Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty cổ phần Xây dựng số 2 Yên Bái

Lời mở đầu Trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang phát triển theo cơ chế thị trường, các doanh nghiệp dù là doanh nghiệp Nhà nước hay doanh nghiệp thành lập theo Luật doanh nghiệp đều phải tự hạch toán lấy thu nhập để bù đắp chi phí. Hiệu quả sản xuất kinh doanh là vấn đề sống còn của tất cả các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp xây dựng cơ bản nói riêng. Song trên thực tế, tỉ lệ thất thoát vốn đầu tư xây dựng cơ bản còn tương đối cao do chưa quản lý tốt chi phí. Chi phí sản xuất là yếu

doc89 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1242 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty cổ phần Xây dựng số 2 Yên Bái, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phải luôn được coi trọng đúng mức. Sau hơn ba tháng thực tập tại Công ty cổ phần Xây dựng số 2 Yên Bái, em đã nhận thấy được tầm quan trọng của công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp. Đây là một chỉ tiêu chất lượng quan trọng trong kinh doanh, qua đó có thể đánh giá được trình độ quản lý kinh doanh, tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp và là một công cụ hữu hiệu để nhà quản lý thực hiện đánh giá, phân tích các hoạt động sản xuất kinh doanh tìm ra các mặt mạnh, mặt yếu để có phương hướng, biện pháp phát huy những điểm mạnh, và hạn chế, khắc phục những điểm yếu. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, em đã hoàn thành Luận văn tốt nghiệp với đề tài: "Công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty cổ phần Xây dựng số 2 Yên Bái". Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 phần chính: Phần I: Lý luận chung về công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp. Phần II: Thực trạng công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Xây dựng số 2. Phần III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Xây dựng số 2. Phần i Lý luận chung về hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp. I. Đặc điểm hoạt động kinh doanh xây lắp có ảnh hưởng đến công tác hạch toán kế toán. Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất mang tính chất công nghiệp có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Sản phẩm xây lắp có đặc điểm riêng biệt khác với ngành sản xuất khác và có ảnh hưởng đến tổ chức kế toán. Sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trúc… có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian kéo dài… đòi hỏi phải lập dự toán, mua bảo hiểm để giảm bớt rủi ro. Ngoài ra sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thoả thuận giữa đơn vị nhận thầu và giao thầu nên tính chất hàng hoá của sản phẩm thể hiện không rõ. Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất, còn các điều kiện để sản xuất phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm làm cho công tác quản lý sử dụng và hạch toán tài sản, vật tư rất phức tạp. Quá trình thi công công trình thường được chia thành nhiều giai đoạn, nhiều công việc khác nhau, đòi hỏi phải được giám sát chặt chẽ, đảm bảo chất lượng công trình và hạch toán định kỳ khối lượng công việc hoàn thành. Vì vậy, để phục vụ cho công tác quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp, công tác hạch toán kế toán phải được tổ chức một cách phù hợp với đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản, thực hiện nghiêm túc chế độ kế toán do Nhà nước ban hành. II. Chi phí sản xuất trong đơn vị xây lắp Khái niệm, bản chất của chi phí sản xuất. Trong doanh nghiệp xây lắp, quá trình sản xuất là quá trình vận động và tiêu hao các yếu tố cơ bản để tạo nên các sản phẩm xây dựng. Các yếu tố cơ bản trong quá trình sản xuất xây lắp bao gồm: Tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Như vậy, để tiến hành sản phẩm xây lắp, doanh nghiệp phải bỏ ra chi phí về thù lao lao động, về tư liệu lao động và đối tượng lao động được gọi chung là chi phí sản xuất. Vậy chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp là toàn bộ những chi phí về lao động sống, lao động vật hoá trong quá trình sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp. Phân loại chi phí sản xuất. Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố. Theo cách phân loại này, căn cứ vào nội dung kinh tế và tính chất của chi phí sản xuất khác nhau để sắp xếp, phân loại. Những chi phí sản xuất có cùng một nội dung kinh tế được sắp xếp chung vào một yếu tố mà không phân biệt chi phí đó phát sinh từ lĩnh vực hoạt động sản xuất nào. Vì vậy, cách phân loại này còn được gọi là cách phân loại theo yếu tố. Các yếu tố đó là: - Yếu tố nguyên liệu, vật liệu, động lực: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ,... sử dụng vào sản xuất kinh doanh xây lắp (loại trừ giá trị vật liệu dùng không hết nhập kho và phế liệu thu hồi). - Yếu tố tiền lương và các khoản phụ cấp theo lương: Phản ánh tổng số tiền lương và phụ cấp mang tính chất lương phải trả cho công nhân viên chức. - Yếu tố bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn: Các khoản này được trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương và phụ cấp lương phải trả cho công nhân viên chức. - Yếu tố khấu hao tài sản cố định: Gồm toàn bộ số tiền khấu hao tài sản cố định phải trích trong kỳ cho tất cả tài sản cố định sử dụng cho sản xuất của doanh nghiệp. - Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp chi trả cho các nhà cung cấp về các dịch vụ mua ngoài như: tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại,… phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Yếu tố chi phí khác bằng tiền: Bao gồm toàn bộ các chi phí dùng cho hoạt động sản xuất ngoài các yếu tố đã kể trên như chi phí tiếp khách, quảng cáo, các loại thuế,… Việc phân loại chi phí theo tiêu thức này có tác dụng thiết thực đối với công tác kế toán cũng như trong công tác quản lý chi phí sản xuất, nó cho biết tỷ trọng của từng yếu tố chi phí sản xuất để phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất, làm tài liệu tham khảo để lập dự toán chi phí sản xuất, lập kế hoạch cung ứng vật tư,…. Phân loại theo khoản mục chi phí. Theo tiêu thức phân loại này, căn cứ vào mục đích và công dụng của chi phí trong sản xuất để chia ra các khoản mục chi phí khác nhau, mỗi khoản mục chi phí bao gồm những chi phí có cùng mục đích và công dụng, không phân biệt chi phí có nội dung, tính chất kinh tế như thế nào. Toàn bộ chi phí sản xuất được phân thành các khoản mục chi phí sau: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là chi phí của các vật liệu chính, vật liệu phụ, vật kết cấu, giá trị thiết bị kèm theo vật kiến trúc… cần thiết để tham gia cấu thành thực thể sản phẩm xây lắp. - Chi phí nhân công trực tiếp: Là những chi phí về tiền lương chính, lương phụ, phụ cấp lương của công nhân trực tiếp sản xuất ra sản phẩm xây lắp, không tính vào khoản mục này số tiền công và các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của công nhân trực tiếp xây lắp. - Chi phí sử dụng máy thi công: Là chi phí cho các máy thi công nhằm thực hiện khối lượng công tác xây lắp bằng máy. - Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí dùng cho hoạt động sản xuất chung ở các đội, công trường xây dựng như: lương nhân viên quản lý đội, các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý đội và công nhân trực tiếp xây lắp, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ mua ngoài,… Phân loại chi phí sản xuất theo tiêu thức này có tác dụng phục vụ cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định mức, cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, làm tài liệu tham khảo để lập định mức chi phí sản xuất và lập kế hoạch giá thành sản phẩm cho kỳ sau. 2.3 Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với khối lượng công việc, sản phẩm hoàn thành. Để thuận lợi cho việc lập kế hoạch và kiểm tra chi phí, đồng thời làm căn cứ để đề ra các quyết định kinh doanh, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh lại được phân theo quan hệ với khối lượng công việc hoàn thành. Theo cách này chi phí được chia thành biến phí và định phí: - Biến phí (chi phí khả biến): Là các khoản chi phí thay đổi về tổng số so với khối lượng công việc hoàn thành. Trong thực tế, những chi phí thuộc loại này thường là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, tiền lương công nhân trực tiếp sản xuất, … Chi phí khả biến tăng lên về tổng số khi số lượng sản phẩm sản xuất ra tăng lên nhưng nếu tính cho một đơn vị sản phẩm thì chi phí này gần như không đổi. - Định phí (chi phí bất biến): Là những chi phí không thay đổi về tổng số khi khối lượng công việc hoàn thành thay đổi trong một phạm vi nhất định. Những chi phí thuộc loại này thường là chi phí khấu hao tài sản cố định, tiền lương của nhân viên quản lý, tiền thuê nhà xưởng, … - Chi phí hỗn hợp: Là chi phí bao gồm cả các yếu tố của chi phí khả biến và chi phí bất biến. Thuộc chi phí này có các chi phí như: chi phí điện thoại, chi phí sửa chữa thường xuyên tài sản cố định,… Ngoài các cách phân loại trên thì có thể phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ chi phí sản xuất và đối tượng tập hợp chi phí (chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp), phân loại theo chức năng chi phí trong sản xuất kinh doanh (chi phí sản xuất, chi phí bán hàng, chi phí quản lý). Như vậy, có thể nói mỗi cách phân loại chi phí đều có những tác dụng nhất định trong công tác quản lý, hạch toán chi phí ở doanh nghiệp. 3. Đối tượng và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất: Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn mà chi phí sản xuất cần phải tập hợp nhằm đáp ứnh yêu cầu kiểm tra, giám sát chi phí và yêu cầu tính giá thành. Việc xác định chi phí sản xuất là khâu đầu tiên cần thiết của kế toán tập hợp chi phí sản xuất. Có xác định đúng đắn đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất mới giúp cho doanh nghiệp tổ chức tốt nhất công việc kế toán tập hợp chi phí. Để xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất, trước hết phải căn cứ vào đặc điểm và công dụng chi phí trong sản xuất. ở doanh nghiệp xây lắp, tùy theo cơ cấu tổ chức sản xuất, yêu cầu và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh mà đối tượng hạch toán chi phí có thể là hạng mục công trình, các giai đoạn công việc của hạng mục công trình, hoặc nhóm các hạng mục công trình…, từ đó xác định phương pháp hạch toán chi phí sản xuất. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phương pháp hay hệ thống các phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất trong phạm vi giới hạn của đối tượng hạch toán chi phí. Phương pháp trực tiếp: Các chi phí sản xuất phát sinh liên quan đến đối tượng nào (công trình hay hạng mục công trình…) thì hạch toán trực tiếp cho đối tượng đó. Phương pháp này chỉ áp dụng được khi chi phí có thể tập hợp trực tiếp cho đối tượng chịu phí. Phương pháp hạch toán theo đơn đặt hàng: Toàn bộ các chi phí phát sinh đến đơn đặt hàng nào thì được hạch toán tập hợp riêng cho đơn đặt hàng đó. Khi đơn đặt hàng hoàn thành thì được hạch toán tập hợp riêng cho đơn đặt hàng đó. Khi đơn đặt hàng hoàn thành thì tổng số chi phí phát sinh từ khi khởi công đến khi hoàn thành được hạch toán riêng theo đơn đặt hàng đó là giá thành thực tế của đơn đặt hàng. Phương pháp hạch toán theo từng bộ phận xây lắp: Các bộ phận sản xuất xây lắp như công trường của các đội, tổ thi công thường thực hiện theo phương pháp này. Theo phương pháp này, các đội có thể nhận khoán một khối lượng xây lắp nhất định theo hợp đồng khoán gọn. Do đó, việc hạch toán chi phí phát sinh theo từng bộ phận sản xuất phù hợp với giá khoán khối lượng xây lắp đã thực hiện trong kỳ. III. Tính giá thành sản phẩm xây lắp Khái niệm, bản chất của giá thành sản phẩm Trong quá trình sản xuất, doanh nghiệp xây lắp phải bỏ ra các khoản chi phí sản xuất, mặt khác kết quả sản xuất của doanh nghiệp thu được là những sản phẩm, công việc xây lắp đã hoàn thành. Những sản phẩm, công việc xây lắp đã hoàn thành này cần phải được thể hiện giá trị của mình qua chỉ tiêu giá thành tức là những chi phí bỏ ra để sản xuất ra chúng Giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền về lao động sống và lao động vật hoá phát sinh trong quá trình sản xuất có liên quan đến khối lượng xây lắp đã hoàn thành. Giá thành sản phẩm xây lắp cao hay thấp sẽ phản ánh mọi mặt của doanh nghiệp xây lắp: trình độ kỹ thuật thi công, trình độ tổ chức sản xuất thi công, tình hình sử dụng thiết bị, vật tư lao động… Như vậy, tất cả các mặt hoạt động, các biện pháp quản lý xây lắp đem lại hiệu quả cao hay thấp đều thể hiện ở chỉ tiêu giá thành sản phẩm xây lắp. Hạ giá thành sản phẩm xây lắp là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong sản xuất xây lắp, là cơ sở để nâng cao tích luỹ một cách vững chắc, đảm bảo các phương tiện cần thiết để tái sản xuất mở rộng, nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên. Phân loại giá thành sản phẩm Trong sản xuất xây lắp, cần phân biệt các loại giá thành công tác xây lắp: Giá thành dự toán: Là tổng số chi phí dự toán để hoàn thành khối lượng xây lắp công trình. Giá thành được xác định theo định mức và khung giá quy định áp dụng cho từng vùng lãnh thổ. Giá thành dự toán nhỏ hơn giá trị dự toán công trình ở phần thu nhập chịu thuế tính trước. Giá thành kế hoạch: Là giá thành xác định từ những điều kiện cụ thể ở mỗi đơn vị xây lắp trên cơ sở biện pháp thi công, các định mức, đơn giá áp dụng trong đơn vị. Mối liên hệ giữa giá thành kế hoạch và giá thành dự toán: Giá thành kế hoạch = Giá thành dự toán – Mức hạ giá thành dự toán Giá thành thực tế: Là toàn bộ các chi phí thực tế để hoàn thành bàn giao khối lượng xây lắp mà đơn vị đã nhận thầu, giá thành thực tế được xác định theo số liệu kế toán. Mối quan hệ giữa ba chỉ tiêu giá thành trên: Giá thành dự toán Giá thành kế hoạch Giá thành thực tế Đối tượng và phương pháp tính giá thành sản phẩm. Xác định đối tượng tính giá thành là khâu đầu tiên quan trọng trong toàn bộ công tác tính giá thành sản phẩm xây lắp của kế toán. Doanh nghiệp phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất của đơn vị mình để xác định đối tượng tính giá thành cho phù hợp. Trong xây dựng cơ bản, do tổ chức sản xuất mang tính đơn chiếc, mỗi sản phẩm xây lắp phải có một dự toán thiết kế riêng nên đối tượng tính giá thành có thể là các hạng mục công trình đã hoàn thành, các giai đoạn công việc đã hoàn thành, khối lượng xây lắp có tính dự toán riêng đã hoàn thành … từ đó xác định các phương pháp tính giá thành phù hợp: Phương pháp tính trực tiếp, phương pháp tổng cộng chi phí, phương pháp hệ số hoặc tỷ lệ… Phương pháp trực tiếp: Đây là phương pháp được áp dụng khá phổ biến trong các doanh nghiệp xây lắp vì sản phẩm xây lắp mang tính đơn chiếc và đối tượng tập hợp chi phí thường trùng với đối tượng tính giá thành. Giá thành theo phương pháp này được xác định như sau: Giá thành thực tế = Giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ + Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ - Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ Phương pháp tổng cộng chi phí : Phương pháp này thích hợp với việc xây lắp các công trình lớn và phức tạp, quá trình xây lắp sản phẩm có thể chia thành nhiều giai đoạn sản xuất khác nhau. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là từng đội sản xuất, còn đối tượng tính giá thành là sản phẩm cuối cùng. Theo phương pháp này, giá thành được xác định theo công thức sau: Giá thành thực tế = Giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ + CP1 + CP2 + CP3 … - Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ Trong đó: CP1, CP2, CP3,… là chi phí sản xuất các khối lượng công việc ở các giai đoạn, đội thi công. Phương pháp hệ số: Phương pháp này được áp dụng trong những doanh nghiệp mà trong cùng một quá trình sản xuất cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và một lượng lao động nhưng thu được đồng thời nhiều sản phẩm khác nhau và chi phí không tập hợp riêng cho từng loại sản phẩm được mà phải tập hợp chung cho cả quá trình sản xuất. Theo phương pháp này, kế toán căn cứ vào hệ số quy đổi để quy đổi các loại sản phẩm về loại sản phẩm gốc, rồi từ đó dựa vào tổng chi phí liên quan đến giá thành các loại sản phẩm đã tập hợp để tính ra giá thành cho từng loại sản phẩm: Giá thành đơn vị sản phẩm gốc = Tổng giá thành của tất cả các loại sản phẩm Tổng số sản phẩm gốc đã quy đổi (Qo) Giá thành thực tế sản phẩm i(Zi) = Giá thành đơn vị sản phẩm gốc x Hệ số quy đổi sản phẩm i (Hi) Tổng số sản phẩm gốc quy đổi (Qo) = ồ Qi. Hi Trong xây lắp có những trường hợp chi phí sản xuất tập hợp theo công trình nhưng giá thành thực tế phải tính riêng cho từng hạng mục công trình, kế toán có thể căn cứ vào chi phí sản xuất của cả nhóm hoặc hệ số kinh tế kỹ thuật đã quy định cho từng hạng mục công trình để tính giá thành thực tế cho hạng mục công trình đó. IV. Hạch toán tập hợp chi phí sản xuất. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Hạch toán ban đầu Để hạch toán chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp, theo quyết định số 1141TC/QĐ/CĐKT ngày 1/11/1995 và quyết định số 1864/1998/QĐ/BTC ngày 16/12/1998 của Bộ Tài chính. Nguyên vật liệu xuất dùng cho sản xuất cơ bản theo hai trường hợp: * Trường hợp xuất vật liệu từ kho, chuyển sang cho các đội thi công xây lắp. Khi đó các chứng từ bao gồm: - Phiếu xuất kho hay Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ. - Lệnh điều động vật tư. - Biên nhận giao hàng. * Trường hợp mua hàng vận chuyển thẳng: các chứng từ bao gồm - Hoá đơn mua hàng thông thường hoặc Hoá đơn giá trị gia tăng. - Các chứng từ chi khác bằng tiền. Sau khi vật liệu đã thực xuất cho các đội thi công xây dựng công trình, kế toán vật tư ghi " Bảng kê hàng mua về không nhập kho, dùng cho sản xuất", cuối tháng lập " Bảng phân bổ vật tư công cụ dụng cụ" phục vụ cho kế toán tập hợp chi phí trong kỳ. Hạch toán chi tiết Kế toán mở sổ (hoặc thẻ) kế toán chi tiết chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chi tiết cho từng đội, tổ sản xuất sản phẩm xây lắp hoặc cho từng công trường xây dựng. Điều này phụ thuộc vào các công trình mà doanh nghiệp nhận thầu có tính dài hạn hay ngắn hạn. Nếu doanh nghiệp chuyên nhận thầu xây lắp những công trình vừa và nhỏ thì thường kế toán theo dõi chi tiết chi phí theo từng công trình hay hạng mục công trình, từ đó phục vụ cho việc tính giá thành trực tiếp cho công trình đó được dễ dàng. Nếu doanh nghiệp chuyên nhận thầu những công trình có thời gian thi công kéo dài, kỹ thuật phức tạp… kế toán theo dõi chi tiết cho từng đội thi công, đến kỳ tính giá thành mới tiến hành phân bổ chi phí cho từng công trình để tính giá thành thực tế. Hạch toán tổng hợp Tài khoản kế toán sử dụng là Tài khoản 621- Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp, được mở chi tiết cho từng đội sản xuất hoặc cho từng công trình, hạng mục công trình xây lắp. Phương pháp hạch toán: TKIII, 112, 331, 152, 151… TK 621 ( chi tiết ) TK 154 Vật liệu dùng trực tiếp cho công trường thi công Kết chuyển chi phí NVLTT Vật liệu dùng không hết nhập kho TK 152 Sơ đồ 1:Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp 2.1. Hạch toán ban đầu Các chứng từ ban đầu dùng để hạch toán chi phí nhân công trực tiếp bao gồm: Bảng chấm công, hợp đồng làm khoán, bảng phân bổ tiền lương, bảng thanh toán lương, các chứng từ chi khác bằng tiền… 2.2. Hạch toán chi tiết Tương tự như hạch toán chi tiết chi phí nguyên vật liệu, kế toán mở sổ (thẻ) kế toán chi tiết theo dõi chi tiết tới từng đối tượng hạch toán chi phí như: công trình, hạng mục công trình, đội xây dựng… 2.3. Hạch toán tổng hợp Tài khoản kế toán sử dụng: tài khoản 622- Chi phí nhân công trực tiếp. Tài khoản này được mở chi tiết cho tường đối tượng hạch toán chi phí như đã nêu trên. Phương pháp hạch toán: TK 334, 111 TK 622 TK 154 Tiền lương phải trả công Kết chuyển chi phí nhân nhân trực tiếp sản xuất công trực tiếp TK 141 Quyết toán tạm ứng Sơ đồ 2: Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công 3.1 Hạch toán ban đầu Chứng từ để hạch toán ban đầu chi phí sử dụng máy thi công gồm có: Phiếu xuất kho (về xuất vật liệu sử dụng máy), bảng chấm công của nhân viên điều khiển máy, bảng phân bổ khấu hao, bảng phân bổ công cụ dụng cụ, bảng phân bổ tiền lương, hợp đồng làm khoán, hợp đồng thuê máy thi công, hoá đơn giá trị gia tăng, … 3.2 Hạch toán chi tiết Tuỳ thuộc vào điều kiện sản xuất của doanh nghiệp mà kế toán theo dõi chi tiết khoản mục chi phí này cho từng công trình, hạng mục công trình, đội sản xuất, đội máy thi công. Trường hợp máy thi công dùng cho công trình nào thì không chuyển sang dùng cho công trình khác thì kế toán theo dõi chi phí máy thi công chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình. Trường hợp doanh nghiệp có tổ chức đội máy thi công riêng thì kế toán tiến hành theo dõi chi tiết cho từng đội máy thi công, đến cuối kỳ phân bổ chi phí sử dụng máy cho từng công trình, hạng mục công trình để tính giá thành. Trường hợp doanh nghiệp không tổ chức đội máy thi công riêng mà giao máy cho các đội sản xuất hoặc thuê ngoài thì kế toán tiến hành theo dõi chi tiết chi phí máy thi công cho từng đội sản xuất. Cuối kỳ, kế toán tiến hành phân bổ chi phí cho từng công trình để tính giá thành. 3.3 Hạch toán tổng hợp Tài khoản sử dụng; Tài khoản 623 - Chi phí sử dụng máy thi công. Tài khoản này được mở chi tiết cho từng đối tượng hạch toán chi phí. Phương pháp hạch toán: Trường hợp máy thi công thuê ngoài: TK 331, 111, 112… TK 623 TK 154 Chi phí thuê máy thi công Kết chuyển chi phí sử dụng máy thi công TK 133 Thuế GTGT được khấu trừ Sơ đồ 3: Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công Trường hợp máy thuê ngoài Trường hợp đội xây lắp có máy thi công riêng: TK 334, 111 TK 623 TK 154 Tiền lương công nhân sử dụng máy thi công Kết chuyển chi phí sử TK 214, 152, 153 … dụng máy thi công Nguyên vật liệu, công cụ, khấu hao máy thi công TK 111, 331 Chi phí dịch vụ mua ngoài Sơ đồ 4: Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công Trường hợp đội xây lắp có máy thi công riêng Trường hợp doanh nghiệp tổ chức đội thi công riêng: Toàn bộ chi phí liên quan đến máy thi công được tập hợp trên các tài khoản 621, 622, 627 riêng chi tiết đội máy thi công. Cuối kỳ tập hợp chi phí vào tài khoản 154 để tính giá thành cho từng công trình: TK 111, 152, 153 TK 621 TK 154 Nguyên vật liệu, công cụ Kết chuyển chi phí nguyên dụng cụ dụng máy vật liệu dùng cho máy TK 334, 111 TK 622 Lương nhân viên sử dụng Kết chuyển chi phí nhân điều khiển máy viên điều khiển máy TK 214 TK 627 Khấu hao tài sản cố định Kết chuyển chi phí dùng chung cho đội máy thi công TK 111, 331 Chi phí dịch vụ mua ngoài Sơ đồ 5: Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công Trường hợp doanh nghiệp tổ chức đội máy thi công riêng Nếu doanh nghiệp thực hiện phương thức cung cấp lao vụ máy lẫn nhau giữa các bộ phận, kế toán ghi: Nợ TK 623: Giá trị sử dụng máy thi công Có TK 154: Chi tiết đội thi công Nếu doanh nghiệp thực hiện theo phương thức bán lao vụ máy lẫn nhau giữa các bộ phận, kế toán ghi: Nợ TK 623 Nợ TK 133 Có TK 511, 512 Có TK 3331 Hạch toán chi phí phải trả Chi phí phải trả là những khoản chi phí thực tế chưa phát sinh nhưng được ghi nhận là chi phí của kỳ hạch toán. Đây là những khoản chi phí trong kế hoạch của đơn vị mà đặc biệt do tính chất sản xuất sản phẩm xây lắp phức tạp, kéo dài và yêu cầu quản lý sản xuất chặt chẽ nên được tính trước vào chi phí kinh doanh cho các đối tượng chịu chi phí nhằm đảm bảo cho giá thành sản phẩm xây lắp, chi phí bán hàng, quản lý khỏi đột biến tăng khi những khoản chi phí này phát sinh. Do vậy, chứng từ hạch toán ban đầu chi phí phải trả của doanh nghiệp là các chứng từ liên quan đến những khoản chi phí trích trước theo kế hoạch được hạch toán trong kỳ như: Bảng thanh toán lương, hợp đồng lãi vay sắp đến hạn trả, các bảng kê vật liệu, nhiên liệu,… yêu cầu cho việc thi công sắp tới… Các khoản chi phí phải trả được theo dõi trên tài khoản 335- Chi phí phải trả. Về nguyên tắc, tài khoản này cuối năm không có số dư, trừ những trường hợp được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận. Phương pháp hạch toán: TK 334 TK 335 TK 622 Tiền lương phép, lương Tính trước lương phép, lương ngừng việc thực tế p.trả ngừng việc của công nhân sx TK 241, 331, 111, 112 Các chi phí phải trả khác TK 627, 641, 642 thực tế phát sinh Trích trước chi phí phải trả vào TK 721 chi phí kinh doanh Kết chuyển khoản chênh lệch giữa chi phí phải trả thực tế với kế hoạch Sơ đồ 6: Hạch toán chi phí phải trả Hạch toán chi phí trả trước Chi phí trả trước là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng chưa tính hết vào chi phí sản xuất kinh doanh của kỳ này mà được tính cho hai hay nhiều kỳ sau. Do đó, chứng từ hạch toán ban đầu chi phí trả trước gồm: các chứng từ liên quan đến phân bổ công cụ dụng cụ, hợp đồng sửa chữa lớn tài sản cố định ngoài kế hoạch, hoá đơn mua ngoài dịch vụ trả trước… Để theo dõi khoản chi phí trả trước, kế toán sử dụng tài khoản 142- Chi phí trả trước. Phương pháp hạch toán: TK 111,112, 331,334 TK 142, 242 TK 627, 641, 642, 214 Chi phí trả trước thực tế Phân bổ dần chi phí trả trước phát sinh TK 641, 642 TK 911 Kết chuyển chi phí bán hàng Kết chuyển dần chi phí bán và chi phí quản lý hàng, chi phí quản lý vào TK xác định kết quả Sơ đồ 7: Hạch toán chi phí trả trước Hạch toán thiệt hại trong sản xuất Thiệt hại trong sản xuất xây lắp bao gồm thiệt hại về phá đi làm lại và thiệt hại ngừng sản xuất. Đối với thiệt hại phá đi làm lại, kế toán tập hợp toàn bộ thiệt hại vào tài khoản 1381 hoặc 627, 1421…: TK 1381 TK 111, 152 Giá trị phế liệu thu hồi TK 1388, 334 Giá trị cá nhân bồi thường TK 131 Giá trị chủ đầu tư đồng ý bồi thường TK 811, 415 Giá trị tính vào chi phí bất thường và tính vào dự phòng Sơ đồ 8: Hạch toán khoản thiệt hại phá đi làm lại Nếu thiệt hại phát sinh trong thời gian bảo hành sản phẩm thì chi phí thiệt hại được tập hợp riêng trên tài khoản 621, 622, 627. Khi việc bảo hành hoàn thành, toàn bộ chi phí sẽ được tập hợp vào tài khoản 154. Sau đó sẽ được kết chuyển như sau: Sơ đồ 10: Hạch toán chi phí thiệt hại ngừng sản xuất ngoài kế hoạch TK 154 TK 641 Chi phí bảo hành trường hợp không trích trước TK 335 Chi phí bảo hành có trích trước Sơ đồ 9a: Hạch toán kết chuyển chi phí thiệt hại Trường hợp doanh nghiệp thuê ngoài bảo hành, các khoản phải trả cho người bảo hành: TK 331, 111, 112 TK 335, 641 Chi phí bảo hành TK 133 Thuế GTGT đầu vào (nếu có) Sơ đồ 9b: Hạch toán kết chuyển chi phí thiệt hại Đối với thiệt hại ngừng sản xuất, trong thời gian ngừng sản xuất, doanh nghiệp vẫn phải duy trì hoạt động như tiền công lao động, khấu hao tài sản cố định, chi phí bảo dưỡng… Nếu những khoản chi phí về thiệt hại ngừng sản xuất theo kế hoạch dự kiến thì kế toán đã theo dõi ở tài khoản 335; nếu những khoản chi phí này nằm ngoài kế hoạch thì kế toán hạch toán theo sơ đồ sau: TK 334, 338, 152 TK 142 TK 138, 334 214, 111… Giá trị bồi thường Chi phí thiệt hại thực tế TK 811 phát sinh Tính vào chi phí khác Hạch toán chi phí sản xuất chung 7.1 Hạch toán ban đầu Chứng từ sử dụng để hạch toán ban đầu chi phí sản xuất chung: Bảng chấm công, bảng thanh toán tiền lương (dùng cho nhân viên quản lý đội), bảng thanh toán Bảo hiểm xã hội, bảng phân bổ khấu hao, các loại chứng từ khác có liên quan tới hoạt động chung của đội sản xuất. 7.2 Hạch toán chi tiết Thông thường, kế toán mở sổ chi tiết theo dõi chi phí sản xuất chung chi tiết theo yếu tố chi phí, sau đó phân bổ cho từng công trình theo tiêu thức phù hợp. Ngoài ra, kế toán có thể mở sổ chi tiết theo dõi cho từng đội, tổ thi công, sau đó thực hiện phân bổ cho từng công trình hoặc có thể theo dõi chi tiết cho từng công trình nếu mỗi công trình chỉ do một đội thi công và đội thi công đó chỉ thi công một công trình. 7.3 Hạch toán tổng hợp Tài khoản sử dụng: kế toán sử dụng tài khoản 627- Chi phí sản xuất chung để tập hợp. Tài khoản này được chia thành các tài khoản cấp hai, tương ứng với các yếu tố chi phí để phục vụ cho việc tập hợp chi phí được dễ dàng. Phương pháp hạch toán: TK 334, 338 TK 627 TK 111, 112, 152… Chi phí nhân viên quản lý Các khoản ghi giảm chi đội, các khoản trích theo lương phí sản xuất chung TK 152, 153 TK 154 Chi phí vật liệu, dụng cụ Kết chuyển chi phí sản xuất TK 142, 335 chung Chi phí theo dự toán TK 111, 112… Các chi phí sản xuất chung khác Sơ đồ 11: Hạch toán chi phí sản xuất chung Hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất, kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang. 8.1 Hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất. Kế toán căn cứ vào các bảng phân bổ, bảng kê chi phí… để hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất. Kế toán sử dụng tài khoản 154- Chi phí sản xuất- kinh doanh dở dang để tập hợp chi phí sản xuất. Tài khoản này được mở chi tiết cho từng đối tượng hạch toán chi phí như đã nêu trên. Phương pháp hạch toán: TK 621 TK 154 TK 138, 334, 811, 131 Kết chuyển chi phí NVLTT Các khoản thiệt hại ghi giảm chi phí TK 622 TK 155, 152 Kết chyển chi phí NCTT Nhập kho TK 623 TK 157 Kết chuyển chi phí sử dụng Giá thành thực tế Gửi bán máy thi công TK 627 TK 632 Kết chuyển chi phí SXC Tiêu thụ Sơ đồ 12: Hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất kinh doanh 8.2 Kiểm kê, đánh giá sản phẩm dở dang Định kỳ hàng tháng, doanh nghiệp xây lắp phải tiến hành kiểm kê khối lượng công việc xây lắp hoàn thành hay dở dang để phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm xây dựng. Phương pháp đáng giá sản phẩm dở dang trong doanh nghiệp xây lắp phụ thuộc vào phương thức thanh toán khối lượng xây lắp giữa bên nhận thầu và chủ đầu tư. Nếu sản phẩm xây lắp được thanh toán khi đã hoàn thành toàn bộ thì giá trị sản phẩm dở dang là tổng chi phí phát sinh từ lúc khởi công đến cuối kỳ đó. Nếu sản phẩm xây lắp được thanh toán theo điểm dừng kỹ thuật hợp lý thì giá trị sản phẩm dở dang là khối lượng xây lắp chưa đạt tới điểm dừng kỹ thuật hợp lý đã quy định: Giá trị của khối lượng xây lắp dở dang c.kỳ = Chi phí sản xuất dd đ.kỳ + Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ x Giá trị khối lượng xây lắp dd c.kỳ theo dự toán Giá trị k.lượng XL hoàn thành theo d. toán + Giá trị khối lượng XL dd c.kỳ theo dự toán V. Tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp Giá thành các hạng mục công trình xây lắp đã hoàn thành được xác định trên cơ sở tổng cộng chi phí phát sinh từ lúc khởi công đến khi hoàn thành, những chi phí này được hạch toán trên các sổ, thẻ chi tiết chi phí sản xuất. Bên cạnh đó, trong từng thời kỳ báo cáo, ngoài việc tính giá thành các hạng mục công trình đã hoàn thành, phải tính giá thành khối lượng công tác xây lắp hoàn thành và bàn giao trong kỳ. Đây là một đặc điểm riêng của doanh nghiệp xâ._.y lắp: do phương thức thanh toán khối lượng xây lắp hoàn thành, trong kỳ báo cáo có thể có một bộ phận công trình hoặc khối lượng hoàn thành được thanh toán với chủ đầu tư. Giá thành công tác xây lắp trong kỳ báo cáo được tính theo công thức: Giá thành thực tế khối lượng xây lắp hoàn thành = Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang đầu kỳ + Chi phí sản xuất kinh doanh phát sinh trong kỳ - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ Để phục vụ cho mục đích phân tích chi phí sản xuất và giá thành với dự toán giá thành xây lắp có thể chi tiết theo khoản mục: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung. VI. Sổ kế toán áp dụng 1. Sổ kế toán chi tiết. Để theo dõi các khoản chi phí phát sinh trong kỳ, kế toán mở sổ chi tiết “Sổ chi phí sản xuất kinh doanh” dùng cho các tài khoản: 621, 622, 623, 627, 154, 335, 641, 642. Mỗi tài khoản được theo dõi trên một sổ riêng giúp kế toán theo dõi một cách chặt chẽ các khoản mục chi phí phát sinh trong kỳ báo cáo: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung, chi phí phải trả, chi phí trả trước,…Sổ được mở từ đầu kỳ, theo dõi các nghiệp vụ theo trình tự thời gian và có kết cấu như sau: Biểu 1: Sổ chi phí sản xuất kinh doanh (Dùng cho các TK 621, 622, 623, 627, 154, 631, 641, 642, 142, 335) - Tài khoản: ………………………… - Tên đội:……………………………. - Tên công trình: ……………………. Ngày tháng ghi sổ Chứng từ Diễn giải TKĐƯ Ghi Nợ TK… Số hiệu Ngày tháng Tổng tiền Chia ra … … … 1 2 3 4 5 6 7 8 9 - Số dư đầu kỳ - Cộng phát sinh -Ghi Có TK… - Số dư cuối kỳ Người ghi sổ (Ký, họ tên) Ngày….. tháng….. năm….. Kế toán trưởng (Ký, họ tên) Căn cứ để kế toán ghi sổ là các chứng từ gốc và các bảng kê, tính chi phí, bảng phân bổ… Và số liệu trên sổ chi tiết là căn cứ để kế toán đối chiếu với sổ tổng hợp và lập thẻ tính giá thành. 2. Sổ kế toán tổng hợp. Tuỳ theo cách thức tổ chức hạch toán kế toán của mỗi doanh nghiệp mà doanh nghiệp chọn cho mình hình thức sổ phù hợp. Có 4 hình thức sổ phổ biến như sau: - Hình thức Nhật ký - Chứng từ - Hình thức Nhật ký chung - Hình thức Nhật ký- Sổ cái - Hình thức Chứng từ - Ghi sổ Hạch toán kế toán theo hình thức Nhật ký – Chứng từ: Hình thức này thích hợp với doanh nghiệp lớn, số lượng nghiệp vụ nhiều và trong điều kiện kế toán thủ công. Tuy nhiên, hình thức này không phù hợp với việc áp dụng kế toán máy. Chứng từ gốc và các bảng phân bổ Bảng kê số 4, 5, 6 Nhật ký chứng từ số 7 Sổ kế toán chi tiết TK 621, 622, 627, 154 Sổ cái TK 621, 622, 623, 627, 154 Bảng tổng hợp chi tiết Báo cáo tài chính Thẻ tính giá thành Ghi chú: Ghi hàng ngày Ghi cuối tháng hoặc định kỳ Quan hệ đối chiếu Sơ đồ 13: Quy trình hạch toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm theo hình thức “ Nhật ký – Chứng từ” VII. Đặc điểm hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại một số nước trên thế giới 1. Cộng hoà Pháp. Kế toán Việt Nam có ảnh hưởng nhiều nhất từ kế toán Pháp. * Khái niệm chi phí: Chi phí là số tiền bỏ ra để mua các yếu tố cần thiết cho quá trình kinh doanh nhằm sinh lợi cho doanh nghiệp. Các chi phí bao gồm: Chi phí mua nguyên vật liệu, dự trữ sản xuất khác... Chi phí phát sinh trong quá trình kinh doanh Không tính vào chi phí những số tiền bỏ ra để mua sắm tài sản cố định, mua chứng khoán... Nhưng lại được tính vào chi phí một số khoản doanh nghiệp không phải trả: chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dự phòng... * Phân loại chi phí trong kế toán tổng quát, chi phí được chia làm ba loại: Chi phí sản xuất kinh doanh. Chi phí tài chính. Chi phí đặc biệt. ( tượng tự ‘chi phí khác’ ở Việt Nam). Cách phân loại này đã được ứng dụng là cách phân loại cơ bản và được sử dụng phổ biến. * Các tài khoản sử dụng là tài khoản loại 6 và ghi tăng bên Nợ, ghi giảm bên Có, cuối kì được kết chuyển về tài khoản ‘Kết quả niên độ’. Kế toán Việt Nam cũng sử dụng tài khoản loại 6 để hạch toán chi phí sản xuất, kết cấu cũng tương tự như tài khoản của Pháp. Tuy nhiên, các tài khoản này đến cuối kì được tập hợp vào một tài khoản trung gian khác trước khi kết chuyển vào tài khoản xác định kết quả. * Phương pháp hạch toán: trong kế toán tài chính, Pháp chỉ sử dụng phương pháp kiểm kê định kì để hạch toán hàng tồn kho. 2. Tại Anh. Chi phí bao gồm: chi phí sản xuất và chi phí tiêu thụ. Giá thành sản phẩm bao gồm các chi phí sản xuất tạo ra sản phẩm trong kỳ. * Đối với đơn vị theo dõi hàng tồn kho theo phương pháp định kỳ thì việc tính giá thành sản phẩm được thực hiện trên tài khoản sản xuất. Tài khoản sản xuất được lập ra với mục đích để tính chi phí sản xuất ra thành phẩm trong kỳ hay nói cách khác là để tính ra giá thành thành phẩm sản xuất ra trong kỳ. Việc tính giá thành sản phẩm đối với các đơn vị này được thực hiện tương tự như kế toán Việt Nam thể hiện qua TK 631- giá thành sản xuất * Đối với đơn vị theo dõi hàng tồn kho theo phương pháp liên tục thì giá thành sản phẩm sẽ được tính thông qua hệ thống hạch toán chi phí sản xuất. Hệ thống hạch toán chi phí sản xuất là phương pháp sử dụng các tài khoản để ghi chép các thông tin về chi phí sản xuất một loại sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó. Về cơ bản có hai hệ thống hạch toán chi phí sản xuất: - Hệ thống hạch toán chi phí sản xuất theo công việc - Hệ thống hạch toán chi phí sản xuất theo giai đoạn công nghệ Trong kế toán Anh, sản phẩm xây dựng được quan niệm là sản phẩm đơn chiếc do mỗi dự án có thiết kế thi công riêng nên các công ty thường áp dụng phương pháp hạch toán chi phí theo công việc. Theo phương pháp này tất cả các chi phí sản xuất để hoàn thành một công việc hay loạt sản phẩm nhất định được hạch toán chung vào một tài khoản sản phẩm dở dang. Như vậy, so với kế toán Việt Nam thì kế toán Anh có những điểm khác là: kế toán Anh coi chi phí tiêu thụ bao gồm chi phí bán hàng và phân phối + chi phí quản lý xí nghiệp (ở Việt Nam chi phí tiêu thụ là chi phí bán hàng), đây thuần tuý chỉ là vấn đề tên gọi. Ngoài ra, việc hạch toán chi phí sản xuất cũng có những điểm khác biệt nhất định song về bản chất thì cũng tượng tự như kế toán Việt Nam. 3. Tại Mỹ: Chi phí được Walter B.Meigs và Robert F.Meigs định nghĩa trong cuốn ‘Kế toán cơ sở của các quyết định kinh doanh' như sau: “Chi phí là giá các hàng hoá và dịch vụ đã sử dụng trong quá trình tạo ra doanh thu. Đôi khi chi phí được xem là cái giá phải trả cho việc tiến hành kinh doanh. Do đó, chi phí là giá các hàng hoá và dịch vụ đã sử dụng nên còn được gọi là giá đã tiêu hao” Hệ thống kế toán Mĩ (xét trong phạm vi kế toán tài chính), phân loại chi phí theo mối quan hệ chi phí theo các khoản mục trên báo cáo tài chính. Theo cách phân loại này, chi phí được chia thành hai loại , là chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ. Cách phân loại này giống với Việt Nam ở việc phân chia chi phí thành hai loại là chi phí sản xuất (tương ứng với chi phí sản phẩm) và chi phí ngoài sản xuất (tương ứng với chi phí thời kì). Khác ở chỗ : trong khoản mục chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp, kế toán Việt Nam ngoài bao gồm chi phí nguyên, vật liệu chính còn bao gồm cả nguyên vật liệu phụ, còn kế toán Mĩ thì không. Chi phí nguyên, vật liệu phụ được hạch toán vào khoản mục chi phí sản xuất chung trong hệ thống kế toán Mĩ. Nhiệm vụ của kế toán chi phí là tập hợp, tính toán và phân tích chi phí cho từng đối tượng. Xét trong mối quan hệ với kế toán tài chính, kế toán chi phí cung cấp các dữ liệu để xây dựng các báo cáo tài chính cuối kì. Tuy nhiên, Kế toán chi phí cũng cung cấp những thông tin cho bộ phận quản trị doanh nghiệp để lập kế hoạch, kiểm soát và ra các quyết định. Do đó, ngày nay kế toán chi phí được coi là một bộ phận trung gian của cả kế toán tài chính và kế toán quản trị. Có thể thấy, việc phân loại và hạch toán chi phí sản xuất của Mĩ rất linh hoạt và thực tế. Nó phục vụ cho nhiều mục đích của doanh nghiệp (kinh doanh, quản trị,...). Có hai phương pháp hạch toán chi phí cơ bản là: - Phương pháp hạch toán chi phí theo công việc: chi phí được tập hợp, theo dõi cho từng đơn đặt hàng. - Phương pháp hạch toán chi phí theo quá trình sản xuất: chi phí được tập hợp, theo dõi cho từng bộ phận hay từng giai đoạn sản xuất trong một thời gian nhất định. Kế toán Mĩ hạch toán hàng tồn kho theo hai phương pháp : phương pháp kiểm kê định kì và phương pháp kê khai thường xuyên. Từ các đặc điểm trên có thể rút ra kết luận sau: Các nước mặc dù có các cách diễn đạt khác nhau về nội dung của chi phí song đều thống nhất với nhau về bản chất của chi phí. Trên thế giới sự khác biệt về trình tự hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là không đáng kể. Xu thế ngày nay là xu hướng toàn cầu hoá vì vậy, ở Việt Nam, công tác kế toán nói chung và kế toán chi phí sản xuất nói riêng đang dần dần hoà nhập với các nưóc trên thế giới. Phần II Thực trạng công tác hạch toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Xây dựng số 2. Khái quát chung về công ty. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh. Lịch sử hình thành và phát triển. Công ty xây dựng Cổ phần số 2 Yên Bái tiền thân là Công ty xây dựng số 2 Yên Bái là công ty hạch toán trực thuộc Sở Xây dựng tỉnh Yên Bái nằm trên địa bàn phường Hồng Hà thị xã Yên Bái, được thành lập từ ngày 10 tháng 5 năm 1963 mang tên ‘Đội công trình xây dựng’. Trong thời kì chiến tranh phá hoại của giặc Mĩ (1965-1968), Đội công trình xây dựng được đổi tên là ‘Xí nghiệp xây dựng’ thuộc công ty Kiến trúc Yên Bái vào tháng 10 năm 1965. Sau khi chiến tranh bắn phá Miền Bắc và chiến tranh chống Mĩ kết thúc, đến tháng 2 năm 1976 do sáp nhập 3 tỉnh: Nghĩa Lộ – Yên Bái – Lào Cai thành tỉnh Hoàng Liên Sơn, theo Nghị quyết của Quốc hội, xí nghiệp được đổi tên thành ‘Công ty xây dựng số 2 Hoàng Liên Sơn’. Để phù hợp với yêu cầu quản lý và phát triển kinh tế mới, kể từ ngày 20 tháng 11 năm 2000 theo Quyết định số 194/QĐ - UB của UBND tỉnh Yên Bái, công ty chuyển từ doanh nghiệp Nhà nước thành ‘Công ty Cổ phần xây dựng số 2’. Trong những năm tới, công ty phát triển với mục tiêu: huy động vốn từ mọi thành phần trong và ngoài doanh nghiệp, sử dụng vốn có hiệu quả nhằm phát triển sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng cơ bản và các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác nhằm mục tiêu thu lợi nhuận tối đa, tạo việc làm ổn định cho nhiều người lao động, tăng lợi tức cho các cổ đông, đóng góp cho Ngân sách Nhà nước và phát triển công ty. Vốn kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh, thị trường kinh doanh. Vốn kinh doanh: Kể từ ngày 20 tháng 11 năm 2000, công ty được chuyển từ doanh nghiệp Nhà nước sang công ty cổ phần với số vốn điều lệ tại thời điểm thành lập là: 6.410.100.000 VND. Trong đó: - Vốn góp bằng tiền mặt là: 2.556.000.000VND - Vốn góp bằng giá trị hiện vật: 3.854.100.000 VND (Trong đó nguyên giá TSCĐ là: 2.874.434.158VND) Với cơ cấu vốn: - Vốn thuộc sở hữu Nhà nước: 1.995.100.000 VND (chiếm 31,12% VĐL) Vốn thuộc sở hữu của người lao động trong doanh nghiệp : 4.415.000.000 VND (chiếm 68,88% VĐL). Lĩnh vực kinh doanh: Công ty cổ phần Xây dựng số 2 là đơn vị sản xuất kinh doanh sản phẩm xây lắp. Công ty chuyên nhận thầu xây lắp các công trình như: Công trình công nghiệp. Công trình giao thông. Công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ. Công trình đường dây và trạm lưới điện hạ thế đến 40kV. Khai thác đá, cát, sỏi, sản xuất gạch, vôi, và các vật liệu xây dựng khác chủ yếu phục vụ quá trình xây lắp của công ty. Kinh doanh các loại vật liệu xây dựng. Thị trường kinh doanh: Hiện nay, công ty Cổ phần xây dựng số 2 không chỉ nhận thầu các công trình trong phạm vi thành phố Yên Bái, mà còn đấu thầu những công trình ở các tỉnh, thành phố lân cận khác như: Lào Cai, Việt Trì, Phú Thọ ... Bất kể thực hiện công trình ở đâu, công ty cũng luôn đảm bảo cho chủ đầu tư về chất lượng công trình và an toàn thi công để giữ vững uy tín của mình. Kết quả kinh doanh một số năm gần đây. Trong những năm gần đây, theo yêu cầu đổi mới của nền kinh tế thị trường, công ty chuyển sang cổ phần hoá đã thể hiện được năng lực và vai trò của mình đối với nền kinh tế quốc dân. Cụ thể trong hai năm 2001 và năm 2002, khi chuyển sang cổ phần hoá, công ty đã đạt được những thành tích sau đây: Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2001 Năm 2002 Tổng doanh thu Tổng chi phí Lãi Nộp ngân sách Số lao động Thu nhập bình quân đồng đồng đồng đồng người đồng/người 32.621.893.916 31.002.454.787 1.619.439.129 214.317.458 464 người 832.838 29.496.998.777 26.399.325.004 1.523.608.271 417.633.052 464 người 1.012.850 Qua bảng số liệu trên có thể thấy mức doanh thu mà công ty đạt được là khá cao, số lãi khá tốt và ổn định cho thấy xu hướng sản xuất kinh doanh của công ty phát triển tốt. Đời sống người lao động được cải thiện, thể hiện qua số liệu thu nhập bình quân năm 2002 tăng. Như vậy, có thể nói, sự đóng góp của công ty Cổ phần xây dựng số 2 vào Ngân sách Nhà nước là đáng kể, trình độ sử dụng vốn của công ty cao. Hiện trạng công ty Cổ phần xây dựng số 2 hoạt động sản xuất kinh doanh tốt, có khả năng cao hơn vì công ty hiện đang có một đội ngũ nhân viên trẻ, có trình độ học vấn cao, dựa trên nền tảng kinh nghiệm của những cán bộ đi trước. 2. Đặc điểm tổ chức quản lý, sản xuất. 2.1 Đặc điểm tổ chức quản lý. Chuyển sang công ty cổ phần, công ty tổ chức bộ máy quản lý, tổ chức các đơn vị sản xuất kinh doanh phù hợp mục tiêu, nhiệm vụ của công ty. Mô hình tổ chức bộ máy của công ty đựợc khái quát theo sơ đồ sau: Đại hội Cổ đông Hội đồng Quản trị Giám đốc điều hành Ban Kiểm soát Phó giám đốc phụ trách đoàn thể và nội vụ Phòng Tài vụ kế toán Phòng Kế hoạch Phòng Kỹ thuật Phòng Tổ chức hành chính và lao động tiền lương Cácđội xây dựng công trình Đội sản xuất bê tông và gạch hoa Đội cung ứng vật tư Sơ đồ 14: Mô hình tổ chức bộ máy quản lý Công ty Cổ phần xây dựng số 2. Với mô hình tổ chức quản lý như trên, công ty có điều kiện quản lý chặt chẽ về mặt kinh tế, kỹ thuật tới từng đội, từng công trình, đồng thời tăng được hiệu quả sản xuất và thi công. 2.2 Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh. Hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh xây dựng mà công ty đang thực hiện gồm cả đấu thầu và chỉ định thầu. Quy trình công nghệ của công ty được khái quát qua sơ đồ sau: Hợp đồng kinh tế hay đơn đặt hàng P. Kế hoạch, P. Kỹ thuật, Ban chỉ huy công trình Lập kế hoạch thi công công trình Đội cung ứng vật tư Nguyên vật liệu, Máy móc thiết bị Đội xây lắp Thi công công trình Nghiệm thu, bàn giao công trình Sơ đồ 15 : Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm xây lắp. Như vậy, một công trình từ khi được đặt hàng đến khi hoàn thành và nghiệm thu được quản lý, giám sát hết sức chặt chẽ, đảm bảo cho chất lượng công trình thực hiện được đúng theo yêu cầu của bên chủ đầu tư, làm tăng uy tín của công ty. 3. Đặc điểm tổ chức hạch toán kế toán tại công ty. 3.1 Tổ chức bộ máy kế toán. Tại công ty Cổ phần xây dựng số 2 bộ máy kế toán được tổ chức theo phương thức trực tuyến. Đây là phương thức phù hợp với cách thức kinh doanh của công ty. Hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty chủ yếu diễn ra trong quá trình sản xuất ở các đội sản xuất và đội thi công, do đó, công ty phải trực tiếp chỉ đạo, quản lý, giám sát tới từng đội về phương thức hạch toán để theo dõi một cách chính xác tình hình tài chính của công ty. Với trung tâm hạch toán là phòng Tài vụ kế toán, cuối mỗi kỳ kế toán, kế toán các đội phải đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin tài chính về phòng tài vụ để quết toán và lập các báo cáo kế toán. Như vậy, mô hình tổ chức bộ máy kế toán của công ty Cổ phần xây dựng số 2 là mô hình tập trung. Có thể khái quát mô hình đó qua sơ đồ sau: Kế toán tiền lương và công nợ Kế toán thuế Kế toán tổng hợp Kế toán thanh toán Kế toán vật tư và tài sản cố định Kế toán vốn bằng tiền và tập hợp chi phí Thủ quỹ Kế toán trưởng kiêm Trưởng phòng Kế toán đội xây lắp Sơ đồ 16: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán Phòng Tài vụ kế toán bao gồm 7 thành viên, đứng đầu là kế toán trưởng, và mỗi thành viên phụ trách một hay một số phần hành cụ thể 3.2 Tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ, tài khoản kế toán, sổ kế toán và báo cáo kế toán. * Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, để minh chứng cho những hoạt động của mình, công ty đã sử dụng rất nhiều loại chứng từ. Tại công ty Cổ phần xây dựng số 2 đang áp dụng hệ thống chứng từ theo Quyết định số 1141-TC/QĐ/CĐKT ngày 1 tháng 11 năm 1995 của Bộ Tài chính * Hiện nay trong danh mục tài khoản của công ty có 62 tài khoản, trong đó tài khoản cấp I là 41 tài khoản; tài khoản cấp II là 17 tài khoản; còn lại là các tài khoản ngoài bảng cân đối kế toán. Các tài khoản được công ty sử dụng có nội dung và kết cấu đúng theo quy định của chế độ kế toán hiện hành, áp dụng từ ngày 1/1/1999. * Tại công ty Cổ phần xây dựng số 2, hình thức sổ kế toán mà công ty đang sử dụng là hình thức sổ Nhật ký chứng từ được công ty áp dụng đúng theo chế độ kế toán hiện hành. Hệ thống sổ kế toán bao gồm các bảng kê, nhật ký chứng từ, bảng phân bổ, các sổ kế toán chi tiết, tổng hợp , sổ Cái... Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký chứng từ có thể được thể hiện qua sơ đồ như sau: Chứng từ gốc và các bảng phân bổ Bảng kê Nhật ký chứng từ Thẻ và sổ kế toán chi tiết Sổ cái Bảng tổng hợp chi tiết Báo cáo tài chính Ghi chú: Ghi hàng ngày Ghi cuối quý Đối chiếu, kiểm tra. Sơ đồ 17: Hình thức sổ Nhật ký chứng từ . Hàng ngày, căn cứ vào các chứng từ gốc, kế toán kiểm tra, lấy số liệu ghi trực tiếp vào các Nhật ký chứng từ hoặc Bảng kê, sổ chi tiết có liên quan, đến cuối quý phải chuyển số liệu tổng cộng vào bảng kê, sổ chi tiết vào Nhật ký chứng từ . Đối với các loại chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh nhiều lần hoặc mang tính chất phân bổ, các chứng từ gốc trước hết được tập hợp và phân loại trong các bảng phân bổ, sau đó lấy số liệu kết quả của bảng phân bổ ghi vào các bảng kê và nhật ký chứng từ có liên quan. Cuối quý khóa sổ, cộng số liệu trên các nhật ký chứng từ, kiểm tra, đối chiếu số liệu trên các nhật ký chứng từ với các sổ kế toán chi tiết, Bảng tổng hợp chi tiết có liên quan và lấy số liệu tổng cộng của các nhật ký chứng từ ghi trực tiếp vào sổ cái. Đối với các chứng từ có liên quan đến các số kế toán chi tiết thì được ghi trực tiếp vào các sổ có liên quan. Cuối quý, cộng các sổ kế toán chi tiết và căn cứ vào sổ kế toán chi tiết lập các bảng tổng hợp chi tiết theo từng tài khoản để đối chiếu với sổ Cái. Số liệu tổng cộng ở sổ Cái và một số chỉ tiêu chi tiết trong nhật ký chứng từ, bảng kê và các bảng tổng hợp chi tiết được dùng để lập Báo cáo Tài chính. * Công ty Cổ phần xây dựng số 2 có hệ thống Báo cáo Tài chính: - Bảng cân đối kế toán - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. - Thuyết minh báo cáo tài chính. Và báo cáo quản trị: - Báo cáo giá thành_doanh thu_ chi phí xây dựng dở dang công trình xây lắp. Hệ thống báo cáo kế toán là phương tiện hữu hiệu trong việc tiến hành phân tích hoạt động kinh doanh, đánh giá hiệu quả kinh doanh, khai thác tiềm năng của công ty, từ đó giúp lãnh đạo công ty ra những quyết định và phương án kinh doanh hiệu quả. Thực trạng công tác hạch chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần xây dựng số 2 Hạch toán chi phí sản xuất. Đặc điểm chi phí sản xuất. Công ty Cổ phần xây dựng số 2 là đơn vị xây lắp nên chi phí sản xuất là toàn bộ chi phí về lao động sống và lao động vật hoá phát sinh trong quá trình sản xuất và cấu thành nên giá thành của sản phẩm xây lắp. Chi phí sản xuất của công trình xây lắp thường có giá trị lớn, đòi hỏi kế toán phải theo dõi, ghi chép số liệu một cách đầy đủ, chính xác, đảm bảo cho việc tính giá thành sản phẩm xây lắp được đúng, đủ không thiếu sót. Sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trúc … có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian sản xuất sản phẩm xây lắp lâu dài, đòi hỏi công ty phải lập dự toán theo từng hạng mục chi phí. Để có thể so sánh, kiểm tra chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp thực tế phát sinh với dự toán, chi phí sản xuất xây lắp được phân loại theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Trong đó: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm: chi phí vật liệu chính; chi phí vật liệu phụ, vật kết cấu, giá trị thiết bị kèm theo vật kiến trúc… - Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm: chi phí tiền lương chính, lương phụ, phụ cấp lương và các khoản trích theo lương như: kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm xây lắp. Việc hạch toán các khoản trích theo lương vào khoản mục chi phí nhân công trực tiếp là không đúng so với chế độ hiện hành. Điều này sẽ được nêu rõ trong phần II của báo cáo. - Chi phí sản xuất chung bao gồm: + Tiền lương chính, phụ, phụ cấp lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý đội. + Chi phí khấu hao tài sản cố định. + Chi phí sử dụng máy thi công. (Sai khác so với chế độ kế toán hiện hành) + Chi phí dịch vụ mua ngoài, văn phòng phẩm. + Chi phí bằng tiền khác. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất. Tại công ty Cổ phần xây dựng số 2, xuất phát từ đặc điểm của ngành xây dựng là quá trình thi công dài, phức tạp, đặc điểm của sản phảm xây lắp là đơn chiếc, cố định và cũng để đáp ứng yêu cầu công tác quản lý và công tác kế toán, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là công trình, nhóm hạng mục công trình, hạng mục công trình hay các giai đoạn công việc của hạng mục công trình. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất ở công ty là tập hợp trực tiếp cho từng công trình xây dựng theo từng quý. Cuối mỗi quý, dựa trên các chứng từ gốc và bảng phân bổ, kế toán ghi vào các bảng kê và nhật kí chứng từ có liên quan, đồng thời tổng hợp số liệu vào Bảng tổng hợp chi phí sản xuất của quý để làm cơ sở cho việc tính giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành trong quý. Trình tự hạch toán tập hợp chi phí sản xuất. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. a. Đặc điểm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. ở công ty Cổ phần xây dựng số 2, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường chiếm 70% đến 80% giá thành sản phẩm xây lắp, vì vậy, việc quản lý chặt chẽ, tiết kiệm vật liệu là một yêu cầu hết sức cần thiết trong công tác quản lý nhằm hạ giá thành của sản phẩm. Mặt khác nếu xác định đúng lượng tiêu hao vật chất trong sản xuất thì sẽ góp phần đảm bảo tính chính xác trong giá thành của một công trình xây dựng. Nguyên vật liệu trực tiếp thường được sử dụng bao gồm các loại sau: Vật liệu chính là các loại vật liệu xây dựng như: xi măng, sắt, thép, gạch, ngói… Vật liệu phụ gồm các loại đà giáo, ván khuôn … Toàn bộ số công cụ như: dao xây, bay chát … do thời gian thi công một công trình hay hạng mục công trình đến khi hoàn thành đến một thời điểm dừng kĩ thuật là rất dài, nên công ty thực hiện phân bổ công cụ dụng cụ một lần ngay từ đầu (100%) và được hạch toán như một loại vật liệu xây dựng. Công ty sử dụng phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO) để xác định giá nguyên vật liệu xuất kho và giá trị xuất được tính theo giá mua vật liệu thực tế. Công ty sử dụng phương pháp này cũng do đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty: việc xuất vật tư thực hiện theo yêu cầu và kế hoạch thi công của từng công trình. Phương pháp hạch toán đối với hàng tồn kho: là phương pháp kiểm kê định kì. Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này chỉ thực hiện theo ý nghĩa về mặt thời gian: định kì cuối quý, kế toán kiểm kê hàng tồn trong kho của công ty, còn về phương pháp hạch toán vẫn áp dụng theo phương pháp kê khai thường xuyên. b. Thủ tục, chứng từ: Phần lớn việc cung ứng vật tư cho các đội xây dựng được công ty giao cho đội cung ứng vật tư, chuyên làm nhiệm vụ mua vật tư về cung ứng cho các đội thi công. Các đội này căn cứ vào dự toán được lập và kế hoạch về tiến độ thi công của từng công trình để lập kế hoạch cung ứng vật tư. Trường hợp vật liệu cần được cung ứng có ở kho của công ty thì sẽ được xuất kho và vận chuyển đến tận công trình. Trường hợp các đội cung ứng không có vật tư cung cấp thì các đội xây dựng dùng khoản tiền công ty tạm ứng tự tìm nguồn vật tư ở ngoài. Trường hợp vật liệu xuất từ kho của công ty : Đội cung ứng vật tư khi có lệnh cung ứng vật tư sẽ lập một biên nhận giao hàng. Khi vật liệu về đến công trình, thủ kho công trình cùng người giao vật liệu tiến hành kiểm tra, cân, đo, đong, đếm số lượng vật liệu nhập kho, kế toán đội lập Phiếu nhập kho và xác nhận vào biên nhận giao hàng của đội cung ứng vật tư. Biên nhận sẽ được chuyển về phòng Tài vụ kế toán. Kế toán vật tư lập ‘Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ’. Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ được lập thành 3 liên, một liên do người lĩnh vật tư giữ, một liên do thủ kho ở đội cung ứng giữ và một liên lưu tại phòng tài vụ kế toán. Trường hợp các đội xây lắp tự thu mua vật tư: Đội thi công có nhu cầu về vật tư mà đội cung ứng không đáp ứng được thì tự thu mua vật tư ở bên ngoài bằng tiền công ty tạm ứng. Sau khi mua, kế toán đội lập Phiếu nhập kho làm 2 liên, một liên giữ lại để ghi sổ, liên còn lại chuyển về phòng Tài vụ kế toán cùng với Hoá đơn giá trị gia tăng để hạch toán. Kế toán vật tư sẽ tiến hành ghi sổ và lưu chứng từ. Nếu đội thi công không mua bằng tiền công ty tạm ứng thì kế toán thanh toán sẽ ghi Phiếu chi chi tiền mặt cho đội. Biểu 2: Đơn vị: Đội vật tư số 2 Địa chỉ:……………… Mẫu số 03 – VT Ban hành theo quyết định số: 1141-TC/QĐ/CĐKT Ngày 1 tháng 11 năm 1995 của Bộ Tài chính Quyển số:……………. Số: …………………... Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ Ngày 15 tháng 12 năm 2002 Căn cứ lệnh điều động số 21 ngày 31 tháng 11 năm 2002 của Đội vật tư số 2 về việc công trình Tỉnh đoàn Yên Bái. - Họ tên người vận chuyển: Đinh Công Nghĩa. Hợp đồng số: Phương tiện vận chuyển: Xe Zin 4,5 tấn. Xuất tại kho: Đội vật tư số 2. Nhập tại kho: Đội 208 – Công trình Tỉnh đoàn Yên Bái. STT Tên, nhãn hiệu, quy cách, phẩm chất vật tư (sản phẩm, hàng hoá) Mã số Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền Thực xuất Thực nhập A B C D 1 2 3 4 1 2 3 4 Sỏi Cát đen Cát vàng Tấm lợp m3 m3 m3 tấm 23 24 6 70 85.000 25.000 55.000 19818.2 1.955.000 600.000 330.000 1.387.274 Cộng 3.503.200 Xuất ngày 15 tháng 2 năm 2002 Người lập phiếu (Ký, họ tên) Thủ kho xuất (Ký, họ tên) Người vận chuyển (Ký, họ tên) Thủ kho nhập (Ký, họ tên) Biểu 3: Đơn vị: Công ty Cổ phần xây dựng số 2 Địa chỉ: Mẫu số: 02 - TT Ban hành theo QĐ số: 1141-TC/QĐ/CĐKT ngày 1 tháng 11 năm 1995 của Bộ Tài chính Phiếu chi Ngày 29 tháng 11 năm 2002 Họ, tên người nhận tiền: Ông Đê Địa chỉ: Đội 208 Lý do chi: Mua xi măng- Công trình Tỉnh đoàn Yên Bái Số tiền: 680.000 (viết bằng chữ): Sáu trăm tám mươi ngàn đồng chẵn. Kèm theo: 01 chứng từ gốc: Hoá đơn GTGT Thủ trưởng đơn vị (Ký, họ tên, đóng dấu) Kế toán trưởng (Ký, họ tên) Người lập phiếu (Ký, họ tên) Đã nhận đủ số tiền : Sáu trăm tám mươi ngàn đồng chẵn. Ngày 29 tháng 11 năm 2002 Thủ quỹ (Ký, họ tên) Người nhận tiền (Ký, họ tên) Cuối mỗi quý, kế toán căn cứ vào phiếu xuất ghi vào ‘Bảng kê phân bổ vật liệu’ và ‘Bảng tổng hợp phân bổ vật liệu’. Biểu 4: Bảng kê phân bổ vật liệu Quý IV Năm 2002 Tên công trình: Tỉnh đoàn Yên Bái. Ngày tháng Số chứng từ Diễn giải Số tiền (VNĐ) 12/2 12/2 12/2 … 7236 7237 6927 … Cát vàng Gạch hoa Ví kèo sắt thép góc 75 * 75 … 550.000 1.000.000 8.780.576 … Cộng 89.032.376 Biểu 5: Đơn vị: Công ty Cổ phần xây dựng số 2 Bảng phân bổ số 2 Bảng tổng hợp phân bổ vật liệu Quý IV năm 2002 Tên đội Tên công trình Ghi Có TK 152 Ghi Nợ TK 621 622 ... 201 201 202 203 208 … Trung tâm y học dự phòng Trường Y Kan Trường chuyên Yên Bái Trạm xăng Km 9 Tỉnh đoàn Yên Bái Bán vật liệu ……. 71.132.940 120.626.720 3.565.000 2.315.000 89.032.376 257.800 ………… 71.132.940 120.626.720 3.565.000 2.315.000 89.032.376 ………… 257.800 ……….. Cộng 292.361.560 292.103.760 257.800 c. Tổ chức hạch toán chi tiết. Tại công ty Cổ phần xây dựng số 2, việc tổ chức hạch toán chi tiết chi phí nguyên vật liệu không thực hiện trên sổ chi tiết TK 621 mà được thực hiện trên "Sổ TK 154" và " Bảng kê chi tiết chi phí- giá thành sản phẩm xây lắp". Sổ TK 154 được mở riêng cho từng công trình, hạng mục công trình để theo dõi và tập hợp tất cả các khoản chi phí sản xuất phát sinh trong quý, chi phí sản xuất dở dang cuối quý, giá thành sản lượng sản xuất hoàn thành trong quý và doanh thu trong quý. Như vậy, sổ này có tính chất theo dõi tổng hợp các vấn đề cần quan tâm của một công trình trong một năm.(Biểu 20- trang 66) Bảng kê chi tiết chi phí- Giá thành sản phẩm xây lắp dùng để theo dõi chi tiết các khoản chi phí phát sinh của từng khoản mục chi phí và giá thành, doanh thu của công trình trong quý. Mỗi công trình xây lắp được theo dõi riêng trên một dòng của Bảng kê chi tiết (Biểu 21- trang 67) d. Hạch toán tổng hợp trên sổ kế toán Tài khoản sử dụng: Để tập hợp chi phí nguyên vật liệu, kế toán sử dụng tài khoản 621 ’Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp’. Tài khoản này được mở theo dõi chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình như: TK 621- Trường chuyên Yên Bái. TK 621- Trung tâm y học dự phòng. TK 621- Sân TDTT 3 trường. Ngoài ra, công ty tiến hành theo dõi nguyên vật liệu trực tiếp trên tài khoản 152 ‘Nguyên liệu, vật liệu’. Kế toán theo dõi chi tiết từng loại vật liệu của từng công trình xây dựng như: TK 152 – Công trình trường chuyên Yên Bái- xi măng. TK 152 – Công trình trường chuyên Yên Bái- gạch hoa. TK 152 – Công trình Nhà phát sóng Đài phát thanh - truyền hình Yên Bái- cát vàng. TK 152 – Công trình UBND huyện Yên Bình- sắt. Căn cứ vào các chứng từ xuất vật tư sản xuất và các sổ chi tiết, bảng kê, kế toán vào sổ tổng hợp theo định khoản sau: Trường hợp vật liệu xuất từ kho của công ty cho công trình thi công: Nợ TK 621: 89.032.376 (Chi tiết Công trình Tỉnh đoàn Yên Bái) Có TK 152: 89.032.376 Trường hợp vật liệu công ty mua không nhập kho mà xuất ngay cho đội thi công: Nợ TK 621: 46.648.148 (Chi tiết công trình Tỉnh đoàn Yên Bái) Nợ TK 133: 4.664.814 (thuế GTGT được khấu trừ.) Có TK 331 51.312.._.Luỹ kế Nợ Có Số dư c. kỳ Nợ 938.956.264 938.956.264 Có 1.4.2 Kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang. Để tính toán được giá thành thực tế của khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ, tức là phần khối lượng công việc chưa hoàn thành, cần xác định được giá thành thực tế của phần khối lượng sản phẩm xây dựng đã thực hiện trong quý. Cuối mỗi quý, phòng kỹ thuật, kỹ thuật viên công trình và chủ nhiệm công trình tiến hành kiểm kê, tổ chức bàn giao, nghiệm thu với bên A. Các công trình xây dựng thường được nghiệm thu theo các bước sau: Bước 1: Nghiệm thu nội bộ: Chỉ huy công trình cùng cán bộ kỹ thuật tổ chức nghiệm thu khối lượng thực tế đã hoàn thành làm cơ sở để thanh toán tiền công cho đội xây dựng. Đồng thời, cán bộ giám sát kỹ thuật của Ban quản lý dự án nghiệm thu với công ty để tiến hành lập báo cáo. Bước 2: Nghiệm thu thanh toán của chủ đầu tư theo giai đoạn điểm dừng kỹ thuật: (Biên bản nghiệm thu- Biểu ) Biểu 23: Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Ngày 20 tháng 12 năm 2002 Biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành Số 01 Công trình: Tỉnh đoàn Yên Bái Hang mục: Các hạng mục công trình phụ trợ. Đơn vị thi công: công ty Cổ phần xây dựng số 2- Yên Bái Thống nhất nghiệm thu các khối lượng chính sau: STT Hạng mục hoàn thành Đơn vị Kinh phí nghiệm thu Ghi chú 1 Phá dỡ nhà cấp 4 đồng 7.332.161 Tất cả các hạng mục khối lượng hoàn thành đều có phụ lục chi tiết kèm theo 2 Phá dỡ hàng rào đồng 10.294.694 3 Xây hội trường đồng 92.569.408 4 Cổng chính + hàng rào md 135.237.875 5 Cấp thoát nước nhà 2 T md 5.424.586 Cộng đồng 250.858.724 Làm tròn 250.858.000 ý kiến đặc biệt của Ban nghiệm thu: Các hạng mục thi công đảm bảo chất lượng mỹ thuật, kỹ thuật. Nhất trí nghiệm thu lên phiếu giá thanh toán. Kỹ thuật A (Ký, họ tên) Đơn vị thiết kế (Ký, họ tên) Kỹ thuật B (Ký, họ tên) Ban quản lý công trình (Ký, họ tên) Tư vấn giám sát (Ký, họ tên) Đơn vị thi công (Ký, họ tên) Căn cứ vào bước nghiệm thu này, công ty lập hồ sơ dự án thanh toán giá trị xây dựng hoàn thành. Bước 3: Trong một số trường hợp có bước nghiệm thu cấp bộ chủ quản (Nhà nước) quyết toán công trình đưa vào sử dụng. Sau đó, phòng kế hoạch sẽ lắp đơn giá dự toán phù hợp với từng công việc, từng công trình cụ thể để lên "Phiếu giá thanh toán khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành" có xác nhận của bên A. Phòng Tài vụ kế toán sau khi nhận được các tài liệu trên (biên bản nghiệm thu, phiếu giá...) sẽ tiến hành xác định chi phí thực tế của khối lượng sản phẩm xây dựng dở dang cuối quý. Khối lượng sản phẩm xây dựng dở dang chính là hiệu số giữa khối lượng xây dựng được nghiệm thu ở bước 1 với khối lượng xây dựng hoàn thành được nghiệm thu ở bước 2. Sau khi xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ, kế toán tập hợp chi phí hoàn thiện các sổ sách có liên quan như: Bảng kê chi tiết chi phí- giá thành, Sổ tài khoản 154, Bảng kê số 4, Nhật ký chứng từ số 7. Từ các sổ sách trên, kế toán làm căn cứ để lập báo cáo kế toán cuối quý. Biểu 24 :7 Đơn vị: công ty Cổ phần xây dựng số 2 Bảng kê số 4 Tập hợp chi phí sản xuất theo hạng mục công trình dùng cho TK 154, 621, 622, 627 Quý 4 năm 2002 Stt Các TK ghi Có Các Tk ghi Nợ 621 622 627 214 334 338 NKCT Cộng CP thực tế NKCT 1 NKCT 10 1 TK154 Tỉnh đoàn Yên Bái 206.160.924 38.846.000 12.850.000 3.664.000 40.000.000 3.301.000 257.856.924 Trung tâm y tế DP (8.493.632) 1.530.000 (6.963.632) Trường chuyên YB (29.797.880) (8.078.000) (37.805.880) Sân TDTT 3 trường 110.445.910 119.839.000 16.283.000 246.567.910 Đường nước YNinh 1.058.393.780 181.137.000 8.905.000 1.248.435.780 UBND Trấn Yên 185.055.500 60.325.000 10.536.800 255.917.300 ... 2 TK 621- CP NVLTT Tỉnh đoàn Yên Bái 206.160.924 206.160.924 Trung tâm y tế DP (8.493.632) (8.493.632) Trường chuyên YB (29.797.880) (29.797.880) Sân TDTT 3 trường 5.985.500 104.460.410 110.445.910 Đường nước Yên Ninh 3.752.200 1.054.641.680 1.058.393.780 UBND Trấn Yên 772.200 184.283.300 185.055.500 3 TK622- CP NCTT Tỉnh đoàn Yên Bái 36.846.000 2.000.000 38.846.000 Trung tâm y tế DP 1.530.000 1.530.000 Trường chuyên YB (8.078.000) (8.078.000) Sân TDTT 3 trường 117.623.000 2.216.000 119.839.000 Đường nước Yên Ninh 175.137.000 6.000.000 181.137.000 UBND Trấn Yên 60.325.000 60.325.000 ... 4 TK 627- CPSXC Tỉnh đoàn Yên Bái 3.664.000 3.154.000 1.301.000 4.731.000 12.850.000 Trung tâm y tế DP Trường chuyên YB Sân TDTT 3 trường 1.428.000 11.220.000 1.000.000 2.635.000 16.283.000 Đường nước Yên Ninh 5.905.000 3.000.000 8.905.000 UBND Trấn Yên 8.400.000 2.036.800 10.536.800 ... Cộng 5.639.971.269 1.657.248.600 249.350.404 1.772.830.800 67.254.880 23.136.400 4.555.106.893 24.336.923.215 Ngày 31 tháng 12 năm 2002 Người lập biểu (Ký, họ tên) Kế toán trưởng (Ký, họ tên) Biểu 25: Đơn vị: công ty Cổ phần xây dựng số 2 Nhật ký chứng từ số 7 Tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh Ghi Có các TK : 152, 154,214,334,338,621,622,627. Quý 4 năm 2002 Có Nợ 154 334 338 621 622 627 Các TK phản ánh ở các NKCT khác Tổng cộng chi phí NKCT 1 NKCT 10 NKCT khác 142 154 5.639.971.269 1.657.248.600 249.350.404 7.546.570.273 621 23.136.400 4.517.024.569 1.099.810.300 5.639.971.269 622 1.610.226.600 45.147.000 1.875.000 1.657.248.600 627 162.604.200 22.107.880 36.207.324 28.431.000 249.350.404 CộngA 1.772.830.800 67.254.880 5.639.971.269 1.657.248.600 249.350.404 23.136.400 4.555.106.893 1.128.241.300 15.093.140.546 632 9.243.782.669 9.243.782.669 Cộng B 9.243.782.669 9.243.782.669 Tổng cộng 9.243.782.669 1.772.830.800 67.254.880 5.639.971.269 1.657.248.600 249.350.404 23.136.400 4.555.106.893 1.128.241.300 24.336.923.215 2. Tính giá thành sản phẩm Tại công ty Cổ phần xây dựng số 2, kỳ tính giá thành sản phẩm xây lắp là vào cuối mỗi quý. Điều này phù hợp với tính chất sản xuất sản phẩm xây lắp có thời gian thi công dài và quy mô lớn, không thể tính giá thành trong từng tháng vì điều này rất tốn kém, rất khó thực hiện. Xuất phát từ đặc điểm của sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trúc... có quy mô lớn, kết cấu phức tạp mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất sản phẩm xây lắp lâu dài... đối tượng tính giá thành là các hạng mục công trình đã hoàn thành, các giai đoạn công việc đã hoàn thành. Giá thành thực tế của sản phẩm xây lắp được xác định như sau: Giá thành thực tế = Chi phí sản xuất sản phẩm dở dang ĐK + Chi phí sản xuất thức tế phát sinh trong kỳ - Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ VD: Công trình Tỉnh đoàn Yên Bái quý 4 năm 2002: - Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ: 19.353.800 - Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ: 257.856.924 - Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ: 26.352.000 - Giá thành thực tế khối lượng sản phẩm bàn giao quý 4 năm 2002 là: 19.353.800 + 257.856.924 – 26.352.000 = 250.858.724 đồng. Biểu 26: báo cáo giá thành- doanh thu – chi phí xây dựng dở dang công trình xây lắp Quý IV năm 2002 Stt Tên công trình Chi phí NVL Chi phí nhân công Chi phí SXC Tổng chi phí Giá thành sx sản phẩm Doanh thu Giá dự toán Dư đầu kỳ Dư cuối kỳ 1. 2. 3. 4. 5. . . 7. 8. . . 45 46 47. 48. . . 93 94 95 96 97 Hội cựu chiến binh TT Y học Dự phòng Bệnh viện tỉnh Bếp Sở lao động Tỉnh đoàn Yên Bái Điện KM 9 UBND huyện Trấn Yên Viện điều dưỡnng cán bộ Trường cấp III Thác Bà Ga Yên Bái Cục thuế tỉnh Yên bái Rạp Yên Ninh Điện Au Lâu Đường nước Sân vận động Văn Cấn Đường Khe Sến 42.643.859 1.038.878.773 (1.859.400) 16.434.200 375.869.724 63.397.133 358.624.588 5.581.661 299.193.467 6.272.400 532.729.691 411.019.360 6.475.700 1.058.393.780 359.901.570 15.873.000 195.653.000 1.200.000 2.982.000 62.251.000 38.890.500 138.309.300 6.412.600 53.704.000 1.221.300 115.683.300 101.474.800 13.349.000 181.137.000 191.750.700 3.000.000 2.232.000 36.163.000 413.500 19.625.000 4.790.700 21.834.400 2.800.000 18.993.500 30.667.000 12.343.000 2.000.000 8.905.000 18.678.561 2.269.000 60.748.859 1.270.694 (245.900) 19.416.200 457.745.724 107.078.333 518.768.288 14.794.261 371.890.967 7.493.700 679.079.991 524.837.160 21.824.700 1.248.435.780 570.330.831 5.269.000 97.800.975 1.270.694.778 76.645.900 19.416.200 431.393.724 107.078.333 553.283.488 14.794.261 319.140.867 7.493.700 1.231.072.591 524.837.160 21.824.720 1.248.435.780 538.484.831 328.883.000 109.181.813 1.439.002.852 80.679.999 20.990.476 493.081.904 124.100.547 660.303.347 377.367.613 8.051.806 1.386.835.639 594.128.571 23.619.857 1.348.864.762 616.562.935 363.475.238 114.641.154 1.510.952.997 84.714.000 22.040.000 517.736.000 130.305.574 693.318.516 396.236.000 8.454.397 1.456.177.423 623.835.000 24.800.756 1.416.308.000 647.391.082 381.649.000 37.052.116 76.891.800 80.329.200 27.271.500 551.992.600 323.614.000 26.352.000 45.814.000 80.021.600 31.846.000 Cngj 17.337.400.790 4.591.696.846 866.772.689 22.795.870.325 24.566.982.724 27.632.171.997 28.960.902.323 2.710.068.663 938.956.264 Phần III Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty cổ phần Xây Dựng số 2 Nhận xét đánh giá chung về hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của Công ty cổ phần Xây dựng số 2 . Qua một thời gian thực tập và tìm hiểu về công tác quản lý, công tác kế toán nói chung, công tác quản lý về hạch toán chi phí sản xuất nói riêng ở công ty Cổ phần xây dựng số 2, em có một số nhận xét như sau: Sau gần 40 năm hoạt động, đến nay, công ty đã tích luỹ được rất nhiều kinh nghiệm và vốn liếng, xây dựng được một mô hình quản lý kế toán khoa học, hợp lý và hiệu quả để chiếm lĩnh thị trường. Đó là cả một quá trình phấn đấu liên tục không ngừng của toàn bộ cán bộ , công nhân viên và lãnh đạo công ty. Bằng mọi cách, công ty đã hoà nhập bước đi của mình cùng với sự phát triển kinh tế chung của đất nước. Đặc biệt trong cơ chế thị trường hiện nay, sự linh hoạt, nhạy bén trong công tác quản lý kinh tế, quản lý sản xuất đã thực hiện thành đòn bảy tích cực cho quá trình phát triển của công ty. Cùng với việc vận dụng sáng tạo quy luật kinh tế thị trường, thực hiện chủ trương đổi mới cải cách kinh tế của đất nước, công ty Cổ phần xây dựng số 2 Yên Bái đã đạt được nhiều thành tích đáng kể trong sản xuất, hoàn thành nghĩa vụ cấp trên giao, không ngừng nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên. Công ty có bộ máy quản lý gọn nhẹ, các phòng ban chức năng phục vụ có hiệu quả giúp cho lãnh đạo công ty giám sát thi công, quản lý kinh tế, tổ chức sản xuất, tổ chức kế toán được khoa học, hợp lý, kịp thời. Phòng kế toán của công ty với những nhân viên kế toán năng động, có trình độ, nhiệt tình và trung thực, lại được bố trí công việc cụ thể đã góp phần đắc lực vào công tác kế toán và quản lý của công ty được Ban Quản trị của công ty đánh giá cao. Về công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của công ty nhìn chung được thực hiện hợp lý. Việc xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất của công ty cụ thể là công trình, hạng mục công trình hoàn thành và thực hiện thường xuyên theo từng quý là rất hợp lý, phù hợp với điều kiện sản xuất thi công của công ty, phục vụ tốt cho công tác chỉ đạo sản xuất, quản lý và phân tích hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty. Tuy nhiên, việc ghi chép, phản ánh trên sổ sách còn chưa kịp thời. Khi chứng từ phát sinh, kế toán chưa tiến hành tập hợp và phân loại, ghi sổ ngay mà sau vài ngày hoặc cuối tháng mới tiến hành ghi sổ. ở đội sản xuất kế toán theo hình thức báo sổ nên việc hoàn chứng từ về phòng kế toán để hạch toán còn chậm, chưa kịp thời. Bằng hình thức khoán vật liệu cho các đội thi công tự tìm nguồn cung cấp, công ty đã tạo điều kiện thuận lợi cho các đội thi công trong quá trình thực hiện công trình được chủ động, không bị phụ thuộc vào công ty. Điều này giúp cho việc thi công được đúng tiến độ, không mất thời gian để chờ xét duyệt cấp nguyên, vật liệu từ cấp trên. Công ty đã tổ chức quản lý chặt chẽ khâu sử dụng vật tư nên không xảy ra hiện tượng hao hụt, mất mát vật tư, định mức sử dụng và tiêu hao vật liệu phù hợp nên một số công trình có thể tiết kiệm được vật liệu nhưng vẫn đảm bảo chất lượng công trình. Tuy nhiên, công ty vẫn cần phải tiếp tục có những biện pháp quản lý chặt chẽ và hiệu qủa hơn nữa để không xảy ra hiện tượng thâm hụt của công, khai khống giá trị để lấy phần chênh lệch... Công ty áp dụng hình thức khoán sản phẩm cho các đội xây dựng nên tiền lương được tính theo giá trị công trình hoàn thành trong kỳ. Phương pháp này có tác dụng thúc đẩy sản xuất, nâng cao được tinh thần tự giác của người lao động do đó đẩy nhanh được tiến độ thi công của công trình. Sự cần thiết phải hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp ở Công ty cổ phần Xây dựng số 2 Trong thời đại ngày nay, để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đòi hỏi công ty phải củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nói chung và bộ máy kế toán nói riêng. Trải qua nhiều lần thay đổi cơ chế kinh tế, chế độ kế toán cũng thay đổi dần để phù hợp với cơ chế mới. Trong giai đoạn này, các doanh nghiệp phải luôn luôn nắm bắt được những sự thay đổi đó để áp dụng vào doanh nghiệp của mình. Song việc áp dụng cái mới cũng phải phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của bản thân doanh nghiệp để việc áp dụng đó đem lại hiệu quả tốt hơn cho doanh nghiệp. Sau gần 40 năm hoạt động, Công ty Cổ phần xây dựng số 2 cũng đã thực hiện nhiều lần thay đổi cơ chế kế toán, cho đến nay, công ty đã tổ chức được một bộ máy kế toán gần như hoàn hảo, phục vụ đắc lực cho ban lãnh đạo của công ty. Bộ máy kế toán hiện nay được áp dụng gần đúng so với chế độ, bên cạnh đó, công ty áp dụng một số công đoạn kế toán cũ, bảng biểu kế toán phù hợp hơn so với chế độ kế toán hiện hành. Tuy nhiên, cũng như những bộ máy kế toán khác, bộ máy kế toán của công ty Cổ phần xây dựng số 2 không thể tránh được những mặt yếu kém cần được nhìn nhận và khắc phục để vươn lên sự hoàn hảo. Như vậy, việc hoàn thiện bộ máy kế toán là rất cần thiết, đặc biệt là công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Các chi phí sản xuất kinh doanh là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, kết quả kinh doanh cuối cùng sau một thời kỳ sản xuất kinh doanh nhất định của doanh nghiệp. Nó có tác dụng lớn đến đời sống cán bộ công nhân viên trong công ty cũng như sự tồn tại và phát triển của công ty. Thông qua chỉ tiêu này ta có thể đánh giá được trình độ quản lý kinh doanh của bộ phận lãnh đạo và hiệu quả hoạt động của công ty. Do đó, tổ chức hợp lý quá trình quản lý và kế toán chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm là yêu cầu cấp thiết đối với mỗi doanh nghiệp. Đó là cơ sở của doanh nghiệp tìm ra các biện pháp hạ thấp giá thành sản phẩm một cách hợp lý, tăng lợi nhuận, đảm bảo sự tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. 1. Về hạch toán chi phí nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ: Trước hết, về phương pháp hạch toán hàng tồn kho, công ty sử dụng phương pháp kiểm kê định kỳ. Phương pháp này cũng phù hợp với điều kiện sản xuất của công ty: công ty khoán cho các đội thi công tự thu mua nguyên vật liệu nên vật liệu thường được nhập thẳng vào công trường để thi công mà không qua kho của công ty. Thực tế, công ty áp dụng phương pháp hạch toán hàng tồn kho chỉ về mặt thời gian, tức là theo định kỳ mỗi quý kiểm kê hàng tồn kho, còn hạch toán lại theo phương pháp kê khai thường xuyên. Điều này là trái với chế độ kế toán hiện hành. Công ty cần thay đổi lại phương pháp hạch toán cho phù hợp. Theo em, công ty nên áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên đối với hàng tồn kho vì việc kiểm kê hàng hoá thường xuyên của công ty không phải là khó. Mặt khác, công ty phải áp dụng đồng bộ phương pháp hạch toán nguyên vật liệu và phương pháp hạch toán chi phí mà công ty đang áp dụng là phương pháp kê khai thường xuyên. Để xây dựng một công trình cần có các nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ và các công cụ, dụng cụ. ở công ty Cổ phần xây dựng số 2, việc theo dõi kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ chỉ trên tài khoản 152 theo em là không hợp lý: Thứ nhất, cần theo dõi riêng nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ trên 2 tài khoản riêng biệt: - TK 152- nguyên, vật liệu: Theo dõi tình hình sử dụng nguyên vật liệu của công ty. - TK 153- công cụ dụng cụ : Theo dõi tình hình sử dụng công cụ dụng cụ của công ty. ở công ty, công cụ dụng cụ được phân bổ 100% ngay từ đầu cho từng công trình xây dựng. Nhưng theo em, có rất nhiều công cụ dụng cụ có thời gian sử dụng dài, giá trị sử dụng có thể chưa hết sau khi kết thúc một công trình. Những công cụ dụng cụ này kế toán nên tiến hành phân bổ cho các công trình xây dựng, từ đó có thể giảm bớt chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Thứ hai, kế toán nên mở thêm 2 tài khoản cấp hai của TK 152 để theo dõi tình hình sử dụng vật liệu chính và vật liệu phụ: - TK 1521: nguyên vật liệu chính - TK 1522: nguyên vật liệu phụ. Trên cơ sở các chứng từ, sổ chi tiết theo dõi vật liệu cuối quý, kế toán sẽ tập hợp số liệu trên bảng tổng hợp phân bổ vật liệu, công cụ dụng cụ theo mẫu sau: Biểu 27: Đơn vị: công ty Cổ phần xây dựng số 2 Bảng tổng hợp phân bổ nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ Quý IV 2002 Stt Ghi Có Tk Ghi Nợ TK TK 152 TK 153 TK 1521 TK1522 Cộng 1 TK621- CP NVLTT Công trình 1 Công trình 2 ... 2 TK 627- CP SXC Công trình 1 Công trình 2 ... 3 TK 642- CP QLDN Công trình 1 Công trình 2 ... Cộng Trong trường hợp công ty xuất công cụ dụng cụ là loại phân bổ nhiều lần thì kế toán ghi: Nợ TK 142,242- Chi phí trả trước: Giá trị công cụ dụng cụ chờ phân bổ. Có TK 153- Công cụ dụng cụ : Giá trị công cụ dụng cụ xuất dùng. Sau đó phản ánh mức phân bổ giá trị công cụ dụng cụ vào chi phí sản xuất kinh doanh ở các kỳ hạch toán có sử dụng công cụ dụng cụ : Nợ TK 627, 642: Có TK 142, 242: Giá trị công cụ dụng cụ được phân bổ. Để việc tập hợp chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp cũng như chi phí nhân công và chi phí sản xuất chung được dễ dàng và chính xác, kế toán nên lập Sổ chi tiết phí sản xuất kinh doanh theo dõi riêng cho từng tài khoản 621, 622, 627, 154, … Biểu 28: Sổ chi phí sản xuất kinh doanh Tài khoản: 621, 622, 623, 627,154 … Đội 208 - Công trình: Tỉnh đoàn Yên Bái Quý IV năm 2002 Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số tiền Nợ Có Số hiệu Ngày tháng Tổng 2. Về hạch toán chi phí nhân công trực tiếp Tại công ty Cổ phần xây dựng số 2, nội dung chi phí nhân công trực tiếp bao gồm cả các khoản trích theo lương, theo em là không hợp lý. Là một doanh nghiệp xây lắp, tính chất sản xuất kinh doanh đòi hỏi công ty phải thực hiện lập giá dự toán trước khi thi công công trình. Giá dự toán này không bao gồm chi phí về các khoản trích theo lương vì rất khó có thể tính được. Mặt khác, quá trình sản xuất xây lắp phải so sánh với dự toán, lấy dự toán làm thước đo cho chi phí sản xuất thực tế. Do vậy không nên hạch toán các khoản trích theo lương chung vào chi phí trực tiếp tiền lương của công nhân sản xuất để trong quá trình thi công dễ so sánh giữa thực tế thi công và dự toán. Như vậy, khi phát sinh các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất, kế toán nên hạch toán vào TK 627- Chi phí sản xuất chung, cụ thể là vào tài khoản 6271. Điều này cũng phù hợp với chế độ kế toán hiện hành. Ngoài ra, công ty tính các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất bằng 1,5% giá trị dự toán công trình bàn giao vào thời điểm cuối quý là sai so với chế độ. Công ty cần xem xét lại và thực hiện đúng theo chế độ do Nhà nước quy định như sau: Trích theo lương của nhân công trực tiếp 19% để tính vào chi phí, trong đó: - 15% nộp quỹ bảo hiểm xã hội. - 2% nộp quỹ bảo hiểm y tế. - 2% nộp kinh phí công đoàn. VD: Tiền lương công nhân trực tiếp sản xuất thuộc đội 208- thi công công trình Tỉnh đoàn Yên Bái quý IV năm 2002 là: 36.846.000 Các khoản trích theo lương được tính vào chi phí sản xuất là: - Tiền bảo hiểm xã hội: 36.846.000 x 15% = 552.690 - Tiền bảo hiểm y tế: 36.846.000 x 2% = 73.692 - Tiền kinh phí công đoàn: 36.846.000 x 2% = 73.692 Tổng = 700.074. Trong khi đó, nếu tính các khoản trích theo lương theo cách tính của công ty thì các khoản trích theo lương được tính vào chi phí là: 4.301.343. Như vậy, theo cách tính của công ty, giá thành công trình tỉnh đoàn Yên Bái không chính xác, chênh lệch so với cách tính đúng là: 4.301.343 - 700.074 = 3.601.269. Phần chênh lệch này là tương đối lớn, làm ảnh hưởng tới công tác quản trị của công ty. Công ty cần điều chỉnh lại cho đúng để đảm bảo cho việc tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm được chính xác. Tại công ty Cổ phần xây dựng số 2, kế toán không tiến hành trích trước tiền lương của công nhân nghỉ phép. Đây là điều bất hợp lý trong vấn đề hạch toán chi phí nhân công trực tiếp của công ty nếu trong một tháng nào đó, số công nhân nghỉ phép tăng lên đột biến, phần lương này do không được trích trước nên đưa thẳng vào chi phí nhân công trực tiếp tháng đó làm cho giá thành của tháng đó tăng lên do đó không phản ánh chính xác chi phí thực tế phát sinh. Vì vậy công ty nên thực hiện trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân trực tiếp sản xuất. Cách tính tiền lương nghỉ phép năm của công nhân trực tiếp sản xuất như sau: Mức trích trước tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất = Tiền lương chính phải trả cho công nhân trực tiếp trong kỳ x Tỷ lệ trích trước Tỷ lệ trích trước = Tổng lương nghỉ phép KH năm của công nhân trực tiếp x 100 Tổng tiền lương chính KH năm của công nhân trực tiếp Để thực hiện trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân trực tiếp sản xuất, công ty cổ phần Xây dựng số 2 cần phải tiến hành lập kế hoạch về tiền lwong của công nhân trực tiếp sản xuất bao gồm: tiền lương chính kế hoạch và tiền lương nghỉ phép kế hoạch. Căn cứ vào đó, công ty mới có thể tính ra tỷ lệ trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân trực tiếp. Giả sử tiền lương chính kế hoạch của công nhân trực tiếp năm 2002 là tiền lương thực tế trả cho công nhân trực tiếp năm 2001 là: 3.916.722.960. Tiền lương nghỉ phép kế hoạch của công nhân trực tiếp sản xuất là tiền lương nghỉ phép thực tế của công nhân trực tiếp năm 2001 là 984.000.000. Tỷ lệ trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân trực tiếp sản xuất năm 2002 = 984.000.000 x 100 = 25% 3.916.722.960 Mức trích trước tiền lương của công nhân trực tiếp theo kế hoạch quý IV/ 2002 = 1.532.192.649 x 25% = 384.048.162 (Số tiền 1.532.192.649 là số tiền thực tế trả công nhân trực tiếp quý III/2002) Kế toán mở tài khoản 335- Chi phí phải trả để tiến hành trích trước tiền lương theo định khoản sau: Nợ TK 622 384.048.162 Có TK 335. 384.048.162 Khi công nhân trực tiếp sản xuất nghỉ phép, kế toán ghi: Nợ TK 335 Có TK 334. Trong trường hợp chi phí này lớn hơn so với kế hoạch, kế toán tiến hành điều chỉnh tăng số chênh lệch: Nợ TK 622 Có TK 335 Khi trích thừa, kế toán ghi: Nợ TK 335 Có TK 711 3. Về chi phí sử dụng máy thi công: Công ty hạch toán chi phí sử dụng máy thi công vào tài khoản 627 theo em là không phù hợp, nên tách khoản mục chi phí này ra hạch toán vào một tài khoản riêng biệt là TK 623- Chi phí sử dụng máy thi công. Trong doanh nghiệp xây lắp, máy thi công có vị trí đặc biệt quan trọng và các chi phí liên quan đến nó cũng có giá trị đáng kể trong tổng giá thành công trình xây dựng. Mặt khác, công ty tổ chức thi công theo phương thức hỗn hợp vừa thủ công, vừa kết hợp bằng máy nên hạch toán theo cách này là rất phù hợp so với chế độ kế toán hiện hành. Để hạch toán chi tiết chi phí sử dụng máy thi công, kế toán mở sổ chi tiết chi phí sản xuất kinh doanh- TK 623 để theo dõi (mẫu đã nêu ở phần trên), cuối quý, kế toán lên Bảng kê chi tiết chi phí - giá thành cột Chi phí sử dụng máy thi công. Kế toán ghi sổ tổng hợp tương tự như theo dõi các loại chi phí sản xuất khác và mở Sổ cái TK 623 để theo dõi riêng. Kết cấu TK 623 giống như TK 621, 622, 627, theo dõi chi tiết cho từng công trình xây lắp và được hạch toán theo nguyên tắc: chi phí sử dụng máy thi công phát sinh của công trình nào thì tập hợp riêng cho công trình ấy. Tài khoản này gồm 6 tài khoản cấp 2: - TK 6231- Chi phí nhân công: Phản ánh lương chính, lương phụ, phụ cấp lương phải trả cho công nhân trực tiếp điều khiển xe, máy thi công. Tài khoản này không phản ánh khoản trích KPCĐ, BHYT, BHXH tính trên tiền lương phải trả công nhân sử dụng máy thi công, khoản này được hạch toán vào TK 627- Chi phí sản xuất chung. - TK 6232- Chi phí vật liệu: Phản ánh chi phí nhiên liệu, vật liệu khác phục vụ xe, máy thi công. - TK 6233- Chi phí dụng cụ sản xuất: Phản ánh công cụ dụng cụ lao động liên quan đến hoạt động xe, máy thi công. - TK 6234- Chi phí khấu hao máy thi công: Phản ánh khấu hao máy móc thi công sử dụng vào hoạt động xây lắp công trình. - TK 6237- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh chi phí dịch vụ mua ngoài. - TK 6238- Chi phí bằng tiền khác. Kế toán tập hợp chi phí sử dụng máy thi công theo định khoản: Nợ TK 623: Tập hợp chi phí sử dụng máy thi công Nợ TK133: Thuế GTGT đầu vào Có TK 152: Nhiên liệu sử dụng máy. Có TK 153, 142: dụng cụ lao động Có TK 334: Tiền lương nhân viên điều khiển máy Có TK 214: Khấu hao TSCĐ Có TK 331: Các khoản phải trả nhà cung cấp. Có TK 111, 112: Trả bằng tiền mặt 4.Về chi phí sản xuất chung: Kế toán nên thiết kế bảng phân bổ chi phí sản xuất chung đến từng công trình để phục vụ cho việc tập hợp chi phí cho từng công trình được dễ dàng. Biểu 29: Bảng phân bổ chi phí sản xuất chung Đội 208 Quý IV năm 2002 Công trình 334 338 336 214 Cộng Trường tiểu học HT 1.100.000 453.700 1.650.000 1.277.800 4.431.500 Tỉnh đoàn Yên Bái 3.154.000 1.301.000 4.731.000 3.664.000 12.850.000 Đường ống nước 5.905.000 2.435.700 8.857.500 6.860.000 24.058.200 Tổng 10.059.000 4.190.400 15.238.500 11.801.800 41.339.700 5. Về công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm: Sổ tài khoản 154 của công ty có tính chất như sổ Cái. Công ty cần lập sổ chi tiết theo dõi chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ để phục vụ cho việc tập hợp chi phí được đầy đủ và chính xác. Kết cấu sổ chi tiết tài khoản 154 đã được nêu ở trên (biểu 28- trang 81) Công tác tập hợp chi phí sản xuất, đánh giá sản phẩm dở dang của công ty vào cuối quý là khối lượng công việc rất lớn, đòi hỏi các nhân viên kế toán phải tập trung làm việc để kịp thời đưa ra số liệu phục vụ cho quản lý. Tuy nhiên, ở công ty Cổ phần xây dựng số 2, công tác này tiến hành còn chậm chạp, do việc báo sổ của các kế toán đội không kịp thời. Công ty cần xem xét, đôn đốc, nhắc nhở việc báo sổ của các đội kịp thời và đúng thời hạn. Công tác tính giá thành đòi hỏi phải chính xác trung thực cho từng công trình xây dựng. Kế toán nên lập thẻ tính giá thành cho từng công trình trong từng quý để tránh tập hợp chi phí sai sót, nhầm lẫn giữa các công trình, đặc biệt là những công trình của cùng một đội thi công. Kế toán có thể lập thẻ tính giá thành theo mẫu sau: Biểu 30: Thẻ tính giá thành Công trình: Tỉnh đoàn Yên Bái Quý IV năm 2002 Khoản mục Dư đầu kỳ Phát sinh trong kỳ Dư cuối kỳ Tổng giá thành 1. Chi phí NVLTT 206.160.924 2. Chi phí NCTT 38.846.000 3. Chi phí máy thi công 5.201.500 4. Chi phí sản xuất chung 7.648.500 Tổng 19.353.800 257.856.924 26.352.000 250.858.724 Một số kiến nghị khác: Công ty đã mua sắm một số máy vi tính nhưng hiệu quả sử dụng chưa cao, mới chỉ áp dụng các công việc soạn thảo, chưa áp dụng được chương trình kế toán máy. Trong khi đó, hàng ngày nhất là vào cuối mỗi tháng, quý bộ phận kế toán phải đảm đương một khối lượng công việc quá lớn. Như vậy, việc hạch toán rất dễ sai sót, nhầm lẫn và dẫn đến việc lập Báo cáo kế toán chậm. Để khắc phục nhược điểm trên, công ty nên tổ chức lớp học về kế toán máy cho nhân viên kế toán trong phòng tài vụ, đồng thời đặt mua một chương trình phần mềm kế toán từ các công ty chuyên lập trình phần mềm phù hợp với điều kiện hạch toán tại công ty để áp dụng nhằm giảm bớt khối lượng công việc cho nhân viên kế toán, Trên đây là một số ý kiến đề xuất nhằm củng cố công tác kế toán nói chung và công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, đóng góp cho việc quản lý công ty ngày càng đạt hiệu quả cao hơn nữa. Kết luận Trong thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần xây dựng số 2, nhờ sự giúp đỡ tận tình của các thày, cô giáo và của Ban giám đốc công ty, các phòng ban có liên quan và nhất là sự chỉ đạo và giúp đỡ tận tình của cán bộ công nhân viên phòng kế toán Công ty, em đã hoàn thành Luận văn " Công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần xây dựng số 2 Yên Bái". Qua đó em cũng nhân thức và hệ thống hoá thêm phần kiến thức đã được học tập, hiểu rõ hơn về công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất nói chung và công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng. Đồng thời với các kiến thức đã học và thực tế qua hơn 3 tháng thực tập tại công ty, em cũng mạnh dạn nêu lên một số ý kiến nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của Công ty, góp một phần nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Với trình độ nhận thức còn hạn chế, kiến thức thực tế còn ít và thời gian thực tập chưa nhiều, do vậy em không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Em rất mong nhận được sự giúp đỡ, góp ý của các thầy cô giáo trong khoa và của toàn thể cán bộ công nhân viên phòng kế toán Công ty Cổ phần xây dựng số 2 để em có thể hoàn thiện luận văn này. Cuối cùng cho em được phép bày tỏ lời cảm ơn chân thành đối với sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo ThS Phạm Đức Cường, Ban lãnh đạo Công ty Cổ phần xây dựng số 2 và toàn bộ nhân viên phòng kế toán đã hướng dẫn, tạo điều kiện cho em hoàn thành luận văn tốt nghiệp. ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc29680.doc
Tài liệu liên quan