhánh tiếp giáp với biển. Đồng bằng hạ châu thổ thường xuyên chịu tác động của thủy triều và sóng biển, phần lớn đồng bằng ở đây được tạo thành bởi những đảo nhỏ. Đồng Bằng Sông Cửu Long có một vị trí địa lý hết sức quan trọng. Nằm ở Tây Nam Bộ, phần cuối của bán đảo Đông Dương, liền kề với vùng kinh tế trọng điểm phía nam, đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh, nên Đồng Bằng Sông Cửu Long có mối quan hệ kinh tế - xã hội hai chiều rất đa dạng. Nhờ có đường biên giáp Campuchia, là phần nối tiếp của Đông Nam Bộ theo chiều dài của đất nước, các tỉnh duyên hải của Tây Nam Bộ giáp biển, có đường giao thông hàng không và hàng hải quốc tế giữa Đông Á và Nam Á, Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Do đó Đồng Bằng Sông Cửu Long có điều kiện giao lưu và mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các nền kinh tế năng động trong khu vực để phát triển kinh tế. Đồng Bằng Sông Cửu Long được phủ lên một mạng lưới sông rạch, kênh đào dày đặc. Tổng lượng nước ngọt của hệ thống sông Cửu Long là 5 tỷ m3. Lượng nước phân bổ không đều theo mùa mưa, bắt đầu từ tháng 7 tháng 8, kết thúc vào tháng 11 tháng 12 dễ gây ngập lụt; mùa khô, nguồn nước giảm dần. Lượng nước ngầm có trữ lượng lớn khoảng 84 triệu m3/ ngày, hiện chỉ khai thác và sử dụng 1triệu m3 /ngày. Nước được sử dụng vào tưới tiêu, tẩy mặn, rửa chua. Vùng có 736km bờ biển với nhiều cửa sông và vịnh, điều kịên thuận lợi để phát triển rừng ngập mặn chủ yếu là tràm, dừa, khoảng 150.000ha là môi trường sinh thái tự nhiên có ý nghĩa lớn về phương diện kinh tế. Cấu trúc địa hình đất đai ở Đồng Bằng Sông Cửu Long có đặc trưng là những sống đất ven sông và đất vùng duyên hải cao ráo, do có sự bồi đắp phù sa mạnh mẽ của Sông Cửu Long đổ về sông Tiền, sông Hậu ở Nam Bộ và qua một mạng lưới kênh rạch và cửa sông. Do đặc điểm địa hình của vùng sóng triều tác động sâu vào đất liền, chu kỳ của thủy triều cũng đã ảnh hưởng rất lớn tới lưu thông đường thủy, cũng như hoạt động sinh hoạt hàng ngày của người dân trong vùng. 1.1.1.2 Về khí hậu. Khí hậu vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long mang tính chất nhiệt đới ẩm, cận xích đạo, nhiệt độ cao, ít chênh lệch trong năm. Khí hậu chia thành hai mùa là khô và mùa mưa, ít có bão. Lượng mưa trung bình là 1.580 mm nhưng phân bổ không đều theo lãnh thổ. Vào mùa mưa hiện tượng ngập lụt thường xuyên xảy ra. Mùa khô hầu như không có mưa dẫn đến nguồn nước giảm nhiều thường hay gây ra hiện tượng hạn hán kéo dài. 1.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội của Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long 1.1.2.1 Về cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng, giao thông, thủy lợi. Trong những năm gần đây, đầu tư của Nhà nước, tập thể tư nhân đã góp phần tích cực tăng thêm cơ sở vật chất kỹ thuật trong nông nghiệp. Điện khí hóa nông thôn đã có những chuyển biến tích cực. Hệ thống điện cung cấp cho vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long đã hòa vào mạng lưới điện quốc gia. Đồng Bằng Sông Cửu Long đã có hệ thống kênh rạch chằng chịt. Tuy nhiên vẫn thấy thiếu công trình chống lũ, chống mặn do sự xâm nhập của thủy triều. Hằng năm lũ lụt đã làm mất hàng chục hecta. Hệ thống sông, kênh, rạch ở Đồng Bằng Sông Cửu Long nhiều năm không được nạo vét, khai thông luồng lạch cùng với tình trạng thiếu bến, thiếu cảng nên giao thông thủy còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng kịp yêu cầu đặt ra trong phát triển kinh tế. Vì vậy, để mở rộng sản xuất và bảo đảm được thành quả lao động, cần có sự đầu tư lớn về thủy lợi nhằm bảo vệ và cải tạo một số vùng đất đai thuộc Đồng Bằng Sông Cửu Long. Cấu trúc đường bộ, đường thủy thấp và thiếu đồng bộ. Những tuyến giao thông đường bộ trọng yếu, nhiều cầu đã hư hỏng, tải trọng thấp. Tỷ lệ đường nhựa trong tổng số chiều dài đường bộ ở Đồng Bằng Sông Cửu Long mới đạt 5.2%, thấp nhất so với bảy vùng trong nước. Thực tế cho thấy, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật ở Đồng Bằng Sông Cửu Long phát triển không đều và còn nhiều yếu kém, chưa đủ sức đáp ứng vai trò thúc đẩy sự chuyển biến kinh tế nông thôn. Nếu so với tình hình chung cả nước, thì cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật ở đây còn nhiều yếu tố bất cập rất lớn trong phát triển kinh tế tương ứng với vị thế của vùng đất có vị trí kinh tế quan trọng, ẩn chứa những tiềm năng kinh tế nhất định. Đặc biệt trong phát triển nông nghiệp, tình trạng lũ lụt, phèn mặn ở đồng bằng sông Cửu Long đòi hỏi phải có hệ thống thuỷ lợi khả năng cải tạo được tự nhiên mới đảm bảo cho nông nghiệp phát triển theo hướng đa canh, thâm canh để nâng cao số lượng, chất lượng nông phẩm. 1.1.2.2 Về dân số và lao động Tính đến năm 2007, diện tích vùng đồng bằng Sông Cửu Long là 40604.7 km2 dân số vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long gần 17.415 triệu người, mật độ dân số là 429 người/km2. Thành phần dân tộc chủ yếu là người Việt, dân tộc ít người chủ yếu là người Khơme. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên và cơ học những năm qua đều cao. Sự gia tăng dân số đã góp phần cung cấp thường xuyên nguồn nhân lực cho việc phát triển kinh tế. Tuy vậy, khi nền kinh tế ở trình độ còn thấp kém, kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, công nghiệp và dịch vụ chưa phát triển, thì sự gia tăng dân số sẽ gây sức ép đối với nền kinh tế. Tình trạng dân số tăng, nhưng đất đai canh tác lại có giới hạn nên vấn đề việc làm của toàn xã hội. Dân cư phân bố không đều, sự chênh lệch thể hiện giữa các tỉnh khá rõ nét. Chính sự phân bố không đều về dân cư cũng gây ra hiện tượng thừa, thiếu lao động giữa các địa phương trong vùng. Mặt khác con người là yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội, nhưng học vấn của dân cư ở đây lại thấp và ngày càng tụt hậu so với các vùng đô thị. 1.1.2.3 Về cơ cấu kinh tế Trọng tâm hoạt động kinh tế của Đồng Bằng Sông Cửu Long là sản xuất nông nghiệp. Giá trị sản lượng nông nghiệp tính theo giá cố định năm 1994, thì năm 2000 đạt 40625.1 nghìn tỷ đồng, năm 2002 đạt 44269.0 nghìn tỷ đồng, năm 2003 đạt 44667.9 nghìn tỷ đồng, năm 2004 đạt 45763.2 nghìn tỷ đồng, năm 2005 đạt 47769.8 nghìn tỷ đồng năm 2006 đạt 47837.4 nghìn tỷ đồng. Như vậy, nếu so với năm 2000, tốc độ tăng nông nghiệp năm 2002 là 8.97%, năm 2003 là 9.95%, năm 2004 là 12.6%, năm 2005 là 17.6%, năm 2006 là 17.8%. Trong nông nghiệp, sản xuất lương thực chiếm tỷ trọng lớn so với các vùng khác trong cả nước. Ngoài trồng cây lương thực, các địa phương vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long còn trồng các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, thực phẩm khác. Về công nghiệp thì chủ yếu là các cơ sở nhỏ bé, hình thức phổ biến là tổ chức dưới dạng tự nhiên, hợp tác xã sản xuất tiểu thủ công nghiệp, trang bị kỹ thuật trong sản xuất còn lạc hậu, vì thế sản phẩm chủ yếu đáp ứng nhu cầu tiêu dung của các địa phương. Ngành xây dựng còn kém phát triển, tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá thấp. Ngành xây dựng đã thu hút được 1.7% lao động xã hội, tạo ra 4% GDP của vùng. Hoạt động kinh tế dịch vụ bước đầu có chuyển biến đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống, góp phần mở rộng giao lưu hợp tác kinh tế giữa các vùng trong cả nước. Kinh tế dịch vụ đã góp phần quan trọng thúc đẩy nông nghiệp phát triển và tác động đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hang hoá đáp ứng kịp thời cho sản xuất và tiêu dùng, đảm bảo đầu ra và thu hút nhiều việc làm ở nông thôn. Đây là ngành dễ thu hút các thành phần kinh tế tham gia, có khả năng tạo GDP cho nền kinh tế nhanh, có khả năng tác động tạo đa dạng hoá ngành nghề ở nông thôn, thu hút lao động thừa trong nông nghiệp. Ngành du lịch, cơ sỏ vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn, hoạt động còn đơn điệu, khả năng thu hút khách còn hạn chế. Nhìn chung, tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP có giảm, nhưng giá trị tuyệt đối vẫn tăng, điều này phản ánh hiện trạng kinh tế với nông nghiệp là cơ bản, công nghiệp, dịch vụ chiếm tỷ trọng nhỏ, xu hướng tăng chậm. Nhiều vùng nông thôn sản xuất còn mang tính thuần nông, kinh tế tự cấp, tự túc còn chiếm tỷ trọng khá lớn trong nền kinh tế. Sản xuất ở nông thôn phân tán theo quy mô hộ gia đình, với lao động thủ công là phổ biến. Do vậy, phần lớn cư dân và lao động thủ công vẫn tập trung ở khu vực nông nghiệp nông thôn. Lao động thừa ở nông thôn tràn ra thành thị lam gay gắt thêm tình trạng thừa lao động ở đô thị. 1.2 Vai trò của ngành nông nghiệp và ngành trồng cây ăn quả 1.2.1 Vai trò của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp. Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học - kỹ thuật, bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học – cây trồng, vật nuôi. Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi, ngành dịch vụ. Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng thì còn bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thủy sản. 1.2.1.1 Ngành nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm cho nhu cầu xã hội. Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển. Ở những nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông. Tuy nhiên ở những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản cuả các nước này khá lớn và không ngừng tăng, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống cho con người những sản phẩm tối cần thiết đó là lương thực, thực phẩm. Lương thực thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Xã hội càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu của con người về lương thực, thực phẩm cũng ngày càng tăng cả về số lượng, chất lượng và chủng loại. Điều đó do tác động của các nhân tố: sự gia tăng dân số và nhu cầu nâng cao mức sống của con người. Thực tiễn lịch sử các nước trên thế giới đã chứng minh, chỉ có thể phát triển kinh tế một cách nhanh chóng, chừng nào quốc gia đó đã có an ninh lương thực. Nếu không đảm bảo an ninh lương thực thì khó có sự ổn định chính trị và thiếu sự đảm bảo cơ sở pháp lý, kinh tế cho sự phát triển, từ đó sẽ làm cho các nhà kinh doanh không yên tâm bỏ vốn vào đầu tư dài hạn. 1.2.1.2 Cung cấp yếu tố đầu vào cho phát triển công nghiệp và khu vực đô thị Nông nghiệp của các nước đang phát triển là khu vực dự trữ và cung cấp lao động cho phát triển công nghiệp và đô thị. Khu vực nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến. Thông qua công nghiệp chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp nâng lên nhiều lần, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá, mở rộng thị trường… Khu vực nông nghiệp là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự phát triển kinh tế trong đó có công nghiệp, nhất là giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, bởi vì đây là khu vực lớn nhất, xét cả về lao động và sản phẩm quốc dân. Nguồn vốn từ nông nghiệp có thể được tạo ra bằng nhiều cách, như tiết kiệm của nông dân đầu tư vào các hoạt động phi nông nghiệp, thuế nông nghiệp, ngoại tệ thu được do xuất khẩu nông sản… trong đó thuế có vị trí rất quan trọng. 1.2.1.3 Làm thị trường tiêu thụ của công nghiệp và dịch vụ Nông nghiệp và nông thôn là thị trường tiêu thụ lớn của công nghiệp. Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp, bao gồm tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất Sự thay đổi về cầu trong khu vực nông nghiệp, nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nông nghiệp. Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập dân cư nông nghiệp, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp tăng, thúc đẩy công nghiệp phát triển, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm của nông nghiệp và có thể cạnh tranh với thị trường thế giới. 1.2.1.4 Nông nghiệp tham gia vào xuất khẩu Nông nghiệp được coi là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn. Các loại nông, lâm thủy sản dễ dàng gia nhập thị trường quốc tế hơn so với các hàng hóa công nghiệp. Vì thế, ở các nước đang phát triển, nguồn xuất khẩu để có ngoại tệ chủ yếu dựa vào các loại nông, lâm, thủy sản. Tuy nhiên xuất khẩu nông, lâm thuỷ sản thường bất lợi do giá cả trên thị trường thế giới có xu hướng giảm xuống, trong lúc đó giá cả sản phẩm công nghiệp tăng lên, tỷ giá kéo khoảng cách giữa hàng nông nghiệp và hàng công nghệ ngày càng mở rộng làm cho nông nghiệp, nông thôn bị thua thiệt so với công nghiệp và đô thị. Gần đây một số nước đa dạng hoá sản xuất và xuất khẩu nhiều loại nông lâm thuỷ sản, nhằm đem lại nguồn ngoại tệ đáng kể cho đất nước. 1.2.1.5 Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự phát triển bền vững của môi trường vì sản xuất nông nghiệp gắn liền trực tiếp với môi trường tự nhiên: đất đai, khí hậu, thời tiết, thủy văn. Nông nghiệp sử dụng nhiều hoá chất như phân bón hoá học, thuốc trừ sâu bệnh … làm ô nhiễm đất và nguồn nước. Quá trình canh tác dễ gây ra xói mòn ở các triền dốc thuộc vùng đồi núi và khai hoang mở rộng diện tích đất rừng… vì thế trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, cần tìm những giải pháp thích hợp để duy trì và tạo ra sự phát triển bền vững của môi trường. 1.2.2 Vai trò của ngành trồng cây ăn quả đối với ngành trồng trọt và đối với kinh tế nông nghiệp 1.2.2.1 Vai trò của ngành trồng trọt Ngành trồng trọt là ngành sản xuất chủ yếu của sản xuất nông nghiệp. Ở nước ta hàng năm ngành trồng trọt còn chiếm tới 75% giá trị sản lượng nông nghiệp. Sự phát triển ngành trồng trọt có ý nghĩa kinh tế rất to lớn. Ngành trồng trọt là ngành sản xuất và cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người. Phát triển ngành trồng trọt sẽ nâng cao mức sản xuất và tiêu dùng lương thực, thực phẩm bình quân trên đầu người, tạo cơ sở phát triển nhanh một nền nông nghiệp toàn diện. Là ngành sản xuất và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ, ngành trồng trọt phát triển theo hướng mở rộng tỷ trọng diện tích các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu và cây thực phẩm có giá trị kinh tế cao để đáp ứng nhu cầu nguyên liệu phát triển công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp chế biến. Phát triển ngành trồng trọt sẽ đảm bảo nguồn thức ăn dồi dào và vững chắc cho ngành chăn nuôi, thúc đẩy sự hình thành các vùng chuyên canh sản xuất cây thức ăn và phát triển công nghiệp chế biến thức ăn cho chăn nuôi, trên cơ sở đó chuyển dần chăn nuôi theo hướng sản xuất tập trung và thâm canh cao. Ngành trồng trọt phát triển có ý nghĩa to lớn và quyết định đến việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Ngành trồng trọt phát triển làm cho năng suất cây trồng tăng, đặc biệt là năng suất cây lương thực tăng sẽ chuyển nền sản xuất nông nghiệp từ độc canh lương thực sang nền nông nghiệp đa canh có nhiều sản phẩm hàng hoá giá trị kinh tế cao đáp ứng nhu cầu thị trường và góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá. 1.2.2.2 Vai trò của ngành trồng cây ăn quả Từ xưa đến nay trái cây luôn là nguồn thức ăn có sẵn trong tự nhiên của con người, giá trị dinh dưỡng và sinh tố của các loại quả đã khiến trái cây luôn đựơc con người sử dụng ngày càng nhiều trong cuộc sống đời thường. Theo tài liệu nghiên cứu của FAO sản lượng các loại trái cây toàn thế giới thời kỳ 1989-1991 là 352 triệu tấn/năm, đến năm 2000 đã tăng lên đạt 429.4 triệu tấn/năm (tăng 22%). Năm 2000 sản lượng bình quân đầu người trên thế giới là 73kg. Năm 2000 tốc độ tiêu thụ trái cây tăng lên rõ rệt, trong khi các loại nông sản chủ yếu khác đều giảm đi. Rau quả chiếm vị trí đáng kể trong cơ cấu nông sản xuất khẩu ở nhiều nước trên thế giới. Theo FAO tỷ trọng rau quả trong tổng giá trị nông sản xuất khẩu năm 1996 ở một số nước như sau: Trung Quốc 23.8%; Thái Lan 18.1% ; Hàn Quốc 14.4%. Theo số liệu thống kê trong những năm gần đây (1996-2000), diện tích cây ăn quả cả nước tăng lên nhanh và liên tục, từ 260.9 ngàn ha năm 1996 lên đến 438.8 ngàn ha vào năm 2000 Giá trị sản xuất cây ăn quả trong 5 năm qua cũng tăng lên liên tục, song tốc độ tăng chưa tương xứng với mức tăng diện tích trồng, vì cây ăn quả phải trải qua một thời kỳ chăm sóc từ 2 đến 4 năm mới bắt đầu có quả và năng suất sẽ tăng lên dần. Do vậy tỷ trọng cây ăn quả trong cơ cấu giá trị sản xuất trồng trọt trong 5 năm qua không tăng, bình quân là 8.3%. Tính ra năm 2000 cây ăn quả mới chiếm 7.9% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp cả nước. 1.2.3 Kinh nghiệm một số nước về phát triển ngành trồng cây ăn quả 1.2.3.1 Kinh nghiệm của Thái Lan Thái Lan đang phát triển một nền nông nghiệp phát triển với sự đa dạng hóa và chuyên môn hóa nhiều loài vật nuôi và cây trồng ở mỗi vùng, miền trong cả nước và hướng vào mục tiêu xuất khẩu. Vấn đề tăng năng suất, chất lượng và giảm thành nông sản xuất khẩu là những mối quan tâm hàng đầu của Thái Lan. Các mặt hàng nông sản xuất khẩu của Thái Lan có năng suất cao, giá thành hạ và chất lượng cao. Chẳng hạn, năng suất dứa Thái Lan đạt 24.5 tấn/ha trong khi đó của Việt Nam là 13 tấn/ha. Giá sầu riêng của Thái Lan thấp hơn 3 lần giá sầu riêng Việt Nam. Gạo chất lượng cao của Thái Lan chiếm trên 70% tổng khối lượng gạo xuất khẩu trong khi tỷ lệ này ở Việt Nam là 40%. Chính phủ Thái Lan có chính sách lựa chọn sản phẩm xuất khẩu và thị trường xuất khẩu. Từ chính sách khai hoang, phục hoá, tổ chức từng khu vực kinh tế mới ở vùng sâu, vùng xa, Thái Lan đã tăng cường hỗ trợ ban đầu cho các khu vực này. Chính phủ Thái Lan coi trọng việc tận dụng điều kiện tự nhiên thuận lợi để phải triển một nền nông nghiệp có đủ các ngành nghề, chủng loại cây trồng và vật nuôi. Thái Lan luôn dẫn đầu thế giới về xuất khẩu gạo. Để nâng cao giá trị gia tăng của các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu, Thái Lan có các chính sách: Chính sách tín dụng có lợi cho nông dân. Nông dân Thái Lan có thể tiếp cận đến nguồn tín dụng thông qua hai nguồi chính thức và nguồi không chính thức. Nguồn tín dụng không chính thức có xu hướng mở rộng để tạo điều kiện tiếp cận thuận lợi đối với nông dân. Thực hiện việc hỗ trợ cho nông nghiệp Thái Lan theo dạng hộp “màu xanh da trời” Quy hoạch vùng cung ứng nguyên liệu quy mô lớn các sản phẩm của ngành trồng cây ăn quả để giảm giá sản phẩm thu mua. Đồng thời, có biện pháp để tăng công suất sử dụng của các cơ sở chế biến nông sản. Đầu tư vào việc nghiên cứu và ứng dụng các loại trái cây có chất lượng cao kể cả việc nhập khẩu các loại giống cây có chất lượng cao từ các nước có nền nông nghiệp phát triển. Thái Lan đã xây dựng những trung tâm nghiên cứu và phát triển các giống cây trồng và vật nuôi chất lượng cao như giống lúa, sắn lát và các loại gia súc gia cầm. Đầu tư vào khâu chế biến và bảo quản đồng bộ đặc biệt là việc đầu tư vào việc thiết kế và sản xuất bao bì hấp dẫn người mua. Các cơ sở chế biến nông sản của Thái Lan thường có quy mô lớn. Phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và xuất khẩu nông sản như thành lập các điểm thu mua trái cây, kho chứa, bến bãi, cảng chuyên dùng cho xuất khẩu trái cây. Các chi phí bốc xếp hàng nông sản xuất khẩu và các chi phí có liên quan ở Thái Lan thấp hơn ở Việt Nam hai lần. Đầu tư vào khâu tiêu thụ, quảng bá và phát triển thương hiệu sản phẩm trong và ngoài nước. Đa dạng hóa các sản phẩm trái cây xuất khẩu. Bên cạnh việc xuất khẩu trái cây, Thái Lan còn phát triển mạnh các sản phẩm được chế biến từ trái cây. Coi trọng việc học tập kinh nghiệm của các nước có nền nông nghiệp phát triển. Thái Lan là một nước có quan hệ thân thiện với Mỹ - một nước có nền nông nghiệp phát triển cao. Thái Lan đã coi trọng việc học tập kinh nghiệm của Mỹ là một có nền nông nghiệp đã được thương mại hoá khá cao và chú trọng việc khai thác thị trường xuất khẩu quan trọng của Mỹ. Điểm nổi bật đối với trường hợp của Thái Lan là Thái Lan đặc biệt coi trọng đến việc nâng cao giá trị gia tăng của nông sản trong khâu tiêu thụ thông qua việc quảng bá, phát triển thương hiệu. Thái Lan coi trọng rất lớn đến việc phát triển nhãn hiệu thương mại của sản phẩm theo từng thị trường. Việc tạo dựng thương hiệu các sản phẩm theo từng thị trường. Việc tạo dựng thương hiệu các sản phẩm của Thái Lan trên thị trường thế giới có thể do yếu tố tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu. Thái Lan còn đặt chính sách sản phẩm lên hàng đầu để bảo đảm chất lượng sản phẩm xuất khẩu của doanh nghiệp. Sản phẩm xuất khẩu của Thái Lan rất đa dạng và người tiêu dùng đánh giá cao chất lượng sản phẩm này với giá cả hơn giá hàng Việt Nam từ 5% đến 7%. Chất lượng là vấn đề cần quan tâm. Thái Lan Thái Lan đã tạo lập được thói quen tiêu dùng với nhiều mặt hàng như gạo, trái cây… Chủ yếu thông qua việc phát triển công nghệ chế biến, bảo quản sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm. Thái Lan đầu tư rất lớn vào thiết bị, dây chuyền công nghệ tiên tiến, đảm bảo điều kiện vận tải, kỹ thuật đóng gói hiện đại, đáp ứng yêu cầu của thị trường … Mẫu mã và bao bì hàng hoá được thiết kế đẹp. Hàng hoá được bảo quản tốt. Các doanh nghiệp Thái Lan rất chú trọng nhiều đến xây dựng, đăng ký và quảng bá thương hiệu. Các doanh nghiệp Thái Lan luôn duy trì mối quan hệ trực tiếp với các cơ quan thúc đẩy xuất khẩu như Cục xúc tiến xuất khẩu, Uỷ ban phát triển xuất khẩu, các công ty thương mại quốc tế. Các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản thường tham gia cac phái đoàn của Chính phủ đàm phán cac hợp động dài hạn về xuất khẩu nông sản. 1.2.3.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc Chính sách của Trung Quốc hướng vào việc nâng cao giá trị gia tăng của trái cây sản xuất khẩu bắt đầu từ những năm cải cách và mở cửa nền kinh tế. Trên cơ sở nhận định về các xu hướng phát triển nhu cầu về các sản phẩm từ trái cây trên thế giới là rất lớn, nắm bắt được xu hướng này Trung Quốc đã đầu tư rất lớn vào việc nâng cao giá trị gia tăng hàng nông sản đặc biệt là các sản phẩm được chế biến từ trái cây. Vấn đề nâng cao giá trị gia tăng hàng nông sản xuất khẩu gần như trở thành vấn đề trung tâm trong chính sách và chiến lược phát triển nền nông nghiệp Trung Quốc. Trung Quốc triệt để khai thác tác động của các xu hướng phát triển nhu cầu sản phẩm trái cây trên thế giới để phục vụ cho việc nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm trái cây xuất khẩu. Các xu hướng này chi phối việc xây dựng các chính sách, chương trình và kế hoạch nâng cao giá trị gia tăng hàng nông sản xuất khẩu đặc biệt là các sản phẩm từ trái cây được xuất khẩu. Đây là những xu hướng được Trung Quốc cân nhắc và sử dụng làm tiêu điểm để điều chỉnh các chính sách hiện có và xây dựng các chính sách mới. Các xu hướng được Trung Quốc cân nhắc và sử dụng làm tiêu điểm để điều chỉnh: Cải tạo kỹ thuật đối với những giống cây trồng truyền thống, thúc đẩy phát triển những giống cây trồng mới. Liên kết bốn nhà (vườn, vận chuyển, chế biến, tiêu thu) để cùng phát triển ngành trồng trọt Tăng cường nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai. Phát triển khoa học – kỹ thuật nông nghiệp là một quốc sách Coi trọng việc mở rộng giao lưu, hợp tác khoa học – kỹ thuật trên lĩnh vực nông nghiệp trên toàn thế giới. Có thể nói, các xu hướng phát triển của nền nông nghiệp thế giới xoay quanh việc làm gia tăng giá trị hàng nông sản kể cả các mặt hàng trái cây xuất khẩu trên cơ sở ứng dụng các kết quả nghiên cứu trên lĩnh vực khoa học – công nghệ. Trọng điểm phát triển khoa học – kỹ thuật nông nghiệp thế giới cũng đã được Trung Quốc tiếp cận hợp lý và tập trung đầu tư thỏa đáng. Các trọng điểm được áp dụng cho phù hợp như: Tận dụng hết tiềm lực và tính di truyền của giống cây ăn quả Duy trì và nâng cao độ màu mỡ của đất Bảo vệ và sử dụng hữu hiệu nguồn nước Nâng cao trình độ canh tác và trồng trọt một cách khoa học Cải tiến kỹ thuật chế biến, bảo quản và vận chuyển trái cây Phát triển mạnh công nghệ sinh học nông nghiệp. Chiến lược phát triển khoa học - kỹ thuật nông nghiệp Trung Quốc được xác định dựa trên nền tảng vững chắc của khoa học kỹ thuật hiện đại và và công nghiệp hiện đại làm trụ cột; chuyển một số giống cây ăn quả truyền thống mà không cho hiệu quả kinh tế sang phát triển và mở diện tích trồng cây ăn quả mới có hiệu quả kinh tế cao trên cơ sở khoa học kỹ thuật hiện đại. Tập trung sử dụng tối đa đất khai thác và các nguồn lực khác, nâng cao sức lao động và giá trị sản phẩm, xây dựng hệ thống kỹ thuật sản xuất hiện đại. Kết quả của việc áp dụng các chính sách và chiến lược trên đây là mặt hàng từ trái cây xuất khẩu của Trung Quốc có hàm lượng chế biến cao nghĩa là tỷ trọng giá trị gia tăng trong giá trị sản phẩm xuất khẩu rất lớn. Nhiều vùng chuyên canh phát triển các loại trái cây có quy mô lớn không chỉ để tiêu thụ trong nước mà còn để xuất khẩu. Đây là cách thức để giảm chi phí đối với nhà sản xuất và tăng khả năng cạnh tranh về giá bán trái cây. Chương II. Phân tích thực trạng và quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành trồng cây ăn quả tại Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Đồng Bằng Sông Cửu Long là vùng với diện tích trên 3 triệu ha đất nông nghiệp, hàng năm Đồng Bằng Sông Cửu Long cung cấp cho cả nước 70% sản lượng trái cây với gần 300.000 ha, sản lượng đạt 3.3 triệu tấn. Là vùng sản xuất cây ăn quả chủ yếu của nước ta. Thế nhưng trong những năm qua việc sản xuất và tiêu thụ trái cây của bà con nông dân gặp nhiều bất cập, từ khâu giống cây trồng, thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm … Nhiều năm qua, xuất khẩu trái cây của cả nước chưa đạt tới 10% sản lượng. Trong bối cảnh Việt Nam là thành viên của tổ chức Thương Mại Thế Giới (WTO) thì càng có nhiều sản phẩm cây ă._.n trái xuất hiện trên thị trường trong nước nhất là các sản phẩm cùng loại như: sầu riêng, bòn bon, măng cụt, nho… của Thái Lan, Trung Quốc đều có giá bán thấp hơn trái cây sản xuất tại vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, điều đó là một khó khăn và thách thức cho ngành sản xuất cây ăn quả Việt Nam trong những năm tới đây. 2.1 Phân tích thực trạng phát triển ngành trồng cây ăn quả của Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. 2.1.1 Thực trạng phát triển ngành trồng cây ăn quả của Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Đồng Bằng Sông Cửu Long có lợi thế là một trong những vùng đồng bằng châu thổ rộng và phì nhiêu ở Đông Nam Á và trên thế giới. Điều kiện tự nhiên là một trong những lợi thế: đất đai màu mỡ, nguồn nước tưới dồi dào và thời gian chiếu sang quanh năm rất thuận lợi để sản xuất nông nghịêp. Với diện tích tự nhiên là 4060.4 nghìn ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm 2575.9 nghìn ha tương ứng là 63.4%, diện tích đất lâm nghiệp là 356.2 nghìn ha tương ứng là 8.8%, đất chuyên dùng là 219.5 nghìn ha chiếm 5.4% và đất ở chiếm 2.7%. Bảng 2.1 Cơ cấu sử dụng ở đất của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long Đơn vị: nghìn ha tổng diện tích trong đó đất sx nông nghiệp đất lâm nghiệp đất chuyên dùng đất ở 4060.4 2575.9 356.2 219.5 1085.5 100% 63.40% 8.80% 5.40% 2.70% Nguồn: Niêm giám thống kê 2006 Trong vùng các hoạt động sản xuất nông nghiệp diễn ra sôi động vào loại nhất nước. Theo thống kê năm 2006 giá trị sản xuất nông nghiệp của Vùng đạt khoảng 47837.4 tỷ đồng tăng 67.6 tỷ đồng so với năm 2005. Năm 2007 ước đạt khoảng 47920.6 tỷ đồng tăng 83.2 tỷ đồng. Biểu đồ 2.1: Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá cố định năm 1994 Nguồn niên giám thống kê Trong tiến trình đổi mới, Đồng Bằng Sông Cửu Long đã chuyển sang sản xuất hàng hóa và hướng mạnh về xuất khẩu. Hàng năm Đồng Bằng Sông Cửu Long có mức đóng góp khoảng 18% GDP của cả nước, 90% sản lượng gạo xuất khẩu và chiếm gần 60% kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của cả nước. Vấn đề tự chủ cho người sản xuất, mà phần lớn là kinh tế nông hộ, về cơ bản đã được thực hiện. Đầu tư cho phát triển đã được tăng cường (trong 5 năm 2000-2005, đầu tư phát triển từ ngân sách khoảng 31790 tỷ đồng, chiếm khoảng 17% so với cả nước - tăng hơn 1,7 lần so với 5 năm 1996-2000). Kinh tế Đồng Bằng Sông Cửu Long đã tăng trưởng đáng kể - nếu tính theo giá cố định 1994 thì trong giai đoạn 2000-2006 GDP toàn vùng tăng bình quân hàng năm 9%. 2.1.1.1 Diện tích trồng cây ăn quả Trong cơ cấu đất nông nghiệp ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long: đất trồng lúa – màu chiếm 71.68%, đất nuôi trồng thuỷ sản chiếm 21.02%, đất trồng cây ăn trái chiếm 7.3%. Biểu đồ 2.2: Cơ cấu đất nông nghiệp vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long Nguồn số liệu theo báo nhà nông.net Cơ cấu đất nông nghiệp chuyển biến theo hướng tích cực, đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng giảm đất lúa, tăng đất trồng cây ăn trái và các loại rau màu thực phẩm. Theo số liệu thống kê, diện tích trồng cây ăn trái của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long trong những năm gần đây tăng khá nhanh, với tốc độ tăng bình quân đạt trên 8.5 %/năm. Hiện nay diện tích cây ăn trái ứơc khoảng 300 ngàn ha, sản lượng đạt 2.93 triệu tấn (chiếm 35.1% về diện tích cây ăn trái cả nước và 46.1% về sản lượng trái cây cả nước). 2.1.1.2 Về giống cây trồng Một số nơi nông dân thay giống mới và áp dụng kỹ thuật canh tác tiên tiến. Thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu cây trồng nhiều tỉnh có kế hoạch tăng diện tích cây ăn trái. Nhưng do gíá trái cây chính vụ thấp nên việc tiêu thụ giống cây ăn trái giảm mạnh kể cả số lượng xuất khẩu nhất là xuất khẩu sang Trung quốc, rất nhiều cây giống bị tồn đọng, nhất là ở Bến Tre. Trong khi các loại trái cây nói chung chưa xuất khẩu được nhiều thì mặt hàng dứa, nhất là dứa cô đặc có thị trường khả quan hơn. Do vậy những năm gần đây Nhà nước có chủ trương tăng diện tích trồng dứa Cayen - là giống dứa có năng uất cao gấp 2-3 lần giống dứa Qeen Victory được trồng phổ biến lâu nay – là nguyên liệu sản xuất nhiều sản phẩm mà thị trường đang có nhu cầu và giá cả cũng khả quan. Giá trái cây chính vụ giảm mạnh vào những lúc thu hoạch nhiều thì ngược lại giá trái cây trái vụ lại có giá cả cao hơn gấp ba lần, việc này đã khiến nhiều nông dân chuyển sang áp dụng kỹ thuật cho cây ra hoa trái vụ ngày càng phổ biến. Một số giống cây hiện đang được áp dụng nhiều như trên nhãn, thanh long, xoài, sầu riêng…làm cho thị trường gần như lúc nào cũng có trái cây các lọai. Cùng với xu hướng phát triển rau qủa hữu cơ ngày càng tăng trên thế giới ở Việt Nam ngành nông nghiệp cũng bắt đầu quan tâm xây dựng kế hoạch sản xuất rau quả hữu cơ, trồng không dung phân bón hóa học và thuốc trừ sâu. Dự án trồng nho hữu cơ Ninh Thuận (Bộ Khoa học Công Nghệ Môi trường tỉnh Ninh Thuận, Bộ Nông Nghiệp và phát triển Nông Thôn) đang thực hiện có kết quả, sẽ thúc đẩy phong trào trong cả nước. Các Viện, Trường và nông dân đã cải tạo được nhiều giống cây ăn trái ngon như: xoài cao sản Vĩnh Long, Xoài Tam an, mận An Phước- Đồng Nai, chanh, cam không hạt, sầu riêng cơm vàng hạt lép…Gần đây nhà nước thành lập nhiều khu nông nghiệp công nghệ cao như ở Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh… để áp dụng kỹ thuật trồng trọt nông sản rau quả tiên tiến rút ngắn cách biệt với thế giới. 2.1.1.2 Sản lượng trái cây Việt Nam là một trong những nước ở Đông Nam Á được thiên nhiên ưu đãi, có nhiều loại trái cây đặc sản, trong đó nhiều và đa dạng nhất ở các tỉnh Nam bộ. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 755.000 ha diện tích trồng cây ăn trái với sản lượng đạt 6,5 triệu tấn. Vùng đồng bằng sông Cửu Long là vùng có diện tích cây ăn quả lớn nhất, với gần 300 ngàn ha, sản lượng đạt 2,39 triệu tấn, chiếm 35,1% về diện tích và 46,1% về sản lượng trái cây cả nước, trong đó có một số loại trái cây có tiềm năng đạt sản lượng lớn như: Cam sành: được trồng tập trung ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, với diện tích 28,7 ngàn ha, cho sản lượng trên 200 ngàn tấn. Địa phương có sản lượng lớn nhất là tỉnh Vĩnh Long: năm 2005 cho sản lượng trên 47 ngàn tấn. Tiếp theo là các tỉnh Bến Tre (45 ngàn tấn) và Tiền Giang (42 ngàn tấn). Thanh long: được trồng tập trung chủ yếu ở Tiền Giang, có 2 ngàn ha. Thanh long là loại trái cây có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất so với các loại quả khác. Bưởi: Tổng diện tích bưởi Năm Roi là 9,2 ngàn ha, phân bố chính ở tỉnh Vĩnh Long (diện tích 4,5 ngàn ha cho sản lượng 31,3 ngàn tấn, chiếm 48,6% về diện tích và 54,3% về sản lượng bưởi Năm Roi cả nước); trong đó tập trung ở huyện Bình Minh: 3,4 ngàn ha đạt sản lượng gần 30 ngàn tấn. Xoài: cũng là loại cây trồng có tỷ trọng diện tích lớn của Việt Nam. Hiện có nhiều giống xoài đang được trồng ở nước ta; giống có chất lượng cao và được trồng tập trung là giống xoài cát Hoà Lộc. Xoài cát Hoà Lộc được phân bố chính dọc theo sông Tiền (cách cầu Mỹ Thuận khoảng 20-25 km) với diện tích 4,4 ngàn ha đạt sản lượng 22,6 ngàn tấn. Diện tích xoài Hoà Lộc tập trung chủ yếu ở tỉnh Tiền Giang (diện tích 1,6 ngàn ha, sản lượng 10,1 ngàn tấn); tiếp theo là tỉnh Đồng Tháp (873 ha, sản lượng 4,3 ngàn tấn). Măng cụt: là loại trái cây nhiệt đới rất ngon và bổ. Măng cụt phân bố ở 2 vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long và Đông Nam Bộ trong đó trồng chủ yếu ở Đồng Bằng Sông Cửu Long với tổng diện tích khoảng 4,9 ngàn ha, cho sản lượng khoảng 4,5 ngàn tấn. Tỉnh Bến Tre là nơi có diện tích tập trung lớn nhất: 4,2 ngàn ha (chiếm 76,8% diện tích cả nước). Tuy măng cụt là sản phẩm rất được giá trên thị trường nhưng việc mở rộng diện tích loại cây này hiện nay đang gặp nhiều trở ngại do thời gian kiến thiết cơ bản dài (5-6 năm), là cây thân gỗ lớn, chiếm nhiều diện tích đất và chỉ thích hợp với đất mầu ở các cù lao. Dứa: đây là một trong 3 loại cây ăn quả chủ đạo được khuyến khích đầu tư phát triển trong thời gian vừa qua nhằm phục vụ xuất khẩu. Các giống được sử dụng chính bao gồm giống Queen và Cayene; trong đó giống Cayene là loại có năng suất cao, thích hợp để chế biến (nước quả cô đặc, nước dứa tự nhiên…). Các địa phương có diện tích dứa tập trung lớn là Tiền Giang (3,7 ngàn ha), Kiên Giang (3,3 ngàn ha) 2.1.1.4 Về xuất khẩu Năm 2002 kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt khoảng 200 triệu USD giảm 40% so với 2001. Lý do là Trung quốc đã thực hiện quy chế nhập khẩu rau quả Việt Nam chặt chẽ hơn về chất lượng, an toàn thực phẩm, kiểm dịch, hải quan và quota trong lúc đó doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng kịp các yêu cầu đó nên lượng rau quả Việt Nam xuất sang Trung Quốc bị giảm hẳn. Tuy nhiên trong những năm trở lại đây xuất khẩu rau quả của nước ta có những bước tiến đáng kể. Kim ngạch xuất khẩu có xu hướng tăng. Cụ thể kim ngạch xuất khẩu rau quả của nước ta trong 2004 là 178,8 triệu USD, năm 2005 là 235,5 triệu USD và 2006 tăng lên 259 triệu USD và cuối cùng là năm 2007 kim ngạch xuất khẩu trái cây là 284.9 triệu USD. Biểu đồ 2.3 Kim ngạch xuất khẩu rau quả cả nước Nguồn số liệu theo báo nhà nông.net Tuy nhiên năng lực cạnh tranh của mặt hàng này trong xuất khẩu còn nhiều vấn đề cần quan tâm. Ở nước ta rau quả là một trong những ngành hàng có tiềm năng xuất khẩu lớn nhưng hiện trạng xuất khẩu rau quả của Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn. Nguyên nhân là chi phí vận chuyển tăng cao, phương tiện vận chuyển và bảo quản còn nhiều yếu kém gây ảnh hưởng đến chất lượng và tiêu chuẩn, giá thành không có tính cạnh tranh, không đủ khối lượng cung ứng theo nhu cầu, không có thương hiệu, chất lượng không cao và không đồng đều, phương thức thanh toán không linh hoạt... Giá rau quả Việt Nam thường đắt hơn so với rau quả cùng loại của các nước nhiệt đới khác. Trong tháng 12/2001, khi sầu riêng Mongthon hạt lép của Thái Lan giá 0,5 USD/kg, thì sầu riêng trái vụ của ta giá đến 20.000 đ/kg, đắt gấp 3 lần mà chất lượng so với sầu riêng Thái Lan kém hơn. Giá thành chuối tươi xuất khẩu được ở các tỉnh ĐBSCL thường ở mức 115-120 USD/tấn chưa kể bao bì và chi phí khác trong khi giá xuất khẩu FOB trong nhiều năm tại các cảng của Philippine cũng ở mức 110-115 USD/tấn với khối lượng lớn và đồng đều. Hơn nữa, các chi phí dịch vụ cho xuất khẩu, nhất là chi phí vận tải của Việt Nam cũng cao hơn hẳn so với các nước trong khu vực. Đơn cử, giá cước vận chuyển tàu thuỷ của Việt Nam cao hơn các nước trong khu vực như Thái Lan. Giá cước vận chuyển container của Việt Nam đến Yokohama năm 2003 là 1470 USD/tấn trong khi từ Thái Lan là 1304 USD/tấn. Theo kết quả điều tra, 73% sử dụng xe tải bình thường, hơn 11% sử dụng thuyền máy, số còn lại sử dụng các phương tiện chuyên chở khác để vận chuyển rau quả. Chi phí vận chuyển đường dài bằng xe lạnh quá cao, chiếm khoảng 60% chi phí kinh doanh, chưa tính đến thất thoát trong vận chuyển. Các hình thức vận chuyển khác chưa phổ biến, cước phí hàng không cao nhất khu vực. 2.1.2 Những kết quả đã đạt được trong thời gian qua Trong thời gian qua nông dân Đồng Bằng Sông Cửu Long đã được đánh giá là rất nhạy bén trong tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật, rất năng động và sáng tạo. Họ đã giao lưu học hỏi kinh nghiệm để tìm kiếm những loại giống cho năng suất cao và đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng. Bà con vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long lại có nhiều kinh nghiệm truyền thống trong việc trồng trọt cũng như thâm canh cây ăn trái, nhất là cây ăn trái hàng hóa. Nhiều vùng ở Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng, Long An...bà con chọn nghề làm vườn, sản xuất cây ăn trái như một hướng xóa đói giảm nghèo, và phần đông trong số họ đã khá giả lên nhờ vào nghề vườn của họ. Theo điều tra và tính toán mới nhất, hiệu quả kinh tế xã hội của cây ăn trái ở Đồng Bằng Sông Cửu Long khá cao, do bà con có nghề vườn hàng hóa phát triển khá sớm, thường giá trị cao gấp 4-5 lần làm lúa, vùng chuyên canh cao gấp 10 lần. Trái cây vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long lại rất đa dạng về chủng loại, phong phú về cách trồng và tiêu thụ nên càng thuận lợi cho sản xuất, chế biến và tiêu thụ, trong thời kỳ hàng hóa hội nhập. Hiện nay, Đồng Bằng Sông Cửu Long đã có hơn 30 chủng loại cây ăn trái, trong đó nhãn, xoài và cây có múi đã lên hàng trăm ngàn ha, là nguồn xuất khẩu chủ yếu của vùng ngày càng được đầu tư và phát triển. Thêm vào đó là nghề làm vườn ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, từ xa xưa đến nay, giá cả và sức tiêu thụ không phải ít vướng mắc, nhiều bất cập và cũng lắm thăng trầm, nhưng nhà vườn vẫn lạc quan, cái lạc quan của người sản xuất trái cây hàng hóa. Bởi lẽ, tuy có lúc rớt giá, nhưng lợi nhuận thu được từ sản xuất cây ăn trái vẫn cao gấp 5-10 lần làm lúa, là điều kiện thuận lợi hiếm có cho điều chỉnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Theo đó, tốc độ phát triển cây ăn trái, mấy năm vừa qua khá sôi động, tăng bình quân 7%/năm. So với năm 2005 thì năm 2006 diện tích cây ăn trái toàn vùng đã tăng thêm hơn 27.000 ha. Năng suất bình quân của trái cây trong vùng đạt hơn 10 tấn/ha. Trong đó, năng suất cây ăn trái đặc sản, nằm trong vùng chuyên canh như cam, xoài đạt bình quân hơn 25 tấn/ha. Năm 2006, khi Việt Nam tham gia vào WTO, trái cây của Việt Nam tham gia vào thị trường thế giới 200 triệu USD, chiếm khoảng 0.2%. Từ một nền nông nghiệp độc canh lúa, Đồng Bằng Sông Cửu Long đã có một nền nông nghiệp đa canh, đa dạng hóa sản phẩm, có cơ cấu trồng trọt - chăn nuôi hợp lý, đây cũng là yếu tố bảo đảm cho nông nghiệp Đồng Bằng Sông Cửu Long tăng trưởng với tốc độ nhanh và bền vững so với các vùng khác của cả nước. Đồng bằng sông Cửu Long hiện có 50.000 ha đất trồng chuyên canh 9 loại cây ăn trái có lợi thế cạnh tranh cao: Bưởi da xanh, bưởi 5 Roi, cam sành, xoài cát Hoà Lộc, sầu riêng cơm vàng hạt lép 9 Hóa và Ri6, măng cụt, thanh long và vú sữa Lò Rèn với sản lượng trên 360.000 tấn mỗi năm đạt giá trị trên 4.000 tỉ đồng. Đến năm 2010, các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long phấn đấu mở rộng vùng trồng chuyên canh các loại cây ăn quả trên lên 250.000 ha cho sản lượng gần 600.000 tấn và kim ngạch xuất khẩu từ 35 đến 40 triệu USD. Có 8 tỉnh được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xác định là địa bàn trọng điểm có thể qui hoạch xây dựng các vùng sản xuất tập trung mang tính hàng hoá lớn 9 loại cây ăn quả kể trên là: Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc Trăng, Hậu Giang và Cần Thơ. Tỉnh Tiền Giang có gần 70.000 ha đất trồng cây ăn quả chuyên canh tập trung tại các huyện Cai Lậy, Cái Bè, Châu Thành, Tân Phước, Chợ Gạo, Gò Công Đông... với sản lượng lên đến 700.000 đến 800.000 tấn/năm đã xác định 7 loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao cần được phát huy: vú sữa lò rèn Vĩnh Kim, xoài cát Hoà Lộc, khóm Tân Phước, sầu riêng Ngũ Hiệp, thanh long Chợ Gạo và xơ ri Gò Công. Tỉnh Vĩnh Long cũng đã qui hoạch vùng trồng sầu riêng chất lượng cao gần 2.000 ha tại hai huyện Vũng Liêm và Mang Thít đồng thời có kế hoạch phát triển mạnh diện tích bưởi 5 Roi Bình Minh và cam sành Tam Bình. Đây là những tỉnh đi đầu Đồng Bằng Sông Cửu Long trong việc định hình vùng trồng cây ăn quả chuyên canh có lợi thế cạnh tranh hướng tới xuất khẩu. Tuy nhiên, nhằm định hướng phát triển bền vững, giúp nông dân làm giàu đồng thời tạo ra vùng nông sản hàng hóa chất lượng cao có ưu thế cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khuyến cáo mỗi tỉnh trọng điểm khu vực sông Tiền và sông Hậu cần dựa vào đặc thù thổ nhưỡng, địa hình, trình độ thâm canh chỉ chọn từ 1 đến 3 giống chủ lực trong số 9 giống cây đã được xác định kể trên. Từ đó có những giải pháp tập trung đầu tư về các mặt vốn liếng, chuyển giao khoa học công nghệ tiên tiến,tuyển chọn cây con giống tốt cũng như thành lập các hợp tác xã và tổ hợp tác nhằm giải quyết tốt đầu ra cho nông sản hàng hoá. Viện Nghiên cứu Cây ăn quả Miền Nam đóng vai trò quan trọng trong chuyển giao kỹ thuật thâm canh, phòng trừ sâu bệnh, ứng dụng kỹ thuật xử lý cho cây ra trái trái mùa cũng như bảo quản. Nhà vườn Đồng Bằng Sông Cửu Long xứng đáng là những "nông dân siêu hạng" khi buộc trái cây phải ra trái nghịch mùa, thậm chí có loại còn xuất hiện liên tục trong năm trên thị trường như nhãn, bưởi, cam, sầu riêng... Sức ép vì giá cả khiến nhà vườn đã lập nên được kỳ tích như thế. Và từ trái cây trái mùa giá bán cao gấp 2 –3 lần chính vụ mà nhà làm vườn đều khá giả. So với làm lúa mỗi năm 2 – 3 vụ trên diện tích 1.000 m2 cho thu nhập tối đa 3 – 4 triệu đồng/năm thì cũng diện tích ấy như trồng sầu riêng, cam sành hay bưởi năm roi sẽ cho thu nhập trên dưới 100 triệu đồng. Đi vào các làng chuyên canh cây ăn quả như cam sành Tam Bình (Vĩnh Long), cù lao Ngũ Hiệp (Tiền Giang) sẽ thấy quang cảnh làng quê khác hẳn: nhà mái ngói đỏ au, đường xá tráng bê tông sạch đẹp, các tiện ích như điện - đường - trường - trạm đầy đủ. Thông qua sự trợ giúp của Viện Nghiên cứu Cây ăn quả Miền Nam tại các tỉnh trọng điểm về vườn chuyên canh đã có trên 4.000 lượt hộ nông dân được tập huấn IPM trên cây có múi, hàng trăm cơ sở sản xuất giống cây ăn quả tại Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long được chuyển giao kỹ thuật sản xuất giống cây ăn quả sạch bệnh. Ngoài ra, nhà vườn còn được tập huấn sản xuất trái cây sạch theo tiêu chuẩn GAP, những giải pháp thâm canh giúp tăng năng suất, sản lượng vừa phù hợp với các tiêu chí an toàn và bảo vệ môi sinh môi trường. Tỉnh Tiền Giang cũng đang triển khai chương trình "Hỗ trợ toàn diện phát triển cây vú sữa lò rèn giai đoạn 2007-2013" với kinh phí trên 4 tỉ đồng đồng thời qui hoạch vùng trồng vú sữa lò rèn lớn nhất Đồng Bằng Sông Cửu Long tại 17 xã ven sông Tiền thuộc hai huyện Cai Lậy và Châu Thành với tổng diện tích khoảng 7.000 ha. Như vậy chúng ta đã tổ chức sản xuất đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật đến nhà vườn, như: kỹ thuật sản xuất, kỹ thuật chế biến và thị trường tiêu thụ. Bên cạnh việc phát triển diện tích trồng các giống cây lợi thế, Chính phủ nước ta đã nhanh chóng xúc tiến việc ký kết các hiệp định kiểm dịch thực vật với các nước nhập khẩu lớn như Mỹ, Châu Âu, Nhật để trái cây Việt Nam có thể thâm nhập các thị trường rộng lớn này. Giá trị xuất khẩu các mặt hàng trái cây của Việt Nam trong các năm vừa qua với kim ngạch không ngừng tăng qua các năm: năm 2004 là 178.8 triệu USD, năm 2005 là 235.5 triệu USD và năm 2006 tăng lên 259 triệu USD. Theo trung tâm thông tin thương mại (Bộ Công thương) thời gian qua giá trị xuất khẩu trái cây trái vụ của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc qua cửa khẩu Móng Cái cao hơn 20% so với giá trị trái cây chính vụ. Nhiều loại trái cây Việt Nam xuất sang thị trường Trung Quốc vẫn giữ được ưu thế với sản lượng xuất đạt gần 60 tấn/tuần, tăng 10 tấn/tuần so với tháng trước. Các loại trái cây xuất khẩu nhiều như xoài, sầu riêng, vú sữa, cam sành, măng cụt, na Sài Gòn,… Vài năm trở lại đây, giá trị xuất khẩu các mặt hàng trái cây của Việt Nam không ngừng tăng lên đã dẫn đến phong trào chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở Đồng Bằng Sông Cửu Long diễn ra mạnh mẽ. Nhiều nhà vườn đã mạnh dạn chuyển diện tích trồng lúa năng suất thấp sang trồng cây ăn trái cho hiệu quả kinh tế cao. Tính đến thời điểm này, toàn vùng có khoảng 300.000ha cây ăn trái, tăng 22.000ha so với năm 2005. Trong số này có gần 120.000ha trồng cây ăn trái đặc sản như bưởi da xanh, bưởi Năm Roi, xoài cát Hòa Lộc, vú sữa Lò Rèn, sầu riêng... tập trung ở các tỉnh Vĩnh Long, Đồng Tháp, Hậu Giang, Sóc Trăng, Tiền Giang, Bến Tre. Song song với việc tăng nhanh diện tích vườn, nhu cầu cây giống cũng trở nên cấp thiết. Hiện nay trên thị trường cây giống Đồng Bằng Sông Cửu Long hiện đang cạnh tranh gay gắt. Nhiều cơ sở phải mở rộng thị trường ra miền Đông, miền Trung, Tây Nguyên... Nếu không chú trọng vấn đề chất lượng, tạo uy tín cho thương hiệu thì khó mà cạnh tranh được. Có nhiều cơ sở sản xuất giống cây đã hạ giá cả giống cây hoặc luôn tìm các giống cây mới, làm tăng sức ép giá lên các giống cây truyền thống. Hiện nay các loại giống mới đưa ra thị trường giá thường cao hơn giá các cây giống truyền thống, giá thường từ 20.000 – 25.000 đồng/cây, trong khi đó giá của cây giống truyền thống chỉ có từ 5.000 – 10.000 đồng/cây. Điều này đã càng khẳng định hơn việc các nhà vườn đã chú trọng đến các giống cây có giá trị kinh tế cao dần loại bỏ những giống cây không có giá trị kinh tế. Hiện trên thị trường các loại giống cây trồng mới có mức giá khá cao: dừa xiêm lùn 20.000 - 25.000 đồng /cây, ổi ruột tím 20.000 đồng /cây, chanh ôtxtrâylia không gai 20.000 đồng /cây, xoài tứ quý 15.000 - 20.000 đồng /cây. Xoài cát Hòa Lộc, mít ruột đỏ, mít nghệ, măng cụt, vú sữa Lò Rèn, vú sữa bơ... dao động từ 8.000 đến 15.000 đồng /cây. Theo dự báo của các cơ sở sản xuất, giá các loại cây giống trong khu vực khá ổn định, riêng sầu riêng, xoài tứ quý, chanh ôtxtrâylia... sẽ được nhà vườn có sự quan tâm nhiều hơn trong thời gian tới. Từ đầu năm đến nay, cây giống sầu riêng các loại trên thị trường sốt nhẹ. Các loại sầu riêng cơm vàng hạt lép, monthoong, cơm sữa hạt lép... đang được tiêu thụ mạnh, giá dao động 15.000 – 20.000 đồng/cây. Bên cạnh việc chú trọng giống thì việc xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm trái cây ăn trái cũng đựơc nhà vườn chú ý quan tâm. Nhìn chung tình hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long đã mang lại kết quả ban đầu rất khả quan. Và trong tương lai, xu hướng này sẽ càng mở rộng và phát triển theo chiều hướng công nghiệp hoá, hiện đai hoá đất nước. Giải quyết được vấn đề việc làm, nghèo đói, công nghiệp hoá , hiện đại hoá nông thôn nói chung và khu vực nói riêng. 2.1.3 Những khó khăn đang gặp phải Theo nghiên cứu về tình hình phát triển cây ăn trái mấy năm gần đây ở Đồng Bằng Sông Cửu Long đã chỉ ra một số tồn tại như: Cây giống chưa được quản lý chặt chẽ, diện tích cây ăn quả tăng nhanh, nhưng chủ yếu vẫn là vườn tạp… Nghề vườn ở Đồng bằng sông Cửu Long sản xuất manh mún, mỗi người chỉ có vài công đất, lớn nhất cũng chỉ 3 -5 công và trên mảnh vườn đó có đủ các loại trái cây. Kỹ thuật ứng dụng trọn gói từ sản xuất tới công nghệ sau thu hoạch hầu như không có, mặc dù thời gian gần đây, giống cây trồng đã được các trường đại học và viện cây ăn trái chú ý nhiều hơn. Đã có giống tốt, giống xác nhận nhưng các giống cây trồng này vẫn chưa đến tay nhiều nhà vườn Ở các nước phát triển, diện tích trồng cây ăn trái của một người có thể vài hecta. Còn ở Việt Nam, một hộ gia đình có diện tích vườn cây ăn trái 1 ha là rất ít. Hiện nay, Nhà nước chỉ mới thấy được tiềm năng của ngành trái cây, trong khi các nước khác đã đi trước chúng ta khá lâu. Thái Lan đã xác định ngoài cây lúa, là cây ăn trái và họ đã đi trước Việt Nam những 30 năm về nghiên cứu và các mặt khác... Còn Việt Nam thì chỉ mới bắt đầu. Tuy chậm nhưng Nhà nước cũng đã thấy ngành cây ăn trái là ngành có tiềm năng rất mạnh sau cây lúa. 2.1.3.1 Quy mô nông hộ nhỏ và trồng nhiều chủng loại Đất nước ta thuộc vùng khí hậu nhiệt đới, có tiềm năng lớn về cây ăn trái. Đến nay Việt Nam đã có khoảng 767 ngàn ha cây ăn trái, cho sản lượng 6,5 triệu tấn nhưng hầu hết vẫn là vườn tạp. Vùng trồng cây ăn trái tập trung còn rất ít (khoảng 16%). Kết quả khảo sát và thu thập nguồn gen cây ăn qủa của Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam cho thấy có trên 30 chủng loại cây ăn quả được trồng ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long. Nông hộ trồng cây ăn qua đa số có qui mô nhỏ, nông hộ có diện tích nhỏ là 0,3 ha và cao nhất là 2,5 ha/hộ (Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, 2006), trong đó loại vườn trồng từ 2-3 loại cây ăn quả chiếm từ 74,1-85% số hộ, vườn trồng trên 3 cây chiếm từ 14,3-24,6% số hộ. Từ đó có thể thấy được việc hiện nay chúng ta chỉ quan tâm đến tổ chức lại sản xuất đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật đến với nhà vườn, như: kỹ thuật sản xuất, kỹ thuật chế biến và thị trường ... nhưng chưa chú trọng đến công tác giống và một phần canh tác do đó hiện tượng vườn tạp diễn ra khá phổ biến. Việc vườn tạp diễn ra phổ biến cũng một phần là do nghề sản xuất cây giống còn nhiều phức tạp. Hiện nay, số lượng vườn ươm ở Đồng bằng sông Cửu Long quá nhiều và rất khó quản. Công việc nghiên cứu và sản xuất cây giống là khâu rất quan trọng trong việc sản xuất trái cây vì từ cây giống sẽ cho ra chất lượng sản phẩm, nhưng nếu khâu giống không quản lý tốt sẽ ảnh hưởng rất lớn đến độ đồng đều của trái cây. Đây là cái gốc của việc sản xuất trái cây, không giải quyết được cái gốc sẽ rất khó cho nghề vườn ở Đồng bằng sông Cửu Long. 2.1.3.2 Từ thu hoạch cho đến chế biến. Nghề vườn ở Đồng bằng sông Cửu Long còn rất bề bộn, mặc dù đã có nhiều tiến bộ, đặc biệt là công tác giống và một số biện pháp canh tác, nhưng vẫn còn nhiều tồn tại cần phải được khắc phục trong thời gian tới. Việc các nhà vườn sản xuất nhỏ lẻ manh mún đã gây khó khăn cho các nhà chế biến trái cây gặp khó khăn trong việc thu mua bảo quản. Hiện nay, tuy có tổ chức lại sản xuất đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật đến nhà vườn, như: kỹ thuật sản xuất, kỹ thuật chế biến và thị trường… nhưng chưa đồng bộ. Các biện pháp khác đặc biệt là vấn đề sau thu hoạch bao gồm chế biến chưa được chú ý. Công nghệ sau thu hoạch và bảo quản trái cây còn ở dạng thủ công. Theo thống kê trái cây Việt Nam thất thoát sau thu hoạch 30%, chúng ta sản xuất được 6 triệu tấn/năm, thì mất đi 2 triệu tấn, việc sản xuất manh mún, nhỏ lẻ dẫn tới chất lượng trái cây không đồng đều, vấn đề lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất làm giảm khả năng cạnh tranh trong việc xuất khẩu tới các thị trường khó tính như: EU, Nhật, Mỹ,… Sử dụng nhiều phân đạm trong sản xuất trái cây làm cho trái cây dễ bị thối khi vận chuyển đi xa là vấn đề cần quan tâm Trái cây chín rụng mà không có người đến thu mua là một minh chứng cho công tác quy hoạch vùng chuyên canh cây ăn quả là vô cùng cần thiết. Bên cạnh đó công tác bảo quản trái cây cũng còn nhiều hạn chế khi phương pháp phổ biến của nông dân lúc thu hoạch trái cây vẫn rửa bằng nước khiến trái cây mau thối nhũn, khó bảo quản, trong khi trái cây của Mỹ hoặc Thái Lan vẫn tươi nguyên sau cả tháng thu hoạch. Theo tính toán của các nhà khoa học, Đồng Bằng Sông Cửu Long đang là vùng có tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch cao nhất nước với mức thất thoát khoảng 20%, trong đó tổn thất sau thu hoạch của trái cây tới 30%. Một chuyên gia của Viện nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam đã cảnh báo rằng nếu Đồng Bằng Sông Cửu Long chỉ đầu tư cho kỹ thuật giống, trồng à không quan tâm chu đáo đến kỹ thuật thu hái, bảo quản như tình trạng hiện nay thì công lao cũng lại trả về đất. Đó là thực trạng mà cho đến nay chúng ta vẫn chưa có lối ra. Bên cạnh đó thì là dịch vụ sau thu hoạch ở Đồng bằng sông Cửu Long còn rất kém. Các dịch vụ sau thu hoạch như: đóng gói, tồn trữ và bảo quản … chưa được phục vụ chu đáo. Kết quả là khi xuất khẩu ra nước ngoài, trái cây của chúng ta bị hư hỏng nhiều. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng trái cây xuất khẩu của nước ta. Chính những nguyên nhân đó đã làm cho sản lượng xuất khẩu của nước ta chưa tương xứng với tiềm năng. 2.1.3.3 Trái cây nội đang dần bị mất thị trường trong nước Việc các chủng loại cây ăn quả được sản xuất nhỏ lẻ, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, tập quán của người nông dân, sử dụng nhiều phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật, chỉ có một bộ phận nhỏ nông dân áp dụng khoa học kỹ thuật. Chính những biên pháp sản xuất không có hiệu quả như trên đã dẫn đến tình trạng chi phí sản xuất cao dẫn đến viêc giá cả của ta cao hơn các sản phẩm cùng loại của một số nước trong khu vực như: trái sầu riêng Ri-6 giá bán lẻ là 25.000 đ/kg, trong khi sầu riêng của Thái Lan nhập sang cũng chỉ tới 10.000đ/kg – 15.000đ/kg, xoài cát Hòa Lộc loại I bán đến 40.000-50.000đ/kg, bưởi da xanh 25.000đ/kg, măng cụt Việt Nam có giá từ 18000 đến 22.000 đ/kg, măng cụt Thái Lam có giá là 12.000 đ/kg. Do nhiều người tiêu dùng có tâm lý thích hàng ngoại có chất lượng ngon hơn mà giá không cao hơn so với hàng nội là bao nhiêu. Điều này như một hồi chuông báo động cho thị trường cây ăn quả trong nước đang có nguy cơ bi mất bởi trái cây nhập ngoại. Việc giá trái cây nhập có giá thành thấp hơn chất lượng không kém gì chất lượng của trái cây trong nước đã dẫn đến việc nhập khẩu một cách ồ ạt trái cây vào thị trường nội địa. Trong thời gian gần đây thị trường trái cây ở Đồng Bằng Sông Cửu Long đang xuất hiện rất nhiều loại trái cây ngoại nhập khác: Măng cụt, sầu riêng Thái Lan; nho Chilê... Sự đa dạng của trái cây ngoại nhập đang khiến thị trường trái cây ở Đồng Bằng Sông Cửu Long tuột giá chưa từng có. Nhiều loại trái cây vốn là đặc sản của vùng cũng bị ảnh hưởng làm cho giá bán cũng giảm thấp hơn năm trước.Theo nhiều sạp bán lẻ ở Cần Thơ và các chủ vựa ở Tiền Giang, Vĩnh Long..., so với cùng thời điểm năm trước hoặc đầu vụ năm nay, hiện giá nhiều loại trái cây đã giảm đến 40-50%: Măng cụt giá chỉ còn 18.000 đồng/kg (giảm trên10.000 đồng/kg); khóm loại 1 dưới 1.000 đồng/kg (giảm 50% so với vụ trước)... Không chỉ mất giá mà ngay cả thị trường đầu ra cũng là một vấn đề nan giải. Theo chủ nhiệm hợp tác xã Thạnh Thắng (xã Hoả Tiến ) cho biết: số lượng cung ứng cho siêu thị ở Cần Thơ là 1 tấn/tuần nhưng không đáng kể so với sản lượng của 1000 ha cây ăn quả được trồng tại hợp tác xã. Đi thấy trái cây ngoại tràn ngập thị trường như hiện nay, trái cây ngoại xuất hiện nhiều nhất là măng cụt, bòn bon Thái Lan, sầu riêng, me ngọt. Chưa kể các loại táo, mận của Trung Quốc đã chiếm lĩnh thị trường đồng bằng sông Cửu Long trong nhiều năm qua. Giá các loại trái cây của nước ngoài những năm trước thường cao hơn trái cây nội nhưng năm nay giá thường chỉ bằng hoặc thấp hơn. Chất lượng, mẫu mã lại đẹp hơn, ngon hơn nên người tiêu dùng thường chọn trái cây ngoại để mua. Đều này làm cho nhà vườn sản xuất thua lỗ, sản phẩm khó cạnh tranh ngay chính trong thị trường nội địa. Ngoài ra còn có một nguyên nhân làm giảm sức cạnh tranh của trái cây Việt Nam so với trái cây ngoại là việc xây dựng thương hiệu. Phần lớn nhà doanh nghiệp chưa quan tâm và đăng ký bảo hộ thương hiệu sản phẩm nên hầu hết lượng trái cây xuất khẩu mang nhãn hiệu nước ngoài. 2.2 Quá trình chuyển dịch cơ cấu cây ăn quả tại Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Cuộc sống của đa số nông dân vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long thời gian qua còn khó khăn; đời sống chủ yếu dựa vào việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên thuộc các lĩnh vực nông - lâm - ngư ở trình độ thấp. Mặt khác, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống chỉ mới manh nha trong mấy năm gần đây, chưa hướng vào chiều sâu để có những sản phẩm chất lượng cao, bền vững, phù hợp với yêu cầu “đủ sức cạnh tranh” khi hội nhập kinh tế toàn cầu. Từ đó dẫn đến ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc10073.doc