Giảng dạy thơ đường ở trường phổ thông dưới góc nhìn của thi pháp học

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH _________ PHAN THỊ MINH GIẢNG DẠY THƠ ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DƯỚI GÓC NHÌN CỦA THI PHÁP HỌC Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học môn văn Mã số: 60 14 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS. TRẦN XUÂN ĐỀ Thành phố Hồ Chí Minh – 2007 LỜI CẢM ƠN _________ Tôi xin chân thành cảm ơn sự nhiệt tình, công lao truyền thụ kiến thức của tập thể quý thầy cô khoa Ngữ văn trườn

pdf135 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 3430 | Lượt tải: 3download
Tóm tắt tài liệu Giảng dạy thơ đường ở trường phổ thông dưới góc nhìn của thi pháp học, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g Đại học Sư phạm Tp. HCM. Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn Ban giám hiệu trường Đại học Sư phạm Tp. HCM, phòng Khoa học Công nghệ - Sau Đại học, Ban giám hiệu và các giáo viên Trường Trung học cơ sở Lam Sơn, trường Trung học cơ sở Hai Bà Trưng đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi được tham gia khóa học và hoàn thành luận văn này. Đặc biệt, tôi cũng xin kính lời biết ơn sâu sắc đến PGS. Trần Xuân Đề, thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn. Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình cùng các anh chị đồng khoá học đã động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học. Tp. HCM, tháng 11, năm 2007 Học viên Phan Thị Minh MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1.1. Xuất phát từ yêu cầu về việc đổi mới phương pháp dạy học văn trong nhà trường phổ thông hiện nay Đã ngót hai mươi năm trôi qua, kể từ Đại hội Đảng lần thứ VI (Đại hội của đổi mới) tới Đại hội Đảng lần thứ X. Hai mươi năm chưa hẳn là dài với một đời người, nhưng đó là những năm tháng gắn với biết bao chuyển đổi lớn lao trong đời sống xã hội cũng như trong lĩnh vực giáo dục. Từ đó đến nay, công cuộc đổi mới ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội và văn học nghệ thuật. Thành tựu đó được lý giải bởi nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng được biết đến là tinh thần chủ động hội nhập, tăng cường giao lưu hợp tác quốc tế mà sự kiện nổi bật là Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Chính vì vậy nền giáo dục Việt Nam gánh trên vai một trọng trách không nhỏ là làm thế nào để đào tạo được những con người phát triển toàn diện, có đủ phẩm chất đạo đức, năng lực và trình độ để đưa đất nước phát triển lên một tầm cao mới, sánh vai với các cường quốc năm châu như ý nguyện của vị Lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam – Hồ Chí Minh. Bởi vì ở lĩnh vực xã hội nào cũng vậy, đều cần người tài, ở thời nào cũng vậy, chính trị giỏi cốt là quy tụ được nhiều người tài đức, có học vấn, lấy họ làm gốc để trị nước. Trong xu thế đó, việc đào tạo một thế hệ trẻ tương lai đáp ứng được những yêu cầu trên luôn được Đảng và Nhà Nước quan tâm. Đặc biệt là việc đổi mới về phương pháp dạy và học các bộ môn trong nhà trường phổ thông là một vấn đề rất cần thiết. Việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung và bộ môn Văn nói riêng trong nhà trường phổ thông không phải là vấn đề mới mẻ. Từ những năm 80, việc thay sách Văn và Tiếng Việt ở bậc trung học cơ sở, đến nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ hai (khóa VIII) tiếp tục được triển khai ở trung học phổ thông đã thể hiện việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học Văn. Đặc biệt, bộ sách giáo khoa Ngữ văn bậc trung học cơ sở được biên soạn theo chương trình trung học cơ sở ban hành kèm theo Quyết định số 03/2002/QĐ–BGD&ĐT, ngày 24 tháng 1 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bên cạnh những hướng cải tiến chung của Bộ, các chương trình như: giảm tải, tăng thực hành, gắn với đời sống. Nét cải tiến nổi bật nhất của chương trình và sách giáo khoa môn Ngữ văn là hướng tích hợp gồm ba phân môn Văn, Tiếng Việt và Tập làm văn. Đến nay, chương trình đổi mới đã thực hiện đến bậc trung học phổ thông, sách giáo khoa Ngữ văn 10 và 11 tiếp tục thực hiện tinh thần tích hợp ở trung học cở sở. Tuy nhiên, làm sao tìm được nhiều biện pháp có hiệu quả để thực hiện chủ trương đổi mới là một vấn đề không dễ dàng chút nào. Điều này làm cho nhiều người làm công tác giảng dạy và nhất là giáo viên dạy Văn như chúng tôi thực sự trăn trở. Vì vậy, với đề tài “Giảng dạy thơ Đường ở trường phổ thông dưới góc nhìn của thi pháp học” là một hướng tiếp cận tác phẩm văn học trong giờ dạy văn có khả thi và chúng tôi mong rằng sẽ góp một phần khiêm tốn vào việc đổi mới phương pháp dạy học văn trong nhà trường phổ thông hiện nay. 1.2. Từ thực trạng dạy học văn trong nhà trường hiện nay nói chung và vấn đề dạy học mảng văn học nước ngoài còn nhiều hạn chế Nói về lĩnh vực kinh tế, khoa học kĩ thuật, trong những năm gần đây nước ta luôn phát triển và phát triển không ngừng, nhưng chất lượng giáo dục lại không phát triển theo tỉ lệ thuận với sự phát triển đó, thế hệ trẻ được đào tạo khi ra trường không đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Điều này không phải chỉ ở bậc đại học, cao đẳng mà ngay từ các cấp học phổ thông cũng thế. Đối với bộ môn Văn lại là vấn đề trở nên nhức nhối. Do chạy theo cơ chế thị trường, nhiều học sinh không hứng thú với môn văn mà thích học các môn khoa học tự nhiên. Hậu quả là học sinh rất kém cỏi trong việc hành văn (cả văn nói và văn viết). Trong kỳ thi tuyển sinh vào Trường Đại học năm 2007 mới đây thực sự đáng lo ngại. “Ở câu 1 đề thi văn khối C yêu cầu: Anh chị hãy trình bày ngắn gọn những đặc điểm thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng 8 – 1945? Một thí sinh hồn nhiên cho rằng: “Đặc điểm thơ Xuân Diệu chỉ có Xuân Diệu mới có!”... Có thí sinh còn gán cho ông cái tội tưởng tượng: “Xuân Diệu tham gia vào hàng ngũ cách mạng và đã gây nhiều tai tiếng cho nền văn học Việt Nam”... Nhiều thí sinh bình giảng trớt lớt ý nghĩa hoặc sai kiến thức văn học. Câu “Đưa người ta chỉ đưa người ấy” được thí sinh bình giảng rất ngô nghê: “Trong thời gian ngắn ngủi ngoài con người ấy ta không đưa đưa con người nào khác nữa bắt buộc ta phải đưa được con người này qua được con sông” [65, tr. 9]. Bài làm của học sinh trong kỳ thi tuyển sinh đại học môn văn năm 2007 vừa nêu cũng như thực trạng dạy và học môn văn trong những năm gần đây đã cho thấy rõ thực trạng việc dạy và học môn Văn ở bậc phổ thông hiện nay. Tính từ đầu thập niên 80 đến nay, chương trình và sách giáo khoa đã trải qua nhiều đợt cải cách, trong đó có chương trình và sách giáo khoa môn văn, tiếng việt và làm văn: cải cách không chuyên ban, cải cách chuyên ban, rồi chỉnh lý - hợp nhất. Từ năm học 2002 lại bắt đầu thí điểm một vòng cải cách chương trình và sách giáo khoa. Cải cách liên tục như vậy, nhưng kết quả dạy - học môn văn vẫn tiếp tục sa sút. Một thực trạng thật đáng buồn! Khi nói về thực trạng dạy học văn trong nhà trường, Giáo sư Phan Trọng Luận cũng từng cho rằng: “Một trong những môn học trong nhà trường có khả năng mạnh mẽ lâu bền trong trong việc giáo dục tình cảm nhân văn cho tuổi trẻ là bộ môn văn học… Phương pháp giảng dạy văn học nhiều thập kỷ qua cũng có phần cứng nhắc, giản đơn, biến việc giảng dạy văn học nặng nề về xã hội học… Sức mạnh riêng của văn chương do đó bị hạn chế khá nhiều trong việc hình thành và phát triển những tình cảm nhân văn thẩm mỹ cho học sinh” [27, tr. 111]. Ý kiến trên thiết nghĩ không có gì là quá. Mặc dù Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Thiện Nhân luôn kêu gọi và đã có những động thái tích cực như: chống bệnh thành tích, gian lận trong thi cử, nói không với tiêu cực... để làm thay đổi một cơ chế, một thói quen không phải ngày một ngày hai mà là cả một quá trình. Trong chương trình Văn ở trường phổ thông, mảng Văn học nước ngoài cũng như thơ Đường chiếm một vị trí quan trọng, vì thơ Đường là thành tựu rực rỡ của thơ ca Trung Quốc và nhân loại. Đây là bộ phận văn học có ảnh hưởng sâu rộng đến văn học Việt Nam mà đặc biệt là phần văn học trung đại. Tuy nhiên, vấn đề dạy học thơ Đường ở trường phổ thông hiện nay còn nhiều hạn chế, giáo viên gặp không ít khó khăn. Xuất phát từ thực trạng trên, chúng tôi đi vào tìm hiểu đề tài: “Giảng dạy thơ Đường ở trường phổ thông dưới góc nhìn của thi pháp học”. Là giáo viên Văn, chúng tôi mong muốn đề cập đến những khó khăn vướng mắc trong quá trình giảng dạy thơ Đường, từ đó tìm ra hướng giải quyết phù hợp cho việc dạy và học thơ Đường ở trường phổ thông. 2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ Ở phương diện là một bộ môn khoa học về phương pháp giảng dạy thì đề tài “Giảng dạy thơ Đường ở trường phổ thông dưới góc nhìn của thi pháp học” là một vấn đề khá mới mẻ, nói chung chưa có công trình nào đi vào nghiên cứu một cách cụ thể và chi tiết. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu, tìm hiểu về thơ Đường, thi pháp thơ Đường đã có rất nhiều bài phê bình, nghiên cứu, đánh giá phân tích từ những góc độ khác nhau, ở những cấp độ khác nhau phản ánh vị trí quan trọng của thơ Đường đối với nền văn học Việt Nam. Nhưng do phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ chú trọng vào những công trình có liên quan trực tiếp đến đề tài. Tiêu biểu là các công trình: - Thơ Đỗ Phủ, Trần Xuân Đề, Nxb Giáo dục Hà Nội, 1976. - Thơ Đường (tập 2) của Trần Trọng Kim, Nxb Văn học Hà Nội, 1978. - Văn học Trung Quốc (tập 2) của Nguyễn Khắc Phi, Nxb Giáo dục, 1987. - Đỗ Phủ, nhà thơ dân đen của Phan Ngọc, Nxb Đà Nẵng, 1990. - Thơ Đường của Trần Trọng San, Trường Đại học Tổng hợp Tp.HCM, 1990. - Thơ Đường ở trường phổ thông của Hồ Sĩ Hiệp, Nxb Văn Nghệ Tp.HCM, 1995. - Diện mạo thơ Đường của Lê Đức Niệm, Nxb Văn hoá thông tin, 1995. - Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ truyệt đời Đường của Nguyễn Sĩ Đại, Nxb Văn học Hà Nội, 1996. - Tinh hoa văn học Trung Quốc của Trần Xuân Đề, Hồ Sĩ Hiệp, Đại học Sư phạm Tp.HCM, 1997. - Thi pháp thơ Đường của Nguyễn Thị Bích Hải, Nxb Thuận Hóa, 1997. - Mối quan hệ giữa văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc qua cái nhìn so sánh của Nguyễn Khắc Phi, Nxb Giáo dục, 2001. - Lịch sử văn học Trung Quốc của Trần Xuân Đề, Nxb Giáo dục, 2002. ● Nhận xét khái quát về các công trình nghiên cứu: Các công trình, bài viết đề cập rất đa dạng và phong phú về mặt nội dung, nghệ thuật của thơ Đường. Với các công trình nghiên cứu trên, các tác giả tập trung vào hai hướng chính: - Hướng thứ nhất: gồm các tác giả Trần Xuân Đề, Lê Đức Niệm. Nội dung khái quát bức tranh toàn cảnh thơ Đường, giới thiệu được những giá trị nổi bật về nội dung, nghệ thuật của các tác giả tiêu biểu cho thi ca đời Đường như: Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị. - Hướng thứ hai: gồm các tác giả Nguyễn Thị Bích Hải, Hồ Sĩ Hiệp, Nguyễn Quốc Siêu, Trương Đình Tín, Lê Giảng… Nội dung chú trọng về thi luật, thi pháp thơ Đường và phân tích, bình giảng thơ. Như vậy, từ hai hướng trên ta thấy, các công trình nghiên cứu đã đề cập đến nhiều khía cạnh nội dung, nghệ thuật thơ Đường. Song vẫn chưa hoàn thiện, chưa đi sâu tìm hiểu phân tích; đặc biệt chưa hướng đến nội dung phương pháp giảng dạy ở trường phổ thông. Đó cũng là điều tất yếu vì các vấn đề trong thơ Đường quá đa dạng, quá phong phú nên thường chỉ được các nhà nghiên cứu đề cập đến để kết hợp lý giải, phân tích những vấn đề mang tính bao quát hơn. Trên tinh thần kế thừa, học tập các thế hệ đi trước, chúng tôi đã tổng hợp những tài liệu phong phú có liên quan đến đề tài để làm cơ sở cho việc nghiên cứu cho luận văn của chúng tôi. 3. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI Vấn đề giảng dạy thơ Đường là một vấn đề lớn có liên quan đến nhiều cấp học. Trong chương trình trung học cơ sở ban hành kèm theo Quyết định số 03/2002/QĐ– BGD&ĐT, ngày 24 tháng 1 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, học sinh lớp 7 bước đầu được làm quen với các bài thơ của các thi sĩ nổi tiếng thời Đường như Hạ Tri Chương, Lí Bạch, Đỗ Phủ, Trương Kế. Đề tài “Giảng dạy thơ Đường ở trường phổ thông dưới góc nhìn của thi pháp học” chỉ nhằm nghiên cứu và đặt ra phương hướng giảng dạy khả thi trong khuôn khổ nhà trường phổ thông, cụ thể trong chương trình văn lớp 7 và lớp 10 cải cách hiện hành. Bên cạnh đó chúng tôi còn tham khảo thêm một số tác phẩm, tác giả thuộc thơ Đường ngoài chương trình để thuận lợi cho việc nghiên cứu, đối chiếu. Do điều kiện hạn chế, chúng tôi chỉ thực hiện khảo sát, thăm dò, điều tra tình hình việc học của học sinh và việc giảng dạy của giáo viên chủ yếu ở một số trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Xuất phát từ đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và mục đích của luận văn, chúng tôi thực hiện đề tài theo những phương pháp sau: ● Phương pháp nghiên cứu liên ngành: vận dụng thành tựu của nhiều ngành: nghiên cứu văn học, lý luận văn học, ngôn ngữ học, tâm lý học, giáo dục học, Văn hoá học… trong đó đặc biệt chú trọng vận dụng những thành tựu của những công trình nghiên cứu về thơ Đường, thi pháp thơ Đường và những thành tựu khoa học về phương pháp dạy học văn. ● Phương pháp điều tra thăm dò, thống kê, phân tích: điều tra, thăm dò, dự giờ các đối tượng là giáo viên Trung học cơ sở, Trung học phổ thông và học sinh Trung học cơ sở, Trung học phổ thông để rút ra thực trạng dạy và học thơ Đường ở trường phổ thông, những thuận lợi, khó khăn, nguyện vọng và ý kiến; thống kê, phân tích để đánh giá thực trạng việc dạy và học ở trường phổ thông hiện nay. ● Phương pháp miêu tả, so sánh, qui nạp: miêu tả thực trạng dạy, học thơ Đường ở trường phổ thông, so sánh đối chiếu các tài liệu, sách hướng dẫn dành cho giáo viên, học sinh, các tư tưởng, quan điểm, ý kiến khác nhau xung quanh việc nghiên cứu, giảng dạy thơ Đường; quy nạp thành những vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận. 5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN - “Giảng dạy thơ Đường ở trường phổ thông dưới góc nhìn của thi pháp học” của chúng tôi là một đề tài mang tính chất học tập và thử nghiệm là chủ yếu. Tuy nhiên, chúng tôi mong muốn sẽ giúp giáo viên một biện pháp để hướng dẫn học sinh học tập đồng thời nâng cao chất lượng trong việc cảm thụ và giảng dạy tác phẩm văn học, nhất là trong tình hình đất nước đang phát triển, xây dựng mối quan hệ với các nước trên thế giới theo tinh thần giao thoa và hội nhập. Mặt khác, với “Giảng dạy thơ Đường ở trường phổ thông dưới góc nhìn của thi pháp học”, giáo viên sẽ phần nào thoát khỏi những lúng túng, bế tắc khi thực hiện yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học văn trong nhà phổ thông hiện nay. - Qua việc điều tra, thống kê một cách nghiêm túc, luận văn sẽ góp phần phản ánh thực tại dạy và học thơ Đường ở trường phổ thông hiện nay. - Mạnh dạn đề xuất một số ý kiến cho việc giảng dạy và học tập văn học nước ngoài nói chung, thơ Đường nói riêng trong nhà trường phổ thông. 6. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN Ngoài các phần “Mở đầu”, “Kết luận”, “Tài liệu tham khảo” và “Phụ lục”, kết cấu luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Văn học nước ngoài trong chương trình phổ thông hiện nay. Chương 2: Thơ Đường và thi pháp thơ Đường. Chương 3: Ứng dụng thi pháp học vào giảng dạy thơ Đường ở trường phổ thông. Chương 1: VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI TRONG CHƯƠNG TRÌNH PHỔ THÔNG HIỆN NAY 1.1. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI TRONG CHƯƠNG TRÌNH VĂN HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 1.1.1. Một cái nhìn tổng thể về những tinh hoa văn học và những trường phái văn học tiêu biểu của văn học nước ngoài Văn học có lịch sử phát triển của riêng mình trong các nền văn hoá, nó đề cập đến tình cảm và tâm hồn của nhân loại, có khá nhiều bình diện chung trong các nền văn hoá khác nhau, dễ dàng tạo nên sự hiểu biết, tâm đắc và cộng hưởng giữa con người thuộc các nền văn hóa và khoa học khác nhau… Xét về một ý nghĩa nào đó, văn học không chỉ vượt ra ngoài biên giới quốc gia, mà nó còn có một sức hấp dẫn lạ kỳ, trở thành nhịp cầu và sợi dây kết nối quan trọng trong sự giao lưu giữa các quốc gia, các dân tộc có nền văn hóa khác nhau. Nhìn lại lịch sử văn học và văn hóa Việt Nam có thể thấy, chính quá trình tiếp xúc và giao lưu đã mang đến những thay đổi và biến đổi lớn lao về cấu trúc cũng như phẩm chất của nền văn học. Do tác động của yếu tố lịch sử, văn hóa dân tộc đã tiếp thu những giá trị, tinh hoa ưu việt trên tinh thần dung nạp, giao hòa. Hàng nghìn năm tiếp xúc với phương Bắc, hàng trăm năm tiếp xúc với phương Tây, văn hóa và văn học Việt Nam đã chứng tỏ khả năng thanh lọc và thích ứng; khả năng không thay đổi (tĩnh) và khả năng tự biến đổi (động) để tồn tại và phát triển. Với phẩm chất đó, văn học Việt Nam vừa bám rễ sâu vào mảnh đất dân tộc, vừa vươn rộng theo những nguồn ánh sáng và dưỡng chất mới để không ngừng nảy nở và sinh sôi. Dù rằng, hình tượng văn học không hiện hữu một cách trực tiếp như các ngành nghệ thuật khác để có thể nhìn, nắm, lấy được nhưng lại có sức hấp dẫn tuyệt vời thông qua việc tác động vào trí tưởng tượng và liên tưởng của người đọc. Ở trường phổ thông, học sinh bắt đầu làm quen với văn học nước ngoài từ khi bước vào cấp II với những câu chuyện thần thoại, cổ tích của các nước Nga, Đức, Đan Mạch... Từ những câu chuyện đó, một thế giới thần kỳ đã được tái hiện, kích thích và khơi gợi trí tưởng tượng của học sinh. Thông qua các nhân vật, bước đầu hình thành cách nhìn nhận đánh giá, bình phẩm và nhận xét giữa: ác - thiện, chính nghĩa - bất nghĩa, để từ đó hình thành nhân cách của các em. Ở những cấp học tiếp theo, các em được tiếp cận những tác phẩm văn học nổi tiếng, tiêu biểu cho các nền văn học rực rỡ của nhân loại. Ở phương Đông có thể kể đến các bậc thánh thơ: Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị; các tiểu thuyết gia cổ điển: Thi Nại Am, La Quán Trung, Tào Tuyết Cần; nhà văn, nhà tư tưởng lớn thời hiện đại Lỗ Tấn, thi sĩ của những tâm hồn: Ra-bin-đra-nát Ta-go. Ở phương Tây, không thể không nhắc đến hai bộ sử thi kinh điển của Hôme, những kịch gia nổi tiếng như Sếchxpia, Mô-li-e, nhà văn, nhà thơ lãng mạn V.Hugo, A.Pu-Skin... và bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực Banzắc, văn hào vĩ đại của Nga Mác-xim Go-rơ-ki… Mỗi một tác giả đều là những người đại diện xuất sắc cho nền văn học của quốc gia mình và tạo được một chỗ đứng trong lòng hầu hết độc giả trên thế giới. Văn học là xương sống của nền văn hóa dân tộc. Nếu làm đúng theo chức năng xã hội của nó, thì văn học là tấm gương phản chiếu trung thực và đầy đủ cuộc sống về mọi khía cạnh, vật chất và tinh thần, những ý nghĩ, tình cảm và ước mơ, là hơi thở và nhịp đập của trái tim, ít nhất là của một thế hệ. Văn học trước hết nói lên sức sống của cộng đồng dân tộc sản sinh ra nó. Chính nó, cùng với các ngành nghệ thuật mà nó là hạt giống, là bằng chứng hùng hồn của sức sống ấy. Vì vậy, trách nhiệm của nó đối với xã hội là vun xới, bồi đắp, tỏa hương vị và thanh sắc của sức sống ấy, đồng thời dọn dẹp, quét tước những bụi bặm, rác rớm trên cơ sở của xã hội và ở từng cá nhân. Dĩ nhiên, không phải một tác phẩm văn học, một thể loại sáng tác văn học hay nền văn học của một dân tộc có thể đảm đương hết những nhiệm vụ kể trên, hoặc giải đáp hết được những câu hỏi do cuộc sống đặt ra. Mặc dù bị giới hạn bởi không gian, thời gian, nội dung, thể loại…, song văn học giữa các dân tộc đều có nét chung là hướng tới những giá trị nghìn đời của cái đẹp, đó là: chân, thiện, mỹ; giúp cho con người sống tốt hơn, nhân ái, bao dung và độ lượng hơn, sống đúng nghĩa với chữ Người. Và đó cũng chính là cái đích, mục tiêu mà văn học nhà trường hướng tới. Có thể nói những tinh hoa văn học thế giới là di sản tinh thần quý giá chung của cả nhân loại và là bộ phận không thể thiếu trong hành trang văn hóa của học sinh trong nhà trường phổ thông. Với sự đa dạng về chiều rộng, sâu sắc về chiều sâu, văn học nước ngoài đã cung cấp tri thức cho học sinh trên nhiều phương diện mà nếu chỉ riêng văn học Việt Nam thì có lẽ sẽ còn nhiều khiếm khuyết, không toàn diện. 1.1.2. Đối sánh Văn học nước ngoài với Văn học Việt Nam Như đã trình bày, sự đa dạng của văn học dân tộc các nước, cùng với sự phong phú về thể loại, nội dung chương trình Văn học nước ngoài trong trường phổ thông đã mở ra một cái nhìn theo hướng mở, giúp học sinh nhận ra và phát hiện những tinh hoa cũng như những thành tựu của văn học thế giới từ đó có sự đối sánh với văn học nước nhà. Văn học nước ngoài trong chương trình phổ thông đại diện cho văn học của các dân tộc trên khắp châu lục trên thế giới. Tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa, văn học của nhân loại là một trong những cách thức tự làm phong phú thêm nền văn học của dân tộc mình. Mỗi một nền văn hóa đều mang trong mình những sắc thái văn hóa đặc thù về con người, đất nước, phong tục, tập quán lối sống. Với ý nghĩa đó, tìm hiểu Văn học nước ngoài để học sinh Việt Nam khám phá những giá trị, những tinh hoa, vẻ đẹp của văn học trên thế giới mà văn học trong nước có thể chưa đáp ứng một cách đầy đủ được, và từ đó tìm ra những điểm chung, riêng giữa văn học các nước, đặc biệt là những nước có ảnh hưởng cùng một vùng văn hóa như Trung Quốc. Chẳng hạn khi học “AQ chính truyện” của Lỗ Tấn, các em có thể liên hệ so sánh với truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao… Mục đích của việc học văn là để học sinh cảm thụ được cái hay, cái đẹp mà nhà văn muốn gửi gắm vào tác phẩm của mình, trên cơ sở đó mà tích hợp giá trị của nhân cách. Sự tích hợp này vừa mang sắc thái cá nhân vừa mang sắc thái cộng đồng. Dù được sáng tác theo thể loại nào, một công trình sáng tác văn học có giá trị nếu nó phát ra được một bức tranh làm rung động tâm hồn, truyền cho người tiếp nhận sự thông cảm đối với cái đáng kính, đáng yêu, đáng khích lệ, cũng như một lòng phẫn nộ, căm ghét đối với những điều bất công, tàn bạo, phi đạo lý. Văn chương bồi đắp cho học sinh những tình cảm cao đẹp. Hoài Thanh đã nói: “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có” [48, tr. 60]. Ví dụ, khi học sinh học truyện ngắn “Cố hương” của Lỗ Tấn sẽ giáo dục các em một tình cảm yêu mến, gắn bó với nông thôn, có cách nhìn và yêu mến người nông dân thực sự. Đó là một bài học tốt, giúp các em rung cảm trước sự vật, sự việc và con người để từ đó có tình cảm và tâm hồn văn chương. Thật không sai khi cho rằng văn chương có tác dụng thanh lọc tâm hồn con người, nâng đỡ con người là thế. Như vậy, mục đích cuối cùng của văn học vẫn là vì con người, hướng về con người, con người là vấn đề trung tâm của văn học. Là một bộ phận của văn học thế giới, Văn học Việt Nam không thể đi khỏi chủ đạo chung ấy, cho nên giữa những nền văn học khác nhau, học sinh vẫn tìm ra tiếng nói chung giữa các dân tộc. Cùng với văn học Việt Nam, Văn học nước ngoài trong trường phổ thông với sự đa dạng của nhiều nền văn học từ Đông sang Tây, từ cổ chí kim đã tạo nên những điển hình đặc sắc với những giá trị riêng. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà nhắc đến Nguyễn Du là người ta nghĩ ngay đến xã hội phong kiến Việt Nam trong thời kỳ suy thoái, mà ở đó số phận của con người - đặc biệt là số phận của những người tài hoa bị chà đạp, nhắc đến An-đécxen là người ta nghĩ đến đất nước Đan Mạch với những câu chuyện cổ tích chan chứa tính nhân văn, qua thơ A.Pu-Skin, truyện ngắn Mác-xim Go-rơ-ki ta hiểu thêm về đất nước và con người Nga, hay đến với thơ Đường ta hiểu thêm nét đẹp văn hóa trong tư duy của người Trung Quốc cổ. Có thể nói đi vào tìm hiểu thế giới nghệ thuật của các nhà văn, nhà thơ có trong chương trình Văn học nước ngoài cũng chính là mở rộng tầm hiểu biết thêm một nét văn hóa của một dân tộc. Văn học là chiếc cầu nối, giúp con người hiểu và thông cảm nhau hơn trong tình thân ái. Chương trình văn học nước ngoài trong nhà trường phổ thông chính là tiền đề để đưa văn học dân tộc, đưa học sinh hội nhập với văn học thế giới. Từ đó vốn văn hoá, văn học của học sinh chắc chắn sẽ được phong phú hơn. 1.2. NỘI DUNG, CẤU TRÚC, THỜI LƯỢNG VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI TRONG SÁCH GIÁO KHOA Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 1.2.1. Cấp trung học cơ sở  Lớp 6 (theo SGK cải cách áp dụng từ năm 2002 – 2003) Bảng 1.1: Nội dung, thời lượng Văn học nước ngoài ở lớp 6 TT Tác phẩm Tác giả Quốc gia Số tiết 1 Cây bút thần Truyện cổ tích - Trung Quốc 2 2 Ông lão đánh cá và con cá vàng A.Pu-Skin Nga 2 3 Mẹ hiền dạy con Liệt nữ truyện - Trung Quốc 1 4 Buổi học cuối cùng An-Phông-xơ Đô-đê Pháp 2 5 Bức thư của thủ lĩnh da đỏ Xi-át-tơn Mỹ 2  Lớp 7 (theo SGK cải cách áp dụng từ năm 2003 – 2004) Bảng 1.2: Nội dung, thời lượng Văn học nước ngoài ở lớp 7 TT Tác phẩm Tác giả Quốc gia Số tiết 1 Mẹ tôi Ét-môn-đô đơ-A-mi- xi I-ta-li-a 1 2 Vọng Lư Sơn bộc bố Lí Bạch Trung Quốc 1 3 Tĩnh dạ tư Lí Bạch Trung Quốc 1 4 Hồi hương ngẫu thư Hạ Tri Chương Trung Quốc 1 5 Phong Kiều dạ bạc Trương Kế Trung Quốc Đọc thêm 6 Mao ốc vị thu phong sở phá ca Đỗ Phủ Trung Quốc 1  Lớp 8 (theo SGK cải cách áp dụng từ năm 2004 – 2005) Bảng 1.3: Nội dung, thời lượng Văn học nước ngoài ở lớp 8 TT Tác phẩm Tác giả Quốc gia Số tiết 1 Cô bé bán diêm An-đécxen Đan Mạch 2 2 Đánh nhau với cối xay gió Xéc-van-tét Tây Ban Nha 2 3 Chiếc lá cuối cùng Ohenri Mỹ 2 4 Hai cây phong Ai-ma-tốp Nga 2 5 Đi bộ ngao du Ru-xô Pháp 2 6 Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục Mô-li-e Pháp 2  Lớp 9 (theo SGK cải cách áp dụng từ năm 2005 – 2006) Bảng 1.4: Nội dung, thời lượng Văn học nước ngoài ở lớp 9 TT Tác phẩm Tác giả Quốc gia Số tiết 1 Đấu tranh cho một thế giới hòa bình Ga-bri-en Gác xi-a Mác-két Cô-lôm-bi-a 2 2 Cố hương Lỗ Tấn Trung Quốc 2 3 Những đứa trẻ Mác-xim Go-rơ-ki Nga 2 4 Bàn về đọc sách Chu Quang Tiềm Trung Quốc 2 5 Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten Hi-pô-lít ten Pháp 2 6 Mây và sóng Ra-bin-đra-nát Ta- go Ấn Độ 1 4 Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang Đe-ni-ơn Đi-phô Anh 1 5 Bố của Xi-mông Guy đơ Mô-pa-xăng Pháp 2 6 Con chó Bấc Giắc Lân-đơn Mỹ 1 - Tổng số tiết Văn học nước ngoài ở bậc trung học cơ sở : 41 tiết. - Tổng số tiết Văn học Việt Nam ở bậc trung học cơ sở : 138 tiết. 1.2.2. Cấp trung học phổ thông  Lớp 10 (theo SGK cải cách áp dụng từ năm 2006 –2007) Bảng 1.5: Nội dung, thời lượng Văn học nước ngoài ở lớp 10 TT Tác phẩm Tác giả Quốc gia Số tiết 1 Uy-lít-xơ trở về Sử thi - Hi Lạp 2 2 Ra-mà buộc tội Sử thi - Ấn Độ 2 3 Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng Lí Bạch Trung Quốc 1 4 Thu Hứng Đỗ Phủ Trung Quốc 1 5 Hoàng Hạc Lâu Thôi Hiệu Trung Quốc 1 6 Khuê oán Vương Xương Linh Trung Quốc 1 4 Điểu minh giản Vương Duy Trung Quốc 1 5 Thơ hai-cư Ba-sô Nhật 1 6 Hồi trống Cổ thành La Quán Trung Trung Quốc 2 7 Tào Tháo uống rượu luận anh hùng La Quán Trung Trung Quốc 1  Lớp 11 (theo SGK cải cách áp dụng từ năm 2007 – 2008) Bảng 1.6: Nội dung, thời lượng Văn học nước ngoài ở lớp 11 TT Tác phẩm Tác giả Quốc gia Số tiết 1 Tình yêu và thù hận Uy-li-am Sếch-xpia Anh 2 2 Tôi yêu em A.Pu-Skin Nga 2 3 Bài thơ số 28 (Trích Người làm vườn) Ra-bin-đra-nát Ta- go Ấn Độ Đọc thêm 4 Người trong bao An-tôn Páp-lô-vích Sê-khốp Nga 2 5 Người cầm quyền khôi phục uy quyền (Trích Những người khốn khổ) Vích-to Huy- gô Pháp 2  Lớp 12 (theo SGK thí điểm áp dụng năm 2007) Bảng 1.7: Nội dung, thời lượng Văn học nước ngoài ở lớp 12 TT Tác phẩm Tác giả Quốc gia Số tiết Số phận con người Sôlôkhốp 1 Một con người ra đời (đọc thêm) M.Gorky Nga 2 Thuốc Đại đoàn viên - trích AQ chính truyện (đọc thêm) Lỗ Tấn Trung Quốc 2 Mãi mê chinh chiến và yêu đương – trích Những cuộc phiêu lưu của Tom-xo-y-ơ (đọc thêm) Mac Tu-ên Mỹ 2 Con người không thể đánh bại – trích Ông già và biển cả Hê-minh-uê Mỹ 3 Tự do Ê-luy-a Pháp 2 - Tổng số tiết Văn học nước ngoài ở bậc trung học phổ thông: 27 tiết. - Tổng số tiết Văn học Việt Nam ở bậc trung học phổ thông : 131 tiết. 1.2.3. Nhận xét cấu trúc, thời lượng của Văn học nước ngoài và thơ Đường trong sách giáo khoa văn ở trường phổ thông ● Về Văn học nước ngoài Bên cạnh văn học Việt Nam, trong chương trình phổ thông, mảng văn học nước ngoài đã đã bao quát hầu hết nền văn học của các nước trên thế giới: châu Á (Nhật, Ấn Độ, Trung Quốc), châu Âu (Anh, Pháp, Đức, Nga, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Đan Mạch, I-ta-li-a), châu Mỹ (Mỹ, Braxin, Côlômbia), với những tác phẩm của các tác gia lỗi lạc, tiêu biểu cho các giai đoạn, thời kỳ lịch sử. Đây là thuận lợi cho học sinh có một cái nhìn khái quát về văn học cũng như hiểu biết thêm những tinh hoa văn học của các quốc gia khác. Theo chương trình cải cách hiện hành, mục đích của giáo dục theo hướng đồng tâm được thực hiện ở cả hai cấp (Trung học cơ sở và Trung học phổ thông) liên thông: từ căn bản đến nâng cao, từ những vấn đề đơn giản đến những vấn đề lớn lao của thời đại, điều này đòi hỏi chiều sâu của tư duy và phát huy được năng lực suy luận của học sinh. Các thể loại: văn học dân gian (truyền thuyết, cổ tích, sử thi), thơ, kịch, truyện ngắn, tiểu thuyết… rất đa dạng, phong phú, giúp học sinh có cơ sở đối sánh với các tác phẩm văn học Việt Nam cùng chung đặc điểm về thể loại. Nội dung những tác phẩm văn học nước ngoài được sắp xếp một cách khoa học theo tiến trình văn học sử, song song với văn học Việt Nam. Chẳng hạn, ngay từ lớp 6, học sinh không chỉ được đến với những câu chuyện thần thoại, cổ tích, ngụ ngôn của Việt Nam mà còn được tiếp nhận những câu chuyện thần thoại, cổ tích, ngụ ngôn của các nước khác trên thế giới. Với việc sắp xếp chương trình như vậy, học sinh vừa có cơ hội mở rộng tầm hiểu biết, vừa củng cố kiến thức và có điều kiện đối chiếu với văn học trong nước. Với tinh thần kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn học thế giới, mảng Văn học nước ngoài được giảng dạy ở trường phổ thông chiếm một vị trí quan trọng và phù hợp với chương trình: Văn học Việt Nam 269 tiết (chiếm 79,8%), Văn học nước ngoài 68 tiết (chiếm 20,2%). Văn học các nước trên thế giới được đưa giảng dạy trong chương trình là những tác phẩm tiêu biểu của các tác giả nổi tiếng cho từng giai đoạn sáng tác. Thể loại rất phong phú và đa dạng. Cũng như văn học Việt Nam, đối với những tác phẩm văn xuôi có dung lượng dài, học sinh sẽ được học những đoạn trích tiêu biểu, riêng những tác phẩm ngắn, đặc biệt là thơ, học sinh được học trọn vẹn tác phẩm. Phần chú thích về tác giả, tác phẩm, từ khó khá cụ thể và dễ hiểu. Các câu hỏi ở phần “hướng dẫn đọc – hiểu văn bản” rõ ràng, hướng vào nội dung chính của văn bản, giúp học sinh tiếp cận văn bản đúng hướng. Tuy nhiên, ở một số câu hỏi khó (câu hỏi có dấu *) đôi lúc còn mơ hồ, không những rất khó đối với học sinh mà ngay cả giáo viên cũng gặp trở ngại, khó tìm ra được đáp án phù hợp, thậm chí sách giáo viên cũng bỏ ngỏ, kh._.ông có hướng giải quyết. Phân bố thời gian cho từng bài tương đối phù hợp. Riêng đối với những tác phẩm khó (thơ Đường), dài (tiểu thuyết) thì thời gian còn ít mà yêu cầu nội dung phải truyền đạt lại nhiều. Nếu giáo viên giảng kỹ sẽ không đủ thời gian, còn nếu giảng lướt qua thì thật là tiếc vì truyền đạt kiến thức không sâu, không đủ thời gian hướng dẫn học sinh khám phá hết vẻ đẹp ở các phương diện của tác phẩm. Điều này khiến cho nhiều giáo viên lúng túng, có khi phải tự điều chỉnh thời gian của những tiết học này với tiết học khác, hoặc phải tự dạy bù vào những giờ ngoại khóa. ● Về thơ Đường Mối quan hệ giao lưu văn hóa giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc có nguồn gốc từ xa xưa, trong đó giao lưu văn học luôn luôn xuyên suốt và chưa từng bị gián đoạn. Có thể nói, nhân dân hai nước Việt – Trung đang không ngừng tăng cường sự hiểu biết, gắn kết tâm hồn và tình cảm lẫn nhau qua nhịp cầu kết nối là sự giao lưu văn hóa, văn học. Việt Nam là một trong những nước mà ở đó, các tác phẩm văn học cổ điển nổi tiếng của Trung Quốc như "Tam quốc diễn nghĩa", "Hồng lâu mộng", "Thủy hử" được dịch, giới thiệu sớm nhất cũng như được quảng bá rộng rãi nhất. Đơn cử, công chúng Việt Nam đều có thể thuộc lòng các mối quan hệ giữa nhiều nhân vật, nhiều tình tiết lắt léo phức tạp trong "Tam quốc diễn nghĩa", "Thủy hử"… Tác phẩm văn học cận, hiện đại Trung Quốc ở các thời kì khác cũng luôn luôn được dịch và giới thiệu ở Việt Nam, trong đó truyện ngắn của Lỗ Tấn còn được chọn và đưa vào sách giáo khoa văn học của học sinh phổ thông Việt Nam. Trong lĩnh vực nghiên cứu văn học, ở Việt Nam có nhiều chuyên gia, học giả nghiên cứu về văn học Trung Quốc. Từ thế hệ đàn anh như Đặng Thai Mai cho đến thế hệ các chuyên gia, giáo sư hiện vẫn còn đang hoạt động sôi nổi trong lĩnh vực này như Trần Xuân Đề, Lê Huy Tiêu, Lương Duy Thứ, Lê Đức Niệm, Nguyễn Khắc Phi… Họ đã làm rất nhiều những công việc gian khổ và tinh tế về mặt dịch thuật, giới thiệu và nghiên cứu văn học Trung Quốc, nhằm đóng góp cho quá trình tìm hiểu và giao lưu giữa hai nền văn hóa, văn học của hai nước Việt – Trung. Ở Trung Quốc, cũng có một số tác phẩm văn học các thời kỳ cổ, kim khác nhau của Việt Nam được dịch và giới thiệu như “Truyện Kiều” của Nguyễn Du cùng các tác phẩm thơ ca, truyện dài, truyện ngắn, phóng sự… Những báo cáo khoa học hoặc chuyên luận nghiên cứu về văn học Việt Nam cũng đã được công bố rộng rãi cho đọc giả Trung Quốc. Về thơ Đường, sách giáo khoa Ngữ văn ở trường phổ thông, thơ Đường được đưa vào giảng dạy ở lớp 7 và lớp 10, gồm thơ của 7 tác giả, trong đó thơ của Lí Bạch và Đỗ Phủ là trọng tâm. Bảng 3.8: Tổng hợp số tiết thơ Đường trong chương trình trung học cơ sở và trung học phổ thông Nội dung Trường trung học cơ sở Trường trung học phổ thông Tổng số tiết Văn học Việt Nam (tiết) 138 131 Văn học nước ngoài (tiết) 41 27 Trong đó thơ Đường (tiết) 4 3 Văn học nước ngoài/ tổng số tiết văn bản (%) 41/179 (22,9%) 27/158 (17,1%) Thơ Đường/ tổng số tiết Văn học Việt Nam (%) 4/138 (2,8%) 3/131 (2,2%) Thơ Đường/ Văn học nước ngoài (%) 4/41 (9,8%) 3/27 (11,1%) Tổng số tiết thơ Đường/ Văn học nước ngoài ở trường phổ thông (%) 7/68 (10,3%) Như vậy, trong phần Văn học nước ngoài ở trường phổ thông thì thơ Đường được dành nhiều thời gian hơn (7/68 tiết, chiếm 10,3%). Điều này cũng phù hợp, vì thơ Đường là thành tựu đặc sắc của thơ ca nhân loại mà nó còn ảnh hưởng sâu sắc đối với văn học Việt Nam. Cha ông ta trong quá trình xây dựng nền văn học viết đã tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Trung Quốc quả là không nhỏ, đặc biệt là thơ Đường luật. Thơ Việt Nam thời trung – cận đại có khoảng 3/4 số bài được sáng tác theo thể thơ Đường luật, gồm cả thơ chữ Hán và chữ Nôm. Không những thế, âm hưởng thơ Đường vẫn còn rõ ở trong thơ hiện đại Việt Nam. Cụ thể, trong phần thơ Việt Nam được học ở trường phổ thông, các bài thơ sáng tác theo thể thơ Đường luật chiếm một số lượng rất lớn. Trong số 7 tác giả được tuyển vào sách giáo khoa, chỉ có Hạ Tri Chương ở thời Sơ Đường, còn 6 tác giả ở thời Thịnh Đường. Trong số 10 bài được tuyển, chỉ có 1 bài thuộc thơ cổ thể, còn 9 bài là thơ cận thể (luật thi và tuyệt cú). Một điều đáng chú ý nữa là trong số ấy có 6 bài là thơ tuyệt cú (4 câu) chiếm 2/3 thơ 8 câu (3 bài). Điều đó cũng phù hợp với nhu cầu thưởng thức văn chương nghệ thuật trong cuộc sống hiện đại hôm nay. Các bài thơ ngắn như Tuyệt cú, Bát cú là sự kết tinh độc đáo của nghệ thuật thơ ca, dễ mang đến những rung cảm tinh tế, những khoảnh khắc thăng hoa của tâm hồn. ● Nhận xét chung Nhìn chung, cấu trúc, thời lượng, nội dung chương trình Văn học nước ngoài đưa vào dạy và học trong chương trình phổ thông khá phong phú, có sự đổi mới, điều chỉnh phù hợp với từng cấp học tương ứng với trình độ cảm thụ văn chương theo lứa tuổi học sinh. Trong những giờ học văn thông qua các tác phẩm nghệ thuật, học sinh đã bắt đầu nhận thức cuộc sống sâu sắc hơn, bên cạnh đó hình thành, phát triển năng khiếu tư duy thẩm mỹ và nhân cách. Để đạt được như vậy, đó là nhờ kết quả của quá trình nghiên cứu nghiêm túc của các soạn giả để thiết kế một chương trình học hữu ích, lý thú phù hợp với học sinh và bối cảnh của xã hội. Nghệ thuật là tiếng nói tình cảm của con người, tiếng nói đó được biểu hiện bằng nhiều hình thức khác nhau trong tác phẩm. Theo Giáo sư Lê Ngọc Trà: “Tư tưởng tình cảm nhà văn được thể hiện trong hình tượng nghệ thuật: trong các chi tiết nghệ thuật, trong đó cốt truyện, trong cách xử lý không gian, thời gian và nhất là cách xây dựng nhân vật…” [67, tr. 16-17]. Như vậy, nội dung và hình thức của tác phẩm văn học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Cho nên, vận dụng thi pháp học vào giảng dạy thơ Đường một mặt vừa soi sáng thêm bản chất và phạm trù nội dung của văn học, vừa mở ra thêm một cách tiếp cận với tác phẩm, liên quan trực tiếp tới việc cảm thụ, nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm văn học. ____________________ Chương 2: THƠ ĐƯỜNG VÀ THI PHÁP THƠ ĐƯỜNG 2.1. VỀ NÉT VỀ THƠ ĐƯỜNG 2.1.1. Thời đại hoàng kim của thơ ca Thơ Đường (608-907) đạt nhiều thành tựu nhất, là đỉnh cao sáng chói của mấy nghìn năm lịch sử Văn học Trung Quốc. Mỗi bài thơ Đường là một bức tranh sống động với các màu sắc hài hòa, có âm vang kỳ diệu và sức truyền cảm tuyệt vời, gợi mở, quyến rũ và đi thẳng vào lòng người đọc, để lại những suy tư trầm lắng và rung động không nguôi. Đường thi là sự kết tụ mỹ thuật, tinh hoa văn học nghệ thuật, xứng đáng là viên ngọc quí vô giá lung linh sáng chói, chẳng bao giờ phai nhạt theo thời gian… Gần 300 năm tồn tại của nhà Đường, người Trung Quốc đã sáng tạo nên một nền thơ ca vĩ đại. Bộ “Toàn Đường thi” đã tập hợp 48.900 bài thơ của hơn 2.300 nhà thơ. Con số thực của thơ Đường chắc còn lớn hơn, vì bộ “Toàn Đường thi” được sưu tập sau 1.000 năm với rất nhiều thăng trầm biến cố lịch sử. Nhưng đó là mới nói đến số lượng, cái quan trọng hơn lại là chất lượng nội dung, nghệ thuật của thơ Đường. Dựa vào sự biến chuyển của các triều đại nhà Đường, thơ Đường có thể chia ra làm 3 thời kỳ sau: - Thời Sơ Đường (618-713): mang phong cách của thời Lục Triều, thi vị cung đình, lời lẽ hoa mỹ ca ngợi vua chúa (thời Võ Tắc Thiên cầm quyền, mua chuộc kẻ sĩ, văn nhân tài tử để làm thơ tán tụng nhà vua) hoặc thi ca tình cảm ủy mị, phần nhiều chú trọng hình thức hơn nội dung, thơ theo đúng những qui luật về thanh điệu và biền ngẫu. Trong giai đoạn này có sự xuất hiện “Sơ Đường tứ kiệt”, tức là bốn nhà thơ trẻ Vương, Dương, Lư, Lạc. Vì ảnh hưởng của chinh chiến, ly loạn, nên thơ văn của họ gần thực tế hơn, phản ảnh được đời sống đau thương, thực trạng xã hội đương thời, những hình ảnh oai hùng ở chốn biên cương hay bày tỏ thái độ uẩn ức đối với chế độ phong kiến đương thời. Thời Sơ Đường còn có những nhà thơ nổi tiếng như Trần Tử Ngang đề cao khuynh hướng “phục cổ”, Trương Cửu Linh với những bài thơ tình cảm nhẹ nhàng, Hạ Tri Chương, Trương Nhược Hư với những bài thơ diễn tả tình cảm tha thiết hoặc tả cảnh thiên nhiên với bút pháp tài hoa điêu luyện. Họ đã kết hợp được trường phái hiện thực với lãng mạn - Thời Thịnh Đường (713-846): Lí Long Cơ (tức Đường Minh Hoàng) lên ngôi đề ra sự “phục bích” (dựng lại bức tường cũ), nhắc lại sự việc lật đổ Võ Tắc Thiên (705), diệt Vi Hậu (713) khôi phục nhà Đường. Đường Minh Hoàng là nhà vua có nhiều tài năng, là một nghệ sĩ (tự nhuận sắc khúc Nghê Thường), say mê ca múa thi văn, quí trọng văn nhân thi sĩ. Đây là thời kỳ thơ Đường đạt lên đỉnh cao chói lọi mà đại diện là ba nhà thơ: Lí Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị . Ngoài ra còn có Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Vương Xương Linh, Cao Thích, Sầm Tham, Vương Hàn, Thôi Hiệu, Vương Kiến, Trương Tịch, Hàn Dũ, Mạnh Giao, Giả Đảo, Trương Kế... Mỗi nhà thơ có một phong cách tài hoa điêu luyện khác nhau, mỗi người một vẻ không sao kể xiết trong thời kỳ thịnh đạt này. - Thời Vãn Đường (846-907): Thời kỳ này nhà Đường đã xuống dốc, xã hội suy thoái, hỗn loạn, nhiều cuộc nổi dậy khắp nơi vì quan lại tham nhũng, sưu cao thuế nặng. Nền văn học Trung Quốc cũng bị chuyển biến, thơ văn đề cao tình yêu trai gái thoát vòng lễ giáo, tuy nhiên cũng có những bài thơ vịnh sử phê phán gay gắt giai cấp quan liêu thống trị, sự tệ hại của vua quan, nỗi đau khổ của dân nghèo cô thế. Giai đoạn này có những nhà thơ nổi tiếng như Đỗ Mục, Ôn Đình Quân, Lí Thường Ẩn… Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự hưng thịnh của thơ Đường. Là một đất nước có nền văn hóa lâu đời, trong lịch sử xã hội phong kiến Trung quốc, đời Đường là một quốc gia phát triển, phồn vinh trên tất cả các phương diện: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa nghệ thuật. Đây là một thời kỳ mà nền văn hóa, học thuật và nghệ thuật đã có một bề dày lịch sử với sự kết tinh của bao thế hệ thơ ca trong suốt mấy nghìn năm của quá trình hình thành lịch sử dân tộc. Thời Tiên Tần đã từng có một nền triết học, tư tưởng phát triển với nhiều học thuyết sâu sắc và độc đáo. Từ đời Hán về sau, do chủ trương “độc tôn Nho thuật, bãi truất bách gia” nên hơn 2.000 năm suốt thời kỳ phong kiến chuyên chế của Trung Quốc chỉ có Nho gia được đề cao, về cơ bản, không có tự do tư tưởng. Đến đời Đường có một hiện tượng đặc biệt: Nhà nước phong kiến Lí Đường không độc tôn Nho giáo mà cho phép tất cả các trào lưu tư tưởng được tự do truyền bá. Tất cả các tôn giáo ngoại lai, kể cả tư tưởng triết học của Trung Quốc đều được phát triển. Trong đó sự hưng thịnh của ba dòng tư tưởng Nho, Phật, Đạo là đặc trưng nổi bật trong diện mạo tư tưởng của đời Đường. Kế thừa chế độ khoa cử đời Tùy, nhà Đường cũng tổ chức các khoa thi để chọn người vào hàng ngũ cai trị; mà thơ là một bộ môn phải thi nên sĩ tử thời bấy giờ tích cực trau dồi tri thức và nghệ thuật làm thơ. Các nhà thơ hầu hết đều đỗ tiến sĩ và làm quan, vua thời Đường cũng làm thơ và rất trọng thi sĩ, tạo nên một phong khí trọng thơ trong toàn xã hội. Hoàng đế, quan lại, ni cô, đạo sĩ, hòa thượng, chú tiểu cho đến ngư, tiều, kĩ nữ… cũng làm thơ. Đó là điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển của thơ ca. Mặt khác, các bộ môn nghệ thuật như vũ đạo, âm nhạc, kiến trúc, điêu khắc, thư pháp đặc biệt là hội họa đều phát triển. Thơ ca chịu ảnh hưởng của các bộ môn nghệ thuật ấy. Cũng như thơ, hội họa đời Đường tư duy bằng quan hệ, chú trọng sự biểu hiện bằng quan hệ hơn là miêu tả tỉ mỉ hiện thực. Người Trung Quốc rất yêu thích hội họa vì họ vốn chuộng sự ít lời mà hội họa được coi là “vô thanh thi” (thơ không lời). Những quan niệm nghệ thuật chung của hội họa và thơ đều có liên hệ sâu xa với những quan niệm “vô ngôn chi giáo”, “đối diện đàm tâm” của đạo gia, với “niêm hoa vi tiếu”, “tĩnh lự”… của Thiền Tông (Thiền Tông là một tông phái của Phật giáo Trung Quốc). Đặc biệt, thơ Đường là sự kế thừa và phát triển đến đỉnh cao của hơn mười thế kỷ thơ Trung Quốc. Khởi nguyên từ “Kinh thi” và “Sở từ”, thơ Trung Quốc đến đời Đường đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm nghệ thuật quý báu. Những hình thức thi, từ, ca hành, nhạc phủ, cổ phong có từ các giai đoạn trước đều được kế thừa, riêng luật thi đã manh nha từ thời Lục triều đến bây giờ đã được hoàn thiện Tinh thần hiện thực, tinh thần chống chiến tranh có từ Kinh thi, Nhạc phủ đời Hán và thơ Kiến An, dân ca Bắc triều; tinh thần lãng mạn, thái độ an bần lạc đạo, trở về với thiên nhiên có từ “Sở từ”, thơ Khuất Nguyên, Đào Tiềm, Tạ Linh Vận và dân ca Nam triều… là tiền đề cho sự hình thành các phái thơ và phong cách thơ Đường. Người Trung Quốc bấy giờ đã tự giác về ngôn ngữ đơn tiết đa thanh của mình và có ý thức về đặc điểm ấy trong việc làm thơ. Tất cả những ngọn nguồn ấy đều hội tụ ở thơ Đường, cho nên sự hưng thịnh của thơ Đường là kết tinh của một quá trình chịu sự qui định và ảnh hưởng nhiều mặt của thời đại, của phương pháp tư duy, của các triết thuyết và kế thừa truyền thống của bản thân nghệ thuật thơ ca. Thơ ca nhà Đường vươn lên đỉnh cao mới phong phú đa dạng hơn nhưng vẫn không thoát ly khỏi bản sắc cố hữu của thi ca Trung Quốc cổ, như một cái cây mà rễ bám sâu vào đất, hút mọi tinh hoa của đất để sản sinh hoa trái tuyệt vời. Tuy thơ Đường mang hình thức mới nhưng nó vẫn giữ được cái chất, cái hồn của thơ ca Trung Quốc trong mấy nghìn năm, nó làm cho thơ Đường đẹp hơn, tuyệt vời hơn cả sắc lẫn hương. 2.1.2. Sự phong phú đa dạng của thơ ca ● Đề tài Như trên đã nhận xét: Thơ Đường quả là bức tranh toàn cảnh về thời đại. Đọc thơ Đường ta thấy có những cảnh thiên nhiên đẹp đến nao lòng người, có thác nước, có non cao, có âm thanh chùa vắng, có những hàng liễu buồn man mác trong cảnh chia tay. Thơ Đường có những cảnh đời trái ngược: kẻ giàu sang coi miếng ăn tầm thường “rượu, thịt ôi”, kẻ nghèo hèn đói rét “xương chết buốt”. Có tiếng ca bi phẫn bên bàn rượu và cũng có hồn thơ khóc than cho cảnh loạn ly máu đổ xương rơi. Thơ Đường có cảnh tiễn biệt của tình bạn thâm giao, tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình – khi có người ra trận – cảnh tiễn đưa trên bến sông hay thương nhớ đợi chờ bên khung cửa. Thơ Đường có hành động anh hùng hiệp khách lại có nước mắt chàng Tư Mã vì tiếng đàn kĩ nữ mà khóc than số phận, thơ Đường có thế giới kỳ lạ của thần tiên thì cũng có những tủi nhục của người bán thân, nhặt thóc rơi, phu kéo xe trong trời nắng. Thơ Đường có cái đẹp bi hùng lại có cái đẹp tao nhã, chất liệu cuộc sống được thể hiện trong thơ ca rất phong phú nhưng không thừa thãi. Đôi khi lại là nét chấm phá như bức tranh thủy mặc mà vẫn mang một hồn thơ lai láng. Tuy thơ Đường vẫn bị gò bó trong khuôn khổ nhưng ý tình lại toát lên mạnh mẽ từ phong cảnh diễm lệ hùng tráng cho đến những cảnh bi thương sầu hận đều làm rung động lòng người. Trong “Diện mạo thơ Đường”, tác giả Lê Đức Niệm có nhận xét: “Những bài thơ Đường sử dụng đề tài hết sức rộng rãi, đề tài xã hội, thiên nhiên, lịch sử, cá nhân, đề tài chiến tranh, đề tài cuộc sống con người xã hội. Ngòi bút thi nhân đã len sâu vào tất cả mọi nơi, xung phá vào chốn cung đình nắm vững như đi vào giữa quần chúng nhân dân”. “Khen rằng: Giá đáng Thịnh Đường, Tài này sắc ấy nghìn vàng chưa cân!” (Nguyễn Du). Đúng thế, khi nói đến thơ Đường là người ta không quên nhắc đến thời Thịnh Đường, thời đại hoàng kim của thơ Đường, thời kỳ có nhiều trường phái với nhiều tác giả, tác phẩm thơ ca nổi tiếng còn lưu lại đến ngày nay và mãi mãi mai sau. Đề tài trong thơ Đường có những nội dung đa dạng và phong phú, với nhiều hình thức diễn đạt phóng khoáng từ những đề tài về an nhàn ẩn dật, vui thú điền viên, tả cảnh thiên nhiên, đến những bài thơ nói về cung đình, biên tái, chiến chinh, những đề tài liên quan đến xã hội, cảnh nghèo đói áp bức, nỗi bất công của phụ nữ, những bài thơ tâm tình, từ tình bè bạn thiên nhiên, đến tình yêu nam nữ, rồi những đề tài vịnh sử, hoặc những bài thơ mang hương vị Thiền… Dựa trên phạm vi đề tài được nhà thơ phản ánh, trong “Đường thi tuyển dịch”, tác giả Lê Nguyễn Lưu đã chia thơ Đường ra làm các nhóm là: Cung đình, Nhàn dật, Điền viên sơn thủy, Biên tái, Xã hội, Tâm tình, Vịnh sử [33, tr. 42-48]. Chia ra như vậy nhưng không nhất thiết là mỗi nhà thơ chỉ có mặt trong một thi phái. Nhiều tác giả đã thành công trong nhiều đề tài khác nhau. Lí Bạch, Đỗ Phủ là một ví dụ: hầu như ở trường phái nào, hai tác giả này cũng có mặt và thành công. ● Trường phái Để phản ánh hiện thực xã hội phong phú muôn màu muôn vẻ đó, thơ ca đời Đường xuất hiện nhiều trường phái, phong cách và phát triển một cách rầm rộ, nhiều tác giả, tác phẩm nổi tiếng ở thời kỳ này được đời sau truyền tụng và ca ngợi. Căn cứ vào đề tài sáng tác, các nhà văn sử học Trung Quốc đã chia thơ Đường thành các trường phái sau: - Trường phái Điền viên sơn thủy: Phái Điền viên sơn thủy còn được gọi là phái “Vương – Mạnh” bởi vì hai thi nhân tiêu biểu của phái này đó là Mạnh Hạo Nhiên (689 – 740) và Vương Duy (701 – 761). Mạnh Hạo Nhiên là nhà thơ sống gần gũi với với cảnh thôn quê lặng lẽ, bình dị. Hình ảnh thiên nhiên nơi thôn dã trong thơ ông được miêu tả đẹp đẽ biết bao. Đó là cảnh thanh nhàn êm ả của làng quê, cảnh núi sông hùng vĩ và tráng lệ… Người thứ hai đó là Vương Duy tự Ma Cật, tuy suốt đời làm quan nhưng ông thường sống như một ẩn sĩ, là người sùng tín đạo Phật, thơ mang đậm ý vị thiền nên được mọi người tôn vinh là Thi Phật. Ông là một người rất đa tài, không những nổi tiếng về thơ mà còn am hiểu về âm nhạc, có tài thư pháp và là một danh họa. Khi nhận xét về Vương Duy, Tô Thức đời Tống cho rằng: “Thi trung hữu họa, họa trung hữu thi” (Đọc thơ Ma Cật thấy trong thơ có họa, xem họa Ma Cật thấy trong họa có thơ). - Trường phái Biên tái: Phái Biên Tái còn được gọi là phái “Cao – Sầm”, đó là Cao Thích (702 – 765) và Sầm Tham (716 – 770). Thơ của Cao Thích mang đậm chất trữ tình hào phóng nhưng lại khẳng khái hiên ngang, trong khi đó thơ của Sầm Tham thì mỹ lệ huyền ảo, âm điệu dồn dập vút cao. Ngoài ra còn có một số tác giả cũng góp phần quan trọng cho thi phái này như: Vương Xương Linh (698? – 757) và Lí Kỳ (690 – 751). - Trường phái lãng mạn: Một trong những cây đại thụ lớn của phái này không ai khác là Lí Bạch (701 – 762). Thơ của ông kết hợp hài hòa giữa tính hiện thực và tính lãng mạn. Tuy nhiên, tính hiện thực trong thơ Lí Bạch không bằng Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị nhưng thơ ca lãng mạn có nội dung tích cực của ông lại vượt trội hơn. Người đời tôn ông là “Thi tiên” (ông tiên làm thơ) cũng không có gì là quá. Trong thơ ông, ý, cảnh, tình hòa quyện vào nhau, vừa diễm lệ, kỳ vĩ; vừa mênh mông bát ngát. Tính cuồng phong, hùng tráng, diễm lệ, phiêu dật, trầm thống đều có ở trong thơ của ông. Đúng như lời khen của Đỗ Phủ: “Lí Bạch thơ không ai địch nổi, siêu nhân ý khác thường” [17, tr. 17]. - Trường phái hiện thực: Một kiện tướng của phái hiện thực trong thời kỳ này là Đỗ Phủ (712 – 770). Theo Nguyễn Văn Đường và Hoàng Dân: “Nếu Lí Bạch là nhà thơ lãng mạn vĩ đại (Thi tiên) thì Đỗ Phủ là nhà thơ hiện thực vĩ đại – Thi sử thi thánh – ông thánh làm thơ” [9, tr. 242]. Đỗ Phủ để lại cho đời gần 1.500 bài thơ, trầm uất buồn đau, nhưng sáng ngời tinh thần nhân ái bao la. Thơ ông là bức tranh phơi bày hiện thực xã hội phong kiến đen tối, phơi bày cuộc sống khốn cùng của tầng lớp mang thân phận “con ong, cái kiến”. Những ngòi bút hướng theo trường phái này còn có Nguyên Kết (719-772), Cổ Huống (725-816). Về sau, người kế tục xứng đáng và xuất sắc nhất là Bạch Cư Dị (772-846), họ đã góp phần đưa thi ca hiện thực lúc bấy giờ lên đỉnh cao, mặc dù trường phái hiện thực khai sinh muộn hơn so với các trường phái khác. Với những thành tựu đạt được từ thực tế sáng tác đã quy tụ các trường phái thơ đời Đường thành hai trường phái lớn, có ảnh hưởng sâu rộng nhất và có những thành tựu lớn nhất. Đó là trường phái lãng mạn đại biểu là Lí Bạch và trường phái hiện thực tiêu biểu là Đỗ Phủ đều đem thiên tài thơ ca riêng của mình, sự tu dưỡng nghệ thuật rộng lớn và tinh tế của mình, tình yêu với tổ quốc nhân dân, cũng như sự vận dụng những phương pháp sáng tác nghệ thuật khác nhau, xây dựng những phong cách nghệ thuật của riêng mình để phản ánh thời đại và biến động qua các mặt. Sự sáng tạo của họ đã cho chúng ta biết bao kiệt tác khác nhau, đưa nghệ thuật thơ ca lãng mạn và hiện thực lên đỉnh cao. Họ xứng đáng là những đại biểu kiệt xuất nhất của hai trường phái đó trong lịch sử thơ ca cổ điển Trung Quốc. Từ những nhận xét trên, có thể thấy thơ Đường phong phú về đề tài, nổi bật và tập trung nhất vào hai khuynh hướng sáng tác là: hiện thực và lãng mạn. Như một giá trị lịch sử văn học bất biến, dù phải trải qua bao thử thách, bao biến cố của thời đại, nhưng hai khuynh hướng ấy vẫn trường tồn mãi mãi. Nó là kết quả của một quá trình lĩnh hội những tinh hoa rực rỡ của đời Đường mà thi ca cổ trước đó chưa bao giờ đạt đến được. Hiện thực và lãng mạn là hai bộ phận thống nhất trong một chỉnh thể của thi ca đời Đường góp phần cống hiến to lớn cho văn học Trung Quốc. 2.2. THI PHÁP THƠ ĐƯỜNG 2.2.1. Thi pháp và thi pháp học Việc nghiên cứu về thi pháp ở nước ta trong những năm gần đây đang được nhiều nhà khoa học quan tâm. Trước đây, do những hoàn cảnh và điều kiện lịch sử - xã hội, đối với bộ môn văn học, các nhà nghiên cứu chưa quan tâm nhiều đến hình thức của tác phẩm mà còn chú trọng vào khía cạnh nội dung tư tưởng. Một tác phẩm văn học, nội dung và hình thức không thể tách rời nhau vì “nội dung” chỉ có giá trị khi tồn tại trong một hình thức nhất định và “hình thức” chỉ thực sự là hình thức khi biểu đạt một nội dung. Trong Lý luận và văn học ở mục một số vấn đề về thi pháp học, GS. Lê Ngọc Trà đã định nghĩa: “Thi pháp học là một lĩnh vực của khoa văn học, nghiên cứu hệ thống các phương tiện, cách thể hiện và tổ chức ý thức nghệ thuật trong sáng tạo văn chương. …Đối tượng nghiên cứu đầu tiên của thi pháp học các yếu tố và cấu trúc của tác phẩm văn học như ngôn ngữ, thế giới nghệ thuật, kết cấu và chủ thể nghệ thuật. Lớp yếu tố thứ nhất đó là ngôn từ nghệ thuật. …Lớp thứ hai là thế giới nghệ thuật bao gồm nhân vật, cốt truyện và các chi tiết được mô tả, thời gian và không gian nghệ thuật. …Tiếp đó thi pháp học khảo sát kết cấu của tác phẩm… Cuối cùng thi pháp học có nhiêm vụ nghiên cứu phương pháp nghệ thuật và phong cách của nhà văn. … Thi pháp học chia ra hai bộ phận chủ yếu: thi pháp học lý luận và thi pháp học lịch sử” [67, tr. 142-145]. Trong Từ điển thuật ngữ văn học, mục “Thi pháp học và thi pháp” (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên) định nghĩa: “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi pháp, tức hệ thống, phương thức phương tiện biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học. Mục đích của thi pháp học là chia tách và hệ thống hóa các yếu tố của văn bản nghệ thuật tham gia vào sự tạo thành thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mỹ, chiều sâu phản ánh của sáng tạo nghệ thuật. Xét các chỉnh thể văn học mang thi pháp có thể nói tới thi pháp tác phẩm cụ thể, thi pháp sáng tác của một nhà văn, thi pháp một trào lưu, thi pháp văn học dân tộc, thi pháp văn học một thời đại, thời kỳ lịch sử. Xét các phương tiện, phương thức nghệ thuật đã được chia tách, có thể nói đến thi pháp của thể loại, thi pháp của phương pháp, thi pháp của phong cách, thi pháp kết cấu, thi pháp không gian, thời gian, thi pháp ngôn ngữ… Xét về cách tiếp cận, thi pháp học có ba phạm vi nghiên cứu: - Thi pháp học đại cương (còn gọi là thi pháp học lý thuyết, thi pháp học hệ thống hóa hay thi pháp học vĩ mô). - Thi pháp học chuyên biệt (hay còn gọi là thi pháp học miêu tả vi mô). - Thi pháp học lịch sử. … Thi pháp học chuyên biệt tiến hành miêu tả tất cả các phương diện nói trên (tức thi pháp thể loại, không gian, thời gian, kết cấu, ngôn ngữ, mô típ…) của sáng tác văn học nhằm xây dựng “mô hình”- hệ thống hóa cá biệt của các thuộc tính tác động thẫm mỹ. Vấn đề ở đây chính là các tương quan của tất cả các yếu tố nói trên trong chỉnh thể nghệ thuật. … Thi pháp học chuyên biệt có thể miêu tả tác phẩm văn học cá biệt cũng như cụm tác phẩm trong sáng tác của một nhà văn, của một thể loại, một trào lưu văn học hoặc một thời đại văn học. Thi pháp học giúp ta công cụ để thâm nhập vào cấu trúc tác phẩm, cốt cách tư duy của tác giả cũng như nắm bắt “mã” văn hoá nghệ thuật của các tác giả và các thời kỳ văn học nghệ thuật, từ đó nâng cao cảm thụ tác phẩm. Thi pháp học cổ xưa nặng về tính chất qui phạm, cẩm nang. Thi pháp học hiện đại nặng về phát hiện, miêu tả các ngôn ngữ nghệ thuật đang hình thành và song hành với sự vận động của văn học”. [14, tr. 206-207]. Từ hai định nghĩa trên cho thấy rằng, dù cách diễn đạt có chỗ khác nhau nhưng quan niệm của hai cách về thi pháp và thi pháp học căn bản cùng thống nhất ở một số nét chính: - Thi pháp là hệ thống các phương thức, phương tiện biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học (hệ thống đó bao gồm: thể loại, kết cấu, không gian, thời gian, ngôn ngữ). - Thi pháp học là bộ môn khoa học nghiên cứu hệ thống thi pháp đó. - Có thể chia thi pháp học thành ba bộ phận chủ yếu. Nhưng khi miêu tả các phương diện của thi pháp tác phẩm, tác giả, trào lưu, thời đại, dân tộc thì đó là nhiệm vụ của thi pháp học chuyên biệt. Tóm lại, theo chúng tôi thì thi pháp tức là hệ thống hình thức nghệ thuật như: kết cấu của tác phẩm, ngôn từ nghệ thuật, thời gian và không gian nghệ thuật… mà nhà văn dùng để biểu hiện nội dung của tác phẩm văn học thì thi pháp học nghiên cứu hệ thống hình thức. Do vậy, từ những nhận định trên, chúng tôi sẽ tìm hiểu một số phương diện về thi pháp thơ Đường. 2.2.2. Các phương diện trong thi pháp thơ Đường Trong Thi pháp thơ Đường, Nguyễn Thị Bích Hải nhận xét: “Thơ Đường là “tập đại thành” của thơ cổ điển Trung Quốc, cho nên những phương diện của thi pháp thơ cổ điển ở đây đều tiêu biểu” [12, tr. 9]. Thi pháp mà chúng ta nghiên cứu để áp dụng vào giảng dạy ở trường phổ thông thuộc về “Thi pháp chuyên biệt” (hay thi pháp miêu tả). Từ lý thuyết của thi pháp học đại cương để nghiên cứu thi pháp thơ Đường, một giai đoạn trong lịch sử thơ của Trung Quốc. Về hình thức, thơ Đường cũng chịu ảnh hưởng của thời đại, tư tưởng triết học, các loại hình nghệ thuật khác và các giai đoạn thơ ca trước đó. Trong cuốn “Hán văn học sử cương yếu”, Lỗ Tấn viết: “Đến đời Đường, văn xuôi và thơ Trung Quốc có một sự biến đổi lớn”. Sự đột biến này là kết quả của một quá trình tích lũy lâu dài những kinh nghiệm nghệ thuật của hơn 10 thế kỷ thơ ca đã đến độ chín muồi. Sự đột biến này thể hiện ở kiểu tư duy nghệ thuật, một hệ thống thi pháp mới mẻ và độc đáo, tạo nên cái mốc quan trọng trên con đường phát triển của thơ ca Trung Quốc. Thi pháp thơ Đường rất phong phú, đa dạng. Với khuôn khổ của đề tài chúng tôi chỉ trình bày một số yếu tố tiểu biểu trong hệ thống thi pháp thơ Đường qua các phương diện sau: - Quan niệm nghệ thuật về con người. - Không gian nghệ thuật. - Thời gian nghệ thuật. - Thể loại và ngôn ngữ. ● Quan niệm nghệ thuật về con người Trong văn học, con người là chủ thể, là đối tượng và đồng thời là mục đích. Sáng tác văn học là một hoạt động nhận thức có tính thẫm mĩ, nhiệm vụ của văn học là phản ánh hiện thực cuộc sống muôn hình vạn trạng nên văn học không thể thiếu quan niệm về con người. Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi chỉ xét quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Đường, tức là quan niệm ở một thời đại thơ ca của một dân tộc. Đối tượng trung tâm của văn học là con người, cho nên trong hệ thống thi pháp nó cũng là yếu tố trung tâm so với các yếu tố khác. Trong thơ Đường, có hai kiểu con người chủ yếu, đó là con người vũ trụ và con người xã hội. - Con người vũ trụ: Quan điểm về con người trong nghệ thuật với quan niệm triết học có mối quan hệ rất mật thiết với nhau. Triết học cổ đại Trung Quốc nói riêng cũng như các dân tộc thời cổ nói chung quan niệm con người được đặt trong mối tương thông tương hợp với thiên nhiên “Thiên nhân tương dữ”. Con người là một “tiểu vũ trụ” trong lòng “đại vũ trụ”. Quan niệm đó chi phối toàn bộ các hoạt động, kể cả hoạt động nghệ thuật lúc bấy giờ và nó tồn tại mãi trong suốt thời phong kiến, và ngay đến thời hiện đại. Con người xuất hiện trong tư thế vũ trụ, đứng giữa đất trời “đầu đội trời, chân đạp đất”, hòa hợp đất trời. Con người trong thơ Đường luôn luôn khát vọng hòa hợp với thiên nhiên, ở giữa đất trời, cảm ứng với đất trời “Tống hữu nhân” của Lí Bạch, “Đăng Cao” của Đỗ Phủ là một ví dụ tiêu biểu. Trong con mắt, tình cảm của người nghệ sĩ, thiên nhiên, vạn vật đều hữu tình vì “vạn vật dữ ngã vi nhất” (Vạn vật với ta là một). Thơ Đường đặc biệt quan tâm thể hiện quan hệ tương giao, hòa hợp giữa con người với con người. Con người trong thơ Đường đặc biệt đề cao cái tâm được thể hiện rõ trong đề tài bằng hữu. Thơ Đường nói nhiều về tình bạn vì đó là thanh khí tự nhiên, tri âm, tri kỷ. Hơn nữa các quan hệ trong xã hội phong kiến, chỉ có quan hệ tình bạn là bình đẳng, là thuần túy tình cảm, tự nguyện, khiến con người, thi sĩ bày tỏ tâm sự và thể hiện khát vong tri âm một cách dễ dàng, cho nên hiếm nhà thơ nào lại không viết về tình bạn. Có thể nói, đến đời Đường, con người vũ trụ được thể hiện trong thơ ca đã đạt đến trình độ tuyệt vời. Hình tượng con người vũ trụ thể hiện khát vọng của con người được sống thanh bình, hòa hợp vào nhịp sống của vũ trụ vô biên. - Con người xã hội: Thơ Đường khi phản ánh con người mà chủ yếu là tầng lớp nhân dân thấp cổ bé họng, con người xã hội được phản ánh bằng quan hệ mâu thuẫn, đối lập gay gắt điều này được thể hiện rất rõ trong bộ phận thơ sáng tác theo khuynh hướng hiện thực mà tiêu biểu là Đỗ Phủ. Mọi nỗi đau khổ của con người đặc biệt là con người bất hạnh, đến những bất công xã hội của vua quan phong kiến đều đư._.oa nở, có dòng sông sương khói bàng bạc, có nơi đến gợi bao vẻ đẹp của phồn hoa đô hội, có bầu trời xanh biết ngút tầm mắt. Tất cả để làm rõ cái không có. Đó là cánh buồm mất hút. Người bạn đã đi xa, để lại trong lòng cả hai một nổi cô đơn. - Cánh buồm cô lẻ mất hút, hòa nhập vào nền trời xanh biếc trong hút tầm mắt là cái không có để nhấn mạnh cái có. Đó là người đưa tiễn. Nhờ thơ đang đứng trên lầu cao dõi theo cánh buồm đưa bạn tới chân trời. - Cái mênh mông vô tận của không gian là cái có để diễn tả cái không có (không nói ra). Đó là sự lẻ loi, cô đơn, nhỏ bé của kiếp người. 3.4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ Xuất phát từ yêu cầu giáo dục và thực trạng dạy học văn trong nhà trường phổ thông hiện nay, chúng tôi mạnh dạn nêu lên một số giải pháp và kiến nghị như sau: Việc dạy học thơ Đường trong nhà trường phổ thông cần phải xác định một quan điểm giáo dục toàn diện. Xuất phát từ yêu cầu của giáo dục phổ thông để chúng ta cần xác định một quan niệm đúng đắn trong việc giảng dạy thơ Đường. Trước hết giáo viên dạy Văn cần phải ý thức được tầm quan trọng, ý nghĩa văn hóa và giáo dục của thơ Đường để tránh quan niệm cho rằng thơ Đường không ảnh hưởng gì đến nền văn học trong nước cũng như không có tác dụng gì đối với cuộc sống hiện tại, cũng không nên có tư tưởng bi quan, ngán ngại khi cho rằng “Thơ Đường khó”. Cũng như các chuyên mục khác trong chương trình môn Văn ở trường phổ thông, việc giảng dạy thơ Đường tất nhiên phải chú ý đến trình độ của học sinh, từ đó tìm ra phương pháp dạy học phù hợp, để làm sao các em có thể xóa đi được những khoảng cách quá xa giữa bản thân với không gian, thời gian lịch sử, với văn hoá, ngôn ngữ của một dân tộc. Các bài thơ Đường đưa vào giảng dạy trong chương trình phổ thông hiện nay là những bài thơ hay, tiêu biểu cho nội dung và thi pháp nhưng chưa thực sự phù hợp với trình độ học sinh. Chúng tôi mạnh dạn đề xuất nên đưa thơ Đường vào chương trình giảng dạy ở trường phổ thông phù hợp với khối lớp, chọn lọc những bài tiêu biểu phù hợp với lứa tuổi học sinh bậc trung học cơ sở, cụ thể là cho khối học sinh lớp 9. Mỗi nhà thơ, nhà văn có một vai trò quan trọng, góp phần vào quá trình phát triển một giai đoạn văn học. Vì vậy muốn có một cái nhìn tổng thể về tiến trình văn học của một dân tộc, cần tìm hiểu về tác giả văn học. Việc tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của nhà thơ sẽ giúp học sinh hiểu được những đóng góp to lớn của họ đối với nền văn học cũng như rút ra được bài học về nhân cách làm người. Về phần này chúng tôi mạnh dạn đề xuất một số ý kiến như sau: - Sách giáo khoa nên có thời gian dành cho phần học về tiểu sử tác giả, không nên gói gọn tất cả trong một tiết học. - Để tránh tình trạng giáo viên phải mất thời gian dạy lại những kiến thức học sinh đã học ở lớp 7 (ví dụ: tiểu sử tác giả Lí Bạch và Đỗ Phủ), giáo viên chỉ cần nhắc lại một cách sơ lược là đủ. Mặc dù nhắc lại sơ lược nhưng cần thiết vì vừa củng cố kiến thức học sinh đã học ở lớp dưới vừa có liên quan trực tiếp đến bài học của các em ở lớp 10, đồng thời giáo viên cần kết hợp với nội dung khái quát giai đoạn văn học thời Đường mà sách giáo khoa không giới thiệu giúp các em hiểu được mối quan hệ giữa các nhà thơ với thời đại mà họ đang sống. Với thời lượng (7 tiết) như hiện nay, việc dạy thơ Đường gặp nhiều khó khăn nên cần tăng thêm số tiết dạy cho phần này khoảng 3 đến 4 tiết. Mặt khác, khi học sinh tiếp cận với Văn học nước ngoài tất nhiên sẽ gặp những khó khăn hơn so với Văn học Việt Nam. Để tạo tâm thế học tập, củng cố thêm những tri thức về bộ phận Văn học nước ngoài cho học sinh, nhà trường và giáo viên cùng phối hợp tăng cường các dụng cụ trực quan trong giờ học (ví dụ: băng, hình, tranh ảnh...); tổ chức các giờ ngoại khóa bằng những hình thức như tổ chức cho các em sưu tầm và đọc tác phẩm, thảo luận nhóm tại lớp, đố vui về tác giả, tác phẩm… Hiện nay, khi dạy những bài thơ Đường, giáo viên đã chú ý đến việc phân tích nội dung. Tuy nhiên, việc giảng dạy những bài thơ Đường phải chú ý đến những đặc trưng thi pháp của thơ Đường. Dạy thơ Đường là phải hiểu và dịch thật chính xác từ ngữ trong phần nguyên tác bài thơ. Làm được điều này giáo viên giúp học sinh hiểu được nguyên tác đồng thời cung cấp một số kiến thức về ngôn ngữ, làm phong phú thêm vốn ngôn ngữ của các em bởi vì trong vốn từ mượn của dân tộc thì tiếng Việt mượn từ tiếng Hán nhiều nhất. Thực tế cho thấy, có nhiều giáo viên biết rất ít về chữ Hán làm cản trở đáng kể đến việc dạy thơ Đường cũng như dạy những tác phẩm văn học trung đại Việt Nam viết bằng chữ Hán. Nên mở các lớp dạy chữ Hán vào chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên. Do tính chất thơ Đường là bình dị, súc tích ngắn gọn nên khi tiếp nhận thơ cần phát hiện ra nhãn tự của bài thơ (tức là câu thơ mấu chốt mang ý nghĩa quan trong nhất). Ví dụ bài “Hoàng hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” hồn thơ là hai câu cuối: “Cô phàm viễn ảnh bích không tận; Duy kiến Trường giang thiên tế lưu”, hay bài “Thu Hứng” thì nhãn tự của bài thơ ở hai câu: “Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ; Cô chu nhất hệ cố viên tâm”. Đối với những bài thơ dài, giáo viên nên chọn một đoạn ngắn để giảng sâu, kĩ chứ giảng dàn trải hết bài thơ. Chẳng hạn bài “Mao ốc vị thu phong sở phá ca”, để thấy được tinh thần nhân đạo cao cả của Đỗ Phủ, giáo viên nên chọn giảng sâu ở mười ba câu cuối của bài thơ. Riêng văn học, việc đọc tác phẩm là sự phản ánh những tình cảm, ý chí, ước vọng, động lực của tâm hồn và cùng với tiếng lòng của nhà văn thể hiện trong tác phẩm, đọc là tiếng đồng vọng của con người trước thời đại và lịch sử. Trong quá trình dạy học, đọc tác phẩm văn học như là một hoạt động sáng tạo mang tính thẩm mĩ. Tình trạng học sinh đọc sai, đọc yếu hiện nay rất phổ biến, giáo viên nên hướng dẫn phương pháp, rèn luyện năng lực đọc cho các em. Cuối cùng, thiết nghĩ ngành giáo dục cần có sự thay đổi cách thức ra đề trong kiểm tra, thi cử; nội dung thi không nên chỉ có phần Văn học Việt Nam mà phải bổ sung các tác phẩm Văn học nước ngoài (đặc biệt là thơ Đường - một bộ văn học ảnh hưởng rất lớn đến văn học trung đại Việt Nam) để tránh tình trạng xem nhẹ mảng văn học này, đồng thời kiểm tra đánh giá được kiến thức văn học toàn diện ở học sinh. Phương pháp dạy học truyền thống hay hiện đại cũng đều có những đặc điểm, ưu thế và nhược điểm riêng. Không có phương thuốc nào có thể chữa được bách bệnh, không có phương pháp dạy học nào là chìa khóa vạn năng. Việc nghiên cứu kỹ từng bài dạy, từng đặc điểm bộ môn và đối tượng người học để có sự phối hợp đa dạng các phương pháp dạy học là việc cần làm ngay của mỗi giáo viên để nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn hiện nay. ____________________ KẾT LUẬN Tác giả Kiều Văn nhận xét: “Thơ Đường chan chứa tính nhân văn, đầy ắp tính người, tình đời, nỗi đau, nỗi hận… Thơ Đường phản ánh số phận “thập loại chúng sinh” trên khắp đất nước Trung Hoa thời phong kiến nhà Đường” [69, tr. 6]. Đúng vậy, thời đại nhà Đường đã thuộc về quá khứ theo dòng chảy của thời gian, thế nhưng những giá trị tinh thần mà nó để lại cho đất nước Trung Hoa và nhân loại sẽ trường tồn mãi mãi. Trong nền văn hoá nhân loại, thơ Đường đã trở thành một hiện tượng độc đáo, mỗi bài thơ là một viên ngọc quý mà khi nhìn, dù ở góc độ nào cũng thấy nó tỏa sáng lung linh. Chính vì sự tuyệt tác của thơ Đường mà các nhà văn, nhà thơ và các nhà nghiên cứu từ trước đến nay không ngừng tìm hiểu, nó trở thành mối quan tâm của bao nhiêu thế hệ. Càng tìm hiểu, thơ Đường lại toát lên một sắc thái, một nội dung độc đáo hơn, sâu sắc hơn tựa như chân trời mới cần khám phá. Thơ Đường từ lâu được đưa vào chương trình môn Văn ở nhiều bậc học đã phản ánh vị trí quan trong của nó. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi vấn đề giao thoa hội nhập, toàn cầu hoá đang là mối quan tâm của toàn xã hội thì việc giảng dạy thơ Đường ở trường phổ thông lại trở nên có ý nghĩa. Nó không chỉ giúp học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp, tính nhân văn về một thành tựu văn học xưa mà còn giúp các thế hệ tương lai có một định hướng đúng đắn trên con đường tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại, sáng tạo ra những cái mới tốt đẹp hơn, tự tin hơn để hoà nhập với xu thế phát triển của thời đại. Thế nhưng việc giảng dạy thơ Đường ở trường phổ thông hiện nay đang có những thuận lợi và khó khăn chi phối. Như đã trình bày, xuất phát từ nhiều nguyên nhân nên việc dạy học không đạt kết quả như mong đợi. Trong các môn học, Văn học là một môn rất khó dạy. Bởi tuy người thầy giáo dạy môn Văn học không phải là nhà văn, nhà thơ sáng tạo văn chương, nhưng họ là những người truyền thụ văn chương, do vậy họ phải là một người có tâm hồn nghệ sĩ. Bởi dạy Văn học không chỉ truyền đạt kiến thức mà chủ yếu là truyền sự rung động trước tác phẩm. Tức là người dạy Văn là người phải có cảm xúc về tác phẩm và truyền cảm xúc đó đến với học sinh. Muốn được như thế thì người dạy phải có sự rung cảm sâu sắc và bằng ngôn ngữ và kĩ thuật diễn đạt làm cho học trò rung động theo. Một giờ dạy và học Văn tốt là một giờ dạy mà qua đó, những tần số cảm thụ cùng rung lên và tự động tác phẩm đó thấm sâu vào tâm hồn của người học và trở thành hành trang đi suốt cuộc đời của các em. Với quan niệm: Người thầy như là người nhóm lửa, thổi lên ngọn lửa văn chương trong mỗi tâm hồn của những học trò, luận văn “Giảng dạy thơ Đường dưới góc nhìn của thi pháp học” mặc dù đã có sự nổ lực trong quá trình tìm hiểu hệ thống thi pháp thơ Đường nhằm tìm ra hướng tiếp cận, khai thác tác phẩm phục vụ cho nhu cầu giảng dạy thể loại thơ nói chung và thơ Đường nói riêng đạt hiệu quả hơn. Tuy nhiên, luận văn không thể không tránh khỏi những sai sót đang mong được sự đóng góp của quý thầy cô cùng các bạn đồng nghiệp. ____________________ TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Trương Chính, Lương Duy Thứ, Bùi Văn Ba (1971), Lịch sử văn học Trung Quốc , tập (2), Nxb Giáo dục Hà Nội. 2. Nguyễn Hữu Dũng (1988), Một số vấn đề cơ bản về giáo dục trung học phổ thông, Sách bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ 1997 – 2000 cho giáo viên. 3. Nguyễn Sĩ Đại (1996), Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ truyệt đời Đường, Nxb Văn học Hà Nội. 4. Trần Thanh Đạm (1995), Dẫn luận văn học so sánh, Tủ sách Đại học Tổng hợp Tp.HCM. 5. Trần Xuân Đề (1976), Thơ Đỗ Phủ, Nxb Giáo dục Hà Nội. 6. Trần Xuân Đề (2002), Lịch sử văn học Trung Quốc, Nxb Giáo dục. 7. Trần Xuân Đề, Hồ Sĩ Hiệp (1997), Tinh hoa văn học Trung Quốc, Đại học Sư phạm Tp.HCM. 8. Phạm Văn Đồng (1973), Dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 11. 9. Nguyễn Văn Đường, Hoàng Dân (2003), Thiết kế bài giảng Ngữ văn THCS 7, tập (1), Nxb Hà Nội. 10. Nguyễn Văn Đường, Hoàng Dân (2006), Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10, tập (1), Nxb Hà Nội. 11. Lê Giảng (1998), Đến với thơ Lí Bạch, Nxb Thanh niên. 12. Nguyễn Thị Bích Hải (1997), Thi pháp thơ Đường, Nxb Giáo dục. 13. Nguyễn Thị Bích Hải (2006), Thi pháp thơ Đường, Nxb Thuận Hóa – Huế. 14. Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Hà Nội. 15. Hồ Sĩ Hiệp (1992), Bình luận văn học, Nxb Tổng hợp Khánh Hòa. 16. Hồ Sĩ Hiệp (1995), Thơ Đường ở trường phổ thông, Nxb Văn Nghệ Tp.HCM. 17. Hồ Sĩ Hiệp (2002), Lí Bạch, Tủ sách Văn học trong nhà trường. 18. Hồ Sĩ Hiệp, Trần Xuân Đề (1978), Thơ Đường, Đại học Sư phạm Tp.HCM. 19. Nguyễn Văn Hòa (2002), Tác phẩm văn học trong nhà trường, những vấn đề trao đổi, tập (1), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 20. Nguyễn Trọng Hoàn, Nguyễn Đức Khuông, Lê Hồng Mai (2007), Tư liệu dạy và học môn Ngữ văn 10, Nxb Hà Nội. 21. Nguyễn Thanh Hùng (2000), Hiểu văn dạy văn, Nxb Giáo dục. 22. Nguyễn Thị Thanh Hương (2001), Dạy văn ở trường phổ thông, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 23. Trần Kiều (1997), Đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS, Tài liệu tham khảo cho giáo viên, Viện Khoa học Giáo dục. 24. Trần Trọng Kim (1978), thơ Đường, tập (2), Nxb Văn học Hà Nội. 25. Mai Quốc Liên (2002), Những vấn đề của phương pháp giảng dạy thơ trong nhà trường, Tạp chí Khoa học trường Đại học Sư phạm Tp.HCM, tập (29), số 1. 26. Phan Trọng Luận (1983), Cảm thụ văn học, giảng dạy văn học, Nxb Giáo dục. 27. Phan Trọng Luận (1998), Xã hội – văn học – nhà trường, Nxb Đại học Quốc gia. 28. Phan Trọng Luận (1999), Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông, tập (1), Nxb Giáo dục. 29. Phan Trọng Luận (1999), Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông, tập (2), Nxb Giáo dục. 30. Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt (1998), Phương pháp dạy học văn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 31. Phan Trọng Luận, Lã Nhâm Thìn, Bùi Minh Toán, Lê A, Lê Nguyên cẩn, Đoàn Lê Giang, Nguyễn Thị Bích Hải, Phan Thị Thu Hiền, Nguyễn Thái Hòa, Đỗ Kim Hồi, Nguyễn Xuân Lạc, Đặng Ngọc Lệ, Trần Đức Ngôn, Lê Trường Phát, Vũ Dương Quỹ, Trần Nho Thìn (2007), Ngữ văn 10, tập (1), Nxb Giáo dục. 32. Phan Trọng Luận, Lã Nhâm Thìn, Bùi Minh Toán, Lê A, Nguyễn Thái Hòa, Đỗ Kim Hồi, Nguyễn Xuân Nam, Vũ Dương Quỹ, Đặng Đức Siêu, Trần Nho Thìn, Lương Duy Thứ, Đoàn Thị Thu Vân (2007), Ngữ văn 10, tập (2), Nxb Giáo dục. 33. Lê Nguyễn Lưu (2007), Đường thi tuyển dịch, quyển (1), Nxb Thuận Hóa. 34. Nguyễn Đăng Mạnh (1994), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Nxb Giáo dục. 35. Trần Đồng Minh (2000), Học tốt văn học 10, Nxb Đại học Quốc gia Tp.HCM. 36. Nguyễn Xuân Nam (1992), Làm quen với thơ Đường, Nxb Văn học, Hà Nội. 37. Lê Đức Niệm (1995), Diện mạo thơ Đường, Nxb Văn hóa Thông tin. 38. Lê Đức Niệm (1993), Thơ Đường, Nxb Khoa học Xã hội – Nxb Cà Mau. 39. Phan Ngọc (1990), Đỗ Phủ, nhà thơ dân đen, Nxb Đà Nẵng. 40. Nguyễn Thế Nữu (1999), Thơ Đường bình chú, Nxb Hội Nhà Văn. 41. Nguyễn Khắc Phi (1987), Văn học Trung Quốc, tập 2, Nxb Giáo dục. 42. Nguyễn Khắc Phi (1999), Phân tích bình giảng tác phẩm văn học 10, Nxb Giáo dục. 43. Nguyễn Khắc Phi (2001), Mối quan hệ giữa văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc qua cái nhìn so sánh, Nxb Giáo dục. 44. Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử (1996), Về thi pháp thơ Đường, Nxb Đà Nẵng. 45. Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Minh Thuyết, Trần Đình Sử, Bùi Mạnh Nhị, Nguyễn Quang Ninh, Đỗ Ngọc Thống (2003), Ngữ văn 6, tập (1), Nxb Giáo dục. 46. Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Minh Thuyết, Trần Đình Sử, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Quang Ninh, Đỗ Ngọc Thống (2003), Ngữ văn 6, tập (2), Nxb Giáo dục. 47. Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Minh Thuyết, Trần Đình Sử, Đỗ Kim Hồi, Nguyễn Văn Long, Bùi Mạnh Nhị, Lê Xuân Thại, Đỗ Ngọc Thống (2007), Ngữ văn 7, tập (1), Nxb Giáo dục. 48. Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Minh Thuyết, Trần Đình Sử, Đỗ Kim Hồi, Nguyễn Văn Long, Bùi Mạnh Nhị, Đỗ Ngọc Thống (2004), Ngữ văn 7, tập (2), Nxb Giáo dục. 49. Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Minh Thuyết, Trần Đình Sử, Lê A, Diệp Quang Ban, Hồng Dân, Bùi Mạnh Hùng, Lê Quang Hưng, Lê Xuân Thại, Đỗ Ngọc Thống, Trịnh Thị Thu Tiết, Phùng Văn Tửu (2005), Ngữ văn 8, tập (1), Nxb Giáo dục. 50. Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Minh Thuyết, Trần Đình Sử, Lê A, Diệp Quang Ban, Hồng Dân, Đỗ Kim Hồi, Bùi Mạnh Hùng, Lê Quang Hưng, Lê Xuân Thại, Lã Nhâm Thìn, Đỗ Ngọc Thống, Phùng Văn Tửu (2005), Ngữ văn 8, tập (2), Nxb Giáo dục. 51. Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Minh Thuyết, Trần Đình Sử, Diệp Quang Ban, Hồng Dân, Bùi Mạnh Hùng, Lê Quang Hưng, Lã Nhâm Thìn, Đỗ Ngọc Thống, Trịnh Thị Thu Tiết, Phùng Văn Tửu (2006), Ngữ văn 9, tập (1), Nxb Giáo dục. 52. Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Minh Thuyết, Trần Đình Sử, Lê A, Diệp Quang Ban, Lê Quang Hưng, Lê Xuân Thại, Đỗ Ngọc Thống, Phùng Văn Tửu (2006), Ngữ văn 9, tập (2), Nxb Giáo dục. 53. Ngô Văn Phú (2001), Thơ Đường ở Việt Nam, Nxb Hội Nhà văn. 54. Vũ Dương Quỹ, Lê Bảo (2002), Tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông, những con đường khám phá, tập (1), Nxb Giáo dục. 55. Vũ Tiến Quỳnh (1990), Lí Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị, Nxb Khánh Hòa. 56. Vũ Tiến Quỳnh (1995), Phê bình, bình luận văn học, Nxb Văn nghệ Tp.HCM. 57. Trần Trọng San (1990), Kim Thánh Thán phê bình thơ Đường, Trường Đại học Tổng Hợp Tp.HCM. 58. Trần Trọng San (1990), Thơ Đường, Trường Đại học Tổng hợp Tp.HCM. 59. Nguyễn Quốc Siêu (1998), Thơ Đường bình giảng, Nxb Giáo dục. 60. Trần Đình Sử (1993), Giáo trình thi pháp học, Tài liệu giảng dạy cao học, Đại học Sư phạm Tp.HCM. 61. Trần Đình Sử (1998), Môn văn, thực trạng và giải pháp, Báo Văn nghệ, số 7, tr.5 – 7. 62. Trần Đình Sử, Hồng Dân, Nguyễn Đăng Mạnh, Đỗ Ngọc Thống, Chu Xuân Diên, Nguyễn Bích Hà, Đỗ Việt Hùng, Phạm Luận, Nguyễn Đăng Na, Bùi Mạnh Nhị, Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Hoàng Tuyên, Lưu Đức Trung (2006), Sách giáo viên Ngữ văn 10, tập (1), Nxb Giáo dục. 63. Hoàng Trung Thông, Trương Chính (1962), Thơ Đỗ Phủ, Nxb Văn Học Hà Nội 64. Trương Đình Tín (2003), Đường thi tuyển dịch, Nxb Thuận Hóa. 65. Duy Tính (năm 2007), Những sáng tác chết người, Báo Pháp Luật Tp. HCM, Số 114. 66. Lê Ngọc Trà (2002), Văn chương và vấn đề dạy văn trong trường phổ thông, Tạp chí Khoa học, Đại học Sư phạm Tp.HCM, tập (29), số 1. 67. Lê Ngọc Trà (2005), Lý luận và văn học, Nxb Trẻ. 68. Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Khóa VIII Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Nxb Chính trị Quốc gia, tr.41. 69. Kiều Văn (2004), Thơ Đường, Nxb Thanh Niên. 70. Trịnh Xuân Vũ (2002), Phương pháp dạy học văn ở bậc phổ thông, Nxb Đại học Quốc gia Tp.HCM. PHỤ LỤC Phụ lục 1. Hình ảnh một số nhà thơ nổi tiếng thời Đường Tượng Hạ Tri Chương Chân dung Đỗ Phủ Chân dung Thôi Hiệu Chân dung Lí Bạch Chân dung Vương Duy Phụ lục 2. Một số địa danh liên quan đến các nhà thơ thời Đường Nhà của Lí Bạch ở Miên Châu Nhà của Lí Bạch ở Thành Đô Mộ của Lí Bạch ở Thanh Sơn Cố hương của Lí Bạch ở thị trấn Giang Dầu Thảo đường Đỗ Phủ tại Thành Đô Viện bảo tàng thảo đường Đỗ Phủ Đằng Vương các Hoàng Hạc lâu Nhạc Dương lâu Cảnh đẹp Dương Châu Bức tranh thơ “Nhuận oán” của Vương Xương Linh Bức tranh Vọng nguyệt của Vương Duy Phụ lục 3. Nguyên văn chữ Hán các bài thơ Đường trong chương trình phổ thông ĐIỂU MINH GIẢN 鸟鸣涧 (Vương Duy 王 维) 人闲桂花落 夜静春山空 月出惊山鸟 时鸣在涧中 ____________________ HOÀNG HẠC LÂU 黄 鹤 楼 (Thôi Hiệu 崔 灏) 昔 人 已 乘 黄 鹤 去 此 地 空 悠 黄 鹤 楼 黄 鹤 一 去 不 复 返 白 云 千 载 空 悠 悠 晴 川 历 历 汉 阳 树 芳 草 妾 妾 鹦 鹉 州 日 暮 乡 关 何 处 是 烟 波 江 上 使 人 愁 HOÀNG HẠC LÂU TỐNG MẠNH HẠO NHIÊN CHI QUẢNG LĂNG 黄 鹤 楼 送 孟 浩 然 之 广陵 (Lí Bạch 李白) 故人西 辞黄鹤楼 烟花三 月下杨州 孤帆远影碧空尽 惟见长江天际流 HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ 回 乡偶 书 (Hạ Tri Chương 夏 知章) 少小离家老大回 乡音无改纂毛推 儿童相见不相识 笑问客从何处来 KHUÊ OÁN 闺 怨 (Vương Xương Linh 王唱龄) 闺中少妇不知愁 春日凝妆上翠楼 忽见陌头杨柳色 悔教夫婿觅封候 ____________________ MAO ỐC VI THU PHONG SỞ PHÁ CA 茅屋为秋风所破歌 (Đỗ Phủ 杜甫) 八月秋高风怒号 卷我屋上三重茅 茅飞度江酒江郊 高者挂挂长林消 下者飘转沉塘幼 南村群童欺我老无力 忍能对面为盗贼 公然抱茅入竹去 唇焦口燥呼不得 归来依仗自叹息 俄顷风定云墨色 秋天漠漠向昏黑 布衾多年冷似铁 骄儿恶卧踏里裂 床床屋漏无干处 雨脚如麻未断约 自经丧乱少睡眠 长夜沾湿何由沏 安得广度千万间 大屁天下寒士俱欢颜 风雨不动安如山 呜呼!何时眼前突兀见此屋 吾庐独破受冻死亦足。 PHONG KIỀU DẠ BẠC 枫 桥 夜 泊 (Trương Kế 张 继) 月 落 乌 啼 霜 满 天 江 枫 鱼 火 对 愁 眠 姑 苏 城 外 寒 山 寺 夜半 钟声 到 客 船 ____________________ THU HỨNG 秋兴 (Đỗ Phủ 杜 甫) 玉 露 凋 伤 枫 树 林 巫 山 巫 夹 气 萧 森 江 间 波 浪 兼 天 涌 塞 上 风 云 接 地 荫 丛 菊 两 开 他 日 泪 孤 舟 一 系 姑 园 心 寒 依 处 处 崔 刀 尺 白 帝 城 高 急 幕 砧 TĨNH DẠ TƯ 静 夜 思 (Lí Bạch 李白) 床 前 明 月 光 疑 是 地 上 爽 举 头 望 明 月 低 头 思 故 乡 ____________________ VỌNG LƯ SƠN BỘC BỐ 望 垆山 瀑布 (Lí Bạch 李白) 日照香炉生紫烟 遥看瀑布挂前川 飞流直下三千尺 疑是银河落九 天 Phụ lục 4: Tổng hợp các kết quả điều tra Tổng hợp kết quả điều tra giáo viên cấp trung học cơ sở Nội dung câu hỏi Nội dung trả lời Số lượng Tỉ lệ Theo anh (chị), việc phân phối thơ Đường trong chương trình đã hợp lý chưa? Hợp lý Chưa hợp lý 32/77 45/77 41,6% 58,4% Thơ Đường có nằm trong chương trình thi học kỳ, thi tốt nghiệp và tuyển sinh ĐHCĐ không? Có thi HKI Không thi Phiếu trống 31/77 33/77 13/77 40,2% 42,9% 16,9% Khi giảng dạy tác phẩm thơ Đường, anh (chị) có tư tưởng xem nhẹ hơn so với giảng dạy thi pháp văn học trong nước không? Có Không 6/77 71/77 7,8% 92,2% Nêu tên và tác giả của các bài thơ Đường mà anh (chị) giảng dạy theo chương trình. Hiểu sai Không 13/77 64/77 16,9% 83,1% Theo anh (chị), có bài thơ Đường nào không phù hợp với chương trình học của học sinh không? Phù hợp Không phù hợp Không có ý kiến 40/77 30/77 7/77 51,9% 39% 9,1% Theo anh (chị), thơ Đường có nên đưa vào giảng dạy ở trường THCS không? Nên Không nên 66/77 11/77 85,7% 14,3% Thông thường, anh (chị) dạy thơ Đường theo: Bản phiên âm Bản dịch thơ Phiên âm và dịch thơ 19/77 28/77 30/77 24,7% 36,4% 38,9% Trong giảng dạy thơ Đường, anh (chị) thường đặt trọng tâm khai thác: Nội dung Nghệ thuật Nội dung và nghệ thuật 29/77 20/77 28/77 37,7% 25,9% 36,4% Qua quan sát, anh (chị) cho biết tâm lý của học sinh khi tiếp cận Thích thú Bình thường 24/77 49/77 31,2% 63,6% thơ Đường. Không thích 4/77 5,2% Để chuẩn bị cho một tiết dạy thơ Đường, thông thường anh (chị) quan tâm theo thứ tự ưu tiên nào trong các nội dung sau đây? Nội dung chung Điển tích Nghệ thuật Lời bình Hình ảnh minh họa 301/998 điểm 226/998 điểm 224/998 điểm 130/998 điểm 117/998 điểm 30,2% 22,7% 22,4% 13,0% 11,7% Theo anh (chị), việc học thơ Đường có giúp ích gì cho học sinh trong việc cảm thụ văn học trong nước không? Có ích Không có ý kiến 70/77 7/77 90,9% 9,1% Theo anh (chị), thơ Đường có ảnh hưởng đến văn học Việt Nam không? Có ảnh hưởng Không ảnh hưởng Không có ý kiến 74/77 0/77 3/77 96,1% 0% 3,7% Việc giảng dạy thơ Đường trước 1975 và hiện nay có gì khác? Giống nhau Khác nhau 21/77 56/77 27,3% 72,7% Những bài thơ Đường nào trong chương trình giảng dạy mà anh (chị) thích? Tĩnh dạ tứ (Lí Bạch) Hồi hương ngẫu thư (Hạ Tri Chương) Vọng lư sơn bộc bố (Lí Bạch) Mao ốc vị thu phong (Đỗ Phủ) 32/83 23/83 18/83 10/83 38,6% 27,7% 21,6% 12,1% Những bài thơ Đường nào ngoài chương trình giảng dạy mà anh (chị) thích? Thạch hào lại (Đỗ Phủ) Hoàng hạc lâu (Thôi Hiệu) Tuyệt cú (Đỗ Phủ) Hành lộ nan (Lí Bạch) Hoàng hạc lâu tống mạnh hạo nhiên chi quảng lăng (Lí Bạch), Phong kiều dạ bạc (Lí Bạch), Tương tiến tửu (Lí Bạch), Đăng u châu đài ca (Triều Tử Ngang). 14/37 11/37 5/37 3/37 4/37 37,8% 29,7% 13,5% 8,1% 10,8% - Tổng số phiếu: 77 phiếu. - Số đơn vị khảo sát: 12 trường (quận 6: 10 trường, quận 3: 2 trường) và 1 Phòng Giáo dục. Trong đó: + Quận 3: Trường THCS Hai Bà Trưng (2 phiếu), Lê Quí Đôn (1 phiếu) + Quận 6: Trường THCS Phú Định (10 phiếu), Nguyễn Văn Luông (5 phiếu), Đoàn Kết (13 phiếu), Phan Bội Châu (1 phiếu), Nguyễn Đình Chiểu (1 phiếu), BT (8 phiếu), Hậu Giang (6 phiếu), Lam Sơn (13 phiếu), Phạm Đình Hổ (9 phiếu), Văn Thân (7 phiếu); Phòng Giáo dục quận 6 (1). _____________________ Tổng hợp kết quả điều tra giáo viên cấp trung học phổ thông Nội dung câu hỏi Nội dung trả lời Số lượng Tỉ lệ Theo anh (chị), việc phân phối thơ Đường trong chương trình đã hợp lý chưa? Hợp lý Chưa hợp lý 18/38 20/38 47,4% 52,9% Thơ Đường có nằm trong chương trình thi học kỳ, thi tốt nghiệp và tuyển sinh ĐHCĐ không? Có thi HKI Không thi 11/38 27/38 29% 71% Khi giảng dạy tác phẩm thơ Đường, anh (chị) có tư tưởng xem nhẹ hơn so với giảng dạy thi pháp văn học trong nước không? Có Không 20/38 18/38 52,6% 26,4% Nêu tên và tác giả của các bài thơ Đường mà anh (chị) giảng dạy theo chương trình. Nêu sai Nêu đúng 0/38 38/38 0% 100% Theo anh (chị), có bài thơ Đường nào không phù hợp với chương trình học của học sinh không? Phù hợp Không phù hợp 15/38 23/38 39,5% 60,5% Theo anh (chị), thơ Đường có nên đưa vào giảng dạy ở trường Nên Không nên 33/38 5/38 86,8% 13,2% THPT không? Thông thường, anh (chị) dạy thơ Đường theo: Bản phiên âm Bản dịch thơ Phiên âm và dịch thơ 15/38 7/38 16/38 39,5% 18,4% 42,1% Trong giảng dạy thơ Đường, anh (chị) thường đặt trọng tâm khai thác: Nội dung Nghệ thuật Nội dung và nghệ thuật 14/38 10/38 14/38 36,8% 26,3% 36,8% Qua quan sát, anh (chị) cho biết tâm lý của học sinh khi tiếp cận thơ Đường. Thích thú Bình thường Không thích 3/38 24/38 11/38 7,9% 63,2% 28,9% Để chuẩn bị cho một tiết dạy thơ Đường, thông thường anh (chị) quan tâm theo thứ tự ưu tiên nào trong các nội dung sau đây? Nội dung chung Nghệ thuật Điển tích Lời bình Hình ảnh minh họa 137/453 điểm 121/453 điểm 95/453 điểm 57/453 điểm 43/453 điểm 30,2% 26,7% 21% 12,6% 9,5% Theo anh (chị), việc học thơ Đường có giúp ích gì cho học sinh trong việc cảm thụ văn học trong nước không? Có ích Không có ích Không có ý kiến 33/38 2/38 3/38 86,8% 5,3% 7,9% Theo anh (chị), thơ Đường có ảnh hưởng đến văn học Việt Nam không? Có ảnh hưởng Không ảnh hưởng Không có ý kiến 35/38 1/38 2/38 92,1% 2,6% 5,3% Việc giảng dạy thơ Đường trước 1975 và hiện nay có gì khác? Giống nhau Khác nhau Không có ý kiến 25/38 6/38 7/38 65,8% 15,8% 18,4% Những bài thơ Đường nào trong chương trình giảng dạy mà anh (chị) thích? Hoàng hạc lâu tống mạnh hạo nhiên chi QL (LB) Hoàng hạc lâu (Thôi Hiệu) Thu hứng (Đỗ Phủ) Tì bà hành (Bạch Cư Dị) 30/60 15/60 7/60 5/60 50% 25% 11,67% 8,33% Xuân Vọng (Đỗ Phủ), Khuê oán (Vương Xương Linh), Điều minh giản (Vương Duy) 3/60 5% Những bài thơ Đường nào ngoài chương trình giảng dạy mà anh (chị) thích: Đăng cao (Đỗ Phủ) Xuân oán (Kim Xuân Tự) Tĩnh dạ tư (Lí Bạch) Vọng lư sơn bộc bố (Lí Bạch), Tương tiến tửu (Lí Bạch), Hạc hành ca (Bạch Cư Dị), Tiết phụ ngâm (Trương Tịch), Đăng u châu đài ca (Triều Tử Ngang), Hồi hương ngẫu thư (Hạ Tri Chương), Đề tích số kiến xứ (Thôi Hộ), Lương châu (Tư Vương Hàn). 14/33 5/33 3/33 11/33 42,42% 15,15% 9,09% 33,33% - Số phiếu: 38 phiếu. - Số đơn vị khảo sát: 5 trường gồm: quận 3 (2 trường), quận 1 (1 trường), quận 10 (1 trường) và quận 4 (1 trường). Trong đó: + Quận 3: Trường THPT Lê Quí Đôn (5 phiếu), Nguyễn Thị Minh Khai (14 phiếu) + Quận 1: Trường THPT Lê Thánh Tôn (8 phiếu). + Quận 10: Trường THPT Hùng Vương (6 phiếu). + Quận 4: Trường THPT Nguyễn Trãi (5 phiếu). _____________________ Tổng hợp kết quả điều tra học sinh cấp trung học cơ sở Nội dung câu hỏi Nội dung trả lời Số lượng Tỉ lệ Em có thích học thơ Đường không? Có Không 212/246 34/246 86,2% 13,8% Nêu tên và tác giả của các bài thơ Đường trong chương trình học mà em thích Hiểu sai Đúng 51/246 195/246 20,7% 79,3% Khi đọc một bài thơ Đường, em có hiểu nội dung và nghệ thuật qua văn bản không? Có Không Không đầy đủ 152/246 12/246 82/246 61,8% 4,9% 33,3% Phiên âm 127/246 51,6% Em thích học thơ Đường qua bản: Dịch thơ Dịch nghĩa 99/246 20/246 40,2% 8,1% So sánh thơ Đường và thơ Việt Nam, em thấy thơ Đường: Dễ hơn. Khó hơn. Như nhau. 33/246 122/246 91/246 13,4% 49,6% 37% Em hãy nêu việc chuẩn bị bài ở nhà của một bài thơ Đường Có chuẩn bị Không chuẩn bị 223/246 23/246 90,7% 9,3% Em có thuộc bài thơ Đường nào không? Thuộc thơ Không thuộc 186/246 60/246 75,6% 24,4% Tên và tác giả các bài thơ Đường mà em thuộc lòng: Vọng lư sơn bộc bố (Lí Bạch) Tỉnh dạ tư (Lí Bạch) Hồi hương ngẫu thư (Hạ Tri Chương) Mao ốc vị thu phong sở phá ca (Đỗ Phủ) 182/630 175/630 158/630 115/630 28,9% 27,8% 25,1% 18,2% Tổng số phiếu điều tra: 246 phiếu Trong đó: Quận 3: Trường THCS Hai Bà Trưng (101 phiếu) Quận 6: Trường THCSBC Lam Sơn (145 phiếu) _____________________ Tổng hợp kết quả điều tra học sinh cấp trung học phổ thông Nội dung câu hỏi Nội dung trả lời Số lượng Tỉ lệ Em có thích học thơ Đường không? Có Không 113/196 83/196 57,7% 42,3% Nêu tên và tác giả của các bài thơ Đường trong chương trình học mà em thích Hiểu sai Đúng 5/165 160/165 3% 97% Khi đọc một bài thơ Đường, em có hiểu nội dung và nghệ thuật qua văn bản không? Có Không Không đầy đủ 26/196 21/196 149/196 13,3% 10,7% 76% Em thích học thơ Đường qua bản: Phiên âm Dịch thơ Dịch nghĩa 84/196 91/196 21/196 42,9% 46,4% 10,7% So sánh thơ Đường và thơ Việt Nam, em thấy thơ Đường: Dễ hơn. Khó hơn. Như nhau. 8/196 160/196 28/196 4,1% 81,6% 14,3% Em hãy nêu việc chuẩn bị bài ở nhà của một bài thơ Đường Có chuẩn bị Không chuẩn bị 179/196 17/196 91,3% 8,7% Em có thuộc bài thơ Đường nào không? Thuộc thơ Không thuộc 175/196 21/196 89,3% 10,7% Tên và tác giả các bài thơ Đường mà em thuộc lòng: Hoàng hạc lâu (Thôi Hiệu) Thu hứng (Đỗ Phủ) Hoàng hạc lâu tống tiển Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng Tĩnh dạ tư (Lí Bạch) Khuê oán (Vương Xương Linh) Vọng lư sơn bộc bố (Lí Bạch) Xuân hiểu (Mạnh Hạo Nhiên) Thạch hào lại (Đỗ Phủ), Đăng cao (Đỗ Phủ), Tảo phát bạch đế hành (Lí Bạch), Mao ốc vị thu phong sở phá ca (Đỗ Phủ), Hành lộ nan (Đỗ Phủ), Hồi hương ngẫu thư (Hạ Tri Chương), Tuyệt cú (Đỗ Phủ), Thái liên khúc (Lí Bạch) 130/381 84/381 69/381 26/381 26/381 19/381 8/381 19/381 34,1% 22% 18,1% 6,8% 6,8% 5% 2,1% 5% Tổng số phiếu điều tra : 196 phiếu Trong đó: Quận 5: Trường THPT Hùng Vương (101 phiếu) Quận 3: Trường THPT Lê Quí Đôn (95 phiếu) _____________________ ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLA7212.pdf