Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thẩm định tại ngân hàng Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) Chi nhánh tỉnh Thái Bình

MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG BIỂU Hình 1.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức tại chi nhánh Bảng 1.1: Kết quả huy động vốn tại chi nhánh giai đoạn 2000-2008 Bảng 1.2: Tình hình tín dụng xuất khẩu năm 2002-2006 Bảng 1.3: Tình hình tín dụng xuất khẩu năm 2007-2008 Bảng 1.4: Tình hình thu nợ gốc và lãi giai đoạn 2000-2008 Bảng 1.5: Cơ cấu tài sản Tập đoàn Đại Cường Bảng 1.6: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2006, 2007 và đến 29/02/2008 của Tập đoàn Đại Cường 8. Bảng 1.7: Một số chỉ tiêu đánh giá tìn

doc106 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1305 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thẩm định tại ngân hàng Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) Chi nhánh tỉnh Thái Bình, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
h hình tài chính của Tập đoàn Đại Cường 9. Bảng 1.8: Số dự án thẩm định và từ chối thẩm định năm 2000-2008 TÓM TẮT KHÓA LUẬN Trong quá trình thực tập tại Ngân hàng Phát triển chi nhánh tỉnh Thái Bình (NHPTTB), dựa trên nhu cầu cấp thiết của ban lãnh đạo chi nhánh về việc nâng cao chất lượng công tác thẩm định, nhờ những kiến thức được học tại trường và một số kiến thức thực tế thu lượm trong thời gian thực tập, em đã phát triển chuyên đề thực tập của mình lên mức độ sâu hơn thành khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu về tình hình thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng Phát triển chi nhánh tỉnh Thái Bình (NHPTTB) nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện chất lượng công tác thẩm định dự án tại NHPTTB. Khóa luận bao gồm hai nội dung chính là: Nghiên cứu thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư tại NHPTTB và đề xuất một số giải pháp cho chi nhánh để nâng cao chất lượng công tác thẩm định. Chương I: Thực trạng công tác thẩm định dự án tại NHPTTB Để nghiên cứu một cách tổng quát về tình hình thẩm định dự án tại chi nhánh, trước hết cần tìm hiểu về quá trình hình thành, phát triển, chức năng nhiệm vụ và tình hình hoạt động của NHPTTB: 1.1. Khái quát về quá trình hình thành, chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức tại chi nhánh Ngân Hàng phát triển được hình thành từ tiền thân là Quỹ Hỗ trợ phát triển theo quyết định số số 108/2006/QĐ-TTg ngày 19/5/2006. Theo quyết định số 03/QĐ-NHPT của tổng giám đốc ngân hàng phát triển Việt Nam, quỹ hỗ trợ phát triển chi nhánh Thái Bình đã chính thức được tổ chức lại thành ngân hàng phát triển chi nhánh Thái Bình. Trong những năm hoạt động, chi nhánh đã hỗ trợ rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong các ngành nghề mang lại hiệu quả kinh tế thấp như chăn nuôi, đóng tàu loại nhỏ và trung, nuôi trồng thủy hải sản ; vực dậy nhiều ngành nghề, làng nghề truyền thống chưa có điều kiện về vốn để phát triển như làng nghề các dự án công nghiệp. Họat động của Ngân hàng phát triển không vì mục đích lợi nhuận nhưng phải đảm bảo hoàn vốn và bù đắp chi phí. Ngân hàng phát triển được chính phủ bảo đảm khả năng thanh toán, được miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách theo quy định của pháp luật. Vốn điều lệ của Ngân hàng phát triển là 5.000 tỉ đồng từ nguồn vốn điều lệ hiện có của quỹ hỗ trợ, thời gian hoạt động là 99 năm kể từ khi quyết định có hiệu lực. NHPT thực hiện chức năng huy động, quản lý và sử dụng nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước; có nhiệm vụ hỗ trợ phát triển các lĩnh vực, thành phần kinh tế hoạt động kém hiệu quả hay cần thiết đối với nền kinh tế - xã hội mà chưa được đầu tư đúng mức thông qua việc thực hiện 2 chính sách chính là tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu. NHPTTB được thành lập chính thức từ năm 2006 từ đội ngũ cán bộ sẵn có của quỹ Hỗ trợ phát triển, hiện nay số lượng cán bộ, công nhân viên công tác tại chi nhánh là 34 người bao gồm 1 giám đốc, 2 phó giám đốc và được chia thành 4 phòng ban chịu sự quản lý trực tiếp của 2 phó giám đốc bao gồm: - Phòng Tổng hợp - Phòng Tín dụng - Phòng Tài chính Kế toán - Phòng tổ chức hành chính Các phòng ban tại chi nhánh có các chức năng và nhiệm vụ khác nhau nhưng luôn phối hợp nhuần nhuyễn để hoàn thành công việc đưa chi nhánh trở thành chi nhánh có tinh thần làm việc năng động, sáng tạo và đoàn kết. 1.2. Tình hình hoạt động của NHPTTB giai đoạn 2000 – 2008 NHPTTB được đánh giá là một trong 4/59 chi nhánh hoạt động đạt hiệu quả cao trên toàn hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt Nam với doanh số huy động vốn cao, là một trong số ít chi nhánh đã thực hiện huy động thành công vốn nước ngoài năm 2008. Không những đảm bảo nguồn huy động vốn ổn định qua các năm, chi nhánh còn có dư nợ rất cao các năm, tốc độ giải ngân tương đối sát so với kế hoạch đặt ra, chất lượng giải ngân vốn đúng tiến độ và mục đích tài trợ. Tuy nhiên công tác thu nợ tại chi nhánh còn chưa triệt để, trong giai đoạn 2000-2005 tỷ lệ nợ quá hạn luôn ở mức cao, tỷ lệ này chỉ giảm từ năm 2006 khi Chi nhánh thực hiện các tổ cán bộ tín dụng đôn đốc nợ. Hoạt động tín dụng đầu tư phát triển tại chi nhánh đã đóng góp rất nhiều cho kinh tế địa phương, chi nhánh không chỉ tiến hành tài trợ cho các dự án đầu tư của các thành phần kinh tế tư nhân mà còn tài trợ nguồn vốn với lãi suất ưu đãi cho các dự án đầu tư công phục vụ cho nhân dân địa phương như các chương trình y tế cộng đồng, giáo dục và nước sạch... 1.3. Thực trạng về công tác thẩm định dự án đâu tư tại NHPTTB Sau khi tìm hiểu những thông tin cơ bản về tình hình hoạt động của chi nhánh chúng ta tiến hành tìm hiểu chi tiết hơn về thực trạng thẩm định sự án tại chi nhánh qua các nội dung cụ thể sau: * Đặc trưng của các dự án xin vay vốn tại NHPT Ngân hàng Phát triển được thành lập để thực hiện chính sách tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của nhà nước thông qua việc cho vay, thu nợ các dự án đầu tư thuộc đối tượng ưu đãi dầu tư thuộc một số ngành, lĩnh vực, chương trình kinh tế lớn của nhà nước có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế hay các vùng khó khăn cần khuyến khích đầu tư. Do đó các dự án xin vay vốn tại ngân hàng ngoài những đặc trưng chung của một dự án đầu tư thông thường còn tồn tại những đặc trưng riêng biệt sau: Lĩnh vực đầu tư: Dự án phải thuộc những lĩnh vực khó khăn cần sự trợ giúp của chính phủ, các chương trình hỗ trợ phát triển của nhà nước và các dự án này cũng phải phù hợp với mục tiêu phát triển của địa phương cũng như chiến lược của cả nước. Hình thức đầu tư: Các dự án phải là các dự án đầu tư phát triển Ngân hàng không tiếp nhận các dự án thuộc các lĩnh vực đầu tư tài chính, bất động sản, kinh doanh thương mại, dự án thuộc các lĩnh vực đã phát triển mạnh và các dự án của các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Quy mô vốn và hiệu quả: Quy mô vốn đầu tư tương đối nhỏ, thị phần của dự án hẹp, hiệu quả sử dụng vốn chưa cao, thời gian thu hồi vốn chậm, mức độ rủi ro mà các dự án gặp phải cao. * Nguyên tắc thẩm định tại chi nhánh: Đảm bảo tính khách quan, trung thực, số liệu. thông tin thu thập phải đảm bảo tính chính xác và cập nhật đầy đủ, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng ban tại chi nhánh. *Quy trình thẩm định tại chi nhánh: Quy trình này được tuân theo quyết định của ban giám đốc NHPT về trình tự thẩm định tại chi nhánh: Hồ sơ dự án được tiếp nhận tại phòng Tổng hợp, sau khi kiểm tra tính đầy đủ và hợp lệ của hồ sơ dự án, hồ sơ được chuyển đến phòng Tín dụng để kiểm tra tính xác thực của các văn bản pháp lý vể tư cách của chủ đầu tư và các hợp đồng tín dụng ký với các tổ chức khác trong trường hợp dự án có sự tài trợ của nhiều nguồn vốn. Sau đó phòng tín dụng tiến hành thẩm định chủ đầu tư về năng lực kinh nghiệm và năng lực tài chính. Khi việc thẩm định chủ đầu tư đạt yêu cầu, phòng tín dụng chuyển hồ sơ khách hàng lên phòng thẩm định để tiến hành thẩm định tính khả thi của dự án và tài sản bảo đảm tiền vay cho khoản tài trợ tại chi nhánh. Sau khi cán bộ thẩm định hoàn thành kết luận về dự án, hồ sơ thẩm định được trình giám đốc quyết định tài trợ hay không chấp thuận dự án. * Phương pháp thẩm định tại chi nhánh Cán bộ thẩm định tại chi nhánh kết hợp 4 phương pháp thẩm định sau tùy theo tính chất của các dự án khác nhau là khác nhau: - Thẩm định theo trình tự: Phương pháp này được cán bộ chi nhánh sử dụng trong thẩm định tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ dự án đối với tất cả các dự án tại chi nhánh. Thẩm định chi tiết được áp dụng trong thẩm định năng lực tài chính của chủ đầu tư, phương án tài chính, phương án trả nợ vốn vay. - Thẩm định theo phương pháp so sánh các chỉ tiêu: Dùng để phân tích các chỉ tiêu kinh tế của chủ đầu tư và của cả dự án. - Thẩm định theo phương pháp phân tích độ nhạy: Được cán bộ tại chi nhánh sử đụng để phân tích khả năng trả nợ của dự án khi các yếu tố giá và chi phí thayđổi - Thẩm định theo phương pháp dự báo: Hiện nay phương pháp này đã được sử dụng tại chi nhánh tuy nhiên chỉ dừng lại ở mức dự báo đơn thuần không sử dụng các phương pháp như ngoại suy, định mức, hệ số co giãn mà chủ yếu dựa trên các hợp đồng cũ của doanh nghiệp đã thực hiện và các hợp đồng tương lai của dự án để dự báo mức tiêu thụ sản phẩm của dự án. * Nội dung thẩm định tại chi nhánh Dự án được thẩm định thông qua 4 nội dung chính là: - Thẩm định tính hợp lệ của hồ sơ dự án, hồ sơ chủ đầu tư. - Thẩm định chủ đầu tư vể năng lực quản lý và năng lực tài chính: + Năng lực, kinh nghiệm tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh và điều hành dự án + Thẩm định năng lực tài chính của chủ đầu tư: Các chỉ số về khả năng thanh toán của doanh nghiệp Thẩm định tính ổn định và khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp Thẩm định hiệu quả sử dụng vốn và khả năng sinh lời - Thẩm định phương án tài chính và phương án trả nợ vốn vay (thẩm định tính khả thi của dự án) : + Nhận xét, đánh giá thị trường các yếu tố đầu vào cho sản xuất và đầu ra cho dự án + Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới phương án tài chính, phương án trả nợ vốn vay và hiệu quả của dự án: Đánh giá về sự phù hợp của tổng mức đầu tư, quy mô dự án, công suất thiết kế, công nghệ thiết bị và hình thức đầu tư, Đánh giá về sự phù hợp của tổng mức đầu tư với suất đầu tư theo ngành , nghề, lĩnh vực đầu tư, so sánh chi phí đầu tư với dự án tương tự đã thực hiện, Thẩm định tính khả thi của các nguồn vốn tham gia đầu tư dự án. + Thẩm định các yếu tố khác liên quan đến dự án: Điều kiện về hạ tầng kỹ thuật: giao thông, điện nước...; Điều kiện về khí hậu, thổ nhưỡng, bảo vệ môi trường; Các yếu tố về trình độ kỹ thuật công nghệ của dự án. + Xác định các chỉ tiêu hiệu quả của dự án Tính toán các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế, tài chính của dự án Thẩm định các điều kiện được sử dụng để tính toán các chỉ tiêu hiệu quả - Thẩm định hồ sơ và tài sản bảo đảm tiền vay (thẩm định tài sản thế chấp). * Dự án cụ thể minh họa công tác thẩm định tại chi nhánh Tóm tắt dự án: - Tên dự án: “ Đầu tư xây dựng nhà máy kéo sợi Đại Cường công suất 8.700 tấn/năm” - Chủ đầu tư: Công ty cổ phần tập đoàn Đại Cường - Địa điểm đầu tư: Khu công nghiệp Tiền Hải, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. - Thời gian xây dựng: dự kiến 02 năm. - Hình thức đầu tư: đầu tư mới. - Qui mô, công suất: 8.700 tấn sợi/năm . - Sản phẩm của dự án: sợi chải thô có chi số Ne 16/1 đến Ne 60/1, qui đổi về sản phẩm có chi số bình quân là Ne 40/1. * Tổng mức đầu tư của dự án: 473.860.976.000 đồng Trong đó: - Vốn đầu tư TSCĐ là: 422.860.976.000 đồng + Xây lắp: 57.402.875.000 đồng + Thiết bị: 301.520.736.000 đồng + Khác: 27.495.365.000 đồng + Dự phòng: 36.442.000.000 đồng - Vốn lưu động: 51.000.000.000 đồng * Nguồn vốn đầu tư dự kiến: 473.860.976.000 đồng - Vốn đầu tư TSCĐ: 422.860.976.000 đồng + Vốn tự có: 128.860.976.000 đồng + Vay vốn tín dụng đầu tư tại chi nhánh: 210.000.000.000 đồng; lãi suất 8,4%/năm + Vốn huy động khác : 84.000.000.000 đồng; lãi suất 15,6%/ năm - Vốn lưu động: 51.000.000.000 đồng * Vốn tự có: 51.000.000.000đồng Quy trình thẩm định dự án Dự án thẩm định theo đúng quy trình chung của chi nhánh đã đề ra Nội dung thẩm định dự án Dự án thẩm định các nội dung nhu đã trình bày tuy nhiên chúng ta tiến hành xem xét kỹ lưỡng các chỉ tiêu hiệu quả của dự án sau khi các phần thẩm định khác đã đạt yêu cầu như sau: - Tỷ suất chiết khấu r = 7,27% - Tổng doanh thu bình quân hàng năm: 407.160 triệu đồng - Tổng chi phí bình quân hàng năm : 331.898 triệu đồng - Nộp ngân sách hàng năm: 29.435 triệu đồng - Lợi nhuận sau thuế bình quân: 45.825 triệu đồng - Hiện giá thu nhập thuần (NPV): 756.056 triệu đồng > 0 - Tỷ lệ hoàn vốn nội tại (IRR) : 16.40% > r - Hiện giá sinh lời (B/C) 1.082>1 - Tăng thu nhập cho người lao động tạo việc làm cho 500 lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. - Phân tích độ nhạy của dự án a. Nếu doanh thu giảm 3%: - Hiện giá thu nhập thuần (NPV) = 565.842 triệu đồng>0 - Tỷ lệ hoàn vốn nội tại (IRR) = 13.39% > r b. Nếu tăng 3% chi phí - Hiện giá thu nhập thuần (NPV) = 598.619 triệu đồng - Tỷ lệ hoàn vốn nội tại (IRR) = 13.95% Phương pháp thẩm đính dự án Dự án trên được thẩm định dựa trên sự phối hợp các phương pháp thẩm định theo trình tự và so sánh các chỉ tiêu. Đánh giá về công tác thẩm định dự án trên: Về quy trình thẩm định đã theo sát các văn bản hướng dẫn của trung ương. Về phương pháp thẩm định: Chưa có số liệu thống kê cụ thể về sản phẩm của dự án để thực hiện dự báo nhu cầu sản phẩm chính xác, việc so sánh các chỉ tiêu cũng chưa nói rõ xem thẩm định dựa trên chỉ tiêu nào Nội dung thẩm định: Đã phân tích đầy đủ các chỉ tiêu cơ bản của dự án. chưa đề cập đến rủi ro khi có biến động lãi suất tăng hay khả năng phát huy công suất thấp, trượt giá khi lạm phát. Lãi suất chiết khấu r chưa được thẩm định, tỷ suất r vẫn được giữ cố định qua các năm. 1.4. Kết quả và hiệu quả đạt được của công tác thẩm định tại chi nhánh Trong quá trình hoạt động của mình chi nhánh đã tiến hành thẩm định rất nhiều các dự án với các tính chất và quy mô khác nhau, quy trình, nội dung, phương pháp thẩm định thay đôit theo từng thời kỳ tuy nhiên công tác thẩm định dự án tại chi nhánh đã đạt được các kết quả và hiệu quả nhất định * Các kết quả đạt được Về quy trình thẩm định ngân hàng không thẩm định theo một quy trình chung của các ngân hàng thương mại mà tự thiết lập hệ thống văn bàn quy định riêng về công tác thẩm định nhằm bám sát với đặc thù của các dự án vay vốn. Quy trình đảm bảo tính logic tránh được sự chồng chéo giữa các phòng ban tại chi nhánh hay giữa chi nhánh với hội sở. Về thiết lập hồ sơ và nội dung thẩm định Việc thiết lập hồ sơ dự án đã bám sát mục tiêu hoạt động của hệ thống ngân hàng, thực sự tiếp cận được trình độ và công nghệ hiện đại. Nôi dung thẩm định chi tiết và có độ chính xác cao, đầy đủ . Phương pháp thẩm định Phương pháp thẩm định đã được áp dụng linh hoạt cho từng dự án Kỹ năng và kĩ thuật thẩm định Kỹ năng và kỹ thuật thẩm định được nâng cao, áp dụng tin học vào tính toán, thẩm định các dự án đạt độ chính xác cao tránh được những sai sót khi tính toán thủ công như trước kia. Cán bộ thẩm định Các cán bộ thẩm định tại chi nhánh không những chịu khó học hỏi kinh nghiệm, giúp đỡ, phối hợp với nhau trong công tác mà còn luôn tìm cách học hỏi các ký năng thẩm định tại các đơn vị khác. Thông tin thu thập phục vụ công tác thẩm định Cán bộ thẩm định không chỉ thực hiện thẩm định trên hồ sơ dự án mà cón trực tiếp đến hiện trường thẩm tra tình hình thực tế của chủ đầu tư cũng như quan hệ tín dụng của chủ đầu tư với các tổ chức tài chính khác. Chất lượng hồ sơ thẩm định Chất lượng hồ sơ thẩm định tại ngân hàng được nâng cao hơn hẳn trong năm gần đây nhờ công tác hỗ trợ, tư vấn tận tình của cán bộ thẩm định cho khách hàng đến giao dịch tại chi nhánh. * Những vấn đề còn tồn tại Quy trình thẩm định chưa hợp lý đó gây nên tình trạng kéo dài thời gian thẩm định. Nội dung thẩm định còn một số thiếu sót Việc thẩm định tổng vốn đầu tư, cơ cấu nguồn vốn cũng như tiến độ sử dụng vốn chủ yếu dựa vào các số liệu mà khách hàng cung cấp chưa thể biết chính xác tình hình thực tế của dự án Một số nội dung thẩm định tài chính của dự án như thẩm định doanh thu, chi phí thường ít khi tính đến biến động của các rủi ro liên quan. Việc tính toán lãi suất chiết khấu r chưa có quy định cụ thể, chưa được thống nhất giữa Ngân hàng phát triển với các ngân hàng thương mại khác do đó làm ảnh hưởng đến việc tính toán các chỉ tiêu hiệu quả về sau. Phương pháp thẩm định chưa thục sự linh hoạt và phù hợp với đặc điểm của từng dự án Chất lượng cán bộ thẩm định không đông đều Hiện nay chi nhánh mới chỉ có 6 cán bộ thẩm định, tuy nhiên cán bộ thẩm định có trình độ và chuyên môn cao thì mới chỉ có 2 người còn lại là những cán bộ trẻ, nghiệp vụ chưa thực sự vững vàng và mức độ hiểu biết về xã hội chưa sâu sắc, cán bộ trẻ có khả năng nhạy bén nhưng lại chưa đủ kinh nghiệm nghiệp vụ để thẩm định các dự án lớn, đa dạng, có ảnh hưởng lớn về mặt kinh tế xã hội tại địa phương. Mặt khác cán bộ thẩm định chỉ có thể đi sâu vào phân tích một vài khía cạnh liên quan đến dự án nên nhiều khi chưa thể đánh giá dự án một cách toàn diện. Ứng dụng công nghệ thông tin vào nghiệp vụ thẩm định còn hạn chế các chương trình tính toán tự động chưa được đưa vào sử dụng, do đó các chỉ tiêu tính toán phức tạp như dự báo, phân tích độ nhạy chưa thực sự chính xác khi tính bằng các phương pháp thông thường chi nhánh chưa xây dựng được một hệ thống thông tin nội bộ phong phú mới chỉ dừng lại ở mức lưu trữ dữ liệu. Việc trao đổi thông tin giữa ngân hàng với các khách hàng và với các tổ chức tài chính khác chưa thực sự được quan tâm đúng mức * Nguyên nhân của các tồn tại trên Năng lực, kiến thức, kinh nghiệm của cán bộ thẩm định Thông tin thu thập phục vụ cho quá trình thẩm định Phương pháp và tiêu chuẩn thẩm định Hệ thống trang thiết bị phục vụ công tác thẩm định Chất lượng hồ sơ dự án Các văn bản quy định về nghiệp vụ thẩm định và đầu tư nói riêng và hệ thống pháp lý của nhà nước nói chung Chương II: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư tại NHPTTB 2.1. Định hướng phát triển của NHPTTB đến năm 2015 và yêu cầu đặt ra đối với công tác thẩm định dự án tại chi nhánh Định hướng: - Xây dựng chi nhánh từng bước lớn mạnh trở thành một chi nhánh hoạt động có hiệu quả và an toàn trong toàn hệ thống - Phát triển mạng lưới phòng giao dịch tới các huyện trên địa bàn tỉnh Thái Bình - Tăng cường các biện pháp thu hút khách hàng tiềm năng từ địa phương khác nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân được trung ương đề ra Mục tiêu huy động vốn hàng năm đến năm 2015 tăng từ 15 %– 20% so với năm trước Chi nhánh cố gắng hoàn thành kế hoạch giải ngân hàng năm từ 90% - 97%, tỷ lệ gia tăng dư nợ năm sau so với năm trước từ 20% -22%, giảm tỷ lệ nợ quá hạn hàng năm xuống còn dưới 1%. Yêu cầu với công tác thẩm định dự án - Vế quy trình thẩm định Chi nhánh luôn tuân thủ đúng quy trình nghiệp vụ và ngày càng hoàn thiện quy trình thẩm định cho phù hợp với định hướng chung của NHPT Việt Nam - Về nội dung thẩm định Việc tính toán các chỉ tiêu của dự án phải đầy đủ, chính xác và dựa trên các phần mềm văn phòng để tính toán, hạn chế việc tính toán thủ công để giảm thiểu tối đa sai sót. - Về phương pháp thẩm đinh Vận dụng linh hoạt các phương pháp tùy theo từng nội dung thẩm định cụ thể, không tiến hành thẩm định theo lý thuyết máy móc. - Về thời gian thẩm định Phải đảm bảo nhanh gọn nhưng vẫn phải đảm bảo tính chính xác để không làm mất cơ hội đầu tư của chủ đầu tư nhưng cũng đảm bảo an toàn cho các khoản vay tại chi nhánh. 2.2. Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án tại chi nhánh Hợp lý hóa quy trình thẩm định, tổ chức và điều hành công tác thẩm định khoa học, đảm bảo chất lượng Quy trình thẩm định phải được xắp xếp lại, có những hướng dẫn cụ thể đối với từng lĩnh vực, những hướng dẫn này có thể được tổng hợp qua kinh nghiệm của các cán bộ thẩm định có thâm niên và chuyên môn cao chuyên trách về từng lĩnh vực. Mặt khác phải tiến hành phân công cán bộ thẩm định phụ trách khách hàng theo từng lĩnh vực kinh doanh nhất định Thẩm định kỹ thuật → Thẩm định tài chính → Thẩm định kinh tế xã hội: Thẩm định kỹ thuật tiến hành xong, đạt đủ điều kiện, hoặc thay đổi phương án kỹ thuật mới khả thi hơn thì mới tiến hành thẩm định tài chính khi đã có phương án kỹ thuật khả thi, cuối cùng mới tiến hành thẩm định khía cạnh kinh tế - xã hội. Thẩm định kỹ thuật sẽ được giao cho một ban chuyên về kỹ thuật của chi nhánh, còn lại thẩm định tài chính và thẩm định kinh tế xã hội sẽ giao cho phòng tổng hợp và tín dụng, phòng tín dụng đặc biệt phụ trách công tác thẩm định năng lực chủ đầu tư. Bổ sung các nội dung thẩm định + Thẩm định cách tính toán tỷ suất r dựa trên việc khảo sát tính chính xác của các nguồn vốn tài trợ cho dự án + Cần phân tích dòng tiền, rủi ro dòng tiền, cần dự đoán được nhu cầu về tiền trong tương lai trước khi nhu cầu này xuất hiện đối với doanh nghiệp từ đó mới cân đối được lượng tiền mặt thật sự. Cần xem xét rủi ro dòng tiền dự án thông qua xem xét chính sách bán hàng của doanh nghiệp đối với sản phẩm của dự án như: chính sách bán hàng như thế nào, chiết khấu bán hàng ra sao? khả năng thu tiền hàng như thế nào, chính sách marketing... nói chung là các vấn đề liên quan đến việc thu tiền, tạo tiền thực tế của dự án nhằm đảm bảo khả năng trả nợ. + Thẩm định tài chính dự án cũng phải lưu ý vấn đề chi phí : Chi phí xây lắp không những chỉ dựa trên đơn giá mà phải dựa trên cả chi phí của các dự án tương tự trong cùng khoảng thời gian. Chi phí bán hàng: Vận chuyển, bảo dưỡng, bảo hành, hậu mãi... + Cán bộ thẩm định nên tính toán lại doanh thu và chi phí tại thời điểm thẩm định + Nên đổi mới và áp dụng những quy định mới nhất về tính khấu hao của nhà nước ban hành cụ thể đối với từng loại tài sản và từng lĩnh vực. + Thẩm định phương diện kinh tế xã hội của dự án kỹ lưỡng hơn Phối hợp các phương pháp thẩm định một cách linh hoạt và phù hợp với đặc điểm của từng dự án Nâng cao chất lượng của cán bộ thẩm định Ban lãnh đạo cần tổ chức những các buổi tổng kết hoạt động trong năm, quý, các buổi thảo luận chuyên đề nhằm tuyên dương và có sự động viên về vật chất đối với các cán bộ, tạo được điều kiện cho các cán bộ thẩm định và tín dụng đưa ra những vướng mắc gặp phải từ đó cùng thảo luận đưa ra giải pháp. Cần tổ chức những lớp tập huấn chuyên sâu về thẩm định dự án, đào tạo tin học cho cán bộ, gửi cán bộ đi tham gia các lớp tập huấn nghiệp vụ do trung ương tổ chức Việc tuyển dụng cán bộ phải chú ý đến năng lực, trình độ chuyên môn của họ, tránh tình trạng con em cán bộ cũ được tuyển vào nhưng không đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ. Trang bị cơ sở vật chất hỗ trợ đầy đủ để phát huy năng lực của cán bộ thẩm định như phương tiện đi lại, liên lạc, tìm kiếm thông tin... Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào trong quá trình thẩm định Hiện đại hóa hệ thống máy tính và cập nhật các phần mềm chuyên dụng phục vụ công tác chuyên môn. Mở lớp đào tạo nội bộ về công nghệ thông tin cho các cán bộ tại chi nhánh. Tuyển dụng thêm các nhân viên công nghệ thông tin có trình độ chuyên môn cả về công nghệ và kinh tế- tài chính, nghiệp vụ ngân hàng . Tăng cường thu thập thông tin và tạo mối quan hệ tốt với ngân hàng và các ngân hàng thương mại khác Thu thập thông tin Cán bộ thực hiện thu thập thì nguồn thông tin từ báo chí, phương tiện truyền thông, thị trường sản phẩm, từ bạn bè khách hàng, các mối quan hệ của các bộ thẩm định. Ban lãnh đạo chi nhánh phải thường xuyên liên hệ với hội sở chính để nắm bắt các thông tin thay đổi Ban giám đốc và các cán bộ công nhân viên của ngân hàng phải tạo mối quan hệ tốt với ban lãnh đạo địa phương để cập nhất sớm nhất các thông tin trong chỉ đạo, định hướng quy hoạch kế hoạch phát triển ngành, nghề ... Tạo mối quan hệ tốt với khách hàng Chi nhánh nên thành lập một phòng giao dịch riêng tách biệt với phòng kế toán gồm những người có chuyên môn về lập và thẩm định dự án để tư vấn cho khách hàng về hồ sơ, thủ tục nhằm nâng cao chất lượng hồ sơ dự án . Học tập kinh nghiệm của các ngân hàng thương mại khác Thực hiện trao đổi cán bộ giữa các ngân hàng thuộc hệ thống ngân hàng nhà nước để tạo môi trường làm việc mới cho cán bộ của chi nhánh cũng như học hỏi kinh nghiệm của các cán bộ ngân hàng khác. 2.3. Kiến nghị đối với các cơ quan có liên quan Kiến nghị đối với nhà nước, sở ban ngành địa phương Nhà nước cần thiết lập và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật đảm bảo an toàn cho nghiệp vụ tín dụng của nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển. Nhà nước cần công bố một cách công khai các quy hoạch tổng thể về phát triển kinh tế xã hội theo ngành, vùng, lãnh thổ theo từng thời kỳ. Chính phủ cần cập nhật thường xuyên những thay đổi của các thành phần, lĩnh vực trong nền kinh tế để mở rộng quy mô sử dụng của vốn tín dụng đầu tư nhà nước trong điều kiện hiện nay. Nhà nước cần chỉ đạo các doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc các chế độ hạch toán, thống kê và công bố thông tin định kỳ. Các sở tại địa phương phải tích cực thực hiện chức năng quản lý của mình. Kiến nghị đối với NHPT Việt Nam NHPTVN cần tiếp tục rà soát các văn bản nghiệp vụ, thay thế các văn bản chồng chéo, không còn phù hợp. Tổ chức các đoàn công tác đôn đốc giải ngân, cùng chi nhánh tháo gỡ khó khăn trong việc thẩm định các dự án lớn. Trang bị đầy đủ máy tính và các trang thiết bị tin học phục vụ cho công tác chuyên môn tại các chi nhánh. Tiếp tục tổ chức lớp đào tạo nâng cao về nghiệp vụ ngân hàng. Trên đây là một số giải pháp dựa trên những nghiên cứu của cá nhân em xin được đề xuất để nhằm hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư tại NHPTTB nói riêng và các ngân hàng thương mại nói chung. PHẦN MỞ ĐẦU Trong những năm vừa qua, để tích cực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, nhà nước ta đã ra sức phát triển các hình thức đầu tư và đặc biệt là việc mở rộng nguồn vốn cho đầu tư phát triển. Bên cạnh các nguồn vốn đã phát huy tác dụng thì vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước đang dần dần tỏ rõ vai trò của mình đối với việc vực dậy các thành phần kinh tế cũng như các vùng, ngành, nghề kém phát triển. Để nguồn vốn này phát huy tác dụng mạnh mẽ chính phủ đã thành lập ngân hàng phát triển Việt Nam (NHPTVN), một tổ chức chuyên quản và sử dụng nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển. Sau hơn hai năm thành lập và phát triển Ngân hàng phát triển Việt Nam đã tích cực hoạt động việc xây dựng bộ máy, cơ chế chính sách, quy trình nghiệp vụ để thực hiện nhiệm vụ nhằm góp phần tăng trưởng kinh tế xã hội trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường vận hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước. Ngân hàng phất triển không những phát huy tác dụng ở tầm vĩ mô mà nó còn góp phần tăng trưởng kinh tế các vùng, miền trong cả nước thông qua hoạt động của 59 chi nhánh tại các tỉnh thành phố. Đứng trước giai đoạn phát triển mạnh mẽ theo hướng CNH – HĐH kinh tế xã hội của Đảng đến năm 2020, chính phủ đã đòi hỏi triển khai mạnh mẽ việc tài trợ vốn tín dụng đầu tư phát triển cho nhiều dự án khôi phục các ngành nghề cũng như hoàn thiện cơ sở hạ tầng, do đó nguồn vốn cho vay tại NHPT ngày càng trở nên phổ biến và quan trọng đối với các cá nhân cũng như doanh nghiệp. Để công tác tài trợ vốn đạt hiệu quả cao và không lãng phí nguồn tín dụng đầu tư của nhà nước thì NHPT phải đảm bảo độ an toàn và hiệu quả của các dự án được cho vay. Do đó để đưa ra một quyết định tài trợ chính xác thì thẩm định dự án là khâu hết sức quan trọng không những đảm bảo dự án hoạt động hiệu quả mà còn gia tăng mức độ an toàn trong hoạt động của hệ thống NHPT. Là một chi nhánh trong hệ thống NHPT, để đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng của mình chi nhánh NHPT tỉnh Thái bình đã chú trọng đến công tác thẩm định nhưng nhìn chung kết quả chưa cao, chính vì vậy trong thời gian thực tập tại chi nhánh em đã chọn đề tài: “Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thẩm định tại Ngân hàng Phát triển chi nhánh tỉnh Thái Bình”. Với những kiến thức tích lũy được trong thời gian thực tập tại chi nhánh cũng như trong thời gian học tập tại trường, em mong muốn sẽ đóng góp kiến thức của mình để hoàn thiện và nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại chi nhánh. Khóa luận gồm 2 chương: Chương I: Thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng Phát triển chi nhánh tỉnh Thái Bình Chương II: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án tại Ngân hàng Phát triển chi nhánh tỉnh Thái Bình Do giới hạn về trình độ, kinh nghiệm và thời gian tìm hiểu thực tế nên bài viết của em không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến và chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo và các cán bộ tại chi nhánh để giúp em hoàn thiện bài viết này. CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN CHI NHÁNH TỈNH THÁI BÌNH 1.1. Khái quát về Ngân hàng Phát triển chi nhánh tỉnh Thái Bình 1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Phát triển chi nhánh tỉnh Thái Bình Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp thuộc châu thổ sông Hồng với dân số đông và diện tích đất nông nghiệp thuộc loại lớn trên cả nước, từ những đặc điểm trên Thái Bình đã có những bước phát triển mạnh về kinh tế, tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được phát triển kinh tế ở Thái Bình vẫn còn nhiều yếu kém như: kinh tế phát triển chưa bền vững, nhịp độ tăng trưởng thấp so với các tỉnh trong khu vực, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm. Sản xuất nông nghiệp chậm chuyển sang sản xuất hàng hóa, quy mô nhỏ lẻ phân tán, hiệu quả thấp. Quy mô sản xuất nông nghiệp còn nhỏ, chủ yếu là công nghiệp của địa phương, thiết bị công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý yếu, trình độ tay nghề người lao động không cao, không có những điều kiện địa lí thuận lợi để thu hút các nguồn vốn trong và ngoài nước phục vụ cho đầu tư phát triển của địa phương cũng như cho phát triển công nghiệp và các ngành nghề phục vụ công nghiệp. Hoạt động tín dụng chưa đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển sản xuất kinh doanh. Đứng trước yêu cầu cấp thiết phải đưa Thái Bình trở thành một địa phương có nền công nghiệp phát triển thì việc chi nhánh Quỹ hỗ trợ phát triển được thành lập đã mang lại rất nhiều thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động tại đây. Theo quyết định số 03/QĐ-NHPT của tổng giám đốc ngân hàng phát triển Việt Nam, quỹ hỗ trợ phát triển chi nhánh Thái Bình đã chính thức được tổ chức lại thành ngân hàng phát triển chi nhánh Thái Bình. Trong những năm hoạt động, chi nhánh đã hỗ trợ rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong các ngành nghề mang lại hiệu quả kinh tế thấp như chăn nuôi, đóng tàu loại nhỏ và trung, nuôi trồng thủy hải sản tại ven biển Tiền Hải; vực dậy nhiều ngành nghề, làng nghề truyền thống chưa có điều kiện về vốn để phát triển như làng nghề dệt vải xã Thái Phương huyện Hưng Hà hay nghề trồng đâu nuôi tằm chế biến sợi thô phục vụ xuất khẩu tại huyện Vũ Thư...; các doanh nghiệp hoạt độ._.ng quy mô lớn tại khu công nghiệp đang cần vốn để thay đổi dây chuyền công nghệ hiện đại thay cho các công nghệ cũ lạc hậu. Do có sự đóng góp to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương nên kể từ khi thành lập chi nhánh đã phát triển cả về quy mô nhân lực cũng như tổng vốn hoạt động. 1.1.2. Chức năng nhiệm vụ của Ngân hàng Phát triển chi nhánh tỉnh Thái Bình Hoạt động của Ngân hàng phát triển không vì mục đích lợi nhuận nhưng phải đảm bảo hoàn vốn và bù đắp chi phí. Ngân hàng phát triển được chính phủ bảo đảm khả năng thanh toán, được miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách theo quy định của pháp luật. Vốn điều lệ của Ngân hàng phát triển là 5.000 tỉ đồng từ nguồn vốn điều lệ hiện có của quỹ hỗ trợ, thời gian hoạt động là 99 năm kể từ khi quyết định số 108/2006/QĐ-TTg ngày 19/5/2006 có hiệu lực. Ngày 20/12/2006 Chính phủ ban hành nghị định số 151/2006/NĐ-CP về công tác tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của nhà nước, trong đó quy định rõ về nguồn vốn hình thành của Ngân hàng: - Ngân hàng phát triển được tiếp nhận nguồn vốn từ ngân sách nhà nước gồm: vốn điều lệ của ngân hàng phát triển, vốn ngân sách nhà nước cấp cho các dự án theo kế hoạch hàng năm, vốn ODA được chính phủ giao; - Vốn huy động từ phát hành trái phiếu và chứng chỉ tiền gửi theo quy định của pháp luật, vay tiết kiệm bưu điện, Quỹ bảo hiểm xã hội, các tổ chức tài chính tín dụng trong và ngoài nước; - Nhận tiền gửi của các tổ chức trong và ngoài nước; - Vốn đóng góp tự nguyện không hoàn trả của các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội, các hiệp hội, tổ chức trong và ngoài nước; - Vốn nhận ủy thác, cấp phát, cho vay của chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế xã hội, các hiệp hội trong và ngoài nước; - Các nguồn vốn khác theo quy định của pháp luật. Đối tượng phục vụ của Ngân hàng phát triển là các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế có dự án thuộc diện vay vốn đầu tư, bảo lãnh tín dụng đầu tư, hỗ trợ sau đầu tư, các doanh nghiệp trong và ngoài nước có hợp đồng tín dụng xuất khẩu hoặc các tổ chức nước ngoài thuộc diện vay vốn, bảo lãnh tín dụng xuất khẩu và các tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình thực hiện tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu nhà nước. Tại quyết định số 108/2006/QĐ-TTg ngày 19/5/2006 của thủ tướng chính phủ đã quy định chức năng và nhiệm vụ của ngân hàng phát triển: huy động, tiếp nhận nguồn vốn của các tổ chức trong và ngoài nước để thực hiện tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu của nhà nước và một số nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật bao gồm: cho vay đầu tư, bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng. Các chức năng được quy định cụ thể như sau: 1. Huy động, tiếp nhận vốn Huy động, tiếp nhận vốn của các tổ chức trong và ngoài nước để thực hiện tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu của nhà nước theo quy định của chính phủ. 2. Thực hiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển: a) Cho vay đầu tư phát triển; b) Hỗ trợ sau đầu tư; c) Bảo lãnh tín dụng đầu tư. 3. Thực hiện chính sách tín dụng xuất khẩu: a) Cho vay xuất khẩu; b) Bảo lãnh tín dụng xuất khẩu; c) Bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng xuất khẩu. 4. Nhận ủy thác quản lí nguồn vốn ODA Nhận ủy thác quản lí nguồn vốn ODA được chính phủ cho vay lại, nhận ủy thác cấp phát cho vay đầu tư và thu hồi nợ của khách hàng từ các tổ chức trong và ngoài nước thông qua hợp đồng nhận ủy thác giữa ngân hàng phát triển với các tổ chức ủy thác. 5. Ủy thác cho các tổ chức tài chính, tín dụng thực hiện nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng phát triển. 6. Cung cấp các dịch vụ thanh toán Cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng và tham gia hệ thống thanh toán trong và ngoài nước phục vụ cho hoạt động của ngân hàng phát triển theo quy định của pháp luật. 7. Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu. 8. Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Thủ tướng Chính phủ giao. 1.1.3. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Phát triển chi nhánh tỉnh Thái Bình Hình 1.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức tại chi nhánh Giám đốc Phó giám đốc phụ trách nghiệp vụ Phó giám đốc phụ trách hành chính Phòng tổng hợp Phòng tín dụng Phòng tài chính Phòng hành chính Khách hàng Nguồn: Phòng Hành chính- NHPT chi nhánh tỉnh Thái Bình 1.1.3.1.Phòng tổng hợp a) Chức năng: Tham gia cùng với giám đốc trong công tác thẩm định dự án các nhóm thuộc kinh tế địa phương, tổng hợp, lưu trữ hồ sơ các hoạt động chung của chi nhánh. b) Nhiệm vụ: - Phối hợp tham gia ý kiến về nghiệp vụ thẩm định phương án tài chính, phương án trả nợ vốn vay; - Chủ trì phối hợp với các phòng ban chức năng khác tham mưu về quyết định cho vay tín dụng đầu tư phát triển với các dự án được phân cấp hay trình tổng giám đốc đối với các dự án chưa được phân cấp; - Lập kế hoạch hoạt động cho cả chi nhánh; - Huy động vốn và điều hành nguồn vốn; - Thực hiện kiểm tra giám sát nội bộ; - Tiếp xúc, hướng dẫn khách hàng các thủ tục lập và thẩm định dự án; 1.1.3.2. Phòng tín dụng a) Chức năng: Tổ chức thực hiện nhiệm vụ cho tín dụng, đầu tư trong nghiệp vụ cho vay đầu tư các dự án trong và ngoài nước sử dụng vốn của chi nhánh. b) Nhiệm vụ: - Tham gia thẩm định các dự án sử dụng vốn đầu tư trong nước ra nước ngoài; - Thực hiện công tác cho vay ngắn và dài hạn đối với các doanh nghiệp và các cá nhân có nhu cầu sử dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển trong và ngoài tỉnh Thái Bình; - Thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ sau đầu tư như hỗ trợ lãi suất cho các dự án cho vay vốn của các tổ chức tín dụng khác; - Thực hiện giám sát khách hàng về khả năng trả nợ và đảm bảo thanh toán nợ xấu; 1.1.3.3. Phòng tài chính kế toán a) Chức năng: Thực hiện hạch toán kinh doanh của ngân hàng và quản lý các hoạt động thu chi của ngân hàng. b) Nhiệm vụ: - Phối hợp cùng các phòng ban thẩm định tài chính các dự án vay vốn tại ngân hàng đặc biệt là hỗ trợ thẩm định tài chính dự án và báo cáo tài chính của doanh nghiệp; - Thực hiện giao dịch, quản lí các tài khoản tiền gửi của các cá nhân tại ngân hàng; - Phân loại và quản lí các khoản thu chi của ngân hàng; - Liên kết với các ngân hàng khác cùng hoặc không cùng hệ thống nhằm huy động vốn cũng như tận dụng đầu tư các nguồn vốn nhàn rỗi. 1.1.3.4. Phòng hành chính, nhân sự - Thực hiện quản lí, điều phối nhân sự, tổ chức các hoạt động sinh hoạt chung cho toàn bộ cán bộ công nhân viên trong ngân hàng - Thực hiện giao dịch với khách hàng 1.2. Tình hình hoạt động của Ngân hàng Phát triển chi nhánh Thái Bình từ năm 2000-2008 1.2.1. Công tác huy động vốn Từ năm 2000- 2006, đây là giai đoạn phát triển đầu tiên của hệ thống Ngân hàng phát triển khi còn là quỹ hỗ trợ phát triển, giai đoạn đầu khả năng huy động vốn của ngân hàng còn hạn hẹp chỉ dừng lại ở những nguồn vốn trong nước, cụ thể là nguồn vốn nhàn rỗi từ các đơn vị công lập như Bưu điện, Bảo hiểm... Trong 5 năm 2000-2004 để thực hiện tốt những nhiệm vụ của nhà nước giao, cùng với nguồn vốn từ quỹ trung ương chuyển về chi nhánh đã tích cực tìm và khai thác các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các đơn vị, tổ chức kinh tế dể cho vay. Đặc biệt nhờ sự giúp đỡ của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình, kho bạc nhà nước tỉnh, tổng công ty bảo hiểm Việt Nam và các cấp, ngành trong tỉnh. Mặc dù mới được triển khai nhưng trong 5 năm từ năm 2000-2004 Chi nhánh đã huy động được trên 136 tỷ đồng trong đó đã huy động được 20 tỷ có kỳ hạn 10 năm và 51 tỷ có kì hạn 5 năm, số còn lại là kì hạn dưới 1 năm. Giai đoạn từ năm 2005-2006 hoạt động huy động vốn của quỹ đã có nhiều tiến bộ đáng kể, số vốn huy động được tăng thêm nhờ nguồn vốn không kì hạn. Năm 2006 - 2008 là giai đoạn quan trọng đánh dấu 3 năm đầu tiên chi nhánh chính thức hoạt động trong vai trò là một ngân hàng hỗ trợ chính thức của chính phủ. Sự chuyển đổi này đã đem lại rất nhiều thuận lợi cho chi nhánh trong việc tham gia huy động vốn phục vụ tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu cho các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, là một trong 4/59 chi nhánh của toàn hệ thống Ngân hàng phát triển Việt Nam thực hiện liên hệ và huy động thành công vốn nước ngoài. Lượng vốn huy động tăng vượt bậc so với giai đoạn trước chính nhờ sự năng động của ban lãnh đạo Ngân hàng trong công tác thu hút và huy động vốn, đồng thời thể hiện được uy tín của Ngân hàng trong quá trình hoạt động. Với nguồn vốn huy động được trong hai giai đoạn trên chi nhánh đã thực hiện có sự tính toán điều chỉnh kịp thời hàng năm đến từng dự án cho vay và cấp hỗ trợ sau đầu tư, không xảy ra tình trạng ách tắc vốn và thiếu nguồn phục vụ công tác tín dụng đầu tư. Bảng 1.1 đã cho biết kết quả huy động vốn cụ thể tại chi nhánh như sau: Bảng 1.1: kết quả huy động vốn tại chi nhánh năm 2000-2008 đơn vị: Triệu đồng Chỉ tiêu Năm Tổng số dư huy động nội tệ % Số dư huy động kỳ hạn 10 năm % Số dư huy động kỳ hạn 5 năm % Số dư huy động kỳ hạn 1 năm % Số dư huy động kỳ hạn dưới 1 năm % Số dư huy động không kỳ hạn Tổng số dư huy động ngoại tệ (triệu USD) 2000 3.456 100% 2001 4.254 100% 2002 5.1540 32,09% 67,91% 2003 30.500 52,46% 47,54% 2004 86.000 23,25% 50,47% 9,3% 6,98% 2005 99.516 20,1% 57,3% 4,4% 2,5% 15,7% 2006 120.234 26,6% 50% 6,9% 2,7% 13,8% 2007 274.803 20,74% 43,66% 7,27% 21,83% 6,47% 20.000 2008 524.000 30,2% 15,6% 21% 38,22% 5,02% 10.000 Nguồn: Phòng tổng hợp – NHPT chi nhánh tỉnh Thái Bình 1.2.2. Công tác tài trợ vốn a. Tài trợ vốn cho hoạt động đầu tư phát triển Trong các năm từ 2000-2004 Chi nhánh đã thẩm định và chấp nhận cho vay 57 dự án đầu tư với tổng số vốn đầu tư 866.361 triệu đồng, trong đó vốn vay là 540.416 triệu đồng, đã ký hợp đồng tín dụng và cho vay tổng số 47 dự án với số vốn giải ngân là 401.938 triệu đồng. Vốn đầu tư cho vay tập trung vào lĩnh vực kinh tế : dệt may, chế biến nông lâm hải sản, nghành công nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản, chăn nuôi, vận tải, làng nghề, kiên cố hóa kênh mương , xây dựng, y tế giáo dục. Trong hai năm 2005-2006 tổng số dự án được thẩm định và tiến hành cho vay không tăng tuy nhiên quy mô các dự án và tổng số tiền vay tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của các dự án đã lớn hơn nhiều so với giai đoạn từ năm 2000-2004. Riêng năm 2005 Chi nhánh đã tiến hành tiếp nhận và thẩm định 12 dự án có tổng vốn đầu tư 434.120 triệu đồng với tổng số vốn vay là 174.853 triệu đồng trong đó 2 dự án không đủ điều kiện cho vay, 1 dự án đã thẩm định xong và từ chối cho vay, 7 dự án đã thẩm định xong và trình quỹ trung ương xin kế hoạch giải ngân có tổng vốn đầu tư là 46.583 triệu đồng, vốn xin vay là 23.500 triệu đồng đã được quỹ trung ương thông báo kế hoạch giải ngân. Năm 2006 chi nhánh tiếp nhận hồ sơ của 18 dự án có tổng vốn đầu tư 512.235 triệu đồng với tổng số vốn vay là 254.231 triệu đồng, trong đó chỉ có 6 dự án đủ diều kiện cho vay với tổng số vốn vay là 58.265 triệu đồng đã trình kế hoạch và được quỹ trung ương chấp nhận giải ngân. Kết quả năm 2007 chi nhánh đã tiếp nhận 47 dự án mới, đã lựa chọn thẩm định và quyết định cho vay và kí hợp đồng được 19 dự án trong đó có 17 dự án thuộc đối tượng cho vay theo nghị định 151/NĐ-CP với tổng vốn đầu tư 1.296 tỷ đồng với số vốn vay là 752,5 tỷ đồng. Đến 31/12/2007 theo kế hoạch giải ngân của trung ương đưa xuống, kết hợp với các chủ đầu tư thì bên cạnh việc hoàn thành chỉ tiêu giải ngân chương trình kiên cố hóa kênh mương 20.000 triệu đồng chi nhánh còn thực hiện giải ngân được 88.792 triệu đồng hoàn thành vượt chỉ tiêu kế hoạch ; so với cùng kì năm 2006 tổng số vốn giải ngân chỉ đạt 63,2% kế hoạch thì đến năm 2007 tỷ lệ giải ngân đạt 195% kế hoạch . Năm 2008 ngoài 19 dự án quyết định cho vay với tổng số vốn vay theo hợp đồng tín dụng đã ký là 2.105 tỷ đồng, được trung ương chấp nhận duyệt vay 1 dự án thuộc chương trình nước Phần Lan. Trong tháng 10 năm 2008 thực hiện công điện 13/NHPT-VP của tổng giám đốc, văn bản 3063/NHPT-TĐ chi nhánh đã rà soát lại toàn bộ các dự án đang và sẽ giải ngân trong năm, cuối năm 2008 đã tiến hành rà soát và cho vay 12 dự án với tổng số vốn vay là 1.022 tỷ đồng, còn lại 24 dự án tiếp tục rà soát. Trong 2 năm qua chi nhánh đã kí hợp đồng với 42 chủ đầu tư để xin cho vay 44 dự án với tổng vốn đầu tư là hơn 5.242 tỷ đồng với số vốn xin vay là 3.050 tỷ đồng. Chi nhánh đã tiến hành giải ngân vốn vay tín dụng đầu tư hơn 487 tỷ đồng, chủ yếu cho vay vao các lĩnh vực đóng tàu vận tải biển, chế biến thức ăn chăn nuôi, công nghiệp nhẹ cụ thể như sau: - Cho vay để đầu tư đóng tàu vận tải biển là : 367,3 tỷ đồng - Cho vay chế biến thức ăn chăn nuôi : 7,3 tỷ đồng - Cho vay ngành dệt: 88 tỷ đồng - Cho vay kiên cố hóa kênh mương: 20 tỷ đồng - Cho vay để đầu tư vào các ngành kinh tế khác như chế biến hải sản, chăn nuôi gia súc, chế biến nông sản: 4,7 tỷ đồng b. Tài trợ vốn cho hoạt động xuất khẩu Cùng với tín dụng đầu tư và hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, loại hình tín dụng ngắn hạn hỗ trợ xuất khẩu đã góp phần lớn vào việc tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu. Từ đó thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tỉnh. Tuy chính sách hỗ trợ xuất khẩu mới được triển khai từ năm 2002 nhưng chi nhánh đã kịp thời triển khai tích cực, doanh số cho vay không ngừng gia tăng đáng kể cụ thể: Bảng 1.2 : Tình hình tín dụng xuất khảu 2002-2006 đơn vị: tỷ đồng Chỉ tiêu 2002 2003 2004 2005 2006 Doanh số cho vay 22,946 40,827 100 101,903 95,466 Số hợp đồng tín dụng xuất khẩu đã thực hiện 20 31 25 31 19 Thu nợ 21,25 39,125 89,54 98,456 99,41 Dư nợ đến 31/12 7,45 12,54 28,245 32,145 23,967 Nguồn: Phòng tín dụng NHPTTB Bước sang năm 2007 mặc dù số đơn vị có mặt hàng thuộc đối tượng cho vay ngắn hạn xuất khẩu trên địa bàn tỉnh đã bị thu hẹp, tuy nhiên doanh số thu được là khá cao, cụ thể như sau: Bảng 1.3 : Tình hình tín dụng xuất khẩu 2007-2008 đơn vị: triệu đồng Chỉ tiêu 2007 2008 Doanh số cho vay 70.849 85.265 Số hợp đồng tín dụng xuất khẩu đã thực hiện 45 40 Thu nợ gốc 64.541 76.243 Thu nợ lãi 1.368 2.100 Dư nợ bình quân 18.995 23.965 Nguồn: Phòng tín dụng NHPTTB 1.2.3. Công tác thu nợ vốn vay tín đụng đầu tư Thu hồi vốn đầu tư là một nhiệm vụ rất quan trọng và cần thiết để đảm bảo nguồn vốn tái đầu tư cho các dự án tiếp theo. Xác định được vấn đề đó chi nhánh đã tích cực triển khai nhiều biện pháp đôn đốc nợ, thành lập tổ mũi nhọn bám sát và nắm bắt tình hình cụ thể, đề ra biện pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp đồng thời thu hồi vốn về cho nhà nước. Trong 6 năm quỹ hỗ trợ hoạt động từ 2000 - 2006 tổng nợ thu được là 225.619 triệu đồng trong đó thu lãi là 56.554 triệu đồng. Giai đoạn này vốn tín dụng đầu tư phát triển đã phát huy tác dụng lớn trong việc phát triển kinh tế của tỉnh Thái bình. Nhiều dự án đầu tư đã phát huy tốt hiệu quả kinh tế. Năm 2007 tổng thu nợ gốc là 72.296 triệu đồng đạt 119% kế hoạch đặt ra trong năm , tổng thu lãi là 10.567 triệu đồng đạt 101% kế hoạch năm. Năm 2008 tổng thu nợ gốc là 85.562 triệu đồng đạt 103% kế hoạch năm 2008 và tổng thu nợ lãi là 12.567 triệu đồng đạt 98% kế hoạch. Nhìn chung công tác thu nợ hai năm gần đây sau khi chi nhánh chính thức hoạt động theo mô hình ngân hàng thì tổng số thu nợ gốc và lãi đã tăng đáng kể so với giai đoạn trước đó. Trung bình hai năm 2007-2008 tổng thu nợ gốc và lãi đã chiếm hơn 35% tổng số thu nợ gốc và lãi 6 năm hoạt động trước. Đây là bước tiến bộ đáng kể đánh dấu sự chuyên nghiệp hóa của hoạt động tín dụng tại chi nhánh, nợ thu đúng hạn đã làm tăng doanh thu cho ngân hàng, tránh được tình trạng nợ xấu. tỷ lệ nợ quá hạn giảm dần qua các năm, đây là nguồn thu quan trọng giúp chi nhánh hoàn thành đúng kế hoạch huy động vốn hàng năm. Công tác thu nợ của chi nhánh được thể hiện cụ thể trong bảng sau: Bảng 1.4: Tình hình thu nợ gốc và lãi giai đoạn 2000-2008 Đơn vị: Triệu đồng Năm Thu nợ gốc Thu nợ lãi Tổng dư nợ Nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn Thực hiện % so với kế hoạch Thực hiện % so với kế hoạch 2000 7.813 55% 4.121 48,2% 140.439 4.526 3,22% 2001 19.424 88% 7.077 50% 193.413 8.069 4,17% 2002 29.372 70,1% 7.111 38% 238.829 13.203 5,53% 2003 40.072 79% 8.687 54% 305.652 19.659 6% 2004 49.254 91,6% 9.666 74,5% 331.130 27.280 8,2% 2005 64.713 115% 10.670 109% 321.738 8.307 2,85% 2006 74.210 118% 10.068 96% 271.022 11.533 2,2% 2007 72.296 119% 10.567 101% 307.516 4.578 1,6% 2008 85.562 103% 12.567 98% 637.805 29.277 1,35% Nguồn: Phòng tổng hợp NHPTTB 1.3. Thực trạng về công tác thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng Phát triển chi nhánh tỉnh Thái Bình Căn cứ vào quyết định số 41/QĐ- HĐQL ngày 14/9/2007 của hội đồng quản lý ngân hàng phát triển Việt Nam về việc cho vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, lãnh đạo chi nhánh đã ban hành quyết định 481/QĐ-NHPT.TBI quy định trình tự thẩm định hồ sơ dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của nhà nước. Việc ra quyết định này nhằm tạo một quy chế chung thống nhất cho công tác thẩm định tại chi nhánh, để công tác thẩm định, quyết định cho vay các dự án trong chi nhánh được thực hiện theo đúng chế độ chính sách của nhà nước, quy định phân cấp của ngành đảm bảo tính hiệu quả trong quản lý, điều hành, đồng thời phù hợp với chủ trương cải cách hành chính. Mặt khác, quyết định này cũng nhằm nâng cao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các cá nhân và các phòng nghiệp vụ của chi nhánh trong việc thẩm định và ra quyết định cho vay. 1.3.1. Đặc trưng của các dự án xin vay vốn tại Ngân hàng Phát triển chi nhánh tỉnh Thái Bình Ngân hàng Phát triển được thành lập để thực hiện chính sách tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của nhà nước thông qua việc cho vay, thu nợ các dự án đầu tư thuộc đối tượng ưu đãi dầu tư thuộc một số ngành, lĩnh vực, chương trình kinh tế lớn của nhà nước có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế hay các vùng khó khăn cần khuyến khích đầu tư. Do đó các dự án xin vay vốn tại ngân hàng ngoài những đặc trưng chung của một dự án đầu tư thông thường còn tồn tại những đặc trưng riêng biệt sau: - Lĩnh vực đầu tư: Dự án phải thuộc những lĩnh vực khó khăn cần sự trợ giúp của chính phủ, các chương trình hỗ trợ phát triển của nhà nước và các dự án này cũng phải phù hợp với mục tiêu phát triển của địa phương cũng như chiến lược của cả nước. Các dự án thuộc các ngành nghề, lĩnh vực ưu đãi được quy định trong nghị định 151/2006/ NĐ- CP ngày 20/12/2006 của chính phủ về tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước. - Hình thức đầu tư: Các dự án phải là các dự án đầu tư phát triển: bao gồm đầu tư mới hoặc đầu tư mở rộng sản xuất, đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh hỗ trợ cho sự phát triển ngành nghề cụ thể đối với từng dự án. Ngân hàng không tiếp nhận các dự án thuộc các lĩnh vực đầu tư tài chính, bất động sản, kinh doanh thương mại, dự án thuộc các lĩnh vực đã phát triển mạnh và các dự án của các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. - Quy mô vốn và hiệu quả: Thái Bình là một tỉnh thuần nông, các dự án sản xuất công nghiệp và chế biến nông phẩm còn nhỏ lẻ, gặp khó khăn trong khâu sản xuất và cạnh tranh, các làng nghề truyền thống chưa phát triển mạnh, mà đây lại chính là các đối tượng phục vụ của Ngân hàng phát triển; vì thế các dự án do ngân hàng thẩm định đều có quy mô vốn đầu tư tương đối nhỏ, thị phần của dự án hẹp, hiệu quả sử dụng vốn chưa cao, thời gian thu hồi vốn chậm, mức độ rủi ro mà các dự án gặp phải cao. Chính vì những đặc điểm trên mà các dự án xin vay vốn tại ngân hàng phát triển có sự khác biệt đối với các dự án vay vốn tại ngân hàng thương mại. Việc thẩm định và quyết định cho vay của ngân hàng thể hiện sự hỗ trợ của nhả nước đối với các lĩnh vực kém phát triển của nền kinh tế. Các yêu cầu về thẩm định dự án của ngân hàng sẽ thấp hơn mức trung bình tại các ngân hàng thương mại nhưng vẫn phải đàm bảo khả năng thu hồi vốn nhằm dễ dàng tài trợ vốn kích thích các thành phần kinh tế kém phát triển. 1.3.2. Nguyên tắc thẩm định tại chi nhánh - Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định và hướng dẫn của ngân hàng phát triển Việt Nam về công tác thẩm định và cho vay dự án. - Đảm bảo tính khách quan, trung thực trong quá trình thẩm định. - Tình hình triển khai cũng như số liệu, thông tin về dự án phải được cập nhật đến thời điểm gần nhất so với thời điểm thẩm định. - Có sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng, nghiệp vụ, nâng cao tinh thần trách nhiệm, thống nhất nội dung trước khi làm việc với chủ đầu tư. - Trong quá trình thẩm định cần tập trung phân tích đánh giá năng lực của chủ đầu tư và lĩnh vực đầu tư. - Các phòng tham gia thảm định dự án phải thẩm định và đề xuất ý kiến, nhận xét, đánh giá độc lập về tất cả các nội dung được phân công thẩm định của dự án theo quyết định này, trong đó phải có kiến nghị, đề xuất rõ ràng, cụ thể và được bảo lưu ý kiến về dự án. 1.3.3. Quy trình thẩm định tại các phòng ban của chi nhánh Sơ đồ trình tự thẩm định dự án đầu tư tại chi nhánh Hồ sơ dự án của khách hàng → Phòng tổng hợp → Phòng tín dụng → Giám đốc chi nhánh. Nhiệm vụ của các phòng ban trong chi nhánh khi tiến hành nghiệp vụ thẩm định dự án được phân công cụ thể như sau: 1.3.3.1. Phòng tổng hợp - Đầu mối tiếp nhận và hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ - Chịu trách nhiệm và chủ trì phối hợp với phòng tín dụng thẩm định tất cả các dự án trên địa bàn. - Thẩm định phương án tài chính, phương án trả nợ vốn vay bao gồm: + Thẩm định khả năng đáp ứng các yếu tố đầu vào, khả năng và phương án tiêu thụ sản phẩm và mối quan hệ với bạn hàng. + Các yếu tố liên quan ảnh hường đến khai thác, vận hành dự án. + Địa điểm đầu tư, qui mô. công suất thiết kế, sản lượng, công nghệ và hình thức đầu tư. + Tổng mức đầu tư, tiến độ sử dụng vốn và các yếu tố ảnh hưởng đến tổng mức đầu tư. + Xác định các chỉ tiêu hiệu quả đầu tư và phương án trả nợ dự án. + Phân tích những yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến tính khả thi của dự án. + Đánh giá nhận xét về phương án tài chính của dự án trả nợ với các điều kiện tín dụng cụ thể. + Phối hợp với các phòng nghiệp vụ có liên quan trong việc định giá tài sản 1.3.3.2. Phòng tín dụng - Hướng dẫn, kiểm tra hồ sơ có liên quan đến năng lực pháp lý - Thẩm định năng lực quản lý, kinh nghiệm, khả năng tổ chức hoạt động kinh doanh của chủ đầu tư: + Cơ cấu bộ máy quản lý của chủ đầu tư có phù hợp với dự án hay không; + Kinh nghiệm, năng lực của ban lãnh đạo công ty, cá nhân là chủ đầu tư; - Thẩm định năng lực tài chính, khả năng đáp ứng nguồn vốn tự có, tự huy động tham gia dự án, uy tín của chủ đầu tư đối với các tổ chức tín dụng và uy tín trong hoạt động sản xuất kinh doanh. + Thẩm định phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; + Thẩm định báo cáo tài chính của các năm trước nhằm chứng tỏ khả năng tự tài trợ vốn của chủ đẩu tư cho dự án, chứng tỏ rằng vốn tự có là đúng sự thực; + Xem xét các hợp đồng đặt hàng của doanh nghiệp chứng tỏ khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. + Xem xét các hợp đông tín dụng chứng tỏ đã có quan hệt tín dụng với các tổ chức tín dụng khác. - Trước khi thông báo chấp thuận cho vay, chủ trì cùng định giá tài sản, định giá tài sản đảm bảo tiền vay (trường hợp dự án phải có tài sản đảm bảo ngoài tài sản hình thành sau đầu tư). - Dự thảo hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay, thực hiện các thủ tục để công chứng các hợp đồng giao dịch bảo đảm. - Phối hợp với chủ đầu tư thỏa thuận tiến độ giải ngân, xây dựng và đăng kí kế hoạch giải ngân với ngân hàng phát triển Việt Nam. 1.3.3.3. Giám đốc Tiến hành ra quyết định cuối cùng về việc tài trợ vốn hay không đối với những dự án đã được thẩm định, tùy theo mức độ phân cấp mà tiến hành ký kết hợp đồng tín dụng hay chỉ đạo lập kế hoạch giải ngân trình lên trung ương. 1.3.4. Phương pháp và thời hạn thẩm định dự án đầu tư tại chi nhánh Phương pháp thẩm định dự án là cách thức thẩm định dự án nhằm đạt được các yêu cầu đặt ra đối với công tác thẩm định dự án. Phương pháp thẩm định tại chi nhánh sẽ tiến hành kết hợp cả 4 phương pháp thẩm định sau tùy theo đặc điểm của từng dự án cụ thể: - Phương pháp thẩm định theo trình tự - Phương pháp so sánh các chỉ tiêu - Phương pháp phân tích độ nhạy - Phương pháp dự báo Thời hạn thẩm định được tính kể từ thời điểm chi nhánh nhận đầy đủ hồ sơ theo quy định đến khi nhận được văn bản trả lởi của chủ đầu tư. - Đối với dự án nhóm A: không quá 25 ngày làm việc - Các dự án khác không quá 20 ngày làm việc. 1.3.4.1. Phương pháp thẩm định theo trình tự Theo phương pháp này việc thẩm định được tiến hành theo trình tự từ tổng quát đến chi tiết, từ kết luận trước làm tiền đề cho kết luận sau. Phương pháp này được cán bộ chi nhánh sử dụng trong thẩm định tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ dự án đối với tất cả các dự án tại chi nhánh. Thẩm định chi tiết được áp dụng trong thẩm định năng lực tài chính của chủ đầu tư, phương án tài chính, phương án trả nợ vốn vay. a. Thẩm định tổng quát Dựa vào các chỉ tiêu cần thẩm định để xem xét tổng quát, phát hiện các vấn đề hợp lý hay chưa hợp lý. Thẩm định tổng quát cho phép hình dung khái quát dự án, hiểu rõ tầm quan trọng, quy mô của dự án. Thẩm định tổng quát ít khi phát hiện ra các vấn đề cần bác bỏ đa số chỉ phát hiện ra sai sót sau khi thẩm định chi tiết. Tuy nhiên ngoài việc hình dung khái quát dự án, thẩm định khái quát còn cho phép đưa ra những nhận định tổng quát về dự án, sự đánh giá sau khi đối chiếu từng vấn đề riêng biệt. Kết quả này thường có được khi thực hiện các bước thẩm định chi tiết. b. Thẩm định chi tiết Là thẩm định đi sâu vào từng nội dung của dự án. Trong từng nội dung của thẩm định đều có những ý kiến nhận xét, kết luận đồng ý hay bác bỏ, về chấp nhận hay sửa đổi. Khi tiến hành thẩm định chi tiết cần tiến hành các nội dung cụ thể sau; 1. Mục tiêu của dự án 2. Các công cụ tính toán: các tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình công nghệ, định mức kinh tế - kĩ thuật, và các phương pháp tính toán. Nội dung này thể hiện ở các phần tính toán để có các con số, chỉ tiêu cụ thể 3. Khối lượng công việc, chi phí và sản phẩm của dự án 4. Nguồn vốn và số lượng vốn 5. Hiệu quả của dự án cả về mặt tài chính cũng như kinh tế- xã hội 6. Kế hoạch tiến độ và tổ chức triển khai dự án Thẩm định chi tiết các nội dung theo tình tự sau: Thẩm định (1+2+5) nếu hợp lý hoặc chỉ phải sửa chữa nhỏ thì tiếp tục thẩm định (3+4) , ngược lại có thể bác bỏ dự án. Khi thẩm định (3+4) nếu thấy hợp lý hoặc sai sót nhỏ thì tiếp tục thẩm định (6), ngược lại có thể bác bỏ không cần thẩm định (6). 1.3.4.2. Phương pháp so sánh các chỉ tiêu Phương pháp so sánh các chỉ tiêu là phương pháp cụ thể khi thẩm định tổng quát và thẩm định chi tiết. So sánh các chỉ tiêu nhằm đánh giá tính hợp lý và tính ưu việt của dự án để có sự đánh giá đúng khi thẩm định dự án, so sánh các chỉ tiêu trong các trường hợp sau: - Các chỉ tiêu trong trường hợp có dự án và chưa có dự án - Các chỉ tiêu của các dự án tương tự đã được phê duyệt hay thực hiện - Các định mức hạn chế, chuẩn mực đang được áp dụng Trường hợp trong nước không có các chỉ tiêu để đối chiếu thì phải so sánh với các chỉ tiêu của nước ngoài. Về kĩ thuật tính toán và tiêu chuẩn so sánh các chỉ tiêu đã được đề cập ở phần nội dung dự án cần lưu ý: Trong trường hợp có nhiều chỉ tiêu của dự án, tùy từng loại dự án có thể lựa chọn ra những chỉ tiêu quan trọng, cơ bản để xem xét kỹ; giúp cho cán bộ thẩm định đi đúng trọng tâm, rút ngắn thời gian mà vẫn đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu chất lượng của công tác thẩm định. Trong việc lựa chọn chỉ tiêu cần lưu ý đến các chỉ tiêu phản ánh bản chất của dự án, các chỉ tiêu liên quan đến các vấn đề đang được dư luận quan tâm hay nổi cộm trong thời điểm thẩm định. 1.3.4.3. Phương pháp phân tích độ nhạy Phương pháp này để kiểm tra tính vững chắc về hiệu quả tài chính của dự án nhằm xem xét mức độ nhạy cảm của dự án với các biến động của các yếu tố liên quan, tìm ra yếu tố nào ảnh hưởng lớn nhất đến dự án. Phương pháp này thực hiện theo các bước như sau: - Xác định các biến dữ liệu đầu vào, đầu ra phải tính độ nhạy; - Lập bảng với các cột là các nhân tố đã xác định trước như NPV, IRR, ... trong đó phải bao gồm các phương án cơ sở được tính. Phương pháp này được chi nhánh thống nhất sử dụng trong việc so sánh phân tích các chỉ tiêu tài chính của dự án, các chỉ tiêu về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thực hiện đầu tư với các doanh nghiệp khác, với các dự án có cùng quy mô và tính chất đã thực hiện có hiệu quả. 1.3.4.4. Phương pháp dự báo Thường sử dụng trong quá trình thẩm định về phương diện thị trường và khả năng tiêu thụ sản phẩm của dự án sản xuất kinh doanh. Cơ sở của phương pháp này là dùng số liệu thống kê của dự án cần thẩm định trong hiện tại và quá khứ và dùng các phương pháp như ngoại suy, định mức, hệ số co giãn để dự báo chính xác nhu cẩu về sản phẩm của dự án. Hiện nay phương pháp này đã được sử dụng tại chi nhánh tuy nhiên chỉ dừng lại ở mức dự báo đơn thuần không sử dụng các phương pháp như ngoại suy, định mức, hệ số co giãn mà chủ yếu dựa trên các hợp đồng cũ của doanh nghiệp đã thực hiện và các hợp đồng tương lai của dự án để dự báo mức tiêu thụ sản phẩm của dây dự án như các dự án: Dây chuyền sản xuất gạch ốp lát tại Vũ Thư – Thái Bình và Dự án đầu tư xây dựng nhà máy kéo sợi Đại Cường... 1.3.5. Nội dung thẩm định chi tiết các dự án vay vốn tín đụng đầu tư phát triển tại chi nhánh Nội dung thẩm định quyết định cho vay theo điều 16 quy chế cho vay vốn tín dụng đầu tư của nhà nước ban hành theo quyết định số 41/QĐ-HĐQL chi tiết các nội dung như sau: 1.3.5.1. Thẩm định tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ dự án, hồ sơ chủ đầu tư Kiểm tra tính đầy đủ của các văn bản, tài liệu trong hồ sơ, tính nhất quán về nội dung, số liệu bao gồm: a. Hồ sơ dự án - Báo cáo đầu tư dự án: đối với dự án do quốc hội thông qua chủ trương đầu tư và các dự án nhóm A không nằm trong quy hoạch được duyệt. - Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án (hoặc thuyết minh dự án đầu tư): đối với các dự án đầu tư nhóm A, B, C. - Trường hợp dự án có vốn nhỏ hơn 7 tỷ đồng, chủ đầu tư gửi báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng._. LƯỢNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN CHI NHÁNH TỈNH THÁI BÌNH 2.1. Định hướng phát triển của Ngân hàng Phát triển chi nhánh tỉnh Thái Bình đến năm 2015, yêu cầu đối với công tác thẩm định tại chi nhánh 2.1.1. Định hướng phát triển của chi nhánh đến năm 2015 NHPT tỉnh Thái Bình là chi nhánh cấp 1 trong hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt Nam, mới được thành lập từ năm 2006 nhưng Chi nhánh đã hoàn thành tốt vai trò quản lý, sử dụng vốn tín dụng đầu tư trong phạm vi cho phép. Bên cạnh những kết quả đạt được chi nhánh cũng không tránh khỏi những thiếu sót, tuy nhiên chi nhánh cũng có nhứng giải pháp hiệu quả nhằm phát huy lợi thế của mình, đồng thời khắc phục những khó khăn, đề ra các mục tiêu tăng trưởng và bền vững cho đến năm 2015 như sau: - Xây dựng chi nhánh từng bước lớn mạnh trở thành một chi nhánh hoạt động có hiệu quả và an toàn trong toàn hệ thống, là 1 trong 10 chi nhánh được xếp hạng có số dư nợ cao, giải ngân đúng tiến độ, tỷ lệ nợ quá hạn thấp...Nâng cao uy tín của hệ thống NHPT trên địa bàn nhờ vào hiệu quả của các dự án mang lại cho kinh tế địa phương mà ngân hàng tiến hành hỗ trợ. - Phát triển mạng lưới phòng giao dịch tới các huyện trên địa bàn tỉnh Thái Bình nhằm tạo điều kiện cho khách hàng dễ dàng tiếp xúc với nguồn vốn hỗ trợ của chính phủ. - Tăng cường các biện pháp thu hút khách hàng tiềm năng từ địa phương khác nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân được trung ương đề ra Để thực hiện các mục tiêu đề ra NHPT cần thực hiện những hoạt động sau: • Về huy động vốn: Mục tiêu huy động vốn hàng năm đến năm 2015 tăng từ 15 %– 20% so với năm trước. Để đạt được tốc độ huy động cao và ổn định cần tiếp tục duy trì và phát triển mối quan hệ với các đơn vị khách hàng truyền thống như Bảo hiểm xã hội hay tổng công ty bưu chính viễn thông, đây là nguồn huy động vốn lớn nhất ngoài việc phát hành trái phiếu của Ngân hàng, đồng thời mở rộng mối quan hệ với khách hàng mới nhằm huy động vốn nhàn rỗi của các khách hàng này như nguồn vốn ủy thác của các ngành Điện lực, than khoáng sản... và nguồn vốn nhàn rỗi từ dân cư. Đặc biệt là tạo mối quan hệ tốt với các ngân hàng thương mại trên địa bàn nhằm tận dụng được lượng vốn nhàn rỗi của họ. • Về hoạt động sử dụng vốn: Chi nhánh cố gắng hoàn thành kế hoạch giải ngân hàng năm từ 90% - 97%, tỷ lệ gia tăng dư nợ năm sau so với năm trước từ 20% -22%, giảm tỷ lệ nợ quá hạn hàng năm xuống còn dưới 1%. Để đạt được mục tiêu đã đề ra chi nhánh NHPT tỉnh thái bình sẽ phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp nhưng một trong số những giải pháp đem lại hiệu quả cao trong việc sử dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển của chi nhán chính là giải pháp nâng cao chất lượng công tác thẩm định đầu tư trước khi quyết định cho vay vốn. 2.2.2. Yêu cầu của công tác thẩm định tại chi nhánh - Vế quy trình thẩm định Chi nhánh luôn tuân thủ đúng quy trình nghiệp vụ và ngày càng hoàn thiện quy trình thẩm định cho phù hợp với định hướng chung của NHPT Việt Nam. Quy trình thẩm định phải được tiến hành nghiêm túc và vận dụng linh hoạt đối với từng dự án cụ thể tuy nhiên phải dựa trên quy trình chung của cả hệ thống. - Về nội dung thẩm định Việc tính toán các chỉ tiêu của dự án phải đầy đủ, chính xác và dựa trên các phần mềm văn phòng để tính toán, hạn chế việc tính toán thủ công để giảm thiểu tối đa sai sót. - Về phương pháp thẩm đinh Vận dụng linh hoạt các phương pháp tùy theo từng nội dung thẩm định cụ thể, không tiến hành thẩm định theo lý thuyết máy móc. - Về thời gian thẩm định Phải đảm bảo nhanh gọn nhưng vẫn phải đảm bảo tính chính xác để không làm mất cơ hội đầu tư của chủ đầu tư nhưng cũng đảm bảo an toàn cho các khoản vay tại chi nhánh. 2.2. Các giải pháp nhằm nâng cao chât lượng công tác thẩm định dự án tại chi nhánh 2.2.1. Hợp lý hóa quy trình thẩm định, tổ chức và điều hành công tác thẩm định khoa học, đảm bảo chất lượng Việc tổ chức và phân công hợp lý và khoa học trong quy trình thẩm định dự án sẽ hạn chế được rất nhiều những công đoạn không cần thiết, tránh sự chồng chéo và trùng lặp phát huy thế mạnh của từng cá nhân, giảm thiều chi phí hoạt động và tiết kiệm thời gian cụ thể công tác tổ chức thẩm định cần thực hiện theo một số yêu cầu sau: - Hiện nay chi nhánh đang sử dụng một quy trình thẩm định thống nhất cho tất cả các dự án nên dẫn đến tình trạng máy móc khi thẩm định các dự án có tính chất khác nhau do đó quy trình thẩm định phải được xắp xếp lại, có những hướng dẫn cụ thể đối với từng lĩnh vực, những hướng dẫn này có thể được tổng hợp qua kinh nghiệm của các cán bộ thẩm định có thâm niên và chuyên môn cao chuyên trách về từng lĩnh vực. - Mặt khác phải tiến hành phân công cán bộ thẩm định phụ trách khách hàng theo từng lĩnh vực kinh doanh nhất định vì các dựa án đầu tư là rất đa dạng thuộc mọi ngành nghề khác nhau với các nhiệm vụ phát sinh là không giống nhau. Một cán bộ thẩm định không thể am hiểu tất cả các dự án thuộc mọi ngành nghề kinh doanh khác nhau nên chỉ nên phân công một cán bộ phụ trách từng mảng riêng biệt để từ đó cán bộ ấy có điều kiện đi sâu tìm hiểu các vấn để liên quan đến lĩnh vực mà mình đảm nhiệm. Do đó khi dự án thuộc lĩnh vực mình phụ trách thì cán bộ thẩm định sẽ dễ dàng thu thập thông tin hơn và có chất lượng thẩm định định tốt hơn. Đây là biện pháp nhằm nâng cao khả năng chuyên môn hóa lĩnh vực thẩm định tại chi nhánh, tuy nhiên dể thực hiện phương pháp này thì cần có sự trao đổi kinh nghệm giữa các đồng nghiệp tại chi nhánh để tránh tình trạng phiến diện, chủ quan trong thẩm định. - Tổ chức phối hợp chặt chẽ giữa các phòng trong chi nhánh, phòng tổng hợp chuyên trách mảng thẩm định tuy nhiên cũng cần phối hợp với các phòng, ban khác. Việc tham gia đóng gớp ý kiến và cung cấp thông tin cần thiết từ các phòng khác, đặc biệt là các thông tin thực tế từ phòng tín dụng sẽ giúp cho kết quả thẩm định đạt hiệu quả hơn, đầy đủ và khả thi hơn. cụ thể quy trình thẩm định có thể thực hiện như sau: Thẩm định kỹ thuật → Thẩm định tài chính → Thẩm định kinh tế xã hội Trong đó: Thẩm định kỹ thuật tiến hành xong, đạt đủ điều kiện, hoặc thay đổi phương án kỹ thuật mới khả thi hơn thì mới tiến hành thẩm định tài chính khi đã có phương án kỹ thuật khả thi, cuối cùng mới tiến hành thẩm định khía cạnh kinh tế - xã hội. Thẩm định kỹ thuật sẽ được giao cho một ban chuyên về kỹ thuật của chi nhánh, còn lại thẩm định tài chính và thẩm định kinh tế xã hội sẽ giao cho phòng tổng hợp và tín dụng, phòng tín dụng đặc biệt phụ trách công tác thẩm định năng lực chủ đầu tư. Việc thẩm định theo trình tự như trên sẽ đảm bảo tránh được những sai sót cũng như tiết kiệm thời gian cho công tác thẩm định. Việc thẩm định tài chính đối với ngân hàng là quan trọng nhất tuy nhiên nếu thẩm định tài chính được duyệt mà thẩm định kỹ thuật được tiến hành sau sẽ không đảm bảo hiệu quả, đặc biệt đối với một số dự án có những sai sót về kĩ thuật sẽ làm tốn thời gian thẩm định của cán bộ. Do tính chất của cán bộ công tác tại ngân hàng thường không am hiểu lắm về kĩ thuật do đó việc thẩm định kỹ thuật cần giao cho một số cán bộ có chuyên môn về kĩ thuật có thể là cán bộ tại ngân hàng hoặc thuê các chuyên viên tư vấn kỹ thuật thẩm định đặc biệt đối với các dự án lớn, có kỹ thuật phức tạp . 2.2.2. Bổ sung các nội dung thẩm định Trong các nội dung thẩm định tại chi nhánh bao gồm có thẩm định tính hợp lý của hồ sơ, thẩm định chủ đầu tư, thẩm định khả năng tài chính, khả năng trả nợ vốn vay và thẩm định tài sản đảm bảo tiền vay mà chưa thấy đề cập đến thẩm định khía cạnh kinh tế xã hội của dự án. Đây là một thiếu sót lớn trong công tác thẩm định tại chi nhánh, đối với các dự án quy mô nhỏ có thể tầm ảnh hưởng về kinh tế xã hội là chưa cao, tuy nhiên đối với những dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng hay xây dựng nông nghiệp nông thôn, công nghiệp thì cần phải chú trọng đến những lợi ích mà dự án đem lại cho kinh tế địa phương cũng như lợi ích mà dự án đem lại cho người dân. Mặt khác việc thẩm định khía cạnh thị trường và thẩm định kỹ thuật lại nằm trong phần thẩm định phương án tài chính và phương án trả nợ vốn vay là thiếu hợp lý. Đây là hai nội dung quan trọng cần được quan tâm một cách hợp lý. Do đó nội dung thẩm định có thể tiến hành theo trình tự sau: - Thẩm định hồ tính đầy đủ của hồ sơ dự án; - Thẩm định chủ đầu tư: Với các nội dung như của chi nhánh đã thẩm định; - Thẩm định phương diện kỹ thuật của dự án: bao gồm hạ tầng kí thuật, môi trường và kĩ thuật của dự án + Thẩm định về mức độ phù hợp giữa quy mô dự án, công suất sử dụng với khả năng đáp ứng vốn, cung cấp nguyên vật liệu, máy móc thiết bị cũng như khả năng quản lý dự án; + Thẩm định công nghệ và trang thiết bị : xác định rõ căn cứ lựa chọn công nghệ, thiết bị, chương trình đào tạo quản lý con người phù hợp với dự án. + Thẩm định nguồn nguyên liệu và yếu tố đầu vào có cung cấp đủ cho dự án trong các thời kỳ không đối với các dự án đầu tư dài hạn + Thẩm định địa điểm xây dựng cũng như phương án kiến trúc đối với các dự án đầu tư xây lắp (việc thẩm định nội dung này có thể dựa trên các văn bản đánh giá của bộ ngành chủ quản liên quan đến xây lắp như: sở xây dựng, sở kế hoạch đầu tư...; hoặc thuê các chuyên gia kỹ thuật thẩm định thiêt kế cơ sở của dự án nếu ban kĩ thuật của ngân hàng không đủ năng lực thẩm định) . Ngoài ra đối với các dự án đầu tư xây dựng dài hạn cần có kế hoạch theo dõi tiến độ thi công công trình theo từng thời kỳ để đảm bảo giải ngân đúng mục đích. Thẩm định phương án tài chính và phương án trả nợ vốn vay của dự án tiến hành như các nội dung thẩm đinh tại chi nhánh tuy nhiên cần bổ sung thêm: + Thẩm định cách tính toán tỷ suất r dựa trên việc khảo sát tính chính xác của các nguồn vốn tài trợ cho dự án vì đây là yếu tố quyết định đến tất cả các chỉ tiêu được tính toán về sau của dự án + Cần phân tích dòng tiền, rủi ro dòng tiền, cần dự đoán được nhu cầu về tiền trong tương lai trước khi nhu cầu này xuất hiện đối với doanh nghiệp từ đó mới cân đối được lượng tiền mặt thật sự nhờ đó biết chính xác được khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp trong tương lai, phải chú trọng đến tất cả các nguồn tạo tiền thực từ dự án như: bán máy móc thiết bị không cần thiết, chuyển tài sản thành tiền, thu từ các khoản nợ phải trả, tái đầu tư... vì đây cũng là nhân tố đảm bảo khả năng thu nợ của ngân hàng và phản ánh đúng bản chất hiệu quả của dự án mà chi nhánh tiến hành phân tích. Thông thường thẩm định chỉ xét đến điều kiện bình thường của quá trình mua bán sản phẩm của dự án tuy nhiên trên thực tế hoạt động mua bán của doanh nghiệp diễn ra hết sức phức tạp nên nhất thiết phải lưu ý đến khả năng quản lý dòng tiền từ sự án của chủ đầu tư. Mặt khác chủ đầu tư có thể hoàn nợ khi hoạt động bán hàng của họ là hiệu quả, các sản phẩm của dự án được tiều thụ một cách thuận lợi, do vậy khi thẩm định phương án trả nợ vốn vay của dự án cần xem xét rủi ro dòng tiền dự án thông qua xem xét chính sách bán hàng của doanh nghiệp đối với sản phẩm của dự án như: chính sách bán hàng như thế nào, chiết khấu bán hàng ra sao? khả năng thu tiền hàng như thế nào, chính sách marketing... nói chung là các vấn đề liên quan đến việc thu tiền, tạo tiền thực tế của dự án nhằm đảm bảo khả năng trả nợ. + Thẩm định tài chính dự án cũng phải lưu ý vấn đề chi phí Chi phí xây lắp: Chi phí tính toán phải tuân theo quy định của nhà nước như đối với các công trình xây dựng đơn giá do nhà nước quy định, tuy nhiên do tính chất của các dự án khác nhau dẫn đến nhu cầu vật liệu xây lắp khác nhau nên cán bộ thẩm định không những chỉ dựa trên đơn giá mà phải dựa trên cả chi phí của các dự án tương tự trong cùng khoảng thời gian Chi phí bán hàng: Vận chuyển, bảo dưỡng, bảo hành, hậu mãi... của dự án, không chỉ xem xét chi phí sản xuất vì đây là loại chi phí đáng kể trong chu trình tạo tiền của dự án. + Cán bộ thẩm định nên tính toán lại doanh thu và chi phí tại thời điểm thẩm định vì tại thời điểm thẩm định giá cả thị trường có thể thay đổi so với thời điểm doanh nghiệp lập báo cáo khả thi. + Việc tính khấu hao tại chi nhánh vẫn theo phương pháp khấu hao theo đường thẳng tuy nhiên nên đổi mới và áp dụng những quy định mới nhất về tính khấu hao của nhà nước ban hành cụ thể đối với từng loại tài sản và từng lĩnh vực. - Thẩm định phương diện kinh tế xã hội của dự án kỹ lưỡng hơn: rà soát lại mục tiêu của dự án, tác động của dự án tới môi trường và các nhóm đối tượng khác nhau trong xã hội, mức đóng góp của dự án vào ngân sách địa phương, số lượng việc làm được tạo ra trong khi dự án vận hành ... vì đây là diều kiện để tài trợ vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước. 2.2.3. Phối hợp các phương pháp thẩm định một cách linh hoạt và phù hợp với đặc điểm của từng dự án Tiêu chuẩn hóa các chỉ tiêu cũng như đánh giá chi tiết các rủi ro của dự án đầu tư nhằm nâng cao cách thức và phương pháp thẩm định Việc so sánh các chỉ tiêu trong thẩm định dự án phải là sự kết hợp so sánh với các dự án với nhau, so sánh với mức chuẩn của nhà nước quy định và cả chuẩn của khu vực và thế giới; các chỉ tiêu của dự án phải được so sánh cả về mặt thời gian; các tiêu chuẩn, định mức để so sánh cần được tập hợp theo các lĩnh vực và liên tục cập nhật. Ngoài việc thẩm định tư cách, năng lực pháp lý, năng lực điều hành, quản lý sản xuất kinh doanh, uy tín của các dự án, vẫn còn một số nhân tố chưa được cán bộ thẩm định quan tâm nhưng thực chất là cần phải đề cập trong chu trình thẩm định khách hàng vay vốn. Đó là các chỉ số dự báo trước khi cho vay như: giá vàng,tỷ giá, lạm phát và các biến cố có thể dự đoán về kinh tế, chính trị, xã hội. Trên cơ sở những thông tin về tỷ giá, lạm phát và các biến cố có thể dự đoán được mà báo chí và các báo cáo nghiên cứu thị trường, những diễn biến của nền kinh tế trong thời gian tới, cán bộ thẩm định cần có kiến nghị cụ thể về sự cần thiết bổ sung những nhân tố trên trong chu trình thẩm định khách hàng và dự báo thị trường của dự án. Ngoài ra chi nhánh cần sử sụng những số liệu thống kê cụ thể về sản phẩm của dự án để phân tích chính xác nhu cầu thị trường thông qua hồ sơ dự án, nếu hồ sơ dự án không đầy đủ số liệu thì phải kiến nghị với doanh nghiệp cung cấp số liệu thống kê hoặc tự bản thân cán bộ tiến hành thu thập và tìn hiểu qua các phương tiện thông tin về thị trường của dự án cũng như số liệu thống kê cụ thể của các dự án tườn tự cùng thời gian để đưa ra những phân tích của mình. Về đánh giá rủi ro: Phải đưa ra được càng nhiều rủi ro mà dự án có thể gặp phải như: rủi ro khi biến động nhu cầu thị trường, biến động về thời tiết đối với các dự án đầu tư trong lĩnh vực vận tải biển, biến động của dịch bệnh gây ra với một số dự án chăn nuôi, chể biến nông phẩm ... phân tích và định lượng các rủi ro này thông qua dự báo hay phân tích độ nhạy để xem ảnh hưởng của chúng đến dự án. Các rủi ro càng được tính toán kỹ lưỡng thì tính an toàn của tín dụng càng cao. Muốn được như vậy phải xây dựng được các nhân tố rủi ro: định nghĩa, phân loại sự cố, mô phỏng các tình huống của sự cố và các hành động cụ thể để ứng phó. Kế hoạch phải thể hiện bằng văn bản được thiết lập trên công việc hàng ngày. Vì vậy, cần phải triển khai tiếp nhận những hỗ trợ kỹ thuật về quản trị rủi ro, trong đó bao gồm cả nâng cao trình độ quản trị rủi ro. 2.2.4. Nâng cao chất lượng của cán bộ thẩm định Để công tác thẩm định ngày một chuyên nghiệp và có chất lượng hơn, đã đến lúc cần phải chú trọng nhiều hơn, đòi hỏi cao hơn, có thái độ rõ ràng hơn đối với cán bộ thẩm định, mỗi cán bộ thẩm định cần phải đảm bảo các yêu cầu sau: Một là, về năng lực công tác: yêu cầu mỗi cán bộ thẩm định không những phải thường xuyên nghiên cứu, học tập nắm vững và thực hiện đúng các quy định hiện hành mà còn phải không ngừng nâng cao năng lực công tác. Phải học hỏi kinh nghiệm của các đồng nghiệp, đoàn kết, nhất trí, tạo mối quan hệ tốt giữa các đồng nghiệp với nhau nhằm phối hợp hiệu quả trong công tác chung. Hai là, về phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm: yêu cầu mỗi cán bộ thẩm định phải luôn tự tu dưỡng về phẩm chất đạo đức, nêu cao ý thức trách nhiệm công việc. Có như vậy, xử lý công việc hiệu quả hơn, khắc phục được tư tưởng ỷ lại, trông chờ tạo ra chuyển biến tích cực trong quản lý. Hiện nay đối với chi nhánh muốn nâng cao trình độ của cán bộ công nhân viên nói chung và cán bộ thẩm định nói riêng thì ban lãnh đạo cần tổ chức những các buổi tổng kết hoạt đọng trong năm, quý, các buổi thảo luận chuyên đề nhằm tuyên dương và có sự động viên về vật chất đối với các cán bộ có những đóng góp tích cực cho chi nhánh tạo động lực thúc đẩy khả năng sáng tạo, phấn đấu của đội ngũ cán bộ chi nhánh, và đồng thời trong các buổi thảo luận phải tạo được điều kiện cho các cán bộ thẩm định và tín dụng đưa ra những vướng mắc gặp phải trong quả trình thẩm định, từ đó tích lũy kinh nghiệm và cùng thảo luận đưa ra giải pháp. Bên cạnh đó chi nhánh cũng cần tổ chức những lớp tập huấn chuyên sâu về thẩm định dự án, đào tạo tin học cho cán bộ, gửi cán bộ đi tham gia các lớp tập huấn nghiệp vụ do trung ương tổ chức, đồng thời tăng cường sinh hoạt nội bộ nhằm phổ biến các chủ trương mới của nhà nước, địa phương, Ngân hàng phát triển trung ương cũng như nâng cao kiến thức xã hội cho công nhân viên. Ngoài ra với khối lượng công việc ngày càng gia tăng như hiện nay việc tuyển thêm nhân viên cho chi nhánh là rất cần thiết, việc tuyển dụng cán bộ phải chú ý đến năng lực, trình độ chuyên môn của họ, tránh tình trạng con em cán bộ cũ được tuyển vào nhưng không đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ. Hiện nay việc tuyển dụng có chất lượng tại chi nhánh là tương đối khó khăn do chi nhánh nằm trên địa bàn Thái Bình là một tỉnh có điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn do đó việc thu hút nhân tài về làm việc cho chi nhánh là hạn chế. Để thực hiện được mục tiêu này chi nhánh cần quảng bá thông tin tuyển dụng rộng rãi đi kèm với các chính sách đãi ngộ tốt nhằm thu hút nhân lực chất lượng cao. Việc nâng cao chất lượng cán bộ không chỉ dừng lại ở việc đào tạo mà còn phải trang bị cơ sở vật chất hỗ trợ đầy đủ để phát huy năng lực của cán bộ thẩm định như phương tiện đi lại, liên lạc, tìm kiếm thông tin..., tuy nhiên việc trang bị thiết bị cũng đồng nghĩa với việc xử lý nghiêm khắc những trường hợp thiếu tinh thần trách nhiệm, gây lãng phí, thất thoát tài sản của Ngân hàng. 2.2.5. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào trong quá trình thẩm định Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quy trình thẩm định tại ngân hàng là một yếu tố quan trọng giúp nâng cao khả năng hoạt dộng cũng như cạnh tranh của ngân hàng trong thời điểm hiện tại. Đặc biệt trong nghiệp vụ thẩm định dự án, công việc mà việc tính toán rất khó khăn và phức tạp, nếu tính toán thủ công sẽ mất rất nhiều công sức mà hiệu quả tính toán chưa cao. Việc ứng dụng những phần mềm chuyên dụng sẽ khắc phục những khó khăn trên. Thu thập thông tin nhanh chóng, chính xác sẽ giúp cán bộ thẩm định rút ngắn thời gian thẩm định mà vẫn đảm bảo đúng quy trình và chất lượng, do đó mỗi cán bộ phải được trang bị một máy tính cá nhân nối mạng có chất lượng tốt, tránh tình trạng hiện nay các cơ quan nhà nước có tiến hành đầu tư hệ thống máy tính nhưng hệ thống này chỉ đảm bảo đủ số lượng mà chất lượng kém không đủ tính năng phục vụ công việc. Bên cạnh việc hiện đại hóa hệ thống máy tính và cập nhật các phần mềm chuyên dụng phục vụ công tác chuyên môn thì việc đào tạo đội ngũ cán bộ có năng lực về công nghệ thông tin cũng là việc làm hết sức cần thiết và phải tiến hành đồng bộ với quá trình trang bị máy móc nếu không sẽ không phát huy hiệu quả trong khi chi phí bỏ ra là rất lớn, cụ thể đối với chi nhánh cần thục hiện bằng cách: + Tuyển dụng thêm các nhân viên công nghệ thông tin có trình độ chuyên môn cả về công nghệ và kinh tế- tài chính, nghiệp vụ ngân hàng + Mở lớp đào tạo nội bộ về công nghệ thông tin cho các cán bộ tại chi nhánh, thực hiện thi kiểm tra chất lượng về ứng dụng công nghệ thông tin của cán bộ để đảm bảo cán bộ nào cũng nắm vững những kiến thức cơ bản về tin học văn phòng. 2.2.6. Tăng cường thu thập thông tin và tạo mối quan hệ tốt với ngân hàng và các ngân hàng thương mại khác • Thu thập thông tin Thẩm định khách hàng chính xác nhằm góp phần hạn chế bớt rủi ro cho ngân hàng, nên đòi hỏi cán bộ thẩm định cần có nhiều thông tin chính xác, đầy đủ về đối tượng thẩm định. Để có các thông tin về doanh nghiệp, ngoài các báo cáo tài chính mà doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng và các luận chứng kinh tế kĩ thuật trình lên thì các bộ thẩm định có thể lấy thông tin bằng cách điều tra nơi họat động kinh doanh của người xin vay và gặp trực tiếp các một số các cán bộ thực hiện dự án. - Trong hệ thống những thông tin thu thập thì nguồn thông tin từ báo chí, thị trường sản phẩm, từ bạn bè khách hàng, các mối quan hệ của các bộ thẩm định là không thể thiếu. Hơn nữa, xuất phát từ tính chất khách quan của thông tin trên báo chí, phương tiện truyền thông nên chúng ta có thể thu thập được những thông tin tương đối chính xác về khách hàng. Việc sử dụng những thông tin này một cách hiệu quả, kết hợp với một phương pháp phân tích, đánh giá tốt sẽ giảm được yếu tố chủ quan trong thẩm định khách hàng, thông qua đó góp phần nâng cao chất lượng công tác thẩm định. - Ban lãnh đạo chi nhánh phải thường xuyên liên hệ với hội sở chính để nắm bắt các thông tin thay đổi trong quy định của hệ thống cũng như các văn bản pháp luật -Ban giám đốc và các cán bộ công nhân viên của ngân hàng phải tạo mối quan hệ tốt với ban lãnh đạo địa phương để cập nhất sớm nhất các thông tin trong chỉ đạo, định hướng quy hoạch kế hoạch phát triển ngành, nghề ... - Ngoài ra ngân hàng có thể tham khảo ý kiến của những ngân hàng thương mại khác trên địa bàn vì những cơ quan này có những thông tin chi tiết để giúp đỡ khi cần thiết. Khi đi vào thẩm định chi tiết dự án, cán bộ thẩm định cần phải làm việc với cơ quan quản lý đầu tư của địa phương để nắm bắt được chủ trương của địa phương đối với dự án, nắm được thông tin liên quan đến dự án để từ đó có được những nhận định ban đầu về các điều kiện thuận lợi hay khó khăn đối với việc tham gia tài trợ cho dự án. Đối với các dự án lớn, phức tạp, đầu tư sản phẩm mới hoặc dự án có nội dung chuyển giao công nghệ cần tổ chức hội đồng thẩm định, có sự tham gia của chuyên gia, các bộ phận nghiệp vụ liên quan. Đồng thời phải thẩm định qua nhiều giai đoạn. Mỗi giai đoạn kế tiếp sẽ được thực hiện với cơ sở dữ liệu mang độ chính xác cao hơn. Và cuối mỗi giai đoạn, người thẩm định sẽ đưa kết luận chấp thuận hay bác bỏ dự án mà không cần phân tích thêm nữa. Ngoại trừ trường hợp khả năng thành công hay thất bại của dự án biến thiên rất lớn theo mức độ chính xác của dữ liệu thì người thẩm định mới cần tiến hành việc phân tích lại. Chỉ có như vậy chi nhánh mới có thể khẳng định được năng lực tài chính thực thụ của các dự án . Sau khi đã thu thập đầy đủ thông tin cần thiết, bước tiếp theo là đánh giá sự chính xác của các thông tin. Một số tiêu chí cần phải đánh giá như số lượng của các bên liên doanh cũng như tỷ lệ về vốn góp của mỗi bên, các hình thức góp vốn của các bên; tính trung thực, phù hợp của giá cả máy móc thiết bị và chuyển giao công nghệ. • Tạo mối quan hệ tốt với khách hàng Do mới thành lập được gần 3 năm nên việc phát triển mạng lưới phòng giao dịch chưa được triển khai đã gây nên khó khăn trong việc tiếp xúc khách hàng tại chi nhánh. Chi nhánh nên thành lập một phòng giao dịch riêng tách biệt với phòng kế toán gồm những người có chuyên môn về lập và thẩm định dự án để tư vấn cho khách hàng về hồ sơ, thủ tục nhằm nâng cao chất lượng hồ sơ dự án hạn chế tình trạng sữa chữa nhiều lần sẽ tiết kiệm được thời gian thẩm định của chi nhánh cũng như thời gian làm việc của các chủ đầu tư. • Học tập kinh nghiệm của các ngân hàng thương mại khác Thẩm định dự ân đòi hỏi phải có chuyên môn trình độ, kinh nghiệm và khả năng nhạy bén, không ngừng trau dồi kinh nghiệm nâng cao nghiệp vụ. chi nhánh Ngân hàng phát triển Thái Bình mới đi vào hoạt động chưa được bao lâu do đó kinh nghiệm chưa có nhiều. Việc học hỏi kinh nghiệm thẩm định của các ngân hàng khác phải được chi nhánh chú trọng thông qua các hợp đồng tín dụng hợp tác với các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh. Lãnh đạo chi nhánh nên thường xuyên kí kết các hợp đồng hợp tác tín dụng với các ngân hàng thương mại khác nhằm tạo cơ hội hợp tác trong nghiệp vụ thẩm định dự án cũng như nghiệp vụ tín dụng. Thực hiện trao đổi cán bộ giữa các ngân hàng thuộc hệ thống ngân hàng nhà nước để tạo môi trường làm việc mới cho cán bộ của chi nhánh cũng như học hỏi kinh nghiệm của các cán bộ ngân hàng khác. 2.3. Một số kiến nghị đối với các cơ quan có liên quan 2.3.1. Kiến nghị đối với nhà nước và các Sở, ban ngành tại địa phương - Nhà nước cần thiết lập và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật đảm bảo an toàn cho nghiệp vụ tín dụng của nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước mà NHPT lãnh trách nhiệm quản lý và sử dụng. - Nhà nước vần công bố một cách công khai các quy hoạch tổng thể về phát triển kinh tế xã hội theo ngành, vùng, lãnh thổ theo từng thời kỳ. Các Sở thuộc các bộ chủ quản tại địa phương cũng phải công bố rõ quy hoạch, lĩnh vực ưu tiên phát triển của địa phương. cụ thể là sở kế hoạch đầu tư cần thông báo định kỳ những thay đổi về kế hoạch phát triển kinh tế tỉnh để tạo điều kiện cho chi nhánh lên kế hoạch hỗ trợ trình trung ương. - Do tính chất hoạt động của NHPT khác xa so với các ngân hàng thương mại là hỗ trợ các lĩnh vực kém phát triển và xây dựng các công trình xây dựng công nên rất cần có sự định hướng của chính phủ . Do đó chính phủ cần cập nhật thường xuyên những thay đổi của các thành phần, lĩnh vực trong nền kinh tế để đưa ra các định hướng hiệu quả, không quá khắt khe đối với các dự án xin vay vốn tại ngân hàng dể mở rộng quy mô sử dụng của vốn tín dụng đầu tư nhà nước trong điều kiện hiện nay. - Nhà nước cần chỉ đạo các doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc các chế độ hạch toán, thống kê và công bố thông tin định kỳ, thực hiện chế độ kiểm toán bắt buộc đối với báo cáo tài chính của doanh nghiệp tạo điều kiện cho các ngân hàng nói chung và chi nhánh nói riêng có một nguồn thông tin đáng tin cậy để tiến hành phân tích tài chính với doanh nghiệp là chủ đầu tư. - Các sở tại địa phương phải tích cực thực hiện chức năng quản lý của mình về việc: cấp giấy phép xây dựng, giấy phép đầu tư để tránh tình trạng chi nhánh phải tiếp tục thẩm định lại nhũng nội dung liên quan đến thiết kế kỹ thuật hay sự phù hợp với quy hoạch xây đựng địa phương của dự án. 2.3.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam - NHPTVN cần tiếp tục rà soát các văn bản nghiệp vụ, chế độ do NHPTVN ban hành, các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động tín dụng nhà nước để kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế các văn bản chồng chéo, không còn phù hợp, xây dựng hệ thống, quy trình thẩm định mới rõ ràng, cụ thể hơn. Nội dung thẩm định phải được bổ sung cho phù hợp theo từng lĩnh vực cụ thể. - Tổ chức các đoàn công tác đôn đốc giải ngân, cùng chi nhánh tháo gỡ khó khăn trong việc thẩm định các dự án lớn. - Triển khai các thỏa thuận hợp tác đã ký nhằm tăng cường hỗ trợ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ trong hoạt động ngân hàng, thực hiện tốt các thỏa thuận song phương để khai thác các nguồn lực cho đầu tư phát triển, đào tạo cán bộ, học tập quản lý ngân hàng hiện đại, xây dựng chiến lược hợp tác kinh tế mang tính dài hạn. - Tiếp tục tổ chức lớp đâò tạo nâng cao về nghiệp vụ ngân hàng: chuyên sâu về thẩm định dự án đầu tư, xếp loại khách hàng, quản trị tín dụng và quản trị rủi ro, kỹ năng phân tích dự báo tài chính. - Trang bị đầy đủ máy tính và các trang thiết bị tin học phục vụ cho công tác chuyên môn tại các chi nhánh. Đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án công nghệ thông tin: Trang Web của NHPT, dự án xây dựng mạng truyền thông diện rộng phục vụ cho khai thác thông tin của tất cá các chi nhánh. PHẦN KẾT LUẬN Nâng cao chất lượng thẩm định dự án là một yêu cầu cấp thiết và khách quan đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng nhằm bảo đảm cho các quyết định tài trợ cho dự án, đem lại lợi ích cho cả 2 bên : ngân hàng và chủ đầu tư. Trên đây là các giải pháp đề ra dựa trên những nghiên cứu chủ quan của cá nhân em Để các giải pháp đề ra có tính khả thi, nhằm nâng cao chất lượng thẩm định các dự án đầu tư, chi nhánh cần nhanh chóng hoàn thiện công tác tổ chức cũng như mối liên hệ với các tổ chức quản lý hành chính địa phương cũng như các tổ chức tại chính – ngân hàng khác không chi trên địa bàn tỉnh Thái Bình. Tuy nhiên đây là một đề tài có phạm vi rộng đòi hỏi kiến thức chuyên sâu và khả năng hiểu biết về các lĩnh vực kinh tế - xã hội , do đó em cần phải nghiên cứu cả lý thuyết và thực tiễn nhiều hơn nữa để hoàn thiện bài viết của mình. Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của thầy giáo - Tiến sỹ Phạm Văn Hùng và các cô, chú, anh, chị cán bộ công nhân viên công tác tại NHPT chi nhánh tỉnh Thái Bình để giúp em hoàn thiện đề tài này! Hà Nội, tháng 05 năm 2009 Sinh viên thực hiện Đố Thị Quỳnh Trang DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. PGS.TS. Nguyễn Bạch Nguyệt – Giáo trình lập dự án đầu tư - Xuất bản năm 2006. 2. PGS.TS. Lưu Thị Hương – Giáo trình Thẩm định tài chính dự án– Xuất bản năm 2004. 3. Ths. Nguyễn Thị Mai Hương – Tư liệu giảng dạy môn Thẩm định dự án đầu tư 4. Báo cáo Thẩm định của NHPT chi nhánh tỉnh Thái Bình. 5. Báo cáo khả thi dự án xây dựng đây chuyền kéo sợi Đại Cường- 2007. 6. Các văn bản pháp luật của nhà nước và của NHPTVN. 7. Các văn bản quy định của NHPT chi nhánh tỉnh Thái Bình. 8. Tạp chí, website kinh tế, tài chính, ngân hàng. Tạp chí Hỗ trợ phát triển- số 2- 2007 Tạp chí ngân hàng- số 5- tháng 11/2008 Website: www.vdb.org 9. Luận văn của các khóa trước. Nguyễn Thị Nhung(2006), Giải pháp hoàn thiện chất lượng công tác thẩm định dụ án tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Láng Hạ- Luận văn tốt nghiệp , ĐHKTQD Hà nội Trần Thị Thanh Tuyến (2006), Giải pháp nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – Luận văn tốt nghiệp, ĐHKTQD Hà Nội. NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc21347.doc
Tài liệu liên quan