Giải pháp nhằm nâng cao vai trò của thành phần kinh tế Nhà nước trong tiến trình hội nhập quốc tế

Lời nói đầu Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần không phải là một đặc điểm riêng có của nước ta, nó đã trở thành quy luật phổ biến của nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, mỗi nền kinh tế lại có một mục đích phát triển khác nhau, động cơ khác nhau, do đó phương hướng phát triển và bước đi có những điểm không giống nhau. Kinh nghiệm với những thành tựu và thất bại trong quá trình sử dụng nền kinh tế nhiều thành phần ở các nước phải được tiếp thu một cách có sáng tạo nhằm tìm ra những giải p

doc33 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1229 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Giải pháp nhằm nâng cao vai trò của thành phần kinh tế Nhà nước trong tiến trình hội nhập quốc tế, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
háp phù hợp với thực tế Việt Nam và định hướng theo xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, Việt Nam cùng các nước trên thế giới đang bước vào thế kỷ 21. Thế kỷ mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải cố gắng hết mình để hoà nhập cùng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật và công nghệ của nền văn minh mới. Đây là thời điểm quan trọng của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng. Nước ta chuẩn bị gia nhập tổ chức Thương mại thế giới WTO. Nền kinh tế Việt Nam phải nghĩ gì? làm gì? và chuẩn bị như thế nào để tham gia vào quá trình hội nhập không bị thua trên trường quốc tế và nếu không chuẩn bị một cách đầy đủ, thận trọng sẽ thua ngay tại sân nhà. Tất cả những câu hỏi đó không ai, không thành phần kinh tế nào khác ngoài thành phần kinh tế Nhà nước có thể trả lời một cách chính xác và đầy đủ nhất bởi thành phần kinh tế Nhà nước ở nước ta có một thực lực hết sức to lớn, chiếm 3/4 tài sản quốc gia và đóng góp 40% GDP hàng năm. Nắm giữ các đài chỉ huy và các vị trí then chốt trong nền kinh tế đó là nền tảng, là cơ sở và định hướng xã hội chủ nghĩa cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nhưng thành phần kinh tế này hoạt động có phần kém hiệu quả. Điều đó đang làm suy yếu tính định hướng, dẫn dắt, nêu gương của thành phần kinh tế Nhà nước đối với các thành phần kinh tế khác. Để giải quyết điều này và nâng cao vai trò của thành phần kinh tế Nhà nước cầu có những giải pháp cụ thể, sát thực và được thực hiện một cách nhanh chóng hơn. Kết cấu bài gồm: Phần I: Những lý luận chung về giải pháp nâng cao vai trò của thành phần kinh tế Nhà nước (TPKTNN). Phần II: Thực trạng của TPKTNN hiện nay Phần III: Những giải pháp nâng cao vai trò của TPKTNN. Em xin chân thành cảm ơn Thầy Nguyễn Văn Ký giáo viên kinh tế chính trị đã hướng dẫn và giúp em hoàn thành bài tiểu luận này. Dù đã cố gắng hết sức, song đây là lần đầu tiên viết tiểu luận, kiến thức còn hạn hẹp, bài viết không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Em rất mong các thầy cô giáo cùng bạn đọc tham khảo và đóng góp ý kiến để em có thể thực hiện tốt hơn những bài viết tiếp theo. Hà Nội, tháng 3 năm 2004. Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Diệu Hương. Phần I: Những lý luận chung về giải pháp nâng cao vai trò của thành phần kinh tế Nhà nước. I- Thành phần kinh tế Nhà nước và bản chất của thành phần kinh tế Nhà nước. 1. Tính tất yếu khách quan của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ ở nước ta. 1.1. Cơ sở lý luận. Sự tồn tại hay cơ cấu nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta bắt nguồn từ: - Yêu cầu của qui luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Khi lực lượng sản xuất phát triển với tính chất và trình độ khác nhau, tất yếu sẽ tồn tại nhiều hình thức khác nhau về tư liệu sản xuất dẫn đến tồn tại nhiều quan hệ sản xuất khác nhau, và do đó tồn tại nhiều thành phần kinh tế. - Khi tiến hành công cuộc xây dựng CNXH, chúng ta phải xây dựng quan hệ sản xuất mới XHCN, tức phải xây dựng và phát triển những thành phần kinh tế mới mang đặc trưng của quan hệ sản xuất mới. Đó là thành phần kinh tế Nhà nước và thành phần kinh tế tập thể. Như vậy cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các thành phần cũ và mới hoạt động đan xen là một đặc điểm mang tính tất yếu. 1.2. Cơ sở thực tiễn. - Thực tiễn lịch sử cho thầy, hầu như không một nước nào (kể cả đối với các nước kém phát triển, cũng như các nước phát triển) có một nền kinh tế thuần nhất, tức chỉ tồn tại duy nhất một kiểu quan hệ sản xuất. Cho đến nay điều nhận định đó vẫn còn đúng. Ngay cả với chủ nghĩa tư bản (CNTB) hiện đại, bên cạnh thành phần kinh tế tư bản tư nhân" còn có các thành phần kinh tế khác như "kinh tế tư bản Nhà nước", "thành phần kinh tế cá thể". - Thực tiễn phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta trong thời gian qua cũng cho thấy việc khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế, bên cạnh một số mặt tiêu cực thì nó đã đem lại nhiều lợi ích to lớn. Góp phần khai thác mọi tiềm năng của từng thành phần kinh tế cũng như sức mạnh tổng hợp của nó. Khai thác tiềm năng trong nước cũng như tận dụng sức mạnh kinh tế quốc tế để phát triển. Tóm lại trong thời kỳ quá độ, nền kinh tế nước ta có cơ cấu nhiều thành phần là tất yếu. Vấn đề cơ bản, thành phần kinh tế đóng vai trò chỉ huy và vị trí then chốt trong nền kinh tế là nền tảng, cơ sở định hướng XHCN cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân là TPKTNN. 2. Thành phần kinh tế Nhà nước. 2.1. Thành phần kinh tế Nhà nước là gì? TPKTNN là thành phần kinh tế dựa trên cơ sở quan trọng là sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất mà Nhà nước là đại diện. - Trước đây thành phần kinh tế này gọi là " thành phần kinh tế quốc doanh". - Chỉ có sở hữu Nhà nước với tư cách một lực lượng kinh tế, một chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường mới là sở hữu thuộc TPKTNN. 2.2. Các yếu tố cấu thành thành phần KTNN. a. Yếu tố thứ nhất: Hệ thống các doanh nghiệp Nhà nước. Đây là tổ chức kinh tế mà vốn ban đầu 100% là của Nhà nước. Các doanh nghiệp này hoạt động dưới sự kiểm soát và chi phối của Nhà nước. Nhà nước dựa vào sự chi phối các doanh nghiệp đểlấy đó làm căn cứ, công cụ can thiệp tích cực vào nền kinh tế, định hướng nền kinh tế phát triển cân đối và hiệu quả cao. b. Yếu tố thứ hai: Hệ thống tài chính của Nhà nước. ở nước ta Nhà nước đóng vai trò to lớn đảm bảo công bằng, nên tài chính Nhà nước trở thành lực lượng đáng kể. Từ ngân sách Nhà nước có thể hình thành các luồng đầu tư khác nhau, như đầu tư vào doanh nghiệp ngoài quốc doanh để thu lãi, trợ cấp xã hội, cho vay tín dụng v.v.. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, khi vốn là một trong những nguồn lực sản xuất chủ yếu thì phần tài chính Nhà nước trở thành một lực lượng kinh tế lớn. c. Yếu tố thứ ba: Hệ thống dự trữ, tài nguyên, đất đai, vùng biển thuộc sở hữu Nhà nước. Do đặc thù xã hội mà ở nước ta toàn bộ đất đai, mặt biển và không phận đều thuộc sở hữu Nhà nước. Dù mục đích sử dụng chúng có khác nhau, nhưng không thể phủ nhận sở hữu đất đai, mặt biển, bầu trời... đã làm cho Nhà nước là chủ thể kinh tế mạnh. Không chỉ có khả năng tham gia vào các quá trình kinh tế mà còn có thể đóng vai trò điều tiết, định hướng và kiểm soát các quá trình đó. d. Yếu tố thứ tư: Hệ thống dịch vụ Nhà nước. Kể cả dịch vụ thu phí và dịch vụ không thu phí. Dịch vụ được xem xét với tư cách là hàng hoá vô hình, nhưng thoả mãn nhu cầu nào đó của con người, làm tăng chất lượng cuộc sống cũng như tăng GDP (dịch vụ ngân hàng, Nhà nước dịch vụ hải quan...) cho hoạt động (thị trường tiền, chứng khoán hay thị trường vốn...). Việc cung cấp dịch vụ làm tác động voà thị trường và thị trường lại tác động tới nền kinh tế. Điều đó làm tiềm lực kinh tế phát triển rất lớn. Trong các yếu tố cấu thành TPKTNN, các yếu tố đều đóng vị trí khá quan trọng, góp phần lớn vào TPKTNN. Nhưng yếu tố quan trọng đặc biệt là hệ thống doanh nghiệp Nhà nước, là bộ phận quan trọng do Nhà nước đầu tư vốn. Tổ chức và quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh, là đơn vị có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh. 3. Bản chất xã hội chủ nghĩa của TPKTNN. - Đảng ta đã sử dụng cụm từ "Định hướng xã hội chủ nghĩa" với hàm ý nước ta đang ở giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên CNXH. Đặc trưng của thời kỳ này theo Lênin là thời kỳ mà nhiều thành phần cùng tồn tại. - Vấn đề khác biệt mà lịch sử đã chỉ ra đối với TPKTNN là. Nếu như các thành phần khác với phương thức sản xuất khác thực hiện sự bóc lột đối với quảng đại quần chúng nhân dân, thì TPKTNN với phương thức sản xuất XHCN mà chúng ta hướng tới là giải phóng quảng đại quần chúng. Do đó TPKTNN đại diện cho lợi ích của nhân dân lao động, vì vậy TPKTNN buộc phải lựa chọn và tìm tòi bước đi để tiến tới trở thành nền tảng của chế độ mới. - ẩn dấu đằng sau hình thái sở hữu Nhà nước, TPKTNN ở nước ta vẫn là chế độ sở hữu toàn dân, chế độ sở hữu XHCN. - Mặt khác cũng cần phải lưu ý hai điểm sau đây: Thứ nhất: TPKTNN được hiểu theo nội dung trên đây là giai đoạn thấp, khởi đầu của quan hệ sản xuất XHCN. Ngày nay với việc thừa nhận cơ chế thị trường, thừa nhận sự trao đổi sản phẩm thông qua giá trị như là hành vi phổ biến thì thiết chế Nhà nước cũng trở nên xa cách với người dân hơn, có tính độc lập tương đối. Chính vì thế tính sở hữu toàn dân thể hiện ở sở hữu Nhà nước được thể hiện một cách gián tiếp hơn qua một số khâu trung gian mang tính chính trị trực tiếp nhiều hơn tính kinh tế trực tiếp. Tính gián tiếp của sở hữu toàn dân đó có thể hiện giai đoạn thấp của quan hệ sản xuất XHCN. Thứ hai: Do trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, TPKTNN không chỉ đại diện cho lợi íchc ủa nhân dân lao động mà còn đại diện cho lợi ích của quốc gia, biểu hiện ở khả năng giải phóng sức sản xuất hiện có, sử dụng tốt nhất các nguồn lực và đem kết quả của việc sử dụng tốt các nguồn lực phục vụ cho các công dân nước mình. Do lực lượng sản xuất của nước ta hiện nay đòi hỏi phải phát triển đa dạng các hình thức tổ chức sản xuất - kinh doanh phù hợp với trình độ phát triển khác nhau của lực lượng sản xuất, chỉ bằng cách đó chúng ta mới thoả mãn nhu cầu người dân ở mức tốt nhất. Cho nên Nhà nước ta không những phải tạo điều kiện cho thành phần kinh tế Nhà nước mà tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác phát triển. Quan điểm có tính nguyên tắc của chúng ta là tạo ra môi trường hoạt động bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế nhằm khai thác hết nội lực và nhân tố hiệu quả của chúng ta, đồng thời cố gắng tìm tòi, thể hiện trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm cũng như khái quát lý luận để tìm ra những hìnhthức tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả. II- Vai trò của thành phần kinh tế Nhà nước. 1. Vai trò chung của TPKDTNN. Về mặt lý luận vai trò của thành phần kinh tế đại diện cho phương thức sản xuất mới đang dần thay thế phương thức sản xuất cũ đảm nhận. Trong nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN ở nước ta, vai trò chủ đạo đó tất yếu được đặt liền với thành phần kinh tế Nhà nước. Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: "Tiếp tục đổi mới và phát triển có hiệu quả kinh tế Nhà nước để làm hết vai trò chủ đạo, làm đòn bẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội, mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển, làm lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô, tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới". 2. Vai trò của TPKTNN trong từng giai đoạn lịch sử. 2.1. Vai trò của TPKTNN trong lịch sử. Bất cứ một Nhà nước nào cũng có vai trò kinh tế, song ở mỗi chế độ xã hội nhất định, vai trò kinh tế của Nhà nước có biểu hiện thích hợp với chế độ xã hội đó. Các Nhà nước trước CNTB độc quyền Nhà nước, vai trò kinh tế chỉ dừng lại ở việc điều tiết bằng thuế và pháp luật là chủ yếu. Đến CNTB độc quyền Nhà nước, Nhà nước tư bản ngoài việc can thiệp vào nền sản xuất xã hội thông qua thuế và pháp luật là chủ yếu, nó còn có vai trò kinh tế mới là tổ chức và quản lý các xí nghiệp thuộc khu vực kinh tế Nhà nước. Chỉ đến Nhà nước XHCN - Nhà nước do dân, Nhà nước của dân, Nhà nước vì dân mới xuất hiện vai trò kinh tế đặc biệt vai trò kinh tế đó là: tổ chức và quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân cả ở tầm kinh tế vĩ mô lẫn ởtầm kinh tế vi mô, trong đó quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước là chủ yếu. Sở dĩ Nhà nước XHCN có vai trò kinh tế nói trên là vi: - Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, Nhà nước XHCN với tư cách là người đại diện cho lợi ích của nhân dân, của toàn xã hội có nhiệm vụ quản lý đất nước về hành chính - kinh tế - xã hội. - Nhà nước XHCN là đại diện cho sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất, có nhiệm vụ quản lý các xí nghiệp thuộc khu vực kinh tế Nhà nước. - Nền kinh tế hàng hoá vận động theo có chế thị trường, bên cạnh những mặt tích cực như thúc đẩy nền kinh tế… thì cũng còn có những mặt hạn chế như phân hoá giàu nghèo, bất công, thất nghiệp. Vai trò quản lý của Nhà nước sẽ góp phần vào việc chỉ huy, điều tiết, hạn chế những khuyết tật đó. 2.2. Vai trò của TPKTNN trong thời kỳ quá độ. Theo Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam cho ta thấy thông qua vai trò điều tiết, định hướng, điều tiết thành phần kinh tế Nhà nước góp phần chi phối và biến đổi các thành phần kinh tế khác trong quĩ đạo định hướng XHCN. Trong nền kinh tế của nước ta, TPKTNN phát huy vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Đặc biệt là cơ bản hoàn thành việc củng cố, sắp xếp điều chỉnh cơ cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả các doanh nghiệp Nhà nước hiện có. Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách đối với doanh nghiệp Nhà nước để tạo động lực phát triển và nâng cao hiệu quả. TPKTNN giữ c ác lĩnh vực quan trọng nên tính chủđạo xuất phát từ vị trí chiến lược và khả năng chi phối môi trường kinh tế - xã hội, chứ không phải là nơi có lợi nhuận cao nhất hay số lượng tỷ trọng trong tổng sản phẩm quốc nội. a. Vai trò mở đường cho mọi thành phần kinh tế khác. Tạo điều kiện cho các ngành công nghiệp nặng, lĩnh vực phục vụ lợi ích công cộng, những vùng sâu, vùng xa của đất nước. Nhưng đó lạ là những khu vực cần phát triển để tạo nền tảng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, khu vực có nhiều tiềm năng cần khai thác, khu vực cần quan tâm để đảm bảo công bằng xã hội. Các doanh nghiệp Nhà nước có thể làm được điều đó do có sự hậu thuẫn của Nhà nước về vốn, kỹ thuật, nhân lực… Sự mở đường này là hạt nhân tạo các điều kiện tiền đề để cho các loại hình doanh nghiệp khác ra đời và phát triển. Vai trò chủ đạo của các doanh nghiệp còn được xem xét ở việc thực hiện tốt luật pháp kinh tế được ban hành. Hay được xem xét trong góc độ đóng góp vào ngân sách Nhà nước. Tỷ trọng tổng sản phẩm củadn Nhà nước GDP. Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế nó còn đóng vai trò vào việc tạo ra các hình thức mới trong sản xuất kinh doanh của cả nước. b. Thành phần kinh tế Nhà nước tạo động lực cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Do thành phần kinh tế Nhà nước nắm giữ các lĩnh vực then chốt quan trọng nên thúc đẩy, tạo đà, giúp đỡ các doanh nghiệp tư nhân cùng góp phần tăng trưởng kinh tế. Các doanh nghiệp thuộc TPKTNN đóng vai trò ứng dụng và chuyển giao kỹ thuật hiện đại không thể ứng dụng rộng rãi ngay, hay không thể phát huy ngay tác dụng. Chỉ có TPKTNN mới có đủ cơ sở về vốn, kỹ thuật đột phá thử nghiệm mà không có hy vọng đem lại lợi nhuận. Doanh nghiệp Nhà nước đi đầu trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng. c. Tạo điều kiện phát triển các mối quan hệ hợp tác và giúp đỡ các doanh nghiệp khác. Do đặc điểm nền kinh tế phần lớn các doanh nghiệp nước ta không đủ khả năng sản xuất một sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh với kỹ thuật cao. Hệ thống doanh nghiệp Nhà nước hiện đóng vai trò hạt nhân trong nền kinh tế, trong một nóhm sản phẩm nào đó. Qua đó tạo các mối liên kết dọc ngang trong nền kinh tế. Trong điều kiện hội nhập khu vực và quốc tế tạo nên xu hướng xây dựng quanh mình hệ thống về tính sản xuất trong đó doanh nghiệp Nhà nước khong những đảm nhận các khâu đòi hỏi kỹ thuật cao mà còn có trách nhiệm hướng các doanh nghiệp thành viên từng bước nâng cao kinh tế công nghệ. Doanh nghiệp Nhà nước tiến hành liên doanh với nước ngoài đóng vai trò cầu nối hình thành tư bản Nhà nước, điều đó rất cần thiết cho việc phát huy nội lực, lôi kéo ngoại lực. d. Tạo điều kiện cho việc xây dựng chế độ mới. Vai trò này của TPKTNN thể hiện trước hết ở sự hạn chế các khuyết tật của kinh tế thị trường. Chạy theo lợi nhuận tối đa bỏ qua các ảnh hưởng xấu tới cộng đồng, ô nhiễm môi trường, thường không cung cấp các sản phẩm công cộng. Vai trò thứ hai của TPKTNN đặc biệt quan trọng đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, từng bước xây dựng, hoàn hiện cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH. Phần II: Thực trạng của thành phần kinh tế Nhà nước hiện nay I- Thực trạng chung của TPKTNN ở nước ta hiện nay. TPKTNN ở nước ta có một thực lực hết sức to lớn, chiếm hơn 3/4 tài sản quốc gia và đóng góp trên 40% GDP hàng năm, nắm giữ các đài chỉ huy và các vị trí then chốt trong nền kinh tế, đó là nền tảng, là cơ sở và sức mạnh để định hướng XHCN toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Việc tư nhân hoá khu vực kinh tế Nhà nước không gì khác hơn là làm cho nền tảng và sức mạnh kinh tế của CNXH yếu đi, tạo sự thắng thế cho định hướng tư bản chủ nghĩa. Nhưng khách quan mà nhìn nhận thì TPKTNN ở Việt Nam hiện nay đang hoạt động tương đối kém hiệu quả, và chính điều này đã làm suy yếu tính định hướng dẫn dắt, nêu gương của nó với các thành phần kinh tế khác. Cần phải thấy rằng gốc rễ của sự kém hiệu quả đó không phải ở bản chất của sở hữu Nhà nước như những ai đó đang rao giảng "đã là KTNN là kém hiệu quả", mà chính là do chúng ta chưa có được cơ chế thực hiện quyền sở hữu đó có hiệu quả nhất. Sự mỏng manh, chưa vững chắc trong vai trò chủ đạo của TPKTNN hiện nay có những nguyên nhân thuộc về quá khứ. Nó biểu hiện ở qui hoạch đầu tư, đào tạo, bố trí và tuyển dụng lao động, ở sự ỉ lại trông chờ sự ban phát từ bên trên, ở sự kém năng động và thiếu quyết đoán trong các quyết định quản lý do đó quá nhiều tầng nấc từ bên trên can thiệp. Chính điều đó đang là những lực cản gây ra sự yếu kém, trì trệ ít hiệu quả của TPKTNN. Cùng với dư âm của quá khứ, việc chuyển đổi cơ chế cũng làm bộc lộ hơn những khuyết tật mà chúng ta cần phải xử lý, đó là tình trạng vô chủ trên thực tế vẫn còn tồn tại mặc dù về mặt lý thuyết chúng tađã phân biệt rõ ràng các quyền năng sở hữu, sử dụng, định đoạt và hướng lợi. Việc sử dụng lãng phí công sản Nhà nước, quản lý lỏng lẻo, vô trách nhiệm, phân phối tuỳ tiện, chiếm dụng vốn lẫn nhau, ỉ lại vào sự đầu tư của Nhà nước, đánh quả, chụp giật, móc ngoặc vẫn còn tồn tại. Dự kiểm kê, kiểm soát của Nhà nước và tập thể người lao động chưa được triển khai đồng bộ và thật sự có hiệu quả. Nhiều giám đốc sử dụng ngay đồng tiền của Nhà nước để vô hiệu hoá sự kiểm kê kiểm soát đó. II- Thực trạng của các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN). Các doanh nghiệp Nhà nước hiện nay đang là một lực lượng hùng hậu so với các thành phần kinh tế ở nước ta. Chúng giữ vai trò chủ đạo trong sự phát triển nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên nó cũng không tránh khỏi nhiều vấn đề bất cập cần được giải quyết, tháo gỡ và cần phải được đổi mới trong thời gian tới. 1. Những thành tựu đáng ghi nhận. - Về cơ chế quản lý có một số thay đổi có thể nói đã tạo bước ngoặt cho các DNNN nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. Từ 1986, nền kinh tế nước ta chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Điều đó có nghĩa là các DNNN được tự chủ hơn trong kinh doanh, họ chủ động về sử dụng và bảo toàn vốn, về việc tổ chức bộ máy nhân sự. Và vì vậy mà các doanh nghiệp hoạt động có trách nhiệm và hiệu quả hơn. - Việc giảm số lượng và đổi mới mô hình các DNNN. Từ năm 1990 đến nay qua ba đợt sắp xếp, số lượng các DNNN đã giảm đi rõ rệt. Từ chỗ Nhà nước có 12.300 DNNN nay đã giảm đi 55% còn 5.655 doanh nghiệp. Từ 250 liên hiệp xí nghiệp, các Tổng Công ty chuyển thành 78 Công ty 91 và 78 Tổng Công ty 90. Các DNNN đã giảm rõ rệt về số lượng, điều đó làm cho các thành phần kinh tế khác sẽ tăng lên và thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần phát triển. Hiện nay các Tổng Công ty 90, 91 có hơn 1000 doanh nghiệp thành viên, chiếm 65% vốn Nhà nước, sử dụng được 61% lao động. Doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ giảm 2,75%, doanh nghiệp có vốn trên 1 tỷ tăng 2,5 lần. Số vốn bình quân 1 DNNN tăng 7 lần. Chứng tỏ Nhà nước đã đầu tư theo chiều sâu để đạt chất lượng cao. Do vậy các DNNN đã góp phần vào GDP 39,5% và vào ngân sách Nhà nước 59,2%. Và đây được coi như một thành tựu đáng mừng của nền kinh tế. 2. Những tồn đọng và hạn chế. 2.1. Thứ nhất: Quy mô các DNNN. Về qui mô các DNNN được coi là rất nhỏ so với khu vực 1/4 số doanh nghiệp có vốn lớn hơn 10 tỷ VNĐ. Bình quan có 22 tỷ /1 doanh nghiệp. Nếu số vốn này ta qui đổi ra USD thì quả là rất nhỏ. 2.2. Thứ hai: Trình độ công nghệ. Trình độ công nghệ của chúng ta đã lạc hậu từ 10 - 30 năm. Một câu hỏi lớn đặt ra là với trình độ công nghệ như thế thì đến bao giờ ta mới đuổi kịp các nước tiên tiến khác. Trong đó các tài sản cố định (TSCĐ) đang chờ thanh lý chiếm 38% số TSCĐ đã qua sửa chữa một hay nhiều lần chiếm 52%. Chứng tỏ số máy móc vừa cũ kỹ, lạc hậu lại vừa kém phẩm chất. Đây là nỗ lo của nền kinh tế vốn đã gầy yếu, lại ăn không đủ chất liệu có trở thành cơ thể cường tráng hay không? Vậy cần phải đổi mới như thế nào? Qua thống kê cho thấy, các doanh nghiệp thực sự có lãi chỉ chiếm 40%. Số doanh nghiệp khi lỗ, khi lãi chiếm 31%. Còn lại 29% là thực sự thua lỗ, con số này quả là không nhỏ và thực sự là những cái xác thối chưa được chôn. Nếu để tồn tại nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tiến trình phát triển của các DNNN. 2.3. Thứ ba: Tình hình nợ đọng ở các DNNN. - Tình hình nợ quá hạn và tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau chiếm tỷ trọng rất lớn vàđang là vấn đề lớn hiện nay. Tính đến 01/01/2000 có 277 ngàn tỷ đồng chưa được xử lý nợ, nó vẫn còn nằm tồn đọng ở các doanh nghiệp. Chỉ tính riêng các ngân hàng thương mại quốc doanh đến ngày 31/12/2000 còn 136 ngàn tỷ đồng chưa được xử lý. - Số nợ lớn như vậy điều tất nhiên những đứa con DNNN lại trở về với ông bố là ngân sách Nhà nước trả nợ giúp, và vì vậy bội chi ngân sách là tất yếu và khủng hoảng kinh tế là không xa vời… Vậy cần phải có những giải pháp gì để tình trạng nợ nần không còn nhức nhối? 3. Cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước. 3.1. Cổ phần hoá nhìn lại một chặng đường. Cổ phần hoá DNNN là một giải pháp quan trọng trong quá trình tổng thể đổi mới và sắp xếp lại DNNN bắt đầu thực hiện từ năm 1991 đến nay đã qua 10 năm và trải qua 3 giai đoạn: a. Giai đoạn thứ nhất: Thực hiện từ 1991 - 1994. Đây la giai đoạn "kiểm kê" toàn bộ DNNN, phân tích và đánh giá tình hình hoạt động của các doanh nghiệp và thực hiện đăng ký lại các DNNN. Căn cứ pháp lý cho đợt này là Nghị định 388 HĐBT (nay là cp) và Quyết định 202/CT. Đây cũng là giai đoạn thực hiện thí điểm việc cổ phần hoá DNNN với DNNN được chuyển thành Công ty cổ phần: Công ty đại lý liên hiệp vận chuyển (1993) Công ty cơ điện lạnh (1993) Xí nghiệp giày Hiệp An (1994). b. Giai đoạn thứ hai: Thực hiện từ 1995 - 1997 Trong giai đoạn này chủ yếu thực hiện các quyết định số 90/TTg số 91/TTg, chỉ thị số 500/TTg, tiếp tục giai đoạn trước đó, sắp xếp tổng thể để hình thành hệ thống DNNN, bỏ dần chế độ Bộ chủ quản và các cấp hành chính chủ quản. Quá trình cổ phần hoá trong giai đoạn này đã được mở rộng đánh dấu bằng Nghị định 28/CP ngày 7/5/1996. Tuy nhiên tiến độ cổ phần hoá còn chậm. Trong giai đoạn này chúng ta có 20 doanh nghiệp được cổ phần hoá. c. Giai đoạn thứ ba: Thực hiện từ 1998 đến nay. Giai đoạn này được đánh dấu bằng chỉ thị số 20/1998/CT-TTg ngày 21/04/1998 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh sắp xếp và đổi mới DNNN nói chung và cổ phần hoá nói riêng được đẩy mạnh với qui mô lớn, thể hiện là Chính phủ ban hành Nghị định số 44/1998/NĐ-CP ngày 19/06/1998. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, tính đến ngày 31/12/2000 đã có 558 doanh nghiệp được chuyển đổi hình thức sở hữu, trong đó có 532 doanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá, 26 doanh nghiệp thực hiện các hình thức giao, bán, khoán kinh doanh và cho thuê. Riêng trong năm 2000 đã hoàn thành cổ phần hoá và chuyển đổi sở hữu 188 doanh nghiệp, đạt 27,2% so với mục tiêu cổ phần hoá và chuyển đổi sở hữu là 692 doanh nghiệp. Các doanh nghiệp được cổ phần hoá thuộc các Bộ, ngành, Tổng Công ty 91 chiếm 27%, thuộc các địa phương chiếm 73%. Trong tổng số các doanh nghiệp đã cổ phần hoá, lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, giao thông chiếm 57%, lĩnh vực thương mại dịch vụ chiếm 38%, lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp và thuỷ sản chiếm 5%. Kết quả hoạt động của các DNNN thực hiện CPH cho thấy, do thời gian hoạt động của phần lớn doanh nghiệp CPH còn ngắn. Khi chuyển sang Công ty cổ phần lại rơi vào thời điểm tăng trưởng nền kinh tế của nước ta bị sụt giảm nên kết quả của một số doanh nghiệp sau CPH chưa cao. Tuy nhiên nếu xem xét đánh giá 40 doanh nghiệp đã CPH từ 1998 trở về trước thì phần lớn các doanh nghiệp có số doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách, thu nhập của người lao động, số lượng công nhân viên đều tăng so với trước khi thực hiện CPH. Mặc dù, số lượng các DNNN được CPH trong những năm gần đây tăng lên nhanh chóng, nhưng so với mục tiêu đề ra và so với các DNNN không thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn, thì tiến trình CPH vẫn còn quá chậm. 3.2. Nguyên nhân của việc CPH còn chậm. Một là: Cơ chế chính sách CPH chậm được ban hành và thiếu đồng bộ, thiếu tính cụ thể, qui trình xác định giá trị doanh nghiệp quá phức tạp, còn nhiều mặt chưa phù hợp với cơ chế thị trường. Hai là: Trước yêu cầu mới các doanh nghiệp còn nhiều lúng túng, bỡ ngỡ. Ba là: Một số Bộ và địa phương chưa nhận thức rõ và đầy đủ về ý nghĩa chủ trương CPH. Do đó thiếu chủ động và chưa kiên quyết triển khai. Bốn là: Công tác tuyên truyền giáo dục về CPH từ trong Đảng, trong bộ máy Nhà nước từ trung ương đến địa phương chưa được đẩy mạnh và chưa hiệu quả. Từ đó dẫn đến coi nhẹ và không nhìn nhận được hết vai trò của CPH. Năm là: Môi trường kinh tế chưa thật sự bình đẳng, chưa tạo được một mặt bằng thống nhất về cơ chế chính sách, thành phần kinh tế cùng cạnh tranh phát triển, cơ chế tài chính cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, Công ty cổ phần chưa có. Sáu là: Việc thực hiện công khai tài chính của các doanh nghiệp chưa được thường xuyên. Các thông tin tài chính về CPH chưa được sự hướng dẫn phổ biến ra ngoài mà chủ yếu là trong nội bộ doanh nghiệp và các cơ quan liên quan. Đây là trở ngại chính làm cho công tác CPH chưa được sự hưởng ứng, tham gia đông đảo của công chúng đầu tư bên ngoài doanh nghiệp CPH. Mặt khác việc bán cổ phiếu do chính doanh nghiệp thực hiện nên còn thiếu tính minh bạch, khách quan. Bảy là: Các chế độ chính sách ưu đãi, khuyến khích chưa thực sự là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp tham gia CPH. 3.3. Cổ phần hoá DNNN kết quả và những vướng mắc. Cổ phần hoá DNNN là huy động vốn trong và ngoài nước thay đổi phương thức quản lý, thay đổi trang thiết bị đầu tư mở rộng sản xuất, đồng thời tạo điều kiện để người lao động tham gia quản lý nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hơn. a. Những kết quả bước đầu đáng ghi nhận. - Hình thành một mô hình doanh nghiệp mới, gắn bó chặt chẽ quyền lợi và trách nhiệm. Với việc thay đổi phương thức quản lý, chế độ bình bầu chọn giám đốc, hội đồng quản trị và những chức danh lãnh đạo của doanh nghiệp đã làm đội ngũ này có trách nhiệm hơn. Các nhà lãnh đạo hết sức năng động, xông xáo bám sát thị trường để làm sao cho doanh nghiệp của mình ngày càng phát triển. Đội ngũ công nhân viên chức được sàng lọc, tinh gọn lại là các cổ đông của chính Công ty nên chất lượng cũng như ý thức làm chủ, tự giác tiết kiệm được nâng lên rõ rệt. Tại Công ty cổ phần Phú Gia (Hà Nội), sau cổ phần hoá hàng tháng tiết kiệm được hơn 50% tiền điện và 30% chi phí hành chính khác. Chuyển biến tích cực này cũng được diễn ra ở các doanh nghiệp cổ phần hoá khác. - Hiệu quả kinh doanh được nâng cao, lợi ích Nhà nước, doanh nghiệp và cá nhân đều được đáp ứng. Theo dõi hoạt động của các DNNN được cổ phần hoá, đều đã nhận thấy là hiệu quả sản xuất kinh doanh được nâng lên rõ rệt. Các chỉ tiêu vốn, lợi nhuận, nộp ngân sách việc làm, thu nhập bình quân đều tăng đáng kể. Tại DNNN đầu tiên được cổ phần hoá là đại lý liên hiệp vận chuyển thuộc Tổng Công ty hàng hải Việt Nam vào năm 1993, sau 7 năm hoạt động giá trị tài sản tăng từ 12 tỷ lên 140 tỷ đồng giải quyết việc làm cho 350 người lao động. Nhờ kết quả sản xuất kinh doanh tốt, các doanh nghiệp được cổ phần hoá thực sự trở thành mô hình "ba trong một",vừa cứu vãn được nguy cơ đổ vỡ của doanh nghiệp, vừa tăng khoản nộp cho ngân sách Nhà nước, vừadb thu nhập cho người lao động. Xét dưới góc độ lợi ích của Nhà nước, thì không chỉ có tăng nguồn thu do các doanh nghiệp trích nộp nhiều hơn màNhà nước không còn phải làm "bà đỡ", không tốn phí bao cấp ưu đãi tài chính và ngay cả khi bán cổ phần, Nhà nước vẫn thu được nguồn vốn đáng kể. b. Những vướng mắc cần được khắc phục. Khuôn khổ pháp lý cho cổ phần hoá còn nhiều bất cập. Các qui định về chế độ đối với các doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá vẫn chưa rõ ràng. Các qui định được sửa đổi và bổ sung thường thì càng về sau càng có lợi, càng có nhiều ưu đãi. Chính vì vậy mặt tâm lý, các doanh nghiệp không muốn triển khai nhanh mà chờ đợi để được hưởng ưu đãi nhiều hơn. Kết quả trong năm 2000, chỉ tiêu kế hoạch là cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước, nhưng chỉ thực hiện được 22%. Điều đó cho thấy tốc độ cổ phần hoá còn hết sức chậm chạp. - Công tác chuẩn bị, công tác chỉ đạo cổ phần hoá tiến hành chậm chạp và không tích cực. Nhiều doanh nghiệp cũng như nhiều cấp quản lý vẫn nghĩ cổ phần hoá mất đi nhiều quyền lợi. Việc tìm đối tác liên doanh liên kết ở các Công ty cổ phần cũng gặp nhiều khó khăn. DNNN vẫn được ưu đãi hơn về nhiều mặt như vay vốn không cần thế chấp. Tất cả những điều này tác động vào tâm lýcủa các doanh nghiệp chuẩn bị bước vào cổ phần hoá rất lớn. Trong một thời gian dài việc tổ chức điều hành CPH được tiến hành một cách rời rạc, bị động. Ban đổi mới DNNN chưa hoạt động chuyên trách, đội ngũ quá mỏng chưa đủ trình độ và kinh nghiệm để giải quyết các vấn đề phức tạp. Việc đánh giá tài sản của doanh nghiệp thường là khâu kéo dài nhất và còn có nhiều bất cập chưa có hướng giải quyết dứt điểm. Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp tuy có qui định căn cứ vào tài sản thực tế tại thời điểm cổ phần hoá để tính theo giá thị trường. Những vướng mắc đối với người lao động. Chưa nói đến những người bị giảm biên chế mà ngay với người lao động còn ở lại doanh nghiệp thì cũng có rất nhiều vấn đề băn khoăn về tâm lý. Bên cạnh các quyền lợi trực tiếp như lương, thưởng thì các quyền lợi khác như phúc lợi, học hành.. có được như cũ hay không hoặc một vấn đề khác là cán bộ công nhân viên nhiều năm làm việc trong biên chế Nhà nước, có ngạch bậc và quyền lợi chính trị khác, khi chuyển sang cổ phần hoá các quyền lợi này sẽ ra sao. Phần III: Những giải pháp nâng cao vai trò của thành phần kinh tế Nhà nước I- Những giải pháp nâng cao vai trò của TPKTNN. Tăng cường sức mạnh là tính hiệu ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc35537.doc